Nha Trang miền quê hương cát trắng
Kể cũng khá lâu tôi không có dịp gặp Mây, cô gái H’Mông cười với
hai chiếc răng vàng lấp lánh, được khách du lịch họ Giang bọc cho với giá ba
mươi ngàn, trong dịp cô hướng dẫn đoàn đi thăm bản Cát Cát ở Sapa (*). Và, cũng
vì hai chiếc răng vàng đó, tôi đã hát đùa với cô “cười lên đi cho răng vàng
sáng chói”. Tưởng nghe qua cô gái sẽ giận tím mặt tím mũi; ngược lại, cô chỉ cười
thân thiện đáp “Anh trai người Kinh vui tính quá”. Vậy là tôi và cô trở nên
thân thiết, với một kẻ trong miền Nam người kia biên giới Đông Bắc. Hàng tuần
có khi hàng tháng, bọn tôi liên lạc với nhau qua điện thoại hay gửi email hỏi
thăm công việc
Bỗng dưng, sáng nay khi đang làm việc trên mạng, tôi nhận được
tín hiệu của Mây trên “inbox chat”.
- Anh khỏe không, độ vài ngày nữa em sẽ bay vào Xứ Trầm
Hương.
- Em đi du lịch hay công việc?
- Công ty giao em đi khảo sát nơi này để sắp tới mở tour tuyến
mới.
- Đó là điểm du lich hấp dẫn nhất miền Trung Nam Bộ hiện nay.
- Anh có thể nói cho em biết cụ thể không?
- Nơi ấy được mệnh danh: “Miền quê hương cát trắng, miền thùy
dương cát trắng hay còn gọi là xứ Trầm Hương”. Bởi nó là một vịnh biển được báo
chí du lịch xếp vào hàng đẹp nhất - nhì thế giới, gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ hội đủ
các yếu tố núi- non, sông biển, đầm phá, hải đảo, đồng ruộng; đặc biệt, có
thành phố Nha Trang vừa non trẻ, xinh đẹp hướng ra biển Đông vừa là trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa, du lịch thuộc tỉnh Khánh Hòa.
Không cần giải thích thêm, tôi gởi cho Mây nhạc phẩm Nha
Trang: “Nha Trang là miền quê hương cát trắng/ Có những đêm nghe vọng lại/ Ầm ầm
tiếng sóng xa đưa/ Nha Trang cánh đồng bao la bát ngát/ Hương quê dâng lên ngào
ngạt/ Hòa cùng sức sống yên vui...” (**)
- Ồ! Nhờ có anh giải thích mới biết xứ Trầm Hương là Nha
Trang đấy.
- Khi nào em vào?
- Theo lịch, tám giờ sáng thứ bảy này em có mặt ở sân bay Cam
Ranh, anh không định để em bơ vơ nơi xứ lạ quê người đấy chứ?
Tôi mơ hồ ngửi thấy mùi hương thảo quả của rượu táo mèo, quyện
lẫn trong mùi thịt da thanh tân con gái vùng cao phả lên tận mũi, khiến cho tim
tôi nhớ quay quắt ánh mắt của Mây trong lần chia tay nhau bên ngôi nhà thờ đá
Sapa.
Tôi dấu đi sự xúc động trả lời Mây:
- Bất cứ giá nào anh cũng phải có mặt để đón em.
Đúng hẹn, tôi đã có mặt ở căn tin cảng hàng không Cam Ranh rất
sớm, ngồi với tách cà phê nóng chờ chuyến bay từ Hà Nội đáp xuống. Trong lúc
nhàn rỗi, tôi bắt chuyện với một vị khách lớn tuổi ngồi chung bàn, tỏ ra khá hiểu
biết về phi trường Cam Ranh. Theo ông, khác với cảng hàng không Tân Sơn Nhất,
sân bay Nội Bài, cảng hàng không Cam Ranh trước đây là sân bay quân sự do quân
đội Mỹ xây dựng, nhằm phục vụ cho cuộc chiến tranh VN. Sau 75, chính xác vào
năm 2004, sân bay Cam Ranh mới đón chuyến bay đầu tiên từ Hà Nội vào, mở đầu
cho việc thay thế sân bay nằm trong nội thị, vốn bị hạn chế về diện tích và sự
an toàn. Tiếp đến năm 2007, cảng hàng không một lần nữa được nâng cấp lên thành
cảng hàng không quốc tế, nhằm đón khách cả trong lẫn ngoài nước. Nhờ đó, cung
đường ven biển cũng được hình thành với chiều dài 22 cây số, rộng 17,5 mét - 60
mét, trải dài từ phường Cam Nghĩa, huyện Cam Lâm, vượt qua những đèo núi, đồi
cát trắng mịn màng, nắng gió, vị mặn của biển, về tới Bãi Dài, Golden Bay,
Diamond Bay, đường Nguyễn Tất Thành; thay vì đi theo đường QL1A cũ, ngang qua
huyện Diên Khánh xa đến vài chục cây số.
Đang vui chuyện, tôi chợt nghe nhiều người í ới gọi nhau. Đồ
chừng máy bay vừa hạ cánh xuống đường băng, nên cũng vội đứng lên theo mọi người
tiến về phía cổng ra của phi trường.
Sau vài phút chờ đợi, tôi chợt bị hoa mắt trước sự xuất hiện
của cô gái ăn mặc thổ cẩm, vai vác ba lô, đi tung tẩy giữa đám đông khách Tây,
khách ta tiến ra cửa. Trông cô gái quen lắm, nhất là khi cô mặc bộ áo váy thêu
hoa văn, tóc dấu trong khăn, chân quấn xà cạp, lưng thắt đai màu đỏ rộng bản,
làm tôn vinh vẻ đẹp vốn có từ chiếc eo thon chắc nơi cô. Mây. Thì ra là cô, cô
gái vùng cao bản Cát Cát, đang dáo dác hướng tầm mắt tìm kiếm xung quanh.
Tôi vội khoát tay làm hiêu cho Mây thấy:
- Mây! Anh ở đây.
Mây quay lại, mừng rỡ nhận ra người quen, vội chạy đến ôm chầm
lấy tôi, cười nói líu lo trước cái nhìn thích thú của nhiều người có mặt tại sảnh
sân bay lúc bấy giờ.
Mây hỏi:
- Anh đợi em có lâu không?
Tôi đùa:
- Không sớm cũng không lâu, chỉ bằng thời gian ngồi uống hết
cốc rượu táo mèo ở Sapa hôm nào.
Nghe nhắc đến kỷ niệm, Mây cười đỏ mặt, nhớ buổi chiều cô đã
cùng tôi ngồi uống rượu táo mèo nơi bà cụ bán món trứng nướng, khoai nướn, cạnh
nhà thờ Sapa năm nào.
Mây nói:
- Trí nhớ anh quả không tồi.
Chưa kịp hàn huyên, ô tô do tôi thuê đã trờ tới, đón tôi và
Mây chạy dọc theo cung đường ven biển, về lại trung tâm thành phố. Vốn đã quen
thuộc với phong cảnh trên cung đường biển này, tôi nhường cô ngồi bên cửa xe
cho dễ quan sát cả vùng biển không chỉ được bầu chọn là đẹp nhất Đông Nam Á, mà
còn được xếp ngang hàng với bãi biển Haiwai của Mỹ.
Đúng lúc đó Mây hỏi tôi:
- Tại sao nơi đây lại có tên Nha Trang hở anh?
Tôi giải thích:
- Theo các nhà nghiên cứu, Nha Trang là thổ âm tiếng Chăm, đọc
chệch từ 2 từ Ea Trang hay Ja Trang. Ea hay Ja đều là con sông, Trang là lau sậy,
vì xưa kia hai bên bờ sông Cái đổ ra cửa biển Cù Huân mọc đầy lau sậy. Đến năm
1653 khi người Việt đặt chân lên xóm chài hay còn gọi là xóm Cồn, nơi này chỉ
có lác đát mươi mái nhà tranh, nhưng sau năm 1891 khi bác sĩ người Thụy Sĩ tên
Alexandre Yersin đến đây sinh sống và cống hiến đời mình cho khoa học, thì dân
chúng dần dần hội tụ về đây ngày một đông. (***), Ngoài ra, có giả thuyết nói, gần
Viện Hải Dương Học - Cầu Đá, có một ngôi nhà sơn toàn màu trắng, xây dựng trên
một ngọn đồi cao ngay sát biển. Mỗi khi tàu bè qua lại vùng vịnh biển này, các
lái tàu thường dựa vào ngôi nhà màu trắng đó mà định hướng cho hướng đi của
tàu. Lâu dần... từ nhà trắng được ngư dân đọc trại ra thành Nha Trang?
Chưa kịp trả lời Mây, thoáng nhìn bên đường tôi thấy quán hải
sản nằm lọt thỏm giữa những rặng dừa xanh mướt, nay có bán thêm món cháo mực
vào buổi sáng. Cảm thấy bụng đói và đồ chừng Mây cũng chưa ăn gì trên suốt chuyến
bay, tôi bèn nhờ lái xe rẽ vào Bãi Dài nằm phía sau lưng khu nghỉ dưỡng Diamond
Bay, ăn sáng.
Trong lúc chờ nấu món cháo mực, tôi đưa Mây đi dạo trên bãi
biển đầy cát trắng mịn màng dưới chân. Đây là bãi tắm mới được phát hiện trong
thời gian gần đây, đẹp, an toàn, nhờ vẫn giữ nguyên vẻ hoang sơ; nhất là khi thủy
triều xuống người ta có thể lội ra thật xa, nhặt những sinh vật biển còn sót lại
trên cát rất vui.
Trên đường đi dạo, tình cờ tôi gặp một chị là người địa
phương, chỉ cho cách đào một cái hố nhỏ trên cát để lấy nước uống. Chưa mấy
tin, Mây mượn ngay chiếc xẻng chị đang giữ trong tay, đào sâu xuống cát khoảng
nửa thước; quả nhiên, chỉ vài giây sau đó trong hố đã thấy đầy nước vừa ngọt vừa
trong xanh, trông chẳng khác chi nước suối lấy trên rừng về.
Món cháo mực được dọn ra, chủ quán cho mời tôi và Mây quay trở
lại dùng bữa.
Trong lúc ăn uống tôi hỏi Mây:
- Cháo mực ngon không?
- Ngon bá cháy luôn!.
- Chắc tại em đang đói thôi.
- Em khen thực lòng mà.
- Chưa hẳn nơi đây đã là nơi bán món cháo mực ngon nhất Nha
Trang đâu.
- ???
- Mai mốt ra Đại Lãnh em sẽ được thưởng thức.
Giống như một phóng viên chuyên nghiệp, Mây mang bút ra tác
nghiệp bằng cách ghi- ghi, chép- chép vào cuốn sổ tay mang theo.
Tôi cười nói với cô:
- Cứ nhẩn nha thưởng thức món cháo mực Nha Trang đi đã, tí nữa
ghé tiệm sách anh mua tặng em cuốn Địa Chí Nha Trang và cuốn Xứ Trầm Hương, tha
hồ mang về ngoài đó “ngâm cứu”.
- Xứ Trầm Hương, tôi nói, đó là câu hỏi mà em muốn hỏi anh,
nhưng chưa kịp nhớ ra.
Tôi nói theo sách:
- Tỉnh Khánh Hòa nói chung hay Nha Trang nói riêng, sở dĩ được
gọi là xứ Trầm Hương, bởi từ rất xưa vùng này đã có nhiều phẩm vật quí hiếm
như: trầm hương, yến sào., từng lưu lại qua thơ ca: “Khánh Hòa là xứ Trầm
Hương/ Non cao biển rộng người thương đi về/ Yến sào mang đậm tình quê/ Sông
sâu đá tạc lời thề nước non”. Không chỉ vậy, nhà thơ Quách Tấn còn có lời thưa
khi ông đặt bút viết về cuốn Xứ Trầm Hương: “Viết Xứ Trầm Hương tôi chỉ làm một
việc mà nhiều người có thể làm được, nên muốn là ghi chép lại những gì đã thấy,
đã nghe, đã cảm trong mấy mươi năm sống cùng non nước Khánh Hòa”.
- Wòa! Hay quá.
Vào tới thành phố Nha Trang, để tránh làm mất thời giờ của
Mây, tôi đưa cô ghé thăm Viện Hải Dương Học, tọa lạc tại khu Cầu Đá trước. Đây
là điểm du lịch hấp dẫn mà bất kỳ ai lần đầu đặt chân đến Nha Trang đều không
thể bỏ qua. Bởi nơi đây lưu giữ, trưng bày hơn 20.000 mẫu vật của hơn 4000 cá
thể sinh vật biển, động thực vật biển Đông, vịnh Thái Lan, Biển Hồ - Campuchia... trong đó, chỉ riêng tại khu trưng bày ngoài trời, tôi đã chỉ cho Mây thấy tận
mắt nhiều loại rắn biển, rùa biển, cá mập, cho đến các loài nhuyễn thể... được
trưng bày trong các bể lớn hoặc bể kính.
Vào sâu bên trong, Mây thích thú chứng kiến hằng hà sa số mẫu
sinh vật biển đựng trong các bình, lọ thủy tinh, bên cạnh các chú cá heo, cá mập
trắng nhồi bông, trưng bày cạnh bộ xương cá voi gù, khai quật được trong lúc
đào mương làm thủy lợi ở tận vùng biển Hải Hậu năm 1994, dài 18 mét, cao 3 mét,
nặng 10 tấn, với 48 đốt xương cột sống phục chế lại.
Kết thúc chuyến tham quan Viện Hải Dương Học, xe đưa tôi và Mậy
chạy về hướng Đông Bắc ghé đếnHòn Chồng, trước khi khám phá Tháp Chàm Ponagar nằm
bên dòng sông Cái.
Ngồi bên cửa xe, một lần nữa Mây lại được ngắm con đường Trần
Phú, chạy dọc ven biển đẹp như vầng trăng khuyết, ôm lấy thành phố trẻ Nha
Trang tràn đầy sức sống, với một bên là biển xanh màu lục bảo cùng với cát trắng,
nắng vàng, những rặng phi lao xao trong gió; đối diện bên kia là những cơ sở vật
chất với hạ tầng hoàn chỉnh cùng hàng loạt kiến trúc cực kỳ sang trọng, nhà
hàng, khách sạn, vũ trường, bar, cửa hàng cà phê, quán ăn...
Chạy tiếp qua cầu Trần Phú, nhìn sang phía bên trái dòng sông
Cái, đã thấy thấp thoáng nơi trần mây bóng Tháp Chàm, hiện rõ sau hàng chữ
Ponagar mang màu đất nung... Lạ. Đã vào đến khu vực Hòn Chồng rồi, mà sao tôi vẫn
chưa nhìn thấy quần thể đá nằm ở đâu cả.Thì ra quần thể gồm nhiều đá tảng lớn
nhỏ, cái chồng lên nhau cái nhô ra ngoài biển, đã bị che khuất bởi một nhà hàng
xây dựng theo lối kiến trúc cổ nhà rường, thoạt nhìn cứ giống như một thiền viện.
Khác với những gì tôi từng nghe kể trước đây, muốn tới Hòn Chồng,
ngày xưa người ta chỉ có con đường duy nhất đi qua lối cầu Xóm Bóng, sau đó vượt
dốc đồi La San đầy sỏi đá, giây leo, cây cối rậm rạp, mà đối với những ai ưa mạo
hiểm, ưa khám phá vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ, thường tỏ ra thích thú khi được
trải nghiệm, hít thở không khí trong lành nơi đây; nhất là khi được xắn quần lội
bì bõm quanh những khe đá, đuổi bắt những con cá, con tôm mắc kẹt lại, do không
kịp theo thủy triều thoát ra.
Đứng ngắm cảnh Hòn Chồng từ trên bờ một lúc, Mây tỏ vẻ thất vọng
lắc đầu cho biết “cảnh đẹp và thơ mộng đến vậy, sao người ta nở lòng nào biến
nó thành một đống gỗ không hơn không kém”. Tôi vờ không nghe thấy những lời
than phiền của cô, vì thừa biết cô đang bị hụt hẩng trước cảnh quang Hòn Chồng
bị phá vỡ, biến thành nơi chốn kinh doanh nhà hàng này nọ.
Không còn cách nào khác, tôi đành trở ra xe ngồi chờ, đợi cô
quay lại là hối tài xế chạy nhanh qua khu di tích lịch sử văn hóa Chăm - Po Nagar
cho đở ngượng.
Tháp Chàm hay tháp Bà - Po Nagar là một quần thể đền thờ xây
dựng theo lối kiến trúc tiêu biểu Chăm, do vua Hoàn Vương Quốc - Harivaman xây
dựng từ thế kỷ thứ 7 qua đến thế kỷ thứ 12. Gồm cả thảy ba tầng: tầng thấp nằm
ngay mặt đất mà trước đây dùng làm cổng vào nhưng nay không còn thấy. Muốn lên
tầng giữa, phải leo mấy bậc thang lên gặp hai dãy cột lớn, mỗi dãy có 5 cột xây
bằng gạch hình bát giác và ở 2 bên các dãy cột lớn còn có 12 cột nhỏ thấp hơn.
Dựa vào cấu trúc đó, người ta cho trước đây nơi này có nhiều dãy nhà dùng làm
nơi nghỉ giải lao, sắm sửa lễ vật dành cho khách hành hương. Cuối cùng, ở tầng
trên thấy các tháp phụ xây dựng ngay trước tháp chính. cao 22,48 mét, là tháp
Po Nagar hay tháp Bà, thờ thần Po Nagar hay vợ của thần Siva mà nguyên thủy thờ
thần Parvati, vợ của Shiva. Tháp có 4 tầng, mỗi tầng có cửa, tượng thần, các
linh vật bằng đá... đi sâu vào bên trong, thấy tượng nữ thần cao 2,60 mét bằng
đá hoa cương đen, ngồi uy nghiêm trên bệ đá hình đài sen, lưng dựa vào phiến đá
hình lá bồ đề; ngoài ra, rải rác đây đó hiện diện nhiều tượng người, tượng thú
v.v...
Đi qua cửa chính có mặt quay về hướng Đông, tôi và Mây bước
vào tiền sảnh, thấy hai bên cửa thấy có 2 trụ đá đở lấy một phiến đá tạc hình nữ
thần Durga nhảy múa giữa 2 nhạc công. Càng đi vào sâu vào bên trong, tháp càng
tối và lạnh, đến cuối đường thấy một bệ thờ đá, trên đó đặt tương thờ bà
Ponagar với mười cánh tay, với hai bàn tay phía trước đặt trên hai gối, các tay
bên mặt cầm các vật dụng đoãn kiếm, mũi tên, chùy, cây lao, các tay bên trái cầm
chuông, dĩa, cung, tù và.
Đứng trò chuyện với người bảo vệ tháp, tôi được biết hàng năm
vào cuối tháng 3 âm lịch, chính xác từ ngày 20 đến 23 tháng 3, là thời gian tổ
chức lễ hội vía Bà. Du khách đến đây vào thời gian này sẽ được chứng kiến nhiều
nhóm người Chăm từ các ngã đường đổ về đây, bày biện lễ vật dưới chân các tháp
cúng tế, cảm tạ công đức người mẹ xứ sở. Sau đó, xem các nghệ sĩ trong đoàn nghệ
thuật Chăm biểu diễn các màn dân ca, dân vũ, rộn ràng bên tiếng trống Ghinăng,
Paranưng, đàn Kanhi, hòa cùng vũ điệu Apsara, điệu múa bông, múa quạt, múa lu
truyền thống trên sân khấu ngoài trời.
Tạm biệt Po Nagar, xe đưa tôi và Mây đi tiếp vào khu du lịch
suối khoáng, tọa lạc sâu trong con hẽm gần đó.
Đang trên đường đi Mây ghé sát đầu vào tai tôi hỏi:
- Mình đi đâu vậy anh?
- Tắm bùn.
Giọng Mây thánh thót kêu lên trong sự mừng rở:
- Ô! Thích quá, lần này về Sapa em tha hồ “nổ” cho thiên hạ
lé mắt chơi.
Đường đi tương đối hẹp lại ngoằng nghoèo, với hai bên nhà cửa
cái xô ra cái thụt vào, gây khó khăn cho việc di chuyển. Nghe kể, năm 1994 Liên
Đoàn Địa Chất miền Trung đã khoan trúng mõ nước mặn nên không thể khai thác
đóng chai được, bèn phải dùng hơn 13 tân xi măng lấp kín miệng lỗ lại, tránh
làm ảnh hưởng tới môi trường xung quanh. Đến năm 1995, cứ mỗi mùa mưa, lại thấy
hiện tượng bùn khoáng chảy tràn ra che lấp hết cả vườn tược, hoa màu làm ảnh hưởng
tới cuộc sống người nghèo quanh vùng rất nhiều. Từ đó, các nhà đầu tư đã nghĩ
ra cách kết hợp loại bùn khoáng nóng, với bùn khoáng vô cơ vào mục đích phục vụ
du lịch, nghỉ dưỡng, chửa bệnh.
Mua vé tắm bùn, đi thay đồ tắm, tôi và Mây được hướng dẫn đến
đứng dưới vòi nước nóng tắm cho sạch, trước khi bước vào bồn chứa bùn. Vì là lần
đầu được biết đến chuyện tắm bùn, cô không chỉ ngạc nhiên mà còn tỏ ra thích
thú khi được ngâm mình dưới lớp bùn khoáng màu nâu nhơn nhớt, bao trùm lên khắp
thân thể. Cứ thế, cô khép hờ mắt lại, tận hưởng cảm giác sảng khoái cho đến khi
mọi sự mỏi mệt tan biến.
Nhân lúc nhìn thấy Mây lim dim mắt, tận hưởng cảm giác thích
thú, tôi múc gáo bùn xối lên người cô đùa:
- Tặng em món này mang về Cát Cát khoe với mọi người.
Chưa kịp mở mắt ra xem tôi tặng gì, Mây lảnh ngay gáo bùn xối
lên người, khiến cô không kịp né tránh nên vừa la oai oái vừa lo vuốt bùn dính
đầy trên tóc.
Mây thắc mắc hỏi tôi;
- Bùn khoáng nóng này lấy từ đâu ra vậy anh?
- Bùn khoáng là loại bùn thiên nhiên được hóa thành từ biến đổi
địa chất, hoặc có nguồn gốc thực vật như cây, lá, hoa, cỏ bị chôn vùi lâu ngày
mà thành.
- Công dụng của nó?
- Theo các nhà khoa học, bùn khoáng gồm các chất hữu cơ, vô
cơ, các chất chứa carbon... có tác dụng chữa một số bệnh viêm khớp, bệnh mãn
tính, bệnh về da...
Chưa rõ lợi ích tức thì của bùn khoáng ra sao, nhưng trước mắt
tôi và Mây mình mẩy, đầu tóc dính đầy bùn nhão, trông vừa buồn cười lại không
giống ai. Nhân thấy thời gian vui chơi đã lâu, tôi bàn với Mây rời hồ đi tắm lại
nước sạch cho thoải mái. Nghe có lý, cô ngoan ngoản đưa tay cho tôi dìu lên khỏi
hồ, đi tiếp qua 2 bức tường bố trí bằng những tia nước bắn ra từ 2 bên, tạo cảm
giác mơ hồ như thể có bàn tay vô hình nào đó vuốt ve, mơn trớn trên từng thớ thịt,
kế đó chuyển qua hồ khoáng nóng ngâm mình thư giản, chờ xế chiều về lại trung
tâm thành phố ăn tối, trước khi về khách sạn nghỉ ngơi lấy sức cho ngày mai
khám phá tiếp các di tích cùng những bãi biển đẹp tuyệt vời nằm trong tỉnh
Khánh Hòa.
Sáng ra, như đã dặn dò với Mây từ tối hôm trước, tôi chờ cô ở
nhà hàng nằm dưới tầng trệt khách sạn ăn sáng, nhưng đợi mãi chẳng thấy bóng
dáng cô đâu cả, đành phải đi thang máy trở lên tầng tám gỏ cửa phòng cô:
- Mây, em sửa soạn xong chưa, xuống ăn sáng kẻo trể?
Bên trong có tiếng Mây vọng ra:
- Xin lỗi! Hôm qua đi chơi cả ngày mệt quá nên em ngủ say như
chết. Cho em 5 phút nữa thôi.
Tôi thừa biết con gái nói 5 phút là phải trừ hao thêm một khoảng
thời gian đủ để ngủ gục đến mòn mỏi. Không biết làm gì hơn, tôi bước tới đứng
sau vuông cửa kinh, nhìn ra bầu trời bên ngoài, ngắm từng cụm mây trắng in hình
xuống mặt biển xanh biên biếc. Lạ. Cũng bãi biển đó, cũng bờ cát trắng trãi dài
tít tắp, cũng những rặng dừa, rặng phi lao ấy, nhưng sao trong buổi sáng hôm
nay trông nó lạ lẫm, hấp dẫn, quyến rũ biết chừng nào.
Vừa lúc đó cửa phòng Mây xịch mở, cô bước ra trong trang phục
quần jean áo sơ mi bỏ trong quần, nhìn thật trẻ trung tươi mát.
Tôi ngạc nhiên nhìn Mây xuýt xoa:
- Woa! Ai mà đẹp dữ vậy ta. Ăn mặc thế này ra đường ai dám bảo
em là dân miền núi?
Mây cười rạng rỡ:
- Anh chỉ được khéo nói.
- Anh nói thực lòng mà.
Thang máy cũng vừa lên tới và dừng lại ngay trước mặt bọn
tôi.
Tôi hối Mây:
- Mình mau xuống dưới nhà ăn sáng rồi còn đi thăm các di
tích, sau đó tiết kiệm thời gian chạy luôn ra ngoại thành thăm qua các bãi biển.
Vào đứng trong thang máy, vô tình tôi bắt gặp ánh mắt có đuôi
của Mây, nhìn tôi với cái nhìn lạ lẫm, cộng thêm hai má ửng hồng chứa đựng bao
điều bí mật được cất giữ trong tâm trí nơi cô. Tôi cảm thấy nóng ran người,
loay hoay chưa biết xử trí ra sao đã thấy đầu cô dựa sát vào ngực tôi, sực nức
mùi hương da thịt con gái đưa lên mũi. Ôi! Mùi hương thật quyến rũ, nhắc nhớ trong
tôi kỷ niệm lần đi bên cô về thăm bản Cát Cát. Mùi hương ngai ngái thanh tân, lạ
lẫm, rất khác với mùi son phấn con gái thị thành, càng khiến cho tôi thêm ngây
ngất. Tôi cúi xuống, muốn được ôm thật chặt cô từ phía sau, đặt lên đôi môi sơn
nữ nụ hôn nồng cháy, nhưng chưa kịp thực hiện đã thấy thang máy dừng lại và cửa
mở ra. May quá, nhờ vậy tôi tỉnh hẳn người ra, vì chỉ cần chậm vài giây thôi,
tôi có thể trở thành kẻ háo sắc trước mặt cô chẳng chơi. Cảm giác tội lỗi biến
tôi trở nên vụng về không kém, chỉ còn biết im lặng đi theo sau cô đến với
phòng ăn.
Ăn sáng ra, tôi hỏi thuê một chiếc xe máy của khách sạn để dễ
dàng di chuyển, thay vì đi ô tô vừa bị động vừa mất thời gian. Được cái giá
thuê xe máy ở Nha Trang rẻ, đẹp hơn so với nhiều địa phương khác.
Từ đường Trần Phú tôi chở Mây tới nhà
thờ Núi hay còn gọi nhà thờ Đá, nhà thờ Kito Vua, nhà thờ chánh tòa Nha Trang,
tọa lạc ngay trong trung tâm thành phố. Đây là công trình kiến trúc Gothic, được
coi là tiêu biểu của phương Tây, với bố cục chắc, khỏe, giống kiểu nhà thờ đá
trên Sapa. Nhà thờ được xây dựng năm 1928 do Louis Vallet, giám mục người Pháp,
đã cho xẻ ngọn núi Bông ra làm đôi bằng 500 quả mìn, sau đó san bằng một nửa
phía Tây để có được diện tích 4.500 mét vuông đất xây dựng nhà thờ.
Quan sát từ xa, tôi thấy nhà thờ được phân ra thành 3 phần rõ
rêt. Phần dưới cùng là con đường đi với bờ tường đặt nhiều hộc đựng di cốt người
quá cố; phần giữa, ngoài những ô cửa tròn gắn kính màu được tô điểm bằng những
bông hồng ra, không còn gì đáng xem; phần trên cùng là hành lang và tháp chuông
có bốn mặt đều được gắn đồng hồ lớn nhìn ra bốn hướng.
Tôi đưa Mây bước vào trong thánh đường, nơi duy nhất có được
không gian rộng mênh mông, ngập tràn ánh sáng qua các cửa vòm được lắp kính màu
xanh đỏ. Chưa kể khi nhìn lên trần nhà thờ còn thấy nhiều hình múi vòm uốn cong
lên trên, cùng với những hoa văn trang trí tuy giản dị nhưng không thiếu phần
trang nghiêm, bên cạnh những bức họa mô phỏng cuộc khổ nạn của Chúa Giê-Su,
treo trên những bức tường còn lai.
Đang loay hoay chưa biết điểm khám phá tiếp theo là đâu, tôi
bỗng tôi nhớ câu “từ nhà Chúa đến nhà Chùa là con đường ngắn nhất”. Thật vậy, từ
đây chạy đến Long Sơn Tự hay còn gọi là chùa Phật trắng, nằm ngay dưới chân núi
Trại Thủy cách đây không xa. Thế là tôi ra lấy xe, chở Mây trên con đường hướng
về phía nhà ga xe lửa, vì chùa Phật trắng nằm ngay ở phía đối diện.
Được biết, Long Sơn tự là một đại danh thắng cổ kính, hoành
tráng, của vùng Nam Trung Bộ, được hoàng đế Bảo Đại sắc phong “Sắc Tứ Long Sơn
Tự”, một trong những biểu tượng của xứ Trầm Hương.
Ai muốn dâng hương trước kim thân đức Phật tổ, phải leo 153 bậc
thang từ đưới chân núi lên tới đỉnh Trại Thủy. Tôi và Mây cũng không ngoại lệ,
nhưng vừa leo đến bậc thứ 44, đã tới đứng trước tượng đức Phật nhập Niết Bàn,
dài 12 mét, cao 5 mét, phía sau là phù điêu mô tả 49 chư vị tỳ kheo đang niệm
Phật. Thắp nhang quay ra, bọn tôi leo tiếp một số bậc cấp nữa, đã thấy hiện ra
trước mắt một tháp chuông, trong đó có treo một quả đại hồng chung cao 2, 2
mét, nặng 1 tấn rưởi. Mệt. Mây lấy nước mang theo ra uống, nghỉ ngơi lấy lại sức
để tiếp tục leo lên đỉnh núi, nơi đặt tượng Phật Thích Ca hay còn gọi là Phật
Trắng, cao 24 mét, trong tư thế tọa thiền trên một đế hình tòa sen cao 7 mét,
cùng với chân dung 7 vị thánh tử đạo vây quanh.
Lễ Phật xong tôi cùng Mậy trở xuống núi, ngược đường chạy về
thị trấn Diên Khánh, bắt gặp bên đường quốc lộ 1 một quần thể thành cổ, xây dựng
cách nay 216 năm, dưới thời chúa Nguyễn, rộng 36 ngàn mét vuông. Đến nơi, tôi
lái xe quẹo vào đường Mã Xá, con đường ngày xưa đắp bằng đất, dùng vào việc tuần
tra, vận chuyển hay còn gọi là đường quan phòng. Từ đây, Mây đứng quan sát một
hào nước sâu khoảng 3 đến 5 mét, rộng 30 mét, nối từ cổng phía Đông đến cổng
thành phía Tây, luôn đầy nước do sông Cái đổ vào. Cổng thành gồm 2 tầng: tầng
trên có công sự, pháo đài đặt súng thần công; tầng dưới nối với tường thành
hình lục giác 6 cạnh không đều, chia nhiều đoạn nhỏ, uốn lươn bên các góc nhô
ra nhưng vẫn quan sát được xung quanh. Tường dài 2693 mét, cao 3, 5 mét, đắp bằng
đất, trên trồng tre gai ken dày nhằm giữ độ bền cũng như làm hàng rào phòng thủ.
Theo tư liệu, mới đầu thành có 6 cửa, xây theo hình vòng cung, cao 4,5 mét, rộng
17 mét, nhưng sau quá trình trùng tu tôn tạo nhiều lần, đến nay chỉ còn lại các
cửa Đông, Tây, Nam, Bắc.
Dắt tay Mây bước qua cổng thành phía Đông, tôi quan sát thấy
mặt ngoài bức tường dựng đứng, mặt trong thoai thoải chia thành 2 bậc, tao ra
con đường ở giũa rộng 10 mét, giúp việc vận chuyển thêm thuận lợi; đặc biệt, với
phần diện tích đất còn lại người ta trồng xen kẻ trên đó nhiều cây xanh để vừa
bảo vệ chân thành vừa tạo cảnh quan. Tiếp tục theo con đường nhựa đi vào bên
trong, gặp nhiều nhà cửa xây dựng hoàn toàn mới, trong đó gồm các cơ quan hành
chính, ngân hàng, thuế vụ, công an . . . đã thay thế toàn bộ di tích từng có mặt
ở đây cách hai trăm năm trước, hoàng cung, cột cờ, dinh Tuần Vũ, dinh Án Sát,
dinh Lãnh Binh, dinh Tham Tri, nhà lao, nhà kho. . .
Ngậm ngùi trước sự thay đổi lớn lao đó, tôi nuốt vào lòng nỗi
buồn riêng, tôi đưa Mây quay ra hỏi thăm đường đến với di tích Cây Dầu Đôi,
chùa Hoa Tiên, nơi lưu truyền nhiều huyền tích ly kỳ, cách đây chừng 2 cây số.
Trên đường chạy về ngã ba Thành, tới một ngã ba nhìn sang bên
kia đường, thấy một cây dầu cổ thụ mọc ra 2 thân đồ sộ cành lá xum xuê. Cây dầu
tọa lạc trước ngôi miếu khang trang, bên trong thờ vị tướng công trong phong
trào Cần Vương tên Trịnh Phong. Theo truyền tụng, cây dầu thoạt đầu có 2 gốc mọc
cạnh nhau, lâu ngày dính vào nhau làm một, song cũng có giả thiết nói rằng, vào
một đêm mưa gió bão bùng, sấm sét đã giáng trúng cây dầu làm cho nó gãy ngọn.
Tưởng cây dầu sẽ chết, nhưng chỉ một thời gian sau, từ chỗ gãy thấy mọc ra 2
cành mới, lâu ngày rất xum xuê cành lá.
Thấy ngộ, Mây thử chạy vào đứng trên những chiếc rể sần sùi mọc
trồi lên mặt đất, hỏi một bác sống tại địa phương:
- Bác ơi! Cây này bao nhiêu tuổi rồi ạ?
Người đàn ông lớn tuổi đáp:
- Cho đến hôm nay vẫn chưa ai dám xác định chính xác tuổi của
nó, chỉ biết từ khi thành Diên Khánh ra đời( 1793), đã thấy cây dầu này vượt trội
lên trên thảm rừng già. Tương truyền, thành Diên Khánh trước đây là nơi Trịnh
Phong , vị tướng quân trong phong trào Cần Vương, được vua Hàm Nghi sắc phong
là Bình Tây đại tướng, đã dùng thành làm tổng hành dinh trong cuộc kháng Pháp.
Sau khi bị bắt, giặc mang ông ra chém tại đồi Chết Chém, đồng thời treo đầu
trên cây Dầu Đôi này. Thương tiếc vị tướng công yêu nước, dân chúng vùng Khánh
Hòa đã chung tay dựng nên ngôi miếu thờ ngay dưới cây dầu thờ ông.
Mây đưa tay chỉ ngôi miếu gần đấy hỏi:
- Có phải ngôi miếu ông kể kia không?
- Trước đây, miếu cây Dầu Đôi nằm ở tận ngoài này, nhưng do
nhiều lần mở rộng đường, dân chúng đã dời ngôi miếu vào trong đó.
Không bỏ được tính trẻ con, Mây tinh ngịch dang hai tay ra ôm
thử cây dầu xem nó lớn chừng nào, nhưng với vòng tay nhỏ bé của cô xem ra chả
thấm tháp gì so với gốc cây to cở 8-9 người ôm không xuể. Cô rụt đầu thè lưỡi
chịu thua nói:
- Ôi! Cây dầu to cở này cả họ nhà cháu ôm chưa chắc đã hết.
Trước lời nói đầy vẻ hài hước của Mây khiến nhiều người cười ồ
lên, sau đó khuyên tôi nên chở cô ghé đến chùa Hoa Tiên nghe kể về những huyền
tích, cách xa đây chỉ hơn ngàn bước chân.
Làm theo sự chỉ dẫn, tôi chở Mây băng qua đường, ngược lên
phía trên một đoạn, nhập vào đoàn người đứng quan sát cây Cốc đại thụ, nghe kể
về kho vàng Hời ẩn giấu dưới gốc linh mộc, chuyện những hồn ma trinh nữ bị các
nhà quyền quý Chăm chôn sống nhằm bảo vệ kho tàng, chuyện vào ban đêm thường xuất
hiện hiện tượng vàng đi ăn với những ánh sáng vàng rực, di chuyển quanh thân mộc
và khuôn viên nhà chùa?
Nói về kho vàng ở chùa Hoa Tiên, nhà văn Quách Tấn có kể
trong tác phẩm Xứ Trầm Hương. “Hơn một nửa thế kỷ trước, khi phong trào tìm
vàng rộ lên, rất nhiều ngôi mộ cổ lẫn các cổ tự... đều bị kẻ xấu đào bới và
chùa Hoa Tiên cũng không ngoại lệ; ngoài ra, cũng có chuyện người Hời ở Phan
Rang đã tìm đến chùa, trưng đủ giấy tờ của ông bà để lại, xin phép được đào bới
gốc cây Cốc tìm của. May sao, các thầy trong chùa cùng dân chúng quanh vùng đã
khước từ và ra sức bảo vệ nghiêm ngặt cây Cốc, nhờ vậy kho báu mới được giữ
nguyên vẹn cho đến ngày hôm nay”.
Rời linh mộc, tôi và Mây đến với ngôi chùa cổ Hoa Tiên, cách
đó vài bước chân. Nghe kể, tiền thân chùa là nơi lui tới của các quan nên còn gọi
là quan tự, sau này được giao lại cho làng dùng làm nơi thờ phượng.
Bước vào bên trong chánh điện, tôi quan sát thấy bên trái là
gian thờ Phật, bên phải thờ Nữ Thiên Y A Na, gian giữa thờ đức Quan Thánh. Nghe
nhiều người lao xao bàn tán, trong chùa còn lưu giữ nhiều tượng cổ, nhưng quí
nhất vẫn là tượng lồi bằng đá xanh có gương mặt giống phụ nữ, phát hiện trong
quá trình đào giếng xây chùa. Nhiều người tin đó là chân dung của nữ thần Po
Nagar, khuyên thầy trụ trì mang vào chùa thờ phượng. Việc này, trong sách “Xứ
Trầm Hương” cũng thấy mô tả ”Không biết đây là một tác phẩm điêu khắc bị dở
dang hay là hinh tướng một vị quái thần Bà La Môn. Tượng chỉ khắc một nửa thân
phía trước, có đủ mặt, mũi, mắt, miệng; riêng hai tay chắp nơi ngực, đầu đội một
chiếc mũ nhọn như ngọn tháp Cao Miên, phía sau lưng và khúc mình thì để nguyên
dạng đá”. Tuy nhiên, theo một số người đồn đoán, đây là pho tượng dùng để trấn ếm
của người Chăm giàu có nhằm bảo vệ kho báu; ngược lại, cũng có người cho đó là
tượng thờ người nữ Chăm có nhiều quyền năng, ban phước, nâng đở, cứu giúp những
ai tin tưởng bà. Chưa hết, nghe kể trong mật thất nhà chùa còn cất giữ một pho
tượng cao 0,6 mét, mất đầu, không rõ là tượng nam thần hay nữ thần vì những đường
nét khắc họa đã bị bào mòn theo thời gian. Mang điều bí mật này ra hỏi một vị
chức sắc trong chùa, tôi được cho biết, ngày xưa dưới gốc cây Cốc bỗng trồi lên
một pho tượng. Nghi là vật thiêng, thầy trụ trì đã mang pho tương vào trong
chùa thờ, không ngờ giữa đêm tượng bị rơi xuống đất, đầu lìa khỏi cổ. Mọi người
tin là pho tượng không muốn rời khỏi cây Cốc, nên thầy trụ trì đành phải nghe
theo, mang trả pho tượng về chỗ cũ..
Đi loanh quanh trong khuôn viên chùa thêm một lúc, tôi và Mây
mau chóng lên xe quay về thành phố, bỏ qua ý định đi thác Yang Bay, suối Thạch
Lâm, đảo Trứng... để có đủ thời gian đi Dốc Lết, Đại Lãnh, vịnh Vân Phong,
làng chài Khải Lương, nơi được cho là ánh mặt trời mọc sớm nhất ở cực Đông nước
ta, thay vì mũi Điện - Tuy Hòa như nhiều người lầm tưởng tước đây.
Tạm biệt chùa Hoa Tiên, theo quốc lộ 1 tôi chạy xe qua thị xã
Ninh Hòa, qua đèo Bánh Ít, qua nhà máy đóng tàu Huyndai Vinashin, qua những
cánh đồng lúa, qua những cánh đồng muối bạt ngàn, xuôi về phía Bắc tới Dốc Lết.
Nơi có nhiều cồn cát trắng cao hàng chục mét chắn ngang tầm mắt, trên đó mọc
lên những hàng dương xanh biết, ngăn đôi bên này với bên kia biển. Theo người
dân địa phương, sở dĩ có tên Dốc Lết, vì mỗi khi có việc cần đi ra biển, người
ta phải vượt qua các cồn cát cao tận trời, đi không nổi phải bò phải lết, bò lết
đến khi nào ra tới biển mới thôi.
Đứng trước biển Dốc Lết, tự dưng tôi nhớ tới những bãi cát trắng
muốt ở Côn Đảo, song để so sánh với màu trắng của cát ở đảo KohRong Samloem xứ
chùa Tháp, chắc không thể nào bằng được; ngược lại, biển Dốc Lết với ưu điếm,
xinh đẹp, gần gũi, thân thiện, qua cách người ta mời chào mua bán những phẩm vật
đánh bắt từ dưới biển lên tươi rót, giá cả phải chăng. Nhờ vậy, tôi và Mây có dịp
thưởng thức một bữa ăn hải sản tưng bừng mà không tốn nhiều tiền so với nhiều
vùng biển khác.
Nạp năng lượng xong, tôi chở Mây chạy tiếp tới chân đèo Cổ
Mã, chạy thêm vài cây số nữa tới Vân Phong, nơi tập hợp nhiều hòn đảo lớn nhỏ,
hình thành nên vịnh biển cực kỳ xinh đẹp, hoang sơ, với bãi cát trắng trải dài
mênh mông, làn nước trong xanh, rặng san hô đa dạng sắc màu. Vì thế, các tạp
chí du lịch trong và ngoài nước đua nhau bình chọn là một trong những vịnh đẹp
nhất thế giới, là kỳ quan thiên nhiên với khí hậu ôn hòa, cát trắng mịn màng,
núi đồi, rừng nguyên sinh ngập mặn vây quanh...
Tôi dừng xe ở Bãi Môn cho Mây chiêm ngưỡng quần thể du lịch
sinh thái rừng nguyên sinh cùng với bãi biển xếp hình cánh cung xinh đẹp đến ngỡ
ngàng; nhất là với lợi thế xa bờ, có nhiều rạng san hô quí hiếm, nhiều loài tôm
cá, nhiều hang động kỳ bí, nhiều bãi tắm tự nhiên như: bãi Lách, bãi Búa, bãi
Xuân Đừng hay Sơn Đừng.
Rời vịnh Vân Phong tôi đổ đèo Cổ Mã, ghé địa danh từng được
vua Minh Mạng (1836) cho thợ chạm hình phong cảnh biển Đại Lãnh lên một trong
9 chiếc đỉnh đồng, hiện đang được đặt trong sân Thế Miếu ở Huế.
Gửi xe vào bãi, tôi dìu Mây đi trên chiếc cầu gỗ bắt qua con
suối nước ngọt quanh năm không hề cạn, đi vào thiên đường biển Đại Lãnh. Thật vậy,
bãi biển Đại Lãnh đẹp, hấp dẫn không chỉ nhờ có bãi biển uốn cong hình trăng
mùng sáu, những rặng phi lao xanh thắm, những lạch nước ngọt quanh năm hòa vào
biển cả; mà còn nổi tiếng nhờ nằm lọt thỏm giữa 2 ngọn đèo Cổ Mã, đèo Cả và 3
phía núi vây quanh, nên vẫn giữ được dáng vẻ hoang sơ vì ít bị tác động của con
người. Tiếc rằng, ngoài vẻ đẹp do thiên nhiên ưu ái ban tặng, thì việc cung ứng
sản phẩm du lịch ở đây xem ra còn quá đơn điêu với những dãy kios, hàng quán,
nhà nghỉ dưỡng... chưa thực xứng tầm với một địa danh du lịch nghỉ dưỡng, từng
được xem là một trong 10 điểm đến đẹp nhật thế giới; trong khi, ai đã một lần đặt
chân đến với khu du lịch Đại Lãnh, không khỏi ngỡ ngàng trước hàng loat công
trình xây dựng hoành tráng, nghe nói của nhạc sĩ Thanh Tùng, nhạc sĩ ăn nên làm
ra và nổi tiếng qua các nhạc phẩm “Một Mình, Giọt Nắng Bên Thềm”, đang từng
ngày bị bỏ quên trong hoang phế?
Mang sự nuối tiếc ấy tôi và Mây rời Đại Lãnh, quay về thành
phố Nha Trang nghỉ ngơi, để sáng sớm hôm sau có mặt ở tour bốn đảo.
Đúng hẹn, sau khi dùng buffet sáng ở khách sạn, xe công ty tổ
chức tuor bốn đảo được điều tới, đón tôi và Mây đưa ra Cầu Đá. Ở đây, bọn tôi
được nhập chung vào đoàn khách tây lẫn ta, gồm khoảng 20 người cùng xuống tàu
lênh đênh trên biển. Độ nữa giờ sau, ngó lên đã thấy trước mắt hình ảnh con tàu
cướp biển Caribe hóa thạch mang tên: Hồ cá Trí Nguyên. Gọi là hồ, vì hình dáng
con thuyền được xây dựng bởi nhiều kè đá ngăn biển, tạo thành nhiều hồ nhỏ để
nước có thể dẽ dàng thông nhau qua những khe hở của đá, từ đó nhiều loài sinh vật
biển có thể ra vào sinh sống và phát triển.
Tàu cặp bến, tôi và Mây cùng đoàn khách được hướng dẫn đi sâu
vào lòng con tàu, tham quan, rửa mắt, trước hàng ngàn sinh vật biển. Tại hồ cá
lộ thiên khá rộng, bọn tôi chứng kiến nhiều loài cá thu, cá ngừ, cá nục, cá đuối,
bơi lượn nhởn nhơ... đi tiếp vào hồ cá nằm trong nhà, tuy có diện tích khiêm
tốn hơn so với hồ lộ thiên, nhưng lại thấy đủ loài cá cảnh màu sắc sặc sỡ mà
ngày thường ít người được biết; hồ kế tiếp là hồ nuôi sinh vật đồi mồi, rùa biển;
hồ cuối cùng kéo dài từ chân đồi ra biển là hồ nuôi các sinh vật từ nhỏ cho tới
nặng vài chục kí lô...
Hết giờ mặc định tham quan, mọi người lần lượt trở lại tàu,
trực chỉ Hòn Mun lặn biển, khám phá khu bảo tồn sinh vật đầu tiên của nước ta,
với các thảm san hô đa dạng được đánh giá đẹp nhất nhì thế giới.
Tàu chưa kịp ghé vào Hòn Mun, Mây đã kéo tay tôi rũ đi thay đồ
tắm, mượn kính lặn, ống thở Knorkel, chuẩn bị lặn biển. Lặn biển? Tôi không khỏi
bất ngờ trước lời rủ rê nơi cô, tròn xoe mắt ngạc nhiên hỏi:
- Em là dân miền núi cũng biết bơi sao?
- Ư! Giỏi là đàng khác, không tin cứ xuống biển với em, sẽ biết
thế nào là lễ độ.
- Trên đó em thường đi bơi ở đâu?
- Ở các hồ thiên nhiên vào mùa hè.
Rõ rồi nhé, tôi cảm thấy mình vô duyên quá thể, đành lủi thủi
làm theo lời Mây, sau đó cùng lao xuống biển vùng vẫy, lặn hụp trong nước,
chiêm ngưỡng vẻ đẹp của hàng hà sa số sinh vật biển cùng với thảm san hô trải
dài vô tận.
Đến trưa, tàu thông báo nhổ neo di chuyển đến Hòn Một dùng
cơm trưa, nghỉ ngơi, ngay trên tàu. Không rõ, do vùng vẫy trong nước quá lâu
hay sao, khi dùng cơm trưa dù theo kiểu dã chiến với các món ăn đơn giản gồm:
tôm rang, cá kho, trứng rán, trái cây... vậy mà ai cũng khen ngon. Song để lại
ấn tượng trong lòng mọi người, có lẽ là chương trình live show bỏ túi, do chính
các thành viên trên tàu - The Funky Monkey, vừa trẻ trung lại có vốn liếng tiếng
Anh giỏi, nên đã làm say mê các khách Nhật Bản, Hàn Quốc, Thụy Sĩ, Mỹ, VN... qua các ca khúc nổi tiếng tại bản xứ của họ, hợp cùng tiếng đàn điện, tiếng nồi-
niêu, soong- chảo; thay cho tiếng trống, tiếng tambourin... biến không khí
ca nhạc cây nhà lá vườn trở nên thật hấp dẫn và vui nhộn. Chưa kể, trong giờ
nghỉ ngơi, mọi người được tư vấn mặc áo phao, lao xuống biển tham dự tiệc rượu
cocktail tại quày bar được tổ chức ngay trên mặt biển vui ơi là vui.
Xế trưa, tàu di chuyển tới Bãi Tranh cho mọi người xuống thư
giản, chơi các trò chơi cảm giác mạnh trên biển. Tận dụng lúc trời còn nắng,
tôi nhờ người lái tàu thuê hộ một chiếc cano đưa lên đảo Hòn Tre, khám phá nơi
mà bất kỳ ai ghé đến Nha Trang đều không muốn bỏ qua khu vui chơi tổng hợp
Vipearl Land, được ví như thiên đường ở hạ giới.
Lên đảo, để Mây không bị cái nắng gay gắt làm khó chịu, tôi
đưa cô ghé khu vui chơi trong nhà, nghỉ ngơi, chơi trò chơi điện tử, xe điện đụng,
thăm vườn cổ tích, đi thang cuốn qua đường hầm bằng kính vào lòng đại dương, đứng
chiêm ngưỡng các loài cá quí hiếm, đẹp chẳng thua gì thủy cung lớn nhất thế giới
Sentosa ở Singapore.
Hết nắng. Bọn tôi quay ra bên ngoài, ghé khu trò chơi cảm
giác mạnh, chơi tàu lượn siêu tốc Roller Coaster, thử trải nghiệm trò chơi xe
trượt núi - Alpine Coaster, nghe quảng cáo là loại hình vui chơi cảm giác mạnh
đang được ưa thích trên thế giới hiện giờ.
Đầu tiên, tại dưới chân núi Vinpearl Alpine Coaster, tôi và
Mây được hệ thống kéo lôi trên đoạn đường dài 540 mét, đến một nhà ga nằm ở tận
trên đỉnh núi cao 140 mét so với mực nước biển. Tại đây, ai muốn dành thời gian
dạo chơi, ngắm cảnh, chiêm ngưỡng toàn vịnh Nha Trang, chụp ảnh kỷ niệm... đều
không bị hạn chế. Kế đó tham gia trượt Alpine trên một chiếc xe đôi dành cho 2
người, gồm một hệ thống điều khiển tốc độ nhanh - chậm, một thắng tay giữ khoảng
cách an toàn giữa xe trước cùng với xe sau. Và, cứ thế trượt xuống bên dưới qua
một đường uốn lượn dài 1.220 mét, trong cảm giác vừa hồi hộp vừa thích thú.
Nhìn đồng hồ thấy đã năm giờ hơn, tôi hối Mây chạy đến xếp
hàng mua vé xem cá heo biểu diễn; bởi, chỉ chậm chân năm-mười phút sẽ không còn
chỗ ngồi, tới lúc đó chỉ có nước chịu tốn tiền du lịch sang Thái, mò vào Safari
xem biểu diễn cá heo vừa mất thời gian vừa tốn tiền?
Kể cho vui vậy thôi, bởi sau đó tôi và Mây mỗi người đã cầm
trên tay một chiếc vé, hiên ngang bước vào nhà biễu diễn. Ngồi chưa kịp nóng chỗ,
đã nghe trên sân khấu giới thiệu màn biểu diễn.bắt đầu. Trước tiên, huấn luyện
viên cùng 2 chú cá heo Michail và Yulia làm động tác ngộ nghĩnh chào khán giả,
tiếp sau là những màn biểu diễn vô cùng ngoạn mục như: bơi trên cạn, nhảy qua
vòng, tung hứng bóng... giữa những tràng pháo tay tán thưởng ồn ào của đông
đảo người xem.
Rời nhà xiếc, do được truyền đạt kinh nghiệm của bạn bè từ
trước, tôi vôi đi mua thức ăn nhanh cho kịp giờ trình diễn lúc 20 giờ, để vừa
có cái ăn dằn bụng vừa thưởng thức công trình kết hợp tuyệt vời giữa hiệu ứng
ánh sáng cùng sự chuyển động của nó bên nền nhạc sang trọng trên sân khấu. Tuy
vậy, tôi vẫn luôn nhớ lời dặn, phải rời sân khấu sớm hơn dăm phút, tránh rơi
vào tình trạng chờ đợi mất thời gian ở cáp treo, do số lượng người trở về đất
liền lúc ấy khá đông .Nhờ vậy, tôi và Mây đã về đến đất liền trên chuyến cáp
treo sớm nhất, để có thời gian tìm tới các khu ẩm thực chuyên bán các món ăn đặc
sản về đêm ở Nha Trang, ăn mừng chuyến đi khám phá xứ Trầm Hương sắp kết thúc
vào trưa mai.
Nhân lúc đi bên Mây trên phố tôi hỏi cô:
- Em thích ăn gì nào?
- Ngoài trừ một số hải sản quen thuộc ra, đêm nay em chỉ muôn
thưởng thức các món ăn được cho là độc đáo nhất của Nha Trang này thôi.
Tôi kể sơ qua thực đơn mà tôi biết cho Mây nghe:
- Bánh căn mực, bánh xèo mực, bánh canh chả cá, nem nướng,
bún sứa, gỏi cá mai, gỏi ốc, bò Lạc Cảnh...
- Ôi! Món nào nghe qua em cũng đều muốn thử hết.
- Thì cứ việc đi nếm từng món, cho đến khi nào em cảm thấy cứng
bụng mới thôi.
- Ý kiến hay đây.
Đi bộ dọc theo đường Trần Phú một đoạn, đập vào mắt tôi và
Mây đủ loại hàng quán ăn uống hấp dẫn, cái bày ra trên vĩa hè cái trong nhà; đặc
biệt, ở khu chợ đêm tấp nập người đi kẻ lại, ăn uống nói cười vui vẻ. Song, đối
với những ai từng đi ăn đêm ở NhaTrang, ít ai chịu dừng chân ăn uống ở nơi này,
mà thường tìm tới các địa chỉ quen thuộc, cho dù có nằm sâu trong những con hẽm,
tuy đông khách nhưng được cái ăn rất ngon miệng.
Tôi đề nghị với Mây:
- Trước hết, anh đưa em đi ăn món bánh căn, vì bất kỳ khách du
lịch nào lần đầu tiên ghé Nha Trang đều được giới thiệu món ăn chơi đầy hấp dẫn
này, sau là món bún cá, hay bánh canh cá, bún sứa... chưa đủ no, mình sẽ đi
ăn thêm món nem lụi hay bò Lạc Cảnh, tôi hỏi, em thấy sao?
- Bánh căn như thế nào ạ, nghe thú vị quá?.
Thay vì trả lời Mây, tôi gọi xe bảo đưa tới khu Tháp Chàm,
nơi không chỉ có hàng bán bánh căn đêm, mà còn thấy trên đường nằm dọc theo
phía biển, còn rất nhiều hàng quán bày bán các loại hải sản, phục vụ các thượng
đế chuyên đi ăn uống về đêm.
Để Mây có thể nhìn tận mắt cách chế biến món bánh căn, tôi chọn
bàn ngồi đối diện với bếp lửa, theo dõi từng thao tác chuyên nghiệp như một nghệ
sĩ múa nơi chị phụ nữ, thoa dầu, đổ bột vô khuôn, đặt con tôm (hay miếng mực)
lên mặt bánh, đây nắp, đợi bánh chin vàng rộm, lấy ra từng cái đặt lên chiếc
tràng bằng tre có đặt sẳn chén nước chấm, dĩa rau thơm, ít đu đủ bào sợi, sau
đó mang ra cho khách.
Nhận lấy tràng bánh, tôi làm nháp cho Mây thấy cách ăn món
bánh căn như thế nào, sau đó nhìn cô vừa ăn vừa hít hà với món nước chấm cay xé
trong miệng.
Tôi hỏi:
- Cảm nhận của em về món bánh căn ra sao?
- Ngon và lạ miệng hơn bánh tôm hồ Tây.
Tôi giải thích cho Mậy rõ: Đây là loại bánh làm từ bột gạo,
được nướng trên một cái khuôn bằng đất nung có nhiều lỗ trên mặt. Là loại bánh
phổ biến của người Chăm ở vùng Nam Trung Bộ, từ Khánh Hòa, Ninh Thuận trở vào
Bình Thuận. Thoạt nhìn, bánh căn có hình dáng giống với bánh khọt của miền Tây,
nhưng khác ở chỗ không dùng dầu mỡ để chiên. Bánh nhỏ, chế biến với nhiều loại
nhân, tùy theo sở thích mà bánh được chế biến bằng mực, bằng tôm, bằng trứng, hến,
thịt bò... do bánh nhỏ nên bánh thường bán theo cặp. Khi ăn, chấm vào nước
chấm pha loãng (có nơi nước chấm kèm theo xíu mại, mỡ hành, nước cá nục kho) với
hỗn hợp, nước, tỏi, ớt, đường, dấm, chanh, cùng với ít rau hay đu đủ thái sợi.
- Giờ mình đi ăn bún sứa..
- Sứa? Món này ăn vào có bị ngứa?
- Cam đoan với em, món này cũng nằm trong danh sách các món
ăn được gọi là đặc sản ở Nha Trang, nhờ những con sứa to lắm cũng chỉ bằng đầu
ngón tay trỏ, được ngư dân vớt tận ngoài các đảo xa, mình dày, ăn có vị thơm
mát, giòn nghe sần sật.
- Ôi! Chỉ nghe anh diễn tả thôi em thèm chảy cả nước miếng rồi.
Ghé về đường Bà Triêu, tôi và Mây vào quán bún sứa mà mỗi lần
ra Nha Trang, tôi đều không thể không ghé lại. Nhận ra khách quen, cô chủ quán
không phải hỏi han hay mời chào, mà trụn ngay hai tô bún, bỏ thêm chả, sứa lên
mặt, chan nước dùng nóng hổi lên, mang ra mời khách ăn kèm với chả cá cùng với
rau sống...
Muốn giúp cho Mây hiểu thế nào là tô bún sứa ngon, tôi làm
ngay cuộc phỏng vấn với cô chủ quán về thành phần tô bún sứa.
Cô vui vẻ cho biết:
- Thành phần chính của tô bún sứa ngon dĩ nhiên phải là sứa
được chọn lọc kỷ, sau mới đến nước dùng nấu bằng cá liệt, không xương, thịt ngọt,
ăn kèm với chả cá thu hay chả cá nhồng, chả cá đối, do trước đó đã lóc xương lấy
thịt, quết nhuyễn cho đến khi có độ dai rồi mang vo viên và hấp chin.
Thưởng thức xong món bún sứa tôi hỏi Mây:
- Giờ thì ăn gì nữa?
- Đọc trên Lonely Planet thấy giới thiệu món bò ở Lạc Cảnh
nên thèm lắm, nhưng phải lát nữa cơ, vì bây giờ em hãy còn no.
Tạm biệt cô chủ quán bún sứa, tôi dắt Mây đi tản bộ để cho cô
có thời gian tiêu hóa hết mấy món nước còn đang lỏng bỏng trong bụng; hơn nữa,
theo kinh ngiệm, mò đến quán bò nướng vào vào dịp cuối tuần, chưa chắc đã có
bàn. Chi bằng, cứ hòa vào đám đông vui chơi, đơi muộn một chút thẳng đường Nguyễn
Bỉnh Khiêm tới đó cũng vừa.
Đứng tại một ngã ba, Mây quan sát quán bò Lạc Cảnh một lúc rồi
nói:
- Thấy quán cũng bình thường như bao quán ăn khác thôi mà.
- Nhưng được nhiều người biết đến nhờ có món bò được tẩm ướp
theo bí quyết gia truyền của gia đình người Hoa.
Ngồi vào bàn, tôi gọi hai phần bò, một dĩa rau salad trôn dầu
dấm, một dĩa bánh mì có tẩm ướp nước bò, xong ngồi chờ. Chỉ một lát sau đã thấy
nhà hàng mang đến một lò than cháy hồng cùng với các thứ tôi đã gọi. Trước
tiên, tôi hướng dẫn Mây cách gắp thịt bò đặt lên vỉ nướng, trở qua trở lại số
thịt vài lần trên bếp, cho tới khi thịt kêu sèo sèo chín tới bốc mùi thơm điếc
mũi, thì cũng là lúc tôi sẳn sàng gắp miếng thịt tươm dầu mỡ, bỏ vào chén cho
cô ăn kèm với salad, hay bánh mì đã nướng trên lửa không kém phần thú vị.
Nhìn Mây ăn ngon lành món bò nướng tôi hỏi:
- Cảm giác thế nào?
Cô cười đáp:
- Quả không chê vào đâu được.
- Vì vậy công thức tẩm ướp tuyệt đối không thể để lộ ra bên
ngoài, ngoại trừ những người thân trong gia đình.
Mây đùa:
- Họ còn con trai không anh?
- Làm dâu họ không được đâu.
- Sao lại không hở anh?
- Phong tục người Hoa chỉ gã con cho người Hoa thôi.
Bữa ăn tối của tôi và Mây tạm kết thúc sau trận cười thỏa mãn
nơi cô.
Rời quán ăn, tôi hỏi Mây có muốn đi bar hay uống cà phê nghe
nhạc không, cô tỏ ra mệt mỏi muốn được về sớm đánh một giấc, để sáng chạy ra chợ
Đầm quơ vội ít đồ khô mang về làm quà cho các sếp và gia đình ngoài đó.Tôi nghĩ
có lẽ nên làm theo lời cô, vì suốt mấy ngày qua tôi đã đưa cô đi thăm thú gần hết
tỉnh Khánh Hòa, ngoại trừ một vài thắng cảnh mới đưa vào sử dụng hoặc do không
đủ thời gian đến đó.
Tôi nói:
- Mình về thôi em.
Bước ra đường, Mây luồn tay qua cánh tay tôi, vừa âu yếm vùa
nhí nhảnh nói:
- Cho em mượn đỡ tay anh một xíu nha không mai chia tay lại
nhớ. Đêm ở biển bình yên lạ, chỉ nghe tiếng gió, tiếng sóng vỗ rì
rào, tiếng con tim đập loạn xạ, quyện lấy mùi thịt da thơm tho con gái. Cứ thế,
tôi im lặng đi bên Mây, tận hưởng thứ hạnh phúc tuyệt vời, mơ hồ nghe trái tim
mình treo lơ lửng giữa những mù sương phố núi.
Tiếc thay, ngày mai, chính xác là trưa mai, tôi sẽ lại tiễn
Mây về lại bản làng của cô, không biết đến bao giờ mới gặp lại.
Chú thích:
(*) Năm 1987
(**) Nhạc phẩm của cố nhạc sĩ Minh Kỳ.
(***) Ông là người sáng lập ra viện Pasteur Đông Dương(1895),
viện Pasteur Hà Nội, Đà Lạt, Viện vi trùng học Huế, trường Đại Học Y Khoa Hà Nội,
phát hiện ra cao nguyên Lang Biang, thành phố Đà Lạt, trồng và thuần hóa cây
cao su, cây Canh ki na đầu tiên ở Việt Nam.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét