Có một điều mà ngành Bưu điện Việt Nam chưa tổng kết rằng
trong số rất nhiều những nhân viên của ngành qua thời gian đã trở thành những
nhạc sĩ nổi tiếng đoạt giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật. Văn Cao - nhân viên Bưu điện Hải Phòng - giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật
đợt I. Nguyễn Văn Thương - nhân viên Bưu điện Sài Gòn (này là thành phố Hồ Chí
Minh)- giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học - nghệ thuật đợt II.
Hơn Văn Cao bốn tuổi (Nguyễn Văn Thương sinh 1919, còn Văn
Cao sinh 1923), nhưng cả hai tài năng này cùng bước vào âm nhạc từ năm 1936 và
cùng nổi tiếng năm 1939. Với Văn Cao là "Buồn tàn thu" viết ở Hải
Phòng. Còn với Nguyễn Văn Thương là "Đêm đông" viết ở Hà Nội khi từ
Huế ra học tại kinh thành Thăng Long.
Trong kháng chiến chống Pháp, khi làm công tác tuyên truyền ở
mặt trận Bình - Trị - Thiên, Nguyễn Văn Thương đã viết bản tráng ca rực lửa
"Bình Trị Thiên khói lửa". Còn với Văn Cao, sau chiến thắng Sông Lô
là "Trường ca sông Lô" lai láng chảy trong cuộc trường kỳ.
Song có điều giữa hai ông đã có những chuyên biệt khác nhau.
Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, Nguyễn Văn Thương tập kết ra Bắc. Khi Văn Cao
tạm dừng sáng tạo âm nhạc chuyển sang thơ và hội họa thì Nguyễn Văn Thương lại
bước sang sáng tạo những thể loại âm nhạc khác cùng ca khúc. Ông là một trong
không nhiều những nhạc sĩ đầu tiên viết nhạc múa như: thơ múa "Chim
gâu", múa "Tấm Cám", "Múa ô", "Múa chàm
Rông", v.v... Bên cạnh đó là những tác phẩm khí nhạc như "Lý hoài
nam" (độc tấu sáo trúc soạn cùng Ngọc Phan), "Buôn làng vào hội",
"Quê hương" (độc tấu violin, cello soạn cùng Hoàng Dương). Ở giữa đó
là một ca khúc cực ngắn "Bài ca trên núi" viết cho phim "Vợ chồng
A Phủ".
Năm 1964, ông là giám đốc Nhà hát Ca múa nhạc mà tiền thân là
Đoàn văn công Nhân dân Trung ương. Sau Đỗ Nhuận, ông là nhạc sĩ tiền chiến thứ
hai đi tu nghiệp ở nước ngoài. Khi Đỗ Nhuận chọn opéra thì Nguyễn Văn Thương lại
chọn giao hưởng. Bừng khởi trong thời gian tu nghiệp, Nguyễn Văn Thương thành
công từ những tiểu phẩm nhỏ đến những tác phẩm lớn như "Ngày hội non
sông" (độc tấu sáo trúc và bộ gõ), Rhapsodie số 2 cho đàn T'rưng và dàn nhạc
giao hưởng, "Trở về đất mẹ" cho violin, cello và piano, v.v.. Đặc biệt
là thơ giao hưởng "Đồng khởi" trình diễn lần đầu tạiLepzic (Cộng hòa
Dân chủ Đức - nơi ông tu nghiệp âm nhạc) năm 1971. Tong kháng chiến chống Mỹ,
ngoài nhiệm vụ giám đốc, luôn luôn chia đoàn đi biểu diễn ở hỏa tuyến, chiến
trường, hợp xướng "Dân ta đánh giặc anh hùng" của ông cũng đã vang
lên một tầm cỡ lớn.
Rời Nhà hát Ca múa nhạc sau khi đưa ra quyết sách cử các nghệ
sĩ ra nước ngoài tu nghiệp nhạc nhẹ, Nguyễn Văn Thương về làm giám đốc Nhạc viện
Hà Nội. Ở đây, ông lại đưa hệ trung cấp âm nhạc cổ truyền lên hệ đại học. Chính
ông là tác giả những giáo khoa âm nhạc như "Tuyển tập piano" (hệ
trung cấp), "Tuyển tập 16 bài hát dân ca và dân vũ Việt Nam" (soạn
cho piano mà NXB Peters - Cộng hòa Dân chủ Đức đã từng ấn hành từ 1972).
Không chỉ thế, người con của xứ Huế thơ mộng còn viết những tác phẩm sân khấu như "Mệnh lệnh", "Cải tô" và dịch cuốn sách "Beethoven" (NXB thanh niên ấn hành).
Không chỉ thế, người con của xứ Huế thơ mộng còn viết những tác phẩm sân khấu như "Mệnh lệnh", "Cải tô" và dịch cuốn sách "Beethoven" (NXB thanh niên ấn hành).
Cứ thế, Nguyễn Văn Thương hành trình từ "Trên sông
Hương" (1936) - một ca khúc nhỏ đến những tác phẩm đồ sộ trong suốt gần 70
năm hoạt động âm nhạc không biết mỏi mệt. Nhìn lại hành trình ấy, mới thấy bên
cạnh tài năng âm nhạc bẩm sinh, là một sức lao động bền bỉ trong tình yêu âm nhạc
vô bờ bến. Năm 1996, Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam đã tổ chức kỷ niệm 60 năm hoạt
động âm nhạc của ông bằng một đêm nhạc ở Cung thiếu niên Hà Nội mang tầm vóc lớn.
Không sinh cùng năm nhưng ông và người bạn đồng hương - nhà thơ Tố Hữu lại
"rủ nhau" về cõi thiên thai cùng năm 2002, để lại một khoảng trống
không thể bù đắp nổi trong lịch sử văn nghệ Việt Nam.
Đêm đông
Nguyễn Văn Thương - Lệ Quyên
Phạm Nam Anh




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét