Từ cái tên của nhà văn: Lưu Quang Vũ, người viết bài này
xuyên qua những tác phẩm của ông trên nhiều thể loại để đi tìm và phân tích một
ý niệm và cảm giác, còn rất mơ hồ nảy sinh trong mình, rằng: văn chương Lưu
Quang Vũ như một dòng mưa chảy trên đất nước chúng ta những ngày nắng dữ. Dòng
mưa ấy có lúc trầm buồn như tiếng than dài, có lúc ào ạt như thác đổ. Nửa thế kỷ
nay, cơn mưa lành Lưu Quang Vũ đã gội rửa không thôi bụi bặm và rác rưởi của
cõi đời ô trọc. Khả năng thanh lọc và tính truyền cảm lạ lùng của nỗi buồn,
cũng như niềm giận dữ của cơn mưa văn chương anh không du người ta vào bóng tối
mà đưa người ta đến một miền ánh sáng.
Lưu Quang Vũ (1948-1988)
Bài viết hình thành từ việc lần lượt hoặc luân phiên trả lời
những câu hỏi sau: Vì sao nhan đề bài viết là “Lưu Quang Vũ, dòng mưa ánh sáng”
mà không là “Văn chương Lưu Quang Vũ, dòng mưa ánh sáng?” Vì sao là mưa mà
không là gì khác? Mưa ánh sáng là gì? Dòng mưa ánh sáng Lưu Quang Vũ như thế
nào? Nó mang lại những gì cho chúng ta?
Thế kỷ XX nhiều lý thuyết văn học nói với chúng ta rằng
nhà văn và văn bản của ông ta là hai thực thể không trùng khít. Nhưng có lẽ bất
kỳ một khái quát nào cũng có thể không bao trùm hết mọi hiện tượng. Đôi khi ta
bắt gặp những trường hợp mà nhà văn và văn bản hòa quyện vào nhau thành một khối
không rời. Đó là những thiên tài mà văn chương là lá cành hoa quả bừng nở đến sững
sờ trên thân cây là cuộc đời thoáng chốc giữa trần ai của họ. Với cái tên “Lưu
Quang Vũ, dòng mưa ánh sáng”, bài viết này muốn chạm đến một chân dung nghệ sĩ
mà kích thước của ông không dừng lại ở quy chiếu thông thường của cõi người.
Người viết nghĩ rằng càng nhìn trên góc độ tự nhiên, bản mệnh và cá tính sáng tạo
của Lưu Quang Vũ càng tỏ lộ. Toàn bộ văn bản đã công bố của anh sẽ được đọc và
phân tích theo trình tự thời gian và theo hệ vấn đề gồm các thể loại: thơ, văn
xuôi, kịch bản, phê bình, phỏng vấn, nhật ký. Ở đó, sắc thái mưa là
điểm tựa.
Mưa là một hiện tượng tự nhiên thể hiện sự nối kết chặt chẽ
liên hoàn giữa đất và trời, giữa khí và nước. Khi mắt ta nhìn thấy mưa thì đó
là lúc nước từ trời rơi xuống. Dòng nước này mang lại sự sống còn, sinh sôi của
đất. Trong tâm thức của nhân loại, mưa “còn là sự phong nhiêu của tinh thần,
ánh sáng và các tác động tâm linh” và hơn nữa: “Đức hiền minh cao cả nhất trong
bản chất của một con người có thể ví với mưa” (Huệ Năng) ([1]). Vậy thì đến
với Lưu Quang Vũ, khởi đầu ý niệm mưa chỉ đơn giản là bắt nguồn từ
cái tên: Vũ. Đó là cái tên thiêng, vì người mang tên ấy đã thể hiện đúng bản chất
và sứ mệnh mà nhân loại nhìn thấy ở mưa qua trang viết. Hơn nữa, kết hợp với họ
“Lưu” và chữ lót “Quang”, cái tên như là một biểu thị rõ rành của thiên mệnh.
Việt Nam nhiệt đới gió mùa nông nghiệp cần mưa: “Lạy trời mưa
xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày…” đó là mưa trời. Việt Nam,
nơi và thời Lưu Quang Vũ sống, và cho đến hôm nay, rất cần mưa: hạn hán đã đến
và kéo dài, từ khi con người khước từ tất cả, chỉ duy trì nơi mình cái tôi
chính trị và mục tiêu chiến thắng quân thù. Đời sống rắn lại trong một thế giới
lý tính và ý chí. Thời sợ xao lãng mục tiêu, sợ yếu mềm vì mơ mộng, vì niềm
riêng, vì nỗi buồn: cái hạn hán của xã hội đó cần những cơn mưa từ con người.
Cơn mưa đó không chỉ là hình ảnh mưa xuất hiện với tần số khá cao trong thơ Lưu
Quang Vũ, và có lúc là biểu tượng sống động, mà là toàn bộ những gì anh trao gửi
cho chúng ta qua trang giấy. Mưa ánh sáng không còn là cơn mưa tự nhiên mà là
biểu tượng về cái sáng suốt của tự nhiên. Đó là cái hiền minh tự nhiên trong
trang viết của Lưu Quang Vũ, một thời bỡ ngỡ, một thời lạc loài, một thời chinh
phục…
Đời của anh ngắn ngủi nhưng dòng mưa của anh thì dài. Sẽ phải
tái hiện từ các chặng đời của anh, và cả những chặng đời của việc tiếp nhận
anh. Ở đó, có hạt mầm xanh của mưa. Ở đó có diễn trình và luân hồi của mưa. Ở
đó có sắc thái của mưa.
Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh (ảnh Tư liệu)
Mưa, một thời bỡ ngỡ. Mưa, dòng nước mát thuở ban sơ
Lưu Quang Vũ bước vào thế giới văn chương nghệ thuật rất sớm
và rất tự nhiên, là xác tín không chỉ của riêng anh mà còn là của gia đình. Tài
năng và kiến thức của anh đến từ gia đình, từ đời sống trực tiếp hơn là từ trường
lớp. Ngay từ những bài thơ đầu tiên, phong cách thơ anh đã hình thành: Về cảm hứng,
thiên nhiên tràn ngập; về kỹ thuật, câu thơ thường dài (7, 8 chữ, có khi thơ tự
do); nhịp điệu và âm điệu hoàn toàn nương theo cảm xúc, không hề gò bó. Có một
nốt nhạc, một cái tứ nào ngân lên từ trong sâu thẳm trái tim anh và bài thơ
tuôn ra tiếng rì rào của một dòng mưa ấm. Thôn Chu Hưng (1964) là bài
tiêu biểu. Đó là niềm hoài cảm từ Hà Nội xa xôi, ký ức gọi về tất cả [2]. Bài thơ ứ đầy
các sinh thể của tự nhiên, để rồi Lưu Quang Vũ biết chắc, một lần cho tất cả,
ngọn nguồn nuôi dưỡng hồn anh và thơ anh là từ đâu ([3]).
Từ rất sớm, Lưu Quang Vũ đã biết quan sát, lắng nghe tự nhiên
và lòng mình. Có vẻ như anh tương thông với tự nhiên dễ dàng hơn là tương thông
với con người. Có vẻ như anh đã nhận ra là mình khác với mọi người. Về sau này,
nhiều lần anh nói lên cảm giác ấy trong thơ và trong nhật ký. Nhưng cảm giác ấy
không ngăn anh bước vào đời lính, nơi phải khoác vào mình đồng phục, nơi cần
khép mình vào kỷ luật. Bởi không khí hào hùng của những ngày kháng chiến chống
Pháp mà gia đình anh đã trải qua thúc giục anh, cũng như không gian hoang sơ miền
Phú Thọ đã nuôi dưỡng tâm hồn anh, để rồi hai nguồn cảm hứng xuất hiện: Tự
nhiên và Người lính. Cả đời văn của anh, tự nhiên chưa bao giờ vắng mặt.
Còn người lính, có mặt trong giai đoạn văn thơ đầu đời, sẽ chuyển qua
thành Người công dân lương thiện ở giai đoạn sau. Tình yêu của anh đối
với Đất nước và Con người bắt nguồn từ những điều cụ thể và luôn cụ thể.
Dòng mưa thơ Lưu Quang Vũ thuở đầu đời như tên gọi: Hương
cây ([4]), nhẹ bay
trong không trung và loáng ướt một lớp màu tươi tắn. Vũ trụ thì sống động với
bút pháp tranh sơn dầu [5] trong khi
đó con người thấp thoáng bằng các nét phác như tranh ký họa. Mẹ, những người
línhvà người em bé nhỏ của tình yêu đầu đời, in dấu, nhẹ nhàng, chan chứa yêu
thương và lòng biết ơn [6].
Quan niệm nghệ thuật của Lưu Quang Vũ đã hình thành rất sớm,
anh không đề cao óc tưởng tượng: “quan trọng nhất là cuộc sống và tình cảm của
người viết”, cần nuôi dưỡng cái “bát ngát, dạt dào” ([7]). Tác phẩm của
Lưu Quang Vũ trước sau chính là cuộc sống và tình cảm của anh, ở đó, cái bát
ngát và dạt dào chưa bao giờ vắng bóng, ngay cả những ngày tâm hồn anh âm u nhất [8]. Những truyện
ngắn được anh viết trong thời gian này cũng tràn đầy chất thơ. Thị trấn
ven sông phảng phất truyện ngắn hiện đại Nga. Mạch truyện tự nhiên, bình
thản, chậm rãi, nhiều chi tiết của thiên nhiên và đời sống rất gợi. Trong khung
cảnh thị trấn vắng vẻ miền cao, những người trẻ lặng lẽ tham gia vào nhịp sống
đơn sơ và hy vọng.
Chương trình Dấu ấn Lưu Quang Vũ được phát sóng trên VTV1
Mưa, một thời lạc loài. Mưa, nỗi buồn nhân thế
Trong không gian miền Bắc những năm chiến tranh, Lưu Quang Vũ
là nhà thơ lạc loài, và trang viết của anh nhiều năm liền phải chìm trong bóng
tối. Về sau này, khi xã hội cởi mở hơn, thơ anh lần lượt được xuất hiện công
khai, nhiều bài nghiên cứu đã cắt nghĩa nỗi buồn trong thơ anh bằng bi kịch cá
nhân của tuổi hai mươi: sau khi giải ngũ, Lưu Quang Vũ thất nghiệp và hôn nhân
tan vỡ. Chúng tôi đã đọc kỹ những trang nhật ký trong Di cảo Lưu Quang Vũ để
nhận ra rằng, nỗi buồn và ý thức phản kháng đã xuất hiện trong anh từ ngày anh
còn đi học. Từ mười lăm tuổi, anh đã nói lên những “cái không chịu được” trong
nhà trường và xã hội ([9]). Cái “tầm
thường”, “rẻ tiền”, thậm chí “man rợ”mà anh chạm phải, làm anh mất đi niềm vui,
làm anh chán ngán ([10]). Nhưng
khát vọng sống là làm được điều gì đó tốt đẹp cho cộng đồng nơi Lưu Quang Vũ
chưa bao giờ nhạt. Những cảm giác “ngột ngạt” “chán lớp đến cùng cực” ([11])
ấy ngày một lớn, làm thành một khắc khoải, bất bình không ngớt trong anh, cho đến
ngày anh rời bỏ ghế nhà trường. Những biểu hiện không hòa đồng và cực đoan của
anh bị một số bạn bè cho là thái độ “khinh người” và sau này một số nhà nghiên
cứu cho là nông nổi và lầm lạc, thiếu sự phải chăng. Trước những phản ứng như vậy
đã có nhiều ngày, anh tự trách mình. Đã có lúc anh tìm về Phú Thọ như để lấy lại
bình an đã mất và nạp lại năng lượng. Phải chăng là anh có lỗi? Không, đọc hết
các trang viết của Lưu Quang Vũ sẽ nhận ra, anh chưa bao giờ cho mình là kẻ đứng
trên, kiêu ngạo: anh yêu mến cả những điều nhỏ nhoi nhất của thế giới này. Anh
cũng không cực đoan theo nghĩa lý tính hay là có xu hướng nhìn vào mặt xấu của
con người. Anh chỉ không chịu nổi sự tầm thường, công thức, giả dối và bạo lực ([12]).
Từ 1964, Lưu Quang Vũ chấp nhận nỗi buồn trong mình như một lẽ tự nhiên: “mày
sinh ra đời không phải để vui tươi mà để suy nghĩ” ([13]).
Anh gọi tên nó: “cái ánh sáng đầy hạnh phúc và cay đắng” ([14]),
anh hiểu đó là ánh sáng bất tận của cuộc đời mà anh mang vác. Nhưng đó là cuộc
đời giữa con người. Còn có một cuộc đời khác lặng lẽ, khiêm nhường, đền bù cho
anh những khi có thể, đó là cuộc đời-giữa-tự nhiên ([15]).
Tuổi mười sáu, anh đã có những ngày vùng vẫy để tự bảo vệ, để nuôi dưỡng tâm hồn
chan chứa yêu thương của mình ([16]).
Và như vậy, trong những ngày tưởng như bế tắc nhất, Lưu Quang Vũ cũng chưa bao
giờ hết yêu thương, chưa bao giờ buông xuôi, anh đã biến tất cả thành nhiên liệu
của thơ ca, để không phải chỉ vì thơ ca mà còn vì một thế giới tự do, bình an,
trong sạch.
Vào bộ đội, tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ là một lý tưởng
lớn của rất nhiều thanh niên miền Bắc lúc bấy giờ, Lưu Quang Vũ cũng không là ngoại
lệ. Năm năm trong cuộc đời quân ngũ, anh được gặp nhiều “con người đẹp đẽ” cũng
như “những con người tầm thường”. Nhưng ngay sau đó đã có hai giọt rượu lớn làm
tràn đầy ly rượu đời cay đắng trong anh. Cùng một lúc, anh chạm phải hai thực tại
mà anh đã đặt vào đấy rất nhiều kỳ vọng: đời quân ngũ và cuộc sống hôn nhân. Cảm
giác lạc loài hiện rõ: “Bị xếp vào loại thiếu gương mẫu trong đơn vị”; “phải
làm kiểm điểm và hứa trước đơn vị là “từ nay không làm thơ nữa”; “bị coi như một
người có “vấn đề” trong tư tưởng” ([17]).
Cảm giác có lỗi và bất lực hiện rõ: Người bạn đời rời bỏ anh, đứa con trai còn
quá bé bỏng. Bị giạt ra khỏi hai không gian mà mình chọn lựa với bao chờ mong,
hăm hở, tin yêu, con người biết làm gì? Mà đó là con người ở tuổi đôi mươi chỉ
có một khả năng rõ ràng là yêu thương và viết? Mà đó là thời những chọn lựa chỉ
được phép loay hoay trong một cộng đồng xem tiếng nói tập thể là chính xác, xem
sinh hoạt bao cấp là lý tưởng?
Trong tình thế ấy, Lưu Quang Vũ đã đi vào đời sống, không từ
nan những mưu sinh khó nhọc. Đời sống, những nơi đã đi qua lại lấp lánh, lại được
chạm khắc trong thơ anh. Trạng thái trống rỗng và khủng hoảng nội tâm đi vào
thơ anh. Để không bị nhấn chìm, lấm láp hay tuyệt vọng, buông xuôi, anh đã từng
ngày tự nhắc: “Làm việc, làm việc để chiến thắng thời gian và bóng tối”. Với
tình yêu đã mất, chỉ là niềm thương xót. Với xã hội, là một dự cảm buồn: “Phố
ngoài kia ngột ngạt những toa tàu”.
Có thể nói, những bài thơ hay nhất của Lưu Quang Vũ ra đời
trong thời lạc loài, đặc biệt là 1971-1972. Cây giờ không chỉ tỏa hương, cây đã
hóa nên trầm. Chưa bao giờ mà cảm thức về đời sống và tình yêu lại quyện chặt
trong thơ anh đến thế. Ngày trong quân ngũ, có những đôi mắt soi vào trang viết
của anh. Ngày rơi xuống đáy của nỗi buồn, có những ánh nhìn rọi vào tình yêu của
anh. “Cửa sổ” của anh, “mưa” của anh, “làn sương” của anh: hết thảy đã biến
màu, tan nát. Chỉ còn sừng sững núi đá. Khi anh đứng giữa dòng đời, mưa đã
không còn mơ hồ mà tàn nhẫn từng cơn ([18]).
Những bài thơ thời lạc loài đã âm thầm kết thành một dòng mưa dài chứa chất một
tiếng nói bất tận về nỗi đau. Là nỗi đau xác thực mà anh nếm trải. Những nỗi
đau đến từ đâu?
Đó là nỗi đau từ chiến tranh. Có thể nói, Lưu Quang Vũ là nhà
văn miền Bắc nói lên “nỗi buồn chiến tranh” sớm hơn tất cả. Nhiều bài thơ dài đầy
chất tự sự của anh đã khắc họa rõ rành một khuôn mặt chiến tranh tàn khốc [19].
Từ trước đến sau, hình ảnh người lính trong trang viết của anh vẫn là hình ảnh
đẹp, nhưng cái hào khí của chiến tranh đã mất đi rồi. Chỉ còn phơi ra một thực
tại kinh hoàng ([20]).
Mơ mộng mà luôn quan tâm đến những vấn đề xã hội, Lưu Quang Vũ là nhà văn dấn
thân, bởi cách nhìn và tiếng nói của anh một thời khác với mọi người. Thời sự
in dấu trong nhật ký, trong thơ văn anh từ rất sớm(Hồ sơ mùa hạ 1972). Những
mưu toan, những tráo trở trên trường chính trị đã đi vào thơ anh ([21]),
cũng như vào truyện ngắn (Một chuyện ở biên giới,Người đưa thư).
Ngày xưa, khi mẹ kể chuyện người chết trong chiến tranh, Lưu
Quang Vũ không chịu nổi, phải chạy ra ngoài ([22]),
giờ đây, cái bạo tàn của chiến tranh dội vào anh, làm anh choáng váng. Anh tái
hiện lại một Khâm Thiên tan hoang trong câu hỏi day dứt vì sao và nỗi ám ảnh
không rời đau nhói ([23]).
Chiến tranh tất yếu sẽ dẫn đến hành động sát nhân. Nhưng ai sẽ chết? Từ năm
1968, anh đã ý thức về bi kịch của cuộc chiến tranh Nam Bắc ([24])
và ngày càng rõ ([25]).
Những ngày trong cái lò lửa hủy diệt ấy, chỉ có người chiến binh mới biết mình
đã trải qua những gì ([26])
và cái đọng lại nơi họ là lòng ăn năn không dứt:“ các anh ơi, đừng trách
chúng tôi/ các bà mạ, tha thứ chúng tôi/ chúng tôi chẳng thể làm khác được”(Những
đứa trẻ buồn). Chiến tranh như vậy là một “quá khứ nặng nề” cần phải quên đi,
vì mỗi vinh danh là một lần nhắc lại nỗi đau họ từng nếm trải, là sống lại những
cơn mộng dữ đẫm máu người ([27]).
Đó còn là nỗi đau từ những suy tư về đất nước. Lưu Quang Vũ
có những bài thơ dài như cơn mưa tự nghìn xưa đổ về nhắc lại hành trình dân tộc [28].
Trong Đất nước đàn bầu, nhân vật tôi ở đây trò chuyện với ai? Có lúc người
đàn ông Lạc Việt da vàng nói với toàn nhân loại. Có lúc đứa cháu bé nhỏ nói với
người bà đã khuất. Có lúc chàng trai nói với người yêu… Tuyệt tác này là kết
tinh cao nhất của khả năng chạm khắc, hòa âm và biểu cảm nơi Lưu Quang Vũ, như
hồn nước đã nhập vào anh: “Tôi nhận hết, tôi là người tiếp nối/ Là dĩ vãng
nhưng chẳng là bóng tối/ Nước mắt tôi ướt đẫm những dây đàn”. Nhưng rõ ràng
thay, hồn nước không chỉ là lịch sử, văn hóa, mà còn là khí thiêng của tự
nhiên: “Quả bầu khô là tâm sự của vườn/ Mặt đàn gỗ là của rừng xanh thẳm/ Điệu
bát ngát là của đồng của đất/ Lời vụng về là tha thiết lòng tôi”. Người nghệ sĩ
độc đáo Lưu Quang Vũ khiêm nhường trong dào dạt yêu thương và gắn bó với cộng đồng:
“Hồn dân tộc dạy ta làm thi sĩ/ Quá khứ nhiều mà ta chẳng già nua” ([29]).
Quá khứ ấy được dệt nên bởi những con người vô danh siêng năng làm lụng (Người
cùng tôi). Quá khứ ấy là một kết tinh tự nhiên qua hàng ngàn năm lịch sử, có
khi hôm nay cho ta còn được niềm hy vọng. Từ đó, “Những câu thơ âm thầm/ Muốn
nói hết sự thực/ Về đất nước của mình” ([30]).
Sự thực nào về đất nước? - Ly tán, hận thù, mê cuồng học thuyết? Như một số nhà
tư tưởng phương Tây từng nói về nền văn minh lạc lối, Lưu Quang Vũ kêu gọi sự
thức tỉnh để trở về. Anh nói đến một ngày đoàn viên không phân ngôi thứ, bờ
ranh ([31]).
Một ước mơ đau đáu được nói thành lời: “cái làng mới ta xây/ ở đó mọi người có
quyền nói lên tất cả/ ở đó không ai làm phiền đến một con dế nhỏ” (Tìm về). Dù
hiểu là thời hậu chiến, mọi điều không đơn giản: “biển bao la sau trận mưa dài/
sắp tới là những ngày khó nhất”, nhưng nhà thơ hy vọng: “những người tốt
không được quyền vô dụng” và mạnh mẽ khuyến cáo: “hãy im đi lời bịp bợm dối lừa/
lũ nước ngoài xảo quyệt cút ngay ra/ máu con người không phải thứ bán mua/ cái
bánh vẽ không no lòng ai được/ bài học lớn của một thời đau xót/ trên hận thù
nóng bỏng tàn tro” ([32]).
Sự thực nào nữa về đất nước? Những điều trông thấy nhói lòng
anh: đói nghèo, trì trệ, những kiếp đời nhọc nhằn… ([33]).
Anh chán ngán những trang viết “Như phường bát âm thánh thót (…)/ chạy theo những
biển hàng ngắn ngủi/ Những khuôn phép những trang in những hư danh một buổi” ([34]).
Anh đau đớn trước sự tàn lụi, tha hóa của con người ([35]). Anh
kinh hoàng trước cuộc sống mọi giá trị đảo lộn ([36]).
Anh nhấn mạnh vai trò “người báo hiệu” trong dòng lịch sử ([37]).
Anh kêu gọi sự thức tỉnh để đổi thay: “Những điều hôm qua tưởng tuyệt vời tốt đẹp/
Đến nay thành không đủ nữa rồi”. Anh muốn thơ dấn mình hành động:“Chúng ta
đi mở những cánh cửa/ Chúng ta suốt đời đi mở những cánh cửa” ([38]).
Như vậy, cùng với “nỗi buồn chiến tranh”, cảm hứng thế sự và đời tư cũng xuất
hiện sớm trong tác phẩm Lưu Quang Vũ, so với các tác giả cùng thời. Bên cạnh
thơ ca, một số truyện ngắn của anh ([39]),
bằng cách viết rất nhẹ và thoáng, đã chạm đến những vấn đề của con người và xã
hội mà hôm nay chúng ta phải đối mặt như là căn bệnh trầm kha: lối giáo dục gò
ép phi tự nhiên vì sĩ diện hão (Nhà thơ); hiện tượng người đóng vai, rồi vĩnh
viễn bị giam cầm trong lốt ấy (Người kép đóng hổ); người trí thức đọc nhiều,
nói hay mà ruồng rẫy vợ và vô cảm với con (Con anh Mậu); người lính tha hóa
trong hòa bình (Người bạn cũ, Những người bạn); kẻ khôn lỏi, không có
chuyên môn, thường khinh bạc, lượn lờ trong công việc và tỏ ra cao đạo, hoài
nghi (Anh Y); người mơ mộng, luôn muốn mang đến cái mới cho thế giới này nhưng
tàn lụi vì hoàn cảnh (Anh Thình); người thành thực, có khát vọng cao cả, có tài
năng, nhưng “cô đơn vì không được người đời hiểu” (Mùa hè đang đến)... Truyện
ngắn Lưu Quang Vũ thường phác ra những tình huống và những tính cách và dừng lại
ở những cái kết lửng lơ. Từ khá sớm, Lưu Quang Vũ đã nhấn mạnh tầm quan trọng của
cơ chế và pháp luật ([40]).
Phong cách và ý tưởng này sẽ được phát triển rõ ràng và mạnh mẽ hơn trong kịch.
Không chỉ suy tư về dân tộc mình, Lưu Quang Vũ còn nói đến
Trung Hoa trong bài thơ tự do với những nét khắc gọn, sâu, một Trung Hoa nghịch
lý đầy ám ảnh. “Sáng suốt và tối tăm/ Uyên thâm và nhẹ dạ/ Cái người Tàu kỳ lạ/
Ngồi dầm củ cải giữa đêm khuya…” Ở đấy, ánh sáng trong anh nói rằng văn hóa và
chính trị là khác nhau, nhân dân và triều đại có khi cách biệt. Từ đấy, anh đã
vượt qua những hận thù quá khứ giữa hai dân tộc, nhưng anh băn khoăn về một biến
động lở trời long đất: “Dưới liễu xanh, lũ quỷ đổi thay màu/ Tiếng chiêng trống,
tiếng loa gào thét/ Chín trăm triệu người ồn ào mà nín lặng/ Trung Hoa muốn
gì/Nhân dân đi về đâu?”. Những vần thơ này ra đời năm 1974; với cái nhìn thấu
suốt vấn đề, anh dẫn lại Tư Mã Thiên, lời cảnh báo xuyên qua trùng trùng năm
tháng: “Hồn bạo chúa nghiến răng trong bụi cát/ Mọi ngai vàng, theo lửa hóa tro
than…” (Trung Hoa) ([41]).
Mưa, kết tinh của Đất và Trời, của Khí và Nước, như người ta
yêu nhau
Yêu thương là thiên tính của Lưu Quang Vũ, ngay cả khi anh cất
lời phê phán xã hội hay kể lể về nỗi buồn trong trang viết của mình. Những
khuôn mặt nữ làm anh xúc động, dù thoáng chốc hay lâu dài, cũng đều là nguồn sống
của thơ anh. Lưu Quang Vũ có những duyên tình đẹp, tất cả đã trở thành vĩnh cửu
nhờ thơ ca. Anh đã gặp được những người nữ thấu hiểu anh, lắng nghe anh, cả cảm
xúc sáng tạo lẫn những trầm tư đời sống. Tình yêu của Lưu Quang Vũ chưa bao giờ
thu lại trong vũ trụ kỳ ảo của hai người, tình yêu ấy cứ xao xác “nghĩ về đất
nước nghĩ về em” [42] và
điều đặc biệt nữa là không nhuốm mùi thân xác như lẽ thông thường. Tình yêu với
anh, dù có những cung bậc khác nhau, nhưng luôn trong trẻo vì nó bắt nguồn từ một
tương thông tinh thần bạn bè tri kỷ hơn là sự đam mê trai gái bình thường. Tuổi
mười lăm mười tám, những rộn ràng của trái tim thơ dại đã in vào trang viết Lưu
Quang Vũ những vần thơ đẹp. Có những bài thơ vui mà kỹ thuật và ý tứ già dặn đến
ngạc nhiên [43].
Em thoáng qua và đất trời tràn ngập, nhưng từ đó đã len vào những lo âu thấp thỏm [44].
Rồi nỗi đau đầu đời của duyên tình đổ vỡ đã đến, ướp vào thơ anh hương vị cay đắng [45].
Nhưng khắc khoải nhất là khi người ta bị hút vào nhau như tri âm, tri kỷ “Như
hai kẻ lạc loài nay nhận ra nhau” mà tuyệt vọng vì không thể. Vẻ đẹp của một
tình yêu không toại lại càng lung linh và những dòng thơ lại càng ám ảnh: “hai
ta hãy là giấc mộng của nhau thôi” ([46]).
Những gặp gỡ thoáng chốc, cũng làm người thơ sững sờ xao xuyến [47].
Cuối cùng một tình yêu lớn, viên mãn, trọn mười lăm năm đã là bệ phóng cho tài
năng Lưu Quang Vũ. Tình yêu ấy đã làm phục sinh con người: “Có em, anh hiểu lại
cuộc đời/ Có em, anh bắt đầu tất cả”; “Anh lại có sự tươi bền của đất. Nói với
thời gian bằng sắc cỏ xanh rờn” ([48]);
Tình yêu mang lại bình yên, cảm giác được nương tựa, chở che ([49]).
Trong niềm vui mừng và biết ơn ấy, có một ước nguyện đến nao lòng ít thấy ở người
đàn ông: “Muốn trao em gương mặt đến tâm hồn/ Đều trong trắng, tràn đầy, thuần
khiết nhất”. Cómột tôn vinh đặc biệt: người nữ được yêu trở nên lớn như đất trời:
“Em như đất của con người”,“Trời rộng của anh ơi” và là người thầy khai sáng ([50]).
Lạ thay, ngay cả trong những thời khắc hạnh phúc nhất, cảm giác về bất trắc
luôn đến giữa những dòng thơ Lưu Quang Vũ và sự dự báo ngày một rõ ràng hơn ([51]).
Lưu Quang Vũ không thi hóa tình yêu, anh nói cả những thói đời
trần tục, và nỗi khổ từng ngày len vào hạnh phúc [52],
nhưng anh yêu thiết tha cái tâm hồn đồng điệu của người bạn tình ấy, cái dáng vẻ
thân ái ấy. Yêu “cái cùng khổ cùng vui ấy”. Trong mắt anh, người tình và người
bạn đời vừa có cái thăm thẳm của bầu trời, vừa có cái nhỏ nhoi cụ thể thân quen
của mỗi ngày nhìn thấy. Cảm giác về khoảng trống người rời đi và cảm giác ngóng
đợi người trở về đã làm nên nhiều trang thơ tình yêu mang dáng vẻ một tấm lụa
đơn sơ mà màu sắc cứ lấp lánh biến ảo theo từng khoảnh khắc (Em vắng): đó là thời
gian mà chàng thường ở nhà và nàng thường ra đi, đểsóng và bờ hoán đổi
vị trí cho nhau trong thơ Xuân Quỳnh (Sóng).
Thơ Lưu Quang Vũ tràn đầy chi tiết, nhưng là chi tiết được
liên kết bởi mạch nền tự sự nội tâm nên khi mỗi khi câu thơ tràn bờ thì thơ anh
ám ảnh chúng ta. Vũ Quần Phương và nhiều người gọi anh là hồn thơ “đắm đuối”.
Tôi nghĩ sắc thái ấy có lẽ chỉ dành cho thơ tình Lưu Quang Vũ: những giòng mưa
xói đất trắng trời, trút hết cơn bão lòng của chia xa, của nhận ra nhau mà
không đến được. Nhưng trên toàn thể, thơ Lưu Quang Vũ là nhịp đập dào dạt miên
man của đời trong mọi dáng vẻ và trong mọi sinh thể tự nhiên: nó như tiếng rì
rào của lá, tiếng trầm trầm của mưa, tiếng rộn rã của người… mà anh bắt được. Tần
số của đời vô biên thì tần số của thơ anh không dừng lại. Chưa bao giờ nhân hóa
tự nhiên hay quy chiếu mọi cái theo lăng kính của mình, Lưu Quang Vũ là người
có tâm hồn chan hòa rộng rãi. Anh luôn tìm thấy những nhịp cầu ở muôn nơi để: “Nối
hạt cát với ngôi sao/ Bánh ăn và giấc mộng/ Đưa tôi tới những bến bờ
chưa tới được/ Vượt khỏi mình, tôi nhập với trăm phương/ Nói lời
riêng mà thấu triệu tâm hồn” ([53]).
Rất nhất quán trong quan niệm về nghệ thuật, những xác tín
trước sau của Lưu Quang Vũ có thể tìm thấy trong thơ, truyện ngắn và kịch, có
khi là những tuyên ngôn trực tiếp ([54]),
có khi là những mạch ngầm. Dạt dào cảm xúc và hình ảnh nhưng cũng tràn đầy biểu
tượng, chi chít những tự sự riêng chung nhưng cũng ẩn nén nhiều trầm tư văn
hóa, nhiều bài thơ của Lưu Quang Vũ được cấu trúc theo một logic khác, làm
thành mê cung nội tâm trong vọng âm của ngoại cảnh ([55]).
Đọc thơ Lưu Quang Vũ thuở ban đầu, Hoài Thanh đã nhận ra là thơ anh đôi khi có
nhiều đứt gãy ([56]).
Theo thiển ý, đó là một phong cách, nó như lớp lớp sóng dồn của một trái tim
yêu thương nồng cháy, bật ra thành dòng ngôn ngữ chồng chất dung nham. Đất
nước đàn bầu và Bầy ong trong đêm sâu là những bài tiêu biểu của
loại logic khác này. Nó đòi hỏi người ta phải đọc rất lâu mà chưa hẳn đã lần ra
hết ý nghĩa.
Mưa, thời chinh phục. Những cơn mưa xối xả trắng trời hậu chiến
Nếu Phú Thọ mang đến cho Lưu Quang Vũ ngôi nhà bình an của tự
nhiên thì Hà Nội đưa anh vào thế giới của văn hóa, với những sinh hoạt thị dân,
trong đó không gian nhà hát có một vai trò không nhỏ. Nhật ký của anh cho thấy
trong một quãng đời ngắn ngủi, Lưu Quang Vũ sống gấp nhiều lần người khác ở một
nhịp điệu suy tưởng và sinh hoạt dồn nén và đa dạng. Một ngày trôi qua không
làm được gì, không viết được dòng chữ nào, đối với anh là có lỗi. Tuổi mười lăm
anh đã hình thành quan niệm: “Đời người ta tốt đẹp không phải là vì sống nhiều
năm mà là làm nhiều việc” ([57]).
Những đêm theo cha vào nhà hát, Lưu Quang Vũ đã bước vào thế giới của sân khấu,
không chỉ như một khán giả ([58]).
Năm 1963, Lưu Quang Vũ đã thử viết một kịch bản ngắn:Trên sân ga, vở kịch đã có
những nét của phong cách kịch Lưu Quang Vũ sau này: ít nhân vật; không gian,
tình huống quan trọng hơn xung đột; cái kết lửng lơ cho niềm hy vọng; điểm nhấn
là vẻ đẹp của những cái thoáng qua, một lần thành mãi mãi; không khí buồn man
mác và cảm thức về mùa rất rõ. Năm 1980, Lưu Quang Vũ có bài thơ Em có
nghe, dự báo một chặng mới của đời mình. Đó là chặng đời huy hoàng với kịch và
những bài thơ ấm áp của một tài năng được đón nhận dưới ánh mặt trời.
Từ nền tảng tinh thần là tôn vinh những điều tự nhiên, sự hài
hòa và ngợi ca cái đẹp, Lưu Quang Vũ không mặn mà lắm với xung đột và không say
mê những tính cách quá phức tạp. Trong khi phê phán trực diện những hiện tượng
tiêu cực trong xã hội Việt Nam thời hậu chiến, kịch Lưu Quang Vũ thổi vào lòng
người xem một niềm hy vọng về khả năng biến cải môi trường của con người. Được
xây dựng trên những không gian gọn, những tình huống nhanh, những nhân vật
không quá ác, thế mạnh của kịch Lưu Quang Vũ là chủ đề, ngôn ngữ đối thoại, chất
thơ và sự hòa quyện giữa tính xã hội và tính văn hóa.
Hệ chủ đề của kịch Lưu Quang Vũ là những gì? Là hệ quả của
cơ chế bao cấp (Tôi và chúng ta, Nếu anh không đốt lửa); là bi kịch của sự
chắp vá, kết hợp phi tự nhiên, là độ chênh giữa lý tưởng/ lý thuyết và thực tại/
hiện thực, là sự phân ly giữa tâm và thân, là sự đối lập giữa duy tâm và duy vật
(Hồn Trương Ba da hàng thịt) ([59]);
là sự thất bại về ảo tưởng tạo ra những con người máy theo ý mình (Bông cúc
xanh trên đầm lầy); là quyền làm người (Quyền được hạnh phúc); là nạn cường hào
ở nông thôn và hành động của người lính trẻ (Lời thề thứ chín); là những oan
sai đau đớn từ lỗ hổng trong quản lý xã hội (Trái tim trong trắng); là nạn mua
bán đề thi trong nhà trường, chạy theo thành tích (Mùa hạ cuối cùng, Bệnh
sĩ); là bước vấp của những người trẻ khi mới vào đời (Tin ở hoa hồng); là niềm
tin vào những giá trị thiêng liêng (Điều không thể mất); là chọn lựa sáng suốt
của những nhân vật lịch sử (Ngọc Hân công chúa);… Quả thật, đó là những chủ đề
có một tầm vóc lớn, kết tinh từ những suy tư dài về đất nước, dân tộc, con người,
của Lưu Quang Vũ qua bao năm tháng, chúng góp phần lay tỉnh chúng ta, và dư
vang của chúng sẽ còn lại rất lâu.
Ngôn ngữ đối thoại trong kịch Lưu Quang Vũ cực kỳ đa dạng:
nghiêm trang, xúc động, hài hước, châm biếm, cay đắng… gắn kết rất tự nhiên với
từng vai nhân vật. Người lao động thì nói lên khát vọng bằng những cách diễn đạt
mang tính hình tượng cụ thể, người lãnh đạo thì đúc kết hiện trạng bằng những lời
súc tích, mang tính xác quyết. Đặc biệt, ở đấy tác giả để cho nhân vật quần
chúng đối thoại cùng những nhân vật quan chức trong những tư thế rất là bình đẳng.
Chất thơ tràn ngập trong kịch Lưu Quang Vũ ([60]),
từ nhan đề cho đến không khí lạc quan, những nhân vật không thôi hy vọng và các
quan hệ tình cảm đẹp đẽ. Chính yếu tố này đã làm cho các vở kịch của Lưu Quang
Vũ, dù chuyển tải những thông điệp lớn về xã hội và con người, vẫn không tạo
nên cảm giác nặng nề, gay gắt trong cảm hứng phê phán như nhiều tác phẩm đương
thời. Cực kỳ nhạy bén với những bất ổn trong xã hội nhưng lại có một niềm tin
chất ngất vào con người, bút pháp Lưu Quang Vũ thiên về xu hướng lãng mạn, nó
lay tỉnh và thổi vào công chúng một ý thức công dân mạnh mẽ, một tâm thế tích cực
trong mọi tình huống, một hy vọng vào tương lai và lẽ đời tốt đẹp.
Kịch Lưu Quang Vũ mang đến những thông điệp xã hội lớn, góp
phần mở đầu cho một thời kỳ mới trong văn học Việt Nam. Luôn đứng giữa
dòng, những tác phẩm của anh mang tính thời sự cao. Được xây dựng theo nguyên tắc
thông tục, tính thời sự này dễ dàng nhận được sự cộng hưởng của công chúng và
gây được hiệu ứng tức thì trong đời sống thực tiễn. Nhưng kịch Lưu Quang Vũ còn
có một tầng vỉa khác, sâu xa hơn, đó là những thông điệp văn hóa. Tiếp tục thơ
ca, anh tra vấn về tình thế của đất nước, về giá trị của cộng đồng, về lẽ sống
của cá nhân, với những suy tư trong chiều kích của dân tộc và của nhân loại.
Mưa bản chất là tự nhiên. Mưa Lưu Quang Vũ, từ kết tinh tự
nhiên của riêng anh, đã âm thầm, rồi bùng vỡ, tưới tắm một khoảng đời của văn học
Việt. Những dòng thơ văn của Lưu Quang Vũ miên man miên man trong nỗi đau trộn
lẫn niềm hy vọng về một cõi thế an hòa, cũng như mưa, dòng nối tiếp dòng, từ
cao rơi xuống thấm nhuần trong đất. Dòng mưa Lưu Quang Vũ lắm khi buồn bã nhưng
đó là nỗi buồn của sự tỉnh thức, nó có khả năng giúp chúng ta nhận ra sớm những
điều phản lại con người, cũng như mưa thường mang lại những âm trầm nhưng mưa
đã gội rửa đất trời, nuôi cây cối xanh tươi, giúp tâm hồn con người lắng lại.
Dòng mưa Lưu Quang Vũ đã mang lại cái nguồn ánh sáng của lẽ tự
nhiên, của một vẻ đẹp tinh thần mà dân tộc Việt hàng ngàn năm dày công nuôi dưỡng,
vậy mà có lúc dòng mưa ấy phải âm thầm, giấu giếm và sau đó bị xem như một lầm
lỗi cần được bao dung. Nhưng phải chăng rồi cái tự nhiên sẽ phải trở về? Phải
chăng sự có mặt của dòng mưa Lưu Quang Vũ nói với chúng ta là trong văn học Việt
bao giờ cũng có những ngoại lệ, bao giờ cũng có tiếng nói lẻ loi tách khỏi bầy
đàn? Và bầy đàn không phải bao giờ cũng đúng. Và cái tôi chính trị, cái tôi xã
hội chỉ là một phần rất nhỏ trong mỗi người. Và đừng xem thường trực giác của
người nghệ sĩ.
Lưu Quang Vũ là một trong số ít những nghệ sĩ Việt có khả
năng vượt thoát và khả năng tiên cảm trong một hoàn cảnh xã hội đặc thù. Có thể
nói, qua thơ, truyện ngắn và kịch, Lưu Quang Vũ đã đi đến cùng trong việc thực
hiện tâm nguyện và quan niệm của một người nghệ sĩ dấn thân. Di sản mà Lưu
Quang Vũ để lại cho chúng ta hôm nay cần được tiếp nhận và quảng bá một cách rộng
rãi hơn. Kịch của anh đã bước ra thế giới và tạo được tiếng vang ([61]),
nhưng còn thơ của anh? Tôi nghĩ, nếu được chuyển ngữ, chắc chắn thơ Lưu Quang
Vũ sẽ góp vào ngôi nhà chung của nhân loại một nét đẹp mới đến từ xứ sở hình chữ
S “bên bờ biển bão” ([62]).
Kịch Dài
1. Đôi bạn quê hương (1966)
2. Sống mãi tuổi 17 (1979)
3. T.15 về đâu (1980)
4. Mùa hạ cuối cùng (1981)
5. Cô gái đội mũ nồi xám (1981)
6. Người con gái trở về (Trời xanh trên mái phố) (1981)
7. Những ngày đang sống (1981)
8. Thủ phạm là ai? (1982)
9. Cây ngọc lan của Huyền (1982)
10. Nữ ký giả (1983)
11. Dạ khúc tình yêu (1983)
12. Nàng Sita (1981)
13. Ngôi sao màu lá xanh (Giòng máu trắng) (1983)
14. Hẹn ngày trở lại (1984)
15. Nguồn sáng trong đời (1984)
16. Bên sông Thu Bồn (1984)
17. Tôi và chúng ta (1984)
18. Người trong cõi nhớ (1982)
19. Vách đá nóng bỏng (1983)
20. Đường bay (1984)
21. Hoa xuyến chi (1982)
22. Hồn Trương Ba, da hàng thịt (1984)
23. Người tốt nhà số 5 (1984)
24. Ngọc Hân công chúa (1984)
25. Lời nói dối cuối cùng (Cuội và Bờm) (1985)
26. Đất sống của người (1985)
27. Vi khuẩn Han-Xen (Hạnh phúc của người bất hạnh) (1985)
28. Đôi dòng sữa mẹ (Hai giọt máu) (1985)
29. Ông vua hóa hổ (1985)
30. Khoảnh khắc và vô tận (1986)
31. Tin ở hoa hồng (1986)
32. Nếu anh không đốt lửa (1986)
33. Hoa cúc xanh trên đầm lầy
34. Muối mặn của đời em
35. Đam San
36. Chết cho điều chưa có
37. Quyền được hạnh phúc (1987)
38. Đôi đũa Kim Giao
39. Ông không phải bố tôi (1988)
40. Linh hồn của đá
41. Bênh sĩ (1988)
42. Lời thề thứ chín
43. Trái tim trong trắng (Vụ án hai ngàn ngày) (1988)
44. Điều không thể mất (1988)
45. Người bạn già (1984)
46. Chim Sâm Cầm không chết (1988)
Kịch Ngắn:
47. Juliet không trẻ mãi
48. Sống giả chết giả
49. Con tò he
50. Tẩy, bút chì và thước kẻ
51. Ngọn gió vô hình
52. Đoàn thanh tra tới
53. Câu chuyện chiều cuối năm.
Chú thích:
[1] Jean Chevalier - Alain Gheerbrant: Từ điển biểu tượng văn hóa
thế giới, (Nhiều người dịch). Trường Viết văn Nguyễn Du & Nxb. Đà Nẵng,
1997, tr.608.
[2] “Thôn Chu Hưng trăng sao rơi đầy giếng/ Nằm giữa bốn bề rừng rậm nứa
lao xao/ Đường ven suối quả vả vàng chín rụng/ Cọ xanh rờn lấp loáng nước sông
Thao”.
[3] “Tôi đã có biển, có sông, nhưng con suối nhỏ vẫn là nơi yêu quý nhất”
(Lưu Quang Vũ: Di cảo Lưu Quang Vũ, (Lưu Khánh Thơ tuyển soạn). Nxb. Trẻ,
Tp.HCM., 2018, tr.38.
[8] Có những lúc, Những chữ…, Tôi chẳng muốn kỷ niệm về tôi là một điệu
hát buồn, Giấc mộng đêm, Nơi tận cùng, Những ngọn nến...
[12] “mình không thể gò bó, nhất là phải giả dối và uốn mình nữa. Không!
Tâm hồn mình không cho phép thế, thơ văn mình không cho phép thế” (Lưu Quang
Vũ: Di cảo, Sđd., tr.82).
[15] “Ta đã đau khổ vô cùng vì những trò của người đời”; “Ta thật là lạ
và khác mọi người, chỉ vì một việc nhỏ cũng đủ làm cho ta đau đớn ghê gớm và chỉ
vì một màu xanh của luống rau cũng có thể làm cho ta vui suốt cả ngày trời”
(Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr. 85, 86).
[16] “Đừng để những chuyện đốn mạt của phố phường Hà Nội che lấp tâm hồn
mày đi” (Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr.120).
[17] Vũ Thị Khánh: “Lưu Quang Vũ, cuộc đời và năm tháng”, trong Lưu
Khánh Thơ (biên soạn): Xuân Quỳnh – Lưu Quang Vũ…, Sđd., tr.258-259.
[18]Ta lớn lên cửa sổ thay màu (…)/ Giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều/
Rách tan cả những làn sương đẹp phủ/ Chỉ còn lại nỗi buồn trơ núi đá/ Điều em
tin là nhảm nhí mà thôi (Gửi một người bạn gái). Lưu Quang Vũ: Gió và
tình yêu thổi trên đất nước tôi, Nhã Nam và Nxb. Hội Nhà văn, H., 2010,
tr.46-47.
[20] “thời bạo tàn lửa cháy khắp nơi/ những thây người gục ngã/ những nhịp
cầu sụp đổ/những toa tàu rỗng không (…)/ thù hận mênh mông mặt đất bùn lầy” (Em).
Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr. 247.
[21] “khi người ta mặc cả máu người/ thay tình nghĩa như thay áo lót” (Em
(I). Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr. 278-282.
[23] “đêm qua tôi đã chết/ với hàng ngàn mạng người/ từ than bụi tôi hiện
hình trở lại/ mang đau thương đến trọn cuộc đời…(Khâm Thiên). Lưu Quang
Vũ: Di cảo, Sđd., tr.347.
[24] “Bạn cùng làng mỗi đứa một phương/ Kẻ lính ngụy, người thành quân
giải phóng” (Mùa xoài chín). Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr.39.
[25] “một bên là con trai Thanh Hóa, Thái Bình/ một bên là con những bà
mẹ Thừa Thiên, Phan Thiết/ những sinh viên Sài Gòn/ những sĩ quan Đà Lạt/ những
đội quân mang tên dã thú/ những tiểu đoàn không còn sót một ai/ những mô đất
con đổi bằng mạng trăm người” (Cơn bão). Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr.
332.
[26] “heo may cỏ lạnh rừng chiều/ ngàn lau rụng trắng/ những đứa trẻ buồn
ướt lạnh/ đường dài mặt trận nối nhau đi (…)/ lòng chỉ muốn yêu thương/ mà cứ
phải suốt đời căm giận”; “bên kia đồi gianh khét lẹt/ quân thù cháy giữa vòng
vây/ mấy gã tù binh ngồi khóc/ run run những cánh tay gầy”; “nỗi buồn trĩu nặng/
dâng lên như đá trên mồ” (Những đứa trẻ buồn). Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd.,
tr. 334-337.
[27] “hãy quên chúng tôi đi/ để chúng tôi được yên lặng trở về/ để chúng
tôi được hóa thành bụi đất/ thành mưa rào trên xứ sở yêu thương” (Cơn bão). Lưu
Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr. 333.
[28] Đất nước đàn bầu, Bài ca trên bán đảo, Sông Hồng, Sông Hồng - hồi
ức của một nghĩa binh già, Sông Hồng - năm mẹ sinh em, Sông Hồng - lời từ giã của
Trung đoàn Thủ đô,…
[31] “cùng làng chẳng nhận ra nhau/ thờ những vị thần xứ khác/ nghe lời
kẻ ác/ súng đạn người bắn thịt xương ta/ đào huyệt hận thù/ chia miền cắt đất/
tin những chữ không hồn trong sách/ tìm kiếm mãi đâu xa/ nào hay mình có một
làng quê”; “hôm nay tất cả hãy về/ lối cũ bờ đê/ những mắt bàng hoàng sau kính
trắng/ những binh lính áo quần vằn vện/ những tướng già tóc bạc/ những kẻ lãng
du những hồn uất hận/ anh em ruột thịt cầm tay/ lạy mẹ lạy thầy/ chúng con hư để
thầy mẹ khổ/ từ nay chẳng tham lam mê muội nữa/ súng đạn người ném trả/ oán
thùđổ xuống ao sâu”. Lưu Quang Vũ: Di cảo, Sđd., tr. 350, 351.
[33] Ngã tư tháng Chạp, Những tuổi thơ, Ghi vội một đêm1972,Viết lại
một bài thơ Hà Nội, Những người bạn khuân vác, Việt Nam ơi. Lưu Quang
Vũ: Bầy ong trong đêm sâu, Sđd., tr. 19-20, 24-25, 26-27, 28-31,
90-92.
[34] Nói với mình và các bạn. Lưu Quang Vũ: Gió và tình yêu thổi trên đất
nước tôi, Sđd., tr.102, 104.
[35] “Nhà văn xưa tôi yêu mến mê say/ Nay lão già được chính quyền sủng
ái/ Lưng còng xuống quên cả lời mình nói/ Phản bội những điều trong cuốn sách
thiêng liêng” (Hoa Tigôn). Lưu Quang Vũ: Gió và tình yêu thổi trên đất nước
tôi, Sđd., tr.223.
[36] “Mọi chuyện thiêng liêng thành nhảm nhí/ Khắp nơi trí trá lọc lừa
nhau” (Đêm đông chí, uống rượu với bác Lâm và bác Khánh, nói về những cuộc chia
tay thời loạn). Lưu Quang Vũ: Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi,
Sđd.,tr. 134.
[40] “Cả một thế hệ nhiệt thành, cả một dân tộc nhiệt thành, như sóng biển
dâng lên ào ạt. Nhưng sau đó khi sự nghiệp đã thành đạt, để đừng xảy ra những hỗn
loạn lại là việc của cơ chế. Phải có pháp luật, đúng thế, phải có pháp luật
nghiêm minh…” (Những người bạn). Lưu Quang Vũ: 15 truyện ngắn, Sđd.,
tr.198.
[46] Qua những bài thơ: Gửi Hiền mùa đông, Thơ tình viết về một người
đàn bà không có tên (I), (II), (III); Vẫn thơ tình viết về một người đàn
bà không có tên; Không đề; Lá thu; Quả dưa vàng; Gửi; Em -
tình yêu những năm đau xót và hy vọng…
[50] “Em dạy anh cái nhìn thật của đời”, “Em dạy cho anh biết mơ ước biết
tin” “Em trả lại cho anh hơi thở, dáng hình (…) Em giải thoát cho anh khỏi
cô đơn lầm lỗi” (Những ngày chưa có em…). Lưu Quang Vũ: Bầy ong trong đêm
sâu, Sđd., tr. 100-101.
[51] “Phút cuối cùngtay vẫn ở trong tay/ Ta đã có những ngày vui sướng
nhất/ Đã uống cả men nồng và rượu chát/ Đã đi qua cùng tận của con đường/ Sau
vô biên dẫu chỉ có vô biên: Buồm đã tới và lúa đồng đã gặt” (Bài hát ấy vẫn còn
là dang dở…). Lưu Quang Vũ: Mây trắng của đời tôi, Sđd., tr.83.
[54] “Mọi người quanh ta mang nỗi khổ oằn vai/ Ngực đất nước tai
ương xé rách/ Ta viết mãi những điều vô ích(…)/ Tôi không muốn viết
những lời như thế (…)/ Tôi viết những bài thơ chống lại chính tôi/ Chống
lại bóng đêm trì trệ của đời (…)/ Thơ phải dạy ta nhìn bằng con mắt
thật/ Đập vào ngực ta không cho ta cúi mặt/ Không cho ta lảng tránh/ Đập
cửa mọi nhà/ Đứng ở mọi ngã ba” (Nói với mình và các bạn). Lưu Quang
Vũ: Gió và tình yêu thổi trên đất nước tôi, Sđd., tr. 102, 103.
[55] Những ngọn nến, Bài hát trong một cuốn phim cũ, Cuốn sách xếp nhầm trang, Chiều
cuối, Cầu nguyện, Móng tay trên đá, Những chiếc lá rơi,Hoa cẩm chướng
trong mưa.
[58] Năm 1963, trong nhật ký, anh ghi: 1963: xem chèo đã thích. Xem kịch,
nhận ra tình yêu và nhan sắc là hai cảm hứng lớn cho kịch (Lưu Quang Vũ: Di
cảo, Sđd., tr.17).
[59] Phạm Vĩnh Cư đã phân tích những tầng nghĩa, rất chi tiết và rất hay
(xem Phạm Vĩnh Cư: “Lưu Quang Vũ, Bi hùng kịch và bi hài kịch”, trong Lưu
Quang Vũ - Về tác gia và tác phẩm, Sđd., tr.272-273).
[60] Chính Lưu Quang Vũ đã nói lên điều này qua bài phỏng vấn “Chất thơ là
linh hồn của kịch”, rất xác quyết và súc tích (xem Lưu Quang Vũ - Về tác
gia và tác phẩm, Sđd., tr.503-504).
[61] Hồn Trương Ba, da hàng thịt dự liên hoan sân khấu Liên Xô, năm 1990, được
đánh giá xuất sắc; năm 1998, diễn ở Mỹ; năm 2002 được dựng lại và công diễn ở
Anh với tên "The Butcher's Skin".





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét