1. Truy tìm nguồn gốc
“Nhạc” là một bộ phận có lịch sử lâu đời nhất trong nền văn
hóa Trung Hoa. Theo các ghi chép văn hiến thời thượng cổ, thuở ban đầu của nền
văn minh Trung Hoa coi trọng lễ nhạc giáo hóa, lễ nhạc là một trong những nguồn
cội của văn minh, xuyên suốt từ đầu đến cuối trong nền văn minh Trung Hoa, có
tác dụng vô cùng quan trọng.
Vậy “Nhạc” là gì? Thời cổ, “Nhạc” không phải là âm nhạc ý
nghĩa hẹp mà chúng ta hiểu ngày hôm nay, mà nó bao gồm nội dung 3 phương diện
thơ từ, âm nhạc, vũ đạo, nội hàm rất to lớn tinh tế và sâu sắc.
Ví dụ hiện nay chúng ta biết, tập thơ lâu đời nhất của Trung
Quốc là “Kinh Thi”, trong đó lưu truyền đều là thơ thể cổ, tổng cộng hơn 300
bài. Thực ra thời thượng cổ, toàn bộ thơ trong “Kinh Thi” là dùng để hát, diễn
tấu, nó giống như Tống từ và Nguyên khúc vậy. Thực ra những bài thơ đó không chỉ
dùng để hát, nó còn thường kèm theo vũ đạo, có thể mang theo lời ca, mang theo
điệu múa. Ví dụ khi diễn tấu “Chu tụng – Duy thanh”, thường phải nhảy múa vũ điệu
“Tượng vũ”. Chỉ là khúc điệu và vũ đạo đều đã bị thất truyền trong lịch sử,
ngày nay chỉ còn lưu truyền lại văn tự lời thơ mà thôi.
Không chỉ Trung Quốc, ở nền văn minh Hy Lạp cổ – cái nôi của
văn minh phương Tây, cũng là thơ ca, âm nhạc và vũ đạo là một thể thống nhất,
không thể tách rời. Cùng với sự ra đời của thơ ca, thì khúc điệu cũng ra đời,
những nhà thơ du ca vừa tấu nhạc vừa hát ngâm, đồng thời vũ đạo cũng sinh ra
cùng.
“Mao thi tự” là lời tựa người xưa làm cho “Kinh Thi”, trong
đó có câu thế này: “Tình cảm trong lòng nảy sinh, cảm kích, không thể nén nổi,
bèn thông qua ngôn ngữ biểu đạt. Nếu ngôn ngữ không đủ biểu đạt tình cảm, thì sẽ
nảy sinh suýt xoa than thở. Khi suýt xoa than thở vẫn chưa đủ biểu đạt tình cảm
thì kéo dài giọng mà hát lên. Khi hát lên vẫn không đủ biểu đạt tình cảm thì
tay múa chân nhảy, nhảy múa tung tăng”. (1)
Câu này đã nói lên quan hệ tương hỗ giữa thơ ca, âm nhạc và
vũ đạo. Thời cổ thơ ca, âm nhạc và vũ đạo ba lĩnh vực là một thể thống nhất,
trong thơ có nhạc, trong nhạc có múa, trong múa có thơ, ba hợp một, gọi chung
là “Nhạc”, hoặc gọi là “Nhạc vũ”. Đây chính là phạm vi mà nhạc cổ bao hàm, cũng
là bài viết này muốn tìm hiểu và thảo luận.
Muốn hiểu thực sự việc này, thì trước tiên phải tìm về đầu
nguồn của nó. Vậy “Nhạc” sinh ra sớm nhất là khi nào?
Vấn đề này hiện nay không thể nào khảo chứng được, chỉ biết rằng
thời kỳ văn minh tiền sử xa xôi đã có nhạc rồi.
Dân tộc Trung Hoa là một trong những dân tộc có lịch sử lâu đời
nhất trong nền văn minh nhân loại lần này, có trên 5.000 năm lịch sử, khởi đầu
từ thời kỳ Ngũ Đế, thủy tổ là Hoàng Đế. Nhưng căn cứ các ghi chép văn hiến thời
thượng cổ, trước thời Hoàng Đế, vẫn còn có thời kỳ Tam Hoàng, đã trải qua rất
nhiều thời đại do các đế vương thời viễn cổ thống trị, những thời này đều quy về
thời kỳ văn minh tiền sử.
Người xưa đã từng đem văn minh tiền sử mà họ biết, theo trình
tự thời gian chia thành “10 kỷ”. “Xuân Thu vỹ” có chép: Bắt đầu từ thời kỳ Thái
Hoàng Thị thời viễn cổ đến năm thứ 14 Lỗ Ai Công (năm 481 trước Công nguyên), tổng
cộng trải qua 10 kỷ, trải dài 3.267.000 năm.
Có thể mỗi một kỷ là một lần luân hồi của nền văn minh nhân
loại. Ngày nay trên trái đất lần lượt phát hiện ra các di tích hoặc hóa thạch
các nền văn minh cách đây mấy trăm nghìn, mấy triệu thậm chí mấy chục triệu năm
đã làm các nhà khảo cổ sửng sốt. Còn có các ẩn đố đại lục Mu phát triển cao độ
đã bị hủy diệt trên một vạn năm trước, nền văn minh Atlantis… Các nền văn hóa
tiền sử viễn cổ này đều đã từng tồn tại trên trái đất, nhưng cuối cùng đều bị hủy
diệt trong các đại kiếp nạn, sau khi trải qua những năm tháng dài dằng dặc thì
dường như không còn lưu lại dấu tích gì. Nhưng trong mỗi lần đại kiếp nạn đều
có rất ít người may mắn sống sót, sinh sôi phát triển trở thành nhân loại lần
này, như gia đình Noah may mắn sống sót sau đại hồng thủy Noah. Họ dần dần lại
phát triển thành nền văn minh mới, đồng thời cũng kế thừa rất ít nền văn minh
tiền sử đem vào trong nền văn minh lần này. Như Chu dịch, Bát quái, Hà đồ, Lạc
thư, Âm dương ngũ hành v.v... đều là những di sản văn minh tiền sử ở các thời kỳ
khác nhau, trải qua nhiều lần kiếp nạn được lưu lại đến ngày nay, do đó vượt xa
nhận thức khoa học hiện đại, nhân loại hiện đại dù thế nào chăng nữa cũng không
nghiên cứu rõ được. Nhạc vũ cũng như vậy, cũng là từ thời kỳ nền văn minh tiền
sử xa xưa lưu truyền lại, là “hóa thạch sống” của nền văn minh tiền sử.
Từ năm 1984 đến 2001, tại di chỉ Giả Hồ ở Vũ Dương, Hà Nam
khai quật được hơn 30 cây sáo xương được chế tạo từ xương tiên hạc. Theo khảo
sát, những cây sáo xương này cách đây 7.800 – 9.000 năm bị chôn vùi trong đất.
Qua thử nghiệm cho thấy, những cây sáo xương này có hai âm vực quãng tám, hơn nữa
các nốt bán âm trong âm vực đều đầy đủ, không những có thể diễn tấu nhạc phủ
ngũ âm hoặc 7 thanh điệu truyền thống, mà còn có thể diễn tấu được các nhạc
khúc các dân tộc thiểu số nhiều biến âm hoặc nhạc ngoại quốc, các âm giai của
nó cấu thành hết sức khoa học, hoàn chỉnh đầy đủ. Điều đó chứng minh, trên
8.000 năm trước, dân tộc Trung Hoa đã có tri thức lý luận âm nhạc rất tiên tiến
và hoàn chỉnh, điều này vượt xa lịch sử văn minh nhân loại lần này của chúng
ta. Điều này cũng chứng minh nhạc phủ Trung Hoa trong thời văn minh tiền sử xa
xưa đã ra đời rồi.
Theo văn hiến thượng cổ ghi chép, trong thời kỳ Tam Hoàng tiền
sử, ông Phục Hy đã phát minh ra loại nhạc cụ Đàn sắt, đồng thời sáng tác các nhạc
vũ “Lập cơ”, “Giá biện” v.v.. Bà Nữ Oa đã phát minh ra khèn, đồng thời thống nhất
thanh luật thiên hạ, đã sáng tác bài nhạc vũ “Phù lê”. Ngoài ra còn có đàn sắt
ngũ huyền của ông Chu Tương, nhạc vũ “Bát khuyết” của ông Cát Thiên v.v... Những
nhạc vũ viễn cổ còn được ghi chép lại này, có khả năng đã trải qua mấy lần văn
minh nhân loại, tuy đã thất truyền từ lâu, nhưng lại là dấu ấn viễn cổ chìm lắng
trong sâu thẳm ký ức nhân loại.
2. Nội hàm
“Nhạc” có lịch sử xa xưa đến như thế, vậy nhạc ra đời như thế
nào, nội hàm và tác dụng của nó là gì? Dưới đây, từ những văn hiến thượng cổ
tìm được, từng bước tìm hiểu về thời kỳ tiền sử.
“Thế bản – Đế hệ thiên” ghi chép: “Bà Nữ Oa lệnh cho hai thuộc
hạ là Nga Lăng Thị và Thánh Thị phát minh ra hai loại nhạc cụ “Sáo Đô Lương” và
“Sáo Ban”, đã thống nhất âm luật thiên hạ, đồng thời phỏng theo quy luật vận
hành mặt trời, mặt trăng, và các vì sao trong vũ trụ, đối ứng tương hợp với
chúng, sáng tác ra nhạc vũ “Sung nhạc”. Sau khi nhạc vũ được phổ thành, hóa vật
vô thanh, vạn vật trong thiên hạ không cái gì không đồng hóa với đại đạo từ những
chỗ nhỏ bé nhất, tất cả đều hài hòa có trật tự”. (2)
Ở trên là bối cảnh và quá trình sáng tác của “Sung nhạc”. Từ
đoạn ghi chép này có thể thấy, Nhạc vũ của bà Nữ Oa là hiệu theo phép của vũ trụ
tự nhiên, đối ứng quy luật vận hành của thiên đạo mà sáng tác ra. Tác dụng của
nó là từ tầng sâu và vi quan của vạn vật hóa dục vạn vật, làm cho tất cả hài
hòa với tự nhiên, thuận ứng với thiên đạo, làm thiên hạ thái bình thịnh trị.
Trong “Lã Thị Xuân Thu” có viết: “Vào thời tiền sử ông Chu
Tương trị vì thiên hạ, thường xuyên có gió lớn, dương khí tụ tập kết thành, làm
cho âm dương không điều hòa, do đó vạn vật điêu tàn, hoa quả không chín. Thế là
đại thần của ông Chu Tương là Sỹ Đạt đã sáng tạo ra đàn sắt ngũ căn huyền, dùng
để diễn tấu, dẫn âm khí đến, an định chúng sinh thiên hạ.” (3)
Lại có chép: Khi ông Âm Khang thời viễn cổ trị vì thiên hạ,
âm khí quá thịnh, tụ tập ngưng trệ, dương khí bị tắc, không vận hành theo quy
luật bình thường, làm cho tinh thần nhân dân u uất mà không thư thái, gân cốt
teo co lại mà không khỏe mạnh, thế là ông Âm Khang sáng tác ra vũ đạo để tăng
cường khai thông dẫn đạo. (4)
Căn cứ theo hai đoạn ghi chép trên có thể thấy, thời kỳ viễn
cổ, khi tình huống âm dương không điều hòa, vạn vật lệch khỏi đại đạo, phép tắc
tự nhiên bị phá hoại, thì sáng tác ra nhạc vũ để cân bằng âm dương, khai thông
dẫn đạo vạn vật, làm cho tự nhiên trở về trạng thái hài hòa, làm cho thiên hạ lại
trở về với đại đạo.
Có thể thấy thời kỳ viễn cổ, nhạc vũ đã có đủ năng lượng siêu
nhiên, đến thời kỳ Ngũ Đế của văn minh nhân loại lần này, năng lượng thần kỳ
này trong nhạc vũ vẫn còn vô cùng rõ rệt.
Thời kỳ Hoàng Đế đã sáng tạo ra nhạc vũ loại lớn “Vân môn đại
quyển”, dùng để tế Trời. “Vân môn đại quyển” của Hoàng Đế và “Đại hàm” của
Nghiêu Đế, “Đại thiều” của Thuấn Đế, “Đại hạ” của Đại Vũ, “Đại hoạch” của
Thương Thang, “Đại vũ” của Chu Vũ là 6 bài nhạc vũ nổi tiếng thời thượng cổ,
trong “Chu Lễ” gọi chúng là “Lục đại nhạc vũ”. Con em quý tộc đời Chu đến tuổi
nhất định đều phải học 6 bài nhạc vũ này, là môn học bắt buộc, nếu không, họ sẽ
không thể bước vào xã hội được. Thời nhà Chu còn lập riêng cơ cấu giáo dục lớn
cấp quốc gia là “Đại tư nhạc” để dạy những bài nhạc vũ này. Lục đại nhạc vũ
dùng để thờ tế, “Vân môn đại quyển” tế trời, “Đại hàm” tế đất, “Đại thiều” tế tứ
vọng, “Đại hạ tế núi sông, “Đại hoạch” cúng bà tổ tiên, “Đại vũ” cúng ông tổ
tiên. (5)
Hoàng Đế còn sáng tác thần khúc thượng cổ “Hoa tư dẫn” và
“Thanh giác”. Tương truyền Hoàng Đế trong mộng đã thần du cố hương nơi sinh của
vua Phục Hy là Hoa Tu thần quốc, ngộ được đại đạo trị quốc dưỡng thân, trải qua
28 năm nỗ lực, đã trị vì thiên hạ thành quốc gia nửa thần nửa nhân bèn sáng tác
“Hoa tư dẫn” để kỷ niệm, đây là lai lịch của “Hoa tư dẫn”.
Trong “Hàn Phi Tử” có chép: Hoàng Đế đã triệu tập đại hội quỷ
thần ở Tây Thái Sơn, ông cưỡi xe voi do 6 con rồng kéo, hai bên trái, phải của
xe có một con thần điểu Tất Phương đứng, Phong Bá làm phép dọn sạch đường cho
ông, Vũ Soái giáng hạ cam lộ tẩy rửa bụi, hổ, sói ở phía trước mở đường, quỷ thần
phía sau hộ giá, rắn bay phục trên đất để tỏ lòng cung kính, phượng hoàng bay
lượn tròn trên không che chắn kiệu dương cho ông. Sau khi Hoàng Đế triệu tập đại
hội quỷ thần, liền sáng tác ra “Thanh giác” để làm kỷ niệm, đây là lai lịch của
“Thanh giác”. Tương truyền “Thanh giác” có thể câu thông với thiên địa, hiệu lệnh
quỷ thần, khi diễn tấu có thể dẫn tiên hạc và phượng hoàng bay đến, rợp trời rợp
đất, bay lượn nhảy múa. (6)
Sử sách có chép, thời Xuân Thu, Tấn Bình Công ép lệnh cho Sư
Khoáng đàn tấu “Thanh giác”, gây ra trận cuồng phong, bay hết ngói cung điện,
làm cho nước Tấn chịu đại hạn 3 năm, ngàn dặm đất trơ trọi. Do đó “Thanh giác”
không thể tùy tiện diễn tấu được, cũng không phải là người bình thường có thể
thưởng thức, sức mạnh chứa đựng đằng sau nó quá ư là to lớn, nếu không phải bậc
đại đức, người bình thường không chế ngự nổi sẽ đem đến tai họa.
Trên đây là nhạc của Hoàng Đế, tiếp theo chúng ta hãy xem nhạc
vũ khác thời Ngũ Đế.
Trong “Lã Thị xuân thu” có chép: Khi Đế Khốc tại vị, lệnh cho
Hàm Hắc sáng tác mấy bài nhạc vũ “Cửu chiêu”, “Lục liệt”, “Lục anh”. Lại có một
người tên là Thùy đã phát minh ra nhiều loại nhạc cụ. Đế Khốc bèn sai người
dùng các nhạc cũ này diễn tấu, biểu diễn những bài nhạc vũ này, đã dẫn được các
loài chim thần như phượng hoàng, gà trời v.v.. Bay đến, nhảy múa bay lượn theo
điệu nhạc. Đế Khốc mừng lắm, bèn dùng các bài nhạc vũ này để tế trời, ca tụng
ân đức của Thiên đế. (7)
Trong “Lã Thị xuân thu” còn ghi chép: Thời vua Nghiêu, bổ nhiệm
Chất làm Nhạc quan, Chất mô phỏng âm thanh tự nhiên của núi rừng, suối, hang,
đã sáng tạo ra nhạc vũ “Đại chương”. “Đại chương” còn có tên là “Đại hàm”, là một
trong Lục đại nhạc vũ được nói đến ở trên, dùng để tế đất. Khi diễn tấu bài nhạc
vũ này, trăm loài thú đều nhảy múa theo, vạn vật tự nhiên đều chung sống hài
hòa. (8)
Ngoài ra trong các thư tịch cổ như “Thượng thư – Cao đào mô”
và “Đế vương thế kỷ” v.v.. đều có ghi chép việc này: Thuấn sai người sáng tác
bài nhạc vũ “Đại thiều” này. “Đại thiều” cũng là một trong Lục đại nhạc vũ,
tương truyền “Đại thiều” tổng cộng có 9 chương, cũng được gọi là “Cửu thiều”,
“Tiêu thiều”. Thuấn sai người diễn tấu nhạc vũ “Đại thiều”, sau khi diễn tấu
xong 9 chương, có phượng hoàng đến chầu bái, nhảy múa, trăm loài thú cũng nhảy
múa theo. (9)
Gần hai nghìn năm sau, Khổng Tử lúc ở nước Tề có may mắn được
thưởng thức nhạc vũ “Đại thiều”. Sau khi thưởng thức xong thì lòng khoan khoái
ngây người ra, miệng không còn biết vị, ba tháng ròng ăn thịt không thấy mùi vị,
thì cảm động than rằng: “Không ngờ nhạc lại có thể đạt đến cảnh giới cao siêu kỳ
diệu như thế này!” Đây chính là điển cố “Ba tháng không biết mùi vị thịt” được
ghi chép trong “Luận Ngữ”. Do đó Khổng Tử đánh giá rằng: “Nhạc “Đại thiều” tận
thiện tận mỹ vậy.” (10) Đây cũng là nguồn gốc của câu thành ngữ “Tận thiện tận
mỹ”.
Có thể thấy thời kỳ Ngũ Đế, sức mạnh mà nhạc vũ chứa đựng vẫn
còn vô cùng to lớn mạnh mẽ, có thể trực tiếp triển hiện thần tích, có thể hiệu
lệnh quỷ thần, có thể dẫn đến sự cộng hưởng của thiên nhiên, gọi chim tiên thú
lạ đến, làm trăm loài thú nghe thấy âm thanh mà nhảy múa, làm cho thiên hạ hài
hòa yên ổn.
Thực ra những thần tích mà nhạc vũ triển hiện ra, trong quá
trình phát triển của lịch sử thì vẫn luôn tồn tại, mãi cho đến ngày nay. Chỉ là
càng về sau, cùng với sự phát triển của nền văn minh vật chất của nhân loại,
cùng với việc nhân loại không ngừng bị dục vọng và chấp trước trói buộc, năng
lượng tinh thần càng ngày càng thoái hóa, sự triển hiện của thần tích càng ngày
càng ẩn che, không biểu hiện ra trực tiếp và mạnh mẽ như thời thượng cổ. Nhưng
chỉ cần dụng tâm phát hiện, thì vẫn có thể cảm ứng được thần lực viễn cổ ẩn
chìm nơi sâu thẳm phía sau nhạc…
3. Hiệu quả thần kỳ
Trong chương này, chúng ta cùng phát hiện thần lực viễn cổ ẩn
chìm nơi sâu thẳm phía sau nhạc.
Khi thực vật gặp âm nhạc
Năm 1950, nhà sinh vật học nước Anh Julian Sorell Huxley đến
bang Tamil Ấn Độ thăm tiến sỹ T.C. Singh, chủ nhiệm khoa Thực vật của trường đại
học Annamalai. Được biết tiến sỹ Singh dùng kính hiển vi quan sát sự lưu động của
tế bào sống của rong mái chèo, Huxley vì vậy nói hay là có thể nhờ quan sát này
để xem thực vật có chịu ảnh hưởng của âm thanh hay không.
Trợ lý của Singh là Stella Ponniah là một phụ nữ tinh thông
đàn violin, sau đó Singh chỉ thị cho cô ấy kéo violin ở gần chỗ rong mái chèo.
Kết quả phát hiện ra tốc độ lưu động của tế bào rong mái chèo tăng nhanh. Singh
lại nghĩ đến miền Nam Ấn Độ có một ca khúc cầu khấn thần có tên là “Laga”, khúc
điệu của ca khúc đó làm cho người nghe nảy sinh lòng thành kính, do đó, ông mời
Ponniah diễn tấu giai điệu của “Laga” cho cây xấu hổ nghe. Sau hai tuần, phát
hiện thấy số lượng khí khổng trong diện tích đơn nguyên của cấy xấu hổ tăng
66%, thành biểu bì trở nên dày, tế bào tầng palisade thậm chí mở rộng ra một nửa.
Sau đó, Singh lại mời Gouri Kumari giảng viên học viện âm nhạc
Annamalai diễn tấu khúc Laga thực vật họ hoa phụng tiên nghe, mỗi ngày diễn tấu
25 phút, đến tuần thứ 5, phụng tiên được thí nghiệm đã vượt rõ rệt nhóm không
được nghe nhạc, kết quả thống kê hiển thị, phiến lá trung bình sinh trưởng nhiều
hơn 72%, chiều cao cao hơn 20%.
Tiếp theo, Singh lại dùng các chủng loại thực vật khác nhau
làm nhiều làn thí nghiệm, kết quả thí nghiệm được công bố trên tạp chí học viện
nông nghiệp bang Bihar, Singh bày tỏ chắc chắn rằng: Âm nhạc hài hòa sẽ thúc đẩy
thực vật sinh trưởng, phát triển, ra trái, kết hạt.
Khi thí nghiệm có kết quả, Singh liền thử nâng cao sản lượng trồng
trọt. Từ năm 1960 đến 1963, ông đã giúp bảy thôn khu Pondicherry và bang Tamil
thí nghiệm, dùng máy tăng âm phát âm nhạc, làm cho thu hoạch nhiều hơn bình thường
25-60%.
Đến cuối những năm 50, bang Illinois Mỹ có một nhà thực vật học
tên là George Smith dùng ngô và đậu tương làm thí nghiệm, ở nhà kính có điều kiện
nhiệt độ, độ ẩm như nhau, gieo những hạt giống như nhau. Phát cho một bộ phận
trong đó bài “Khúc hát về màu xanh” của nhạc sĩ Mỹ Gershwin, và bộ phận kia thì
không phát âm nhạc nào cả. Cuối cùng phát hiện, những chồi hạt được “nghe” nhạc
khúc nảy mầm sớm hơn 2 tuần so với những chồi hạt không được “nghe” nhạc, hơn nữa
loại được nghe nhạc cũng mập chắc hơn nhiều. Smith rất bất ngờ, sau đó ông tiếp
tục phát nhạc cổ điển cho một mảnh đất thí nghiệm ngô lai, liên tục từ khi gieo
hạt cho đến khi thu hoạch không gián đoạn. Kết quả lại phát hiện kinh ngạc, mảnh
đất thí nghiệm này thu hoạch được nhiều hơn 700 kg ngô so với mảnh đất thí nghiệm
cùng kích thước không được “nghe” âm nhạc. Ông còn vui mừng phát hiện, ngô
“nghe” âm nhạc phát triển thì sinh trưởng nhanh hơn, kích thước hạt đều đặn, đồng
thời cũng chín sớm hơn.
Đại học Stanford Mỹ cũng làm một thí nghiệm: cho thực vật
nghe các âm nhạc khác nhau, nhóm thực vật nghe nhạc cổ điển sinh trưởng khá tươi
tốt um tùm, hơn nữa thật thần kỳ là, thực vật phát triển hướng về phía có nguồn
phát ra âm nhạc, thực vật phát triển nghiêng 60 độ về phía nguồn phát ra âm nhạc.
Hơn 10 năm trước, Tuscany ở miền Tây Bắc nước Ý có một vườn
nho có tên là Thiên đường Francina. Chủ nhân vườn nho có tên là Carlo Cignozzi,
ông vốn là luật sư, mới chuyển nghề sang trồng nho, không có kinh nghiệm.
Cignozzi rất say mê âm nhạc và phát hiện ra những khúc nhạc ông chơi accordion
làm cho cây nho lớn nhanh hơn, thế là ông phát nhạc cổ điển trong vườn nho lâu
dài, kết quả phát hiện những cây nho nghe âm nhạc này quả nhiều, to hơn ít bị
sâu hại hơn.
Cho nho nghe âm nhạc, khi mới bắt đầu, một số người địa
phương cho rằng đầu óc Cignozzi có vấn đề. Nhưng Cignozzi kiên trì ba năm, ngày
ngày đều cho nho nghe nhạc cổ điển. Sau ba năm, những cây nho ông trồng đều kết
trái, ra quả vừa to vừa ngon, rượu làm ra từ nho của ông so với người giỏi làm
rượu nhất ở địa phương vị cũng ngon hơn, thế là được mọi người công nhận.
Tin tức nhạc cổ điển làm cho Cognozzi trồng được nho quả to
và ngon hơn đã nhanh chóng được lan truyền đi. Nghe được tin này, nhân viên
nghiên cứu của Đại học Florence bắt đầu tiến hành điều tra khu vườn 24 mẫu Anh
này từ năm 2006, để tìm hiểu ảnh hưởng của âm nhạc đối với sự sinh trưởng của
thực vật. Giáo sư Mancuso của trường đại học này bày tỏ, trước mắt vẫn chưa có
kết luận, nhưng cây nho hoặc cây cảnh nghe âm nhạc thực sự đều mọc cao hơn, mà
cây không nghe nhạc thì đều mọc chậm hơn. Đồng thời, diện tích che phủ của lá
cây nho nghe âm nhạc thực sự lớn hơn so với cây không nghe nhạc.
Cùng với sự truyền bá của những ảnh hưởng thần kỳ này của âm
nhạc đối với thực vật, tiết mục “Chấm dứt tin đồn” của kênh truyền hình
Discovery của Mỹ vào năm 2004 cũng đã làm thí nghiệm trong thời gian 2 tháng để
chứng minh, giao lưu với thực vật hoặc phát âm nhạc có lợi cho sự sinh trưởng của
thực vật có phải là tin vịt không.
Họ đã làm bảy nhà kính có điều kiện giống nhau trồng đậu Hà
Lan, có cái thì phát âm nhạc, có cái thì giao lưu với thực vật, có cái không
phát âm nhạc gì cả. Sau 2 tháng, họ phát hiện, tất cả các cây đậu Hà Lan ở nhà
kính phát âm nhạc thực sự đều phát triển tốt hơn tất đậu Hà Lan ở các nhà kính
khác, cuối cùng ra kết luận: Giao lưu với thực vật hoặc phát âm nhạc có lợi cho
thực vật sinh trưởng, là có khả năng.
Cùng với sự truyền bá các trường hợp thần kỳ này, mấy năm gần
đây, trên phạm vi toàn cầu đã dấy lên trào lưu “cho thực vật nghe nhạc cổ điển”,
rất nhiều nông trường thực vật sinh thái xanh đã được xây dựng, rất nhiều các hộ
trồng trọt tới tấp áp dụng cho thực vật nghe nhạc cổ điển, cũng đều thu được hiệu
quả rõ rệt.
Như chợ rau trung tâm Toyooka tỉnh Hyogo Nhật Bản cho chuối
nghe nhạc Mozart, kết quả cho ra đời “Chuối Mozart” thơm ngon hơn, đồng thời được
mọi người công nhận. Người ăn thử đều bày tỏ “chuối Mozart” vừa ngọt vừa ngon,
hơn nữa màu sắc cũng rất đẹp…
Âm nhạc và động vật tương phùng
Ở Trung Quốc có câu thành ngữ ai cũng thuộc lòng, gọi là “đàn
gảy tai trâu”, bắt nguồn từ câu chuyện Mâu Dung kể để thuyết phục người khác.
Trâu thực sự không có phản ứng gì với âm nhạc cao nhã sao? Đã từ lâu, Tuân Tử
thời Chiến quốc đã viết trong “Khuyến học thiên” của ông như sau: “Ngày xưa Hồ
Ba chơi đàn sắt bên sông, những con cá lặn dưới sông đều bơi lên lắng nghe. Bá
Nha chơi đàn cầm ngoài cánh đồng, đàn ngựa đang gặm cỏ đều ngẩng đầu lên yên lặng
lắng nghe”. (11) Điều này hoàn toàn khác với những gì Mâu Dung kể.
Sự thực chứng minh, âm nhạc không chỉ có hiệu quả thần kỳ đối
với sự sinh trưởng của thực vật, mà đối với động vật cũng có hiệu quả như vậy.
Hiện nay khắp nơi trên thế giới đều nổi lên phong trào ở các
trại chăn nuôi, nông trường cho gia súc, gia cầm, gà, trâu bò, lợn v.v.. Nghe
âm nhạc cổ điển, điều này đã không còn là tin tức nữa. Qua các thí nghiệm cho
thấy, ở trại gia súc phát âm nhạc cổ điển nhẹ nhàng vui tươi hài hòa, có thể
kích thích cho nhiều sữa hơn, mà sữa sinh ra sạch hơn, ngon miệng hơn, còn có
thể kích thích gà đẻ nhiều trứng hơn, có thể làm cho lợn và trâu khỏe mạnh hơn,
thịt tươi mềm hơn… Hơn nữa còn hình thành một chuỗi ngành nghề mới, làm cho rất
nhiều nhà hàng, nông trường hiện nay tới tấp đưa ra sản phẩm sinh thái như thịt
lợn, thịt bò, trứng, lương thực, rau, trái cây được cho nghe nhạc cổ điển trong
quá trình nuôi trồng, giá cả tương đối đắt, nhưng ngon miệng và chất lượng tốt
cho sức khỏe thực sự tốt hơn nhiều so với sản phẩm cùng loại khác. Những sản phẩm
này đã được người tiêu dùng kiểm nghiệm và chấp nhận.
Một lần thí nghiệm ngẫu nhiên, đã gây ra cơn sốt “Hiệu ứng
Mozart”
Năm 1993, tập san định kỳ “Tự nhiên” nổi tiếng của nước Anh
đã đăng phát hiện của công trình nghiên cứu lớn của nhà tâm lý học trường đại học
California bà Frances Rauscher và các đồng nghiệp: Nghe âm nhạc của các bậc thầy
sáng tác nhạc cổ điển như Mozart có thể gia tăng năng lực phân tích không gian
ba chiều của các sinh viên. Từ đó trên phạm vi toàn thế giới đã xuất hiện cơn sốt
“Hiệu ứng Mozart”, dẫn đến lượng tiêu thụ các đĩa CD của các đại sư nhạc cổ điển
như Mozart tăng theo đường thẳng, kéo dài không giảm.
Ví dụ hiện nay ở phạm vi trên toàn thế giới đang thịnh hành
“Âm nhạc dưỡng thân” và “Giáo dục thai nhi”. Rất nhiều bà mẹ hiện nay đều đang
tĩnh tâm lắng nghe âm nhạc cổ điển trong thời gian mang thai, tin rằng những em
bé được sinh ra như thế này sẽ mạnh khỏe, thông minh, xinh đẹp hơn và tính cách
cũng tươi sáng hơn.
Trực diện với âm nhạc cao nhã, pháp luật thể hiện bất lực
Văn hóa Trung Hoa rất coi trọng giáo dục lễ nhạc giáo hóa, lễ
nhạc là một bộ phận quan trọng cấu thành nền văn hóa Trung Hoa. Trước khi cộng
sản làm loạn Trung Hoa, mấy nghìn năm nay, bất kể các triều đại thay đổi thế
nào, gió mây thế sự thay đổi ra sao, vị thế của lễ nhạc trị thế xưa nay không
ai lay chuyển nổi. Có thể thấy sức mạnh giáo hóa của lễ nhạc đối với lòng người.
Lắng nghe âm nhạc cao nhã, có thể làm cho nội tâm con người an hòa, vỗ về tâm
linh con người, có thể nâng cao khí chất con người, làm cho người ta trở lên
trang nhã, có thể quy chính đạo đức, làm đoan chính phẩm hạnh của con người.
Theo đưa tin của nhiều tòa báo, trung tâm thương mại thành phố
và khu vực xung quanh của thành phố lớn thứ 3 New Zealand Christchurch vốn là
khu có các vụ phạm tội cao, làm đau đầu các thương gia, cư dân và cảnh sát địa
phương. Từ tháng 6 năm 2009, trung tâm thương mại bắt đầu 24/24 phát các tác phẩm
của các nhạc sỹ thế kỷ 18 như Mozart đến nay, đã phát hiện ra có hiệu quả kinh
ngạc đối với việc giảm thiểu các vụ phạm tội và bạo lực.
Theo thống kê, tháng 10 năm 2008, các vụ phạm tội khu vực này
cao đến 77 vụ trong 1 tuần, đến tháng 10 năm 2010 giảm mạnh xuống còn 2 vụ. Các
vụ gây rối liên quan đến ma túy, say rượu năm 2008 có 16 vụ, năm 2010 không có
vụ nào xảy ra.
Giám đốc Hiệp hội Thương mại Trung tâm thành phố Christchurch
là Lonsdale bày tỏ: “Dân chúng hiện nay sẽ dừng lại và ngồi trong khu vực này,
vì họ có cảm giác an toàn hơn.” Phía cảnh sát cũng công nhận nhạc cổ điển đã
làm thay đổi môi trường trung tâm thương mại và khu vực xung quanh, hiện nay rất
nhiều cửa hàng xung quanh cũng phát nhạc cổ điển. Hơn nữa, ngoài Christchurch
ra, Auckland của New Zealand cũng đang áp dụng biện pháp này. (12)
Khúc hết bệnh biến mất, đến đi trong Ngũ âm
Phương pháp chẩn đoán bệnh của Trung y có bốn loại là vọng,
văn, vấn, thiết (nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch). Trong đó văn (nghe) đứng vị trí
thứ 2, ý là không cần thấy người, chỉ cần nghe âm thanh họ nói, phân biệt sự
thay đổi ngũ âm họ phát ra để đối ứng suy đoán trạng thái vận hành của kinh lạc
cơ thể, lục phủ ngũ tạng v.v.. Từ đó đoán định nguyên nhân bệnh, đạt được hiệu
quả đoán bệnh như thần. So với nó thì những cái như bắt mạch bằng sợi tơ chỉ là
môn học trẻ con thôi.
Mấy nghìn năm trước, “Hoàng Đế Nội Kinh” – một trong tứ đại
kinh điển Trung y Trung Quốc đã luận thuật cơ sở lý luận của âm nhạc trị bệnh.
“Hoàng Đế Nội Kinh” có chép: “Ngũ tạng của con người đối ứng với ngũ âm, lục phủ
đối ứng với lục luật. Lục luật lại chia thành lục âm luật và lục dương luật, gộp
vào gọi là 12 luật lữ, lần lượt đối ứng với 12 tháng, 12 thời thần, 12 tiết (24
tiết khí), 12 đường thủy kinh của trái đất và 12 kinh mạch cơ thể người.” (13)
“Hoàng Đế Nội Kinh” còn lấy ngũ âm lần lượt đối ứng với ngũ tạng,
ngũ hành và 5 loại tình cảm (14). Có thể căn cứ vào ngũ âm chẩn đoán bệnh tình,
đồng thời cũng có thể lấy ngũ âm điều phối thành âm nhạc hài hòa, để đối ứng điều
chỉnh cân bằng lục phủ ngũ tạng của cơ thể con người, còn để lưu thông tuần
hoàn kinh lạc cơ thể người, từ đó giúp cho thân thể con người trở về với trạng
thái hài hòa tự nhiên, đạt được mục đích trị bệnh và dưỡng thân.
Do đó danh y thời Nguyên là Chu Chấn Hanh cũng nói: “Nhạc
cũng là thuốc vậy.”
Không chỉ Trung y, thời cận đại “Liệu pháp âm nhạc” ở phương
Tây cũng đã ra đời và lưu hành trên thế giới.
Trước tác đầu tiên của phương Tây thời cận đại giới thiệu một
cách có hệ thống dùng âm nhạc chữa trị bệnh là “Y học Âm nhạc” của bác sĩ Brown
nước Anh. Ngoài ra cuốn “Y học Âm nhạc” do bác sĩ Lichtenthal người Áo trước
tác giới thiệu chi tiết hơn thành quả tìm tòi trên lĩnh vực này đầu thế kỷ 19.
Giữa thế kỷ 19 liệu pháp âm nhạc rất thịnh hành ở châu Âu, được ứng dụng quy mô
lớn trong thời gian Thế chiến 2. Ban đầu được ứng dụng trị bệnh tinh thần cho
các thương bệnh binh, do thấy hiệu quả của nó rất rõ rệt nên đã nhanh chóng được
áp dụng rộng rãi.
Năm 1944 và 1946, trường đại học bang Michigan và đại học
Kansas lần lượt xây dựng giáo trình trị liệu âm nhạc chuyên ngành để đào tạo
bác sĩ trị liệu âm nhạc chuyên nghiệp. Năm 1950, nước Mỹ đi đầu thành lập Hiệp
hội Liệu pháp Âm nhạc (NAMT), đánh dấu âm nhạc trị liệu học trở thành môn khoa
học mới đã ra đời. Cho đến hôm nay, liệu pháp âm nhạc đã lan truyền khắp thế giới,
rất nhiều bệnh viện, trung tâm phục hồi sức khỏe đều áp dụng liệu pháp này, thu
được hiệu quả rõ rệt.
Các trường hợp thần kỳ này, tuy hiện nay khoa học vẫn chưa giải
thích được rõ, nhưng đã làm cho nhân loại phát hiện ra dấu tích của Thần từ viễn
cổ. Đã chứng minh trong “Nhạc” thực sự ẩn chứa sức mạnh thần kỳ mà con người
chưa thể biết được, cũng đã chứng tỏ những thần tích của “nhạc” thời kỳ viễn cổ
là rất đáng tin cậy.
Chú thích:
(1): “Mao thi tự”: “Tình động bên trong mà thể hiện ra lời
nói, lời nói diễn tả không đủ diễn đạt, do đó than thở, than thở không đủ diễn
đạt, do đó ca vịnh, ca vịnh không đủ diễn đạt, thì bất giác hoa tay múa chân vậy.”
(2) “Thế bản - Đế hệ thiên”: “Bà Nữ Oa lệnh cho Nga Lăng Thị
chế tạo sáo Đô lương quản, để thống nhất âm nhạc trong thiên hạ, lệnh Thánh Thị
chế tạo sáo Ban quản, tổng hợp mặt trời, mặt trăng, các vì sao, gọi là Sung nhạc.
Sau khi chế tạo thành công, khắp nơi thiên hạ, cho đến cả những cái tối tăm nhỏ
bé, không cái gì là không được chỉnh sửa.”
(3) “Lã Thị Xuân Thu – Cổ nhạc thiên” có chép: Thời xưa, Chu
Tương Thị trị thiên hạ, gió nhiều mà dương khí tích tụ, vạn vật tiêu tán, hoa
quả không kết trái, do đó Sĩ Đạt làm đàn Ngũ huyền sắt, để lấy âm khí, để định
quần sinh.”
(4) “Lã Thị Xuân Thu – Cổ nhạc thiên” chép: “Xưa Âm Khang Thị
mới trị vì, âm khí ứ trệ mà chìm lắng, dương đạo tắc nghẽn, không vận hành theo
trật tự, dân khí u uất mà đình trệ, gân cốt teo tóp không phát triển, do đó đặt
ra múa để truyền bá dẫn dắt dân chúng.”
(5) “Chu lễ – Đại tư nhạc”: Do đó tấu nhạc Hoàng Chung
(chuông vàng), hát khúc Đại Lã, múa điệu “Vân môn”, để tế thiên thần. Rồi tấu
nhạc Thái Thấu, hát khúc Ứng Chung, múa điệu “Hàm Trì” để tế đất. Rồi tấu nhạc
Cô Tẩy, hát khúc Nam Lã, múa điệu “Đại Thiều”, để tế Tứ vọng (tế vọng bái núi
sông bốn phương). Rồi tấu nhạc Nhuy Tân, hát khúc Hàm Chung, múa điệu “Đại Hạ”,
để tế núi sông. Rồi tấu nhạc Di Tắc, hát khúc Tiểu Lã, múa điệu “Đại Hoạch”, để
dâng lễ tế các bà tổ. Rồi tấu nhạc Vô Tạ, hát khúc Giáp Chung, múa điệu “Đại
Vũ”, để dâng lễ các tổ tiên. Lục Nhạc, văn là ngũ thanh, âm là bát âm.
(6) “Hàn Phi tử”: Hoàng đế thời xưa, hợp quỷ thần ở phía tây
trên núi Thái Sơn, cưỡi xe voi ở nhà giao long, trị vì tất cả các phương, Si
Vưu ở phía trước, Phong Bá quét đường, Vũ Soái té nước trên đường, hổ sói phía
trước, quỷ thần ở phía sau, rắn bay phủ phục, phượng hoàng che ở trên trời, đại
hợp quỷ thần, sáng tạo ra “Thanh giác”.
(7) “Lã Thị Xuân Thu”: Đế Khốc lệnh cho Hàm Hắc sáng tạo ra
bài hát: Cửu thiều, Lục liệt, Lục anh. Hữu Thùy sáng tạo ra bề, cổ, chung,
khánh (trống trận, trống, chuông, khánh), thổi sáo Linh, chơi sáo Quản đề. Do
đó là cho phượng hoàng, chim trĩ trời múa lượn. Đế Khốc mừng lắm, đó là làm
tăng đức của vua.
(8) “Lã Thị Xuân Thu”: Vua Nghiêu lên ngôi, bèn lệnh cho Chất
sáng tạo nhạc. Chất bèn phỏng theo âm thanh của núi rừng suối hang để làm bài
hát, bèn lấy sừng hươu gõ phữu, bèn gõ đá vào đá, để giống âm thanh của khánh
ngọc của Thượng đế, làm cho trăm loài thú nhảy múa.
(9) “Thượng thư – Cao đào mô”: ông Quỳ nói: “Kiết kích minh cầu,
bác phủ, cầm, sắt để vịnh. Thần linh tổ tiên đến, con cháu làm khách an vị, các
chư hầu lễ nhượng đi lên. Dưới đường kèn trống, Chúc ngữ hợp tấu dạo nhạc, khèn
chuông thay nhau tấu lên, chim thú nhảy nhót theo nhạc, nhạc “Tiêu thiều” tấu
chín lượt, phượng hoàng từng cặp đến nhảy múa. Ông Quỳ nói: “Ôi chao! Ta gõ
khánh đá, trăm loài thú đến nhảy múa, các quan đều hòa nhịp.”
“Đế vương thế kỷ”: Muôn dân sung túc, vạn bang yên định, muôn
nghề hưng thịnh, bèn sáng tạo nhạc “Đại thiều”, “Tiêu thiều” tấu lên 9 lượt,
phượng hoàng bay đến múa, tấu lên khánh đá, muông thú đến nhảy múa. Do đó Khổng
Tử khen “Thiều” tận mỹ vậy, lại còn tận thiện nữa. (“Thái bình ngự lãm” trích dẫn)
(10) “Luận Ngữ”: Khổng Tử ở nước Tề nghe nhạc “Thiều”, 3
tháng không biết mùi vị của thịt. Ông nói: “Không ngờ nhạc lại cao siêu như thế
này!”
“Luận Ngữ – Bát dật”: Khổng Tử nói nhạc “Thiều” tận mỹ, lại
còn tận thiện.
(11) “Tuân Tử – Khuyến học thiên”: Xưa Hồ Ba chơi đàn sắt, mà
cá ngoi lên lắng nghe. Bá Nha chơi đàn cầm, ngựa của vua ngừng ăn ngẩng đầu lên
nghe.
(12) “Liên hợp báo” Đài Loan ngày 9/11/2010 đưa tin, còn có
các báo khác đưa tin, không liệt kê ra ở đây.
(13) “Linh khu – Kinh biệt” : “Trong có ngủ tạng, ứng với ngũ
âm… Ngoài có lục phủ, ứng với lục luật. Lục luật đặt ra các kinh âm dương, mà hợp
lại 12 tháng, 12 canh giờ, 12 tiết, 12 kinh thủy, 12 giờ, 12 kinh mạch”.
(14) “Hoàng Đế Nội Kinh”: Gan thuộc mộc, ứng với âm Giốc, ứng
với chí Nộ (giận dữ). Tim thuộc hỏa, ứng với âm Chủy, ứng với chí Hỷ (vui mừng).
Lá nách thuộc thổ, ứng với âm Cung, ứng với chí Tư (lo nghĩ). Phổi thuộc kim, ứng
với âm Thương, ứng với chí Ưu (u buồn). Thận thuộc thủy, ứng với âm Vũ, ứng với
chí Khủng (sợ hãi).
4. Giữa người và Thần, Đông Tây hòa âm
Về nhạc, phương Tây cũng để lại rất nhiều truyền thuyết đẹp cảm
động lòng người. Trong “Sử thi Homer”, những nàng Tiên chim (Sirens) có giọng
hát mê hồn, hễ nghe tiếng hát của nàng, chẳng ai không thần hồn điên đảo, tâm
trí mê loạn, cuối cùng đều bị âm thanh ma lực dẫn dụ đâm vào đá ngầm mà chết. Mặc
dù như thế, nhưng liên tiếp hết loạt người này đến loạt người khác lần lượt lao
vào chỗ chết, muốn dừng lại cũng không được.
Anh hùng Uy-li-xơ (Odysseus) tham gia cuộc chiến thành Tơ-roa
(Troy) thắng lợi trở về, trên biển đi qua nơi có các nàng Tiên chim, do được nữ
thần Circe khuyên bảo nên đã lệnh cho các thủy thủ lấy sáp nhét vào tai từ trước,
và trói mình lên trên cột buồm, chỉ mình ông nghe được giọng ma ảo của Tiên
chim. Chẳng bao lâu thuyền đã đi qua hải vực của Tiên chim, Uy-li-xơ đã nghe được
giọng hát mê hồn, nhưng không thể làm gì được, liền giãy giụa tuyệt vọng, muốn
giãy ra khỏi dây thừng trói buộc, đồng thời hét lên lệnh cho tùy tùng đi thuyền
về phía đảo yêu ma, nhưng chẳng ai để ý đến ông. Các thủy thủy cứ lái thuyền đi
thẳng, cho đến khi chẳng nghe thấy tiếng hát nữa, mới cởi dây trói cho
Uy-li-xơ, do vậy đã thoát hiểm bình an.
Bình an vượt qua địa bàn của Tiên chim, còn có Orpheus con
trai của thần Apollo và nữ thần Muses. Orpheus là người duy nhất dùng tiếng đàn
đánh bại tiếng hát của Tiên chim. Ông sinh ra đã có tài năng âm nhạc phi phàm,
khi ông còn bé, thần Apollo đã dạy ông chơi đàn, đồng thời tặng ông cây đàn quý
của mình. Tương truyền tiếng đàn của Orpheus có thể kiến mãnh thú cúi đầu, đá
cũng gật đầu. Trên đường đi tìm dê lông vàng, ông cũng đi qua địa bàn của Tiên
chim, giọng ca đầy ma lực đó lại bay đến. Các anh hùng trên thuyền trong chớp mắt
đều mê mẩn tâm trí, quên cả chèo chuyền, cũng quên hết tất cả, chỉ muốn mãi mãi
ở bên các nữ yêu. Thế là Orpheus ngồi ngay ngắn, tay vỗ cây đàn tiên, một khúc
nhạc trời xuyên thấu tầng mây, át chế âm thanh dâm dật của bầy yêu nữ. Tâm trí
các thuyền viên được gọi tỉnh trở lại, thế là các anh hùng lại hăng hái trở lại,
ra sức chèo thuyền, rời xa hòn đảo yêu ma, bầy yêu ma xấu hổ và tức giận quá,
liền lao xuống biển tự tử.
Sau này, vì cứu người vợ xinh đẹp Eurydice, ông lại một mình
xuống âm phủ, trên suốt đường đi, vừa đàn vừa hát, tiếng đàn lay động lòng người
đã làm các vong linh và thần âm phủ cảm động, tới tấp đến mở đường cho ông đi.
Cuối cùng ngay cả Diêm Vương Hades tàn khốc vô tình, và Vương Hậu Perephone
cũng cảm động, đã phá giới luật, cho phép nàng Eurydice xinh đẹp sống lại,
nhưng có khuyên răn Orpheus khi rời âm giới tuyệt đối không được quay đầu lại.
Đúng lúc Orpheus bước cuối cùng ra khỏi âm giới, không nén được đã qua đầu lại
xem ái thê thế nào, khiến cho công lao đổ xuống sông xuống biển hết, ôm hận đến
chết. Sau khi ông chết, chiếc đàn quý trở thành sao Thiên Cầm trên trời đêm.
Còn có con trai Thần Zeus là Amphion, tiếng đàn của ông cũng
làm cho cỏ cây đất đá cảm động. Ống tấu đàn thất huyền cầm, tiếng đàn làm đá
cũng cảm động, tới tấp vây quanh ông thành bức thành trì, sau này chính là
thành Thebes. Những câu chuyện này là những truyền thuyết cổ Hy Lạp liên quan đến
âm nhạc.
Đến thế kỷ thứ 6 trước CN, một nhân vật truyền kỳ đã giáng
sinh ở đảo Samos Hy Lạp cổ đại. Ông chính là nhà triết học, nhà toán học và nhà
lý luận âm nhạc nổi tiếng Hy Lạp cổ đại Pythagoras. Ông là người đầu tiên tiết
lộ quan hệ thần bí giữa âm nhạc và toán học, được gọi là “cha đẻ của âm nhạc”,
“cha đẻ của toán học”, “cha đẻ của hình học”. Ông cũng là người đặt nèn móng
cho thiên văn học cổ đại, ông khai sáng ra trường phái Pythagoras ảnh hưởng cả
phương Tây cho đến cả thế giới.
Trong truyền thuyết lịch sử, Pythagoras là một nhân vật thần
bí ở giữa người và Thần, dùng lời của chính ông nói là: “Vừa có người, vừa có
Thần, lại còn có những nhân vật giống Pythagoras như thế này.”
Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Heraclides Ponticus nói:
Pythagoras thường nói, ông vốn là Aethalides, con trai của thần Hermes – 1
trong 12 vị Thần chính của Olympia. Hermes cho phép ông chọn bất kỳ khả năng
nào ngoài việc được bất hủ, thế là ông chọn bất kể là đời trước hay sau khi chết
đều lưu giữ lại ký ức về những trải nghiệm bản thân, không bị mất đi khi luân hồi.
Thế là ông lần lượt chuyển sinh 5 lần, lần thứ 2 chuyển sinh thành Euphorbus,
tham gia cuộc chiến thành Troy, sau khi chết còn đi qua âm giới, đi vào rất nhiều
thực vật và động vật. Lần thứ 3 ông chuyển sinh thành Hermotimus, lần thứ 4
thành Pyrrhus, lần thứ 5 mới chuyển sinh thành Pythagoras. Mỗi lần ông chuyển
sinh đều nhớ được tất cả những chi tiết nhỏ của các đời trước, thậm chí còn lưu
lại ký ức ngoài nhân loại, tất cả những thứ đó đã tạo nên trí huệ siêu phàm mà
đời này Pythagoras có đủ cả.
Một hôm, Pythagoras đi qua một lò rèn, nghe thấy âm thanh của
búa sắt nện xuống đe, cảm thất rất hay, vô cùng vui tai, từ đó phân biệt ra 3
loại âm hài hòa nhất 4 độ, 5 độ và 8 độ. Ông nghĩ âm thanh khác nhau có khả
năng do trọng lượng búa khác nhau tạo ra, liền cân trọng lượng từng quả búa, đồng
thời trở về nhà đem các độ dài các dây đàn sắp xếp theo tỷ lệ này, thí nghiệm
nhiều lần, ông phát hiện ra giữa các âm giai thực sự có tồn tại quan hệ tỷ lệ số
lượng, rút ra được tỷ lệ giữa các âm độ 8, 5, 4 là 2:1, 3:2, 4:3, do đó đã xác
lập ra học thuyết nguyên lý toán học của âm trình.
Pythagoras cho rằng, bản chất của vạn vật là số, cái đẹp (hài
hòa) là quan hệ số lý tưởng, do đó cái đẹp trong âm nhạc là do sự hài hòa của số
quyết định.
Lý luận siêu huyền (siêu dây) của vật lý hiện đại ý đồ thống
nhất thuyết lượng tử với thuyết tương đối rộng. Lý luận này cho rằng các hạt đều
là những dây cực kỳ nhỏ, tồn tại trong không gian 11 chiều, các hạt khác nhau đối
ứng với tần suất rung động khác nhau của dây, giống như các âm giai khác nhau.
Các nhà vật lý khi giảng giải lý thuyết dây, thường viện dẫn tư tưởng
Pythagoras, cho rằng Pythagoras nhất định sẽ thích lý luận này.
Pythagoras là người đầu tiên cho rằng trái đất hình cầu, và gọi
vũ trụ là Cosmos (Trật tự). Ông cho rằng toàn bộ vũ trụ là thể hệ hài hòa của
các con số và quan hệ của nó. Trật tự vũ trụ ở sự vận động hài hòa của các
thiên thể, của kích thước tinh cầu, độ dài quỹ đạo, tốc độ vận chuyển, khoảng
cách cự ly v.v... Phổ thành một khúc “âm nhạc thiên thể” vĩnh hằng mà hài hòa.
Bí ẩn của âm nhạc là ở sự mô phỏng của con số hài hòa mà thiên thể thể hiện, phản
ánh phép tắc hài hòa của vũ trụ. Pythagoras đem âm nhạc, con số và thiên văn học
hợp thành một, sáng lập nên tư tưởng triết học âm nhạc thiên thể (Musica
universalis), cho rằng, âm nhạc thiên thể là một loại âm nhạc hài hòa vĩnh hằng,
mà âm nhạc nhân gian chỉ là mô phỏng âm nhạc thiên thể.
Pythagoras tự xưng, chỉ có ông mới có thể nghe và hiểu được
âm nhạc thiên thể, đồng thời tạo ra một phương pháp thần bí, khiến cho bản thân
chìm đắm vào trong âm nhạc hài hòa của vũ trụ.
Đến đây, chúng ta vượt thời không trở về thời kỳ tiền sử xa
xôi Phương Đông:
Bà Nữ Oa theo quy luật vận hành của Mặt trời, Mặt trăng và
các vì sao trong vũ trụ, đối ứng tương hợp với nó, sáng tác ra nhạc “Sung nhạc”.
Sau khi phổ ra nhạc vũ, hóa vật vô thanh, khiến vạn vật trong thiên hạ cùng trở
về Đại Đạo, trở nên hài hòa có trật tự.
Lúc này hãy xem, có phải có thể hội khác nhau không? Hai cái
chiếu rọi lẫn nhau, văn minh phương Đông, phương Tây về cao độ của Thần tính và
Đạo, hợp xướng hoàn mỹ, cùng thành tiếng của trời.
Nhạc ban đầu, cơ bản đều là phỏng theo vũ trụ tự nhiên. Như Nữ
Oa phỏng theo vũ trụ sáng tác “Sung nhạc”, vua Nghiêu phỏng theo giới tự nhiên
sáng tác “Đại chương”… Lão Tử nói: Người thuận theo đất, đất thuận theo trời,
trời thuận theo đạo, đạo thuận theo tự nhiên. Đây chính là quá trình đạt được
và nguồn gốc của trí huệ nhân loại.
Ở đây, phép tắc vũ trụ tự nhiên là mô hình lý tưởng hoàn hảo
nhất mà tất cả mọi thứ đều phỏng theo, trở thành tiêu chuẩn của cái đẹp, trở
thành cội nguồn của trí huệ và khả năng của nhân loại.
Từ xưa đến nay nhân loại đều tin rằng, chúng ta là do Thần tạo
ra, vũ trụ tự nhiên cũng do Thần tạo ra, tất cả đều có nguồn gốc từ Thần. Thần ở
trong tất cả những thứ mà các Ngài sáng tạo ra, nơi nào cũng có, đang vô hình
làm chủ tể cả thế giới vũ trụ vận hành.
Đạo gia cho rằng, tất cả mọi thứ trong vũ trụ đều do Đạo tạo
ra, Đạo được kiến lập bởi phép tắc và quy luật bất biến vĩnh hằng của vạn vật
vũ trụ, mà Đạo có nguồn gốc từ trí huệ của Thần.
Nhạc mô phỏng phép tắc của vũ trụ tự nhiên, tức là phỏng theo
Đạo sáng tạo ra vạn vật, phỏng theo trí huệ của Thần, do đó có sức mạnh và dấu ấn
của Thần, có thể ở nền tảng của vạn vật mà quy chính vạn vật, khiến tất cả đồng
hóa Đại Đạo, hòa hợp mà có trật tự.
Trong truyền thuyết phương Đông, khởi đầu văn minh nhân loại,
Thần đã từng hạ thế chuyển sinh thành Thánh nhân, đem trí huệ cấp cho nhân loại,
truyền thụ văn hóa cho nhân loại, bảo hộ nhân loại đi qua thời mông muội bước
vào văn minh. Nhạc cũng sinh ra như vậy, văn minh Trung Hoa cao thâm không thể
dò tìm cũng sinh ra như vậy, do đó được gọi là văn hóa Thần truyền.
Các ngài Toại Nhân, Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông v.v.. đều là những
Thánh nhân do Thần hạ thế, các ngài đã từng tồn tại với trạng thái nửa Thần nửa
nhân, trong lịch sử đã để lại rất nhiều Thần tích, để lại cho dân tộc Trung Hoa
trí huệ cao thâm khôn lường.
Ở phương Tây cũng như vậy, trong Thần thoại cổ Hy Lạp, văn
minh nhân loại đều do Thần sáng tạo và cai quản. Ví dụ văn nghệ do thần Apollo
cai quản, dưới thần Apollo là 9 vị nữ thần Muse cai quản âm nhạc, lịch sử, thơ
ca, kịch, vũ đạo v.v.. Do đó âm nhạc trong tiếng Anh (music) có nguồn gốc từ từ
âm nhạc trong tiếng Hy Lạp cổ (mousike), ý nghĩa là “Nghệ thuật của nữ thần Muse”.
Bất kể phương Đông hay phương Tây, đã từng trong thời gian
dài, người và Thần cùng tồn tại trên Trái đất, đã để lại rất nhiều Thần tích,
đã để lại quá nhiều ẩn đố khó giải, và đem những cái này ẩn chứa trong văn hóa
mà các Ngài đã để lại cho nhân loại, để nhân loại vào thời gian nào đó sau khi
đã bị mê rồi, có thể phát hiện ra tông tích mà các Ngài để lại, từ đó làm thức
tỉnh ký ức ban đầu của nhân loại, lại trở về với vòng tay của Thần.
5. Ca múa chưa hết, ba quân cởi giáp
Nhạc ban đầu căn bản không phải dùng để nhân loại giải trí,
mà dùng để điều tiết tự nhiên, quy chính trật tự vạn vật trong trời đất, nó phỏng
theo trí huệ siêu nhiên của Thần, lấy phép tắc thiên đạo hoàn mỹ làm tiêu chuẩn,
có thể vỗ yên vạn vật, khiến tất cả trở về với đại đạo, hài hòa mà trật tự. Do
đó, nhạc thời kỳ đầu là công cụ giáo hóa nhân tâm quan trọng nhất của xã hội
đương thời.
Tác dụng giáo hóa nhân tâm của nhạc đã có đủ ngay từ ngày đầu
tiên nhạc ra đời, trong quá trình phát triển của lịch sử cũng luôn luôn kéo dài
tác dụng này, chỉ là càng về sau này thì biểu hiện ra càng ẩn kín, càng yếu đi,
mà tác dụng giải trí của nhạc thì trái lại lại trở thành chủ đạo. Đặc biệt sau
thời cận đại, tác dụng giáo hóa này đã bị phá hoại hoàn toàn, dần dần trở thành
công cụ bại hoại đạo đức nhân tâm, phóng túng tình dục.
Nhạc thời kỳ đầu ngoài tác dụng giáo hóa nhân tâm, quy chính
trật tự vạn vật ra, còn có một tác dụng quan trọng nữa, đó là làm công cụ truyền
tin và thực thi chính lệnh.
Có câu nói cổ xưa rằng “Dán cáo thị bốn cổng thành, vẫn có
người không biết chữ”, dùng văn tự truyền tin, ban bố chính lệnh, đây là việc
sau này khi văn tự phổ cập dân gian. Tuy văn tự có từ thời Hoàng Đế, nhưng
không phải mọi người đều có thể tiếp xúc được văn tự, càng không thể mọi người
đều biết chữ. Trước thời Xuân Thu, khi bắt đầu xây dựng các trường học dân
gian, lúc đó chỉ có con em quý tộc mới được tiếp thu giáo dục, biết chữ, bách
tính phổ thông dưới hạng sĩ không thể đọc sách biết chữ. Triều Thương cũng như
vậy, đời Thương ngay cả quý tộc bình thường cũng không biết chữ, chỉ có một số
quý tộc cao cấp, sử quan, thầy bói mới có thể biết chữ, bách tính phổ thông căn
bản không được tiếp xúc với văn tự. Còn trước đó nữa thì người biết chữ càng ít
nữa.
Do đó thời đó con đường chủ yếu để truyền tin, ban hành chính
lệnh căn bản không dựa vào văn tự. Ví dụ khi vua Thuấn tại vị, đã dùng hình thức
đồ họa vẽ năm loại hình pháp lên các đồ dùng hàng ngày để truyền bá pháp luật,
đây là một trong những phương thức truyền bá, nhưng cũng không phải hình thức
chủ yếu nhất. Thời đó, phương thức chủ yếu nhất truyền bá tin tức, thúc đẩy
giáo hóa là nhạc, đây là tác dụng quan trọng của nhạc thời kỳ đầu phát triển.
Trong thời kỳ lịch sử rất lâu dài, quân vương thường phái người
đến dân gian thu thập nhạc dân gian, sau này gọi là “Thái Phong”. Như phần “Quốc
Phong” trong “Kinh Thi” là thu thập từ dân gian, từ “thái phong” cũng từ đây mà
ra, còn có Nhạc phủ đời Hán cũng như vậy. Mục đích quân vương phái người đến
dân gian “thái phong”, không phải vì để giải trí, chủ yếu là dùng để hiểu sự
thay đổi của phong tục dân gian, lắng nghe tiếng lòng của bách tính, thấu hiểu
đời sống của bách tính và nỗi khổ đau của dân gian, để đối chiếu tìm ra các
chính sách mình thi hành đúng hay sai. (15)
Nhạc thời kỳ đó, là kênh quan trọng để quân vương ban bố với
thiên hạ, thúc đẩy giáo hóa, và để hiểu phong khí xã hội, lắng nghe tiếng nói của
người dân. Quân vương đem giáo hóa thiên hại phổ thành nhạc vũ, sau đó thúc đẩy
truyền bá ra thiên hạ, bách tính trong thiên hạ trong khi hát múa đã đồng hóa với
giáo hóa của quân vương, nhuận vật vô thanh (có lợi cho vạn vật mà không cần
nói).
Trong Binh pháp, Tôn Tử cho rằng: “Không đánh mà khuất phục
được quân địch” chính là cảnh giới cao nhất của dụng binh. Tôn Tử muốn nói ở
đây là dùng mưu lược để đạt được mục đích không đánh mà thắng. Nếu ngay cả mưu
lược cũng không cần sử dụng, chỉ trong khi hát múa là khiến quân tướng địch cởi
giáp, các nước man di phương xa thần phục, thì lại là cảnh giới như thế nào?
Vào thời kỳ Ngũ Đế, bộ tộc Tam Miêu thường làm loạn, phá hoại
trật tự xã hội, không phục tùng thống trị, đây luôn là vấn đế khiến xã hội
đương thời đau đầu. Tam Miêu có nguồn gốc từ bộ lạc Cửu Lê của Si Vưu, Si Vưu bị
Hoàng Đế đánh bại chém chết, tàn dư bộ lạc sót lại phát triển thành dân tộc Tam
Miêu sau này, phong thái dân này hung hãn, dã man, thiện chiến, thích làm loạn,
khó thuần phục.
Trong sách “Thượng Thư” có chép: Thời vua Thuấn, Tam Miêu lại
không phục tùng sự thống trị mà lại làm loạn, Thuấn bèn phái Vũ đem quân chinh
phạt. Sau khi thảo phạt một tháng, Tam Miêu vẫn không phục, Vũ cũng hết cách
chinh phục Tam Miêu. Thế là Vũ bèn nghe theo kiến nghị của Bá Ích, ngừng sử dụng
vũ lực, rút quân về triều. Sau khi rút quân trở về, vua Thuấn bèn dốc sức thi
hành giáo hóa, sai người cầm lông vũ, mộc, biểu diễn nhạc vũ ở giữa hai bậc thềm
phía đông và phía tây hoàng cung, để cho thiên hạ thấy. Giáo hóa rất nhanh
chóng thông qua nhạc vũ được truyền bá đi, cũng truyền đến chỗ Tam Miêu. 70
ngày sau, Tam Miêu bị cảm hóa, đến quy thuận, bày tỏ thần phục. (16)
Không chỉ ca múa có thể khuất phục quân địch, người xưa trong
chiến tranh tàn khốc, khi xung phong hãm trận, cũng có thể ca hát mà chiến đấu,
điều này đối với ngày nay mà nói, thì thật là lãng mạn biết bao.
Theo sử sách ghi chép: Khi Võ Vương phạt Trụ quyết chiến nơi
cánh đồng ở Triều Ca, chỉ dẫn theo 300 cỗ binh xa, 4 vạn 5 nghìn binh sĩ, 3
nghìn quân xung phong, mà quân đội của Trụ Vương là 70 vạn người, số lượng khác
nhau một trời một vực.
Đúng lúc 2 bên giao tranh, tiếng trống chấn động trời xanh,
quân đội Võ Vương bước chân theo tiết tấu của nhịp trống, vừa ca múa vừa đánh,
phía trước hát, phía sau múa, nghênh đón đại quân Trụ Vương, “ca hát át quân
Ân”. Trước thế trận như thế này, đại quân triều Thương không biết cảm nghĩ như
thế nào, sử sách có chép, họ lâm trận quay ngược mũi giáo, dẫn quân đội đội Võ
Vương tiến công Triều Ca, khiến Võ Vương nhỏ yếu đã đánh bại triều Thương hùng
mạnh dễ như bẻ cành cây mục, trở thành chúa tể thiên hạ. (17). Sự kiện này đều
được ghi chép trong “Hoa Dương Quốc Chí” và “Bạch Hổ Thông”.
Nhạc thời kỳ đầu do phỏng theo trí huệ của trời đất Thần
linh, nên có thể câu thông Thần, do đó chủ yếu cũng được dùng làm công cụ tế lễ
và câu thông với trời đất Thần linh.
Ví dụ nhạc vũ thời Lục Đại đều dùng để tế lễ, thời gian và
trường hợp khác nhau mà sử dụng nhạc vũ khác nhau, tế lễ đối tượng khác nhau.
“Chu Lễ” có chép: Khi tế lễ, diễn tấu nhạc vũ Lục Đại, diễn tấu
một lượt, thì cảm ứng vời loài chim và Thần sông hồ đến; Diễn tấu hai lượt, thì
cảm ứng vời loài thú lông ngắn và Thần núi rừng đến; Diễn tấu ba lượt, thì cảm ứng
vời loài cá và Thần gò đồi đến; Diễn tấu bốn lượt, thì cảm ứng vời động vật có
lông tơ và Thần bên sông đến; Diễn tấu năm lượt, thì cảm ứng vời động vật giáp
xác và Thần đất đến; Diễn tấu sáu lượt, thì cảm ứng và vời Long Lân Quy Phượng
và Thiên Thần đến. (18).
Và cũng chép: Lấy luật chuông kép là âm cung, dùng đánh trống,
sử dụng trúc độc sinh chế thành nhạc cụ ống, sử dụng cây tốt trên núi mây chế
thành đàn cầm đàn sắt, nhảy điệu múa “Vân môn”, vào ngày đông chí, ở một gò
tròn ngoài đồng phía nam đô thành (Nam giao) cùng diễn tấu, khi diễn tấu đến lượt
thứ sáu, Thiên Thần tới tấp giáng lâm, lúc đó có thể làm lễ tế các Thiên Thần.
(19).
Cũng như vậy, khi diễn tấu khúc “Hàm trì” tế đất, khi diễn tấu
đến lượt thứ tám, thần đất sẽ hiện thân. (20)
Theo những ghi chép này, khi tế lễ thời kỳ đầu triều Chu, diễn
tấu nhạc vũ thực sự có thể cảm ứng vời thần linh giáng thế, đích thân đến nhận
lễ tế, đây cũng là sức mạnh nhạc vũ thời kỳ đầu có thông tới Thần. Nhạc vũ do
có thể thông Thần, giáng Thần, nên đương thời dùng rất nhiều để tế lễ, thế là
phát triển thành múa hầu đồng.
“Đồng cốt” thời thượng cổ không phải là khái niệm ông đồng bà
cốt mà người hiện đại nghĩ đến. “Đồng cốt” mà người hiện đại nhận biết là người
giả thần giả quỷ, theo nghề tà môn oai đạo ở tầng thấp xã hội. “Đồng cốt” thời
kỳ thượng cổ không như vậy, địa vị xã hội của họ rất cao, được mọi người kính
ngưỡng, rất nhiều người đồng thời làm thủ lĩnh bộ lạc. Đồng cốt thời thượng cổ
đại đa số đều có thần thông, có năng lực và trí huệ siêu phàm, có thể câu thông
với Thần, là người nói thay Thần ở chốn nhân gian, đã phát huy tác dụng trọng đại
trong đời sống chính trị của bộ tộc và quốc gia.
Trong “Quốc Ngữ” có chép: Thời viễn cổ chỉ có người có tinh
thần chuyên chú, thông minh trí huệ, quang minh thánh khiết, thuần khiết cao
thượng, thì Thần minh mới giáng xuống thân anh ta, để anh ta trở thành môi giới
câu thông giữa người với Thần, người như thế này, nam gọi là Ông đồng, nữ gọi
là Bà cốt. (21)
Nghi thức mà nhân loại thượng cổ câu thông với thần linh trời
đất, cơ bản là thông qua đồng cốt tiến hành; Mà đồng cốt thì thường thông qua
nhạc vũ làm tải thể để đạt được mục đích câu thông với thần linh trời đất và
giáng thần.
Từ chữ giáp cốt triều Thương để lại, ghi chép về múa hầu đồng
có rất nhiều, đặc biệt là khi tế lễ và cầu mưa, múa hầu đồng dường như không thể
thiếu. Như: “Năm canh dần bói, năm tân mão múa đãi, có mưa. Năm nhâm thìn múa
đãi, có mưa. Năm Canh dần bói, năm quý tỵ múa đãi, có mưa. Năm canh dần bói,
năm giáp ngọ múa đãi, có mưa.” (22)
Ở đây chép “múa đãi”, cũng gọi là “bàn đãi”, là một loại múa
hầu đồng thời thượng cổ nhảy khi cầu mưa. Thời cổ, hễ đại hạn thì nhất định phải
cử hành lễ “Vu tế” để cầu mưa, “vu” là một loại tế lễ cầu mưa thời cổ. Đãi vũ
là múa hầu đồng nhảy khi làm lễ vu tế, bình thường người múa là do đồng cốt đảm
nhiệm, có khi đế vương đích thân làm người múa. Như: “Vua bỗng nhiên múa bàn
đãi” (23), “Năm mậu tý xem thiên văn, vua múa Vũ vũ, may mắn” (24) v.v… là ghi
chép vua Thương đích thân nhảy múa “đãi vũ” và “vũ vũ”.
Về vua Thương cầu mưa, sớm nhất bắt nguồn từ Thương Thang – đế
vương khai quốc triều Thương, trong lịch sử có điển cố nổi tiếng “Thương đảo
tang lâm” (Vua Thang cầu mưa ở rừng dâu).
Tổng hợp các điển tịch ở “Hoài Nam Tử”, “Lã Thị Xuân Thu”,
“Thi Tử” v.v... đều có chép: Thương Thang lật đổ Hạ Kiệt, khi mới lên ngôi,
thiên hạ đại hạn năm năm liên tiếp, không có thu hoạch. Vua Thang lệnh cho sử
quan đốt củi ở ngoại ô, lấy bò, dê, lợn làm vật tế thần, tế lễ Thượng Đế, cầu
xin giáng mưa. Khi vua Thang cầu khấn, tự trách mình, kể ra sáu sai lầm mà ông
có thể đã phạm phải, cầu xin Thượng Đế ban phúc giáng mưa, nhưng không có chút
hiệu quả nào. Đại hạn kéo dài sang năm thứ bảy, dân không có đường sống, vua
Thang lại lập đàn ở Tang Lâm (rừng dâu), tế trời cầu mưa. Sử quan sau khi bốc
quẻ nói, phải dùng người sống làm vật tế Thần, Thượng Đế mới giáng mưa. Vua
Thang nói: Cầu mưa vốn là để vì dân, sao có thể vì thế mà hại dân được? Bèn quyết
định lấy chính mình làm vật tế thần. Ông cắt tóc, móng chân móng tay, tắm gội sạch
sẽ, rồi ngẩng mặt lên trời cầu khẩn rằng: “Chỉ mình con có tội, không thể trừng
phạt muôn dân, nếu muôn dân có tội, đều giáng tội xuống mình con, không được vì
mình con bất tài mà hại đến sinh mệnh bách tính”. Cầu khẩn xong liền ngồi lên đống
củi, đúng lúc đồng cốt sắp châm lửa đốt củi thì mưa lớn bỗng nhiên trút xuống,
kéo dài suốt mấy vạn dặm, bách tính vui sướng, hát ca nhảy múa ca ngợi đại đức
của vua Thang, đó là nguồn gốc của nhạc “Tang lâm”.
Nhạc “Tang lâm” đến thời Chu, vẫn rất thịnh hành. Trang Tử
khi miêu tả Bào Đinh mổ trâu đã nói, đao pháp, động tác, tiết tấu của Bào Đinh
hoàn toàn hợp với nhạc vũ “Tang lâm”, lấy nhạc “Tang lâm” dùng cho mổ trâu, thật
là dùng nhạc vũ sống động, thần kỳ. Không chỉ Bào Đinh như vậy, thời kỳ đó dường
như người người đều như thế này.
Trong “Lễ ký - Ngọc tảo” có nói: “Thời cổ, người quân tử phải
đeo ngọc bội. Ngọc bội bên phải va vào nhau phát ra âm thanh, là âm chủy và âm
giốc, bên trái phát ra âm thanh là âm cung và âm vũ, ngọc bội hai bên trái phải
như thế này, khi đi có thể phát ra tiếng của âm nhạc. Khi đi nhanh phải phù hợp
với nhạc “Thái tề”, khi đi chậm phải phù hợp với nhạc “Tứ hạ”. Đi đường khi
quay người đi phải phù hợp với khuôn phép, thành hình tam giác vuông. Khi tiến
lên, phải hơi cúi người, giống như vái. Khi lùi phải hơi ngửa người, như thế
này, ngọc bội sẽ theo thay đổi tư thế cơ thể mà phát ra âm thanh hài hòa. Người
quân tử khi ngồi xe, có thể nghe được âm thanh của chuông loan, chuông hòa trên
xe, khi đi bộ, nghe được âm thanh ngọc bội đeo bên người tấu lên, do đó tất cả
các tà niệm sẽ không tiến nhập vào trong tâm người quân tử được.” (26)
“Chu lễ – Đại tư nhạc” có chép: Khi thiên tử đi chậm phải hợp
với tiết tấu “Tứ hạ”, khi đi nhanh phải hợp với tiết tấu “Thái tề”, khi ngồi xe
xuất hành cũng như vậy. Quay về phía sau, quay trái quay phải, cúi người hành lễ
v.v.. đều phải hợp với nhịp phách của chuông trống. (27)
Xem các ghi chép này, sẽ làm người hiện đại khó hiểu: đây là
một xã hội si mê âm nhạc làm sao! Nhưng đây chính là miêu tả cuộc sống chân thực
của tổ tiên chúng ta cao quý mà lại điển nhã.
Con em quý tộc triều Chu từ 13 tuổi bắt đầu học “Lục tiểu vũ”
(6 bài múa nhỏ), 15 tuổi phải học “Tượng vũ”, 20 tuổi phải học “Lục đại vũ”, những
bài múa này nếu không học được thì không cách gì bước chân vào xã hội được.
Thời kỳ đó, trên đến Thiên tử, dưới đến bách tính bình dân,
lúc nào cũng đắm chìm trong nhạc, nơi nơi đều không rời xa nhạc, cả xã hội và
quốc gia đều hình thành không khí kỳ diệu do nhạc cấu thành, là một thế giới nhạc.
Chú thích:
(15) “Xuân thu Công Dương truyện”: “Từ tháng 10 đến tháng
giêng, … nam 60 tuổi, nữ 50 tuổi mà không có con trai, quan cấp quần áo và
lương thực, khiến dân gian cầu thơ”. “Do đó bậc vương giả không ra khỏi cửa, vẫn
biết hết cái khổ trong thiên hạ”
“Hán thư – Nghệ văn chí”: “Xưa có quan thu thập thơ, bậc
vương giả do đó xem phong tục, biết thành công hay thất bại, tự xem xét để cải
chính”
(16) “Thượng thư – Đại Vũ mô”: Tam tuần (30 ngày), dân Miêu
trái mệnh… Rút quân, vua bèn thi hành rộng rãi văn đức, múa can vũ ở hai bên thềm.
Thất tuần (70 ngày), người Miêu cảm phục.
(17) “Hoa Dương quốc chí”: “Chu Võ Vương phạt Trụ, được quân
của đất Ba, Thục, viết ở sách “Thượng thư”. Quân đất Ba anh dũng tinh nhuệ, múa
hát lấn át quân Ân, quân tiên phong Ân quay ngược dáo. Do đó người đời gọi là
“Võ Vương phạt Trụ, tiền ca hậu vũ”.
“Bạch Hổ thông – Lễ nhạc” có chép: “Võ Vương khởi binh, quân
đi trước hát, quân đi sau múa, sau khi đánh bại nhà Ân, nhân dân rất vui mừng”.
(18) “Chu lễ – Đại tư nhạc”: Lục nhạc (6 lượt tấu nhạc), lượt
thứ nhất, các loài chim và thần sông hồ đến. Lượt nữa, các loài thú và thần núi
rừng đến, lượt 3, các loài cá và thần gò đồi đến, lượt 4, thú lông mao và thần
đất cao đến, lượt 5, động vật giáp xác và thần đất đến, lượt 6, tượng vật và
thiên thần đến.
(19) “Chu lễ – Đại tư nhạc”: Chuông tròn làm cung, chuông
vàng làm giốc, trúc lớn làm chủy, cô tẩy làm vũ, tấu trống lớn trống nhỏ, sáo
cô trúc, đàn cầm sắc vân hòa, múa khúc “Vân môn”; đến đông chí, trên gò đất
tròn tấu nhạc, nếu tấu 6 lượt, thì thiên thần đều giáng trần, có thể hành lễ với
thần.
(20) “Chu lễ – Đại tư nhạc”: Chuông hàm làm cung, trúc lớn
làm giốc, cô tẩy làm chủy, nam lữ làm vũ, tấu trống lớn trống nhỏ, sáo tôn
trúc, đàn cầm sắt không tang, múa khúc “Hàm trì”; Ngày hạ chí, tấu ở gò đất giữa
đầm, nếu tấu 6 lượt, thì thần đất đều xuất hiện, có thể hành lễ với thần.
(21) “Quốc ngữ”: Xưa người và Thần không lẫn tạp. Người tinh
thông chuyên nhất, lại chỉnh tề đoan chính nghiêm túc, trí tuệ nghĩa khí cao,
thánh khiết tỏa sáng, sáng suốt chiếu ngời, thông minh nghe thấu triệt, như thế
thì thần minh sẽ giáng xuống người đó, nam gọi là Ông đồng, nữ gọi là Bà cốt.
(22): Xem “Ân khư văn tự giáp biên” 3069
(23) xem “Ân khư văn tự giáp biên” 4.16.6
(24) xem “Ân khư văn tự giáp biên” 60.20.4
(25) “Hoài Nam Tử – Chủ thuật huấn”: Thương sử có ghi, thời
Thành Thang, nhiều năm đại hạn. Thái sử xem chiêm tinh, nói: “Phải lấy người tế”.
Thang nói: “Sở dĩ ta cầu mưa, là vì người dân. Nếu buộc phải dùng người tế, ta
sẽ làm người tế”. Rồi chay giới, cắt tóc, cắt móng chân tay, ngồi xe trắng ngựa
trắng, mặc đồ bằng cỏ trắng, để làm vật tế thần, tế ở cánh đồng Tang Lâm. Tự
trách mình 6 việc là: “Triều chính không tiết kiệm ư? Dân không nghề kiếm sống
ư? Cung thất xa hoa ư? Hầu nữ nhiều quá ư? Quà cáp hoành hành ư? Nịnh thần lộng
hành ư?”. Nói chưa dứt, mưa lớn mấy nghìn dặm.
“Quản Tử – Khinh trọng thiên”: “Thời vua Thang 7 năm hạn hán,
dân có người không có lương thực phải bán con”.
“Lã Thị xuân thu - Thuận dân”: Xưa vua Thanh đánh bại nhà Hạ
lên nắm thiên hạ, trời đại hạn, 5 năm không có thu hoạch, vua Thang lấy thân
mình làm lễ tế thần ở Tang Lâm, nói: “Mình con có tội, không liên quan đến muôn
dân. Muôn dân có tội, hãy giáng xuống mình con. Xin đừng vì mình con ngu dốt
khiến Thượng Đế quỷ thần hại sinh mệnh muôn dân”. Thế là cắt tóc, cắt móng tay
móng chân, lấy thân mình làm vật tế thần, để cầu xin Thượng Đế, dân rất vui,
mưa rất lớn. Vua Thang đã cảm động quỷ thần, truyền thế chuyện này.
“Thi Tử” có chép: “Vua Thang cứu hạn, ngồi xe trắng ngựa trắng,
mặc áo vải, khoác cỏ trắng, lấy thân mình làm vật tế thần, tế lễ ở Tang Lâm.”
(26) “Lễ ký – Ngọc tảo”: “Xưa người quân tử phải đeo ngọc. Bên
phải có chủy giốc, bên trái có cung vũ. Đi nhanh theo nhạc “Thái tề”, đi chậm
theo nhạc “Tứ hạ”, xoay người phải hợp với phép tắc, cúi người phải hợp với
phép tắc. Lại gần thì khom người, lùi ra thì vươn người, thế thì ngọc kêu leng
keng. Người quân tử khi ngồi xe, có thể nghe được âm thanh của chuông loan,
chuông hòa trên xe, khi đi bộ, nghe được âm thanh ngọc bội đeo bên người tấu
lên, do đó tất cả các tà niệm sẽ không tiến nhập vào trong tâm người quân tử được.”
(27) “Chu lễ – Đại tư nhạc”: Dạy nghi lễ nhạc, đi chậm theo
nhạc Tứ hạ, đi nhanh theo nhạc Thái tề, ngồi xe cũng thế. Bái theo tiết tấu
chuông trống.
7. Đồng cốt hưng thịnh, Thần tích mai một
Sở dĩ nhạc vũ thời kỳ đầu có năng lượng to lớn như thế này,
có thể trực tiếp câu thông với Thần, có một nguyên nhân quan trọng, đó là nhân
loại thời đó tư tưởng thuần tịnh, tâm thành ý thiện, không có dục vọng và chấp
trước gì, đơn thuần lại đơn giản, do đó có thể phát huy năng lượng của nhạc đến
cực đỉnh.
Dần dần, cùng với sự phát triển của văn minh vật chất, dục vọng
của nhân loại biến đổi ngày càng lớn lên, tâm hồn không còn giản đơn thuần khiết
nữa, cái tâm con người trong xã hội cũng bắt đầu trở lên phức tạp và dơ bẩn. Thế
là con người bắt đầu truy cầu hưởng thụ nhục dục, chạy theo lợi ích vật chất,
năng lượng tinh thần càng ngày càng yếu, càng ngày càng dời xa Thần, đi ngược với
tự nhiên và Đại Đạo, Thần dần dần ẩn giấu tung tích.
Sách “Thượng thư – Y huấn” có viết: Y Doãn dạy bảo Thái Giáp,
nói rằng tiên vương Thương Thang đã từng khuyên răn quan lại: “Rồi đến lúc
không quản ngày đêm trong cung thường xuyên nhảy múa, trong phòng phóng túng
hát ca, gọi là phong khí đồng cốt… vua mà nhiễm phong khí đồng cốt này, quốc
gia ắt sẽ diệt vong.” (28)
Chi chép này nói rõ, nhạc thời kỳ đầu đã từ chức năng giáo
hóa bách tính, cảm ứng Trời, câu thông Thần, dần dần diễn biến thành dùng để
cho con người giải trí, hưởng thụ, khi nhạc hoàn toàn sa vào công cụ để con người
phóng túng, giải trí, thì sẽ hình thành phong khí tà dâm, phong khí này được gọi
là “Phong khí đồng cốt”, nó sẽ làm bại hoại phong khí quốc gia, làm đạo đức xã
hội sa đọa.
Sách “Quản Tử – Khinh trọng giáp” viết: “Trước kia thời Hạ Kiệt,
trong cung có nuôi ba vạn nữ nhạc, sáng sớm mỗi ngày hát ở cửa Đoan Môn, tiếng hát
múa vang xa, người đi đường đều nghe thấy, bọn nữ nhạc đều ăn mặc xa hoa.” (29)
Có thể thấy, vào cuối thời nhà Hạ “Phong khí đồng cốt” đã rất
thịnh rồi. Khi nhạc vũ sa đọa thành công cụ để con người phóng túng hưởng lạc,
thì chức năng câu thông với Thần của nhạc dần dần bị mất đi trong lịch sử, năng
lượng thần kỳ đằng sau nhạc cũng ngày càng suy yếu.
“Nhạc ký” là trước tác luận về âm nhạc sớm nhất, có ảnh hưởng
lớn nhất hiện còn lưu lại, được thu lục trong “Lễ ký”, trở thành kinh điển Nho
gia. Trong “Sử ký” của Tư Mã Thiên cũng có thu lục, nhưng có chỗ khác biệt nhỏ,
tên là “Nhạc thư”.
Trong “Nhạc ký” viết: “Tác dụng của nhạc là dùng để quy chính
nhân tâm (30), bất kể là nhạc long trọng như thế nào, đều không phải là để con
người thỏa thích hưởng thụ âm thanh, tình cảm; bất kể là lễ tiệc lớn như thế
nào, đều không phải là để con người thỏa thích ham dục vị giác. Ví dụ, đàn sắt
dùng để diễn tấu khúc nhạc “Thanh miếu”, phía trên là dây tơ màu hồng, phía dưới
là những lỗ lưa thưa, một người hát, ba người hòa theo, mục đích của nó rõ ràng
không phải là để truy cầu vui tai, nhưng nội hàm sâu xa. Còn như lễ tiệc lớn, lấy
nước thay rượu, trên mâm chỉ để thịt sống cá sống, nước ép thịt, cũng không cho
thêm bất cứ gia vị gì, mục đích của nó rõ ràng cũng không phải truy cầu ăn
ngon, nhưng có ý nghĩa trọng đại. Từ đó có thể thấy, các tiên thánh vương cổ đại
đặt lễ chế nhạc, mục đích không phải để thỏa mãn hưởng thụ khoái cảm của tai mắt
miệng của con người, mà là để giáo hóa nhân dân thanh tâm quả dục, trở về với Đại
Đạo tự nhiên.” (31)
Thiên tính của con người là điềm tĩnh, yên ổn, hậu thiên bị
ngoại vật cám dỗ mà xao động không yên phận, đây là bản tính con người bị dẫn dụ
mà sinh ra dục vọng. Con người trong quá trình cảm nhận ngoại vật, sẽ sinh ra
hai loại tình cảm yêu thích hoặc chán ghét. Nếu cái yêu ghét của con người mà
không được tiết chế từ nội tâm, mà ngoại vật lại không ngừng cám dỗ con người,
lúc này nếu không phản tỉnh lại bản thân, thiên tính của con người sẽ dần dần mất
đi. Cám dỗ của sự vật thế giới bên ngoài là vô cùng vô tận, mà lòng người lại
không biết tiết chế, vật chất đó sẽ khiến lòng người phục tùng nó. Lòng người bị
vật chất chinh phục, thì sẽ tuyệt diệt thiên tính, phóng túng dục vọng. Khi con
người đến bước này, thì sẽ nảy sinh cái tâm ngỗ nghịch làm loạn, lừa bịp giả dối,
thì sẽ làm các việc phóng đãng dâm loạn. Cho đến kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, lấy
đông chèn ép ít, kẻ thông minh lừa bịp người thật thà, kẻ dũng mãnh dập vùi người
nhút nhát, khiến người có bệnh không được chăm sóc, cô nhi quả lão không được
chăm sóc, đây chính là cái đạo đại loạn.” (32).
“Nhạc là để cho con người vui vẻ. Nhưng vui vẻ mà người quân
tử có được là vì dùng nhạc để đồng hóa với Đại Đạo, vui vẻ mà kẻ tiểu nhân có
được là dùng nhạc để thỏa mãn ham muốn của con người. Dùng thiên đạo để tiết chế
tư dục, thì sẽ có được niềm vui chân chính mà không mê loạn; Phóng túng tư dục
mà xa rời thiên đạo, thì sẽ mê mất tâm trí sẽ không có được niềm vui chân
chính.” (33)
“Nghe âm thanh gian tà, khí tà loạn trên thân người sẽ bị
đánh thức, tà khí thành khí hậu, nhạc dâm dật sẽ trở thành thời thượng. Nghe âm
thanh thuần chính, chính khí trên thân người sẽ hưởng ứng với nhạc, chính khí
thành khí hậu, hòa nhạc sẽ thịnh hành…” (34)
Trên đây là luận thuật trong “Nhạc ký”, căn cứ theo tiêu chuẩn
này, âm nhạc, vũ đạo thịnh hành của người hiện đại, về cơ bản đại đa số đều thuộc
phạm vi “nhạc dâm dật”, có tác hại làm bại hoại đạo đức xã hội, do đó hoàn toàn
không có Thần tích. Ngoài ra, trong “Nhạc thư” còn chép câu chuyện lịch sử sau:
Thời Xuân Thu, một lần Vệ Linh Công đến nước Tấn thăm Tấn
Bình Công. Buổi tối, họ ở trong một khách xá thượng đẳng bên bờ sông Bộc Thủy.
Vào lúc nửa đêm, Vệ Linh Công đột nhiên nghe thấy âm thanh đánh đàn, liền hỏi mọi
người ở bên có nghe thấy không, mọi người nói không nghe thấy gì cả. Vệ Linh
Công bèn triệu Sư Quyên nói: “Ta nghe thấy tiếng đàn, nhưng hỏi mọi người xung
quanh, đều nói không nghe thấy, xem ra có lẽ là âm thanh của quỷ thần, ta thuật
lại âm thanh ta nghe thấy cho khanh, khanh hãy ghi lại”. Thế là Vệ Linh Công vừa
thuật lại, Sư Quyên đem đàn ra, ghi lại theo miêu tả của Vệ Linh Công, đến khi
trời sáng mới ghi lại xong. Sau khi ghi lại xong, Sư Quyên lại luyện tập mấy
ngày, luyện tập thành thạo rồi, họ mới đi gặp Tấn Bình Công.
Sau khí đến nước Tấn, Tấn Bình Công mở tiệc rượu khoản đãi họ.
Uống rượu đúng lúc đang vui thích, Vệ Linh Công bèn xin được đem khúc nhạc nghe
được trên đường đàn cho Tấn Bình Công nghe để góp vui. Tấn Bình Công rất vui,
bèn lệnh cho Sư Quyên ngồi bên Sư Khoáng chơi đàn. Sư Quyên là nhạc sư của Vệ
Linh Công, mà Sư Khoáng là nhạc sư của Tấn Bình Công. Khúc nhạc của Sư Quyên vẫn
chưa đàn xong, Sư Khoáng bèn vội vàng ngăn lại, ông nói: “Đây là âm thanh vong
quốc, không được chơi nữa.”
Tấn Bình Công bèn hỏi Sư Khoáng tại sao nói vậy. Sư Khoáng
nói: “Khúc đàn cầm này là Sư Diên trước đây sáng tác cho Trụ Vương, sau khi Võ
Vương đánh Trụ, Sư Diên chạy chốn về phía đông, cuối cùng nhảy xuống sông Bộc
Thủy, khúc nhạc này chắc chắn là nghe được ở trên sông Bộc Thủy, người nào nghe
thấy khúc đàn cầm này trước thì quốc gia sẽ suy bại.” Nhưng Tấn Bình Công chẳng
để ý, vẫn cứ để Sư Quyên chơi tiếp.
Sau khi nghe, Tấn Bình Công ý còn chưa dứt, bèn hỏi Sư
Khoáng: “Trên thế giới này có lẽ không có âm nhạc nào bi thương hơn khúc nhạc
này phải không?” Sư Khoáng nói: “Có.” Tấn Bình Công hỏi Sư Khoáng có thể chơi
khúc nhạc đó nghe được không. Sư Khoáng nói: “Đức hạnh của bệ hạ không đủ,
không thể nghe khúc nhạc này.” Tấn Bình Công vẫn khăng khăng ép Sư Khoáng đàn tấu,
Sư Khoáng không còn cách nào khác đành phải tấu lên. Vừa mới chơi được một đoạn,
liền có 16 con hạc tiên từ trên trời bay xuống, tụ tập trước hành lang; Khi đàn
đoạn thứ hai, những con hạc tiên này vươn cổ ra kêu, còn đập đập cánh theo tiếng
đàn nhảy múa.
Tấn Bình Công vui lắm, đứng dậy chúc rượu Sư Khoáng, sau đó lại
hỏi Sư Khoáng: “Có lẽ không có khúc nhạc nào bi thương hơn khúc vừa rồi nhỉ?”
Sư Khoáng nói: “Có, xưa kia, lúc Hoàng Đế triệu tập quỷ Thần đã đàn tấu khúc
“Thanh giác”, còn bi thương hơn khúc này, nhưng bệ hạ đức mỏng quá, không xứng
được nghe khúc nhạc này, nếu không sẽ gây ra tai họa bại vong.” Tấn Bình Công
nói: “Ta đã tuổi cao ngần này rồi, còn để ý đến bại vong nữa sao? Ta chỉ thích
âm nhạc hay, chỉ muốn được nghe bản nhạc đó.” Sư Khoáng không còn cách nào
khác, lại đàn tấu lên. Đàn hết một đoạn, thì có mây trắng từ phương tây ùn ùn
kéo đến; Lại đàn đoạn thứ hai, mưa to gió lốc mù mịt đất trời, ngói trên mái
nhà đều bị tốc mái bay hết, mọi người xung quanh sợ quá chạy tán loạn, Tấn Bình
Công cũng sợ quá bò trên sàn nhà. Sau đó, nước Tấn liền bị đại hạn 3 năm, cọng
cỏ cũng không mọc được.
Trong “Vương Tử niên thập di ký” còn ghi chép câu chuyện của
Sư Diên: Sư Diên là nhạc sư của triều Thương, nhưng người này thần bí khôn lường,
không ai có thể hiểu được ông ta. Ông ta đã từng là nhạc quan thời Hoàng Đế,
cũng đã từng là nhạc quan triều Hạ, có thể dự đoán các quốc gia hưng suy tồn
vong qua tiếng nhạc của các nước, triều Thương sắp hưng thịnh, liền ôm nhạc cụ
đến phụng sự Thương Thang. Nhưng đến thời Trụ Vương, do Trụ Vương chìm đắm trong
thanh sắc, nên đã nhốt giam Sư Diên ở trong âm cung, chuẩn bị dùng hình phạt nướng
chết. Sư Diên ở trong âm cung đàn tấu lên âm nhạc cao nhã, ngục tốt coi tù liền
bực mình nói: “Đây là những khúc nhạc cổ lỗ từ xưa rồi, không phải là nhạc mà
chúng tôi thích nghe.” Thế là Sư Diên lại đàn âm nhạc dâm mê, diễn tả hoan lạc
thâu đêm, bọn coi ngục nghe, thần hồn nổi sóng, mê mất tâm trí, Sư Diên bèn thừa
cơ trốn thoát. Trên đường chạy trốn, Sư Diên nghe nói Chu Võ Vương muốn xuất
binh đánh Trụ, thế là ông ta trong khi đi qua sông Bộc Thủy trầm mình xuống
sông mất tích. (35)
8. Thẩm nhạc biết chính sự, biết trước họa phúc.
Trong “Nhạc ký” ghi chép: “Xem xét âm nhạc một quốc gia, có
thể biết trạng thái chính trị của quốc gia đó, cũng có thể từ đó biết được nên
nên trị sửa thế nào.” (36)
“Nhạc thái bình thịnh thế, an tường lại vui vẻ, quốc gia đó
nhất định chính trị thông đạt, con người hài hòa; Nhạc loạn thế, chứa đầy ai
oán và phẫn nộ, quốc gia đó nhất định thực hiện các chính sách ngược lòng người
trái đạo trời; Nhạc vong quốc, chứa đầy bi ai và ưu tư, bách tính sẽ rơi vào khốn
cảnh tuyệt vọng. Đạo âm thanh, là tương thông với chính trị. Trong ngũ âm, âm
cung đại diện cho quân vương, âm thương đại diện cho bề tôi, âm giốc là dân, âm
chủy là sự việc, âm vũ là vật. Quân, thần, dân, sự, vật năm cái này không loạn,
thì sẽ không có âm thanh không hài hòa. Nếu âm cung loạn, thì tiếng nhạc hoang
loạn, quân vương quốc gia này nhất định ngạo mạn phóng túng vô độ; Âm thương loạn,
thì tiếng nhạc khuynh loát, biểu thị quan lại quốc gia này bại hoại; Thanh giốc
loạn, thì tiếng nhạc ưu thương, bách tính ắt oán hận nhiều; Âm chủy loạn, thì
tiếng nhạc bi ai, quốc gia ắt nhiều sự việc không yên ổn; Tiếng vũ loạn, thì
khúc điệu khuynh nguy, biểu thị quốc gia này tài vật kiệt quệ. Nếu cả 5 âm
thanh đều loạn, xâm lăng lẫn nhau, thì gọi là khinh mạn. Quốc gia này cách diệt
vong chẳng còn bao xa nữa”. (37)
Từ đó có thể thấy, nhạc còn có thể dùng để dự đoán hưng suy tồn
vong, họa phúc của một quốc gia, đây cũng là tách ra từ chức năng trị quốc của
nhạc mà ra.
Trong “Thần tiên thập di” và “Tùy thư – Vạn Bảo Thường truyện”
có ghi chép: Vạn Bảo Thường thiên chất thông minh, có tài năng âm nhạc thiên bẩm.
Có một lần tình cờ được Thần tiên điểm hóa, truyền thụ cho ông phép diễn tấu
bát âm sắp bị thất truyền, còn dạy cho ông âm nhạc của các triều đại, đồng thời
sửa lại những chỗ sai lầm trong các khúc nhạc. Vạn Bảo Thường được Tiên nhân
truyền thụ, từ đó tinh thông tất cả các loại âm nhạc ở nhân gian.
Năm Khai Hoàng thứ nhất, Tùy Văn Đế lệnh cho Bái quốc công Trịnh
Dịch thẩm định nhạc luật. Sau này Văn Đế triệu kiến Vạn Bảo Thường, hỏi ông những
âm nhạc mà Trịnh Dịch tu sửa có được không. Bảo Thường nói, đó là âm nhạc vong
quốc, giai điệu ai oán dâm dật phóng túng, không phải là âm thanh chính phái
cao nhã, đồng thời ra sức phản đối sử dụng loại âm nhạc này, xin được dùng thước
nước làm thước luật, để điều chỉnh thanh điệu nhạc cụ. Vạn Bảo Thường cũng sáng
tạo ra khúc nhạc mới, nhưng khúc nhạc mới điển nhã, êm đềm, không được người
đương thời yêu thích, các quan lễ nhạc thái thường đại đa số đều bài xích, phỉ
báng nó.
Vạn Bảo Thường đã từng nghe nhạc khúc Thái Thường tự diễn tấu,
nghe xong, rơi lệ khóc. Mọi người hỏi tại sao khóc, Vạn Bảo Thường nói: “Tiếng
nhạc này bạo ngược lại bi ai, báo trước thiên hại sắp tới sẽ tự tàn sát lẫn
nhau, hơn nữa con người cũng sẽ bị giết gần hết.” Lúc đó triều Tùy đang ở thời
kỳ toàn thịnh, tất cả mọi người đối với lời nói của Vạn Bảo Thường, đều không
cho là đúng. Không lâu sau, đến năm Đại Nghiệp Tùy Dạng Đế thứ 14, thiên tai họa
loạn nổi lên khắp nơi, cuối cùng đã ứng nghiệm dự ngôn của Vạn Bảo Thường.
Sách “Thông điển” có chép: Trước khi Tùy Dạng Đế tuần du
Giang Đô, con trai của nhạc công Vương Lệnh Ngôn từ trong cung trở về nhà, ở
bên ngoài nhà dùng đàn tỳ bà đàn khúc “An công tử”. Vương Lệnh Ngôn nghe thấy
nét mặt bỗng biến sắc, trong lòng kinh hãi, vội vàng khuyên răn con trai rằng:
“Con không nên phò giá đi Giang Đô, khúc nhạc này không có tiếng cung, cung đại
diện cho quân chủ, hoàng thượng khẳng định sẽ không trở về.” Sau đó, Tùy Dạng Đế
quả nhiên bị giết chết ở Giang Đô.
Sách “Đường Ngữ lâm” có chép: Năm Khai Nguyên cuối triều Đường,
đô đốc phủ Tây Lương dâng lên khúc nhạc mới, Đường Huyền Tông bèn chiêu đãi các
vương thưởng thức. Sau khi khúc nhạc kết thúc, mọi người đều chúc mừng tới tấp,
duy có anh trai Đường Huyền Tông là Ninh Vương lặng câm không nói. Huyền Tông hỏi
duyên cớ, Ninh Vương trả lời rằng: Khúc nhạc này tuy hay, nhưng hạ thần nghe
nói, một khúc nhạc bắt đầu bằng âm cung, kết thúc bằng âm thương, ở giữa là các
âm giốc, chủy, vũ tổ hợp thành, đầu, đuôi đều phải đối ứng cung, thương. Khúc
nhạc này, bắt đầu đã rời khỏi điệu cung, ở giữa cũng rất ít dùng âm chủy, mà điệu
thương dùng rất tạp loạn, hơn nữa lại có thế tăng cường. Hạ thần lại nghe nói,
trong ngũ âm, cung đại diện cho vua, thương đại diện cho bề tôi, điệu cung
không cường thịnh thì thế lực của vua nhỏ yếu, điệu thương quá mạnh thì bề tôi
có dấu hiệu làm loạn phạm thượng. Sự tình hiện hình ở trong âm luật, gieo rắc
trong lời ca, mà thấy ở việc con người. Hạ thần sợ rằng có một ngày sẽ có cái họa
loạn thần làm loạn ép vua, e rằng bệ hạ có cái nạn lưu lạc, đều được dự báo ở
trong khúc nhạc này rồi”.
Hoàng đế Huyền Tông tinh thông âm luật nghe xong trầm ngâm
không nói. Sau này, khi loạn An Sử xảy ra, Huyền Tông cuống quýt chạy trốn khỏi
Trường An, toàn quốc hỗn loạn, lúc đó mới chứng thực khả năng dự đoán qua âm nhạc
của Ninh Vương.
9. Thần vũ chín tầng trời, lưu lại nhạc thiều chốn nhân gian
Nhạc vũ Trung Hoa trải qua mấy nghìn năm diễn biến phát triển,
phần vũ đạo của nó cuối cùng phát triển thành múa cổ điển Trung Quốc ngày nay.
Múa cổ điển Trung Quốc, có lịch sử lâu đời, nội hàm bác đại
tinh thâm, trải qua 5.000 năm phát triển và rèn luyện, đã phát triển thành một
thể hệ vũ đạo cực kỳ hoàn mỹ, mà các vũ đạo khác của nhân loại không thể nào vượt
qua được. Nó dung hợp nhiều nguyên tố trong tiến trình phát triển mấy nghìn năm
của Trung Hoa như vũ đạo cung đình, vũ đạo dân gian, hý kịch, tạp kỹ, võ thuật
v.v.. Trải qua tôi luyện và trầm lắng của văn hóa các triều đại, mà không ngừng
phong phú, hoàn thiện, mới trở thành hình dáng ngày nay.
Ngoài nhạc vũ thượng cổ giới thiệu ở trên ra, múa cổ điển
Trung Quốc trong quá trình phát triển qua các triều đại sau đời Tần Hán, đều để
lại rất nhiều kinh điển tuyệt thế. Như “Bàn Cổ vũ”, “Bạch trữ vũ”, “Kiếm khí
vũ”, “Thạch chi vũ”, “Hồ toàn vũ”, “Hồ đằng vũ”, “Xuân oanh chuyển”, “Lục yêu”,
“Tần Vương phá trận nhạc”, “Nghê thường vũ y vũ”, “Thập lục thiên ma vũ”, “Quán
Âm vũ” v.v.. Khiến người ta tán thưởng quá ư hoàn mỹ.
Nhưng múa cổ điển Trung Quốc thần kỳ hoàn mỹ như thế này, ở
Trung Quốc hiện đại lại bị phá hoại không còn nhận ra được nữa, không ra cái giống
gì cả. Ngày nay, ở Trung Quốc Đại Lục căn bản không còn được xem múa cổ điển
Trung Quốc chính tông, họ đã phá hoại thể hệ hoàn mỹ này đã hình thành trải qua
mấy nghìn năm của múa cổ điển Trung Quốc, đã trộn lẫn với nhiều nguyên tố ngoại
lai như múa ba lê, múa hiện đại, nhảy Jazz v.v.. đã trở hỗn tạp và biến dị,
hoàn toàn đã mất đi cách điệu cao nhã, thuần chính mà bình hòa của múa cổ điển
Trung Quốc, không cách nào khiến người ta cảm nhận được cái đẹp của văn hóa
Trung Hoa thuần chính.
Thế giới nhân loại ngày nay, duy chỉ có đoàn nghệ thuật Thần
Vận kế thừa múa cổ điển Trung Quốc thuần chính nhất. Có thể nói không khách khí
rằng, nó là người kế thừa chính thống và tập đại thành duy nhất của múa cổ điển
Trung Quốc ngày nay. Do đó nếu muốn thưởng thức biểu diễn múa cổ điển Trung Quốc
thuần chính nhất mà không ô nhiễm, thế thì phải đi xem các buổi lưu diễn của
đoàn nghệ thuật Thần Vận.
Đoàn nghệ thuật Thần Vận thành lập năm 2006 ở New York, tôn
chỉ nhằm phục hưng văn hóa truyền thống chân chính, phục hưng múa cổ điển Trung
Quốc thuần chính. Trong 10 năm, đoàn nghệ thuật Thần Vận đã giành được thành
công lớn, khiến mọi người có được nhận thức hoàn toàn mới về nghệ thuật truyền
thống Trung Quốc. Tôi cũng đã từng may mắn được thưởng thức biểu diễn Thần Vận,
rung động mà nó đem lại cho người ta thì không thể diễn tả bằng lời được, thậm
chí trong mấy ngày sau khi thưởng thức buổi trình diễn, trước mắt vẫn hiện lên
hình tượng của các diễn viên vũ đạo Thần Vận, bên tai vẫn văng vẳng những âm
thanh cao nhã tiếng của trời hoàn mỹ mà thuần tịnh, khiến người ta không khỏi
có ảo giác, thân ở nhân gian mà thần tại tiên cảnh. Trình diễn thuần chính của
Thần Vận, khiến tôi tìm được dấu tích của Thần đã mất mấy nghìn năm nay.
Trang phục dân tộc Hán thuần chính đầy màu sắc rực rỡ, đẹp
không thể tả đó. Cách hát âm thanh mỹ diệu cổ đã bị thất truyền đó, âm cao hoàn
mỹ phát ra bởi cộng hưởng đặc thù của thân thể; Thân pháp, thân vận của múa cổ
điển Trung Quốc thuần chính truyền thần đó; Sự kết hợp hoàn mỹ của vũ đạo với
phông nền động 3D sáng tạo độc nhất toàn cầu, làm người xem cảm thấy như chính
mình ở đó, đem diễn viên vũ đạo, khán giả và cảnh tiên 3D hợp thành nhất thể,
khiến người ta không thể phân biệt cái nào là cảnh thật cái nào là cảnh ảo,
quên mất mình đang ở đâu; Diễn dịch vượt thời không đưa sân khấu lớn của nhân
gian cô đọng lại trên sân khấu nhỏ này, diễn dịch văn hóa Thần truyền thuần
chính 5.000 năm của Trung Hoa, khiến người xem không biết đêm nay là đêm năm
nào…
Đoàn nghệ thuật Thần Vận từ ngày thành lập, liền dần dần làm
thế giới chú ý, trở thành đệ nhất thế giới. Họ hàng năm đều lưu diễn khắp nơi
trên thế giới, dấu chân đã đặt lên hầu như tất cả các nhà hát đẳng cấp nhất của
các nước lớn trên thế giới, trừ Trung Quốc Đại Lục. Vì sự đố kỵ và sợ hãi của Trung Cộng, khiến cho đoàn nghệ thuật Thần
Vận đến nay vẫn chưa thể đặt chân lên nơi khởi nguồn của múa cổ điển Trung Quốc,
điều này khiến cho người ta không thể hiểu nổi và cảm thấy đáng tiếc.
Cũng không nói nhiều nữa, nói nhiều, thì có thể trở thành nói
suông, bàn thân tôi thực sự bị xúc động sâu sắc và bị chinh phục bởi diễn xuất
đầy kỳ tích của Thần Vận, đã để tôi được chứng kiến cái huyền diệu và thần kỳ của
nền văn hóa Thần truyền Trung Hoa chân chính, do đó để kết thúc bài viết, chỉ
thêm một câu. Chỉ có đích thân xem qua, đích thân thể nghiệm, thì mới thực sự
hiểu rõ.
Tư liệu văn hiến tham khảo:
Mao thi tự
Thế bản
Lã Thị xuân thu
Chu lễ
Sử ký
Hàn Phi Tử
Xuân thu vỹ
Thượng thư
Đế vương thế kỷ
Luận Ngữ
Tuân Tử
Hoàng Đế nội kinh
Sử thi Homes
Thần thoại Hy Lạp
Xuân thu Công Dương truyện
Hán thư
Hoa Dương quốc chí
Bạch Hổ thông
Lễ ký
Quốc ngữ
Ân khư văn tự giáp biên
Ân khư thư khế tiền biên
Hoài Nam Tử
Quản Tử
Thi Tử
Thái bình quảng ký
Tùy thư
Thần tiên thập di
Thông điển
Đường ngữ lâm
Chú thích:
(28) “Thượng thư - Y huấn”: “Chế ra “Quan hình”, răn dạy các
quan. Rằng: Rồi có ngày thường múa trong cung, say sưa hát trong phòng, đó gọi
là phong khí đồng cốt…. Vua có phong khí này, nước ắt sẽ mất…”
(29) “Quản Tử – Khinh trọng giáp”: “Xưa thời vua Kiệt, nữ nhạc
có ba vạn người, sáng tấu nhạc ở Đoan Môn, ngoài đường đều nghe thấy, nữ nhạc kẻ
nào cũng y phục hoa lệ”
(30) “Nhạc ký”: Chơi nhạc là để trị sửa cái tâm.
(31) “Nhạc ký”: Long trọng của nhạc, không phải thanh âm vui
tai; Lễ của tiệc ăn, không phải cái vị ngon. Đàn sắt Thanh miếu, sợi dây đỏ mà
thưa, một người hát ba người họa, có âm thanh bất tuyệt vậy. Lễ tiệc lớn, dâng
rượu nhạt và thịt, cá sống, nước ép thịt không gia vị, còn nguyên vị thực phẩm
vậy. Do đó, tiên vương chế ra lễ nhạc, không phải để thỏa mãn cái vui tai mắt,
miệng, mà dùng để giáo hóa dân, bỏ cái yêu ghét mà quay về với chính đạo.
(32) “Nhạc ký”: Nhân sinh tĩnh, đó là thiên tính vậy; Bị ngoại
vật mê hoặc mới động, đó là ham dục của tính. Nhận biết ngoại vật, sau đó sinh
ra yêu ghét. Yêu ghét không được tiết chế từ nội tâm, sẽ bị mê hoặc bởi những
cái bên ngoài, nếu không thể phản tỉnh bản thân, thì lẽ trời bị diệt mất. Ngoại
vật mê hoặc con người vô cùng, nếu con người không tiết chế được cái yêu ghét,
thì ngoại vật sẽ thắng thế, con người bị vật chất hóa. Người bị vật chất hóa,
là người mất hết lẽ trời, chạy theo ham dục. Do đó sẽ có tâm ngỗ ngược, phản
nghịch, lừa bịp, giả dối, sẽ làm các việc dâm dật tác loạn. Do đó, kẻ mạnh bắt
nạt kẻ yếu, nhóm đông ức hiếp cô quả, kẻ khôn lừa người ngu, kẻ dũng áp bức người
hèn, người bệnh tật không được dưỡng trị, người già cô độc, trẻ mồ côi không
nơi nương tựa, đây là cái đạo đại loạn vậy.
(33) “Nhạc ký”: Nhạc là vui. Quân tử vui để đắc đạo, tiểu
nhân vui để đạt được ham dục. Lấy đạo át chế ham dục, thì vui mà không loạn;
Truy cầu ham dục quên mất đạo, thì mê hoặc mà không vui.
(34) “Nhạc ký”: Những âm thanh gian tà mê hoặc lòng người,
thì khí tà nghịch sẽ hưởng ứng, khí tà nghịch phát thành hình tướng, thì nhạc
dâm dật hưng thịnh. Âm thanh chính cảm động con người, thì cái khí thuận chính
sẽ hưởng ứng, khí thuận chính phát thành hình tướng, thì nhạc hài hòa sẽ hưng
thịnh.
(35) “Vương tử niên thập di ký”: (Trích dẫn “Thái bình quảng
ký”)
(36) “Nhạc ký”: Thẩm nhác để biết chính sự, từ đó hoàn thiện
đạo trị quốc.
(37) “Nhạc ký”: Âm nhạc thời thịnh trị thì an hòa và vui vẻ,
nền chính trị hài hòa. Âm nhạc thời loạn tế thì oán thán, phẫn uất, nền chính
trị ngang trái. Âm nhạc vong quốc thì đau buồn, ưu tư, người dân khốn khổ. Cái
đạo âm nhạc, tương thông với chính trị. Cung là vua, thương là quan, giốc là
dân, chủy là việc, vũ là vật, năm cái đó không loạn thì không có âm nhạc không
hài hòa. Cung loạn thì phóng túng, vua kiêu ngạo. Thương loạn thì nghiêng lệch,
quan bại hoại. Giốc loạn thì lo buồn, dân oán hận. Chủy loạn thì đau buồn, việc
nhiễu sự. Vũ loạn thì nguy cấp, của cải cạn kiệt. Năm cái đều loạn, xâm lấn lấn
lẫn nhau, gọi là khinh mạn. Như vậy, quốc gia diệt vong chẳng còn bao ngày nữa.
15-12-2017
Đạo Sinh

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét