Ðọc sách Kẻ sống đã chết
Hơn một nửa dân số Việt Nam và hơn một triệu người Việt đang
sống ở nước ngoài sinh ra khi cuộc chiến tranh cuối cùng của thế kỷ 20 diễn ra
trên đất nước Việt Nam đã hoàn toàn kết thúc. Giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về chiến
tranh? Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Đoàn Ngọc Diệp, một thanh niên Mỹ gốc Việt, sinh viên Đại học U.C. Berkeley, California. Talawas
Các nhân vật chính:
Hữu: người mới trở về Hà Nội sau khi đi bộ đội. Anh trở về, tìm cách thuyết phục
người dân ở lại Hà Nội thay vì đi Nam. Anh cũng đang chuẩn bị cho đoàn quân trở
về tiếp quản Hà Nội.
Thu: một cô gái trẻ ở Hà Nội, vào thời điểm mọi người đang bỏ Hà Nội để di cư
vào nam. Cô được biết rằng hai người nuôi cô từ nhỏ không phải là cha mẹ ruột
cô. Cô cũng được biết người anh ruột của cô (Hữu) đã trở về sau khi đi bộ đội.
Các nhân vật phụ:
Ông bà Hoan:cha mẹ nuôi của Thu;
Ông Trâm: người giúp đỡ Hữu đi nam;
Nhật: chồng Thu;
Mở đầu:
Câu truyện này mở đầu với một cuộc chia tay giữa những người bạn của Thu và Hữu.
Lúc này ai cũng muốn rời khỏi Hà Nội để tránh chính quyền cộng sản sắp sửa tiếp
quản thành phố. Thu cảm thấy rất buồn khi nhìn thấy từng người bạn của cô ra
đi, và cơ hội họ gặp lại nhau rất mong manh. Khi về tới nhà, Thu được mẹ cô cho
biết cô không phải là con ruột của bà và chồng bà. Cô còn được biết người anh
ruột của cô đã trở về Hà Nội sau những năm đi bộ đội chống Pháp.
Nội dung truyện:
Thu không ngờ mình có một người anh chưa bao giờ gặp mặt, càng bất ngờ khi Hữu,
người bạn của cô, lại chính là người anh đã thất lạc này. Hữu và Thu đã từng là
bạn bè và Thu đã từng có tình ý với Hữu. Hữu cũng không ngờ Thu là em của anh.
Dù sau này anh biết Thu không phải là em ruột, nhưng anh vẫn muốn chăm sóc cho
Thu như em ruột và anh đã không nói sự thật cho Thu biết. Lúc đầu, Thu và Hữu
không có ý định đi nam. Hữu có nhiệm vụ tìm cách giữ người dân ở lại Hà Nội, và
chuẩn bị cho bộ đội về thành. Mặc dù Hữu không có ý định rời khỏi Hà Nội, nhưng
anh đã không tích cực khuyên những người khác ở lại. Vì thế anh bị nghi ngờ là
đang làm việc với chính quyền phía nam và sẽ trốn vào nam. Chính quyền miền Bắc
giam lỏng Hữu trong một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Hà Nội. Mấy ngày sau, họ quyết định
đưa anh đi cải tạo. Trước khi bị những người của chính quyền phía bắc bắt đi
thì Hữu được chị Thanh, người coi căn nhà mà Hữu bị giam lỏng, giúp Hữu trốn
thoát. Trong lúc Hữu bị bắt thì có người phía miền nam muốn tìm Hữu, thuyết phục
Hữu vào nam để cung cấp những tin tức của phía bắc cho họ, vì họ được biết rằng
Hữu đã bị phía bên anh nghi ngờ. Khi Hữu trốn về đến Hà Nội, anh không biết là
mình có nên bỏ đi như vậy không. Anh không muốn phản bội những người đã sống chết
với anh, nhưng anh biết rằng anh đã bị nghi ngờ. Nếu quay trở lại, anh không biết
chuyện gì sẽ xảy ra với mình.
Sau khi đến báo tin mình bình an cho Thu và gia đình của Thu, Hữu đến nhà ông
Trâm, kể hoàn cảnh của mình, và xin được giúp đỡ. Nhưng anh không vì sự giúp đỡ
này mà làm việc cho chính quyền miền nam. Ông Trâm hứa sẽ giúp Hữu đi nam. Sau
khi biết tin này, Hữu quay về nhà Thu để xin ông bà Hoan cho Thu đi nam với Hữu.
Mặc dù ông bà Hoan không nỡ để Thu đi, nhưng họ biết Hữu sẽ không yên tâm đi một
mình, nên cuối cùng họ đã đồng ý. Thu bằng lòng đi với Hữu dù không nỡ xa Hà Nội.
Kết thúc truyện:
Câu truyện được tiếp tục sau khi Hữu và Thu vào nam được ba năm. Lúc này Hữu mới
ra khỏi nhà thương lao. Trước đó, anh đã bị bắt đi cải tạo. Còn Thu thì đã lấy
Nhật. Câu truyện kết thúc với sự kiện Thu và Nhật đến nhà Hữu đón anh đi ăn đầy
tháng con họ, và được tin Hữu đã qua đời.
Kẻ sống đã chết có nghĩa là có một người còn sống về mặt thể xác, nhưng đã
chết về mặt tinh thần. Tên câu truyện diễn tả Hữu. Hữu là một trong rất ít những
bạn bè của anh, may mắn sống sót. “… Bạn của anh Linh đâu còn mấy người, mới biết
chắc có anh Trác (Hữu), anh Đắc, còn thì đều không rõ cả, anh Đông chết ở Hòa
Bình, anh Lực chết ờ Vĩnh Yên…” (Tr.17). Chúng ta thấy, dù Hữu sống sót trở về,
nhưng chiến tranh chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều tới tinh thần của anh. Anh
được tả là “khuôn mặt vuông vuông, những nét thẳng trên mặt, má hơi hóp lại và
nước da xanh vẻ bệnh, nhưng đôi mắt sáng ngời đầy vẻ thông minh, nụ cười lúc
nào cũng như đậu trên môi một vẻ buồn nhẹ giấu kín.” (Tr.25). Chúng ta có thể
thấy rằng Hữu không thể thật sự vui được như những người chưa đi chiến đấu bao
giờ. Anh còn mang những dấu vết của sự cực khổ ở trên người, với “má hóp” và
“nước da xanh như vẻ bệnh.” Dù lúc này Hữu còn được làm việc cho kháng chiến,
nhưng anh đã trở thành một “người sống đã chết,” khi bị những người cùng chiến
tuyến nghi ngờ anh đã phản họ. “… Người Hữu ngầy ngật nửa như cơn ngái ngủ, nửa
như tỉnh táo với một khối óc trống rỗng. Có nghĩa là mình bị trừng phạt, tổ chức
không còn tin cậy. Hữu thấy cay đắng ngậm ngùi.” (Tr.92). Lúc này, Hữu mới thật
sự chết về mặt tinh thần. Những gì anh tranh đấu và tin tưởng không còn tin anh
nữa. Thậm chí, họ còn giam lỏng anh. Dù đã đi cải tạo về, Hữu biết anh sẽ bi
nghi ngờ suốt đời. Tư tưởng và niềm tin của anh đã không còn nữa. Kể cả khi anh
bỏ vào nam, anh chỉ cũng sống về thể xác mà thôi. Ông Trâm gọi Hữu là “anh hùng
cô đơn, một anh hùng mệt mỏi.” (Tr.144). Hữu đã từng là một anh hùng, nhưng bây
giờ anh rất mệt mỏi và mất hết lý tưởng. Hữu coi mình “như con ma, như một cái
gì không có thật.” (Tr.147). Ðến khi chết, Hữu mới thật sự được giải thoát. “Hữu
ngồi nơi chiếc ghế lớn ngoảnh mặt ra ngoài, lưng dựa ghế, tay cầm cuốn sách mở,
mắt nhìn xuống và miệng hơi mỉm cười…” (tr.184). Lúc này, Hữu thật sự mỉm cười
vì anh đã được rời khỏi thế giới này.
Kẻ sống đã chết giúp tôi hiểu thêm về cuộc di cư từ bắc vào nam. Tôi đã được
nghe kể về sự kiện này nhiều lần, nhưng không thật sự hiểu. Câu truyện này đã
nói lên một giai đoạn lịch sử đau buồn của Việt Nam, khi những người dân phải bỏ
quê hương của mình ra đi. Những người bạn của Thu lần lượt bỏ đi và cơ hội một
ngày nào họ được gặp lại thật mong manh. Câu truyện này từ đầu đến cuối gắn liền
với sự buồn bã. Ngay cả khi tả phong cảnh, nó cũng mang một nỗi buồn trong đó.
“Thu ra khỏi nhà, buổi chiều đã xuống, mùa thu nhẹ nhàng với những cánh lá sấu
vàng trải trên hè phố dọc Đường Thành. Thu nhìn xuống với một tình cờ thấy một
trái sấu chín rụng còn nằm lại đâu đó, Thu thấy mình rỗng không với bước đi
không chờ đợi. Con đường Phan Đình Phùng vắng hẳn, những hàng cây chen vào nhau.”
(Tr.21).
Đoạn văn này cho chúng ta thấy một thành phố ngày nào rất nhộn nhịp nay đã trở
thành một thành phố buồn tẻ. Người ta có thể thấy sự buồn tẻ ở trên cây cỏ và
xung quanh họ. Người ta cảm thấy rằng Hà Nội không còn gì để cho họ lưu luyến nữa.
Người ở lại, thấy cảnh như vậy, cũng muốn ra đi. Nhiều người dân Hà Nội lúc này
mong được đi nam để khỏi phải sống dưới chính quyền cộng sản. Họ đã không ngại
từ bỏ kỷ niệm, bạn bè, để dứt áo ra đi. Truyện cho chúng ta thấy, ngay từ đầu,
nhiều người dân đã không muốn sống dưới sự cai quản của cộng sản.
Câu truyện này dù không diễn ra chiến trường, nhưng ta có thể thấy được ảnh hưởng
của chiến tranh ở hậu phương. Người thân của những người đi lính lúc nào cũng
phải sống trong sự hồi hộp, lo cho người thân của mình tử nạn ở sa trường.
Chúng ta cũng có thể thấy được tình trạng của những người đi bộ đội trở về. Họ
bị theo dõi và bị nghi ngờ nếu tiếp xúc với những người có ý định di cư. Chính
quyền miền bắc lúc đó đã không tin tưởng cả những người đi bộ đội về. Người cán
bộ nội thành đi theo Hữu đã hỏi Hữu về chuyện đi nam. Những người như Hữu, mặc
dù có trách nhiệm vận động người dân ở lại, nhưng bản thân họ lại có ý nghĩ đi
nam. Ðiều này chứng tỏ họ cũng không tin chính quyền miền bắc.
5/5/2005 Đoàn Ngọc Diệp
5/5/2005

.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét