Thứ Bảy, 1 tháng 10, 2022

Ðọc sách Kẻ sống đã chếtXXX

Ðọc sách Kẻ sống đã chết

Hơn một nửa dân số Việt Nam và hơn một triệu người Việt đang sống ở nước ngoài sinh ra khi cuộc chiến tranh cuối cùng của thế kỷ 20 diễn ra trên đất nước Việt Nam đã hoàn toàn kết thúc. Giới trẻ Việt Nam nghĩ gì về chiến tranh? Chúng tôi xin giới thiệu bài viết của Đoàn Ngọc Diệp, một thanh niên Mỹ gốc Việt, sinh viên Đại học U.C. Berkeley, California. Talawas
Các nhân vật chính:
Hữu: người mới trở về Hà Nội sau khi đi bộ đội. Anh trở về, tìm cách thuyết phục người dân ở lại Hà Nội thay vì đi Nam. Anh cũng đang chuẩn bị cho đoàn quân trở về tiếp quản Hà Nội.
Thu: một cô gái trẻ ở Hà Nội, vào thời điểm mọi người đang bỏ Hà Nội để di cư vào nam. Cô được biết rằng hai người nuôi cô từ nhỏ không phải là cha mẹ ruột cô. Cô cũng được biết người anh ruột của cô (Hữu) đã trở về sau khi đi bộ đội.
Các nhân vật phụ:
Ông bà Hoan:cha mẹ nuôi của Thu;
Ông Trâm: người giúp đỡ Hữu đi nam;
Nhật: chồng Thu;

Mở đầu:
Câu truyện này mở đầu với một cuộc chia tay giữa những người bạn của Thu và Hữu. Lúc này ai cũng muốn rời khỏi Hà Nội để tránh chính quyền cộng sản sắp sửa tiếp quản thành phố. Thu cảm thấy rất buồn khi nhìn thấy từng người bạn của cô ra đi, và cơ hội họ gặp lại nhau rất mong manh. Khi về tới nhà, Thu được mẹ cô cho biết cô không phải là con ruột của bà và chồng bà. Cô còn được biết người anh ruột của cô đã trở về Hà Nội sau những năm đi bộ đội chống Pháp.

Nội dung truyện:
Thu không ngờ mình có một người anh chưa bao giờ gặp mặt, càng bất ngờ khi Hữu, người bạn của cô, lại chính là người anh đã thất lạc này. Hữu và Thu đã từng là bạn bè và Thu đã từng có tình ý với Hữu. Hữu cũng không ngờ Thu là em của anh. Dù sau này anh biết Thu không phải là em ruột, nhưng anh vẫn muốn chăm sóc cho Thu như em ruột và anh đã không nói sự thật cho Thu biết. Lúc đầu, Thu và Hữu không có ý định đi nam. Hữu có nhiệm vụ tìm cách giữ người dân ở lại Hà Nội, và chuẩn bị cho bộ đội về thành. Mặc dù Hữu không có ý định rời khỏi Hà Nội, nhưng anh đã không tích cực khuyên những người khác ở lại. Vì thế anh bị nghi ngờ là đang làm việc với chính quyền phía nam và sẽ trốn vào nam. Chính quyền miền Bắc giam lỏng Hữu trong một căn nhà nhỏ ở ngoại ô Hà Nội. Mấy ngày sau, họ quyết định đưa anh đi cải tạo. Trước khi bị những người của chính quyền phía bắc bắt đi thì Hữu được chị Thanh, người coi căn nhà mà Hữu bị giam lỏng, giúp Hữu trốn thoát. Trong lúc Hữu bị bắt thì có người phía miền nam muốn tìm Hữu, thuyết phục Hữu vào nam để cung cấp những tin tức của phía bắc cho họ, vì họ được biết rằng Hữu đã bị phía bên anh nghi ngờ. Khi Hữu trốn về đến Hà Nội, anh không biết là mình có nên bỏ đi như vậy không. Anh không muốn phản bội những người đã sống chết với anh, nhưng anh biết rằng anh đã bị nghi ngờ. Nếu quay trở lại, anh không biết chuyện gì sẽ xảy ra với mình.
Sau khi đến báo tin mình bình an cho Thu và gia đình của Thu, Hữu đến nhà ông Trâm, kể hoàn cảnh của mình, và xin được giúp đỡ. Nhưng anh không vì sự giúp đỡ này mà làm việc cho chính quyền miền nam. Ông Trâm hứa sẽ giúp Hữu đi nam. Sau khi biết tin này, Hữu quay về nhà Thu để xin ông bà Hoan cho Thu đi nam với Hữu. Mặc dù ông bà Hoan không nỡ để Thu đi, nhưng họ biết Hữu sẽ không yên tâm đi một mình, nên cuối cùng họ đã đồng ý. Thu bằng lòng đi với Hữu dù không nỡ xa Hà Nội.

Kết thúc truyện:
Câu truyện được tiếp tục sau khi Hữu và Thu vào nam được ba năm. Lúc này Hữu mới ra khỏi nhà thương lao. Trước đó, anh đã bị bắt đi cải tạo. Còn Thu thì đã lấy Nhật. Câu truyện kết thúc với sự kiện Thu và Nhật đến nhà Hữu đón anh đi ăn đầy tháng con họ, và được tin Hữu đã qua đời.
Kẻ sống đã chết có nghĩa là có một người còn sống về mặt thể xác, nhưng đã chết về mặt tinh thần. Tên câu truyện diễn tả Hữu. Hữu là một trong rất ít những bạn bè của anh, may mắn sống sót. “… Bạn của anh Linh đâu còn mấy người, mới biết chắc có anh Trác (Hữu), anh Đắc, còn thì đều không rõ cả, anh Đông chết ở Hòa Bình, anh Lực chết ờ Vĩnh Yên…” (Tr.17). Chúng ta thấy, dù Hữu sống sót trở về, nhưng chiến tranh chắc chắn đã ảnh hưởng rất nhiều tới tinh thần của anh. Anh được tả là “khuôn mặt vuông vuông, những nét thẳng trên mặt, má hơi hóp lại và nước da xanh vẻ bệnh, nhưng đôi mắt sáng ngời đầy vẻ thông minh, nụ cười lúc nào cũng như đậu trên môi một vẻ buồn nhẹ giấu kín.” (Tr.25). Chúng ta có thể thấy rằng Hữu không thể thật sự vui được như những người chưa đi chiến đấu bao giờ. Anh còn mang những dấu vết của sự cực khổ ở trên người, với “má hóp” và “nước da xanh như vẻ bệnh.” Dù lúc này Hữu còn được làm việc cho kháng chiến, nhưng anh đã trở thành một “người sống đã chết,” khi bị những người cùng chiến tuyến nghi ngờ anh đã phản họ. “… Người Hữu ngầy ngật nửa như cơn ngái ngủ, nửa như tỉnh táo với một khối óc trống rỗng. Có nghĩa là mình bị trừng phạt, tổ chức không còn tin cậy. Hữu thấy cay đắng ngậm ngùi.” (Tr.92). Lúc này, Hữu mới thật sự chết về mặt tinh thần. Những gì anh tranh đấu và tin tưởng không còn tin anh nữa. Thậm chí, họ còn giam lỏng anh. Dù đã đi cải tạo về, Hữu biết anh sẽ bi nghi ngờ suốt đời. Tư tưởng và niềm tin của anh đã không còn nữa. Kể cả khi anh bỏ vào nam, anh chỉ cũng sống về thể xác mà thôi. Ông Trâm gọi Hữu là “anh hùng cô đơn, một anh hùng mệt mỏi.” (Tr.144). Hữu đã từng là một anh hùng, nhưng bây giờ anh rất mệt mỏi và mất hết lý tưởng. Hữu coi mình “như con ma, như một cái gì không có thật.” (Tr.147). Ðến khi chết, Hữu mới thật sự được giải thoát. “Hữu ngồi nơi chiếc ghế lớn ngoảnh mặt ra ngoài, lưng dựa ghế, tay cầm cuốn sách mở, mắt nhìn xuống và miệng hơi mỉm cười…” (tr.184). Lúc này, Hữu thật sự mỉm cười vì anh đã được rời khỏi thế giới này.
Kẻ sống đã chết giúp tôi hiểu thêm về cuộc di cư từ bắc vào nam. Tôi đã được nghe kể về sự kiện này nhiều lần, nhưng không thật sự hiểu. Câu truyện này đã nói lên một giai đoạn lịch sử đau buồn của Việt Nam, khi những người dân phải bỏ quê hương của mình ra đi. Những người bạn của Thu lần lượt bỏ đi và cơ hội một ngày nào họ được gặp lại thật mong manh. Câu truyện này từ đầu đến cuối gắn liền với sự buồn bã. Ngay cả khi tả phong cảnh, nó cũng mang một nỗi buồn trong đó.
“Thu ra khỏi nhà, buổi chiều đã xuống, mùa thu nhẹ nhàng với những cánh lá sấu vàng trải trên hè phố dọc Đường Thành. Thu nhìn xuống với một tình cờ thấy một trái sấu chín rụng còn nằm lại đâu đó, Thu thấy mình rỗng không với bước đi không chờ đợi. Con đường Phan Đình Phùng vắng hẳn, những hàng cây chen vào nhau.” (Tr.21).
Đoạn văn này cho chúng ta thấy một thành phố ngày nào rất nhộn nhịp nay đã trở thành một thành phố buồn tẻ. Người ta có thể thấy sự buồn tẻ ở trên cây cỏ và xung quanh họ. Người ta cảm thấy rằng Hà Nội không còn gì để cho họ lưu luyến nữa. Người ở lại, thấy cảnh như vậy, cũng muốn ra đi. Nhiều người dân Hà Nội lúc này mong được đi nam để khỏi phải sống dưới chính quyền cộng sản. Họ đã không ngại từ bỏ kỷ niệm, bạn bè, để dứt áo ra đi. Truyện cho chúng ta thấy, ngay từ đầu, nhiều người dân đã không muốn sống dưới sự cai quản của cộng sản.
Câu truyện này dù không diễn ra chiến trường, nhưng ta có thể thấy được ảnh hưởng của chiến tranh ở hậu phương. Người thân của những người đi lính lúc nào cũng phải sống trong sự hồi hộp, lo cho người thân của mình tử nạn ở sa trường. Chúng ta cũng có thể thấy được tình trạng của những người đi bộ đội trở về. Họ bị theo dõi và bị nghi ngờ nếu tiếp xúc với những người có ý định di cư. Chính quyền miền bắc lúc đó đã không tin tưởng cả những người đi bộ đội về. Người cán bộ nội thành đi theo Hữu đã hỏi Hữu về chuyện đi nam. Những người như Hữu, mặc dù có trách nhiệm vận động người dân ở lại, nhưng bản thân họ lại có ý nghĩ đi nam. Ðiều này chứng tỏ họ cũng không tin chính quyền miền bắc.
5/5/2005
Đoàn Ngọc Diệp
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Vùng biển mất tích

Vùng biển mất tích 1. DẤU CHÂN CON NGỰA THẦN Trong mấy ngày gần đây cứ mỗi lần thức dậy là Sơn nghe tiếng con chim non kêu chiêm chiếp trư...