Hồi ký Trần Văn Giàu 1
Lời nói đầu
Tôi viết tập «hồi ký» này từ cuối những năm 1970.
Viết xong, tôi nhờ anh em ở Long An - tỉnh nhà -
đánh máy; ý muốn viết hồi ký để con cháu xem chớ không phải để in ra thành
sách, vì trong hồi ký có lắm chuyện «không lấy gì làm hay», buồn nữa
là khác. Nhưng vài ba anh em Long An, không xin phép tôi, tự ý đánh máy thêm mấy
bản, chỉ giao lại cho tôi hai bản, họ giữ mấy bản tôi không biết, nhưng tôi được
biết họ đã chuyền tay đọc khá rộng. Nhiều bạn bảo tôi cứ phát hành tập hồi ký
này đi. Tôi không ưng. Có lý do.
Tôi thấy rằng không ít hồi ký đã được in ấn kể sự việc rất
hay mà cũng chen vào một ít điều hoặc tác giả bịa hoặc lúc nghe kể đã thất thiệt.
Viết hồi ký trước hết là viết những điều mình mắt thấy tai nghe và tự làm là
chính, mà viết về mình thì dễ «chủ quan»: bớt cái dở thêm cái hay
là điều khó tránh khỏi; tôi ngập ngừng khi định viết hồi ký là vì vậy. Nhưng
có một số việc, nếu mình không kể lại thì không ai biết, không ai nhớ, không ai
viết, không ai làm sáng tỏ cho mình bằng mình. Thành ra viết hồi ký vừa là đóng
góp sử liệu vừa là yên ủi mình. Trong lịch sử dù là lịch sử của một khoảng đời
ngắn ngủi, mình chỉ là một tiếng của ngàn trùng ngọn sóng trên biển sôi động:
ghi lại một tiếng, thật ra có nghĩa lý gì lớn lắm đâu, có thêm bớt gì lắm đâu?
Nhiều lắm thì làm cho một số người mất thì giờ đọc, hay mất tiền mua. «Cọp
chết để da, người ta chết để tiếng»; tục ngữ thì như vậy. Song, da, dầu
là da cọp, nhiều năm rồi sâu mọt đục cũng hết. Tiếng, trừ ra tiếng của một số
ít vĩ nhân, làm sao mà còn mãi với thời gian? Năm trăm năm sau cách mạng tháng
Tám, dân ta sẽ còn nhớ chỉ tên của một mình cụ Hồ, mình ông Giáp. Cho nên, viết
hồi ký này, tôi chỉ mong cho cháu một đời sau mình biết được rằng ông nó đã gắng
sức làm tròn trách nhiệm ở đời, đã sống có nhân cách. Thế là đủ.
Tôi chỉ viết hồi ký khoảng thời gian 1940-1945 vì đó là thời
gian tôi sống có chất lượng hơn hết trong cuộc đời dài quá 80 năm, xấp xỉ 90
năm. Tôi viết «Lời nói đầu» này ngày 27 tháng 10 năm 1995, sau khi
tôi đọc lại bản hồi ký lần thứ ba.
Trần Văn Giàu
Câu chuyện mười năm đã kết thúc
Việc gì
rồi cũng phải có kết thúc, duy kết thúc hay dở, đúng sai là vấn đề khác. Một
ngày, tôi nhớ đâu là đầu năm 1988, tốt trời, tôi được Lê Đức Thọ (1) mời dự buổi
chiêu đãi ở T.78 (2) với một số đồng chí. Tôi lấy làm lạ: là bởi vì, ở Hà Nội
từ 1954 đến 1976, anh Thọ chưa hề đến nhà riêng tôi, chưa hề gọi tôi lên văn
phòng hay nhà riêng của anh. Còn tôi thì tôi quen cái tánh “mọi rợ” là chưa
bao giờ tự mình đến thăm bất cứ ai có chức, có quyền lớn hơn tôi - trừ trường hợp
duy nhất là cụ Tôn Đức Thắng mà tôi thỉnh thoảng lên thăm, trước hết là vì anh
Hai Thắng cứ vài ba tháng thì xuống thăm hai vợ chồng tôi một lần.
Bữa chiêu đãi hôm đó của anh Thọ, có mặt bốn người được mời:
chị Năm Bi (3), Tào Tỵ (4), Tô Ký (5), và tôi - Trần Văn Giàu.
Ăn uống, trò chuyện thân mật. Không có riêng bàn về vấn đề gì
cả.
Lúc buổi tiệc tàn, anh em sắp chia tay, thì tôi xin nói một
tâm sự, nói với Thọ, giữa Bi, Tỵ, Ký:
“Tôi cảm ơn anh Sáu mời cơm với các bạn đều là quen thân từ
lâu. Tôi có việc tâm sự cần nói với anh Sáu, có các anh chị nghe, nghe tôi và
nghe anh Sáu sẽ nói sau. Các đồng chí cho phép tôi nói lối nói ở trong tù, tôi
và Thọ cùng ở banh 1, khám 8; Côn Lôn những năm 1935/1936. Đồng ý chứ?
– Tao là Giàu, mày, ở khám 8, banh 1
<*>, là Khải, Phan Đình Khải (6); hôm nay chúng ta nói chuyện thân mật
như cách đây mấy mươi năm, khi còn ở ngoài Côn Lôn. (Tới đây, thì Thọ liền nói
với các đồng chí khách kia: hồi ở khám, ở banh tụi mình gọi nhau bằng mày tao
như vậy đó, không khi nào có thưa anh, thưa chú; hồi ở Côn Lôn chính Giàu dạy
tôi học chủ nghĩa Mác-Lênin, chớ trước đó mình có học gì bao nhiêu đâu!).
Tôi nói với Thọ: “Chúng ta là những người quá 70 tuổi, xấp
xỉ 80 rồi, sắp đi theo cụ Hồ rồi. Mấy mươi năm nay, tao chịu những cái hàm oan
mà mày, Khải, mày biết hết, biết rõ trắng đen. Chúng ta đều muốn đi theo cụ Hồ
một cách thanh thản. Vậy lần này, Thọ về Hà Nội hãy có quyết định rõ, bằng văn
bản của Ban Tổ chức Trung ương về tất cả những điều người ta vu cáo cho Giàu,
được không?” Thọ hứa, hứa trước mặt chị Năm Bi, anh Tào Tỵ, chú Ba Tô Ký.
Chủ khách chia tay nhau trong vui vẻ, thân ái nữa.
Một tháng sau, ủy viên thường vụ
Thành ủy là Bảy Dự (7) đến nhà tôi, đem cho tôi một bức thơ, mở ra, thấy cái
quyết nghị của Ban Tổ chức Trung ương mà tôi chờ đợi mấy chục năm nay. Người ký
tên không phải là Lê Đức Thọ mà là Nguyễn Đức Tâm, đương chức bí thư phụ trách
tổ chức như Thọ trước đây. Tôi đọc lên cho Dự nghe. Vả lại bức thư không niêm,
chỉ chuyển tải quyết nghị. Chắc ở Trung ương có bản lưu: bốn việc tố cáo, vu
cáo, quyết nghị này cho là không căn cứ; còn một vụ là Deschamps 1935 thì quyết
nghị nói rằng tôi, Giàu, có chịu trách nhiệm.
Tôi tuyên bố ngay với Bảy Dự rằng tôi
không bằng lòng và tôi sẽ cãi. Dự bảo với tôi rằng, như thế này thì tốt lắm rồi,
cãi làm gì nữa. Tôi nói lại rằng tôi sẽ nhờ Thành ủy gởi cho Ban Tổ chức một bức
thơ để tỏ rõ lại mọi việc. Tôi đã viết và gởi bức thơ đó, trong ấy không có gì
lạ hơn là hai bức thơ trả lời cho tôi của đồng chí Nguyễn Văn Trân (Prigorny)
(8) và đồng chí trưởng ban Lịch sử Đảng thành phố – đã chép lại bên trên và đã
photocopy. (Xin xem Phụ lục dưới đây).
Một tháng sau nữa, tôi được giấy của Ban Tổ chức Trung ương
cho đi Liên Xô nghỉ hè ở Sotchi (Hắc Hải).
Tôi gởi lại cho Ban Tổ chức cái giấy
mời ấy với lời cảm ơn thành thật và lời cắt nghĩa vì sao tôi không đi nghỉ mát ở
Hắc Hải, dù ý thì rất muốn (mấy chục năm nay tôi chưa được cho đi nghỉ mát ở
Liên Xô lần nào). Tôi trình bày lý do là: Từ năm 1930, tôi để vợ trẻ (9) của
tôi ở nhà một mình, đi mãi, đi miệt, đi làm “cách mạng chuyên nghiệp”. Từ 1930
đó cho đến sau Genève, tôi chỉ được về nhà hai lần, một lần hơn tháng, một lần
9 ngày; hoạt động bí mật, ở tù, có vợ mà bỏ vợ ở nhà mãi; tôi kháng chiến ở Bắc,
vợ kháng chiến ở Nam, hai đứa không ở gần nhau như vậy là gần một phần tư thế kỷ,
hết tuổi trẻ. Nay, hòa bình lập lại, tôi không đi nghỉ hè đâu xa mà không có vợ
tôi cùng đi. Vậy xin gởi lại giấy mời với lời cảm ơn thành thật chớ không phải
là chút hờn mát nào, xin các đồng chí ở tổ chức biết cho.
Không tới một tuần sau, Ban Tổ chức Trung ương gởi vào giấy
cho vợ tôi cùng đi nghỉ mát hơn một tháng ở Hắc Hải, viếng Moscou, Lêningrad.
Đó là vào năm 1988 thì phải, tôi nhớ không rõ. Kiểm lại, tôi thấy trong hơn ba,
bốn mươi năm bị hàm oan, tôi không hề rời công tác, việc gì giao cho dầu nhỏ
tôi cũng làm tròn, không giao việc gì thì tôi viết sách, viết báo, dạy học và
tôi đã đạt những thành tựu tôi mong muốn, giữ vững tư cách đảng viên, giữ vững
nhân cách Việt Nam.
Phụ Lục:
Thư của Trần Văn Giàu
gởi cho Ban Tổ chức Thành ủy
và Ban Tổ chức Trung ương
Kính gửi: Ban Tổ chức Thành ủy
Đồng kính gửi: Ban Tổ chức
Trung ương
Ngày 13 tháng 5 năm 1988, đồng chí Bảy Dự trao cho tôi, tại 70 Phạm Ngọc Thạch,
bản «Kết luận một số vấn đề tồn tại về lịch sử đồng chí Trần Văn Giàu» (số
182 – CV/TW) do đồng chí Nguyễn Đức Tâm ký.
Thế là «chung thẩm» rồi! Song tôi thấy cần nói vài lời:
1) Rất buồn là việc đã xảy ra từ 1945 đến 1988 mới có kết luận.
Kết luận mà không có tranh biện giữa bên tiên cáo và bên bị cáo. Dù sao, vẫn có
kết luận và tôi xin thành thật cảm ơn các đồng chí đã quan tâm đến việc của tôi
trong lúc trăm công ngàn việc bối rối, đã kết luận căn cứ vào một phần lớn sự
thật khách quan, và đã giải quyết phần lớn các vấn đề làm cho tôi đỡ tủi phận.
2) Về vụ vượt ngục Tà Lài. Bản kết luận
viết: «Chưa có chứng cớ gì là Pháp tổ chức cho đồng chí Giàu vượt
ngục». Đáng lẽ phải nói: «Không có chứng cớ gì…»; việc đã xảy ra
từ 1941, đợi tới bao giờ mới có bằng cớ mà nay hãy còn nói là chưa? Không phải
một mình tôi vượt ngục, có cả Tô Ký, Năm Đông (10) v.v.… họ còn sống, có Tào Tỵ
biết rõ mọi việc. Đáng lẽ phải hỏi tội vu cáo của kẻ nào cố ý bày chuyện hại
người ngay trong lúc làm khởi nghĩa tháng Tám, có hậu quả ghê gớm hơn 40 năm
trường. Hỏi tội cho biết vậy thôi, chớ cũng sống chết cả rồi, còn hơn thua làm
chi.
3) Về vụ Deschamps (11): «việc khai nhận (của đồng chí
Giàu) gây tổn thất cho phong trào cách mạng Nam Bộ và gây tổn thất cho đường
giao liên quốc tế». Đúng là tôi không được anh hùng như Trần Phú: Trần
Phú không hở môi. Tôi có hở môi, nhận một số việc đã rồi, nghĩa là có
trách nhiệm trong sự tổn thất. Song, Nguyễn Văn Trân (Prigorny) còn sống, làm
chứng rằng người khai ra Deschamps không phải là tôi, không một ai bị bắt vì
tôi khai, cả chỗ ở tôi, ở Phú Lạc (xóm của Trân – tôi ở hai kỳ, rất lâu) không
ai thấy Giàu dắt Tây về bắt người tra khảo. Nay tôi về đó, bà con vẫn còn quý mến
như xưa. Mà người khai Deschamps cũng không phải là người phát giác. Kẻ phát
giác là thợ Sáu, chồng giả của chị Mười Tốt, chánh hiệu mật thám, mà một đồng
chí trong Xứ ủy đưa vào Thành ủy phụ trách liên lạc quốc tế! Tay này không bị
bắt trong cuộc lại còn đi thăm anh em, rồi sau đó đã có lần toan đánh lừa chị Bảy
Huệ (12) nữa, may chị Huệ sanh nghi nên thoát khỏi. Ta bị địch vào cấp ủy. Mà
ta cứ đổ cho nhau, đáng tiếc thay! (chánh thằng thợ Sáu đó đón tôi ở Hồng Kông
về, gởi ở nhà một sốp-phơ, hai ngày sau, tôi bị bắt, cả sốp-phơ kia và Sáu an
toàn). Tôi làm việc liên lạc quốc tế từ 1933 đến cuối 1934, với Ba Nhâm (thành ủy
viên thời Minh Khai). Nhâm (13) nay còn sống, gần 80 tuổi. An toàn tuyệt đối.
Tôi đã giao việc cho anh khác từ tháng 12/1934.
4) Điểm 5 của Kết luận nói tôi làm sai đường lối Trung ương.
Sai với đường lối, thì sai thật. Nhưng mà tôi có biết đường lối của Trung ương
là thế nào đâu? Trung ương có gửi ai vào trực tiếp với tôi đâu?
CHÚ THÍCH (của biên tập viên)
(1) Lúc này, hơn một năm sau Đại hội
VI của Đảng cộng sản Việt Nam, ông Lê Đức Thọ không còn ở trong Bộ chính trị
Trung ương nữa. Trong những ngày trước Đại hội, ông đã lèo lái mọi cách để ông
Trường Chinh không ở lại tiếp tục làm tổng bí thư, tạo thêm đà cho cuộc đổi mới
(ông Phạm Văn Đồng bị lung lạc, đã dùng nước mắt để thuyết phục ông Trường
Chinh, nhân danh sự «đoàn kết nội bộ»). Ba người rút ra làm cố vấn
Ban chấp hành Trung ương khóa VI. Với thế lực của bộ máy tổ chức, an ninh, đối
ngoại, quân đội, Lê Đức Thọ tiếp tục nắm giữ nhiều quyền hạn, cho đến ngày ông
mất (tháng 10.1990).
(2) Khu trụ sở các ban trung ương của
ĐCSVN ở thành phố Hồ Chí Minh (phường 7, quận 3) tiếp giáp các đường Trần Quốc
Thảo và Lý Chính Thắng. T.78 là tên gọi của Cục quản trị, phụ trách các cơ ngơi
của ĐCSVN. Nhà ở «phía nam» của các ủy viên Bộ chính trị nằm ở đây.
(3) Tức là bà Hồ Thị Bi (Hồ Thị Hoa).
Thành lập và chỉ huy «Chi đội 12» (tiền thân của Trung đoàn 312) đã
lập nên những chiến công hiển hách từ cuối năm 1945 ở vùng Hóc Môn. Lúc này bà
mới tập đọc, tập viết, ký tên BI trông như ba con số 131, nên quân đội Pháp ở
vùng này gọi bà là «Madame 131». Có thể đọc thêm Nguyên Hùng: Nam Bộ - Những
nhân vật một thời vang bóng.
(4) Nhà cách mạng lão thành, hoạt động
cách mạng từ những năm 1930 ở Bạc Liêu. Làm nghề họa đồ, nên còn có tên là
«Họa đồ Lý». Có thể đọc tiểu truyện của ông trong Tuyển Tập
Nguyên Hùng: Tà Lài tụ nghĩa (Hồi thứ nhất: Vì Việc Nghĩa Tào Tỵ Thọ
Nạn Tới Gia Định Gặp Bạn Công Trung).
(5) Thiếu tướng Tô Ký sinh năm 1922
(Wikipédia viết 1919), tại làng Bình Lý, Hóc Môn (nay là xã anh hùng Bình Mỹ,
huyện Củ Chi). Ông tham gia cách mạng từ năm 12 tuổi, năm 17 tuổi bị bắt giải
đi căng Tà Lài (1940). Đầu năm 1942, ông cùng 7 đồng chí vượt ngục và bị bắt giải
lên Bà Rá cho tới ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3. 1945. Ông là một trong những
người lập Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa, sau là Chi đội
12. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, được thăng thiếu tướng, Chính ủy quân khu.
Ông mất mùng 2 Tết năm Kỷ Mão (1999). Theo Nguyên Hùng: Nam Bộ - Những
nhân vật một thời vang bóng (“TIỂU TƯỚNG" TÔ KÝ
CHINH PHỤC "NGƯU MA VƯƠNG")
(6) Phan Đình Khải là tên thật của
ông Lê Đức Thọ. Cả hai đều sinh năm 1911 : Trần Văn Giàu ngày 6 tháng 9, Lê Đức
Thọ ngày 14 tháng 10.
(7) Bảy Dự: bí danh của Nguyễn Võ
Danh, từng giữ chức phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP HCM, phó bí thư Thành ủy Đảng
bộ TP HCM của ĐCSVN.
(8) Tức Bảy Trân (đừng nhầm với Nguyễn
Văn Trấn «ông già Chợ Đệm»), sinh năm 1908, sang Pháp (Marseille) năm 15
tuổi. 19 tuổi, sang Liên Xô học trường Stalin (1927-1930), cùng khóa Nguyễn Thế
Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng, Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng
Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh, Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Bí mật
về nước năm 1930. Một trong những đảng viên cộng sản hiếm hoi đã tranh thủ được
cảm tình và sự ủng hộ của đạo Cao Đài và hàng ngũ Bình Xuyên. Cũng đã từng làm
liên lạc giữa bí thư xứ ủy Trần Văn Giàu với những trí thức yêu nước như Phạm
Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Phạm Thiều... Xem thêm: Nguyễn Văn Trân,
người cảm hóa giang hồ Bình Xuyên trong Nguyên Hùng (sách đã dẫn).
(9) Bà Đỗ Thị Đạo. Khi Trần Văn Giàu
bị trục xuất từ Pháp về (19 tuổi, năm 1930), cha mẹ ông buộc phải cưới vợ
«cho tròn chữ hiếu». Cuốn hồi ký này, ông đề «tặng vợ tôi, bà
Đỗ Thị Đạo, người vợ trung thành, người đàn bà theo đúng truyền thống Việt Nam
và truyền thống gia đình».
(10) Năm Đông: tức Dương Quang Đông,
tức Dương Văn Phúc (1902-2003). Ông Năm Đông là nhà cách mạng lão thành đã tham
gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội của lãnh lụ Nguyễn Ái Quốc và sớm hoạt động
trong Công hội Đỏ của cụ Tôn Đức Thắng. Ủy viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. Trong
thời kháng Pháp, ông là Phó phòng Hàng hải Nam Bộ, phụ trách văn phòng thường
trực của ta ở thủ đô Xiêm quốc, Bangkok. Ông đóng vai doanh thương có cửa hàng
xuất nhập cảng lớn tại thủ đô Bangkok, mua sắm tàu biển chở súng đạn, hóa chất,
máy móc về nước đánh Tây. Trong cuộc sống đầy gian nguy giữa hàng ngũ mật vụ
Pháp bố trí dày đặc ở Xiêm, dưới cái tên Xiêm là Nai Chran ông vẫn bình tĩnh
làm tròn sứ mạng của mình cho tới ngày bị phe đảo chính bắt. Xem tiểu sử đầy đủ
trong cuốn Dương
Quang Đông xuyên Tây của Nguyên Hùng (sách đã dẫn). Những năm cuối đời,
tuy tuổi cao, ông vẫn lên tiếng chống tiêu cực và sự lưu manh hóa hàng ngũ đảng
(như tố cáo sự gian trá của tướng Lê Đức Anh).
(11) Deschamps là đảng viên Đảng cộng
sản Pháp, làm thuyền trưởng. Trong cương vị này, ông làm giao liên giữa hai đảng,
và cung cấp sách báo tài liệu cho ĐCSVN. Deschamps bị bắt năm 1935 cùng với Trần
Văn Giàu. Các nhân chứng ông Giàu kể trong thư này, và nhiều người khác đều cho
biết ai là người tố giác và khai báo về Deschamps và Trần Văn Giàu (xem Nguyên
Hùng, sách đã dẫn).
(12) Bảy Huệ tức Ngô Thị Huệ hoạt động
cách mạng từ những năm 1930, hai lần tù. Bà kết hôn với ông (Mười Cúc) Nguyễn
Văn Linh (tổng bí thư tương lai) năm 1948. Hai người gặp nhau lần đầu trước đó
ba năm, khi Bảy Huệ thay mặt tỉnh ủy Sóc Trăng ra đón đoàn tù trở về từ Côn Đảo.
(13) Ba Nhâm tức Trương Văn Nhâm hay
Trương Quang Nhâm. Từng làm bí thư tỉnh ủy Trà Vinh. Một trong tám người vượt
ngục Tà Lài (đợt 2) năm 1942, cùng với Trần Văn Giàu, Dương Văn Phúc (tức Dương
Quang Đông), Châu Văn Giác, Trần Văn Kiết (Kiệt), Nguyễn Công Trung, Nguyễn
Hoàng Sính (Đức), Tô Ký.
<*> Banh (từ tiếng Pháp bagne): trại
giam. Ở Côn Đảo, có nhiều banh, mỗi banh gồm nhiều khám. Thời
Pháp, có 4 banh: banh 1 (trại Phú Hải), banh 2 (trại Phú Sơn), banh 3 (trại
Phú Thọ), banh 3 phụ (trại Phú Tường), Chuồng Cọp, Chuồng Bò. Thời Mỹ, thêm trại
5 (Phú Phong), trại 6 (Phú An), trại 7 (Phú Bình, còn gọi là Chuồng Cọp Mĩ,
phân biệt với Chuồng Cọp Pháp), trại 8 (Phú Hưng). Tổng cộng 127 phòng giam, 42
xà lim, 504 phòng biệt lập Chuồng Cọp. Các tên « Phú… » được đặt ra dưới thời
Nguyễn Văn Thiệu sau Hiệp định Paris, khi quần đảo Côn Sơn được gọi tên là Phú
Hải.
Phần thứ nhất
TỪ NGỒI TÙ KHÁM LỚN
ĐẾN VƯỢT NGỤC TÀ LÀI
Thành phố của chúng ta mất đứt ba cái di tích lịch sử lớn: Thành Quy bị Minh Mạng
triệt phá; Thành Phụng bị thực dân Pháp triệt phá; và tiếc quá, ở Sài Gòn, có
lẽ không có gì tiêu biểu cho 80 năm chế độ thực dân bằng Khám Lớn, mà Khám Lớn
thì bị họ Ngô triệt phá.Khám lớn Sài Gòn nằm trong ô B2 của bản đồ,
phía nam Tòa án (số 16) và phía tây Dinh Thống đốc (số 11),
ba tòa nhà này họp thành “Tam giác Quỷ” nổi tiếng thời thực dân.
Khu đất này hình thang, hai cạnh song song là Rue de la Grandière
(nay là đường Lý Tự Trọng), Rue d’Espagne (Lê Thánh Tôn),
hai cạnh kia là Rue Filippini (Nguyễn Trung Trực)
và Rue Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa).
Nay là Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
(69, Lý Tự Trọng, Quận 1).
Tôi qua cửa Khám Lớn lần đầu tiên vào giữa năm 1930, sau khi trong số mấy trăm
sinh viên và lao động Việt Nam biểu tình trước điện Elysée (dinh Tổng thống
Pháp) đòi thả chiến sĩ khởi nghĩa Yên Bái, mười chín người bọn tôi bị bắt giam
rồi bị trục xuất về nước. Lần thứ hai tôi vào Khám năm 1933 về tội “vô gia cư”.
Tội “vô gia cư” là cái quái gì? (Ai đi làm “cách mạng chuyên nghiệp” cũng có
những nơi tạm trú, hai, ba, năm, bảy nơi; nhưng lần đó Pháp nó khảo mãi, tôi
khai là tôi ở trên xuồng ba lá rày đây mai đó trên sông rạch, không có nhà ở;
trong mình tôi không có tài liệu cách mạng, chỉ có một cái giấy thuế thân của
người khác, cho nên, lần này, theo pháp luật tòa chỉ có thể kêu án tôi về tội
“vô gia cư”). Và, lần thứ ba, tôi vào Khám Lớn năm 1935, lãnh án năm năm tù; lần
này tôi ở đủ cho đến 1940.
1. “Biệt thự S”, khám nhỏ trong Khám Lớn.Khám lớn (Maison Centrale de Saigon) những năm 1920, mặt tiền
trông ra đường Mac Mahon (Nam Kỳ Khởi Nghĩa)
Khám Lớn nằm chình ình giữa Sài Gòn trên diện tích non mẫu, bên phải của Tòa án, bên trái của dinh Thống đốc. Tường dày chừng bốn năm tấc, dưới đá trên gạch,
cao chừng bảy, tám thước, chơm chởm miểng chai bên trên, bốn góc là bốn chòi
canh luôn luôn có lính Âu Phi gác và giữ cổng một cửa duy nhất. Ở cổng, bất cứ
ai vào đây cũng đụng một cái đầu chúa ngục đúc bằng xi măng, to tướng, miệng
sơn đỏ lòm, răng lởm chởm thấy mà ghê: các tử tù thì bị hành hình dưới mắt của
tử thần này… Cổng sắt hai lớp, có một đội cai ngục tây và mã tà nam túc trực.
Chính giữa sân trong, một lầu chuông cao nhìn xuống toàn bộ các buồng có cửa song
sắt chứa nổi một ngàn tù nhân. Suốt gần tám mươi năm chưa nghe nói có một người
tù nào trốn khỏi Khám Lớn. Năm 1916, nghĩa quân Thiên địa hội của Nguyễn Hữu
Trí (1) đông
mấy trăm người vũ trang bằng gươm dao, búa tạ, chày vồ, không phá nổi cửa khám,
tường khám nhằm giải thoát “hoàng đế” Phan Xích Long và chính trị phạm, rốt cuộc
phải rút lui thất bại. Khám Lớn vững chắc lắm. Vậy mà từ năm 1937, chính quyền
thực dân thấy cần phải xây thêm một cái khám nhỏ riêng biệt trong vòng thành của
cái Khám Lớn; khám nhỏ đó, Tây gọi là Bâtiment S; S là “spécial”, đặc biệt,
chúng tôi gọi là “biệt thự S”, để nhốt riêng vài ba bốn người tù chính trị mà
chúng cho là nguy hiểm đặc biệt, trong số đó có tôi.
Tây sợ chúng tôi cưa song sắt, khoét vách tường, vượt ngục chăng? - Không phải! Có ai vượt nổi Khám Lớn bao giờ? Vậy mà phải xây riêng một khám nhỏ trong
Khám Lớn vì lẽ gì? - Vì lẽ rất đơn giản là: từ ngày chính phủ Mặt trận bình
dân lên cầm quyền ở Paris, tòa án Sài Gòn nói chung không xử án chính trị nặng
lắm như trước: thường nhất là ba tháng, sáu tháng, một, hai năm tù đối với những
người biểu tình, bãi công, làm báo. Anh chị em ta vào Khám Lớn đông lắm, từng tốp,
từng tốp, vào ít lâu lại ra, ra vào như đi chợ, như đi học. Trong Khám Lớn lúc
này, tù “cố cựu” rất ít: hầu hết chính trị phạm của thời 1930-1935, đã được
chính phủ Mặt trận bình dân “ân xá”; số được ân xá có hàng trăm, hàng ngàn, từng
đợt, từng đợt. Tôi “lọt sổ” hoài; tôi được Tây xếp gọi lên cho hay “không được
ân xá” đâu đến ba lần, không phải do tôi làm đơn mà do đoàn thể, do trạng sư.
Nhưng tôi không thất vọng; không thất vọng vì chưa hề hy vọng được ân xá. Mình
vào tù đến bốn lần thì Tây nó biết chắc mình sẽ có ngày vào tù lần thứ năm. Anh
Tôn Đức Thắng lãnh án hai mươi năm khổ sai, bốn lần nặng hơn mình, vậy mà ai
nghe nói anh ấy có hy vọng gì đâu để mà thất vọng? Vả lại tù Khám Lớn Sài Gòn
được bạn bè, gia đình thăm viếng mỗi tuần một lần, quà bánh, báo chí có đủ; nhất
là ở tù mà vẫn có công tác cách mạng sôi nổi thì an tâm quá đi chớ! Công tác của
tôi là huấn luyện tù nhân mới vào và sắp ra, họ đông tới hàng trăm, thường
xuyên là hàng mấy chục. Trường Khám Lớn có nhiều giảng viên kinh nghiệm, lý luận,
trình độ khá cao. Tụi tôi tổ chức ba bậc huấn luyện lý luận cách mạng và kinh
nghiệm hoạt động sơ, trung và cao. Vô tù thành ra đi vào trường học chính trị.
Trường học được mở liên tục mà khỏi phải mướn nhà, khỏi phải nuôi cơm. “Kinh tế”
biết mấy. Khám Lớn góp phần đào tạo hàng trăm cán bộ cho các đoàn thể cách mạng
ở bên ngoài. Tôi lúc ấy là “Chủ tịch hội đồng giáo sư đỏ”. Tôi viết xong trên
mười đầu sách; đều là “sách giáo khoa”; sách được giấu trong tường; đục tường
lấy ra một cục gạch thì có một tủ sách. Cơm nước xong, cửa Khám đóng lại, thì lấy
sách ra đọc. Sàn xi măng là bảng đen, gạch vụn là phấn; một số Thầy Chú dám bí
mật đem giấy bút cho chúng tôi. Bài vở viết ra được đánh morse từ khám nam ở
trên xuống khám nữ ngay ở dưới. Đánh morse thì nằm sấp để tai sát sàn, lấy một
bù lon quấn vải gõ vào sàn, khám dưới nghe được, chép lại, “phát hành” đi các
khám cũng bằng cách đó. Ngoài công tác liên lạc chính thức thì chuyên viên
morse khám nam, anh Nguyễn Hữu Thế (2),
và chuyên viên morse khám nữ, chị Đinh Thị Tiếu, nói gì với nhau, có trời mà biết,
chỉ biết rằng, ra tù, hai cô cậu thành vợ, thành chồng với nhau.
Tây nó biết rõ thành công của công tác huấn luyện đào tạo cán bộ của chúng tôi,
cho nên nó mới xây cái “biệt thực S” nhằm cô lập các ông thầy giáo đỏ chủ chốt.
Thống đốc Nam Kỳ đưa ba chúng tôi Giàu, Thế, Vi xuống đó để tha hồ mà giảng bài
cho thằn lằn và gián. Tôi ở “biệt thự S” trọn ba năm cho đến ngày mãn tù; giống
như mấy ông thầy tu ép xác.Ảnh căn cước ở Trại Tà Lài (1940) Nguồn: tư liệu gia đình“Biệt thự S” là một ngôi nhà nhỏ hoàn toàn không dính với bất
kỳ một dãy nhà nào hết; nhà dài mười thước, ngang bốn thước, cao năm thước,
chia ra ba buồng. Phía sau mỗi buồng có một cửa sổ gần sát trần nhà, chắn song
sắt, bịt lại bằng một cái phễu sắt miệng ngảnh lên mái nhà và miệng sắt có bao
lưới sắt; người ngoài không thể ném vào buồng bất cứ một vật gì dù là một hòn
sỏi; người trong buồng không thể thấy bóng dáng bất cứ một ai đi ngoài sân dù
là một mã tà. Phía trước của mỗi buồng có cửa sắt mở ra một sân chung, nơi ăn uống,
đi lại; sân dài mười thước, rộng ba thước, được bao kín bằng vách bêtông cao bốn
thước; sân này giống y như một cái giếng cạn; ở trong sân không trông thấy bất
kỳ một sinh vật nào trừ một vài con chim se sẻ bay qua hay một con cò lạc lối.
Những ngày trời nắng, tường bêtông giữ sức nóng tới nửa đêm; may mà trong mỗi
buồng có một vòi nước để tụi tôi tự làm vệ sinh. Không biết Tôn Ngộ Không khi bị
Thái Thượng Lão Quân bỏ vào lò Bát Quái thì Tôn Ngộ Không chịu đựng cách nào chớ
tôi trong “biệt thự S” suốt hơn một ngàn ngày thì cũng phải quen dần với cái giếng
nổi bêtông của mình. Mỗi ngày hai lần, “cóc vê” đem cơm nước vào; “cóc vê” được
chọn trong số tù người dân tộc thiểu số ở rừng núi không biết nói tiếng Việt,
khi qua hai lớp cửa thì đã phải tuột hết quần áo để lại bên ngoài. Phải thừa nhận
rằng, ở “biệt thự S”, suất ăn của chúng tôi thịt cá nhiều hơn bình thường, mỗi
bữa ăn đều có miếng cơm cháy vàng tươi, dòn rụm, chỉ những ai đã lãnh án tử
hình mới được ăn. Ở “biệt thự S”, chúng tôi được mượn sách của thư viện Khám Lớn,
cũng được đem một ít sách ở ngoài vào. Thêm vài chục quyển, thậm chí một trăm
quyển nữa, ông Giàu có “đỏ” thêm đâu mà sợ? Tôn Ngộ Không chịu được lò Bát
Quái nhờ đã ăn trộm trái đào tiên vườn Thượng uyển, còn tôi chịu đựng được giếng
nổi bêtông nhờ sách các bạn mượn giùm: thời chính phủ Mặt trận bình dân, có phần
dễ thở hơn trước, nhất là đối với mấy thầy giáo đỏ bị vô hiệu hóa. Không được dạy
học, tôi quay ra tự học; tự học để giết thời giờ, tự học để lấp những chỗ trống
về kiến thức, được bao nhiêu hay bấy nhiêu, thật sự là được nhiều.
Ba năm ở “biệt thự S”, tôi học chữ Hán bằng quyển từ điển Đào Duy Anh để đếm
nét tra mặt chữ, tôi lấy một quyển sách Tàu dịch sách Tây để từ đó suy diễn ra
mà biết văn phạm chữ Hán, lõm bõm đọc báo, đọc sách được rồi, số chữ đã đầy hơn
một lá mít, nhưng vì ít khi dùng nên dễ quên. Còn được cái triết học Trung Quốc
và triết học Ấn Độ mà các học giả Pháp, Anh, Đức nghiên cứu kỹ, thư viện của
Nguyễn An Ninh và của sư Thiện Chiếu (3) có
đủ loại sách này, có bao nhiêu tôi đọc hết bấy nhiêu, đọc rồi giảng lại chút đỉnh
cho hai anh bạn tù, nhờ vậy mà tôi càng hiểu rõ. Thật ra thì hai ông “giáo đỏ” ở
“biệt thự S” với tôi, họ chả thích triết học chút nào, giảng cho họ hóa ra tôi
“trả bài” cho tôi. Một kỳ công là ba năm ở “biệt thự S”, tôi có thời giờ và can
đảm để đọc bộ Tư Bản, mà khi ở trường Đại học Đông Phương, tôi chỉ thuộc mấy
trích đoạn bắt buộc của giáo sư hướng dẫn. Khám Lớn Sài Gòn quả là một trường đại
học chuyên tu của tôi. Khám Lớn Sài Gòn, cũng như banh một Côn Lôn là những nơi
góp phần quyết định cho tôi sau này trở thành một giáo sư có kinh nghiệm. Nói rằng
nhà tù là một cái lò rèn luyện, rất đúng; anh Ninh có lần bảo tôi: “en prison
le coeur se brise ou se bronze” (4) là
chí lý. Vấn đề là trong tù mình học cái gì; học tư tưởng Mác-Lênin, thì mười
người mãn tù, chín người tiếp tục hoạt động cách mạng; không học gì, cứ nằm co
chờ ngày về, để cho thời gian gặm nhấm lần ý chí, thì mãn tù, chỉ có thể trở
thành con chim bị đạn sợ làn cây cong. Tôi đã ra sức tự rèn luyện, tôi được bạn
tù rèn luyện, tôi cố giữ cho mình một ý chí sắt đá. Vậy mà, những ngày cuối
cùng của một bản án chỉ năm năm cầm cố, tôi không khỏi trải qua một tâm trạng
băn khoăn cực độ, nói ra đây tôi không thấy xấu hổ chút nào. Làm gì có nợ nước
thoát ly khỏi tình nhà?.Hà Huy Tập
Trong thời gian hơn ngàn ngày bị cầm cố, biệt giam ở “biệt thự S”, tôi chứng kiến
một chuyện mà tôi không bao giờ quên, chuyện “Mất ngủ” của Hà Huy Tập (5).
Tập là một nhân vật mà tôi kính mến. Tập có “đá móc” tôi mấy đá, khi anh báo
cáo với Đông phương bộ, và báo cáo đúng sự thật, là tôi đã phê phán một vài điểm
trong “chương trình hành động 1932, của Quốc Tế Cộng Sản” làm giúp cho Đảng Cộng
sản Đông Dương (với sự cộng tác của Tập, Toàn (6) và
tôi; vừa được tôi dịch từ bản tiếng Pháp và tiếng Việt). Đá nhẹ mà đau dai!
Một buổi trưa không nhớ là vào ngày tháng nào đầu năm 1939, Hà Huy Tập bị Tây
đưa vào Bâtiment S. khi Tập bị giam ở Bâtiment S, xảy ra một việc lạ kỳ liên
quan đến câu tôi vừa nói: nợ nước, tình nhà.
Ở chung với chúng tôi được ít lâu, một hôm Tập nhận được một bức thư của vợ. Vợ
chồng Tập sinh được một đứa con gái. Năm 1928, Tập đi học ở Nga; tới năm 1936,
Tập về Sài Gòn, bí mật gặp lại vợ; vợ Tập là một cô giáo, tám, chín năm nay đã
bền lòng đợi chồng. Vợ chồng Tập yêu nhau lắm. Trong lúc đó thì Tập cũng bí mật
tiếp xúc với một người bạn học cũ hoạt động công khai, một người đồng hương là
Đinh Nho Hàn. Hàn là một cộng tác viên của báo “Le Peuple”, một tờ báo cơ quan
công khai hợp pháp của Đảng. Tự nhiên, Đinh Nho Hàn và cô vợ của Tập làm quen với
nhau. Mọi việc đều trôi qua như bình thường cho đến khi Tập bị bắt. Tập bị bắt
thì ai cũng đoán rằng anh sẽ bị xử tù nặng lắm vì anh hoạt động cách mạng từ thời
Tân Việt cho đến nay, anh là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương. Chắc vợ Tập
và Hàn đều nghĩ vậy. Nếu Tập được anh em ở Le Peuple trọng vọng là một lãnh tụ,
thì anh em đó cũng biết Hàn là một “con dê xồm” lắm tiền, lẻo mép; nhưng thuở ấy
chưa ai biết rằng Hàn là một tay giúp việc đắc lực cho sở mật thám Đông Dương
cài vào nhóm Le Peuple. Một hôm, ở Bâtiment S, sau một buổi thăm viếng, Tập được
một bức thư của vợ mình. Thư nói gì tụi tôi ở Bâtiment S không biết. Nhưng
chúng tôi thấy Tập đột nhiên bị khủng hoảng tinh thần, mà cuộc khủng hoảng tinh
thần mỗi ngày thêm tệ hại. Tập đi đi lại lại trên sân giếng, mười lần, một trăm
lần, nện gót chân, thỉnh thoảng tay đấm vào không khí. Sớm chiều đều như vậy.
Hôm nay, ngày mai đều như vậy. Hỏi Tập có vấn đề tư tưởng, tình cảm gì không, Tập
trả lời: không. Đêm, Tập ngủ buồng sát buồng tôi. Nửa đêm, hay bất cứ lúc nào,
Tập đều lấy gót chân mình nện vào vách tường đùng đùng và tôi lắng nghe Tập gọi
theo lối kéo dài: “Giàu ơi, thức hay ngủ?”. Tôi trả lời rằng thức, cũng bằng
cách nện gót chân vào tường. Cứ như vậy, suốt ba đêm. Sáng sớm, chúng tôi xin
thuốc véronal cho Tập. Tập uống một viên, đêm ấy anh cũng ngủ không được. Sáng
sau, xin hai viên, chiều tối uống; cũng không ngủ được! Có khủng hoảng gì đấy? Chắc không phải khủng hoảng tư tưởng. Tôi hỏi nhỏ nhiều lần, Tập mới nói
riêng với tôi: “Vợ mình đã quyết định ly dị với mình để lấy Đinh Nho Hàn. Thôi
rồi! Tám, chín năm trung thành chờ đợi nhau!”. Biết nguyên nhân bệnh: nhưng
chữa bệnh bằng cách nào bây giờ? Tôi báo cáo bệnh tình với y tá Khám Lớn! Tập
ăn ngủ không được, mắt thụt, má hóp, người đã gầy còm lại gầy còm thêm, trông
thấy rất thảm! Phải đưa đi nhà thương Chợ Quán, không thì Tập chết mất. Tập đi
Chợ Quán. Không quá một tuần sau, Tập trở về Bâtiment S, vui vẻ như thường. Ai
chữa? Uống thuốc gì? - Chẳng có thuốc gì ráo! Chẳng có thuốc trị sao lại hết
bệnh? - Số là lúc ấy, không chỉ có người cộng sản bị bắt vào Khám Lớn mà có cả
một ít người đứng đầu của báo La Lutte, như Tạ Thu Thâu, Tạ Thu Thâu thuộc phe
đệ tứ, công kích Mặt trận bình dân Pháp, công kích Mặt trận Dân chủ Đông Dương
do Đảng Cộng sản đệ tam chủ trương. Bất ngờ hai lãnh tụ đệ tam và đệ tứ đụng đầu
nhau tại bệnh viện Chợ Quán. Hai anh Thâu, Tập vốn quen biết nhau từ những năm
1926-1927, khi họ dạy học ở trường tư thục Nguyễn Xích Hồng tại Sài Gòn. Tất
nhiên họ tranh luận hết sức sôi nổi giữa một số tù chính trị cũng nằm bệnh viện; cãi nhau rồi ăn cơm, ăn cơm rồi tiếp tục cãi nhau, sôi nổi, kịch liệt, bất
phân thắng bại. Thâu lên án rằng phe Stalin - Tập là phe “phản động
Thermidor (7)”,
Tập lên án rằng phe Trotsky - Thâu là “đội tiền phong tư sản phản cách mạng” chống
Liên Xô. Cãi nhau đến tối vào giờ ngủ mới thôi. Đêm ấy sau trận khẩu chiến, Tập
ngủ một giấc tới sáng trưa, ăn cơm rồi lại ngủ! Bệnh mất ngủ dứt hẳn, khỏi phải
uống thuốc gì hết. Ít lâu sau, bệnh viện trả Tập về cho Khám Lớn. Tập trở lại
Bâtiment S với tụi tôi, tường thuật chuyện “thiệt chiến” ở Chợ Quán. “Thiệt chiến”
là đánh nhau bằng lưỡi, bằng miệng theo tích “thiệt chiến quần nho” (8) ở
Tàu, thời Tam Quốc.
2. Cực độ băn khoănMáy chém đặt trước cổng Khám Lớn mỗi
khi có cuộc hành quyết (cuối thế kỷ XIX)Tôi vốn là một tâm hồn bình tĩnh, ít nhất là bình tĩnh hơn
anh Hà Huy Tập của tôi. Tôi tự phụ như thế. Trước những khó khăn, những thất bại,
rất ít khi tôi dao động tinh thần, trí óc băn khoăn, người mất ăn mất ngủ. Ấy vậy
mà vào lúc gần mãn tù, tháng 4 năm 1940, cái đức bình tĩnh bẩm sinh đó nó biến
đi đâu mất hồi nào không hay. Càng gần mãn án, tôi càng dao động, băn khoăn. Âu
cũng là một nhân tính bình thường. Trầm tích của quả đất có lớp dưới lớp trên;
tâm tình của con người có lớp sâu lớp cạn, dưới đáy là con người gia đình, bên
trên hết là con người xã hội, xã hội phủ lên gia đình mà không chôn vùi nó cho
dù mình đã nhất nguyện hy sinh gia đình cho Tổ quốc, cho đồng bào, cho lý tưởng.
Những ngày cuối cùng của cái bản án tù năm năm sao mà dài thế! Dài vô tận. Nhớ
hồi nào, khi lãnh án, tôi xem năm năm tù, mười năm biệt xứ như một thời gian tu
dưỡng cho bản thân, tựa một phật tử theo định kỳ đi “tịnh” trong khuôn viên một
ngôi chùa vậy thôi. Bây giờ, càng gần mãn án, tôi xem mỗi ngày là một chuỗi
tràng hạt lần mãi không hết. Tản Đà chẳng đã viết: “Trăm năm là ngắn, một ngày
dài ghê?”. Hay quá, hay ở chỗ chữ “ghê” đó!
Té ra, cũng là thằng tôi mà lúc cực kỳ nguy hiểm, ngàn trùng gian khổ thì tôi
xem gian nguy nhẹ như một chiếc lông chim. Bây giờ, đột nhiên nổi dậy cái ý thức
gia đình, cái ý thức về nợ gia đình không làm sao trả nổi. Tôi nhớ mẹ, nhớ vợ
quá, nhớ phần mộ cha tôi trên đám ruộng trước nhà, nhớ ngôi nhà cũ kỹ trong đó
tôi sinh ra và lớn lên. Tôi tưởng tượng ngôi nhà và miếng vườn đều lạnh lẽo xơ
xác vì, nếu trước đây gia đình tôi tứ đại đồng đường thì bây giờ chỉ có mẹ già
tôi ngoài 70 tuổi và một cháu gái chết chồng hôm sớm cúng nước, đốt nhang, gõ
chuông, giống như bà sư, cô vãi trong một ngôi nhà chùa vắng. Cái nhà này,
khuôn vườn này theo Di chúc, là của tôi, con út; tôi có trách nhiệm nối dõi
tông đường, nhưng tôi biền biệt từ hơn mười năm rồi; các anh chị tôi đều ra
riêng hết, mỗi người “trấn” một giây ruộng, tía tôi qua đời khi tôi còn ở ngoài
Côn Lôn; vợ tôi, sau khi con gái đầu lòng chết, đã về bên ấy để làm ruộng nhà,
lâu lâu mới qua thăm mẹ chồng một lần, để mẹ chồng nàng dâu ôm nhau mà khóc.
Tôi nhớ nhà quá chừng! Văn xuôi không tả nổi nỗi nhớ, còn văn vần thì xa lạ với
tôi.
Tôi quyết tâm làm chiến sĩ “cách mạng chuyên nghiệp” theo từ ngữ Lênin - Nguyễn
Ái Quốc. Song, xét cho cùng, đó là quyết định của trí tuệ, của ý thức, của một
ý định dầu tuyệt đối vẫn còn dành một phần sinh hoạt tâm hồn, cho những ai nặng
nợ gia đình, tuy đã được mở trói mà vẫn còn khi lơi khi nhặt một sợi dây vô
hình ràng buộc những người vì non sông chung với gia đình riêng để ngàn đời làm
nền tảng cho gia đình ấy.
Chắc mẹ tôi, vợ tôi, lúc này cũng ngày trông đêm đợi như tôi. Tôi được tin mẹ
nuôi mười con vịt tơ sà, mười con gà giò, hai con xiêm cồ, chờ con về bồi dưỡng; người ta bày lấy vài xăng-ti-lít tiết xiêm cồ pha vào một chung rượu nếp, uống
mỗi buổi sáng, thì mau lại sức. Vợ tôi chắc đã sắm sửa chăn màn để trở về nhà
chồng. Nhưng mẹ và vợ tôi đều ở thôn quê hẻo lánh, nào có biết gì về tình hình
chiến tranh thế giới liên quan đến ngày mãn tù Khám Lớn của tôi. Tình hình đó,
tôi càng theo sát thì càng lo lắng: chiến tranh thế giới lần thứ hai đã bùng nổ
từ tháng 9 năm ngoái. Pháp, Anh đã tuyên chiến với Đức. Pháp đã ra lệnh tổng động
viên ở Đông Dương, cấm báo tiến bộ, bắt giam những người chống đối. Vậy mà tôi
còn ngồi tù Khám Lớn, chờ ngày về nhà! Về được không? Hay là chính quyền thực
dân sẽ ra nghị định giữ tôi lại Khám Lớn hoặc đưa trở ra Côn Lôn, hoặc tống vào
một trại tập trung nào đó ở núi cao rừng sâu. Tôi ước tính tất cả các khả năng
xấu bao gồm cả việc đày qua Guyane tận nam Mỹ châu ở đó ông Giàu và các thầy
giáo đỏ tha hồ mà diễn thuyết với thổ dân da đỏ và tù nhân thường phạm người
Pháp bị phát lưu chung thân vì trọng tội. Nghĩ lắm sinh quẫn. Tôi bèn tập trung
tinh lực làm phép tham thiền nhập định học ở Thiện Chiếu, cốt đạt tới trạng
thái tư tưởng không tư tưởng, nhằm đánh đuổi các ý nghĩ xám xịt kia. Nhưng vô
hiệu ; chúng nó cứ “lẽo đẽo theo hoài mãi chẳng thôi”.
Vài cơn mưa giông đầu mùa chưa làm dịu không khí nóng bức trong “biệt thự S”.
Nóng bức nên ngủ không được. Không ngủ được nên càng nghĩ bâng quơ. Một buổi
sáng ra giếng, thầy giáo Nguyễn Hữu Thế hỏi tôi:
- Sao coi hốc hác vậy cậu? Ngủ không được hả?
- Ngủ mệt hết sức vì chiêm bao. Thức giấc, mồ hôi ướt đầm, không ngủ lại được.
- Chiêm bao thấy gì?
- Thấy ngày mãn tù, mình ra tới cửa Khám Lớn, vừa gặp mẹ và vợ đón ở đó, chưa kịp
hỏi mừng gì hết thì cò, lính đã xốc nách giải mình lên xe bít bùng, trong khi
đó thì mẹ té xỉu xuống đường, vợ ôm mặt khóc. Giật mình thức dậy rồi thức luôn
tới sáng.
- Mộng là mị.
- Cũng có khả năng mộng hoá ra thật. Nhưng phải bị đày đi nữa thì mình vẫn có
cách đối phó, sợ gì? Cho tới bây giờ Pháp, Đức chưa đánh trong lịch sử, các cuộc
đại tiến công thường xảy ra đầu thu trời trong đất ráo. Pháp chưa lâm nguy thì
nó còn có thể thả mình ra; khi sắp lâm nguy, thì nó sẽ đến nhà lượm mình, thì
khi ấy mình còn ở nhà đâu mà nó lượm?
Lập luận của tôi mới nghe qua cũng có lý. Vậy mà bụng bảo dạ tôi vẫn băn khoăn,
cực độ băn khoăn.
3. Chưa vui sum họp...
Băn khoăn vì trong tình thế rối ren hết sức, lòng tôi hết sức
muốn về nhà với mẹ, với vợ ít ra cũng một vài tháng, trong thời gian ngắn ngủi
đó mình vừa tìm lại được sự đầm ấm đã mất từ hơn mười năm nay (1928-1940), vừa
điều tra tình hình địch, ta, rồi sẽ quyết định cách đối phó trước mùa thu. Giờ
phút nào tôi ít chủ quan, thì tôi nghĩ rằng, thời nay chiến tranh bằng máy bay,
xe tăng, có thể người ta không chờ mùa thu như trước nữa, mới mở cuộc tấn công
quy mô và Pháp nó sẽ quăng lưới trước khi các ông cộng sản cựu chính trị phạm kịp
rút hết vào bí mật. Tôi nghĩ đúng mà tôi không tin rằng đúng hẳn.
Ngày về tới nơi rồi. Mà về được hay không?
Sáng hôm đó, giáo Thế, biện Vi và tôi vừa uống trà, vừa phập phồng chờ đợi.
- Tám giờ mà không có giấy gọi là có biến. Thế nói.
- Có giấy gọi mà không có câu “ra về” thì cũng chẳng xuôi chèo mát mái đâu, Vi
tiếp.
Ở chung với nhau bốn, năm năm rồi, tụi tôi không còn cái gì để dặn dò nhau nữa.
Và mỗi đứa đã hai, ba lần bị bắt, bị tù rồi. Mỗi chuyện đã nói đi nói lại cả chục
lần rồi. Có gì mới nữa đâu? Chỉ mời trà với nhau. Bình trà vừa cạn thì cửa thứ
nhất, rồi cửa thứ hai của Bâtiment S mở. Gác dan da đen xuất hiện, vui vẻ kêu:
- Ông Giàu chuẩn bị. Tám giờ ra về.
- Ăn tiền rồi, tụi bây ơi! Thế nói lớn.
- Còn qua lục hình (9) mới
biết được trơn tru không, Vị bỏ nhỏ.
Nghe cũng ơn ớn. Ra tù hôm nay, biết hôm nào sẽ bị bắt lại? Còn ngồi tù trong
thời chiến thì khi chiến tranh ác liệt, mãn tù cũng sẽ bị giữ lại, gởi lên
“căng”. Viễn cảnh của cả ba đứa tôi, không chút nào sáng sủa. Không chừng chúng
tôi sẽ sớm gặp lại nhau trên rừng. Tuy vậy, bạn là cố cựu, kẻ ở người đi, sắt
đá cũng bùi ngùi.
Ra sân khám, ngó lên phòng năm, sáu, thấy anh em ngoắc ngoắc sau song sắt; họ
chào từ biệt và gởi một chút lòng tin. Tụi xếp Tây ra vẻ mừng, có mấy đứa
khuyên “đừng trở lại nữa”. Tôi cười trả lời cho thằng “Triệu tử” (10):
“Ai mà muốn trở lại, nhưng nếu bất đắc dĩ phải trở lại thì chắc chắn cũng không
hề chi, cả anh và tôi đều còn trẻ, e khi lại cũng còn duyên!”. Cả lũ đều cười
nhạt.
Ra cửa Khám Lớn, đã thấy vợ tôi đứng chờ bên kia đường, không một ai khác đi
đón như hồi chưa có chiến tranh.
Tôi ngoắc vợ sang bên này đường cùng đi lại bót Catinat (11) với
một thầy đội. Mười năm rồi kể từ ngày cưới, vợ chồng tôi mới lại được tay trong
tay đi trên đường phố Sài Gòn! Thầy đội có nhã ý dang hơi xa để tụi tôi trò
chuyện với nhau.
Ai cắt nghĩa giùm tôi vì sao tôi không mất vợ? Đáng lẽ năm 1930, nhà bên vợ
chưa cưới không cho tôi làm đám cưới mới phải, vì khi đi Pháp, tôi hẹn về nước
với hai bằng tiến sĩ, nhưng tôi về tay không, bị trục xuất khỏi Paris. Đáng lẽ,
cho dù làm đám cưới rồi, mà tháng sau tôi đi đâu biệt tích bốn năm lần, sống chết
không biết, thì cha mẹ vợ có thể lại gả con gái cho mấy chỗ quyền quý đi hỏi.
Nhưng không, và vợ tôi thà vô chùa học dệt chớ không chịu lấy chồng lần nữa. Và
đáng lẽ sau khi tôi bị kêu án năm năm tù, bị đày ra Côn Lôn, thì theo lời
khuyên của tôi, vợ tôi lấy lại tự do lập gia đình; nhưng cũng không; cô ấy chờ
đến hôm nay, đi đón tôi ở Khám Lớn ra. Sao mà chung thủy đến thế! Tụi tôi chưa
dứt lời thăm hỏi nhau thì đã đến bót Catinat rồi. Vợ tôi lại đứng chờ ở gốc
cây, tôi một mình đi vào bót để “lục hình” và nhận giấy tờ phóng thích. Tưởng
đâu việc này có lâu lắm cũng không hơn mười lăm phút; nào dè? Nào dè, nó kéo
dài hơn một giờ, khiến vợ tôi vô cùng lo sợ: vào hang sói dễ, ra hang sói khó.
Còn tôi thì quen tính “mê đấu”, quên mất vợ đang đứng sốt ruột chờ, không biết
lành dữ ra sao?
Cũng mấy thằng cò mật thám tra tấn hỏi cung như xưa: Perroche mặt gà thiến,
Bazin mặt gà chọi v.v… tiếp tôi hôm nay.
- Chào ông Giàu, ông mạnh khỏe?
- Cám ơn. Vẫn còn sống.
- Năm năm, dài quá phải không ông?
- Dài nếu so với một năm, ngắn so với mười năm.
- Hôm nay, nhân ngày trả tự do cho ông, chúng tôi muốn hầu ông một số vấn đề,
những vấn đề thuộc chiến tranh thế giới đó mà.
- Nếu các ông muốn tôi sẵn sàng.
Tôi đinh ninh rằng có thể tụi này bày trò khiêu khích gì đây, hoặc chúng nó tìm
hiểu mình để có thái độ, hoặc chúng nó thật muốn mình giải đáp âu lo thắc mắc của
chúng nó, không chừng.
- Ông Giàu ạ, ông cắt nghĩa tại sao Stalin cộng sản ký hiệp ước với Hitler phát
xít? Tại sao Đức và Liên Xô cùng đánh Ba Lan, chia xẻ Ba Lan? Tình hình chiến
tranh trên thế giới sẽ diễn ra như thế nào trong tương lai gần đây ở châu Âu?
- Tôi cho rằng hoặc các ông không đủ thông tin hoặc các ông được thông tin
không chính xác, cho nên các ông hiểu sai sự diễn biến của tình hình châu Âu từ
hơn một năm nay. Tôi hỏi vặn lại các ông vậy chớ ai ký hiệp định Munich với Đức,
để Đức nuốt chửng nước Áo, nước Tiệp? Đâu phải Liên Xô mà chính là Pháp và
Anh. Các ông thừa biết rằng khi Pháp, Anh yêu cầu Liên Xô bảo đảm cho các nước
nhỏ đông bắc Pháp mà Pháp, Anh lại không chịu đảm bảo cho các nước nhỏ ở miền
tây bắc, tây nam Liên Xô. Ý đó là gì nếu không phải là Pháp và Anh đã xui Đức
tiến công về phía đông, phía Liên Xô để cho Pháp, Anh đứng ngoài trông hai con
hổ đánh nhau mà trục lợi về phần mình. Nước cờ ấy như chỉ trắng may vải đen, trẻ
con cũng thấy. Thì Liên Xô phải trả đũa một cách thích hợp với lợi ích của mình
bằng việc ký hiệp ước bất tương xâm phạm với Đức. Hãy biết rằng, đó không phải
là hiệp ước liên minh Xô-Đức mà là hiệp ước bất tương xâm phạm. Liên Xô trước
muốn liên minh với Pháp, Anh mà không được thì nay định đứng ngoài cuộc chiến
tranh giữa Đức và Pháp, Anh. Liên Xô có phản phúc ai đâu, có đành hy sinh Áo,
Tiệp như hiệp ước Munich đâu? Còn như các ông kêu ca, phản đối việc Liên Xô
đưa quân qua chiếm phần phía đông Ba Lan thì việc ấy đầu đuôi như thế này, nếu
các ông chưa biết:
Đức tấn công vào Ba Lan. Anh, Pháp tuyên chiến với Đức mà không tiến công lớn
vào Đức, để Đức tập trung đại lực vào Ba Lan, chỉ trong vài tuần quân Đức đã
bao vây Varsovie, chính phủ Ba Lan chạy sang Rumani, khi ấy Hồng quân Liên Xô mới
kéo vào đông Ba Lan, chiếm đóng nhanh vùng đất Nga mà hồi chiến tranh thế giới
lần thứ nhất các nước đồng minh thắng trận đã cắt lấy của Nga để giao cho nước
Ba Lan mới được lập lại cho nó đủ lớn đủ mạnh làm đồng minh chí cốt của Pháp,
Anh. Đất của Nga, Nga lấy lại, Liên Xô không thể cho Đức chiếm khi Ba Lan đã bại
trận rồi. Đó không phải là chia xẻ Ba Lan mà đó là một hành động chống Đức. Hồng
quân Liên Xô vào Ba Lan, dừng lại đúng trên giới tuyến Curzon. Các ông biết giới
tuyến Curzon là cái gì không? Nếu không thì tôi cắt nghĩa: đó là ranh giới đông
Ba Lan mà chính khách tên Curzon đề nghị, sau khi chiến tranh thế giới kết
thúc, ranh giới này hợp lý vì bên này không có người Nga và bên kia không có
người Ba Lan. Nhưng thuở đó Anh, Pháp, Mỹ chiến thắng Đức, Áo, Thổ, quyết cắt một
phần đất Nga biếu Ba Lan em út, nay của César trả về César, thì nói xâm lược,
nói bất công là nói làm sao? Alsace Lorraine (12) trở
lại với nước Pháp hồi 1918 thì bất công, xâm lược ở chỗ nào?
- Ông Giàu quả là một trạng sư hùng biện cho Liên Xô, cò Perroche nói.
Tôi tiếp tục trình bày góp ý kiến:
- Tôi muốn nói thêm rằng, bây giờ nước Đức hùng cường từ sông Vistule đến sông
Rhin, từ sông Danube đến Biển Bắc, nước Đức đó có biên giới chung với Pháp ở
tây, với Liên Xô ở đông. Rồi đây Đức sẽ đánh sang đông trước hay tây trước?
Tôi chắc nó sẽ đánh nước nào yếu hơn trước để lấy sức đánh nước mạnh hơn. Nước
yếu hơn chính là nước Pháp của các ông. Tôi tự hỏi như vậy, trong tình thế mới
đó Pháp, Anh và Liên Xô có đủ khôn ngoan để hợp sức bẻ gãy xương sống của
Hitler bằng hai gọn kềm thép hay không? Tôi đoán chắc rằng nếu ngày nay nhiều
người trong các ông còn có ai coi Liên Xô là kẻ thù, thì ngày mai tất cả các
ông sẽ coi Liên Xô là bạn, là cứu tinh. Tôi cảm ơn các ông tạo một dịp may để
tôi vắn tắt nói lên một vài chính kiến về chiến tranh thế giới.
Bọn cò đều đứng dậy đưa tôi xuống lầu bằng cầu thang của các sếp, và chúc tôi
“đừng trở lại”.
- Sao anh ở trỏng lâu vậy? Em sợ quá chừng. Vợ tôi hỏi.
- Xin lỗi mình, anh bị tụi cò chất vấn khiêu khích. Phải nói. Mà không hớ chút
nào. Thôi ta cùng đi xuống đường Catinat, ngồi lại bờ sông như hồi chưa cưới,
ăn trưa ở Chợ Cũ rồi về nhà dì Tám, không thăm ai hết ngoài trạng sư Loye và
linh mục Tricoare để trả ơn họ nhiều lần đi thăm tôi trong Khám Lớn. Chiều và tối
hôm đó, hai người một xe kéo, tay trên vai, tụi tôi dạo phố Sài Gòn, Chợ Lớn
chuyện trò tâm tình nhiều hơn là xem cảnh vật. Sáng ngày tụi tôi cà rịch cà
tang trên xe lửa về thị xã Tân An. Tôi đi thăm trường học xưa bên bờ sông Vàm Cỏ.
Bao nhiêu là kỷ niệm sống lại trong lòng; nào thầy, nào bạn. Rồi phải trình diện
với phó tham biện. Rồi về quê. Tụi tôi, hai người một cỗ xe ngựa, tiếp tục chuyện
tâm tình, xa xa sau lưng, bao giờ cũng có vài chú kiếng râm theo “hộ vệ” không
kín đáo chút nào.
Về đến chợ Tầm Vu, tôi liền mua một bó nhang, một hộp quẹt. Bà con ở chợ nhờ
quen biết với vợ tôi mà nhận ra tôi, mấy phút sau kéo đến xem chú Mười Ký như
xem một vật lạ : Thuở nhỏ, tôi học ở trường tiểu học Tầm Vu (13),
rồi từ vài chục năm nay, ít ai biết tôi đi đâu, chỉ nghe tin tôi làm gì. Ở góc
trời hẻo lánh này không mấy ai bảo con trai họ theo gương chú Mười Ký, cực khổ,
nguy hiểm lắm, nhưng rất nhiều người dạy con gái theo gương cô Sáu Đạo (14) tiết
hạnh, thuỷ chung, giỏi việc nhà, ăn ở thuận hòa với mọi người.
Tôi và vợ tôi đi về nhà bằng đường bờ vòng vèo. Còn vài trăm thước nữa mới tới
vuông tre của nhà tôi. Tôi thấy một đám đông, chắc có má tôi ở đó; tôi băng ruộng
còn khô nẻ. Đúng má đây rồi, khăn điều vắt vai. Mẹ con ôm nhau, khóc, chỉ biết
khóc không nói được một lời nào ngoài hai chữ: má! con! Mọi người đều khóc. Má
tôi già đi nhiều; tóc đã bạc phơ, răng cửa còn hai chiếc. Mặt, cổ, vai đều ướt
vì nước mắt của mẹ. “Con về lần này, ở nhà với má, tía con chết rồi, má hiu quạnh
quá con ơi!”. Nghe đứt ruột. Tôi và vợ tôi xuống ruộng, đi đến mộ cha, thắp
hương quỳ lạy tạ tội bất hiếu. Nhớ ngày nào cha tôi có bảo: “Tận trung là chí
hiếu rồi đó”; biết vậy nhưng vẫn thấy mình lỗi đạo làm con. Các anh chị tôi và
bà con xóm giềng kể lại rằng, gần lâm chung, cha tôi góp tàn lực, ngồi dậy, đứng
lên, tay vịn vách, lần đi mấy bước, vừa đi vừa kêu tên tôi: “Ký ơi, Ký, con ở
đâu?”; ai nấy chạy lại dìu cha tôi về giường, một lát sau, cha tôi tắt thở. Vậy
là hình ảnh cuối cùng trong tâm trí của cha tôi là đứa con bất hiếu này!
Mấy ngày liền, nhà tôi trở lại cảnh “tứ đại đồng đường” (15),
vui vẻ hết sức. Trừ ra một ngày về thăm quê vợ, tôi ở luôn bên cạnh mẹ tôi, vợ
tôi. Mẹ tôi, như năn nỉ: “Má 75 tuổi rồi, cô đơn quá, con ở nhà với má cho đến
khi má theo tía con, rồi con làm gì thì làm, đi đâu thì đi”. Vợ tôi biết tính
chồng, không khuyên can gì hết, chỉ lo cơm nước thuốc thang. Cuộc sống ở gia
đình sao mà đầm ấm quá! Người thì kể chuyện bên Tây, bên Tàu, ngoài Côn Lôn,
trong Khám Lớn. Người thì kể chuyện cười rơi nước mắt, chuyện vợ tôi xuống chùa
cô Ba Yến học dệt vải, học làm tương, đi tu mà không chịu xuống tóc, trong túi
bao giờ cũng có quyển Lục Vân Tiên và hình Trần Văn Giàu. Chuyện xảy ra lúc tôi
thoát ly gia đình đi làm cách mạng chuyên nghiệp, không ai biết tôi ở đâu, làm
gì, sống hay chết; có một quan huyện chết vợ toan đi hỏi vợ tôi mà ông ấy tin rằng
đã goá chồng, vừa đẹp, vừa giàu, lại nết na, chưa con. Vợ tôi xin phép cha mẹ tạm
lánh ở chùa dưới chợ Tham Nhiên, để tránh người nói hỏi phiền phức.
Một hôm có người bạn tù cũ từ Mỹ Tho qua Tân An thăm tôi, khẽ bảo: Xứ uỷ dự tính
anh sẽ trong Ủy ban khởi nghĩa. Tôi hết sức dè dặt trả lời cho bạn:
- Chân ướt, chân ráo mới về, tôi biết gì mà vào Ủy ban khởi nghĩa? Chuyện đó
chưa nói được. Tôi dè dặt trả lời.
- Anh hãy kíp kíp vào bí mật trở lại đi. Tụi nó đến bắt, e khi anh trở tay
không kịp, chớ chủ quan mà chết.
- Thong thả một chút. Chưa uống hết một góc tể thuốc. Tôi cần chữa bệnh.
- Nước tới trôn mới nhảy, nhảy sao được?
Tôi nghĩ rằng anh bạn cảnh cáo tôi như vậy là đúng quá, nhưng về phần mình, tôi
phải dè dặt trong sự giao thiệp, vả lại tôi đã vốn lập luận chủ quan từ ngày
còn ở “biệt thự S” rằng Pháp chưa bắt tôi từ trước đầu mùa thu, mà nay mới là đầu
mùa hè.
4. ... Đã sầu chia ly
Sum họp gia đình được bảy ngày. Ngày thứ tám, vợ tôi xin phép
về Bình Trị để bắt đầu chuẩn bị cho mùa lúa tới, hẹn hai hôm, phơi giống xong sẽ
quay trở lại.
Nào dè, tối hôm đó, cửa ngõ vừa gài, đèn vừa lên, kế hoạch liên hoan ngày mai vừa
đặt, thì ngoài cổng có tiếng gọi: chú Mười có nhà không? Chú Mười có nhà
không? Có khách, có khách! Nghe lạ tai, tôi sanh nghi. Chắc có biến. Làm sao
bây giờ? Có thể lẩn ra vườn sau, vườn rộng, trời tối, ai biết tôi ngồi ở đâu,
đi ngả nào? Nhưng, nếu cò Tây, làng lính đến bắt tôi mà chúng nó biết rằng mới
hồi chiều đây tôi còn ở nhà thì chúng nó có thể sẽ bắt mẹ tôi để tìm ra tôi, đó
là điều tôi không muốn. Vả lại, mấy ngày rày, tôi chưa hoạt động chính trị gì hết
thì dù tôi bị bắt, Tây chỉ có thể đưa tôi đi trại tập trung là cùng, bắt tôi đi
trại tập trung ở núi cao rừng sâu thì cũng giống như “bắt cóc bỏ dĩa”, sợ gì?
Tôi bèn ra mở cửa ngõ.
Hương chủ Mai ở Tầm Vu, Phủ Hoài và cò Tây ở Tân An, mấy tên làng lính theo
sau, tụi nó đi bắt mình đây.
- Quan trên mời chú Mười lên Sài Gòn.
Tôi mời các ông vào nhà xơi nước đã.
Vào nhà, thằng cò đọc lệnh Thống đốc Nam Kỳ. Tôi dịch ra cho má, anh chị và
cháu tôi nghe. Mọi người khóc ròng, trừ anh Năm tôi, ổng nắm tay trừng mắt,
chòm râu cằm run run. Tôi sợ ổng vồ tới bóp cổ hương chủ Mai, và như vậy sẽ
sinh ra đổ máu. Anh Năm tôi vốn là một chiến sĩ khởi nghĩa năm 1916 (16),
đã tham dự trận phá Khám Lớn Sài Gòn. Tôi để tay lên vai anh và thưa với mẹ:
“Má yên tâm, con sẽ về với má”. Thằng Tây bảo lính dẫn tôi đi, không còng trói
gì hết. Má tôi té xỉu xuống đất. Ra tới cửa ngõ, tôi sực nhớ đến vợ: mai sáng,
được tin không lành, chắc vợ tôi cũng té xỉu xuống đất như mẹ tôi.
Một trại tập trung được hối hả dựng lên ở Tà Lài, tỉnh Biên Hoà, dành cho cựu
chính trị phạm và một số người “nguy hiểm” ở Nam Kỳ.
(1) Nguyễn
Hữu Trí (?-1916) một trong những người cầm đầu Thiên Địa Hội năm 1916 tổ chức
hàng trăm nghĩa sĩ giáo mác xông tới Khám Lớn phá ngục để giải cứu lãnh tụ Phan
Xích Long. Phan Xích Long (1893-1916) tên thật là Phan Phát Sanh, tức Lạc, thủ
lĩnh các hội kín mang màu sắc tôn giáo ở Nam Kỳ đầu thế kỷ XX trong phong trào
Phản (chống) Pháp Phục Nam. Ông tự xưng là Đông Cung, con vua Hàm Nghi, rồi tự
phong Hoàng Đế. Năm 1913, tổ chức đặt bom ở Sài Gòn, bị bắt. Trong cuộc “Cứu Đại
Ca” năm 1916, Nguyễn Hữu Trí bị chết. Sau đó, Phan Xích Long và 56 nghĩa sĩ
khác bị xử tử hình. Xem thêm Wikipedia và Văn
nghệ Sông Cửu Long.
(2) Nguyễn
Hữu Thế, giáo học, bị kết án 7 năm tù (1935-1942), 10 năm quản thúc (theo Nguyên Hùng)
(3) Nhà
sư Thiện Chiếu (1898-1974) tên là Nguyễn Văn Giảng hay Nguyễn Văn Tài quê quán
tại xã Vĩnh Hựu, huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang. Ông xuất gia từ nhỏ, học vấn
uyên thâm. Từ năm 1923, trụ trì ở chùa Linh Sơn, khởi xướng phong trào chấn
hưng và canh tân Phật giáo ở Nam Kỳ, từng ra Hà Nội bàn bạc việc thống nhất Phật
giáo. Ông là nhà sư đầu tiên tham gia Thanh niên cách mạng đồng chí hội và Đảng
cộng sản Việt Nam. Xem tiểu sử ở trang mạng Tiền
Giang.
(4) Tiếng
Pháp: trong tù, trái tim hoặc bị tan vỡ hoặc được tôi luyện thành đồng.
(5) Hà
Huy Tập (1906-1941), tổng bí thư Đảng cộng sản Đông Dương (1936-1938) trước khi
bị bắt giam Khám Lớn. Khi Nam Kì khởi nghĩa bùng nổ, ông ở trong tù (vì một án
khác), nhưng vẫn bị quy “trách nhiệm tinh thần” và bị xử tử hình cũng như Nguyễn
Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Võ Văn Tần. Được đào tạo ở Liên Xô, cũng như Trần
Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, ông đi theo đường lối tả khuynh giáo điều của
Stalin, từng phê phán nghiêm khắc đường lối “cải lương”, “hợp tác”, “tàn tích
quốc gia chủ nghĩa”, “tàn tích tư sản” của Nguyễn Ái Quốc. Xem tiểu sử đầy đủ: Wikipedia,
hay Báo điện tử Đảng
cộng sản Việt Nam.
(6) tức
Nguyễn Khánh Toàn (đừng nhầm với người trùng tên, hiện làm thứ trưởng Bộ công
an, nổi tiếng qua vụ Cô gái Đồ Long bị bắt giam khẩn cấp). Nguyễn Khánh Toàn
(1905-1993) sinh tại Vinh, quê quán ở Hương Trà, Thừa Thiên. Tốt nghiệp Cao đẳng
sư phạm năm 1926, tổ chức lễ truy điệu Phan Châu Trinh, nên bị thực dân đàn áp,
không cho dạy học, cấm viết báo. Từ 1929 đến 1939 sang học ở Liên Xô, được giữ
lại để đào tạo thanh niên Việt Nam sang học làm cách mạng. 1939-1945 ở Diên An
(Trung Quốc). Sau Khởi nghĩa 1945, về nước, làm thứ trưởng Bộ giáo dục rồi phụ
trách Ủy ban khoa học xã hội. Ủy viên trung ương ĐCS (1951-1976). Chủ trì nhiều
bộ sách và công trình nghiên cứu chính thống, được nhiều giải thưởng và huân
chương. Đọc lời mở đầu của ông cho bộ Lịch sử Việt Nam (1971-1989) mà ông đứng
tên chủ biên thì thấy ít sử học và nhiều đao búa.
(7) Thermidor
(Tháng nóng): nguyên thủy là một trong 12 tháng của Lịch cộng hòa, do Cách mạng
Pháp lập ra để thay thế Lịch Gregor thông dụng (và ngày nay vẫn được sử dụng phổ
biến). Tháng Thermidor là tháng thứ 11, khoảng từ 19 tháng 7 đến 17 tháng 8.
Trong ngôn ngữ chính trị Pháp, Thermidor hay 9-Thermidor chỉ ngày 27 tháng bảy
1794, là ngày phe Robespierre (chủ xướng chính sách Khủng bố) bị lật đổ;
“Thermidor” do đó được phe “tả” coi là một cuộc phản cách mạng, chuyển Cách mạng
Pháp từ thời kỳ Jacobin sang chế độ độc tài của Napoléon Bonaparte (xem bài viết
của Trostky: Thermidor
and Bonapartism)
(8) Điển
tích trong truyện Tam Quốc, Khổng Minh sang Đông Ngô, tranh luận với các đám
“quần nho” của Tôn Quyền, bác bỏ từng lý lẽ của họ, thuyết phục Đông Ngô liên
minh với Lưu Bị chống Tào Tháo.
(9) Sở
Lục hình: nơi lưu trữ hồ sơ lý lịch các tội phạm.
(10) “Triệu
tử”: cả hai bản chúng tôi có trong tay (bản in và bản “số hóa”) đều viết như vậy.
“Triệu tử” không có lẽ là Triệu Vân tức Triệu Tử Long, nhân vật Tam Quốc Chí.
Mong đợi được độc giả cao minh chỉ giáo.
(11) Bót
Catinat: Sở công an thực dân, ở góc đường Đồng Khởi (xưa là Catinat, rồi Tự
do) và Nguyễn Du, nay là trụ sở Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
(12) Alsace
Lorraine: vùng đất cực đông của nước Pháp, giáp ranh nước Đức, năm 1871, bị đế
quốc Đức sáp nhập, sau Thế chiến lần thứ nhất (1914-18) nước Pháp mới khôi phục
được. Từ năm 1871 trở đi, trong tâm tưởng của dân tộc Pháp, Alsace Lorraine trở
thành biểu tượng của lòng yêu nước, thiết tha với sự toàn vẹn lãnh thổ (và cả
biến tướng của nó là chủ nghĩa dân tộc, lòng căm thù “bọn Đức” (Boches)). Không
phải ngẫu nhiên mà năm 1940, dựng cờ kháng chiến, tướng De Gaulle lấy “thập tự
Lorraine” (chữ thập có hai gạch ngang) làm biểu tượng. Năm ấy, Hitler tái chiếm
vùng này và sáp nhập nó vào đế chế quốc xã, thanh niên Pháp quê ở tỉnh này bị bắt
lính, tham gia quân đội, SS… gây ra nhiều tội ác ở Pháp cũng như ở Ba Lan, Liên
Xô (họ bị gọi là lính Đức malgré eux - dù muốn dù không).
(13) Tầm
Vu, do đó, cũng là một bút hiệu của Trần Văn Giàu.
(14) Sáu
Đạo tức là bà Đỗ Thị Đạo, vợ ông Trần Văn Giàu (tên quen thuộc là Mười Ký, sau
này là Sáu Giàu).
(15) Tứ
đại đồng đường: bốn đời (thế hệ) ở chung dưới cùng một mái nhà.
(16) xem
chú thích (1) về Nguyễn Hữu Trí.
Phần thứ nhất
TỪ NGỒI TÙ KHÁM LỚN
ĐẾN VƯỢT NGỤC TÀ LÀI
5. Căng Tà Lài: “Trại lao động đặc biệt”.
Đường lên trại giam
Trên đường bờ quanh co từ nhà ra lộ đá, tôi tự hỏi không biết
có người vợ trẻ nào gian truân như vợ tôi không? Sau đám cưới hơn một tháng,
ông chồng đi đâu biệt tích, không biết sống chết, mãi đến ba năm sau, khi ông ấy
bị bắt, bị đưa ra tòa, mới biết chắc chắn rằng mình chưa phải đã góa chồng. May
mà khi ấy tôi chỉ bị bắt có một mình, bị bắt lúc đang đi trên đường cái, có nhiều
tiền trong túi mà không có địa chỉ cư trú, cho nên tòa chỉ xử án năm tù treo vì
cái tội nghe lạ tai là “vô gia cư chuyên môn” (vagabondage qualifié) tuy nó
biết chán rằng tôi là “nhà cách mạng chuyên nghiệp”, chớ không phải là “ma
cà bông” 1.
Lãnh án rồi, về nhà với vợ được hơn tháng tôi lại phải vào bí mật. Từ đó lúc
tôi mãn án lần chót là bảy năm đằng đẵng. Kỳ này, ngỡ rằng có thể ở nhà vài
tháng, cho đến đầu mùa thu, té ra cuộc vui sum họp chỉ được tám ngày thì ông chồng
bị bắt đi trại giam thời chiến, mà chiến tranh thì biết khi nào dứt, chưa dứt
thì mọi việc tàn bạo nhất đều có thể xảy ra ở trại giam trên rừng sâu nước độc.
Thật khó mà tưởng tượng tâm trạng của một cô vợ ở trong tình cảm bi đát này.
Càng khó tưởng tượng tâm trạng của mẹ tôi, vừa mới gặp lại thằng con yêu quý
thì bị người ta cướp đi từ tay mình. Trời ơi là trời! Tai hoạ sao mà dồn dập
trút xuống một bà già quạnh hiu gần đất xa trời như thế này?
Can đảm mấy cũng đứt ruột.
Đứt ruột mà vẫn phải can đảm; càng đứt ruột càng phải can đảm.
Hai chiếc xe hơi từ tỉnh lộ Tân An - Gò Công bật đèn lên, thấy Châu Văn Giác ngồi
với vài tên tính mã tà 2.
- Cậu Mười 3 đây
rồi! Cậu cháu mình cùng đi trại giam cho có bạn.
Châu Văn Giác là một đứa con xứng đáng của đất Tầm Vu, cậu đã vào T.K. (Thanh
niên Cộng sản) từ 1930, đã đạt kỷ lục bãi thực 4 dài
mười hai ngày ở Khám Lớn, kỷ lục này bị phá bởi cuộc bãi thực ba mươi ngày của
các anh Tạ, Thâu, Ninh, Hiển, Quảng 5 (cuộc
này sở dĩ kéo dài đến thế là nhờ thủ thuật của nhà cầm quyền Pháp bơm sữa vào hậu
môn tù nhân). Quảng là cháu ruột của tôi, cũng là người xứ Tầm Vu, hôm nay nó
không bị bắt với Giác và tôi, bởi vì sau cuộc chiến tranh kia, nó ho lao nặng,
chắc Pháp thấy rằng không cần bắt giam nó, nó cũng chết tới nơi rồi.
Một đêm, ở xà lim trại lính khố xanh 6 thị
xã Tân An, Giác và tôi được đánh thức vào khoảng một giờ sáng và được lệnh đi
ngay.
Đi đâu chừng này? Chừng này mà bị dẫn đi thì rất có thể là đi “thủ tiêu” êm.
Tôi sinh nghi. Hỏi mã tà. Hỏi đội sếp. Nếu tụi này ú ớ thì chúng tôi sẽ chống lệnh,
chúng tôi sẽ la ó để báo động cho nhân dân.
– Đi đâu giờ này? Ai ra lệnh? Đưa lệnh coi nào?
– Lệnh đây. Đi Sài Gòn. Phải có mặt ở Bà Chiểu trước hửng sáng, để đi đâu nữa
thì chúng tôi không biết.
Thế là không phải đi thủ tiêu êm. Tôi lên tới trại của Binh đoàn lưu động Gia Định
lúc bốn giờ sáng. Vào sân thấy ngồi ủ rũ trên ghế đá mấy anh chàng quần áo tử tế,
trong số đó có một cậu to béo, mặc quần soóc, xách cặp da bóng loáng. Họ đang ủ
rũ, hỏi ra mới biết, bởi vì họ cũng ngờ rằng Tây nó sắp đem đi thủ tiêu trước
khi trời sáng. Thời kỳ chiến tranh mà! Còn đâu nữa chính phủ Mặt trận bình
dân 7 mà
hòng nói luật với pháp? Trên sân, qua lại mấy toán lính khố xanh, mấy thằng cò
Tây nai nịt súng đạn, chờ lệnh, mặt sát khí đằng đằng.
– Chào các anh, từ đâu đến mà dám đến sớm hơn tụi này? (Tôi cà rỡn hỏi).
– Bạc Liêu, Cần Thơ lên.
– Còn hai anh, từ đâu đến mà coi bộ tươi cười như vậy?
– Từ Tân An. Giác trả lời và giới thiệu luôn.
– Ông này là Giàu, tôi là Giác.
– Giàu nào? Có phải Trần Văn Giàu không?
– Mình là Tào Tỵ, hoạ đồ Tỵ Bạc Liêu, còn chú da bánh ít ngọt này là Nguyễn
Công Trung, công tử Cần Thơ.
Bây giờ tan biến cái lý nghĩa bị đem đi thủ tiêu trước trời sáng. Ai nấy đều chắc
rằng sắp phải bị đưa đi xa Sài Gòn nhưng chưa biết đi đâu. Đi ra biển? Hay đi
lên rừng? Hay đi xa hơn nữa tận Ấn Độ Dương, tận châu Nam Mỹ? Lát nữa sẽ rõ.
Chờ xem.
Đúng năm giờ, một đoàn xe quân dụng bốn chiếc bắt đầu nổ máy trong sân trại
Binh đoàn lưu động. Chiếc đầu chở một thằng quan hai non choẹt, cao nhồng, vẻ
kiêu ngạo, vài thằng Tây nữa là ách đội 8.
Chiếc sau chở khoảng một tiểu đội khố xanh. Hai chiếc giữa chở bọn tôi, chừng
vài mươi đứa. Xe ra cổng, không quẹo tay phải ra phía Sài Gòn, mà quẹo tay trái
về phía Gia Định. Tôi hơi mừng trong bụng. Rồi đoàn xe trực chỉ Biên Hòa, không
phải xuống bến tàu. Tôi nói nhỏ với Giác:
– Thôi, yên trí; không phải ra biển mà đi lên rừng, ra biển khó về, còn lên rừng
thì như đi píc-níc thôi!
Trưa, đoàn xe đậu lại ở cây số 125 đường Biên Hòa - Đà Lạt. Không có nhà dân,
không có đồn bót, không một bóng người qua lại; chỉ nghe tiếng vượn hú. Nhưng
một trại bỏ trống với mấy bãi cứt bò đã khô quéo, chứng tỏ rằng đây là một cửa
rừng, chỗ thợ rừng kéo súc ra chờ xe chở về dưới xuôi. Một đường đá nhỏ hẹp dắt
đi đâu không biết, cỏ cây mọc tùm lum. Một thầy đội bảo :
– Đường vào căng 9 đó,
chúng ta nghỉ ăn sáng cái đã.
Lính trải vài tờ nhật trình xuống cỏ, bày bánh mì, đồ hộp, bình toong nước, ai
có phần nấy.
– Y như hướng đạo sinh đi cắm trại mùa hè!
– Cứ quất no một bụng rồi sẽ xem ra sao.
Anh em bàn luận vui vẻ giống như đi cắm trại thật. Trừ tôi ra, tôi quan sát đường
đi nước bước từ hồi sáng đến giờ.
Từ đường 20 vô tới căng Tà Lài, chỉ mười bảy cây số, vậy mà chạy xe mất quá một
giờ. Càng vào sâu, cây cỏ càng lấp mặt đường, đá tảng gập ghềnh. Không một ai
lai vãng. Không một nhà, một chòi. Nhưng thú rừng thì vô kể, nhiều nhất là các
loài khỉ; khỉ trên cành cây cao vút, khỉ dưới đất chạy qua đường, nhăn mặt như
trêu người, la hét như chào mừng bà con quá bộ đến thăm. Từng đàn công bay ào
ào, kêu chan chát, thằng quan hai nổ một phát súng hạ được một con công đuôi
dài rất đẹp. Thỏ lấp ló ở bụi gần, nai téc ở trảng 10 xa.
Thỉnh thoảng heo rừng nghênh mỏ, khoe nanh rồi vụt nhảy. Tôi chợt nghĩ: thú nhỏ
nhiều như vậy, chắc cọp ở đây không ít, cọp ở đây góp phần quan trọng cho việc
canh giữ chúng tôi trong trại.
Cuối đường là trại giam Tà Lài.Khu Tà Lài chụp từ vệ tinh: vùng đất màu nậu nhạt ở phía
trên ảnh, gần giữa, có dòng sông Đồng Nai chảy qua. Góc trái phía dưới: hồ Trị
An. Góc phải, phía dưới: đương trắng chạy ngang là đường 20.
Tà Lài nguyên là trụ sở đặc biệt của thực dân Pháp tại vùng người Thượng ở đông
và đông bắc Biên Hòa. Xem như một quận lỵ, từ lâu bỏ hoang. Nói là trụ sở, là
quận lỵ, chớ thật ra không còn có đâu! Cư dân? - Vẻn vẹn chỉ có một nhà dân
núp trong vườn chuối sum sê bên cạnh một bến phà. Công thự? Chẳng có gì cả
ngoài ba cái nhà trệt bằng gỗ lợp ngói có thể chứa một vài ông quan và một vài
trung đội lính khố xanh nhưng đã bỏ hoang, không biết từ hồi nào. Ba cái nhà đó
ở giữa một khu đất rộng chừng bảy, tám mẫu, cây to cao đã bị đốn sạch, nhưng
cây nhỏ và cỏ tranh mọc lên rậm rì, có nơi lút đầu. Ngày chúng tôi lên tới đó
thì Tây mới vừa làm xong một cái trại dài bằng tranh tre nứa chứa được khoảng
năm, bảy mươi người, một cái nhà bếp, một trạm y tế cũng bằng tranh tre. Từ nay
về sau mọi sự xây dựng ở trại giam này đều sẽ do bàn tay của anh em chúng tôi.
“Cầu thủ dự bị”
Ở Tà Lài được vài tuần, số anh em lên đến hơn trăm, mỗi tuần
lại thêm đông, tổ chức sinh hoạt, tổ chức lao động bắt đầu thành nề nếp. Tôi
bàn với vài đồng chí tin cẩn nhất trong Đảng ủy căng như Văn, Phúc, Giác, Đức về
nhiệm vụ chính trị của những đảng viên cộng sản ở cái trại giam lớn này.
Rõ ràng là bọn thực dân quyết định gấp rút bắt tập trung lại một chỗ cho kỳ hết
những ai mà chúng cho là nguy hiểm đối với quyền thống trị của Pháp trong cuộc
chiến tranh thế giới này, trước hết là những người cộng sản, nhưng không chỉ có
cộng sản mà thôi. Hễ còn trại tập trung thì còn thực dân Pháp và chiến tranh.
Trại tập trung là nhà tù không án, không thời hạn. Giam giữ là chính. Cái chính
không phải là đày ải, bắt lao động. Tách rời cá với nước, chiến sĩ với nhân dân
mới là mục đích lớn; mục đích lớn chắc không phải là dùng nhân công này làm đường
sá, xây đồn lũy. Tất nhiên là vì nếu ở trại giam mà các nhà cách mạng chết lần,
chết hồi đi thì thực dân Pháp càng bằng lòng. Về phần của ta thì ta phải xem việc
tập trung ở trại giam này như là một cơ hội để huấn luyện chiến sĩ, đào tạo
thêm cán bộ cho cuộc cách mạng nhất thiết phải nổ ra và thành công ngay trong
cuộc chiến tranh thế giới này. Các đồng chí đang hoạt động bí mật hiện nay có
khá đông, đủ năng lực, đủ tinh thần, nhưng tránh sao khỏi bị bắt, bị giết.
Chúng tôi ở trại giam phải tự xem như “cầu thủ dự bị” để thay thế những người
bị bắt, bị giết đó, để bổ sung cho lực lượng cách mạng chỗ nào và khi nào cần.
Tà Lài phải đóng vai một “ trường học nội trú ” của Đảng. Việc chính của chúng
tôi ở đây chưa chắc phải là đấu tranh để cải thiện điều kiện ăn, ở, y tế, lao động,
cái đó tất nhiên là cần thiết mà không phải là chính yếu; cái chính yếu là học,
là huấn luyện.
Ban lãnh đạo căng, công khai, được toàn thể trại viên bầu cử, được xếp căng
công nhân, lo việc tổ chức ăn, ở, lao động. Ban này đa số là đảng viên, mỗi trại
hai người, trên hết là đại diện của toàn thể trại viên đối với xếp căng: đồng
chí Giàu. Đảng ủy viên chuyên lo việc huấn luyện chính trị tư tưởng, tổ chức lực
lượng nòng cốt, liên lạc với bên ngoài, công tác binh vận đối với lính khố
xanh, công tác dân vận đối với đồng bào Mạ 11 trong
vùng. Mọi khả năng đều được tính trước, bàn luận kỹ, phải biết rằng thời này là
thời chiến, không còn là thời bình nữa rồi.
Đồng chí Văn báo cáo nội bộ hẹp về nghị quyết Trung ương tháng 11 năm 1939 (họp
ở ngoại ô Sài Gòn), về nhiệm vụ cách mạng Đông Dương trong tình hình chiến
tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Nghị quyết này, mãi cho đến tháng 5 năm
1940, tôi chưa được biết, tôi cũng không biết rằng, cuối 1939, sau hội nghị
Trung ương thì Ban Thường vụ Trung ương đã bị bắt ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm.
Phúc nói riêng với tôi là Xứ uỷ Nam Kỳ đã tính đến việc khởi nghĩa, phải bắt đầu
chuẩn bị để đón thời cơ, tin ấy phù hợp với việc cán bộ Mỹ Tho đến nhà tôi báo
cho tôi biết là tôi có thể được chỉ định vào Uỷ ban khởi nghĩa khi tôi vừa ở
Khám Lớn về nhà.
Trong trại giam Tà Lài, đảng viên cộng sản và hội viên các đoàn thể do Đảng
lãnh đạo chiếm đại đa số. Song, những người không cộng sản cũng không ít, còn
có tín đồ Cao Đài, nổi tiếng nhất là “Thiên Bồng đại nguyên soái” Lê Kim Tỵ;
lại có Tờ-rốt-kít như nhà báo ít tiếng tăm Lê Văn Thử từ đệ tam sang đệ tứ, tiến
lên đệ tứ rưỡi, cũng có một tay nguyên thuộc công đoàn vô chính phủ ở Paris như
Trịnh Hung Ngẩu - nay là công thương gia. Lác đác vào trại có một ít cụ thuộc
các “hội kín” ngày xưa. Và, sao cho khỏi mấy tay trà trộn vào đây để do thám.Ảnh căn cước Trần Văn Giàu tại trại giam Tà Lai
Văn và tôi tổ chức nhiều tổ học tập lý luận. Vấn đề chính, nhiệm vụ lớn là xây
dựng, củng cố lòng tin vào một cuộc cách mạng nhất định sẽ nổ ra thành công
ngay trong thời gian chiến tranh thế giới này. Văn là cựu sinh viên trường Đại
học Đông Phương, khoá sau tôi, người Vĩnh Long, nhỏ con mà râu xồm, tóc quăn,
có lẽ gốc người Phù Nam gì đó chăng? Văn ít nói mà làm việc nội bộ giỏi. Tôi
thì thường xuyên nói chuyện về thời sự, về các vấn đề chiến tranh và cách mạng
thế giới, trả lời cho các câu hỏi chính trị bất luận là của ai, Cao Đài hay Trốt-kýt.
Sinh hoạt tư tưởng xem như là thường xuyên, lính gác cũng được dự, có khi cả sếp
Tây nữa. Nhớ ngày Đức mở cuộc tấn công chọc thủng chiến tuyến Maginot, tràn qua
Bỉ và miền bắc Pháp, nhắm Paris trực chỉ, một thằng sếp Tây xuống trại 1, tìm hỏi
tôi: “Liệu Paris có thất thủ hay không?”. Đông đảo anh em xúm nghe tôi và
ông sếp Tây tranh luận. Sếp Tây thì đoán rằng sau chiến lũy Maginot thì Pháp chỉ
có thể lấy sông Loire làm phòng tuyến tự nhiên, chặn đứng quân Đức ở đó; nghĩa
là Paris chắc mất thôi. Còn tôi thì cho rằng Paris có truyền thống cách mạng, sẽ
không để cho quân phát xít chiếm đóng cho dù quân của chính phủ bỏ ngỏ kinh
thành. Đánh cá nhau: ăn thua một chai champagne, có hàng trăm trại viên Tà Lài
làm chứng. Ít hôm sau, chỉ ít hôm sau thôi, tin tới tấp, chẳng những Paris thất
thủ mà nước Pháp cũng sớm đầu hàng nhục nhã! Tôi không dè rằng Pháp yếu hèn đến
thế. Ai, ngoài Hitler, tin rằng một đế quốc Pháp cường quốc có hạng, mà bị bẻ
gãy xương sống chỉ trong vòng hai ba tuần, quân Pháp chạy chết như một đàn trừu
non trước bầy sói dữ? Không phải là tôi buồn bực gì về cái việc Pháp thua Đức.
Pháp thua Đức có thể thấy trước; nhưng tôi không thể đoán được là Pháp đo ván
mau đến thế. Tôi tính rằng Pháp cầm cự được ít ra cũng cả năm, Đức sẽ yếu đi bớt,
Liên Xô sẽ có thời giờ chuẩn bị thêm. Nay, ở mặt trận Tây Âu như vậy là Đức gần
như rảnh tay, nó có thể sớm đem phần lớn lực lượng sang đông, đánh Liên Xô là kẻ
thù chính của nó. Nước Đức làm chủ thực tế của toàn thể lục địa châu Âu, đem
toàn lực lục địa châu Âu sang đánh Liên Xô thì mệt cho Liên Xô lắm, mà hễ mệt
cho Liên Xô thì cũng rất khó cho cách mạng thế giới.
Quả thật như vậy. Sinh hoạt tư tưởng của căng Tà Lài từ nay tập trung vào vấn đề
mặt trận Đức - Liên Xô. Hơn ai hết tôi khẳng định rằng, tiến công Liên Xô thì
Hitler đến ngày tận số. Nhưng rồi cũng không hẳn như thế, ít nhất là ở những
giai đoạn đầu. Phòng tuyến Stalin chẳng hơn gì phòng tuyến Maginot. Quân Đức thắng
trận này đến trận khác; Hồng quân mất thành này đến thành khác, có khi một
ngày lui hàng mấy chục cây số; quân Đức vào tới ngoại ô Leningrad; Hitler
tuyên bố sẽ nghỉ đông trong Moscou! Các đồng chí cộng sản buồn hiu; bọn đệ tứ,
bọn thân Nhật lên chân; tụi nó lấy báo ghép lại thành như một chiếc chiếu vẽ địa
đồ chiến sự Đức - Liên Xô, tùy tin chiến sự mà cắm cờ chữ vạn và cờ búa liềm,
chữ vạn tiến mãi, búa liềm lui hoài; họ uống trà, bình luận, nói móc họng. Cho
đến một hôm Tào Tỵ đi qua chỗ tụ họp ấy, nghe tụi kia chế nhạo nào là “Hồng
quân vô địch”, nào là “Liên Xô hùng cường”, nào là… Tỵ nổi nóng cho mỗi đứa
một đá, một thoi trời giáng, cả bọn tan như ruồi; anh em cản Tỵ lại, không thì
tay võ sĩ Tiều này còn đại náo thiên cung dài dài và được nhiều người ủng hộ.
Song vấn đề tư tưởng thì phải giải quyết bằng tư tưởng, không giải quyết được bằng
cùi tay gót chân. Văn và tôi bắt đầu tìm cách giải thích sự cố Đông Âu trong nội
bộ các đồng chí; rồi sau đó tranh luận công khai cho mọi người phát biểu ý kiến: Đức Liên Xô, ai sẽ thắng? Trở lại trước:
– Chủ nghĩa phát xít là gì? Do đâu ra?
– Nguyên nhân của chiến tranh thế giới lần thứ hai? Trong đó có những vấn đề
mà tôi đã nói với tụi cò Catinat hồi tháng Tư!
– Chiến tranh và cách mạng.
Trước mắt, thiết thực là vấn đề Liên Xô có đứng vững được không trước sức tiến
công vũ bão của Đức Hitler. Đảng ủy, Văn và tôi cố giữ cho được lòng tin Liên
Xô sẽ chiến thắng. Trên lý luận thì như vậy, nhưng thực tế chiến trường thì
khác xa, rất khó giải thích, không dễ giữ được một lòng tin tuyệt đối như trước.
Chuẩn bị khởi nghĩa
Từ khi đặt chân lên Tà Lài, Văn, Phúc đã cho tôi biết chủ
trương đường lối của Trung ương Đảng và của Xứ ủy Nam Kỳ về vấn đề khởi nghĩa.
Trung ương hội nghị lần thứ VI họp ở Bà Điểm quyết định chiến lược mới của cách
mạng giải phóng dân tộc, quyết định rằng ta có nhiệm vụ làm cách mạng thành
công trong cơ hội “trăm năm có một”, nghĩa là trong chiến tranh thế giới lần
thứ hai này. Nhưng, rủi quá, Trung ương Thường vụ bị bắt sau đó ít lâu tại đường
Nguyễn Tấn Nghiêm, Sài Gòn. Xứ ủy Nam Kỳ, căn cứ vào nghị quyết của hội nghị
Trung ương lần thứ VI, đã bắt đầu chuẩn bị khởi nghĩa. Kế đó, Pháp đại bại, đầu
hàng Đức, các cuộc xung đột biên giới giữa Đông Dương thuộc Pháp và Thái Lan thân
Nhật càng thúc giục cuộc chuẩn bị khởi nghĩa. Chúng tôi ở Tà Lài được tin là Xứ ủy không yêu cầu chúng tôi cùng hành động, chỉ yêu cầu chúng tôi bảo toàn lực
lượng, chờ ngày được giải phóng. Nhưng về phần mình, chúng tôi không thể ngồi
chờ mà phải sẵn sàng hưởng ứng khi cần. Chúng tôi cũng chuẩn bị khởi nghĩa và
chuẩn bị bằng những cách sau đây:Tháng 7.1989 (kỷ niệm 200 Cách mạng Pháp), Trần Văn Giàu được
mời sang Pháp. Ảnh chụp trước cổng nhà tù La Roquette, nơi cậu học sinh Giàu bị
giam năm 1930 trước khi bị trục xuất về nước (ảnh N.N. Giao)
Một là, tuyên truyền vận động ráo riết cho mã tà đứng về phe cách mạng, đánh
Pháp, giành độc lập. Pháp mắc kẹt ở châu Âu, bị Đức đánh bại, thì lính khố
xanh, khố đỏ gì cũng dễ thấy được rằng Pháp hết thời rồi, chỉ còn chờ ngày cút
khỏi Đông Dương mà thôi. Ở trại Tà Lài mỗi tuần thay phiên một tiểu đội hay là
hơn nữa, ý định của Pháp là ngăn ngừa lính bị chúng tôi tuyên truyền, thực ra,
có thể xem như Tây nó thường kỳ đem nộp thêm người để cho chúng tôi tuyên truyền
cách mạng. Các toán lao động ngoài rừng, ngoài đường đều có vài lính đi theo,
chúng tôi tuyên truyền vận động đến mức họ đồng ý tập cho chúng tôi mở ráp súng
và thỉnh thoảng bắn đạn thật, lính về báo cáo với sếp Tây là đã bắn “đuổi cọp”. Đa số lính của “Binh đoàn lưu động” vì vậy mà hiểu cách mạng, cảm tình với
Đảng. Nếu ngày nào ta quyết định khởi nghĩa lấy đồn Tà Lài, thì việc đó sẽ dễ
như móc thuốc lá trong túi áo.
Hai là, tuyên truyền vận động cho đồng bào thiểu số địa phương thương và phục
những người bị giam ở trại. Việc này khó lắm. Vì đồng bào rất ít biết tiếng Việt,
còn anh em tụi tôi thì không biết tiếng Mạ chút nào. Bà con lại ở cách trại
giam tới năm, ba cây số hay xa hơn nữa, chỉ có Phúc, sếp ê kíp đốn tre bứt mây,
mới có dịp vào làng Mạ. Song đồng bào thường qua lại Tà Lài. Chúng tôi tìm cách
thỉnh thoảng tổ chức những cuộc vui chơi ở trại thì đồng bào rủ nhau đến xem. Tụi
tôi sẽ có cách “tương kế tựu kế” gây cảm tình.
Ba là, tổ chức một đội võ thuật, nói cho đúng một đội du kích hay tự vệ, không
mang hẳn tên gì mà thực chất là đội vũ trang, xung kích. Đội gồm những tay “
hào kiệt ” được chọn kỹ: Tô Ký, Nguyễn Công Trung, Tào Tỵ v.v… Trong rừng sâu
thiếu gì chỗ tập luyện.
Bốn là, rèn vũ khí thô sơ. Anh thợ Ba Son 12,
Nguyễn Văn Khung, phụ trách công việc này, dao mác, xà beng của trại thỉnh thoảng
được báo cáo mất, hỏng, thật ra là đưa vào “binh công xưởng” của Khung để rèn
dao găm, mã tấu.
Và năm là, làm lương khô và tích trữ thuốc men, việc này do “Tiển cụt” sếp bếp
của căng, phụ trách: mỗi ngày để dành cơm cháy và phơi một số cơm khô đựng
trong bao bố tời treo ở bếp.
Đã có kế hoạch chiếm gọn đồn Tà Lài, ra lấy Xuân Lộc, thắng thì đánh rốc về
Biên Hòa, thất thì vào rừng núi làm du kích chiến tranh; Tà Lài nổi dậy là phải
tùy theo lệnh của Xứ ủy, không được tự động.
Sau đây là vài chuyện thuộc mưu đồ khởi nghĩa ở Tà Lài, chuyện xảy ra vào cuối
năm 1940. Chuyện “thi lội” là kế “điệu hổ ly sơn”, tạo khả năng điều phần lớn
Tây và lính đồn ra khỏi trại mà thường xuyên chúng phải túc trực. Chuyện “Xỏ
vàm trâu cổ” là chuyện cốt làm cho đồng bào người Mạ phục anh em bị giam cầm,
tạo điều kiện quan hệ thân ái giữa người Kinh và người Thượng mà Pháp cố tình
chia rẽ; nhà cầm quyền thực dân cho rằng Tà Lài không có tường cao cửa sắt như
Khám Lớn nhưng lại có rừng già nhiều cọp và có xóm làng người thiểu số mà chúng
tin là trung thành với Pháp cho nên chúng tin chắc rằng tù nhân không thể nào
vượt ngục mà không bị dân bản địa bắt nộp cho chúng.
Thi lội
Phong cảnh Tà Lài khá hữu tình. Đồn ngói của Tây, trại tranh
của tù như giấu mình trong khu rừng mênh mông đầy muông thú, bên cạnh một con
sông lớn nước bao giờ cũng trong và đầy, sông Đồng Nai. Bên kia sông về hướng
Tây, một dãy núi xanh biếc. Bên dưới sông, một cái thác tuyệt đẹp, được tù nhân
đặt tên là thác “Cồn Mai”, đá dưới nước trồi lên, mai trên đá soi gương dưới
nước. Khoảng trên của con sông, dài không biết bao nhiêu kilômét, nước đầy, chảy
nhẹ, nhiều cá tôm, có cả sấu; chiều chiều đội đốn tre của anh Phúc thả bè về,
quần áo quấn trên cổ, hát giọng chèo đò. Một hôm chủ nhật, tốt trời, chúng tôi
xin phép tổ chức “thi lội” ở khoảng sông này. Sếp Tây đồng ý.
Trong một số anh em bị đưa đi lên trại giam Tà Lài, có Nguyễn Văn Minh, biệt
danh là “Minh lội”, người dong dỏng, khỏe, vui tính, nổi tiếng vô địch bơi lội
Đông Dương. (Năm rồi trong cuộc thi bơi lội toàn Đông Dương thì Minh đoạt giải
nhất). Bị đưa lên Tà Lài về cái “tội” không ra tội là “thuộc nhóm La
Lutte 13”,
chỉ có vậy thôi. Lên đây, Minh có một hồ bơi lý tưởng là khúc sông Đồng Nai
dài, rộng, sâu, nước chảy không mạnh. Những buổi chiều biểu diễn của Minh được
toàn căng tán thưởng, nhiều thầy chú 14 ra
xem, đôi khi sếp Tây cũng ra xem. Minh lội nhanh như cá và đẹp như khiêu vũ ba
lê.
Trong số thanh niên bị bắt lên trại giam Tà Lài, có Nguyễn Thanh Liêm, con đỡ đầu
của nghệ sĩ Văn Cừ, Cần Thơ. Liêm trẻ hơn Minh, cũng dong dỏng, vui tính, đẹp
trai, có tiếng bơi lội giỏi mà không đi tranh giải vô địch bao giờ. Trên khúc
sông Tà Lài, Minh và Liêm đôi khi cũng tranh tài với nhau và mỗi lần như vậy cả
hai đều được trại viên, lính tráng cỗ vũ, đánh cá với nhau.
Tôi, Văn và Phúc nảy ra cái ý là, nếu một ngày nào đó ta phải chiếm đồn Tà Lài
để rồi ra đánh Xuân Lộc, thì khi ấy ta phải tạo ra một tình hình thuận tiện cho
cú đánh bất ngờ, là kéo sếp Tây và phần lớn lính mã tà ra khỏi trại. Trong lúc
đó một số ít người của ta ập vô trại lấy hết súng đạn mà không phải đánh chác
gì. Trước mắt ta hãy thử tổ chức một cuộc đua tài bơi lội giữa vô địch Minh và
những ai muốn thử sức mình, nói cho đúng, giữa Minh và Liêm. Có giải thưởng. Có
cá độ. Sếp bắt Liêm, tôi bắt Minh.
Hội thi hôm ấy rất náo nhiệt.
Mấy trăm anh em ra mé sông, có cả mấy chục đồng bào Mạ qua đường dừng chân xem
đấu. Tiếng reo hò vang dội, càng vang dội khi Minh, Liêm về gần mức ngang ngửa.
Tôi, sếp cùng hàng chục anh em và binh lính đứng trên chiếc phà cột ở bến. Vui
quá là vui! Hai thằng sếp Tây, ở trần trùng trục, tay chống đầu gối cũng hét
lên với mọi người. Tôi và Tào Tỵ đứng bên hông hai sếp, cũng hét hò. Tôi thua -
sếp thắng. Liêm vượt Minh tới một thước.
Người thắng thực sự là Văn, Phúc và tôi, vì hội đua đã kéo được hầu hết Tây tà
ra khỏi đồn trại.
Khi cần sẽ có nhiều cách khác mà Tào Tỵ gọi là “dụ khị”, binh thơ xưa gọi là
“điệu hổ ly sơn”.
Xỏ vàm trâu cổ
Trâu có vàm mới kéo cày, kéo cộ, kéo súc được. Trâu không vàm
như xe cam-nhông máy tốt, xăng đủ mà không có tay lái; vô dụng. Cho nên chủ
trâu ai cũng sớm lo xỏ vàm trâu. Người ta xỏ vàm trâu khi trâu còn tơ. Không ai
đợi tới trâu dậy cổ mới xỏ vàm bao giờ. Trâu đực bốn tuổi thì cổ nó đã lớn cả
ôm; lúc đó nó dữ lắm, sờ tới mũi nó thì liệu hồn! Nó húc chết. Khép nó vào
chuồng để xỏ vàm? Nó phá gãy bất kỳ thứ cổng nào.
Vậy mà tôi đã mắt thấy một vụ xỏ vàm trâu cổ.
Người đã làm cái việc không ai dám làm đó là Tô Ký. Khi ấy Tô Ký mới mười chín
tuổi.
“Chủ mưu” là tôi. Bộ muốn hại thằng trẻ sao mà xui nó xỏ vàm trâu cổ? -
Không! Hay là sai tướng lên đánh Ma Thiên Lãnh? - Có mưu đồ tựa như vậy; có
mục đích chính trị chính đáng. Ai tinh lắm mới hé thấy. Con mắt bình thường kể
cả con mắt hay ngờ vực, cảnh giác của bọn sếp Tây cũng không hơn mắt bịt bạc.
Thôi thì hãy nói ngay rằng việc xỏ vàm trâu cổ nằm trong kế hoạch của Đảng ủy
trại tập trung Tà Lài nhằm vận động đồng bào Mạ, tạo điều kiện cho một cuộc khởi
nghĩa hoặc một cuộc vượt ngục: phải có cách làm cho đồng bào (bản địa) kính phục
và thương yêu mình bằng một số hành động nổi bật nào đó, chớ tuyên truyền miệng
thì đồng bào có hiểu tiếng Việt đâu!
Tháng 10 năm 1940, bọn tôi, có mấy trăm người bị giam ở trại tập trung Tà Lài.
Trại nằm sát mé sông Đồng Nai. Tại đây có một bến phà. Ở phía đông của bến phà
có một ngôi nhà lụp xụp nuôi tới chừng ba chục con trâu. Ngoài ngôi nhà này
không hề có căn nhà nào khác. Ở đây, bản làng đồng bào Mạ cách xa Tà Lài nhiều
cây số, nhưng ngày ngày vẫn có người mang nỏ, mang gùi, xách chà gạc 15,
xách thịt rừng đi qua đây, có khi một vài lít rượu. Đỡ buồn cho tụi tôi biết mấy!
Trong bầy trâu của chủ nhân ngôi nhà ở sát bến phà, có một con trâu duy nhất
không vàm. Đó là anh trâu cổ, cổ lớn như thùng bia. Sừng dài mới chừng hai
gang, nhọn hoắt. Cao lớn và gọn gàng. Da nó bóng láng đen thùi lũi. Nó nghinh
lên thì mắt nó như hai cục lửa, mũi phì ra hai luồng khói. Thấy mà ghê. Thế mà
chẳng lợi gì ráo cho chủ nhà ngoài hai việc: nhảy cái và giữ cọp. Bảy, tám chú
nghé đều là con của anh trâu cổ này. Bầy trâu sáng đi ăn cỏ ở trảng thì anh
trâu cổ gom tất cả vào một cụm rồi nó đi rảo xung quanh, nhìn vào mé rừng. Bầy
trâu, chiều về nhà, nằm ở sân, nghé chính giữa, lớn xung quanh, đưa đầu ra
ngoài, còn anh trâu cổ ta thì tự cho phép mình đi đi lại lại như một “chú cai”, hình như nó có ý thức cảnh giác: ở đây cọp rình luôn. Người ta kể rằng, mới
mấy tháng trước thôi, anh trâu cổ húc xẹp lép một ông cọp già vào gốc cây bằng
lăng!
– Anh trâu cổ này nếu có vàm thì tui cho người ta mướn kéo súc, được nhiều tiền
lắm: đổi lấy muối cũng được mấy chục giạ! Chủ nhà nói bập bẹ với tôi như vậy.
– Sao không liệu xỏ mũi cho nó?
– Làm sao được? Nó chém chết. Sức trai, mưu già, ở mấy bản làng xung quanh
đây, không làm gì được; không ai dám làm. Có lẽ rồi phải để người ta bắn nó,
làm thịt bán thôi.
– Nếu có ai xỏ mũi con trâu cổ đó thì anh tính sao?
– Thưởng cho một đùi heo rừng và một vò rượu cần.
Tôi hẹn với chủ nhà, để tôi hỏi anh em tôi có ai biết xỏ mũi trâu không rồi sẽ
báo lại.
– Ê, Ba Ký ơi! Chú mày nói là lớn lên từ cái nghề làm ruộng
chăn trâu, vậy có biết xỏ mũi trâu không? Tôi hỏi.
– Dễ như quấn thuốc rê.
– Đừng chủ quan: không phải trâu tơ mà trâu cổ. Dám không? Được không?
Tô Ký suy nghĩ một phút, chỉ một phút thôi, rồi trả lời:
– Lấy thế thì làm được liền.
– Thế là thế nào?
– Như vầy, như vầy…
– Uất Trì Cung tắm ngựa được thì chú mày xỏ vàm trâu cổ được chứ gì. Có biết Uất
Trì là ai không?
– Truyện Thuyết Đường Chinh Đông, nhiều truyện Tàu khác nữa trong lịch sử bắc
phương tôi thuộc làu làu. Tôi cũng sẽ làm việc “tắm ngựa” cho các anh xem.
– Cố gắng nghen! Tôi sẽ bảo chủ trâu kêu đồng bào Mạ mấy bản xa gần đến xem. Hễ
đồng bào họ khen, họ phục thì tụi mình dễ vào bản làng, vào làm gì chú Ba mày
biết rồi, không phải chỉ có việc mua gà và mua rượu.
Ngày giờ xỏ vàm trâu cổ đã tới.
Trên bãi cỏ bờ sông sau trạm y tế, bầy trâu non già ba chục con họp đông đủ.
Cũng đông đủ sếp Tây hai thằng, vài chục chú mã tà, mấy trăm anh em tù nhân đều
tề tựu, như để xem xiếc.
Tôi hồi hộp, dẫu rằng tin chắc ăn.
Tô Ký đầu trần, lưng trần, bận xà lỏn, tay cầm một sợi dây mây vót nhọn. Coi
như một võ sĩ sắp lên võ đài.
– Chắc ăn không mậy, Ba Ký? Văn hỏi.
– Như ba bó một giạ – Tô Ký đáp và cười có duyên.
Bỗng Tô Ký dõng dạc ra lệnh:
– Lùa hết trâu xuống sông một lượt!
Trót, trót, trót, roi quất đít trâu!
Trâu ùa xuống sông, con này trước con kia, con này sát con kia.
Nước Đồng Nai chảy không lấy gì làm mạnh.
Tô Ký cầm dây mây, nhảy trên lưng trâu, một con, hai con, ba con, rồi nhảy lên
lưng anh trâu cổ. Gã trâu cổ lúc này ở gần giữa bầy trâu ba mươi con chen nhau
như nêm. Đoạn Tô Ký hai chân kẹp cổ trâu ngạnh, mình trườn dài ra trên đầu
trâu, nằm giữa cặp sừng của nó, với tay ra trước nắm mũi trâu, lấy dây mây đã
vót nhọn, đâm một cái sựt, kéo nhanh dây mây buộc chặt vào mang tai trâu. Tất cả
làm xong chừng một vài phút. Anh trâu cổ bị người ngồi trên cổ, nằm sấp trên đầu,
sờ mũi, đâm mũi; nó lồng lộn nhưng không cách nào được vì chân không chấm đất,
nó quơ sừng mà người ta nằm giữa hai cái sừng, nó chém sao được, nó muốn hất mà
hất sao được vì người ở cổ nó chớ có ở trước mặt nó đâu; nó lồng phải, lồng
trái đều đụng trâu khác; trước nó, sau nó đều có trâu. Rốt cuộc, hình như nó bực
lắm, mà phải chịu thôi!
Cột dây vàm rồi, Tô Ký đứng phắt dậy trên lưng trâu ngạnh, nhảy qua lưng trâu
khác, một con, hai con, ba con, bốn con, rồi nhảy lên bờ, hô: Xong!
Mấy trăm người hoan hô nhiệt liệt.
Sếp Tây Ménétrie nói:
– Vous êtes formidable ! (Anh cừ thật)
Đội, cai, lính hết lời khen:
– Gan hết cỡ, mưu rất cao!
Đồng bào Mạ tỏ ý khâm phục, chỉ tay về phía mặt trời lặn, bảo: “Làng tôi ở
bên kia” như tỏ ý mời.
Bầy trâu xuôi dòng, tới Cồn Mai thì lên bờ, lại gặm cỏ. Riêng anh trâu cổ rày
đã có vàm, lồng lộn dữ dội: chạy tới, chạy lui, cụng vào gốc cây, lăn trên bụi
rậm, rống lên. Cuối cùng mệt lừ, nó nằm sấp xuống bãi cỏ.
Mấy tháng sau, chúng tôi, trong đó có Tô Ký, vượt ngục Tà Lài. Địch ra lệnh cho
đồng bào xuống núi, xé rừng tìm bắt bọn tôi; chúng treo giải thưởng cho đồng
bào, hứa nào muối nào gạo, nào tiền nếu bắt sống hay đem đầu về được. Nhưng
chúng tôi vẫn an toàn ẩn náu trong rừng núi Tà Lài để rồi an toàn về thành thị,
về đồng bằng, tiếp tục hoạt động cách mạng.
Không để bị khiêu khích
Tháng 12, được tin chính xác rằng khởi nghĩa Nam Kỳ nổ ra
ngày 23 tháng 11, đã hoàn toàn thất bại, nên chúng tôi bãi bỏ sự chuẩn bị khởi
nghĩa ở Tà Lài. Dĩ nhiên là công tác binh vận, tuyên truyền trong đồng bào Mạ
thì vẫn tiếp tục. Hàng trăm anh em ở các tỉnh mới bị bắt đưa lên trại giam cho
chúng tôi biết do khởi nghĩa đã nổ ra cuối tháng 11 thất bại; thực dân Pháp
đàn áp rất dữ dội, tàn sát dã man hơn cả những năm 1930-1931. Chúng tôi không
biết tình hình căng Tà Lài sẽ ra sao để mà đối phó. Địch sẽ khủng bố tới mức
nào ở trại giam? Dù sao đi nữa thì mình cũng phải bình tĩnh, đề phòng, dự tính
các khả năng.
Một hôm, chủ tỉnh Biên Hòa La Rivière lên Tà Lài với một tiểu đội lính khố xanh
hộ vệ. Hôm đó, cũng như mấy hôm trước, từ sau khi nổ ra khởi nghĩa tháng 11, trại
viên không toán nào đi làm ngoài xa cả ; tuyệt đại đa số đều tập trung, già cả
thì chẻ tre đan ky trong nhà, trai trẻ thì xeo đá gánh đất làm con đường lớn gần
sát trại đi lên hướng đông bắc dọc theo sông Đồng Nai. Bỗng sếp căng dẫn chủ tỉnh 16 đến
chỗ tù nhân đang xeo 17 đá
đắp đường:
– Tất cả, tập hợp lại! Cuốc xẻng bỏ hết xuống đất ! Sếp căng ra lệnh.
Anh em mới cũ, già trẻ non năm trăm người tập hợp lại dưới dốc. Sau lưng y là
toán lính lên cò súng trường nghe rôm rốp.
– Có biến rồi; chắc khủng bố; anh em nói với nhau.
– Bình tĩnh, bình tĩnh! Đứng thưa ra, thưa ra! Tôi bảo anh em.
Chủ tỉnh nói: Hãy nghe ta đây! Vừa qua, thừa lúc nước Pháp bại trận ở châu Âu
và bị rối ở biên giới Thái Lan, Đảng Cộng sản các nước đã cầm vũ khí nổi lên
toan đánh đổ chính quyền Pháp ở Nam Kỳ. Đảng của các người đã hoàn toàn thất bại.
Chính phủ đã và đang thẳng tay đàn áp và đàn áp không thương tiếc. May lắm
mươi, mười lăm năm nữa, đảng của các người mới có thể ngóc đầu dậy. Ta báo tin
cho các người biết. Bây giờ các người hãy trả lời cho ta câu hỏi sau đây:
Hỡi các người ở căng Tà Lài này, tán thành hay phản đối cuộc bạo động vừa qua ở
Nam Kỳ?
Như thường lệ, là đại biểu được toàn thể anh em bầu cử, tôi dịch cho anh em
nghe. Tôi thấy anh em lo ngại lắm. Rõ ràng quá, thằng chủ tỉnh cố khiêu khích.
Mấy trăm cặp mắt ngó vào tôi như bảo phải trả lời sao cho vừa giữ thanh danh của
đoàn thể, vừa tránh khủng bố đẫm máu cho anh em. Tôi yêu cầu các anh em ủng hộ
tôi. Khó trả lời quá. Nói tán thành khởi nghĩa thì thằng chủ tỉnh có thể sẽ ra
lệnh bắn. Lúc này, bắn chết năm, bảy chục, một hai trăm người, tụi Tây ở đâu
cũng dám làm, bọn tề xã còn dám tự tiện giết người kia mà. Còn nói không tán
thành hay phản đối khởi nghĩa mặc dầu khởi nghĩa đã nổ ra rồi, đã thất bại rồi,
thì hoá ra mình hèn quá, Tây nó khinh mình, mình cũng xấu hổ với anh em. Tôi
xòe tay làm dấu hiệu bảo anh em đứng thưa ra hơn nữa. Rồi tôi bước tới mấy bước,
đứng lên một tảng đá lớn, khá cao, với ngụ ý là, nếu tôi bị bắn, tôi sẽ đổ từ
trên xuống, chớ không phải ngã bẹp. Tất cả diễn ra hết sức nhanh. Tôi trả lời bằng
tiếng Pháp, sau lưng tôi có Văn dịch lại cho tất cả anh em nghe.
“Này ông chủ tỉnh! Ông hỏi vậy chúng tôi ở Tà Lài tán thành hay không tán
thành cuộc khởi nghĩa vừa mới xảy ra ở đồng bằng? Tôi xin trả lời cho ông và
tôi chắc ông đủ bình tĩnh để nghe. Ông ơi! Nước Việt Nam (lúc ấy tôi nói là
Đông Dương) của chúng tôi từ mấy chục năm nay ở dưới quyền thống trị của nước
Pháp, cũng như mấy tháng nay nước Pháp yêu dấu của các ông bị quân Đức Hitler
xâm chiếm, dày xéo, thống trị. Chúng ta, ông cũng như tôi, đều là đồng cảnh ngộ
mất nước. Tôi được biết, và ông thừa biết hơn tôi, rằng hàng chục vạn người
Pháp thường dân và binh lính đang nổi lên cầm vũ khí tiếp tục đánh Đức để giải
phóng quê hương. Tôi tin chắc rằng trong thâm tâm của ông chủ tỉnh, ông rất đồng
ý với những người Pháp kháng chiến rằng không thể van xin quân Đức rút lui mà
nhất thiết phải đánh đuổi chúng bằng vũ lực, bằng súng đạn. Ở góc trời Đông
Dương xa xăm này, vì tấm lòng yêu nước Pháp, vì ý thức bảo vệ danh dự người
Pháp, ông tuy không nói ra, ông không thể nói ra, mà ông thực sự một lòng với
những người Pháp kháng chiến trong lòng nước Pháp. Chẳng nói giấu chi ông, ở
cái xó rừng núi Tà Lài này, tôi sao lại không thông cảm với đồng bào của tôi
trong biến cố tháng 11 vừa qua ở Nam Kỳ?
Đó, tôi đã trả lời cho câu hỏi của ông chủ tỉnh”.
Thằng Rivière nãy giờ nín thinh, bây giờ tay không chống nạnh nữa; nó nhìn xuống
đất, rồi nhìn lên khi tôi nói tiếp:
“Còn như ông bảo rằng may ra mười, mười lăm năm nữa Đảng chúng tôi mới sống lại
được. Thì, ông ơi, làm sao biết được mười lăm năm hay năm năm nữa, cục diện thế
giới và cục diện Đông Dương sẽ biến đổi hoàn toàn. Ông còn sống, tôi chắc cũng
còn sống, mọi người ở đây cũng còn sống, chúng ta tất cả là chứng nhân của lịch
sử, chúng ta nhất định sẽ vui mừng thấy được nước Đức của Hitler bị bẻ gãy
xương sống, nước Pháp của các ông và nước Việt Nam của chúng tôi đều được tự do”.
Thằng Tây xem chừng mất hết cái hùng hổ ban đầu. Nó không nói năng gì hết. Nó
quay lưng đi; sếp căng và toán lính khố xanh mang súng trên vai, theo sau, êm
ru. Mấy trăm anh em chúng tôi cười thầm, bàn bàn luận luận.
Thắng một trận!
Thoát nạn; khi nãy tưởng đâu đại biến tới nơi!
Ông Trần Hữu Độ 18,
tục gọi là ông “Hồi trống tự do” hay là ông “Biện chứng pháp”, vỗ vai tôi,
nói: “Thiệt chiến 19 Tà
Lài, nghe khoái thật”. Ở sở đan ky 20,
trong số người có tuổi, ông Trần Hữu Độ nổi tiếng là một kho truyện Tàu và một
kho tiếu lâm.
Vượt ngục
Ở căng Tà Lài cuộc sống không đến nỗi cực khổ quá, có thể nói
thảnh thơi là khác, được như vậy không phải do chế độ của trại giam mà do tổ chức
tù nhân của chúng tôi; công việc khoán phần lớn ở trong rừng, chỉ có mã tà đi
theo cốt để giữ không cho chúng tôi trốn hơn là để thúc bách tù làm. Chỉ một lần
sếp Tây đánh một đồng chí một gậy, đồng chí ấy quơ xà beng lên đỡ, tất cả anh
em đều đứng lên, xẻng, cuốc dao, mác trong tay, mắt đổ dồn vào tên sếp Tây, nó
khiếp quá, bỏ đi luôn. Từ đó trở đi không có vụ đánh đập nào nữa. Ăn, thì gạo
thừa, cá khô đủ; chúng tôi còn đánh cá trên sông, mua thịt rừng, rượu cần ở đồng
bào thiểu số. Rau thì thiếu gì trong rừng. Thuốc men không biết đâu là đủ,
nhưng sốt rét thì có ký ninh, uống nước thì có nước sông lọc bằng thuốc tím. Ở,
thì nhà tranh vách nứa, tự làm, nhưng được phát mùng, phát chiếu. Tây nó cốt được
yên bằng việc tách tụi tôi khỏi nhân dân, không cốt được kết quả lao động khổ
sai. Chúng tôi, cốt học tập dạy nhau để làm “cầu thủ dự bị” lúc cần, không cốt
đấu tranh vì lợi ích hàng ngày. Sếp, mã tà đều nể chúng tôi, vì chúng tôi bao
giờ cũng giữ nhân cách người yêu nước, người cán bộ cách mạng, cộng sản.
Thế nhưng, chẳng những riêng mình tôi, rất nhiều anh em nuôi chí vượt ngục ngay
từ đầu. Có người muốn vượt ngục vì không muốn bị giam giữ vô thời hạn. Có người
cho rằng, ngày nào đó, Tây bị cách mạng nổi lên đánh đổ hoặc bị một đế quốc
khác giành lấy thuộc địa thì chúng sẽ tàn sát mình trước khi tháo chạy, cho nên
mình phải liệu trước, thoát khỏi trại là hơn. Riêng tôi và một số cán bộ nòng cốt
xác định rằng thời kỳ chiến tranh đế quốc chính là thời kỳ cách mạng giải
phóng. Cơ hội trăm năm có một. Cha anh đã thất bại hồi chiến tranh 1914-1918;
bây giờ chúng ta nhất thiết phải thành công. Cho nên chúng tôi đã tính đến vượt
ngục từ những ngày mới đến Tà Lài; còn tính đến khởi nghĩa ở Tà Lài nữa.
Vào thời điểm cuối 1940, khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại, rất nhiều đồng chí bị giết,
bị bắt, kể đến hàng ngàn, nhiều hơn bất cứ lúc nào. Cả Trung ương, Thường vụ đều
bị bắt, chưa kịp phục hồi tổ chức thì tới phiên Xứ ủy Nam Kỳ hai lần bị bắt, rồi
lần lượt các tỉnh ủy viên bị bắt, cơ sở Đảng và quần chúng bị đánh tan tác. Các
bạn mới lên căng sau này báo cáo tình hình bi đát ấy. Và hôm rồi tên tỉnh trưởng
La Rivière quả quyết rằng: “Hoạ may, mười, mười lăm năm nữa, đảng của các anh
mới có thể ngóc đầu dậy”.
Vậy thì đến lúc “cầu thủ dự bị” phải vào sân kẻo trễ. Đã đến lúc các đồng chí
bị giam ở Tà Lài, ai có nhiệt huyết, ai có tinh thần, phải vượt ngục trở về với
dân, hoặc để bổ sung cho phong trào bị tổn thất quá nặng nề, hoặc gây dựng lại
hệ thống cơ sở bị tàn phá tan hoang. Các bạn mới lên căng Tà Lài kể lại một phần
tình hình địch khủng bố: nhà tù đầy nhóc, địch phải dùng các sân banh rào kẽm
gai để nhốt người dưới nắng, dưới mưa ; chúng xỏ dây xâu chuỗi người bị bắt để
dẫn về trại giam, xỏ dây kẽm ngang bàn tay như ta lấy nhánh trâm bầu xỏ vào
mang con cá, địch phải dùng tới xà lan ghe chài để giam chính trị phạm; chiến
sĩ bị giam đông đến mức chỉ có chỗ đứng, không có chỗ ngồi, nói chi chỗ nằm; bọn
thực dân cho tù uống nước bằng vòi rồng, cho ăn bằng cách rải cơm xuống xà lan,
ghe chài nêm đầy người như người ta rải lúa cho gà trên sân; đến một lúc nào
đó thì đám thực dân ra lệnh cho ca nô dắt những xà lan ghe chài đầy người kia
ra cửa biển rồi lạnh lùng đánh chìm! Nghe đau thương hết sức! Pháp cố làm sao
cho trong lúc chiến tranh này, không còn một tổ chức cách mạng nào, nhất là
không còn có Đảng Cộng sản, thì mới giữ được Đông Dương trong tay Pháp. Toàn
quyền Catroux đã công khai tuyên bố như vậy ngay từ khi hắn chân ướt chân ráo mới
đến trấn nhiệm xứ này.
Phải vượt ngục thôi! Để góp phần xây dựng lại Đảng bộ mạnh. Không có một Đảng
bộ mạnh thì không có giải phóng.
Phải vượt ngục sớm; nếu chậm trễ thì có thể sẽ không còn cơ hội vượt ngục nữa.
Mấy hôm nay, ê kíp đan ky của Trần Hữu Độ được lệnh sản xuất thật nhiều, đan
bao nhiêu, xe cam-nhông chở đi hết bấy nhiêu. Chở đi đâu? Để làm gì? Tụi Pháp
chuẩn bị một “căng” nào ở núi cao rừng sâu hơn Tà Lài? Và biết đâu chúng nó
không thực hiện kế hoạch đưa những người đặc biệt “nguy hiểm” đi xa hơn, đi
các đảo thuộc địa Pháp trên Ấn Độ Dương? Có thể lắm; và khi ấy thì không còn
vượt ngục được nữa. (Sau mới biết rằng dự đoán của chúng tôi là đúng: anh em
Tà Lài bị dời qua trại giam Bá Rá, và một số đồng chí như Phan Vân, Minh, cả
giáo chủ Cao Đài Phạm Công Tắc cũng bị đưa sang tận Madagascar).
Trong lúc chuẩn bị vượt ngục, Đảng ủy căng Tà Lài đặc biệt chú trọng đến việc tập
hợp tư liệu, thông tin về cuộc khởi nghĩa thông qua các đồng chí mới bị đưa lên
căng Tà Lài sau ngày 23 tháng 11 năm 1940, nghiên cứu, sơ kết kinh nghiệm, rút
ra một số bài học cần thiết để trang bị cho anh em sắp về công tác.
Việc chuẩn bị vượt ngục được bắt đầu ngay sau Tết Tân Tỵ 1941: chọn người, điều
tra đường đi nước bước, phơi cơm khô, trữ thuốc men, tạo một thiểu giấy tờ hợp
pháp, kiếm tiền, bắt liên lạc với các đồng chí bên ngoài còn sống sót. Ba anh
được lệnh đi trước để sắp xếp thực hiện một kế hoạch vượt ngục có quy mô; đó
là Khước (người Mỏ Cày có bộ râu Quan Công), “Minh Thẹo” (người Long Hồ, tháo
vát) và Khuy (được gọi là “con chim ngủ ngày”, lầm lì ít nói). Ba anh đi trót
lọt. Nhưng ở Tà Lài chúng tôi chờ mãi, không nhận được tin gì của họ. Như vậy
là phải thực hiện kế hoạch vượt ngục cho một số ít người có năng lực đã được thử
thách về các mặt lý luận, tổ chức, đấu tranh. Phải từng toán nhỏ mới dễ đi trót
lọt được. Tôi khá lúng túng trong việc chọn người. Số anh em có tinh thần, có
năng lực thì nhiều; lựa ai, không lựa ai? Lấy nhiều thì khó đi trót lọt, lấy
ít thì hàng chục đồng chí tốt sẽ thắc mắc, phiền trách. Cuối cùng Đảng ủy đồng
ý tám người cùng đi. Ngoài tôi ra, còn có các anh:
- Văn, tức Kiệt, kỹ sư, nguyên là sinh viên trường Đại học Cộng sản Đông
Phương.
- Phúc (Dương Quang Đông), dân cựu trào, đã vào tổ chức từ năm 1927.
- Nhâm, công nhân, đã là thành ủy viên thành phố Sài Gòn cùng thời với chị Minh
Khai ; lái xe, lái tàu đều giỏi.
- Giác, một cán bộ cựu trào từ năm 1930, đã từng hoạt động ở Cao Miên.
- Đức, một cựu tỉnh ủy viên Bến Tre, giỏi nông vận.
- Trung, một cán bộ hoạt động công đoàn trong nhóm Dân chúng 21 thời
Mặt trận dân chủ.
- Tô Ký, một thanh niên Hóc Môn, võ giỏi, mưu trí, thuộc làu các truyện Tàu như
Tam Quốc, Đông Chu liệt quốc; tôi nhằm rằng tay này có thể trở thành một cán bộ
quân sự đắc lực; trong vụ “Xỏ vàm trâu cổ” vừa qua, Tô Ký tỏ ra rất can đảm,
mưu trí.
Tôi tính rằng với số tám người này cộng với ba anh đã đi trước, nếu không bị mất
mát hay ít bị mất mát, thì có thể thực hiện được nhanh chóng kế hoạch gây dựng
lại cơ sở và hệ thống tổ chức Đảng bộ Nam Kỳ, tạo điều kiện tổ chức vượt ngục
quy mô lớn cho anh em trại giam. Vấn đề trước mắt là phải làm sao cho chúng tôi
nhờ ít người mà vượt ngục trót lọt.
Muốn đi trót lọt, phải quyết định đúng hướng đi. Chắc chắn là một khi sếp căng
và chủ tỉnh hay rằng tụi tôi đã thoát khỏi căng thì lập tức chúng ra lệnh truy
nã, cho cả bộ máy cai trị trong tỉnh Biên Hòa, trong xứ Nam Kỳ, từ trên xuống đến
xã, khắp các làng thiểu số, ra sức săn lùng. Nhóm tụi tôi, gạo cội của cộng sản,
mà tuột khỏi tay chúng nó thì sẽ gây ra vô vàn khó khăn cho nhà cầm quyền. Vậy
chắc chắn là Pháp sẽ phải tức tốc, trong ngày, giăng một lưới dày đặc xung
quanh Tà Lài trước hết chặn tất cả các ngõ ra. Chúng tôi đoán bọn Tây sẽ chặn
hướng đông là hướng ra đường 20, cách Tà Lài mười bảy cây số; đồng thời chúng
sẽ chặn hướng tây là hướng về Thủ Dầu Một, và nhất là chặn hướng nam là hướng về
Biên Hòa dọc sông Đồng Nai. Tôi cho rằng Pháp không quan tâm mấy đến hướng bắc
đông bắc là hướng càng đi càng vào rừng sâu, lên núi cao, dân cư toàn là người
thiểu số, hướng ngược dòng sông Đồng Nai đầy gành thác. Cho nên tôi đề nghị với
anh em là ta nên đi theo hướng ngược sông, hướng vào rừng sâu, núi cao, tuy dễ
bị sốt rét rừng, nhiều cọp beo, nhưng là hướng mà địch ít ngờ nhất, còn ta thì
đã chuẩn bị lương thực, thuốc men khá đầy đủ rồi, có thể chịu đựng một tháng hoặc
hơn thế.
Vào một đêm tối trời đầu tháng ba năm 1941, thời giờ vượt ngục đến. Tôi tiếp mấy
người cai đội mới lên đổi gác, những cuộc tiếp ấy đã thành lệ, cùng họ uống
trà, đàm đạo, trong một cái chòi tứ giác ở gần nhà y tế, còn bảy đồng chí khác
đã bí mật tập kết tại một địa điểm bờ sông. Buổi tiếp xong, tôi gọi Tào Tỵ lại,
báo cho Tỵ biết rằng đêm nay tụi tôi ra đi, Tỵ ở lại để giữ vững tinh thần của
anh em, và để lập kế sao cho Tây tà không thể sao biết sớm là ông Giàu đã đi khỏi
trại. Tỵ được lệnh phải ở lại. Ông Trương Phi ấy nổi nóng, phản ứng dữ, nhưng
mau chóng tuân theo quyết định của Đảng ủy. Tỵ phải vào mùng của Giàu, đắp mền,
nằm im cho đến gần sáng, đề phòng khi lính đi rỏn nửa đêm thấy vắng ông Giàu,
Giàu nằm đầu sập tre trại một, lính tuần tra đêm đêm vẫn ghé coi ông Giàu còn
đó hay không. Gần sáng Tỵ sẽ báo lại với anh em rằng hồi hôm Giàu, Văn, Phúc,…
đã đi rồi. Đến lúc đó đoàn vượt ngục đã đi cách xa trại giam mấy chục cây số bằng
đường sông ngược lên phía đông bắc, hướng an toàn nhất. Sáng ra, thay mặt cho
các trại viên còn lại, Tỵ sẽ đem bức thư của tôi gởi cho sếp căng. Thư ấy, Tô
Ký còn thuộc lòng dù đã mấy mươi năm sau. Trong đó tôi viết:
“Ông sếp căng:
Hôm nay chúng tôi ra đi, xin để lại mấy dòng từ biệt.
Chúng tôi ra đi không phải trước hết vì muốn gặp cha mẹ, vợ con.
Gặp lại sao được trong tình cảnh tù vượt ngục?
Chúng tôi ra đi, nói thật, không phải vì chế độ căng quá khắc nghiệt. Ở căng
tuy khổ – mà ở nhà tù nào lại không khổ – nhưng ông sếp không ác. Vả lại ông và
tôi đã nhiều lần tâm sự với nhau, thông cảm với nhau về cái nhục mất nước, nước
ông và nước tôi.
Chúng tôi ra đi vì mục đích giải phóng dân tộc chúng tôi, giành lại độc lập tự
do cho đất nước chúng tôi.
Chắc những người Pháp ở Pháp hiện giờ cũng đang chiến đấu chống lại sự chiếm
đóng của quân Đức Hitler, nhằm giành lại độc lập tự cho cho nước Pháp. Hẳn rằng
ông sếp đồng tình với những người Pháp yêu nước đó. Việc làm của họ và việc làm
của chúng tôi giống nhau.
Mong rằng, chúng tôi ra đi rồi, ông sếp và những người cộng sự của ông sẽ tiếp
tục đối xử ôn hòa, phải lý với anh em chúng tôi còn ở lại.
Xin chào từ biệt ông.
Thay mặt các bạn của tôi
Trần Văn Giàu”
Tào Tỵ kể lại: hửng sáng ngày hôm sau, khi anh lên văn phòng sếp căng báo cáo
lại rằng : Trần Văn Giàu và bảy người đã trốn đi từ bao giờ không biết mà có để
lại cho sếp một bức thơ, thơ đây. Ménétrier bình tĩnh báo cáo ngay cho La
Rivière, chủ tỉnh Biên Hòa, đồng thời ra lệnh giới nghiêm ở trại giam: không một
ai được ra ngoài hàng rào dây kẽm gai. Chín giờ, La Rivière lên tới Tà Lài, liền
tập hợp tù nhân, la hét, đe dọa và tuyên bố: “Trong vài ngày, lâu nhất là một
tuần, các ngươi sẽ thấy người Mọi đem đầu của Trần Văn Giàu và đồng bọn treo ở
trước cửa trại giam”.
1. Ma
ca bông: biến âm từ danh từ tiếng Pháp vagabond, người vô gia cư,
lưu lãng, thường có nghĩa xấu (ma cà bông, ma cà cúi, lúi húi đi tìm).
2. Mã
tà: hay ma tà, gốc từ tiếng Mã Lai mata mata, chỉ chung lính cảnh
sát, công an. Giữa thế kỷ XIX, mã tà chỉ một loại lính trong quân đội
thực dân, cũng như ma ní (người gốc Phi luật tân). Trong Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc (1861), Nguyễn Đình Chiểu viết: “Kẻ đâm ngang, người chém ngược,
làm cho mã tà ma ní hồn kinh; bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc,
tàu đồng súng nổ.” và “Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương xô bàn độc,
thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì,
nghe càng thêm hổ.”
3. Tức Mười
Ký, tên trong nhà của Trần Văn Giàu.
4. Bãi
thực: tức tuyệt thực, nhịn ăn để phản đối hay đòi hỏi điều gì.
5. Có
lẽ đây là cuộc tuyệt thực nổi tiếng tháng mười năm 1936 ở Khám Lớn của Nguyễn
An Ninh, Nguyễn Văn Tạo (bản đánh máy viết nhầm là Tạ chăng?), Tạ Thu Thâu.
6. Lính
khố xanh: cùng với Lính khố đỏ, là những người Đông Dương ở trong
các đơn vị “bản xứ” của quân đội Pháp. Quân phục của họ là quần áo chẽn, nón dẹp
(sau đổi nón chóp), và giải thắt lưng (quần) màu đỏ (xanh) buộc ở bụng, đầu giải
buông thõng ở bẹn giống như cái khố nên người dân Việt mới gọi là "khố đỏ/xanh". Khố
đỏ là lính chính quy (tirailleurs), khố xanh (miliciens) là địa
phương quân (cấp tỉnh).
7. Mặt
trận bình dân (Front Populaire): Liên minh phái tả nghị trường Pháp
(1936-1937) gồm Đảng xã hội SFIO, Đảng cấp tiến (Radical), có sự ủng hộ của Đảng
cộng sản (không tham gia nội các), mang lại nhiều quyền lợi vật chất và tinh thần
cho các thành phần lao động Pháp. Về đối ngoại, chính quyền Léon Blum không dám
ủng hộ chính quyền cộng hòa Tây Ban Nha chống lại cuộc phản loạn của Franco. Đối
với các chính sách thuộc địa, chính quyền Léon Blum đề ra một vài cải cách nửa
chừng, song đã bị các thế lực thực dân vô hiệu hóa. Tuy nhiên, thời kì này đã
có tác dụng rất tích cực đối với phong trào đấu tranh dân chủ, hợp pháp và bán
hợp pháp ở Việt Nam. Đảng Cộng sản đã vực dậy sau cuộc đàn áp 1931-32. Tự do
báo chí được mở rộng hơn (hẳn bây giờ). Dòng văn học hiện thực nảy nở.
8. Ách:
adjudant (thượng sĩ); đội: sergent (trung sĩ); cai:
caporal (hạ sĩ).
9. Căng:
camp (trại).
10. Trảng:
vùng đất trống, không/thưa cây, ở giữa rừng (clairière/glade)
11. Mạ hay Châu
Mạ: dân tộc Tây Nguyên, ngữ hệ Môn Khmer, hiện nay khoảng 33 000 người, sống
ở các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai (Tà Lài thuộc huyện Tân Phú của Đồng
Nai). Theo Bình
Nguyên Lộc, tiếng Việt đã tiếp thu khá nhiều từ của tiếng Mạ: sét (han
rỉ), cẩm lai (gỗ), cá long tong, chết giấc (ngất
đi), ngầy ngà (hay rầy mắng), thét rồi (mãi rồi), bậu (dùng
để gọi vợ), qua (dùng để tự xưng với người yêu hay em út), lung (nhiều
lắm)
12. Ba
Son: từ tên gọi tiếng Pháp Arsenal de réparation (Công xưởng sửa
chữa tàu chiến), xưởng sửa chữa tàu của Hải quân Pháp mở ra từ 1863 ở ngã ba
sông Sài Gòn và rạch Thị Nghè. Nơi đây Nguyễn Ánh đã từng lập xưởng đóng chiến
thuyền. Nửa đầu thế kỷ XX, Ba Son là nơi tập trung một đội ngũ công nhân cơ khí
(trong đó có người thợ Tôn Đức Thắng).
13. La
Lutte: tờ báo tiếng Pháp, xuất bản tại Sài Gòn. Chỉ tồn tại từ 1933 đến
1937, tờ báo này có tiếng vang và ảnh hưởng sâu rộng trong cuộc đấu tranh chính
trị ở Nam Bộ thời kỳ Mặt trận Bình dân. Dưới sự chủ trì của Nguyễn An Ninh, La
Lutte (Tranh đấu) tập hợp cả hai xu hướng cộng sản (đệ tam và đệ tứ) và những
người tiến bộ khác. Có thể đọc thêm bài của sử gia Daniel Hémery Sài Gòn thập
niên 1930: LA LUTTE tờ báo chiến đấu
14. Thầy
chú: giám thị (nhà tù).
15. Chà
gạc: còn gọi là rựa, dao rừng cán cong, phổ biến trong các dân tộc
vùng Tây Nguyên và miền núi Đông Nam Bộ.
16. Chủ
tỉnh: administrateur, viên chức Pháp, cai quản một tỉnh ở Nam Kỳ dưới
thời thực dân (Nam Kì là thuộc địa, nằm dưới chế độ trực trị). Ở Trung Kỳ và Bắc
Kỳ, bộ máy chính quyền vẫn là bộ máy của triều đình Huế, nhưng tại mỗi tỉnh,
các quan phủ, quan huyện chịu lệnh của viên công sứ (résident) người
Pháp.
17. Xeo
đá: dùng đòn bẩy để lay chuyển những hòn đá lớn.
18. Trần
Hữu Độ: nhà văn, bút hiệu Quân Hiến (1887-1945), quê quán trà Vinh. Chịu ảnh
hưởng của phong trào Duy Tân, dịch sách Tân Thư của Lương Khải Siêu, viết Tiếng
chuông truy hồn (1925), Hồi trống tự do (1926); năm 1928 bị
tù vì tội «xúi dân làm loạn» (tương đương với điều 88 của Luật hình
sự ngày nay). Ra tù, tham gia phong trào Đông dương Đại hội, thành lập Tân Văn
Hóa Tùng Thư, chịu ảnh hưởng mác-xít, viết - Biện chứng pháp (1936), Mười
một công thức của Karl Marx làm cơ sở Duy vật sử quan (1936), Đế quốc
chủ nghĩa (1937). Bị giam lần thứ nhì năm 1941.
19. Thiệt
chiến: giao tranh bằng lưỡi (thiệt), tranh luận. Ý nói tới cuộc “thiệt
chiến quần nho” giữa Khổng Minh và bọn nho sĩ Đông Ngô thời Tam Quốc.
20. Ky:
đồ đan bằng tre dùng để xúc đất, hót rác.
21. Dân
chúng: tờ báo (tiếng Việt) công khai của Đảng cộng sản, xuất bản tại Sài
Gòn trong thời gian 1938-1939, cùng trụ sở với tờ báo tiếng Pháp Le Peuple,
ở số 43 đường Hamelin (nay là Lê Thị Hồng Gấm).
Phần thứ hai
ĐÀ LẠT, PHÚ LẠC, U MINHTrần Văn Giàu, thập niên 1940 Ảnh: Trung tâm lưu trữ
Aix-en-Provence.
Suốt đêm đầu tiên vượt ngục, chúng tôi thay phiên nhau bơi chiếc ghe lườn (xuồng
lớn làm bằng cả một thân cây bị khoét ruột banh bìa), chúng tôi khiêng qua mấy
cái thác; đến gần sáng, ước chừng đã xa trại giam ít nhất cũng mười lăm cây số
đường chim bay, chúng tôi kiếm chỗ nước sâu để nhận chìm ghe; rồi, hành lý
trên vai, anh em đi tìm nơi ẩn nấp sao cho có thể quan sát được xung quanh mà
người khác thì khó trông thấy mình; đường đi không để dấu chân, không gãy cành
khô, không bẻ cành non, không rơi vãi một chút giấy lộn; nơi ẩn đó phải có nước
uống; tránh mưa không phải là vấn đề quan trọng, độ này là mùa nắng, điều quan
trọng là phải xa xóm làng mà không xa đường 20. Chúng tôi ăn cơm khô, khỏi phải
nấu cơm, khỏi sợ lộ vì khói. Nếu rủi bị dân làng trông thấy, thì họ cũng chỉ
trông thấy vài người thôi; tụi tôi chia ra từng nhóm nhỏ vài người, nếu gặp rủi
ro không bị tóm cả lũ. Chúng tôi có thừa thời giờ để bàn mọi kế hoạch hành động,
trước tiên là kế hoạch an toàn về các tỉnh đồng bằng.
Mấy ngọn núi chúng tôi ẩn náu chắc là thuộc vùng Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, không
xa ranh giới Biên Hòa là mấy. Từ đó ra đường 20 chỉ một khoảng không xa; có thể
về Sài Gòn, lên Đà Lạt, qua Phan Thiết, xuống Bà Rịa, rồi từ Bà Rịa qua Cần Thơ
đến Chợ Lớn, Gò Công, rộng đường lắm. Nhóm của Nhâm về Sài Gòn, có cách lấy ôtô
rước nhóm của Phúc. Nhóm của tôi ngược lên Đà Lạt, tính rằng từ Đà Lạt có thể về
Nam Kỳ bằng ôtô, bằng xe lửa, bằng ghe bầu, thuyền đánh cá, vòng co tam quốc một
chút, chẳng sao, miễn là an toàn.
Lên Đà Lạt
Tôi cho rằng, bởi vì từ 1930 đến 1935 tôi hoạt động ở Sài Gòn
và Nam Kỳ lục tỉnh, chưa hề hoạt động ở Trung Kỳ, Bắc Kỳ, và hoạt động toàn
trong bí mật, nên quen biết không rộng; nhưng bởi vì tôi đã ở tù mấy lượt, đã
dạy chính trị cho mấy trăm cán bộ và hội viên, nên tôi vẫn có thể bị nhận diện
nơi này nơi khác. Địch truy tìm tôi thì chắc chủ yếu truy tìm ở Sài Gòn, ở Nam
Kỳ. Vì vậy, tôi không về ngay Sài Gòn và lục tỉnh, mà đi ngược lên Đà Lạt, nhằm
tìm nơi ẩn náu an toàn một thời gian bao lâu chưa định trước. Tôi chưa hề đi Đà
Lạt, ở nơi “đất khách quê người” đó ít có khả năng tôi bị phát hiện dù là tình
cờ; càng ít khả năng bị phát hiện nếu tôi không lui tới những nơi tụ họp của
các tầng lớp trung lưu trong xã hội và nếu tôi thường ngày sinh sống trong các
tầng lớp nhân dân lao động như trồng rau quả, làm thợ hồ, làm công nhân bắn đá,
chở đá. Mật thám nào lại đi tìm ông Giàu ở những chỗ lam lũ cơ hàn đó? Trong
lúc số đông đồng chí được tổ chức rước về Sài Gòn, lục tỉnh, thì tôi đi bộ và
theo xe chở hàng ngược đường 20. Nhóm tôi gồm có Tô Ký, Châu Văn Giác và tôi.
Lên Đà Lạt thì tiền mấy đồng chí còn lại chia ba, ba người mỗi người một nẻo, cốt
tìm chỗ ở, chỗ làm, hẹn gặp nhau sau. Lạ nước lạ cái, Tô Ký bị bắt ngay, may
quá, Tô Ký không khai là tôi ở đâu đó tại Đà Lạt, nếu chú ấy phản thì tôi khó bề
thoát. Giác có bà con ở Đà Lạt sớm nhờ xe về lục tỉnh. Còn tôi thì lo chỗ làm,
chỗ ở. Chỉ vài hôm sau khi lên tới Đà Lạt, tôi đi làm ở một hầm bắn đá, rồi từ
đó tôi chuyển sang ngành thợ xây nhà, xây cống, suốt ngày ở trên sườn núi, ven
rừng, dưới hố, tới chiều tối về ở đậu với thợ cả tại xóm Suối Cát, một xóm công
giáo bên cạnh nhà thờ, hoặc tại ấp Hà Đông, hơi xa chợ một chút. Trong túi tôi
ban đầu chỉ có mấy đồng bạc, nhưng dần dà tiền công ngày của tôi lên tới một đồng
tư, khổ một tí mà sống được. Khổ một tí nhưng tương đối an toàn. Hồi 1929,
1930, cán bộ đi “vô sản hóa” có ai kêu khổ đâu? Ngày tháng trôi qua chậm chạp,
không hoạt động chính trị thì ngày tháng trôi qua mau sao được? Trong khoảng
không đầy nửa năm ở Đà Lạt, ba chuyện tình cờ xảy ra với tôi, đáng nhớ nhất.
Đó là gặp chú Năm Luông, một cán bộ cũ.
Việc thứ hai: nằm bệnh viện Đà Lạt.
Việc thứ ba: bị kiến trúc sư Phan Hiếu Kinh “phát hiện”.
Làm việc xây nhà trên sườn núi cho hãng SIDEC và cho hãng Võ Đình Dung, từ hừng
sáng đến chiều sẩm tối mới về nhà của bạn để yên giấc, ít khi đi qua chợ Đà Lạt,
tôi tưởng chừng đâu là, như thế, tôi tránh mọi khả năng gặp người quen. Nào dè,
một hôm, tạt qua nơi buôn bán rau quả, tôi bị một người đi bộ lẽo đẽo sau lưng,
quẹo đến mấy cái ngã ba vẫn thấy người ấy theo. Người ấy mặc đồ Tây tử tế. Chết
rồi! Có lính kín theo! Tôi nhanh chân đi về hướng suối Cam Ly ít người, tính
trong bụng rằng nếu người ấy cứ theo mãi thì tôi sẽ “demi tour” quay lại để hỏi
thăm y vài câu, nếu có triệu chứng là lính kín thì tôi giở võ ra điểm huyệt cho
nó nằm bên đường vắng đặng tôi có thời giờ tẩu thoát. Nếu không phải là lính
kín thì nó là ai? Té ra là một đồng chí rất quen thuộc đã hoạt động với tôi những
năm 1933, 1934 và đầu 1935, khi từng thời gian tôi đặt căn cứ ở vùng Phú Lạc,
ngoại ô Chợ Lớn: chú Năm Luông, anh em cô cậu với đồng chí Bảy Trân; bây giờ
Năm Luông là chủ một tiệm cầm đồ ở thị xã Đà Lạt.
– Anh Ba đi đâu đó? Làm gì trên Đà Lạt này? Vượt ngục được rồi, sao không giấu
mình ở U Minh hay Đồng Tháp Mười mà lên chỗ nghỉ mát của nhà giàu? Năm.
– Chú Năm đó à. Sao đi theo cả mười phút làm tôi phát lo rằng mình đã bị lộ.
Hết hồn, hết vía, bình tĩnh lại; ngó trước trông sau, hai anh em hỏi thăm nhau
đủ chuyện. Chuyện tôi hỏi trước hết là tình hình ở Phú Lạc mà, trong kế hoạch,
tôi sẽ phải đi qua hoặc ở lại ít hôm khi trở về Sài Gòn, lục tỉnh. Cái rủi hóa cái may. Tôi dặn dò Luông nếu muốn hoạt động thì phải làm như vầy… như vầy… Còn
Luông thì thọc vào túi tôi mười mấy con công 1. để
tôi phòng bất trắc. (Về sau Năm Luông thuộc ban cán sự của tỉnh Lâm Đồng và hy
sinh ở chiến trường).Giấy bạc con công (tiền Đông Dương)Sự việc thứ hai là: mấy tuần làm việc và nghỉ trưa, có khi
ngủ đêm trên sườn núi, đem lại cho tôi một cái bệnh hiểm nghèo: bệnh thương
hàn. Sốt rét. Tiểu máu. Chủ nhà tôi ở đưa tôi đi bệnh viện. Đi bệnh viện là một
mối nguy mặc dầu tôi có giấy thuế thân (giả). Không đi bệnh viện thì Diêm vương
sẽ có trát đòi bữa nào đó thôi, khó tránh. Vào bệnh viện ở gần Couvent des
oiseaux 2,
tôi nằm một phòng với ba người khác, cùng sốt rét ác tính như tôi. Mỗi ngày “đi” một anh. Rồi cuối tuần, anh thứ ba. Tôi là tên thứ tư, không biết bao giờ
đi. Thấy người cùng bệnh rủ nhau chết, mình cũng nao núng, nao núng nhất là vì
lẩn quẩn mãi trong óc tôi cái câu hỏi: nên hay không nên viết thư gởi đúng địa
chỉ, để sẵn đầu giường, báo tin cho mẹ, cho vợ, cho chị ở nhà là khi đọc được
thì tôi đã chết tại bệnh viện Đà Lạt. Viết thư thì sợ lộ bí mật; sợ rằng ông bạn
đã cho tôi ở nhờ, đã đem tôi đi bệnh viện, sẽ bị địch bắt để điều tra xem còn
có tù vượt ngục nào bên cạnh tôi không. Nghĩ đến khả năng mình chết rồi mà còn
làm hại cho người khác, tôi ngập ngừng không viết thư nữa. May quá, bệnh thuyên
giảm; rồi tôi khỏi bệnh. Tôi nằm nhà thương gần ba tuần. Trong thời gian đó
tôi được săn sóc tận tình bởi một dì phước trẻ, đẹp, đầy lòng nhân ái. Tôi đại
tiện toàn máu; mỗi khi như vậy, hai tay tôi bám vào chân giường, mày mặt tối
tăm cả năm, bảy phút; mình trông mình đã tởm, mà dì phước đổ bô nét mặt như
thường không khi nào tỏ vẻ gớm ghiếc. Ngày đổ bô hai ba lần. Không biết nếu tôi
đổ bô cho một đồng chí thì tôi được thản nhiên như dì phước ấy không? Bệnh tôi
nếu ăn cháo có gạo, cá, rau, dầu ít cũng bị lủng ruột, chết. Tôi thấy dì phước
mỗi lần đem thức ăn cho tôi thì dùng vải thưa trắng tinh lọc súp chỉ còn có nước.
Khi bệnh tôi thuyên giảm nhiều thì dì phước mới cho ăn súp gạo rang, có rau.
Tôi thoát chết. Hôm ra bệnh viện tôi chỉ có một chữ “rất cám ơn” với dì phước
mà tôi không biết tên. Cuộc đời bôn ba của tôi không cho phép tôi trở lại một lần
nữa để cám ơn dì phước mà chị ruột, em ruột, vợ nhà chưa chắc đã tận tụy săn
sóc chu đáo hơn. Sau cách mạng và kháng chiến, tôi có dịp lên Đà Lạt, tôi có đến
bệnh viện Couvent des oiseaux, hỏi thăm các dì phước, cố gặp ân nhân cũ; nhưng
Couvent còn đó mà người thì biệt tăm.
Sự việc thứ ba xảy ra lúc gần Tết, mấy tháng sau khi chúng tôi vượt ngục Tà
Lài. Một hôm tốt trời, tôi đang xây tường, cuốn cửa ở một cái villa vùng thác
Cam Ly, gần một làng người Thượng, đoàn chủ nhà và thầu khoán đến xem công việc
tới đâu. Họ cứ đi xem. Tôi cứ làm việc. Họ đi sau lưng tôi. Tôi không ngó họ. Rồi
họ qua hết. Nhưng tôi thấy một anh trong đoàn trở lại nơi tôi đang làm, anh ấy
đứng bên tôi, khẽ hỏi: “Ở đây à?”. Tôi thót ruột! Vậy là có người quen nhận
ra mình rồi. Nguy quá! Tôi ngó lên. Té ra là kiến trúc sư Phan Hiếu Kinh, bạn
học của tôi bên Pháp từ những năm 1928, 1929, 1930. Tôi làm ra vẻ bình tĩnh, để
ngón tay lên môi. Kinh biết tôi muốn nói gì; anh quay đi, không quên một câu
khen ngợi anh thợ hồ xây gạch, xây đá rất khéo. Té ra vụ tôi vượt ngục Tà Lài,
có báo đăng tin; Kinh biết. Tôi chắc Kinh sẽ giữ bí mật cho tôi. Nhưng, nếu một
hôm nào vui miệng anh nói với vợ hay với một bạn thân rằng anh Giàu vẫn còn sống,
ở Đà Lạt, thì sao? Phải đề phòng. Không thể dây dưa ở Đà Lạt nữa; phải “
thiên đô ” thôi; vả lại cái đó đã ở trong kế hoạch, phải thừa dịp gần cuối năm
rộn rịp để về Sài Gòn, về Nam Kỳ. Chắc là lúc này, việc Pháp truy nã số tù vượt
ngục Tà Lài không còn ráo riết như mấy tháng trước nữa. Tuy vậy tôi cứ dặn mình
là không được chủ quan khinh địch.
Tự kiểm điểm lại thì trong đời làm “cách mạng chuyên nghiệp” của tôi, nửa năm
tôi ở ẩn là thời gian duy nhất mà tôi không có hoạt động, không tuyên truyền,
không tổ chức, không đấu tranh, chỉ lo giữ gìn cho khỏi bị bắt lại. Nửa năm đó
tôi xem là dài quá dài. Nằm không, không công tác, còn mỏi mệt hơn là hoạt động; chẳng những mệt mỏi mà còn buồn, rất buồn, có cảm giác như là một con chim mất
đàn, như là một con người giữa sa mạc tuy rằng mình vẫn ở trong dân, trong cuộc
đời nhộn nhịp. Hoạt động đã trở thành bản năng rồi, không hoạt động không chịu
được. Sài Gòn, lục tỉnh kêu gọi, công tác kêu gọi, thúc giục.
Về Phú Lạc
Đường về Sài Gòn không trắc trở gì lắm. Tuy rằng từ Trung vào
Nam, bộ hành phải có “giấy thông hành”. Tôi có giấy thuế thân giả của Trung Kỳ; thuế thân không phải giấy thông hành cho nên dễ làm giả. Giấy thông hành phải
có hình đóng con dấu nổi; không làm giả giấy thông hành được; mà trên đoạn đường
từ Xuân Lộc đến Biên Hòa, người đi xe lửa không biết lúc nào phải trình thứ giấy
đó cho nhà chức trách, nếu không có thì bị bắt giam rồi bị “trục xuất”. Song
dân Trung Kỳ đi lậu vào Nam Kỳ để kiếm sống thì luôn luôn đông, mỗi chuyến xe
có hàng chục, họ cảnh giác lắm, hễ cảnh sát bắt đầu việc xét giấy thông hành
thì họ hè nhau nhảy xuống xe, mặc dầu là xe đang chạy; nhảy xe lửa ba người
thì té cả ba nhưng không sao, lỗ đầu, rồi lẩn vào các vườn cao su, ban đêm ai dễ
biết ai?
Cái khó còn lại là cầu Biên Hòa, luôn luôn bị cảnh sát canh gác chặt chẽ ở cả
hai đầu. Tôi phải nhờ đò ngang để sang sông rồi thì có vô số phương tiện để về
Sài Gòn.
Tôi vào Sài Gòn một buổi tối, đèn điện vừa lên. Một chiếc xe thổ mộ đầy nhóc
đưa tôi thằng vào Chợ Lớn. Tôi về căn cứ cũ là Phú Lạc 3. cách
Chợ Lớn không đầy năm cây số trên con lộ đi Gò Công.
Qua Năm Luông, tôi đã nắm được tình hình an ninh ở Phú Lạc từ sau khởi nghĩa
tháng 11 năm 1940; tôi lại được biết rằng ngày nổ ra khởi nghĩa Nam Kỳ, nhân
dân và các đồng chí ở Phú Lạc đã sẵn sàng chiến đấu; đúng ngày giờ định trước,
lực lượng cách mạng từ cầu Ông Thìn, Phú Lạc, Đa Phước, theo kế hoạch, bí mật
kéo lên ém trong Chợ Lớn, sẵn sàng tiến công địch đúng mười hai giờ đêm, khi
nhà đèn Chợ Quán bị đánh sập, đèn đường tắt, và tiếng súng lớn nổ làm hiệu ở trại
lính Ô Ma 4.
Chờ mãi quá nửa đêm, không thấy đèn điện tắt, không nghe tiếng súng lớn nổ,
quân phục kích đoán là có biến nên không đánh đồn bót thị xã mà lặng lẽ kéo về
như đã lặng lẽ kéo lên. Trái lại, quân du kích ở Cần Giuộc cứ theo kế hoạch đã
định, nổi lên đánh các đồn địch, mà thất bại. Kết quả là Phú Lạc, sau ngày khởi
nghĩa, được tương đối an toàn còn Cần Giuộc thì bị địch khủng bố dữ dội. Vậy sự
yên ổn của Phú Lạc sau tháng 11 năm 1940 không phải do Phú Lạc trốn tránh khởi
nghĩa; điều ấy là điều tôi muốn biết rõ và đã biết rõ nhờ gặp Năm Luông ở Đà Lạt
nên tôi mới về đây. Vậy, vẫn có thể tin cậy vào lòng trung thành đối với cách mạng
của Đảng bộ vùng Phú Lạc do Bảy Trân 5. lãnh
đạo. Bảy Trân nguyên là một sinh viên trường Đông Phương Cộng sản đại học như
tôi, trước một khóa. Hồi năm 1933, khi Xứ ủy Nam Kỳ được chúng tôi xây dựng lại
thì tôi đã lấy vùng Phú Lạc này làm một căn cứ an toàn của lãnh đạo. Ở đây nhân
dân rất tốt, bọn xấu rất ít, hội tề được Bảy Trân và các đồng chí đánh giá là gần
như “trung lập” không sốt sắng gì trong việc “giữ trị an”, viên cai tổng lại
là người bà con gần của Bảy Trân, là người nhà của Năm Luông. Từ Chợ Lớn đi về
hướng Gò Công thì, đến Phú Lạc, bên tay trái là khu Rạch Cây Khô ở đó cảnh sát
rất ít khi đến vì sợ các tay anh chị Bình Xuyên trừng trị, mà các tay anh chị
Bình Xuyên thì phục Bảy Trân cộng sản. Bên tay phải chằng chịt sông rạch của
vùng Rạch Cát, ở đây, nếu cò bót đến thì ta chỉ cần bước xuống xuồng, đẩy vài
mái dầm, vào từng lá dừa nước, thì có trời mà kiếm được. Tôi ở Phú Lạc lâu và
nhiều đợt. Hai lần tôi bị bắt ở Sài Gòn, lần nào tôi cũng giữ an toàn cho Phú Lạc; đồng bào ở đây tin tôi, thương tôi. Nay tôi về đây, cái mối lo duy nhất của
tôi là bị một vài người dân Phú Lạc nhận ra là “anh hai Trắng” rồi đồn đại ra
nhiều người biết.Tác giả trước mộ Huỳnh Khương An, Guy Moquet, Jean Pierre
Timbaud và những liệt sĩ bị bọn Nazi xử bắn ngày 22.10.1941 ở Chateaubriand. Ảnh
chụp tháng 7.1989 tại nghĩa trang Père Lachaise, Paris (NNG).
Đêm ấy tôi được chủ nhà tiếp đón rất ân cần, trộn lẫn với lo
ngại và sợ sệt nữa. Nhưng Bảy Trân và người nhà tín nhiệm tôi, thương tôi, hết
sức lo cho tôi. Về Phú Lạc tôi có cảm giác là cá về nước, chim về rừng.
Trò chuyện thâu đêm với Bảy Trân, Sáu Thuần, Chín Báu; Báu cùng tuổi với tôi,
đồng chí rất tốt như Trân là anh ruột. Chuyện dài kể làm gì. Mấu chốt cuộc trò
chuyện đêm ấy là lời tâm huyết của Bảy Trân và anh em đồng chí ở Phú Lạc.
– Giàu ơi, mày về đây có nghĩa là mày tin tụi tao; và tụi tao tin mày. Tụi tao
hết sức bảo vệ mày. Nhưng bây giờ mày ở đây không được, không nên ở; tụi tao sẽ
đưa mày tới một vùng gần như tuyệt đối an toàn để mày tiếp tục ẩn lánh một thời
gian nữa; sau sẽ tính; chớ bây giờ tụi tao không sẵn sàng làm việc cách mạng
với bất cứ ai. Bây giờ tin ai? Ai tin? Đảng viên cộng sản không phải đã bị bắt,
bị giết hết; hãy còn khá nhiều, nhưng tụi nó đều “lặn” hết, “ẩn” hết trong
rừng, trong núi, trong xóm dân nghèo, ở đâu không biết; thằng nào xớ rớ đi đi
lại lại với cơ sở cũ còn sót thì mắc “bẫy chuột” của Tây nó giăng sẵn, như thằng
Văn, thằng Trung chẳng hạn, sau khi chia tay với mày, chúng nó tìm về Sài Gòn
ngay, tìm cơ sở cũ ngay, nên bị bắt ngay. Bây giờ không tin được ai cả, không
tin cả cách mạng có thể thành công, không tin sự lãnh đạo của Đảng, ít nhất là
của Đảng ở Nam Kỳ này, không tin Hồng quân Liên Xô có thể đương đầu thắng lợi với
quân phát xít Hítler… Tư tưởng hoài nghi bao trùm tất cả. Sau đại bại 1940,
lòng tin xuống thấp nhất từ mười năm nay. Đó là sự thật; mày, Giàu, mày phải
hiểu rõ; đừng chủ quan, nóng vội mà chết sớm. Nếu mày muốn, một ngày nào đó chớ
không phải bây giờ, tụi tao lại hoạt động với mày thì điều kiện thứ nhất là mày
phải giải quyết tư tưởng cho tụi tao ở Phú Lạc này ba vấn đề mấu chốt sau đây:
“Thứ nhất là:
Vì sao Đảng nói là mình sáng suốt mà lại chủ trương khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11
năm 1940, để đi đến một thất bại hết sức đau đớn như thế? Thất bại đến mức đó
thì còn có thể nào khôi phục nổi trong thời thế chiến tranh này? Liệu sau này
còn chủ trương như vậy, lãnh đạo như vậy, đưa toàn bộ Đảng, đa số đồng chí,
đông đảo quần chúng vào chỗ chết nữa không? Lấy gì bảo đảm rằng không? Nói vắn
tắt, mày phải cho tụi tao biết rõ ý kiến của mày về khởi nghĩa 1940, để tụi tao
xem mày có dắt tụi tao vào một cái khởi nghĩa tương tự không? Rồi chúng ta sẽ
tính sau sự hợp tác với mày; bây giờ thì chưa; để xem đã; chỉ lo bảo vệ tính
mạng của mày thôi. Tụi tao đoán trước rằng mày muốn tổ chức lại Xứ uỷ Nam Kỳ
như hồi năm 1933. Nhưng tình hình bây giờ khó khăn hơn biết mấy lần hồi đó; hồi
1931 thất bại đã nặng, bây giờ nặng hơn mấy lần; hồi đó là thời bình, thời nay
là thời chiến; thời đó bị bắt làm tù, thời này bị bắt làm ma. Khó hoạt động
cho thành công lắm, nếu trước mắt không giải đáp nổi cho đồng chí cũ một số vấn
đề chính trị tư tưởng, vấn đề tụi tao vừa đưa ra cho mày là cần kíp nhất.
“Thứ hai:
Tụi tao ở đây bi quan về tình hình thế giới. Nếu tình hình thế giới bi đát thì
triển vọng Đông Dương, Việt Nam không thể sáng sủa được. Hơn nữa năm nay chiến
tranh Nga-Đức đã bùng nổ kịch liệt. Ban đầu tụi tao ở đây tin rằng Đức hạ Pháp
mau lẹ hết sức vì Pháp yếu, Anh tồi, chớ đụng vào Liên Xô hùng cường thì nó bị
đánh bại chắc chắn. Ai ngờ rằng, chiến lũy Stalin chẳng hơn gì chiến lũy
Maginot, Hồng quân chạy dài, thua hết trận này đến trận khác, quân Hitler tuy
không được vào ăn Tết trong điện Kremlin, nhưng mới ít tháng chúng đã đến sát
ngoại ô Leningrad, đi gần tới Moscou, chiếm đóng cả miền tây Liên Xô rộng lớn
và giàu có; sang năm nay, 1942, triển vọng kháng Đức của Hồng quân Liên Xô
chưa có gì là sáng sủa cả. Vậy tụi tao hỏi mày vậy chớ có hy vọng gì Liên Xô chống
đỡ nổi, chiến thắng được? Chớ dư luận khắp nơi đều thấy rằng quân phát xít
Hitler còn tiến vào Liên Xô sâu hơn, xa hơn, hy vọng thắng trận của Liên Xô rất
mỏng manh, viễn cảnh chiến bại thì chắc hơn, trong lúc đó đồng minh của Đức là
Nhật ở Viễn Đông đánh bại Mỹ, Anh, Hà Lan như chẻ tre ! Nếu Liên Xô thua trận,
nếu cái thành trì cách mạng thế giới lâu nay ta đề cao sức mạnh lớn và lý tưởng
cao, mà thua phát xít thì cách mạng thế giới còn gì, thì cách mạng Đông Dương
còn gì? Triển vọng đen tối quá, làm lung lay, sụp đổ lòng tin. Lâu nay, ở xứ
ta, việc tuyên truyền cách mạng Đông Dương một phần quan trọng dựa vào sự tuyên
truyền cho Liên bang Xô Viết, nay Liên bang Xô Viết bị đánh lui mãi như thế thì
lòng tin còn dựa vào đâu?”
“Thứ ba:
Năm 1940, ta chỉ mang một cái ách trên cổ. Pháp bị Đức đánh bại; nó đầu hàng Đức; nó lại bị Thái Lan tấn công trên biên giới Cao Miên. Vậy mà ta nổi lên đánh đổ
nó không nổi. Bây giờ nước ta không phải mang chỉ một ách mà mang tới hai ách,
ách Nhật chồng lên ách Pháp, hai thằng đế quốc thực dân và quân phiệt cùng thống
trị nước ta thì liệu ta có hy vọng gì làm cách mạng giải phóng thành công không? Ngày mai đen tối quá! Nói cách mạng, nói giải phóng còn ai nghe, còn ai tin?
Làm sao giải đáp? Mở lối bí cách nào? tụi tao bí lắm!”.
Bảy Trân, các đồng chí ở Phú Lạc trông chờ tôi trả lời. Họ tưởng rằng khó bề mà
tôi giải đáp nỗi băn khoăn cực kỳ sâu sắc của họ. Những nỗi âu lo của các đồng
chí ở Phú Lạc cũng là những nỗi lo âu của tất cả các đồng chí còn sống sót sau
khởi nghĩa 1940. Không chừa một ai. Không trả lời cho thông các câu hỏi đó thì
không ai cùng mình xây dựng lại hệ thống và cơ sở Đảng ở Nam Kỳ. Cái nguy nhất
chưa phải là sự tan tác của tổ chức, cái nguy nhất là sự tan tác của tinh thần.
Tôi làm xong giải đáp trong ba buổi tối họp mặt của một nhóm đồng chí tại nhà của
Bảy Trân. Tôi lấy làm thích thú vì, như thế, tôi đã đồng thời làm cái việc phác
hoạ đường lối của cách mạng Việt Nam ở miền Nam, trên cơ sở lý luận đó các bạn
tôi sẽ gây dựng lại hệ thống Đảng ở Nam Bộ, khôi phục phong trào nhân dân và đi
đến chỗ cùng toàn quốc làm cách mạng thành công ngay trong thời kỳ chiến tranh
thế giới đang diễn. Các đồng chí ở Phú Lạc tán thành hầu hết các ý kiến của tôi
trình bày. Nhưng họ bảo rằng cần phải có thời giờ cho sự suy nghĩ thêm, và cần
phải có thời giờ để xem thời cuộc có chuyển biến theo hướng như lời dự đoán hay
không, đặc biệt là dự đoán về cuộc chiến tranh Nga-Đức. Các đồng chí ủng hộ tôi
nhưng chưa hứa hẹn bắt tay hoạt động với tôi, mà còn “chờ xem thời cuộc”.
Tôi có ý thức rằng những giải đáp của tôi cho các đồng chí Phú Lạc sẽ là sự giải
đáp cho nhiều cán bộ ở Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định vốn quen biết với các đồng
chí anh em nhà Bảy Trân.
Về cuộc khởi nghĩa tháng 11 năm 1940 ở Nam Kỳ:
Tôi đã biết đại khái diễn biến của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ từ hồi ở Tà Lài, nhờ
tổng hợp báo cáo lẻ tẻ của mấy chục anh em cốt cán bị bắt giam sau khởi nghĩa
thất bại. Ở Tà Lài, Đảng uỷ cũng đã phân tích sự kiện lớn này và rút ra những
bài học kinh nghiệm xương máu. Về Phú Lạc tôi hỏi thêm Bảy Trân và các đồng chí
ở đó. Như vậy tôi đã có thể đi đến một số kết luận tạm thời:
1. Khởi nghĩa vũ trang là tất yếu. Nhất thiết phải giành chính quyền, giành độc
lập bằng khởi nghĩa vũ trang; không có cách mạng hòa bình, không có độc lập bằng
xin xỏ, bằng sự ban cho của nước ngoài.
2. Khởi nghĩa muốn được thành công thì phải là một cuộc khởi nghĩa của quảng đại
quần chúng chớ không phải của một nhóm người, của một chính đảng, dù đó là nhóm
người có tập luyện và có vũ khí, dù đó là một đảng lớn có quyết tâm, có kỷ luật.
3. Khởi nghĩa muốn thành công thì phải vừa có lực lượng, vừa đúng thời cơ. Thiếu
lực lượng, thiếu thời cơ thì khởi nghĩa dù oanh liệt anh hùng mấy cũng thất bại.
Khởi nghĩa thiếu lực lượng và thời cơ cũng gọi là khởi nghĩa non hay là “manh
động”.
4. Phải quan niệm khởi nghĩa giành chính quyền là một cuộc tổng khởi nghĩa cách
mạng, nổ ra trên toàn quốc, không phải chỉ nổ ra ở một vài địa phương. Khởi
nghĩa địa phương cô độc sẽ bị địch tập trung sức dập tắt.
5. Đảng chỉ đạo khởi nghĩa phải theo đúng những nguyên tắc chiến lược chiến thuật
mà Mác-Lênin đã đề ra hết sức đầy đủ và rõ ràng. Chỉ đạo khởi nghĩa là cả một
nghệ thuật.
Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940, thất bại và thất bại nặng vì không theo
đúng những nguyên tắc đã nói mà mỗi ai đi vào khởi nghĩa cũng phải nắm vững.
Lênin bảo: “Không đùa với khởi nghĩa được”. Tháng 11 năm 1940, các đồng chí
lãnh đạo ở Nam Kỳ thực tế không theo khoa học và nghệ thuật Mác Lênin về khởi
nghĩa. Nguyên nhân chính của thất bại của cuộc khởi nghĩa năm 1940 ở Nam kỳ là:
1. Cuối năm 1940, ở Đông Dương chưa có thời cơ, hoặc có thời cơ mà không đủ,
không chín cho một cuộc khởi nghĩa vũ trang. Pháp đầu hàng Đức hồi giữa năm, quả
có làm cho lũ thực dân ở đây hoang mang, nhưng dần dần chúng nó đã hoàn hồn khi
bên Pháp dựng lên chính phủ của thống chế Pétain dưới sự bảo hộ của Đức. Và lực
lượng quân sự, cảnh sát của Pháp ở Đông Dương đã được tăng cường bằng hai, bằng
ba từ khi chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Thực dân hy vọng rằng được
sự bảo trợ của Đức, chúng có thể giữ được thuộc địa, Pháp thua Đức mà Đức cho
phép Pháp giữ thuộc địa. Quân Pháp bớt hoang mang, nhưng chúng chưa tan rã. Nổi
lên đánh đổ Pháp trong lúc này là chưa phải lúc. Phải đợi một thời cơ thuận lợi
hơn. Không vội được. Không phải Pháp bị đánh bại ở Pháp mà ta liền có thể đánh
đổ chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương được ngay.
2. Lực lượng của ta, lực lượng khởi nghĩa hồi cuối 1940, tuy khá mạnh ở Nam Kỳ,
cũng chưa gọi là đủ để nổi lên làm khởi nghĩa. Bằng chứng quá rõ là ngày khởi
nghĩa, không có một đơn vị quân đội người Việt nào của Pháp quay súng bắn vào
thực dân, khi chúng đã thua trận ở Tây Âu và đang mắc kẹt ở biên giới và Thái
Lan. Tuy có đấu tranh ở nhiều nơi, mà không có khởi nghĩa đều ngay ở các quận
trong những tỉnh mạnh nhất như Gia Định, Chợ Lớn, Mỹ Tho, mà chỉ có nổi lên ở một
số ít quận thôi, mà quận lỵ vẫn yên; không có nổi lên đánh đồn diệt địch ở phần
lớn các tỉnh mà chỉ có lẻ tẻ nổi lên ở vài quận trong mỗi tỉnh; ở phần lớn các
quận, các tỉnh Nam Kỳ chỉ có khởi nghĩa thật sự ở một số xã. Quân khởi nghĩa chỉ
chiếm được một quận ở Nam Kỳ mà thôi, quận Vũng Liêm. Quận lỵ Hóc Môn nằm trong
vùng ta mạnh nhất nhì so với cả Nam kỳ mà ta không đánh chiếm được trọn dù là một
ngày. Ở Sài Gòn, đầu não của địch, cũng không có khởi nghĩa ở bất cứ một tỉnh lỵ
thị xã nào. đánh địch mà không đánh ở đầu não chúng thì làm sao diệt nó được.
Như vậy, lực lượng khởi nghĩa còn xa, rất xa mới gọi là đầy đủ để phát động khởi
nghĩa vũ trang ở Nam Kỳ tháng 11 năm 1940.
3. Trong toàn quốc tháng 11 năm 1940, chỉ có khởi nghĩa ở Nam Kỳ. Còn ở Trung,
Bắc khi ấy không có khởi nghĩa. Sau này tôi mới biết có khởi nghĩa Bắc Sơn mà
đó cũng chỉ mới là một địa phương nhỏ. Khởi nghĩa tháng 11 năm 1940, là do Xứ ủy Nam Kỳ đơn độc chủ trương. Địch không bị phân tán lực lượng. Không lạ gì mà thấy
rằng địch có điều kiện tập trung lực lượng, diệt quân khởi nghĩa một cách mau
chóng. Những đồng chí chủ trương khởi nghĩa 1940, không quan niệm được rằng khởi
nghĩa muốn thành công thì phải làm một cuộc tổng khởi nghĩa, khởi nghĩa trên
toàn quốc, không nhất thiết phải cùng ngày, mà nhất thiết phải cùng lúc, nơi
này nơi kia không cách nhau bao lâu. Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940, là khởi
nghĩa địa phương, tự ý một Xứ uỷ quyết định. Tai hại ở chỗ đó. Sai lầm rất lớn
mà không thấy được. Trước khi Công xã Paris nổi lên, Marx không tán thành khởi
nghĩa bởi vì Marx cho rằng khởi nghĩa như vậy là non, là địa phương, là thua chắc; nhưng khi khởi nghĩa nổ ra rồi, Marx hết lòng ủng hộ Paris công xã cho dù biết
chắc là nó sẽ thua. Ta cũng như Marx; ta hết sức khâm phục tinh thần chiến đấu
của Nam Kỳ 1940, mà ta sau này phải tránh khởi nghĩa non, ta phải rút kinh nghiệm
xương máu.
4. Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, là một cuộc khởi nghĩa chỉ một số quận tiền
phong nổi lên một cách “bất ngờ” (đối với địch), về cơ bản chưa phải là một
cuộc nổi dậy của đa số nhân dân, nó không ra khỏi phạm trù Blanquisme 6. mà
Marx và Lênin phê phán, chính vì thế mà nó thất bại. Đáng lẽ một cuộc khởi
nghĩa nổ ra ở đỉnh cao nhất của một phong trào quần chúng nhân dân, dù cho kẻ địch
có đề phòng mấy cũng trở tay không kịp.
Cuối năm 1940, ở Việt Nam nói chung, ở Nam Kỳ nói riêng, không thể nói rằng
phong trào quần chúng đã lên tới đỉnh cao nhất. Khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, tuy rộng
lớn hơn nhiều nhưng vẫn có nhiều chỗ giống khởi nghĩa Yên Bái 1930, mà Đảng Cộng
sản chúng ta đã phân tích, phê phán nhiều lần. Một cuộc khởi nghĩa muốn thành
công là phải tổng khởi nghĩa của vạn, ức nhân dân toàn quốc dưới hiệu lệnh của
một Đảng lãnh đạo thống nhất quyết tâm chiến thắng ở một thời cơ thuận lợi nhất.
5. Từ hơn mười năm nay các đồng chí lãnh đạo các cấp của Đảng ta đã được huấn
luyện về khoa học và nghệ thuật khởi nghĩa của chủ nghĩa Mác-Lênin. Chuẩn bị lực
lượng như thế nào, nhận định một thời cơ chín và chín muồi là thế nào, khi nào
phát động khởi nghĩa, đã khởi nghĩa thì phải ứng dụng những chiến lược chiến
thuật như thế nào? Cái khoa học và nghệ thuật đó, các đồng chí lãnh đạo khởi
nghĩa Nam Kỳ 1940, có lẽ không biết rõ và các anh ấy làm khác, làm trái cả!
Cho nên thất bại. Thất bại rồi các đồng chí không biết cách rút lui để duy trì
lực lượng, bảo toàn tổ chức cho nên bị thất bại hoàn toàn, một cuộc thất bại lớn
nhất ở miền Nam từ mười mấy năm nay. Đáng lẽ trước khi tiến thì đã phải đề
phòng khi thoái. Đồng chí Tạ Uyên và một số đồng chí bốn mươi nói là theo sách
lược Mao Trạch Đông, kỳ thật đó là sách lược Mao Trạch Đông bị méo mó, bị hiểu
sai rất tai hại. Tôi không chống sách lược Mao Trạch Đông, sách lược Mao có nhiều
chỗ hay, tôi chỉ nghĩ rằng ở Đông Dương, ở Việt Nam, nước hẹp người ít, thực
dân thống trị tập trung thì Đảng cách mạng muốn chiến thắng phải làm một cách
khác, cách khác nào cũng dựa vào cơ bản tư tưởng Mác- Lênin về khởi nghĩa cách
mạng. Khởi nghĩa 1940 thất bại, nhưng ta rút từ bài học thất bại để thành công
sau này, chắc không lâu nữa đâu. Tôi đã trình bày tỉ mỉ những bài học của 1940
mà chúng tôi đã rút ra từ hồi ở Tà Lài, trước khi vượt ngục. Trong lúc tôi
trình bày thì nhóm Bảy Trân đặt ra nhiều câu hỏi cụ thể cho tôi. Có thể nói rằng
tôi đã không vấp váp gì cả. Ý kiến lớn đã nắm vững rồi. Tôi nhờ cuộc họp này mà
biết thêm khởi nghĩa Nam Kỳ.
Những ý kiến tôi trình bày ở nhà Bảy Trân, tôi có dịp trình bày tại nhiều nơi
khác như Vàm Cỏ, Tiền Giang, Hậu Giang, miền Đông, Sài Gòn suốt những năm 1942,
1943. Ở đâu tôi cũng nhằm mục đích thiết thực là yêu cầu các đồng chí hãy tin
tưởng rằng cuộc khởi nghĩa mà chúng ta nhất thiết phải làm, sẽ được tổ chức và
chỉ đạo “đúng khoa học”, “có nghệ thuật” và nhất định sẽ thắng lợi.
Tôi nhớ rõ trong đêm nói về khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, tôi một mặt tỏ lòng khâm phục
các chiến sĩ đã đấu tranh và hy sinh, nhưng mặt khác tôi cũng phê bình nghiêm
khắc chủ trương phiêu lưu cực kỳ tai hại của đồng chí bí thư Tạ Uyên; tôi biết
rằng, tháng 11 năm ấy ở Sài Gòn, ở Nam Kỳ, không còn Thường vụ Trung ương,
nhưng tôi được biết trước đó khi quyết định khởi nghĩa thì còn hai ủy viên
Trung ương (sau vụ bị bắt ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm) là Phan Đăng Lưu và Võ Văn
Tần; hai đồng chí ấy có dự cuộc họp giữa năm quyết định khởi nghĩa thì cớ sao
hai đồng chí ấy lại không ngăn cản một quyết định vội vàng như thế để đến nỗi xảy
ra khởi nghĩa non thất bại? Âu đó cũng là kết quả khó tránh của một trình độ
hiểu biết chưa thấu đáo chủ nghĩa Mác-Lênin. Thiếu lý luận, tai hại quá! Tôi
cũng được biết trước khởi nghĩa 1940, Xứ ủy đã phát hành quyển sách “chiến
tranh du kích”, vậy phải chăng là anh Tạ Uyên và Xứ ủy muốn lấy chiến thuật du
kích Trung Quốc thay cho lý luận khởi nghĩa của Lênin và bài học khởi nghĩa
tháng 10 năm 1917 ở Nga? Bổ sung thì chắc là cần, thay thế thì làm sao được?
Tôi khẳng định với các đồng chí Phú Lạc rằng phải tham khảo kinh nghiệm Trung
Quốc nhưng mà phải đi theo con đường Tháng Mười là chính thì khởi nghĩa ở nước
ta mới thành công được.
Nhóm Bảy Trân gần như không có ý nào khác ý tôi, chỉ có cải chính rằng Võ Văn Tần
đã bị bắt trước rồi. Nhóm Bảy Trân còn đặt câu hỏi về tương lai tổng khởi nghĩa
ở Việt Nam; lúc ấy tôi chỉ có thể trả lời một cách chung chung rằng: tất cả
còn tuỳ thuộc vào thắng lợi hay thất bại của Liên Xô; nếu Liên Xô thua Đức thì
cách mạng thế giới, kể cả nước ta, sẽ bị lùi lại không biết đến bao giờ. “Nói
thật với tụi bây là Hồng quân thua, Liên Xô bị đánh tan, phát xít Đức toàn thắng,
thì tao cũng sẽ “giải nghệ”, thôi làm cách mạng, lui về điền viên, nếu không
bị vào tù nữa thì vào hàng ngũ của một thứ “Cư sĩ tịnh độ”. Nhưng tao có đủ
lý do để tin rằng Liên Xô, Trung Quốc, Đồng minh, Anh, Mỹ sẽ thắng, Đức-Ý-Nhật
sẽ thua và đến cuối chiến tranh thế giới, chúng ta sẽ có đủ lực lượng và thời
cơ chín muồi để tổng khởi nghĩa thành công. Bây giờ, vấn đề cần kíp là xây dựng
lại đảng bộ, tập hợp lực lượng đón thời cơ nhất định sẽ đến. Các đồng chí hãy
giúp tôi, mong rằng sớm thấy các đồng chí trở lại công tác”.
Đêm sau, tôi phải giải đáp vấn đề triển vọng của chiến tranh Nga-Đức; liệu Đức
sẽ đánh bại Nga chăng?
Trước nay, người cộng sản Việt Nam ai cũng quan niệm rằng Liên Xô là thành trì
của cách mạng thế giới, sức mạnh của cách mạng thế giới một phần quan trọng đặc
biệt là ở sức mạnh của Liên Xô và uy tín hết sức lớn của cách mạng tháng 10 năm
1917. Khi Pháp bị Đức đánh bại chỉ trong mấy tuần lễ thì người cộng sản Việt
Nam bảo rằng ấy là vì đế quốc Pháp bạc nhược chớ nếu quân phát xít Đức mà đụng
tới Hồng quân Liên Xô thì chúng sẽ bị đánh bại nhục nhã. Bây giờ Nga-Đức chiến
tranh đã nổ ra rồi. Trái với dự đoán, Nga lui, lui mãi, lui sâu vào nội địa
mình; Đức tiến, tiến nhanh, hạ phòng tuyến Stalin một cách dễ dàng như hạ
phòng tuyến Maginot, tiến thắng một mạch đến ngoại ô Leningrad, đến gần Moscou
cách chỉ ba, bốn mươi cây số, lấy hết vựa lúa Ukraine, chỉ cần một thời gian ngắn
mấy tháng! Thế là thế nào? thế thì sẽ ra sao? Ai nấy ngơ ngác!
Nga đang ở thế yếu, thế thua. Có thể Nga gượng lại không? Nếu Nga thua, nếu Hồng
quân ta cho là vô địch mà bị quân Hitler đánh bại, nếu Liên bang Xô Viết bị
đánh sụm, thành trì cách mạng thế giới bị tan thành thì còn gì cách mạng thế giới
nữa, và cũng theo đó, còn gì là cách mạng Đông Dương, cách mạng Việt Nam nữa?
Bảy Trân nói: “Bọn tao ở đây không còn lạc quan chút nào. Bi quan choán hết
tâm hồn bọn tao, thêm vào cái bi quan do thất bại của khởi nghĩa 1940”. Mấy
ngày nay, Bảy Trân đã có lần thủ thỉ với tôi rằng ít ai cho rằng Liên Xô chịu đựng
nổi; phần lớn đều nghĩ rằng Liên Xô cuối cùng sẽ bại trận, nhất là khi đồng
minh của Đức là Nhật sẽ vì Trục chung hay vì lợi ích riêng mà tiến công Liên Xô
ở Viễn Đông cốt chia xẻ đất Sibêri.
Về cuộc chiến Nga-Đức, tôi đã có dịp trình bày hồi đầu năm 1941 ở Tà Lài, khi
cuộc chiến tranh mới bắt đầu với những thất bại liên tiếp của Hồng quân. Đức thắng
là tạm thời và trước mắt còn có thể thắng nhiều hơn nữa, nhưng chung cuộc rồi Đức
sẽ thua. Nga thua là tạm thời và có thể thua đậm hơn nữa, nhưng chung cuộc rồi
Nga sẽ thắng, thành trì cách mạng thế giới vẫn đứng vững. Những lý lẽ của tôi,
đều đã được trình bày trước hàng trăm người, cộng sản có, không cộng sản có, Cao
Đài, Trốt-kýt, quốc gia đơn thuần có, cả lính canh gác cũng nghe (nghe để hiểu
và nghe để báo cáo cho sếp căng) chớ không phải là tôi chỉ nói với năm ba anh
em nồng cốt mà thôi. Những ý kiến căn bản của tôi về chiến tranh Nga-Đức, hôm
nay, ở nhà Bảy Trân, vẫn không thay đổi, cho dù lúc này quân Đức phát xít đánh
thẳng qua tới “quả tim” của Liên Xô là lưu vực sông Volga, hướng về vùng
Caucase. Đúng vào thời điểm đầu năm 1942, trong lúc Hồng quân Liên Xô còn đang
thua liểng xiểng, trừ một số trận đại thắng trước cửa ngõ thủ đô Moscou, trong
lúc quân Đức còn tiến mạnh khắp nơi nhất là ở phía Nam, thì tôi vẫn nhìn chiến
cuộc với một cặp mắt lạc quan và tôi cố truyền cái lạc quan đó cho các đồng chí
tin rằng nếu bi quan về chiến trường Liên Xô thì càng bi quan về tình hình cách
mạng Việt Nam, mà nếu bi quan thì đừng mong gì vực dậy các đồng chí còn sống
sót sau năm 1940, để họ hợp tác với mình xây dựng lại đảng bộ Nam Kỳ.
Tôi tin chắc rằng Liên Xô sẽ thắng, Đức Hitler sẽ thua, những cuộc bại trận cho
tới nay, dù nặng nề lắm, cũng là tạm thời mà thôi. Tôi có mê tín chăng? Không! Tôi tin tưởng có căn cứ, có lập luận. Tôi không “lạc quan tếu” như có người
bảo.
Vì lẽ gì mà chắc Liên Xô sẽ thắng? Sự giải thích của tôi, ở Phú Lạc cũng như ở
Tà Lài, dựa vào các yếu tố vững vàng sau đây:
Thứ nhất
Đất Liên Xô rất rộng cho phép Hồng quân, khi núng thế ở biên giới và ở những trận
đầu, có thể rút lui chiến lược, bảo toàn lực lượng chủ chốt, vừa rút lui vừa
tiêu diệt sinh lực địch ở tiền tuyến và ở sau lưng địch. Quân Đức vào đất Liên
Xô càng sâu thì sức mạnh dù đông vẫn sẽ bị dàn mỏng, tiếp tế liên lạc càng khó
tuy rằng ngày nay địch có xe tăng và máy bay chớ không phải đi bộ, đi ngựa như
thời Napoléon nữa. Đến lúc nào đó, khi quân Đức tổn thất nhiều và mệt mỏi lắm
thì Hồng quân Liên Xô sẽ phản công và sẽ đẩy quân Đức trở lại biên giới và xa
hơn nữa. Naponéon đã thua là vì thế, Hitler sẽ thua cũng vì thế. Rút lui chiến
lược không phải là thua trọn, mà để chuẩn bị tổng phản công vào lúc thuận tiện.
Tiềm lực của Liên Xô rất lớn đã được xây dựng ở vùng Oural và sau Oural, Liên
Xô có sức đánh lâu dài. Đức Hitler không có sức đánh lâu dài. Đánh lâu dài thì
Đức chắc thua. Chưa kể rằng thời tiết lạnh lẽo của Liên Xô xưa đã là một kẻ thù
lớn của quân Naponéon, nay cũng còn là kẻ thù không nhỏ của quân Hitler.
Thứ hai
Từ khi quân Đức đánh Liên Xô thì Anh, Mỹ trở thành đồng minh của Liên Xô. Anh,
Mỹ quả có bị Nhật đánh cho những đòn trời giáng, nhưng Anh, Mỹ vẫn là bá chủ
trên mặt biển; Anh, Mỹ tuy chậm trễ một cách có ý thức (để cho Liên Xô bị thiệt
hại càng nhiều càng hay) nhưng cuối cùng thế nào Anh, Mỹ cũng phải mở mặt trận ở
Tây Âu, ví dụ như ở Pháp. Nhật đã dồn hết sức đánh Mỹ, Anh ở Thái Bình Dương và
Đông Nam châu Á, bị mắc kẹt cứng ở Trung Quốc, Nhật không còn sức để tiến công
Liên Xô ở Viễn Đông; vả lại nghe nói lực lượng Liên Xô ở Viễn Đông đủ mạnh. Vậy
về lâu, chưa về dài chính là Đức chịu đựng không nổi, nhất định sẽ thua.
Các đồng chí Phú Lạc trông mong được như vậy, trông mong Liên Xô thắng, mà họ
chưa tin hẳn; họ chờ xem. Sự thắng thua giữa Đức và Liên Xô nếu không được quyết
định ở Moscou thì sẽ quyết định ở sông Volga… Ở một xóm làng Nam Kỳ làm sao mà
chắc chắn được? Bảy Trân nói rằng nếu Liên Xô thua trận, Hitler thắng, thì
Trân khuyên tôi sẽ về làng quê cày ruộng như anh ấy đang làm.
Vấn đề thứ ba là một vấn đề tuy lớn mà dễ giải quyết. Vấn đề gì? Một ách thực
dân Pháp, ta còn không đánh đổ nổi. Bây giờ tới hai ách Pháp và Nhật, Nhật dung
dưỡng Pháp, Pháp làm hậu cần đắc lực cho Nhật, cả hai Pháp và Nhật thống trị Việt
Nam thì ta có sức nào đánh đổ nổi Pháp và Nhật? Chế độ thực dân, cuộc đời nô lệ
kéo dài tới chừng nào? hay là số kiếp của nước ta, dân ta phải như thế? Cách
mạng làm sao mà thành công được? Một thứ tư tưởng “số mạng” tràn ngập! Khá
bi đát. Cả trong đồng chí chớ không chỉ trong dân Nam Kỳ mà thôi.
Hồi tôi ở Tà Lài, vấn đề này chưa được đặt ra; bây giờ (1942) Pháp ở Đông
Dương đã thuận cho quân Nhật vào đóng ở khắp những nơi nào Nhật thấy cần. Vào
Đông Dương, Nhật cốt để một mặt tiến công tây nam Trung Quốc, một mặt tiến đánh
Anh, Hà Lan ở Nam Hải.
Ban đầu thực dân Pháp ở Đông Dương không chấp nhận để quân đội Nhật vào Đông
Dương, bắt đầu là vào Bắc Kỳ để ngăn chặn việc tiếp tế của Trung Quốc bằng con
đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam như bấy lâu nay. Xung đột Pháp Nhật nổ ra ở Lạng
Sơn, quân Pháp thua chạy cong đuôi. Pháp thấy không đủ sức chống cự với Nhật mạnh
hơn gấp mấy lần, nên chúng phải nhượng bộ với Nhật, để quân Nhật vào đóng trên
toàn cõi Đông Dương. Còn Nhật thì thấy rằng nếu duy trì chính quyền thực dân
Pháp thì lợi cho chúng hơn là loại trừ Pháp; Pháp sẽ đóng vai bảo đảm an ninh
và bảo đảm hậu cần, cung cấp lương thực, tiền bạc, nguyên liệu, nhân công,
trong lúc đó Nhật Bản dành toàn lực để tiến hành chiến tranh, mà trong một thời
gian không ngắn Pháp đâu dám chống lại Nhật, nếu chống lại thì sẽ bị diệt ngay.
Pháp lại muốn nhẫn nhịn, nghe nói có “thầy dùi” Việt Nam khuyên Pháp bắt chước
Câu Tiễn nhằm duy trì chế độ thực dân Pháp cho đến ngày kết thúc chiến tranh. Cả
Nhật lẫn Pháp đều cho rằng chế độ hai ông chủ (thực dân và quân phiệt) đó có thể
làm cho cách mạng Đông Dương không bùng lên được.
Nhưng hai con chó ăn một miếng mồi, có ngày cắn nhau. Lại là chó đói nữa. Sự hợp
tác Pháp-Nhật chỉ có thể là tạm thời. Giữa Pháp và Nhật, càng ngày càng nhiều
mâu thuẫn. Chúng tất yếu sẽ đi đến xung đột nhau. Pháp trước sau gì cũng sẽ làm
tay sai cho đồng minh Anh, Mỹ, chống Nhật. Nhật trước sau gì cũng phải gỡ cái
gai dưới bàn chân, gạt lưỡi dao găm kề sau lưng trong lúc đương đầu với Anh, Mỹ.
Có thể thấy trước rằng sớm muộn sẽ có ngày Nhật lật đổ Pháp, và Pháp nhất định
bị tiêu diệt nhanh. Khi ấy chỉ còn có một ách ngoại bang, ách của Nhật, mà Nhật
thì không quen thuộc Đông Dương bằng Pháp. Trong trường hợp Đồng minh Nga, Anh,
Mỹ thắng trục Đức, Ý, Nhật thì điều kiện sẽ trở nên thuận lợi cho cách mạng
Đông Dương. Các đồng chí Phú Lạc dường như dễ dàng chấp nhận lập luận của tôi.
Về sau nghĩ lại tôi cho rằng sau khi vượt ngục Tà Lài, với lần ra quân đầu
tiên, đã có chính kiến xác đáng nên đã phá tan những nghi ngờ, thất vọng đối với
tiền đồ của cách mạng. Ít nhất là về mặt lý thuyết, tư tưởng. Tôi biết rằng ở
Chợ Lớn, Sài Gòn, Gia Định, Bảy Trân quen biết nhiều đồng chí. Nội bà con xa của
Bảy Trân đã có trên một chục đảng viên rồi. Trước kia Bảy Trân đi bán dầu cù là
với Nguyễn An Ninh, quen biết rộng ở lục tỉnh, cho nên, các ý kiến của tôi chắc
chắn sẽ được lan truyền ra rộng; lần sau tôi về Phú Lạc thì miếng đất như đã
cày sẵn.
Đi Xảo Bần, U MinhUng Văn Khiêm (người thứ nhì từ bên trái) trong Trung ương cục
miền Nam thời kháng chiến chống Pháp. Những người khác, từ trái sang phải: Lê
Duẩn, UVK, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Kỉnh, Hà Huy Giáp (nguồn: Tuổi Trẻ).
Lên Đà Lạt, được mấy tháng cuối năm 1941, và gần như hoàn
toàn không có ý định công tác gì hết, chỉ lo ẩn náu, tuy tôi có gặp gỡ Năm
Luông và Năm Luông sẽ sớm hoạt động trở lại, nhưng đó chỉ là gặp gỡ tình cờ
thôi. Bảo toàn tính mạng, cho khỏi bị bắt lại, nếu được, là thành công, là gìn
giữ được một chút vốn cho Đảng cho dân. Tôi thuộc vào số người không đánh giá
thấp, không trách móc những đồng chí, những người trước lãnh đạo, như anh
Khiêm, anh Tây các anh ấy sớm “ẩn náu” từ chiến tranh thế giới mới nổ ra
(1939) cho đến Nhật đảo chánh Pháp (1945). Những anh em đó giữ được tính mạng của
mình, là giữ được một món của quý của cách mạng, miễn là đến thời kỳ cách mạng
nổi lên, những anh em đó có mặt thì được rồi. Có lúc đơn độc quá tôi cũng
trách, nhưng lúc nào tôi cũng quý những chiến binh đã được rèn luyện trong mười
năm đấu tranh (1930-1940). Mấy tháng ở Đà Lạt, tôi ẩn náu để rồi lại xuất hiện,
chưa hoạt động để rồi hoạt động có hiệu quả.
Trân thu xếp cho tôi về U Minh, Xẻo Bần ở Rạch Giá.
Lần này tôi đi Xẻo Bần là cốt, trong khi còn ẩn náu, đặt một số liên hệ công
tác, tiếp tục cái việc đã làm ở Phú Lạc mà tôi gọi là “sạ lúa”, là “gieo khô”, nghĩa là rải giống xuống ruộng đã cày mà chưa có nước, tức là tuyên truyền
giáo dục, xung quanh mình và trong một số tỉnh xa gần, tìm bắt liên lạc mà tạm
thời chưa lập thành tổ chức.
Tôi muốn ẩn náu ở Đồng Tháp Mười quê hương tôi (Tân An) để gần với Sài Gòn.
Nhưng Bảy Trân cho rằng U Minh (Rạch Giá) là nơi ẩn náu kín đáo hơn. Anh ấy
đang “giấu” ở U Minh một số đồng chí đã từng cầm vũ khí hồi năm 1940, cho tới
nay được an toàn. U Minh xa Sài Gòn hơn là Đồng Tháp Mười. Địch biết rằng sau
năm 1940, nhiều chiến sĩ khởi nghĩa ở Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho rút vào Đồng Tháp
Mười, nó lùng sục vùng này dữ lắm. Nghe nói ở Thủ Thừa, Mộc Hoá, còn một toán
du kích võ trang hoạt động nên địch lùng sục dữ lắm. Còn ở Hậu Giang gần như
không có khởi nghĩa hay chỉ khởi nghĩa Hòn Khoai, nên việc lùng sục của địch
không khẩn trương, không liên tục bằng ở Tiền Giang. Các đồng chí Phú Lạc đề
nghị tôi đi Xẻo Bần, ở đó có mặt năm, bảy anh em hết sức tin cậy, có thể cùng
nhau tự vệ và có thể đào tạo lý luận thành cán bộ giỏi. Tôi bằng lòng ngay. Đi
U Minh có thể, bắt liên lạc với Tây (Nguyễn Văn Tây tức Thanh Sơn), Khiêm (Ung
Văn Khiêm), Bí thư Xứ ủy những năm 1930-1931, để sau này tổ chức lại một Xứ ủy có uy tín cao; Tây, Khiêm đã “ẩn” ngay từ khi chiến tranh thế giới thứ hai nổ
ra, lúc Pháp bắt đi trại tập trung rất nhiều người mà nó đánh giá là nguy hiểm.
Các anh “biến” trước khi Pháp hạ thủ. Kịp thời hơn tôi.
Tôi đi theo ghe mắm của cô Tám Tý là bà con cô cậu với Bảy Trân. Cô Tám Tý đáp
ô tô đi Rạch Giá. Tôi ngồi trên một chiếc ghe rổi đầy lu mái trống, có bốn người
chèo mà hai anh là chiến sĩ khởi nghĩa năm 1940; trong túi tôi bây giờ có nhiều
tiền; các bạn chèo đều có đầy đủ giấy tờ hợp lệ. Chuyến đi năm ngày yên ổn, cứ
theo nước ròng, nước lớn và gió chướng mà tiến tới.
Xẻo là một cái rạch nhỏ. Xẻo Bần là một cái rạch có nhiều cây bần mọc hai bên;
Xẻo Rô là một cái rạch có rất nhiều cây ô rô ở hai bên mé. Muốn đi tới Xẻo Bần
thì phải qua thị trấn Rạch Giá rồi qua Xẻo Rô. Rạch Bần thuộc U Minh thượng. Xẻo
Bần là một vùng mới khai phá, trên là rừng U Minh mênh mông, dưới là biển cả hiền
hòa, giữa là ruộng và đồng cỏ ngút tầm mắt. Ruộng đồng không có bờ mẫu, làng
xóm không có đường đá, đường đất gì hết, người ta đi lại bằng xuồng ba lá mà gần
như nhà nào cũng có. Rừng đầy chim, nhất là cò vạc; nhiều đến nỗi có tới hàng
trăm con một bầy; Xẻo Bần có hàng chục bầy cò vạc. Đồng ruộng cũng nhiều cá
tôm, bơi xuồng dưới Xẻo Bần thấy như là cá nuôi ở trong ao cá. Rắn cũng thật
nhiều và thật rẻ, bốn năm hào một con rắn hổ mang đen xì bốn năm người ăn không
hết. Xẻo Bần chỉ có một địa chủ, kỳ dư, gần hết nhân dân là nông dân tá điền
hay làm ăn tự do, từ tứ phương đến, mà phân nửa là “dân lậu”, trốn thuế, trốn
nợ, không giấy tờ hợp pháp (giống như bọn tôi). Họ nghèo lắm. Xẻo Bần chỉ có
hai ba nhà ngói. Còn phần lớn toàn là chòi tranh nhà lá, cũng gọi là “nhà đạp”. Nhà đạp là chòi tranh vách lá không có vườn tược xung quanh, gia đình sống về
nghề cá mắm, cấy thuê gặt mướn; đủ ăn thì ở, thiếu ăn hay mắc nợ trả không nổi
thì “đạp” cái chòi tranh vách lá kia, rồi vợ, chồng, con cái, gà, vịt, nồi
niêu, hũ gạo, xuống xuồng, xuống tam bản, chống chèo đi nơi khác, không biết
trước là nơi nào. Một phần khá đông dân Xẻo Bần là như vậy, nên tôi khá yên tâm; có ai biết rằng mình cũng là một thứ “dân lậu” đâu? Lính quận lại ít khi đến
Xẻo Bần, và nếu chúng có đến thì từ đầu xẻo đến cuối xẻo, người ta biết ngay để
đề phòng. Vả lại, lính quận về làng để kiếm vài con gà, lít rượu, chớ cần gì kiểm
tra giấy tờ, kiểm tra sao xuể, kiểm tra để làm gì?
Mua góp đầy ghe mắm rồi, Tám Tý về Sài Gòn bán mắm. Tụi tôi năm đứa, “dân lậu”, xoay qua mướn một trăm công 7 ruộng
của ông Cả, cha chồng Tám Tý, để cầy cày cho qua ngày. Tôi cất hai cái chòi, một
cái ở ngoài ruộng bên cạnh rừng tràm. Một cái trong rừng tràm. Ổn thì ở ruộng,
động thì vào rừng. Tôi và ba đồng chí vừa làm ruộng, vừa mở lớp huấn luyện, còn
Châu Văn Giác thì tôi phái đi các tỉnh Hậu Giang để gặp một số đồng chí trước
đây đã rừng là cán bộ lãnh đạo, để nắm tình hình tư tưởng của họ ra sao, rồi cùng
họ giải đáp ba vấn đề mà tôi đã trình bày ở Phú Lạc. Trước khi lâm bệnh, Giác
đã đi Long Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ, Vĩnh Long và dự định đi Nam Vang nữa. Giác rất
chú ý nghiên cứu vấn đề đạo Hòa Hảo, bắt liên lạc với Nhung (Long Xuyên), Cử
(Sa Đéc), Minh Thẹo (Vĩnh Long), tính đi gặp Tây, Khiêm ở đâu chưa rõ.
Làm tá điền cho ông cả thì mình xem như được bảo vệ một phần, vì lính quận nào
dám vào quấy nhiễu đồn điền của ông ấy? Vả lại mình ở bìa rừng, chống sào nhảy
qua một con kinh hẹp thì an toàn rồi. Bài vở huấn luyện giống gần y như bài vở ở
Khám Lớn: tôi thuộc lòng hơn dân nhà quê thuộc Lục Vân Tiên; nay được nâng
lên, và khác ở tình hình hiện tại và nhiệm vụ cần kíp. Ăn uống thì gạo sẵn, muối
sẵn, chỉ phiền một cái là nấu bằng nước phèn sông rạch lắng trong lu nhỏ; còn
thịt cá tôm thì hết sức dễ kiếm: đặt năm ba cái “vó”, cái “lọp” nho nhỏ xuống
ruộng, xuống kênh có thể bắt cả ký lô cá tôm; thiếu thịt thì vào rừng tràm nửa
giờ đã có thể lượm về mấy chục trứng, có khi hàng chục cò con chưa lông cánh,
tha hồ mà nhâm nhi. Mấy tháng làm tá điền ở Xẻo Bần, Rạch Giá cũng tựa như mấy
tháng làm thợ hồ ở Đà Lạt, tôi có dịp sống đời sống của người dân lao động
trong thời chiến tranh. Nông dân khổ hơn công nhân nhiều. Bà con nghèo quá. Người
đi làm ngày thì tiền công mỗi ngày cao lắm là một cắc bạc; tiền công cấy lúa
còn rẻ hơn là phát cỏ. Quần áo rách rưới. Có quần áo rách đã là may; phân nửa
người đi làm mướn mặc bao bố tời hay mặc bao bàng; bao bàng, bao bố tời thay
cho quần áo vải. Kiếm gạo ăn đủ no thì dễ, kiếm được manh áo lành thì rất khó.
Trong khắp đồn điền ông Cả tôi thấy tá điền, số người làm mướn ít ai đóng nổi
cái giấy thuế thân. Hầu hết những bà con làm thuê, làm tá điền đều bán “lúa
non” nghĩa là chưa tới mùa gặt, lúa còn xanh thì đã bán lúa mình sắp gặt để
đong gạo. Cho nên, lúa chín, gặt xong, ít ai còn lúa để làm mùa tới. Gặt xong
thì xoay ra bắt cá, làm mắm. Nghèo thì nghèo vậy chớ trong xóm thì cờ bạc lu
bù, cuối cùng chỉ có chủ chứa gom tiền, còn người cờ bạc thì rốt cùng ai cũng
cháy túi cả.
Chúng tôi tính rằng ở Xẻo Bần lâu (hay bất cứ ở nơi nào) thì
dễ bị lộ. Cho nên lúa ba trăng chín, gặt hái xong, bọn tôi dời đô xuống vùng rừng
“thứ mười một”, tôi bỏ tiền mặt của vợ tôi cho sang tên mười mẫu trong một
cái đồn điền thơm rộng mấy trăm mẫu, sang rẻ lắm, vì lúc ấy trồng thơm không lời; giá thơm hạng nhất chỉ một đồng một chục có đầu. Thì hòa vốn là may. Mà tụi
tôi đâu có tính lỗ lãi gì, chỉ muốn được an toàn. Tôi chọn mười mẫu ở trong sâu
nhất, sát bìa rừng để phòng bất trắc thì rút lui có trật tự. Rừng ở Xẻo Bần là
rừng nước, rừng ở thứ mười một, vùng đồn điền dứa, là rừng khô. Anh Mười Nhung,
người Chợ Lớn làng Bình Trị (Bà Hom) bị xử tử vắng mặt, lo việc cắt thơm, bán
thơm. Sớm mai tụi tôi mang gùi sau lưng, tay cầm lưỡi mai cán dài để thu hoạch
thơm chín, trái nào bị chuột khoét hay chim mổ thì trái đó ngon, để dành ăn.
Sáng, làm việc tới độ chín giờ thì rút vào rừng tràm, rừng choạy mà học tập huấn
luyện. Lẩn quẩn hết mùa khô. Đã cuối năm 1942, sắp sang năm 1943. Báo từ Sài Gòn
xuống tới chậm. Dù sao tôi không đói tin. Trên thế giới chiến tranh đổi chiều
hướng. Quân đội phát xít Hitler tổn thất rất lớn ở Stalingrad, Hồng quân Liên
Xô sẽ tổng phản công trên các mặt trận. Bên Viễn Đông - Thái Bình Dương, quân đội
Nhật khựng lại và bắt đầu thua ở tây nam Thái Bình Dương, ở Miến Điện.
Thế là sự đoán trước của tôi bắt đầu thành sự thật.
Chắc chắn tình hình này sẽ càng ngày càng thuận lợi cho việc tập hợp lại lực lượng,
gây dựng lại hệ thống cơ sở của Đảng. Sắp hết cơn bĩ cực; đang tới kỳ thới
lai. Tôi quyết định về Sài Gòn, để mười mẫu dứa lại cho Mười Nhung săn sóc, muốn
sang nhượng cho ai tuỳ ý. Trời đã rót hạt sương xuân. “Lúa sạ” sắp mọc xanh đồng.
Chú thích:
1. Con
công: Giấy bạc của Ngân hàng Đông Dương, một mặt có vẽ hình con công.
2. Couvent
des Oiseaux: Trường nữ học của các nữ du Dòng Đức Bà, dành cho con cái
các gia đình Pháp và thượng lưu bản xứ thuộc địa. Cô Marie Thérèse Lan đã học
Couvent des Oiseaux ở Neuilly sur Seine (Pháp) trước khi trở thành Nam Phương
hoàng hậu. Theo nhiều tài liệu, chính bà Nam Phương đã thúc đẩy việc mở trường
nữ học nay ở Đà Lạt, Sài Gòn…
3. Phú
Lạc: Theo mạng vietgle đây
là một thôn thuộc tổng Tân Phong Hạ, nay là xã Phong Phú, quận Bình Chánh,
Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Ô
Ma: Phiên âm từ tiếng Pháp “aux Mares” (ao hồ). Thành Ô
Ma (Camp des Mares) là nơi đồn trú của quân Pháp từ khi đánh chiếm thành
Gia Định. Lúc đó quân Pháp đóng tại đền Hiển Trung, chung quanh có nhiều ao,
nên họ gọi là Pagode aux Mares. Sau đó nơi này biến thành trại lính (Camp
des Mares), nằm ở đường Galliéni (nay là Trần Hưng Đạo).
5. Bảy
Trân: Nguyễn Văn Trân (đừng nhầm với Nguyễn Văn Trấn «ông già Chợ Đệm»), sinh năm 1908, sang Pháp (Marseille) năm 15 tuổi. 19 tuổi, sang Liên Xô học
trường Stalin (1927-1930), cùng khóa Nguyễn Thế Rục, Ngô Đức Trì, Bùi Công Trừng,
Trần Phú, Bùi Lâm, Nguyễn Khánh Toàn, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Trần Ngọc Danh,
Dương Bạch Mai, Trần Đình Long, Bùi Ái. Bí mật về nước năm 1930. Một trong những
đảng viên cộng sản hiếm hoi đã tranh thủ được cảm tình và sự ủng hộ của đạo Cao
Đài và hàng ngũ Bình Xuyên. Cũng đã từng làm liên lạc giữa bí thư xứ ủy Trần
Văn Giàu với những trí thức yêu nước như Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Tấn Phát, Phạm
Thiều... Xem thêm: Nguyễn Văn Trân,
người cảm hóa giang hồ Bình Xuyên trong Nguyên Hùng (sách đã dẫn).
6. Blanquisme:
xu hướng của nhà cách mạng Pháp thế kỷ XIX Auguste Blanqui, cho rằng muốn làm
cách mạng xã hội, chỉ cần một thiểu số làm bạo động, rồi quần chúng sẽ tự động
đi theo. Xu hướng này đã bị Engels phê bình nghiêm khắc. Trotsky tóm tắt phê
phán này như sau: “Về mặt nguyên tắc, sai lầm của chủ nghĩa Blanqui là đồng
nhất cách mạng và nổi dậy. Sai lầm sách lược của nó là đồng nhất nổi dậy với dựng
chiến lũy”.
7. Công:
1000 mét vuông, 100 công là 10 hecta (mẫu tây, Nam Bộ quen gọi là mẫu)
Phần thứ ba
TỔ CHỨC LẠI XỨ UỶ
Dự kiến kế hoạch kỹ mấy rồi cuối cùng cũng thấy thiếu sót.
Trong vụ vượt ngục Tà Lài của chúng tôi cũng vậy thôi. Khi vượt ngục chúng tôi
đều nghĩ rằng và ít nhất là mong rằng, tuy thực dân khủng bố trước, trong và
sau khởi nghĩa Nam Kỳ, là dữ dội nhất từ trước tới nay, nhưng, “cháy nhà cũng
còn bờ tre”; thế nào rồi Xứ uỷ cũng được tổ chức lại sớm hay muộn, mạnh hay yếu.
Cho nên bọn tôi dặn nhau là, trong hoạt động của mình, trước hết phải xem còn
ban lãnh đạo nào không, xứ ủy hay tỉnh ủy, dù là lâm thời được tổ chức lại sau
tháng 11 năm 1940. Nếu có thể, điều tra kỹ, rồi nhập vào đó hay liên lạc gắn
bó, tránh mọi sự chia rẽ bao giờ cũng tổn hại (hồi 1933 khi tôi về tới Nam Kỳ
thì trước đó vài tháng Xứ uỷ Nam Kỳ do đồng chí giáo Long làm bí thư, đã bị địch
tóm gọn nên tôi với các đồng chí Nữ, Bang lập Xứ ủy mới mà không lo sinh ra
chia rẽ nghi ngờ nào). Bây giờ, sau một thời gian dài hoạt động, ở hầu khắp các
tỉnh Nam Kỳ, cả đồng chí Phúc, tôi và các đồng chí Tà Lài về, như nhau, đều
không thấy dấu hiệu sống còn của một xứ ủy, một tỉnh ủy nào hết. Cho nên, cuối
cùng, do tình thế bức bách, Phúc phải họp hội nghị đại biểu các “tỉnh ủy” lâm
thời của anh lập ra rồi, để bầu một xứ ủy. Và tôi, cũng tựa như thế phải họp hội
nghị đại biểu các “ban cán sự” thành và tỉnh của tôi dựng lên, để chỉ định một
“ban cán sự miền Đông” nhằm lãnh đạo chung. Khi ấy, vào năm 1943, Phúc và tôi
chưa gặp lại nhau tuy đã có hẹn trước, khi cần thiết thì lấy nhà bác hương trưởng
Hoài (quận Chợ Gạo, tỉnh Mỹ Tho) làm địa điểm liên lạc, ở đây sẵn có Khuy trong
toán ba anh em Tà Lài vượt ngục trước tiên.
Việc phải đến, đã đến. Tôi từ U Minh về, đầu năm 1943, đã ghé nhà bác hương trưởng
Hoài. Ông này ở cách nhà cha mẹ tôi không đầy mười cây số. Nhắc chuyện cũ là
năm 1926, cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc từ Sài Gòn xuống lục tỉnh thì cụ bắt đầu
ghé nhà ông hương trưởng Ninh (là bố vợ, từ 1930) của tôi; ông hương trưởng
Ninh đưa cụ Sắc qua bác Hoài, bác Hoài đưa cụ Sắc đi Bến Tre, v.v… Tôi đã qua
nhà bác Hoài từ năm 1933. Lần này đầu 1943, ghé nhà bác Hoài, tôi được Khuy báo
cáo hoạt động của anh ấy ở Mỹ Tho, Gò Công và một phần nào hoạt động của Phúc ở
đồng bằng sông Cửu Long. Rồi, lên Sài Gòn, tôi bắt đầu theo dõi đồng chí Mười
Thức, thợ giày thành phố, để giúp tôi hoạt động. Thức khi ấy là rể của ông
Hoài, còn Khuy là con nuôi. Lên tới Sài Gòn, tôi lập ngay ban cán sự Thành, với
ba đồng chí Oanh, Chí, Thức. Cả ba anh đều là công nhân lao động đã từng hoạt động
cách mạng, suốt thời kỳ Mặt trận bình dân, quen biết rất nhiều; vài năm nay
các anh nằm im vì không được ai dẫn dắt. Từ năm ngoái sau khi tôi ghé nhà Bảy
Trấn, ở đó mấy ngày, thì nhóm Phú Lạc có đi bắt liên lạc với nhiều đồng chí ở
hai tỉnh Chợ Lớn và Gia Định, cả Tân An nữa. Liên lạc thôi chớ không tổ chức và
hoạt động gì, nhưng nhờ đó mà, đầu 1943, sau Ban cán sự Sài Gòn, tôi đã tổ chức
được Ban cán sự tỉnh Chợ Lớn, rồi Ban cán sự tỉnh Gia Định, tới Ban cán sự tỉnh
Tân An, tỉnh nhà của tôi. Các đồng chí Hoằng (Tân An), Hoành (Chợ Lớn), Tổng,
Công, Khương, Nỉ (Gia Định) hoạt động đắc lực. Tôi với tay đến Thủ Dầu Một, tìm
được Văn Công Khai, thợ cúp tóc là một “đồ đệ” hồi ở Khám Lớn. Tới Biên Hòa,
tôi liên lạc với Châu, nguyên là cán bộ đã từng hoạt động với tôi ở quận Càng
Long (tỉnh Trà Vinh) từ năm 1933. Đồng chí Phải, cựu sinh viên đại học Đông
Phương, khoá trước của tôi, nay ở Bà Rịa cũng hứa hoạt động trong tỉnh Bà Rịa
và thị trấn Vũng Tàu. Chưa bắt được mối ở Tây Ninh. Thế nhưng bấy nhiêu “ban
cán sự” đó nếu hợp tác với các “tỉnh uỷ lâm thời” của Phúc, đã đặt ra yêu cầu
phải có một Xứ ủy chính thức đủ danh nghĩa lãnh đạo các đảng bộ toàn Nam Kỳ.
Mà, cho đến nay chúng tôi chưa thấy tăm hơi nào của một Xứ ủy còn sống sót sau
đại khủng bố 1940-1941. Phúc nhạy bén và bạo dạn hơn tôi; vì vậy mà anh tổ chức
đại biểu hội nghị xứ ở Chợ Gạo tháng 10 năm 1943. Còn tôi, không biết phải e dè
cẩn thận hay là không nhạy bén bạo dạn bằng, tôi quả thật sợ một cuộc đại biểu
hội nghị xứ đông đảo bị lộ bí mật, bị địch tóm gọn trong lúc mới khôi phục, thì
biết bao giờ mới vươn lên nổi. Cho nên tôi vắng mặt ở hội nghị Chợ Gạo. Tuy rằng
lúc ấy tôi ở Phú Lạc chớ không đâu xa, từ Phú Lạc đi Chợ Gạo bằng xe đạp chỉ mất
một buổi sáng. Vậy mà, anh em vẫn bầu tôi làm bí thư. Tôi cảm động biết mấy!
Cơ sở của Phúc ở miền Trung, miền Tây là chủ yếu; cơ sở của tôi ở Sài Gòn và
miền Đông 1. là
thứ yếu; hai cánh hợp nhau thì có một Xứ ủy chánh thức khá mạnh từ gần cuối
năm 1943.
Trần Văn Giàu, thập niên 1940
Ảnh: Trung tâm lưu trữ
Aix-en-Provence.
Bầu cử Xứ ủy, là một thành công lớn, lớn nhất từ sau ngày vượt ngục Tà Lài. Tuy
vậy, hệ thống và cơ sở Đảng ở toàn bộ Nam Kỳ vẫn còn là vấn đề lớn, rất lớn. Đi
đôi với vấn đề tổ chức và vấn đề đường lối chính trị mà bọn tôi biết bao lần đặt
ra nhưng chưa hề được giải quyết ổn thoả. Ổn thỏa sao được, bởi vì, giỏi mấy
mình vẫn là một địa phương thôi. Còn Trung ương 2. thì
có những quyết nghị gì, mình hoàn toàn không biết.
Ở đây, tôi muốn nói thêm rằng nhà bác hương trưởng Hoài, tuy bọn cầm quyền thực
dân không đứa nào không biết là nhà cách mạng, nhưng thực tế là một nơi dung
thân rất tốt của nhiều đồng chí: nhà ông ở xa trong vườn, từ lộ cái vào phải
hơn cây số vườn dừa, trên đường vào có rất nhiều cầu qua mương, cầu bằng thân
cây dừa, xe đạp qua phải dắt, trên đường vào toàn là nhà tá viên, bà con, ai
coi bộ khả nghi thì người nhà lấy chày giã gạo gõ nhịp trên cối giã làm hiệu.
Sau nhà bác hương trưởng là vườn, là dừa nước, là sông rạch chằng chịt, thoát
ra một phút thì có trời mà kiếm. Tôi hay nghỉ ngơi, để viết sách, ở nhà bác
hương trưởng ở Tân Thuận Bình, Chợ Gạo, là vì vậy. Nơi đây, từ 1943 tôi tổ chức
một “nhà in”, một “nhà xuất bản” in phát một số quyển như “Việt Nam trên đường
độc lập”, “Rạng đông của dân tộc” thường ký tên là “Xuyên Vân Nhạn” 3,
mà mục đích là giúp các đồng chí tuyên truyền chống “chủ nghĩa Đại Đông Á” của
Nhật, chống “Chủ nghĩa Liên bang” cũng gọi là “chủ nghĩa Pháp Việt phục hưng” của
Decoux. Gây lại tin tưởng vào tiền đồ.
Xác định đường lối cách mạng
Việc lập lại Xứ uỷ Nam Kỳ như vậy là đã xong về cơ bản; nói
rằng làm xong về cơ bản nghĩa là sau khi đã gây dựng lại một số tỉnh uỷ lâm thời
(theo cách của Dương Văn Phúc) và một số ban cán sự tỉnh hay thành (theo cách của
tôi), vấn đề còn lại về tổ chức là các tỉnh thành phải lo gây dựng lại cơ sở của
mình, tập hợp lại quần chúng vài ba năm nay bị rời rạc, tan tác. Xét ra thì việc
lập lại Xứ uỷ tất nhiên là một việc khó mà tương đối dễ; bọn tôi có kinh nghiệm
bản thân, riêng tôi đã từng thực hiện loại nhiệm vụ đó hồi 1933, thành công và
thất bại ở những chỗ nào, đến nay tôi hãy còn nhớ kỹ như là nhớ chuyện ngày hôm
qua; phần khác những đồng chí nào “kinh cung chi điểu” 4. thì
thôi, chớ nếu đã đồng ý lãnh nhiệm vụ mới thì đều là những đồng chí từng kinh
qua cấp uỷ của Đảng hay của hội, nhiều hay ít đều được quần chúng tin cậy. Khó
mà dễ là như vậy.
Còn hai việc lớn nữa phải làm cho tốt, cho mau; một là phải nỗ lực làm sao cho
Đảng ở Nam Kỳ, sau một thời gian tan vỡ, trở lại mạnh như trước, mạnh hơn trước,
ngõ hầu theo kịp với tình hình thế giới và trong nước chắc chắn sẽ biến chuyển
nhanh về hướng có lợi cho cách mạng. Việc này là bình thường, là thường xuyên.
Hai là phải xác định đường lối cách mạng, xác định đặc điểm và triển vọng của
tình hình, đề ra các nhiệm vụ cần kíp trên con đường chiến đấu của đất nước và
của địa bàn mình phụ trách. Việc này, thoáng qua thì hình như là dễ, ta đã sẵn
có đường lối chiến lược “cách mạng tư sản dân quyền” từ năm 1930 rồi kia mà,
sau luận cương cách mạng tư sản dân quyền thì ta đã có “chương trình hành động”
phổ biến từ 1932, được Quốc tế Cộng sản tán thành kia mà.
Thật thà mà nói, Văn, bạn học tôi trường Stalin, Văn nay đã
chết rồi, chết từ 1941, chết trong tay mật thám, thì không còn đồng chí vượt ngục
nào có khả năng lý luận khá. Toàn là những tay hoạt động thực tiễn giỏi mà ít
lý luận. Kể cả Phúc; Phúc kiên trì hoạt động thì ít ai hơn, ít ai bằng, nhưng
ít đọc, càng ít viết, Phúc (Bà Rịa) thì học nhiều mà không hoạt động tích cực.
Tây thì viết được mà chưa chịu ra. Nhiệm vụ vạch đường lối rơi vào tôi, túng
quá phải gánh, không chối được, chờ liên lạc với Trung ương, chờ chỉ thị thì chừng
nào mới có?
Tôi có ý thức rất rõ, có ý thức đầy đủ rằng, ngày nay lịch sử thế giới và lịch
sử dân tộc đã vào một thời kỳ mới, thời kỳ chiến tranh và cách mạng chắc chắn rộng
hơn thời kỳ chiến tranh 1914-1918 và cách mạng vô sản sau chiến tranh đó. Đường
lối đã vạch ra từ hồi 1930, 1932 nay đâu còn thích hợp nữa. Vậy phải có một đường
lối mới thích hợp hơn. Trung ương hội nghị lần thứ VI họp ở Bà Điểm cuối năm
1939, đã bắt đầu đề ra một đường lối mới. Mà nay là 1943 rồi, không phải là
1939 nữa. Năm 1939, chiến tranh thế giới còn là chiến tranh giữa phe Đức phát
xít và Pháp, Anh đế quốc thực dân. Nay chiến tranh đã mở rộng ra khắp thế giới
tây đông, mà mặt trận chính là Đức, Nga, và nay Anh, Mỹ là tư bản chủ nghĩa, đồng
minh của Liên Xô là xã hội chủ nghĩa. Pháp đã mất nước từ tay Đức. Hai ba năm
trước, một mình Pháp thống trị Đông Dương, bây giờ Đông Dương bị Pháp và Nhật
cùng thống trị. Thì đường lối cách mạng của Đảng ta phải như thế nào mới đúng?
Đúng nghĩa là chắc chắn đưa đến cách mạng thành công?
Tôi hiểu rằng một cái Xứ ủy cho dầu là cứng hơn, vững hơn bọn tôi mấy lần đi nữa,
cũng không có quyền vạch ra đường lối cách mạng là đường lối của toàn Đảng,
toàn quốc; cho nên xác định đường lối cách mạng phải là nhiệm vụ của Đại hội Đảng
hay là của Ban chấp hành Trung ương Đảng, các cấp bậc ấy mới có đủ quyền hạn.
Nhưng ở Nam Kỳ bấy giờ không còn có cơ quan Trung ương cũng không còn có ủy viên Trung ương từ sau những vụ bị bắt ở đường Nguyễn Tấn Nghiêm và xung quanh
cuộc khởi nghĩa 1940. Ngày nay nhìn lại thì thấy rằng mãi cho đến sau cách mạng
tháng Tám, chúng tôi, không biết có nghị quyết hội nghị Trung ương lần thứ VIII
- một cuộc hội nghị Trung ương có Nguyễn Ái Quốc tham dự 5.
Lúc đó chúng tôi cảm giác bơ vơ trong một thời cuộc cực kỳ rối và khó. Phải tự
vạch đường mà đi hay là phải chờ đợi? Mà chờ đợi đến chừng nào? Chờ đợi ai?
Trong lúc không thể dẫm chân một chỗ. Mà thời thế xem chừng như là cấp bách.
Sau Stalingrad rồi! Người chiến sĩ cách mạng, đoàn thể cách mạng cần biết tự động,
có sáng kiến, phải sáng kiến tự động giống như một sĩ quan cầm đầu một đơn vị
chiến đấu đang cơn hỗn loạn ở chiến trường, đứt liên lạc với cấp trên và với tả
hữu, tất phải tự động sáng kiến mà tiến thoái. Nhớ lại hồi 1933, Xứ uỷ cũ không
còn, Xứ uỷ mới vừa thành lập, Trung ương không có, các bạn và tôi vạch lấy con
đường mà đi; trong nhiều việc mới chưa có tiền lệ, như việc tranh cử hội đồng
thành phố Sài Gòn, Xứ uỷ đã tự mình giải quyết đúng đắn, lần đầu tiên kết hợp
bí mật và công khai, dám sử dụng các cơ hội hợp pháp để hoạt động cách mạng, nhờ
đó một phần mà gây lại được phong trào quần chúng rộng lớn và sôi nổi ở Nam Kỳ.
Bây giờ, mười năm sau, tình thế đơn độc thì giống mười năm trước mà tình hình
chính trị của thời chiến ngày nay gay go hơn biết mấy! Nhưng rồi cũng phải tự
vạch con đường mà đi thôi. May là, trong Nam, từ cuối 1939, đã có nghị quyết
Trung ương lần thứ VI. Mà Trung ương hội nghị lần thứ VI họp trong lúc ở châu
Âu đã nổ ra chiến tranh giữa Đức và Pháp, Anh, chưa có chiến tranh Đức - Liên
Xô, Pháp chưa bại trận. Á Đông thì quân Nhật chưa vào Đông Dương, chiến tranh
Thái Bình Dương chưa nổ ra. Bây giờ, 1943, thì tình hình khác xa hồi cuối 1939,
chắc chắn là nghị quyết Trung ương VI còn có nhiều phần ứng dụng được, nhưng
không đủ nữa. Thì làm thế nào bây giờ? Suy nghĩ nhiều, thảo luận mãi, chúng
tôi, đi đến chỗ quyết định phải tự trao cho mình trách nhiệm vạch ra đường lối
mà đi tới, đó là đường lối cách mạng do tôi đề nghị và tôi phải chịu trách nhiệm
trước lịch sử về sai đúng của nó.Trần Văn Giàu diễn thuyết tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 13.03.1946 (mít tinh về tình hình mặt trận Nam Bộ)Phúc sau này lấy tên là Năm Đông 6,
thấy tôi lúng túng nên đề nghị hãy lấy nghị quyết Trung ương thứ VI làm cơ sở của
đường lối rồi thi hành châm chước theo tình hình mới, như vậy sẽ “hợp pháp”
hơn. Văn và Phúc chỉ có hai người trong đám vượt ngục Tà Lài đã được biết nghị
quyết ấy song cũng chưa bao giờ nghiên cứu cho thấu đáo, cho nên, học lóm, tôi
chỉ biết vài nét đại cương; nay Văn chết rồi, còn Phúc thì quên ráo, trừ ra
cái nhiệm vụ phải thừa cơ chiến tranh thế giới để làm cách mạng giải phóng
thành công. Tìm kiếm mãi, tôi bắt gặp mấy đoạn chép tay nghị quyết VI ở nhà
Prigorny (Trân 7. -
Phú Lạc) giấu trên mái lá của chuồng trâu. Tôi hết sức cảm động khi đọc đoạn
chót của nghị quyết, lời kêu gọi thống thiết toàn thể đảng viên cộng sản:
“Các đồng chí! Thời cuộc hết sức nghiêm trọng, nhiệm vụ mà lịch sử phú thác
cho ta rất nặng nề. Là những phần tử tiên tiến của giai cấp thợ thuyền và là những
con cháu tinh anh tận tụy với công cuộc giải phóng dân tộc, chúng ta phải giác
ngộ rõ cái sứ mệnh lớn lao ấy và đủ can đảm, đủ nghị lực, đủ sáng suốt để gánh
vác nó.
Các đồng chí hãy xiết chặt hàng ngũ lại!
Muôn người cố kết như một!
Tiến lên thực hiện Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương.
Tiến lên lật đổ ách đế quốc, tranh lấy độc lập, giải phóng tự do, bình đẳng,
hòa bình, hạnh phúc…”.
Và kêu gọi thống thiết toàn thể đồng bào:
“Anh chị em đồng bào!
Dân tộc chúng ta đứng ở vào tình thế một còn một mất.
Là dòng dõi tinh anh của Trưng Vương, Triệu Ẩu, Trần Hưng Đạo,
Lê Lợi, Nguyễn Huệ, Phan Đình Phùng, lại là dân tộc đông nhất, dân tộc Việt Nam
hãy mau mau đoàn kết lại, thống nhất Trung Nam Bắc, liên hiệp với Miên Lào và tất
cả các dân tộc thiểu số khác dưới ngọn cờ Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế
Đông Dương, kẻ xuất công người xuất của, ra sức đấu tranh chống đế quốc chiến
tranh và giải phóng các dân tộc Đông Dương ra khỏi đế quốc Pháp.
Chỉ có chiến tranh giải phóng mới thật là chiến tranh vì công
lý, tự do”.
Đọc nghị quyết tháng 11 năm 1939, tôi chú ý đặc biệt đến một
số tư tưởng mang nhiều tính sáng tạo so với luận cương cách mạng tư sản dân quyền
(1930) và Chương trình hành động (1932), những tư tưởng đem lại nhiều gợi ý lớn
cho tôi khi tôi phải đề nghị một dự thảo đường lối cách mạng cho Xứ uỷ 1943. Những
tư tưởng gợi ý đó là:
“Đứng trong một tình thế ít nhiều khác với tình thế
1930-1931, chiến lược cách mạng tư sản dân quyền bây giờ cũng phải thay đổi ít
nhiều cho hợp với tình thế mới. Cách mạng phản đế và điền địa là hai cái mấu chốt
của cách mạng tư sản dân quyền. Không giải quyết được cách mạng điền địa thì
không giải quyết được cách mạng phản đế; không giải quyết cách mạng phản đế
thì không giải quyết được cách mạng điền địa. Các nguyên tắc ấy không bao giờ
thay đổi được; nhưng nó phải ứng dụng một cách khôn khéo thế nào để thực hiện
được nhiệm vụ chính cốt của cách mạng là đánh đổ đế quốc”.
Ngay khi đọc nghị quyết, tôi liền thấy rằng đây không phải là
“các nguyên tắc ấy - cách mạng phản đế và điền địa song song, không tách, không
cái nào thứ nhất, cái nào thứ yếu - không bao giờ thay đổi được”. Thực tế thì hội
nghị Trung ương 1939 đã “thay đổi”, nguyên tắc ấy, đã chuyển hướng chiến lược,
trước là cách mạng phản đế và điền địa, nay là cách mạng dân tộc giải phóng,
nhiệm vụ phản đế là “chính cốt”; không nói tách bạch ra nhưng cũng đã đủ rõ rằng
cách mạng điền địa là thứ yếu, nhưng cần viết lại sao cho các đồng chí hiểu rằng
dù nó là quan trọng lớn, lớn nào cũng không bằng cách mạng phản đế; đặt cách mạng
phản đế làm “chính cốt” là cốt để tập hợp được lực lượng yêu nước của cả dân tộc
đến mức cao nhất có thể được. Đúng là đã có thay đổi ở nguyên tắc chính. Nghị
quyết nói rõ hơn nữa:
“Hiện nay tình hình có đổi mới. Đế quốc chiến tranh, khủng hoảng
cùng với ách thống trị phát xít thuộc địa đã đưa đến vấn đề dân tộc thành một vấn
đề khẩn cấp rất quan trọng. Đám đông trung tiểu địa chủ và tư bản bản xứ cũng
căm tức đế quốc. Đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc
làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải
nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”.
Lâm thời không đưa ra khẩu hiệu “tất cả ruộng đất về tay dân
cày” nữa mà đưa ra khẩu hiệu “tịch thu ruộng đất của thực dân và của địa chủ phản
bội quyền lợi của dân tộc”.
Bạo dạn lắm và rất đúng, rất hay. Về sau, tôi nghĩ rằng trên thực tế lịch sử, sự
chuyển hướng chiến lược lớn của Đảng ta đã bắt đầu từ tháng 11 năm 1939, còn
nghị quyết Trung ương VIII thì tiếp tục và hoàn thiện một sự nghiệp phát triển lý
luận bắt đầu từ nghị quyết Trung ương VI. Năm 1943, sau khi lập Xứ uỷ, trong việc
tự vạch một đường lối cách mạng, chúng tôi ở Nam Kỳ, đặc biệt là tôi, đã chịu ảnh
hưởng cực kỳ sâu sắc của nghị quyết Trung ương VI về sự xác định “nhiệm vụ
chính cốt” của cách mạng Đông Dương, cách mạng Việt Nam. Giống như cái thời
(1928-1929, khi tôi gõ cửa xin gia nhập Đảng Cộng sản Pháp) mà tôi “phát hiện”
ra trong nghị quyết của Quốc tế Cộng sản đại hội lần thứ VI nhiệm vụ chiến lược
cách mạng điền địa gắn liền với cách mạng phản đế.
Chưa hết cái sáng tạo của Hội nghị tháng 11 năm 1939, tại Bà Điểm. Nghị quyết
còn nói đến vấn đề tính chất và hình thức của chính quyền cách mạng đã thành
công. Nghị quyết rút lại khẩu hiệu “lập chính phủ Xô Viết công nông” mà đưa khẩu
hiệu lập chính phủ cộng hòa dân chủ mang tính chất đoàn kết rộng rãi bao gồm
nhiều thành phần xã hội ngoài công nông tuy là dựng trên cơ sở liên minh công
nông.
Bạo dạn lắm ; cũng là thức thời lắm!
Vấn đề Miên Lào được quan niệm một cách khác hơn hồi 1930, 1932 khi ra đời Luận
cương chính trị và Chương trình hành động. Nghị quyết tháng 11 năm 1939 nói:
“Không một dân tộc nào có thể giải phóng riêng lẻ, vì Đông
Dương ở dưới quyền thống trị duy nhất của đế quốc Pháp về mặt chính trị, kinh tế
và binh bị. Không thể có một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng
liên quan đến cả nền thống trị của đế quốc Pháp. Sự liên hiệp các dân tộc Đông
Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất
vì các dân tộc Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có
quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình song sự tự quyết cũng không nhất
định nghĩa là rời hẳn nhau ra”.
Nói một cách khác hơn, rõ hơn, không đặt vấn đề thành lập
Liên bang Đông Dương như hồi 1930 nữa, mà đặt vấn đề liên minh chiến đấu giữa
Việt, Miên, Lào chống đế quốc thực dân Pháp nhằm giành lại độc lập cho nhau, mỗi
dân tộc Việt, Miên, Lào có quyền quyết định chế độ chính trị của mình mà cả ba
đều ủng hộ nhau để hoàn thành và bảo vệ nền độc lập đó.
Thế là rõ. Thế là hội nghị tháng 11 năm 1939 đã cho phép ta đánh đổ một chính
sách tuyên truyền “chia để trị” của Pháp. Duy, ngay sau tháng 11 năm 1939, ta
không có cơ hội để tuyên truyền cổ động rộng rãi cho một chiến lược đổi mới vừa
hợp với lịch sử, vừa hợp với lòng dân của cả ba dân tộc Việt, Miên, Lào.
Bên trên, tôi vừa nói đến ba chuyển hướng chiến lược đặc biệt quan trọng của
Trung ương hội nghị tháng 11 năm 1939. Ba điều ấy được chúng tôi, hồi
1943-1944, lấy làm cơ sở để vạch ra đường lối của Xứ ủy.
Đọc lại một số đoạn của nghị quyết VI, tôi lấy làm lạ, đồng thời cũng rất cảm động,
khi thấy rằng cuối năm 1939, trong lúc Thường vụ Trung ương còn toàn vẹn và an
toàn mà hội nghị đã đặc biệt chú tâm đến vấn đề nối chắp liên lạc dưới trên,
Nam Bắc trong Đảng bị địch làm tổn hại nguy hiểm. Nghị quyết nói phải:
“Tìm cách khôi phục hệ thống Trung Nam Bắc và phải làm cho sự
liên lạc từ chi bộ đến Trung ương được khắng khít. Nhất là trong lúc này (là
lúc) Đảng thay đổi chính sách, phải làm cho chính sách ấy phổ cập trong toàn Đảng…
Và trong lúc tình thế nghiêm trọng này, phong trào quần chúng sẽ tiến tới một tốc
độ không ngờ, nếu các tổ chức Đảng từ trên tới dưới không liên lạc mật thiết
như một người thì Đảng không thể chỉ huy phong trào một cách đúng đắn được.
Phong trào cách mạng của quần chúng sẽ vì đó mà yếu ớt đi, cách mạng sẽ không
thực hiện được, Đảng ta sẽ mang tội với vô sản, với dân tộc, với cách mạng toàn
thế giới”.
Chúng tôi càng thấm thía tầm quan trọng đặc biệt của nhiệm vụ
“khôi phục hệ thống Trung Nam Bắc” được đặt ra ngay từ cuối năm 1939, nhiệm vụ
càng cấp bách vào năm 1943-1944… tới đó mà vẫn chưa thực hiện được, tới đó mà
chúng tôi ở Nam chưa biết Trung ương còn hay không, còn thì đã vạch ra đường lối
cách mạng thế nào cho tất cả các tổ chức cộng sản đều theo đúng như vậy. Về sau
ai nói đông tây gì mặc kệ, chớ hồi 1943, khi lập lại Xứ uỷ chúng tôi Phúc,
Giàu… nhắc mãi cái câu tâm huyết của nghị quyết VI: “Nếu các tổ chức Đảng từ
trên xuống dưới không liên quan mật thiết như một người… cách mạng không thực
hiện được… ta mắc tội với vô sản, với dân tộc…”.
Không đành chịu ngồi chờ, bất đắc dĩ chúng tôi phải tự vạch ra một đường lối
cách mạng mà dù tự tin mấy cũng không khỏi phải âu lo rằng có thể có sự khác biệt
đáng lẽ tránh được với các đồng chí ở Bắc Trung. Sau này, ai hiểu được cho tôi
thì tôi nhờ, ai hiểu không được hay không muốn hiểu thì tôi chịu, chớ bảo nhau
“ngồi chờ” quyết không phải là thái độ của tôi hay của bất cứ người “cách mạng
chuyên nghiệp” nào. Khi ấy, ở Nam Kỳ, ở trong tình thế phải tự vạch ra con đường
để mà đi tới trước, nếu có sai biệt gì với bên trên (mà chúng tôi không biết chắc
là còn hay mất) thì tôi sẵn sàng chịu phê bình, nhưng người ta không những phê
bình mà còn công kích dữ dội, ác liệt, cái lối xử sự ấy quả là khó chấp nhận lắm.
Vấn đề “một cổ hai tròng”, ách của hai đế quốc Pháp và
Nhật
Hồi cuối năm 1939, đầu năm 1940, chỉ có một mình Pháp thống
trị Đông Dương.
Khi ấy, trong những năm cuối thời Mặt trận bình dân, đứng trước nguy cơ chiến
tranh giữa Nhật- Pháp ở Đông Á, anh Lê Hồng Phong chủ trương “phòng thủ Đông
Dương”. Còn tôi, dù ở trong Khám Lớn Sài Gòn, tôi có gởi bài đăng ở báo Avant
garde chủ trương là “giữa bệnh dịch tả và bệnh dịch hạch, ta không lựa chọn cái
nào” (entre la peste et le choléra, on ne choisit pas). Khi ấy, có mặt Honel
nghị sĩ cộng sản Pháp được Đảng Cộng sản Pháp phái sang Sài Gòn, anh ấy phản đối
tôi hết sức dữ dội, và không phải chỉ có một mình Honel phản đối tôi. Nhưng quần
chúng và cán bộ thì bàn tán nhiều, không phải ai cũng ủng hộ “phòng thủ Đông
Dương”. Anh tuyên chiến với Đức. Đồng minh của Đức là Nhật đem quân vào Đông
Dương, Pháp-Nhật câu kết nhau.
Ngay từ khi chiến tranh thế giới bắt đầu, Đảng đã quyết định sẽ nhân cơ hội chiến
tranh đế quốc để làm cách mạng giải phóng thành công, điều này đã ghi trong Luận
cương chính trị 1930 và Chương trình hành động 1932. Giữa năm 1940, Pháp bị Đức
đánh bại phải đầu hàng, một chính phủ chư hầu, tay sai của Đức được thành lập ở
Pháp và Pháp được giữ nguyên các thuộc địa. Chính phủ thuộc địa tại Đông Dương
theo đường lối của chính phủ Pétain ở Pháp. Quân Pháp theo Pétain nắm trọn quyền
ở Đông Dương. Những từ cuối năm 1940 và đầu 1941, Pháp buộc phải chấp nhận để
quân đội Nhật vào Đông Dương. Từ đó, thống trị Đông Dương không phải chỉ có đế
quốc Pháp mà còn có quân phiệt Nhật. Một cổ hai tròng là thế. Ai đoán trước được? Cuối năm 1940, nổ ra cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Khởi nghĩa thất bại. Pháp đàn áp
dữ dội, khốc liệt nhất từ khi chúng đến đồng bằng Cửu Long, Đồng Nai. Khi nổ ra
khởi nghĩa Nam Kỳ chưa có đại quân Nhật vào đây; nay thì quân Nhật có mặt ở cả
Bắc, Trung, Nam, Miên, Lào nữa, đóng căn cứ hành quân khắp nơi. Nhật dung dưỡng
Pháp và Pháp phục vụ lại Nhật, hai thằng đế quốc tuy có mâu thuẫn với nhau mà
cùng nhau đè đầu cưỡi cổ dân ta. Nhân dân và cả đồng chí nữa đặt câu hỏi: một
đế quốc Pháp, đã bị phát xít Đức đánh bại, mà ta còn đánh đổ không nổi, ta còn
thua, nay thêm một đế quốc Nhật, đế quốc đó lại đang thắng Mỹ, Anh, Hà như chẻ
tre, cả hai kẻ xâm lược Pháp, Nhật cùng thống trị dân tộc ta, thì ta làm sao
đánh đổ nổi chúng để giành lại độc lập?
Trong câu hỏi có xen ý hoài nghi tiền đồ cách mạng. Chúng tôi đã trả lời câu hỏi
một cách đơn giản mà không có ai trong số các đồng chí (và trong quần chúng cảm
tình) không cho là đúng:
Pháp sở dĩ chấp nhận để cho quân đội Nhật vào Đông Dương vì chúng không có sức
đương đầu với Nhật, một trận Lạng Sơn đủ chứng tỏ điều ấy rồi. Đánh Nhật thì
Pháp (ở Đông Dương) chết ngay, mất hết. Nhân nhượng thì may ra còn. Vả lại,
chính phủ Pétain ở Pháp chịu phục tùng Đức, mà Đức thì muốn cho Pháp cứ giữ thuộc
địa, Nhật là đồng minh của Đức; cho nên Pháp ở Đông Dương nuôi hy vọng có thể
giữ được bộ máy cai trị của chúng cho đến ngày hết chiến tranh mà chúng tưởng rằng
phe trục phát xít sẽ thắng.
Nhật tất nhiên là muốn ăn hết miếng mồi Đông Dương chớ không muốn chia phần cho
Pháp. Nhật hất cẳng Pháp không khó khăn, dễ như móc thuốc lá trong túi. Nhưng nếu
như Nhật hất cẳng Pháp ngay thì cái khó khăn lớn của Nhật là phải tổ chức ra bộ
máy cai trị của chúng, liệu bộ máy mới có giữ trật tự nổi trong một nước có
truyền thống cách mạng rất mạnh như Việt Nam không? Chi bằng tạm để quân Pháp ở
đó, buộc Pháp nếu muốn tồn tại để chờ thời, thì một mặt phải làm việc giữ trị
an bằng bộ máy Nhà nước đã xây dựng từ gần một trăm năm nay, mặt khác phải lo bảo
đảm hậu cần cho quân đội Nhật, cần lương thực có lương thực, cần nhân công có
nhân công, cần tiền có tiền, bến tàu, sân bay, đường sá đều sẵn. Lợi hơn là trực
tiếp nắm tất cả quyền hành. Mà người chủ thật sự là Nhật, không phải là Pháp. Đến
lúc nào cần thiết thì Nhật sẽ lật Pháp dễ như trở bàn tay, việc này có ngày nhất
định sẽ xảy ra, vấn đề là sớm hay muộn chớ hai con chó không thể cùng chia êm một
miếng mồi ngon. Chúng nó sẽ cắn nhau, một con sẽ chết. Con chết trước là thực
dân Pháp. Hai kẻ thống trị sẽ còn một, hai ách sẽ chỉ còn một, mà ách thống trị
còn đó cũng sẽ không kiên cố lâu dài gì bởi vì Nhật sẽ thua trong cuộc chiến
tranh Thái Bình Dương và trong cuộc xâm lăng Trung Quốc. Nhật lật đổ Pháp sẽ
không có phần trợ lực nào hết dù là gián tiếp của lực lượng ta, nhân dân ta
đóng góp càng lớn thì cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương càng có điều kiện
dễ thắng lợi.
Vậy không có gì phải ngán, phải bi quan với cái sự thật đáng ghét là một cổ hai
tròng, một dân tộc thuộc địa mà hai đế quốc hè nhau thống trị.
Cũng do nhận định như thế mà tôi đề nghị với các đồng chí là ta không để ngang
hàng thực dân Pháp với quân phiệt Nhật, ta phải xem đế quốc Nhật là kẻ thù số một
mặc dù nó không ngồi ghế toàn quyền, thống sứ, thống đốc; tôi đề nghị khẩu hiệu
chiến lược là “đánh đổ đế quốc Nhật, bài trừ phản động Pháp, Đông Dương độc lập
muôn năm”. Khẩu hiệu này bao hàm ý nghĩa rằng ta có thể cần phải lợi dụng mâu
thuẫn của Pháp và Nhật, hàm ý nghĩa rằng Pháp, Nhật đều là kẻ thù của ta, mà
bây giờ thì kẻ thù chính là Nhật; cũng hàm ý nghĩa rằng Nhật thế nào cũng sẽ lật
đổ Pháp, rằng những người Đông Dương yêu nước trong trường hợp cụ thể và trong
điều kiện nhất định có thể là đồng minh chiến đấu của phe kháng chiến Pháp chống
Nhật và chống phe Decoux thân phát xít. Về sau tôi mới biết được ở ngoài Bắc,
các đồng chí ta từ năm 1941,1942 đề ra khẩu hiệu “đánh Pháp, đuổi Nhật” cho đến
khi nổ ra sự kiện 9 tháng 3 năm 1945, Nhật lật đổ Pháp. Như vậy là trước ngày 9
tháng 3 năm 1945 Nam, Bắc có sự khác biệt không phải đâu đó muốn khác nhau như
thế nào, mà vì hệ thống Đảng chưa được khôi phục. Nhà làm sử về sau có thể đánh
giá là ở Nam Bộ, và riêng ở tôi, sai đúng tới mức nào, nặng bao nhiêu nhưng
trong vấn đề này, tôi muốn được thấy rõ sai lầm của tôi nếu quả đó là sai lầm về
khẩu hiệu chiến lược.
Trong một lần Hội nghị Xứ ủy ở Chợ Gạo năm đó (cuối 1943), tôi đã yêu cầu các đồng
chí chú trọng đặc biệt đến nhiệm vụ - cũng mang tính chất chiến lược - đấu
tranh tư tưởng chính trị chống “chủ nghĩa Pháp-Việt phục hưng” của thực dân
Pháp ở Đông Dương và “chủ nghĩa Đại Đông Á” của Nhật. Vào thời điểm đó, trong
khi tôi nhận định rằng trong hai kẻ thù đế quốc, đế quốc Nhật là số một, thì
tôi nhận định rằng trong hai tư tưởng địch thủ, không cái nào là thứ hai, cả
hai đều rất nguy hiểm; từ năm 1943 trở đi, cái chủ nghĩa Đại Đông Á có sút giảm
ảnh hưởng bởi vì chiến tranh Thái Bình Dương bắt đầu chuyển sang chiều hướng bất
lợi khó gỡ cho Nhật và bởi vì hơn vài năm nay đám thân Nhật coi như là “mỏi mòn
trông đợi”, mất dần tin tưởng vào Nhật cho đến nỗi tướng Tòng Tỉnh chủ tịch
Liên Á phải sang Sài Gòn để “trấn an”, để “lên dây cót” cho đám tay chân người
bản xứ, cái xu thế của chủ nghĩa Đại Đông Á càng lâu càng mất đà, khó gỡ. Còn
cái “chủ nghĩa Pháp-Việt phục hưng” cũng gọi la “chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề mới”
của phái Decoux thì với cái sức mạnh đang chuyển sang đà thắng của đồng minh
Anh, Mỹ, Liên Xô, dẫn đến chỗ thực dân Pháp và đồng minh bản xứ lâu đời của
chúng hy vọng một cuộc khôi phục nước Pháp, hy vọng vào hoạt động của De Gaulle
và đám gaullistes ở Đông Dương. Cho nên, trên cơ sở đường lối cách mạng (mà
chúng tôi tự vạch ra), cuộc đấu tranh tư tưởng chính trị chống chủ nghĩa
“Pháp-Việt phục hưng” và “chủ nghĩa Đại Đông Á” được chúng tôi xem như là điều
kiện cốt yếu để đẩy phong trào cách mạng tới thành công. Về sau, tôi nhận thấy
rằng, trên mặt trận này, chủ trương đường lối ở Bắc và ở Nam không có khác biệt
nhiều, duy ở trong Nam lực lượng thân Nhật, tiêu biểu là các giáo phái, to lớn
lắm, hoạt động dữ lắm, đấu tranh với họ vừa vất vả, vừa tế nhị hết sức. Những
quyển sách loại “bỏ túi” của tôi phát hành lúc đó chống “chủ nghĩa Pháp-Việt phục
hưng” (hay là “chủ nghĩa Liên bang của Decoux), chống “Chủ nghĩa Đại Đông Á” của
Nhật có giúp cho anh em ta tuyên truyền cách mạng, khôi phục lòng tin vào cách
mạng, nhưng phải nói rằng có tác dụng quyết định trong việc khôi phục lòng tin
vào cách mạng là những chiến thắng của Hồng quân Liên Xô từ Stalingrad trở đi.
Vấn đề tập hợp lực lượng
Vấn đề tập hợp lực lượng để đi tới khởi nghĩa cách mạng là vấn
đề rất lớn trong việc xác định đường lối sau khi đã rõ đối tượng tính chất của
cách mạng. Nói giải phóng dân tộc, giành độc lập, các thời kỳ, các tổ chức, các
vị yêu nước đều nói; nhưng tới nay thì chưa ai làm được. Khởi nghĩa Yên Bái
1930, khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, đều biểu hiện ý chí giải phóng dân tộc, nhưng đều
thất bại; một trong những nguyên nhân lớn của sự thất bại là đã chưa tập hợp đủ
lực lượng để làm cách mạng. Nam Kỳ 1940 tập hợp được lực lượng nhiều lần hơn
Yên Bái 1930, mà cả hai đều thiếu; Nam Kỳ khởi nghĩa, ngay khi nhìn ở tầm địa
phương, cũng là một cuộc nổi dậy với lực lượng tập hợp còn xa mới đủ: công
nhân lao động thành thị chưa nổi lên, không có binh lính nổi lên, đa số các quận
huyện không có nổi lên và ngay nông dân ở các quận huyện có khởi nghĩa cũng chỉ
một số ít cầm vũ khí đánh giặc Pháp. Vả chăng, trong một cuộc cách mạng giải
phóng dân tộc, nếu chỉ có công nông binh trong tổ chức của Đảng nổi lên thì một
sự tập hợp lực lượng như thế vẫn còn hẹp hay là chưa đủ rộng lớn cần thiết. Xứ
uỷ chúng tôi nhận định như vậy. Nhận định như vậy, quyết không phải là “chê”
các đồng chí lãnh đạo khởi nghĩa 1940, nhận thấy khuyết điểm ấy là để xác định
rằng muốn khởi nghĩa thành công phải có không chỉ hàng vạn mà hàng ức triệu người
nhất tề nổi lên mới được.
Từ nay cho đến khi có thời cơ khởi nghĩa, phải làm cho kỳ được những gì trong
trách nhiệm tập hợp lực lượng?
– Phải chú trọng đặc biệt vào công nhân, người lao động; chú
trọng vào công chức của chính quyền ở thành thị, trước hết là ở Sài Gòn đầu não; thật sự biến các xí nghiệp lớn và các công sở chính làm “thành trì của cách mạng”,
giống như đặt quả bom, đặt trong bụng của địch nhân, như đóng cái đinh vào đầu
của chúng; nếu quả ta tính đánh địch một đòn chết tươi thì phải đánh thẳng vào
bộ não, trái tim của chúng; có thể nghĩ ngay bây giờ là ngày mai, khi nổi lên
khởi nghĩa, ta sẽ chiếm các công sở Sài Gòn chủ yếu bằng lực lượng cách mạng ở
trong công sở đó. Vậy từ bây giờ, ta phải dồn phân nửa sức mạnh của đảng bộ vào
công tác trọng tâm này, để không bao giờ lặp lại cái dở tai hại của tháng 11
năm 1940, là nhiều nơi ở nông thôn nổi lên mà Sài Gòn thì lại yên tĩnh.
– Phải thu hút đông đảo nông dân cho bằng và nhiều hơn hồi
1930-1931, 1937-1938, đặc biệt là, ở mỗi tỉnh, ta phải tập trung nhiều cán bộ
giỏi hoạt động tổ chức tuyên truyền ở các quận huyện gần châu thành của tỉnh ấy
là chính chớ không phải dàn đều; cũng ra sức hoạt động tổ chức tuyên truyền ở
dọc theo các đường giao thông huyết mạch. Trong toàn bộ Nam Kỳ thì nông vận phải
chú trọng riêng các tỉnh xung quanh Sài Gòn, làm sống lại và mạnh hơn lên cái
“vành đai đỏ” từng nổi tiếng để có ngày tiếp ứng mãnh liệt cho lực lượng khởi
nghĩa của thành phố.
– Phải phát huy truyền thống binh vận và nắm cho kỳ được số
lính khố xanh ở Sài Gòn, Chợ Lớn và mỗi tỉnh. Từ ngày Pháp đầu hàng Đức và dạ dạ
vâng vâng trước Nhật thì công tác binh vận có nhiều cơ hội thành công hơn trước.
Lênin đã làm khởi nghĩa ở Petrograd với nhiều đơn vị lục quân và hải quân của
chính quyền tư bản. Năm 1940, các báo cáo về kết quả binh vận là không đúng thực
tế. Chúng tôi biết rõ tầm quan trọng của binh vận, nhưng khác xa với Quốc dân đảng,
chúng tôi cho rằng chỉ khi nào chúng ta tập hợp được một lực lượng công nông thật
lớn thì binh lính mới mạnh dạn đứng về phe cách mạng.
– Phải đặc biệt chú trọng tập hợp lực lượng thanh niên ở
thành thị và nông thôn, không phân biệt là thanh niên thuộc thành phần giai cấp
nào. Nếu ví Đảng là một con người thì công nhân và thanh niên là tay mặt tay
trái của con người đó. Cả Pháp lẫn Nhật, mấy năm nay đã chú trọng chinh phục
thanh niên. Ta phải cản trở, đánh bại những cố gắng ấy của chúng. Mấy năm nay,
cũng thấy nảy nở ra ở Sài Gòn và nhiều tỉnh một phong trào sinh viên, học sinh
chưa xác định rõ được tính chất chính trị, mà điều chắc chắn nhất là Đảng ta
không được để cho tụi tay chân của Pháp, của Nhật lôi kéo thanh niên; ta phải
quyết tâm giành thanh niên với chúng. Nhiệm vụ này chỉ có thể hoàn thành tốt nếu
Đảng ta tạo được một sức mạnh lớn công nông liên minh có khả năng “lôi kéo” các
giai cấp trung gian và nếu Đảng ta có một số cán bộ đại trí thức có tiếng tăm
và nhân cách. Chỗ này lâu nay là một nhược điểm lớn của Đảng, ta cần phải khắc
phục nhanh chóng. Công tác này rất khó mà không thể xem nhẹ.
– Đặc điểm chính trị xã hội Nam Kỳ là có nhiều chánh đảng và
giáo phái lớn; có cả chánh đảng hoạt động dưới hình thức tôn giáo. Phải điều
tra kỹ tình hình đảng phái và giáo phái ở Nam kỳ, xem xét khả năng “làm đoàn”
trong một số phái có đông quần chúng, phân hoá họ và cảnh tỉnh những cánh nào có
thể cảnh tỉnh, đoàn kết với họ. Công tác này khó khăn và tế nhị, cần giao cho một
số ít cán bộ có năng lực, có tư cách. Khi cần, ta có thể bàn đến khả năng một số
ít đồng chí có năng lực, có tư cách đứng ra trợ lực, hướng dẫn cho những người
yêu nước nào đó thành lập chính đảng cách mạng quốc gia, dân chủ, góp phần đấu
tranh giải phóng dân tộc.
Vào năm 1943 trở đi, sau khi chiến dịch đại thắng của Hồng
quân Liên Xô tại Stalingrad thì các đồng chí cộng sản nằm yên hay ẩn núp từ
1940, nay bắt đầu được vực lên về mặt tinh thần; số anh chị em đó còn nhiều;
có thể và cần phải đưa họ trở lại hoạt động cách mạng với Xứ ủy, đó là điều kiện
quan trọng để thực hiện nhiệm vụ “tập hợp lực lượng”. Tập hợp lực lượng nhân
dân tất nhiên phải bắt đầu và đi song song với tập hợp lực lượng các chiến sĩ cộng
sản bị tan tác sau cuộc khởi nghĩa thất bại 1940.
Hồi cuối năm 1943 đó, khi vạch ra cho mình một đường lối cách mạng thì tôi và
các bạn của tôi chưa đặt ra và bàn luận vấn đề lập “Mặt trận dân tộc thống nhất
phản đế” mà Hội nghị Trung ương 1939 ở Bà Điểm đã đặt ra. Tôi chưa biết có nghị
quyết lập Việt Minh (Việt Nam độc lập đồng minh) của hội nghị Trung ương lần thứ
VIII, năm 1941, ở Cao Bằng. Cho nên chúng tôi tổ chức Đảng và hội, để tập hợp lực
lượng, y như hồi Đảng Cộng sản mới ra đời; cũng công hội, nông hội như trước
chớ không phải “công nhân cứu quốc”, “nông dân cứu quốc” v.v… (sau tôi sẽ có dịp
trở lại vấn đề này). Còn về việc lập “Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế” thì
Nghị quyết VI không nói rõ sẽ tổ chức ra sao? Gồm những ai? hoạt động cách
nào? Tôi nói với các đồng chí trong cuộc họp để bàn về đường lối cách mạng và
những nhiệm vụ cần kíp rằng, khi nào năm, sáu nhiệm vụ lớn (đã kể trên) được thực
hiện có kết quả thì khi ấy mới có điều kiện để lập Mặt trận dân tộc thống nhất
phản đế ở Nam Kỳ; chớ bây giờ thì chưa có thể lập Mặt trận dân tộc thống nhất
phản đế được; nếu bây giờ lập mặt trận thì mới chỉ có hình thức, chớ chưa có
thực tế bởi lẽ ta chỉ có Đảng ta và các tổ chức công nông thanh phụ còn yếu ớt
của chúng ta, cái đó chưa phải là mặt trận. Mặt trận theo đúng ý nghĩa của nó
phải là một liên minh chiến đấu theo một chương trình hành động chung giữa các
chính đảng, các đoàn thể, các giai cấp, các sắc tộc, các tôn giáo, các thân sĩ
tiêu biểu. Nay (1943, 1944) ta chưa có điều kiện để lập mặt trận; riêng Đảng Cộng
sản và công hội, nông hội chưa thành mặt trận; liên minh công nông là cơ sở của
mặt trận dân tộc thống nhất nhưng chưa trở thành tổ chức mặt trận rộng lớn mà
ta hướng tới.
Vấn đề tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
Viết đến đây tôi muốn để ít thời giờ để kiểm điểm và tự kiểm
điểm về vấn đề: Tại sao Nam Bộ không sớm tổ chức Việt Minh? Tại sao? Thời điểm
đó tôi chưa nghe hai chữ Việt Minh? Tới tháng 7 năm 1945, tôi mới có chương
trình điều lệ Việt Minh trong tay, thì làm sao hồi 1943,1944 có chủ trương theo
đường lối của hội nghị Trung ương VIII được? Mà ví phỏng trước hay trong các
cuộc hội nghị đại biểu ở Phú Lạc, Chợ Gạo tôi đã nắm được chương trình điều lệ
Việt Minh mà chưa được giải thích thật kỹ, chắc gì tôi không “thắc mắc” về một
số điểm trong đó có việc biến đổi các công hội, nông hội thành “hội công nhân cứu
quốc”. Tuy vậy tôi sẽ tán thành tổ chức “Hội thanh niên cứu quốc”, “Hội văn nghệ
cứu quốc”, “Hội phụ nữ cứu quốc”. Còn những tổ chức mang tính chất giai cấp của
công nhân, nông dân (công hội, nông hội) thì bản chất của nó vốn đã đậm đà chất
cứu quốc rồi, bản chất và nhiệm vụ của nó còn cao hơn là cứu quốc, nên tôi nghĩ
rằng việc gì phải lấy một cái tên khác tiêu biểu chỉ cho cách mạng phản đế? Mặt
trận Việt Minh mà chúng tôi sẽ tổ chức ở Nam Kỳ vào giữa năm 1945, sẽ bao gồm:
Đảng Cộng sản, Tổng Công đoàn, Thanh niên Tiền phong, đảng Tân Dân chủ, Cánh tả
đảng Quốc gia (Cư sĩ tịnh độ), Cao Đài cứu quốc, hội binh sĩ yêu nước… không giống
như điều lệ Việt Minh chính thức, cho nên khi đó, một số anh em mỉa mai gọi
chúng tôi là “Việt Minh mới”, gọi chúng tôi là “Việt Minh mới” là không đúng lắm,
nhưng cũng không phải là không duyên cớ! Sau này tôi còn nghe nói “Việt Minh
thiệt, Việt Minh giả” nữa! Phiền phức quá! Mà tránh sao được khi đồng chí ở mỗi
nơi đều ra sức tự động thúc đẩy phong trào cách mạng phát triển, chớ không ngồi
chờ.
Tôi nhớ rằng khi ấy các đồng chí ở Nam không mấy ai quan tâm thực hiện vấn đề Mặt
trận. Trái lại thì anh em quan tâm đến vấn đề khởi nghĩa giành chính quyền. Khi
ấy, sở dĩ, trong lúc Xứ ủy Đảng mới khôi phục, anh em ai nấy đều quan tâm đến vấn
đề khởi nghĩa, hẳn là vì ai nấy đều không thể quên cuộc khởi nghĩa thất bại năm
1940, dưới thời kỳ của Xứ uỷ do đồng chí Tạ Uyên lãnh đạo. Phải tránh vết xe đổ,
nhiều đồng chí nói. Đòn đau 1940 hãy còn thấm thía lắm; nhưng hội nghị vẫn khẳng
định với Trung ương VI (1939) và luận cương chính trị (1930) rằng không thể nào
giành được độc lập mà không trải qua cuộc vũ trang khởi nghĩa (lúc bấy giờ cũng
được gọi là “bạo động”). Khởi nghĩa, bạo động là thuộc vào đường lối cách mạng,
là bộ phận quan trọng bậc nhất của một đường lối cách mạng.
Cuối năm 1943, chúng tôi ở Nam Kỳ quan niệm như thế nào về khởi nghĩa, về “bạo
động” cách mạng? Tôi đã nhiều lần ra sức thử tổng kết kinh nghiệm của cuộc khởi
nghĩa 1940, rút những bài học lớn. Nay cuối năm 1943, ở các cuộc hội nghị Chợ Gạo,
Phú Lạc, để “hoàn chỉnh” về cơ bản một đường lối cách mạng, ít nhất là tạm thời
trong lúc chưa nối được liên lạc với Trung ương - tôi đã trình bày những ý kiến
chủ đạo sau:
Thứ nhất là: ý kiến của Nghị quyết VI. Nghị quyết VI nói:
Muốn đi tới đánh đổ đế quốc, phải huy động dân chúng chống đế quốc chiến tranh,
và kêu gọi lòng ái quốc chân chính, phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân
tộc; phải biết gắn kết với những quyền lợi thiết thực của các tầng lớp nhân
dân với quyền lợi dân tộc và kêu gọi thống nhất dân tộc. Cái tinh thần ái quốc
và đòi thống nhất dân tộc, giải phóng dân tộc càng phát triển thì tinh thần phản
đế càng mạnh mẽ. Mở rộng và nâng cao tinh thần dân tộc, làm cho mỗi người trong
các giai cấp có ý thức về sự tồn vong của dân tộc và sự mật thiết của vận mệnh
dân tộc với lợi ích cá nhân mình; đặt quyền lợi dân tộc lên trên tất cả các
quyền lợi khác; thống nhất lực lượng dân tộc là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế
quốc Pháp…
“Xoay tất cả phong trào đấu tranh lẻ tẻ vào cuộc đấu tranh
chung, phản đối đế quốc chiến tranh, chống đế quốc Pháp và bè lũ, dự bị điều kiện
bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”.
Như vậy nghĩa là giương cao ngọn cờ dân tộc, đi tới khởi
nghĩa vũ trang. Hoàn toàn không vì khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại mà chọn con đường
nào khác; không có con đường nào khác để giành độc lập dân tộc ngoài con đường
dẫn đến khởi nghĩa, “bạo động” cách mạng. Mọi sự tập hợp lực lượng đều nhằm vào
một trận thư hùng, một cuộc khởi nghĩa vũ trang quyết thắng, không có quyền bại.
Trong cuộc chiến tranh thế giới ngày nay, đế quốc Pháp ở Đông Dương rồi sẽ bị đế
quốc Nhật lật đổ. Cuộc hợp tác ma quỷ Nhật-Pháp sẽ chấm dứt không sớm thì chầy.
Rồi sau đó, phát xít Nhật hùng cường sẽ bị quân Mỹ, Anh, Trung Quốc đánh bại,
việc nhất định phải đến, sẽ đến, chỉ có sớm hay muộn thôi. Chúng ta tin chắc rằng
không phải là Nhật đánh đổ Pháp thì tự nhiên đem lại độc lập cho dân tộc ta và
cho các dân tộc Đông Dương, cái độc lập đó cho dù có tuyên bố cũng quyết không
phải là độc lập thực sự mà chỉ là hình thức thôi, giả mạo thôi; chúng ta không
hề muốn cái thứ độc lập ấy. Chúng ta cũng chắc chắn rằng dù đồng minh Mỹ, Anh,
Trung Quốc thắng Nhật cũng không trả lại độc lập cho dân tộc Việt Nam đâu, mà sẽ
trả lại chủ quyền cho Pháp, hay nhiều nhất là họ đặt chế độ “ủy trị” và giao lại
cho Mỹ và một đế quốc nào khác. Ta phải nhận thức rõ rằng không đời nào có “bất
chiến tự nhiên thành”, không có độc lập do ai ban cho mình; chỉ có độc lập do
bản thân ta chinh phục mới thực sự là độc lập. Độc lập thật sự chỉ có thể giành
được bằng khởi nghĩa vũ trang, bằng bạo động cách mạng. Một đường lối cách mạng
phải khẳng định điều này, hoàn toàn trái với lời hứa hẹn của Nhật với các chính
đảng và giáo phái theo chủ nghĩa Đại Đông Á. Cũng khác hẳn với kế hoạch “Liên bang
Đông Dương” lừa bịp của Decoux.
Còn như hỏi: chừng nào mới khởi nghĩa, thì ta trả lời rằng: khi các điều kiện
khách quan đã đủ, đã chín (hồi 1943,1944 chưa ai dùng chữ “chín muồi”) và khi tập
hợp đủ lực lượng. Còn như lực lượng tập hợp chưa đủ, điều kiện khách quan chưa
chín, mà cứ phát động khởi nghĩa, là manh động, là khởi nghĩa non, mà non thì
thua. Khởi nghĩa Nam Kỳ tháng 11 năm 1940, là khởi nghĩa non, nên thất bại thấy
trước.
Hôm đó, một lần nữa, tôi nêu ra cái sai lầm lớn của các đồng chí lãnh đạo khởi
nghĩa Nam Kỳ. Tất nhiên tôi không trách Thường vụ Trung ương đã bị bắt gần một
năm trước mà trách hai đồng chí ủy viên Trung ương còn sót (là anh Tần và anh
Lưu) sao không kiên quyết ngăn cản Tạ Uyên và Xứ ủy trên con đường bạo động non
dẫn đến thất bại kia. Cuối 1940 đã không có thời cơ đủ chín cho khởi nghĩa, lại
chưa có lực lượng đủ mạnh cho bạo động, mà cứ bạo động, khởi nghĩa là làm liều,
nổi lên thì rất anh dũng mà thất bại thì rất lớn, không đáng có. Lần tới, ta phải
làm khởi nghĩa theo khoa học và nghệ thuật Lênin, theo mẫu mực cách mạng tháng
Mười Nga. Nói cho rõ hơn, tôi và các đồng chí của tôi không ưng ý với chủ
trương khởi nghĩa bằng lực lượng du kích, bằng khởi nghĩa địa phương, bằng chiến
lược “nông thôn bao vây thành thị”. Tôi thấy hồi 1940 Xứ uỷ Nam Kỳ chịu ảnh hưởng
của Mao Trạch Đông, việc phát hành quyển “chiến tranh du kích” vào giữa năm
1940 nói rõ điều ấy. Bằng du kích làm sao mà giành chính quyền được? Phải làm
khởi nghĩa cách mạng, một cuộc quyết chiến bằng bạo lực chính trị và bạo lực vũ
trang kết hợp nổ ra trên đỉnh cao nhất của một phong trào quần chúng, mà địch
dù thấy trước cũng không làm sao ngăn cản nổi, không làm sao trở tay kịp. Chúng
tôi lại đinh ninh rằng một cuộc khởi nghĩa muốn thành công, phải là một cuộc tổng
khởi nghĩa toàn quốc, không phải là một cuộc khởi nghĩa địa phương dù là một địa
phương rộng lớn và có tầm chiến lược như Nam Kỳ. Có thể đoán trước rằng cuộc tổng
khởi nghĩa sẽ nổ ra vào khoảng tàn cuộc của chiến tranh thế giới lần thứ hai,
vào năm tháng nào khó mà đoán trước, song từ nay tới đo ta phải nỗ lực.
– Tập hợp lực lượng lớn nhất có thể được.
– Nối hệ thống tổ chức giữa Xứ ủy với Trung ương và toàn Đảng.
Đại để, chúng tôi, Xứ uỷ Nam kỳ, vào cuối năm 1943, đã tự vạch
ra một đường lối cách mạng như thế. Ngoài chúng tôi ra, lúc ấy ở Nam Kỳ không
thấy có ai khác, không biết có nhóm nào khác vạch ra một đường lối cách mạng.
Ban Tuyên huấn của Xứ ủy Nam Kỳ lập ngay kế hoạch phát hành một số sách “bỏ
túi” (theo kiểu “cộng sản tùng thư” hồi 1933, 1934) để phổ biến những vấn đề
thuộc đường lối mà Xứ uỷ đã vạch. Những quyển sách “bỏ túi” đầu tiên là quyển
“Việt Nam trên đường độc lập”, “Rạng đông của một dân tộc” của Xuyên Vân Nhạn
(tức là tôi) mà sau đó bị Trường Chinh 8. phê
phán. Bộ sách bỏ túi này chú trọng công kích chủ nghĩa Đại Đông Á của Nhật và
chủ nghĩa Liên bang của Decoux.
Từ cuối 1943, ở Nam Kỳ chúng tôi đã lập lại Xứ ủy và Xứ ủy ấy tự trang bị cho
mình một đường lối chủ trương vận động cách mạng trong khi chờ đợi những chỉ thị
của Trung ương Đảng. Những chỉ thị của Thường vụ Xứ ủy cho Ban cán sự Sài Gòn
trở thành một bộ phận cấu thành chủ trương đường lối của đảng bộ Nam kỳ.
Tôi trở lại Sài Gòn và từ nay tôi để gần hết tâm lực, trí lực vào hoạt động ở
Sài Gòn và các tỉnh xung quanh Sài Gòn. Trên đường về lại Sài Gòn, tôi ghé thăm
mẹ. Nhà tôi cách Tân Thuận Bình Chợ Gạo khoảng mười cây số. Từ năm 1941, tôi đã
qua lại Chợ Gạo đến ba lần mà đều “tam quá kỳ lư bất nhập” 9.
Về thăm nhà mẹ
Chuyện lớn phải lo mà chuyện nhỏ đừng quên. Việc công là trọng,
mà việc tư thỉnh thoảng cũng phải nhớ. Tôi hay nghĩ lẩn thẩn như vậy, khi ở
chân trời góc biển, tôi luôn luôn nhớ đến mẹ, đến vợ, đến làng quê; nhớ lắm.
Từ lâu, 1930, tôi được liệt vào loại cán bộ mà thời ấy được người ta gọi là
“thoát ly gia đình”. Khái niệm “cán bộ thoát ly gia đình” ở Việt Nam trước cách
mạng cũng giống như khái niệm “cán bộ cách mạng chuyên nghiệp” (révolutionnaire
professionnel) Lênin đã dùng khi Người viết sách “Làm gì?”. Lênin cho rằng, để
xây dựng một đảng cách mạng nhất là trong điều kiện khủng bố trắng, phải có một
loại đồng chí làm “cách mạng chuyên nghiệp” nghĩa là không làm nghề gì khác hơn
là làm cách mạng, số đồng chí đó để hết thời giờ của mình vào hoạt động cách mạng.
Bên Việt Nam những năm 1920, 1930 (cả hồi đầu những năm 1940 nữa) bọn tôi lấy
cái ý mà không lấy cái từ của sách “Làm gì?”; nhưng trong phiên tòa thực dân
Pháp xử tôi năm 1935, khi quan tòa hỏi: “Ông làm nghề gì?” thì tôi trả lời:
“Làm cách mạng chuyên nghiệp”. Chớ không lẽ trả lời: “Tôi thoát ly gia đình”?
“Thoát ly gia đình” để làm gì? Có thể là để làm cách mạng, có thể để làm bất cứ
cái gì mà trong gia đình mình làm không được, không nhất thiết phải là làm cách
mạng. Tuy vậy, tôi vẫn thích thú với khái niệm “thoát ly gia đình” mà anh em ta
dùng thời đó, bởi vì khái niệm ấy, trong lịch sử xuất hiện của nó, đã có thời
bao hàm một ý nghĩa triết lý, chính trị. Mãi đến sau chiến tranh thế giới thứ
nhất, ở Việt Nam còn nhiều gia đình mang nặng tư tưởng, tình cảm, tập tục Nho
giáo phong kiến; chẳng những phần lớn là các gia đình thân sĩ theo đạo Khổng,
Mạnh, Trình, Chu đều theo lối xưa như thế, mà ngay cả một số gia đình trung
nông, viên chức, thương nhân cũng vậy. Tuổi trẻ thường bị ràng buộc nhiều lắm bởi
cương thường Nho giáo đã thâm căn từ mấy chục đời rồi. Nhưng tuổi trẻ, nhất là
tuổi trẻ có ít nhiều Tây học, thấy rằng mình cần bay nhảy tự do. Thanh niên Sài
Gòn đã vỗ tay hoan nghênh Nguyễn An Ninh khi anh Ninh tại một cuộc mít tinh ở
Nam Kỳ Khuyến hội học năm 1923, kêu gọi thanh niên hãy đi xa, đi thật xa nhà tổ
phụ để tìm lý tưởng mới, đừng lẩn quẩn lại xó bếp gia đình chật hẹp và lạc hậu.
Đó là cái lý vào những năm cuối 1920, người ta gọi là “thoát ly gia đình”, ý đó
có nghĩa là chống lại tàn dư tư tưởng tập quán phong kiến, đi tìm chân trời mới.
Nhưng ngay cả khi anh Ninh khi ấy cũng chưa chắc đã rõ lắm cái “chân trời mới”
đó là gì. Đến khi Nguyễn Ái Quốc lập Thanh niên cách mạng đồng chí hội vào năm
1925 và Đảng Cộng sản Việt Nam (1930) thì cái lý tưởng cách mạng đã rõ. Khái niệm
“thoát ly gia đình” ra đời với nội dung mà Lênin đề ra trong sách “Làm gì?”:
Đảng cách mạng chẳng những gồm đại đa số đồng chí là những người lao động tay
chân và trí óc, vừa làm ăn bình thường, cầm búa, cầm cày, cầm bút, vừa để một
phần thời giờ cho công tác tuyên truyền, tổ chức, hội họp, đấu tranh; Đảng
Cách mạng còn phải có một số đồng chí giành hết quỹ thời gian của mình cho hoạt
động cách mạng, các đồng chí ấy thường nhất là không ở tại nhà mình nữa, mà đi xa,
nhiều khi đi rất xa, từ Bắc vào Nam, từ nông thôn ra thành thị, từ phố phường
hay trường học, vào đồn điền, hầm mỏ, để tuyên truyền, tổ chức, đấu tranh, in
phát báo bí mật, làm bất cứ việc gì dù lớn dù nhỏ, dù an dù nguy mà Đảng cách mạng
cần. Đó là những anh chị em “thoát ly gia đình”, làm “cách mạng chuyên nghiệp”.
Loại cán bộ này trong Đảng Cộng sản đông tới hàng trăm. Tôi là một trong số đó.
Từ cuối năm 1930, tôi đã bắt đầu “thoát ly gia đình”, và trở thành người hoạt động
“cách mạng chuyên nghiệp”.Ông bà Trần Văn Giàu những năm cuối đời (ở nhà riêng 70 Phạm
Ngọc Thạch, TP HCM)Gia đình tôi không đến nỗi quá phong kiến lạc hậu, với tâm lý: “cha mẹ còn, con cái không nên đi xa”. Nhưng tôi vẫn phải thoát ly gia đình,
trước tiên bởi vì nếu không “vào bí mật” thì không hoạt động cách mạng được, địch
theo dõi sát quá và sẽ bắt giam tôi, bắt luôn cả những ai đi lại với tôi. Thú
thật, nếu Đảng Cộng sản được quy chế hợp pháp hay nửa hợp pháp, tôi sẽ thích
làm người “cách mạng chuyên nghiệp” mà không “thoát ly gia đình”. Hết ngày công
tác tuyên truyền, huấn luyện, tổ chức, hết đợt hoạt động náo nhiệt và căng thẳng
thì về nhà tìm yên tĩnh âu yếm với cha mẹ, vợ con, chẳng hơn là đất khách quê
người, ăn trong bếp, ngủ dưới đất, nghe chó sủa đã phải đề phòng hay sao?
Nhưng “thời thế thế, thế thì phải thế”. Từ cuối 1930 đến nay (hết 1943), tôi chỉ
được sum họp với gia đình trước sau ba lần, cộng lại chừng hơn ba tháng. Cha
tôi chết; con tôi chết; mẹ tôi già, tựa cửa trông tôi. Vợ tôi hiu quạnh, nước
mắt ướt gối. Tôi nhớ nhà lắm chớ! Tim tôi đâu phải bằng đá? Vượt ngục Tà Lài
từ đầu năm 1941, đến giờ hơn hai năm, gần ba năm, tôi chưa lén được về nhà lần
nào. Chị tôi, vợ tôi có bí mật đi thăm tôi. Nhưng má tôi chỉ biết rằng tôi còn
sống, mạnh giỏi, đang hoạt động cách mạng. Nay, nhân một chuyến đi họp ở Mỹ
Tho, thấy tình hình cho phép. Tôi tạt qua nhà thăm mẹ. Tôi thèm hôn mẹ tôi và
thèm được mẹ tôi xoa đầu như hồi còn nhỏ.
Thuở tôi còn học trường Tầm Vu, nhà tôi đông người lắm; tứ đại đồng đường:
cha mẹ tôi, anh chị tôi, cháu gọi tôi bằng cậu, chú và con của con đầu lòng anh
Năm tôi, chưa kể hai anh ở mùa, cầm cày, đập lúa, chăn trâu. Nhưng rồi dần dà,
anh Năm, anh Bảy, anh Mười tôi ra riêng, mỗi người trấn một dãy ruộng; tới
phiên chị Chín tôi cất nhà ở trong vườn. Vợ tôi vì không có chồng ở nhà nên về
bên xã Phú Ngãi Trị với cha mẹ ruột, mấy tháng mới vô thăm tía má tôi một lần,
mỗi lần tía má tôi được con dâu về thăm thì hai cụ như sống lại, ít hôm sau gạt
nước mắt đưa con dâu ra cửa ngõ, trông theo mà càng buồn. Rồi tía tôi chết. Mẹ
tôi còn chỉ có một mình. May có đứa cháu gái goá bụa về ở cùng tại nhà dưới.
Nhà tôi bây giờ giống như một ngôi chùa không tượng Phật, chỉ có hai bà vãi tối
tối đốt nhang, đánh chuông. Cả ngày cả đêm hầu như không có tiếng động nếu
không có con Vện già sủa trăng hay điểm khách qua đường ngoài cửa ngõ. Hiu quạnh
lắm. Buồn bã lắm. Bà con hàng xóm có người nói: “Tại chú Út đi đâu mất mới ra
cảnh này”. Người khác bảo: “Ruộng vườn, nhà cửa, vợ trẻ, có gì cột được chân
ông ấy đâu; làm trai phải vậy chớ sao? Nước mất mà nhà an thì cũng hiếm”. Ruộng
nhà bị bán đi lần lần, không còn mấy, trừ ruộng hương hỏa; nhưng nợ nần cũng
được trang trải hết. Bồ lúa nhỏ đi mà vẫn đầy. Túi tiền cạn mà không khổ. Má
tôi, chị tôi, cháu tôi đã sống được lại còn có thể chu cấp cho tôi sống mà công
tác. Vợ tôi tần tảo, nuôi heo, chà gạo, làm tá điền cho ông Cụ, ăn chung mà làm
riêng nên dư dả, không ai dám khinh miệt, đạo đức gương mẫu, dân làng kính nể,
trong quê ngoài chợ ít ai bảo con trai bắt chước chú Mười vì gian lao quá,
nhưng rất nhiều phụ huynh dạy con gái hãy theo gương cô Sáu, một tấm gương
chung thủy vì nghĩa như Kiều Nguyệt Nga.
Khi mặt trời sắp lặn thì tôi đã băng đồng, từ kinh Chợ Gạo đi qua chợ Ông Văn,
tránh lộ dây thép, tránh cả lộ me, không sợ lính xét giấy thuế thân, chỉ sợ gặp
người quen. Trong mình tôi có thẻ thuế thân, trong túi cũng lắm tiền, lưng quần
lận một cây súng lục đầy đạn, vai vác một cây đòn xóc có lủng lẳng một đôi dép,
đầu đội nón lá, chân đi đất, quần áo xềnh xoàng như nông dân đi đồng. Ma nào mà
biết rằng tôi là ông Giàu đi về thăm nhà? Vợ anh Hiển, người chợ Ông Văn, báo
cáo cho tôi tình hình tuần tra ban đêm của lính đồn Ông Văn: “Chẳng có gì đáng
lo, tụi lính đi kiếm ăn ở những sòng cờ bạc. Theo báo cáo mới nhất thì từ hơn một
năm nay, làng lính không còn chú ý đến nhà tôi nữa vì đã chú ý nhiều năm mà chẳng
thấy gì”.
Trời nhá nhem thì tôi đã qua khỏi chợ. Trở ngại xem như không còn. Cầu Đồn bây
giờ không có đồn. Qua cầu rồi thì tới làng tôi; nhà tôi ở đầu kia làng, phải mất
một giờ nữa mới tới. Vào thời điểm này, đồng đã khô vì lúa đã gặt xong. Tôi đi
tắt, vừa để rút ngắn quãng đường, vừa để tránh gặp người. Thời đó, không ai ăn
trộm lúa vì lúa quá rẻ, bán không được, chỉ có Pháp thu mua để cung cấp cho
quân Nhật và để thay thế cho than đá đốt lò nhà đèn Chợ Quán Sài Gòn; tôi
không gặp một ai trên đường đi. Gần tới vuông tre nhà tôi, tôi ngồi xuống để
xem động tĩnh ra sao, trước hết để nhìn rõ mộ cha tôi; tôi mặc niệm hồi lâu.
Cha tôi chết khi tôi còn bị đày ra đảo Côn Lôn. Chị Chín tôi có lần kể lại rằng
trước khi tắt thở, cha tôi dốc tàn lực, vịn cột nhà đứng dậy, lần theo vách, vừa
đi vừa kêu: “Ký ơi! Ký ơi! Con ở đâu không về với tía”. (Ký là tên tôi hồi
tôi chưa đi học). Người nhà bà con ai cũng mủi lòng, dắt cha tôi trở lại giường.
Như vậy là cái hình ảnh cuối cùng trong tâm trí cha tôi là đứa con bất hiếu này! Tôi nguyện lấy trung với nước mà làm hiếu với cha; chớ làm sao khác được?
Nhớ lại lần tôi bị trục xuất từ Pháp về và hai lần tôi bị Pháp bắt bỏ tù về,
cha tôi không hề rầy la tôi sao không lo công danh, sao không lo vợ con. Cha tôi
không tham gia chiến đấu chống Pháp như ông nội tôi, nhưng Cụ dù có ruộng vườn
cũng không hề ra làm hương chức. Cụ chỉ làm ông “tiên bái” lo việc cúng tế thuần
làng; con trai lớn của Cụ là anh Năm tôi thì tham gia nghĩa quân Thiên địa hội
năm 1916, Cụ không ngăn cản.
Ở quê, chín giờ tối đã khuya. Xóm làng ngủ hết. Đường không còn ai. Quan sát hồi
lâu tôi không thấy động tĩnh gì, bèn vo quần bước xuống một cái cống đào tự bao
giờ, tôi lớn lên đã thấy nó rồi; cái cống xẻ ngang bờ tre, cho nước sông lên,
cho nước đồng xuống. Phải vạch ô rô để vào mương, leo lên tiếp mới vào nhà chị
tôi ở góc vườn. Tôi vừa leo lên bờ thì, bất ngờ, một con vật gì lủi tôi: con
chó; nó định sủa, nhưng rồi nó nín thinh, nó ngửi được mùi tôi, rồi liếm tay
và vẫy đuôi lia lịa, kêu hự hự, mừng quýnh. Té ra con Vện già! Tôi rờ đầu nó,
nó đứng lên ôm eo ếch tôi. Hồi tôi từ Khám Lớn về nhà cách đây ba năm, ngày nào
tôi cũng cho Vện ăn ngon, vuốt ve nó, nói chuyện với nó. Nó mến tôi lắm. Tối,
nó ngủ dưới chân tôi, tôi trải manh đệm cho nó nằm. Có một buổi tối nọ, mật
thám Tây, phủ Hoài và cả phủ Mai dắt lính đến nhà bắt tôi thì Vện sủa dữ, bị thằng
cò đá một đá, nó la hoẳng, chạy trốn dưới sàn, nhưng nó dám đưa tôi ra tới cổng.
Bây giờ nó còn nhớ hơi tôi! Như vậy là Vện đã hay tôi về khi tôi còn lội dưới
mương. Nếu nó sủa ầm lên thì cũng sanh rầy: hàng xóm, mấy ông già chưa ngủ, sẽ
đoán rằng bà Bái có khách khuya. Con Vện dường như cũng biết giữ bí mật cho chủ
nó. Khôn thật! Chị Chín tôi còn thức. Linh tính khiến chị ngó qua vách, hỏi khẽ: “Em đó hả?”. Tôi khẽ lên tiếng “Em đây!”.
Trong nhà chị tôi chỉ có một cây đèn dầu leo lét trên bàn thờ Phật, ngọn chỉ bằng
hột bắp, chiếu sáng lờ mờ một khoảng bằng cái cơi trầu. Chị tôi mở cửa sau rước
tôi vào nhà. Hai cháu gái mừng cậu trong bóng tối, khóc thút thít. Con Vện liếm
chân tôi một hồi rồi ra nằm ngoài sân, như để canh chừng.
Chị Chín tôi cực khổ với tôi lắm. Hồi tôi còn đi học ở trường Tầm Vu, chị tôi
phải dậy sớm nấu cơm, rang vài bát cho tôi ăn liền, còn vài ba bát nữa thì tôi
đem theo trong một cái giạ nhỏ xíu xinh xinh với mấy con tép hay một khứa cá
kho khô. Khi tôi bị tù rạc thì chị Chín tôi đi thăm. Tôi trốn ở Nam Trung Kỳ
thì chị Chín lặn lội đem tiền ra cho tôi. Chưa kể hằng đêm chị tôi tụng kinh cầu
Phật phù hộ em. Bây giờ chị kể hết việc nhà, từ khi tôi trốn khỏi căng Tà Lài tới
nay; chị nói: “đám lính rình rập mãi năm, sáu tháng rồi thôi, em có thể ở nhà
mấy bữa mà không hề gì”.
Trong lúc tôi bắc ghế trên phản với lên mái nhà cắt năm ruột lạt cột lá dừa (đề
phòng có biến sẽ đu lên nóc) thì hai cháu Ba, Tư lên nhà thờ rước bà ngoại xuống
nhà tụi nó, nói rằng có ông thầy chùa ở chợ Ông Văn sang thăm và lạc quyên để sửa
tượng Phật. Má tôi vô nhà chị tôi rồi mới hay rằng ông thầy chùa đó là tôi. Mẹ
con ôm hôn nhau, mừng mừng tủi tủi. Mẹ tôi hôn tôi khắp mặt, cổ, tay, hôn tới
đâu nước mắt cụ thấm ướt tới đó. Trong đêm tối, tôi cảm thấy má tôi già thêm
nhiều so với ba năm trước. Làm da má nhăn sâu hơn, cái răng cửa hồi đó còn, bây
giờ rụng mất rồi; lưng má tôi còng hơn. Má tôi năm nay ngót 80 tuổi. Bà kể lại
rằng hôm cò Tây tới bắt tôi, má tôi tưởng đâu Pháp bắt tôi đem đi bắn bởi vì
chiến tranh đã nổ ra rồi. Má tôi còn kể lại rằng, sau khi tôi bị bắt, sáng sớm
má tôi rải lúa cho bầy gà bầy vịt để dành cho tôi thì má tôi khóc hết nước mắt.
Má tôi cũng kể lại rằng, khi tôi vượt ngục Tà Lài, đám quan chức trong làng báo
tin tôi đã bị dân thiểu số bắt lại, chặt đầu đem nộp cho Tây lấy thưởng bằng gạo,
bằng muối. Nghe tin sét đánh đó, mấy lần má tôi chết ngất. Mãi đến khi chị Chín
tôi ra Nha Trang gặp tôi rồi về nói cho má tôi biết thì má tôi mới tin chắc là
tôi còn sống. Má tôi cưng tôi nhất nhà, bởi vì tôi là con út, là đứa có trách
nhiệm nuôi cha mẹ lúc già và giỗ cha mẹ khi mất; nhưng bao nhiêu hy vọng của
cha mẹ gởi vào tôi đều chẳng được chút gì. Cha tôi chết khi tôi còn ở tù. Không
biết rồi khi má tôi theo cha đi, tôi sẽ có mặt ở nhà không? Hay lại cũng nơi
chân trời góc biển?
Cả má và chị Chín đều bảo tôi ở lại chơi một vài ngày, để có thời giờ cho các
cháu đi Phú Ngãi Trị rước vợ tôi về An Lục Long. Tôi cũng muốn như vậy lắm.
Song, làm sao tính cho hết sự bất ngờ? Rủi ro có bề gì thì đã thiệt mạng mình
mà mình lại đắc tội với dân tộc, với Đảng. Nên tôi quyết định là quá canh ba
tôi sẽ lên đường; mục đích về thăm mẹ đã đạt rồi. Vài hôm nữa, tôi phải có mặt
ở một địa điểm thuộc tỉnh Chợ Lớn (Phú Lạc), hay một địa điểm thuộc Gò Vấp
(Hàng Điệp, Bào Lăng, Gia Định) để họp với Ban cán sự thành Sài Gòn mở rộng. Đứng
vững trên căn cứ nơi ngoại thành Sài Gòn, tôi sẽ có dịp nhắn vợ tôi lên, không
muộn.
Gà gáy mấy chập. Trăng sắp mọc.
Tôi ôm hôn mẹ, chị, hai cháu, rồi gạt nước mắt ra đi, không quên vuốt đầu vỗ
lưng con Vện và để nó hít tay tôi, nó vừa hít vừa ngoáy đuôi lia lịa. Tôi lại
vo quần, xuống mương, ra bằng ngõ đã vào. Đứng yên trong bụi một lúc, không thấy
động tĩnh gì, tôi thong thả lên đường, chốc chốc ngoái lại mộ cha, nhà mẹ, rặng
tre thân thiết nơi đã chứng kiến tôi được sinh ra, lớn lên và vào đời chiến sĩ.
Tôi nào ngờ gặp mẹ lần này là lần cuối. Tháng Tám năm 1945, cách mạng thành
công, tôi chưa kịp thu xếp một ngày về quê thăm mẹ, thì kháng chiến chống Pháp
nổ ra; việc lớn này chưa làm lại xảy ra việc lớn hơn. Má tôi mất năm 1950, khi
tôi đang từ mặt trận Đăngrêch (Campuchia) về ở Việt Bắc. Tôi ân hận mãi không
được gặp lại mẹ tôi ban ngày ban mặt hay dưới ánh sáng đèn điện để ghi lại
trong đáy mắt chân dung người mang nặng đẻ đau sinh ra đứa con bất hiếu này.
Chú thích:
1. Miền Trung Nam
Bộ, miền Tây Nam Bộ, miền Đông Nam Bộ.
2. Trung
ương: Năm 1943, Trường Chinh là quyền tổng bí thư, hai ủy viên ban thường
vụ khác là Hoàng Văn Thụ (bí thư xứ ủy Bắc Kỳ, bị bắt tháng 8.1943, bị Pháp xử
bắn tháng 5.1944) và Hoàng Quốc Việt. Người tiền nhiệm của Trường Chinh, Nguyễn
Văn Cừ, đã chủ trì Hội nghị Trung ương tháng 11.1939 ở Bà Điểm (Nam Kỳ), sau đó
bị bắt cùng với nhiều người khác (như Lê Duẩn). Hội nghị Trung ương tháng
11.1940 họp ở Đình Bảng (Bắc Kỳ) cử Trường Chinh làm quyền tổng bí thư. Phan
Đăng Lưu trở về miền Nam phổ biến quyết định hoãn cuộc khởi nghĩa mà chính ông
và xứ ủy Nam Kỳ đã quyết định mấy tháng trước đó: quá muộn. Cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ (23.11.1940) bị dìm trong biển máu. Phan Đăng Lưu và hầu hết lãnh đạo ở
Nam Kỳ bị bắt, nhiều người bị xử tử. Nguyễn Ái Quốc đặt chân tới Pắc Bó (tháng
1.1941) sau 30 năm bôn ba, vào đúng thời điểm mà tổ chức cách mạng do ông thành
lập 11 năm trước đó bị đàn áp nặng nề, hầu hết những người lãnh đạo bị thực dân
bắt giam hoặc thủ tiêu. Trong cái rủi cũng có cái may, có thể nói hai lần may.
Một là cũng với sự tiêu vong của ban lãnh đạo 1930-1940, là thất bại của đường
lối tả khuynh, giáo điều mà họ đã áp dụng theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản -
nhân danh đường lối ấy, Nguyễn Ái Quốc đã bị phê phán nặng nề và vô hiệu hóa,
ngay sau khi thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (tháng 2.1930), và nhất là trong
những năm 1934-1938. Hai là, ở Liên Xô, Stalin rối bời trước cuộc tấn công của
Hitler, Hồng quân thua đậm trong thời kì đầu (tổng tư lệnh và phần lớn bộ chỉ
huy Hồng quân đã bị Stalin tàn sát từ cuối thập niên 1930); ở Trung Quốc, thì
Mao và lãnh đạo ĐCS Trung Quốc còn ẩn náu mãi tận Diên An; Nguyễn Ái Quốc
không còn phải bận tâm vì các đồng chí "cồng kềnh" của mình, có thể vạch
ra và theo đuổi đường lối giải phóng dân tộc đã từng bị lên án. Tất nhiên, thực
hiện chính sách Mặt trận Việt Minh không dễ dàng khi đất nước còn nằm dưới ách
thống thị của bộ máy thực dân Pháp theo Pétain và bộ máy quân phiệt Nhật Bản,
hàng ngũ ĐCS bị đàn áp nặng nề, liên lạc với các xứ ủy Trung Kỳ và Nam Kỳ dường
như bị cắt đứt trong mấy năm. Tình trạng phân hóa khá phổ biến: như ta sẽ thấy,
Nam Kỳ sẽ có hai xứ ủy; ở Trung Kỳ, có tỉnh có tới ba tỉnh ủy bất đồng với
nhau (xem David G. Marr: Vietnam 1945/ The Quest for Power, University
of California Press, 1995).
3. Xuyên
Vân Nhạn: con chim nhạn bay xuyên qua mây mù.
4. Kinh
cung chi điểu: con chim đã bị tên bắn rồi thì trông thấy cành cong cũng
kinh hãi (tưởng là cung).
5. Hội
nghị Trung ương lần thứ VIII: họp từ ngày 10 đến 19.5.1941 tại Pắc Bó
(Cao Bằng), chấp nhận sự lãnh đạo của Nguyễn Ái Quốc, quyết định thành lập Mặt
trận Việt Minh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải
đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu
không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do
cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp
ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.
Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”; “Đế quốc Pháp - Nhật
chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức bóc lột
cả các dân tộc không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh
thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể
nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc
nguy vong không lúc nào bằng”. Quan niệm, tầm nhìn, ngôn ngữ khác xa quan niệm
“trí, phú, địa, hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” của những Trần Phú, Hà Huy Tập…
6. Năm
Đông: Dương Quang Đông, tức Dương Văn Phúc (1902-2003). Ông Năm Đông là
nhà cách mạng lão thành đã tham gia Thanh niên Cách mạng đồng chí hội của lãnh
tụ Nguyễn Ái Quốc và sớm hoạt động trong Công hội Đỏ của cụ Tôn Đức Thắng. Ủy
viên thường vụ Xứ ủy Nam Kỳ. Trong thời kháng Pháp, ông là Phó phòng Hàng hải
Nam Bộ, phụ trách văn phòng thường trực của ta ở thủ đô Xiêm quốc, Bangkok. Ông
đóng vai doanh thương có cửa hàng xuất nhập cảng lớn tại thủ đô Bangkok, mua sắm
tàu biển chở súng đạn, hóa chất, máy móc về nước đánh Tây. Trong cuộc sống đầy
gian nguy giữa hàng ngũ mật vụ Pháp bố trí dày đặc ở Xiêm, dưới cái tên Xiêm là
Nai Chran ông vẫn bình tĩnh làm tròn sứ mạng của mình cho tới ngày bị phe đảo
chính bắt. Xem tiểu sử đầy đủ trong cuốn Dương Quang Đông
xuyên Tây của Nguyên Hùng (sách đã dẫn). Những năm cuối đời, tuy tuổi
cao, ông vẫn lên tiếng chống tiêu cực và sự lưu manh hóa hàng ngũ đảng (như tố
cáo sự gian trá của tướng Lê Đức Anh).
7. Tức
Nguyễn Văn Trân: xem chú thích ở các phần (I) và (IV).
8. Chúng
tôi chưa tìm ra được những tập sách bỏ túi này cũng như những lời phê phán của
Trường Chinh. Rất mong được bạn đọc giúp đỡ.
9. Tam
quá kỳ lư bất nhập: ba lần đi qua ngôi nhà nhỏ đó mà không ghé vào. Người
biên tập xin cảm ơn nhà Hán học Nguyễn Xuân Diện đã cho biết đây là tích Đại Vũ
bận trị thủy, việc gấp, nên ba lần đi qua nhà mà không có thời giờ tạt qua.
TỔ CHỨC LẠI XỨ ỦY
Về lại Sài Gòn: Chỉ thị của Xứ ủy cho Ban cán sự thành
Về Sài Gòn lần này, lần cuối năm 1943, tôi đi thẳng lên Gò Vấp.
Gò Vấp là một quận ngoại ô kế cận của Sài Gòn. Trong ý thức của tôi, Gò Vấp của
Sài Gòn là Saint-Denis của Paris; sát với Paris, thị xã Saint-Denis nổi tiếng
là thị xã “đỏ”, ở đây Đảng Cộng sản luôn luôn toàn thắng trong các lần bầu cử hội
đồng thị xã. Đa số nhân dân Gò Vấp có cảm tình với Đảng Cộng sản Đông Dương,
không phải mới đây thôi mà từ 1930 kìa. Những năm 1933, 1934, 1935, khi Xứ uỷ
Nam Kỳ lập lại và hoạt động, thì vùng Xóm Thuốc - Bào Lăng - Hàng Điệp từng là
căn cứ, là một nơi an toàn của Xứ uỷ chúng tôi. Năm 1942, khi tôi từ Đà Lạt về
Phú Lạc, tôi đã nhờ Bảy Trân lên Gò Vấp, lại nhà Sáu Sáng để xem nơi đó còn là
nơi an toàn không? Kỳ này về Sài Gòn, định “cắm sào” hơi lâu, thì ngoài Phú Lạc,
tôi chọn Gò Vấp làm một nơi căn cứ, căn cứ thứ hai, căn cứ thứ ba sẽ là Chợ Đệm
sau khi tôi gặp Bảy Trân.
Xóm Thuốc, Bàu Lăng, Hàng Điệp là một vùng tiểu công nghiệp:
nhuộm vải, sắc thuốc. Đa số dân làm nghề nhuộm, sắc thuốc. Ở đây gần con sông
thường được gọi là sông “Miếu nổi” (có một cù lao trên đó dựng lên một cái miễu
không biết từ bao giờ, tiếng đồn linh thiêng lắm), dưới sông này có một thứ bùn
gì mà, hễ vải dệt xong, đem chôn dưới bùn đó một thời gian, vải trắng trở thành
vải đen, đem vải phơi ở miếng đất trống xung quanh cái đồn Tây bỏ hoang gần đó
khô rồi cuốn lại thành cây vải, đem về đập nện mấy ngày thì vải trở nên láng lẫy.
Tiếng vồ đập vải cộp cộp cả ngày đêm, tháng này qua tháng nọ. Vùng này lại là
vùng trồng thứ thuốc lá ngon nhất Nam Kỳ, thuốc Gò Vấp, hút say mê tơi; tới
mùa thì cây thuốc đầy đồng bao nhiêu chục, có khi cả trăm mẫu, cao lút đầu người.
Họp hội nghị trong đám ruộng thuốc lá thì có trời mới phát hiện nổi và có trời
mới vây bắt được. Dân chúng ở cái vùng ngoại ô này làm nghề nhuộm, nghề sản xuất
thuốc lá, rồi cả ngàn người làm thợ, làm thầy trong thành phố, chiều năm giờ,
sáu giờ thì cỡi xe đạp về nhà để sáng sớm lại vào thành. Các tiểu chủ xe thổ mộ,
những người trồng, sắc thuốc, dệt nhuộm và công nhân lao động của vùng này đã từng
đi biểu tình vào Sài Gòn nhiều lần từ những năm 1936-1937, từng tham gia tổng
bãi công để ủng hộ Tạo 1,
Ninh 2,
Thâu 3. khi
các anh này bị Thống đốc Nam Kỳ bắt giam hồi thời Mặt trận bình dân.Trần Văn Giàu gặp F. Mitterrand tại TP.HCM trong chuyến đi
thăm Việt Nam của tổng thống Pháp (1993). François Mitterrand thua ông 5 tuổi,
thuở trẻ thuộc phe hữu (thậm chí cực hữu). Khi TVG bị giam ở Tà Lài, FM bi bắt
làm tù binh ở Đức. Cả hai vượt ngục thành công. Năm 1943, TVG làm bí thư xứ ủy
Nam Kỳ, FM mới bắt đầu tham gia kháng chiến.
Trong số hàng trăm gia đình cảm tình cách mạng, tôi tin cậy
nhất là gia đình anh Sáu Sáng, tôi đã ở đó trong những năm 1933-1935 và luôn
luôn được an toàn. Những khi tôi bị bắt, căn cứ Xóm Thuốc, Bào Lăng, Hàng Điệp
vẫn không hề hấn gì. Anh em nhà Sáu Sáng làm việc ở bệnh viện Đồn Đất 4. và
ở tổng kho súng đạn Pyrotechnie, gần cầu Thị Nghè, Sài Gòn. Anh Sáu Sáng, trước
là học sinh trung học, thạo tiếng Pháp, người cao lòng khòng, gầy nhom; chị
Sáu thì lùn, giỏi bếp núc, đóng vai hậu cần và bảo vệ tin cậy được. Vợ chồng
Sáu Sáng gặp lại tôi, tôi trở lại thăm vợ chồng Sáu Sáng, mừng mừng tủi tủi, chỉ
có nhà văn trữ tình mới tả được nỗi lòng. Anh chị đọc báo biết tôi là tù vượt
ngục mà anh chị vẫn tiếp tôi không có vẻ sợ sệt gì hết, chỉ sợ bà con hàng xóm
nhận ra tôi, nên phải đề phòng kỹ lưỡng; vả lại nhà Sáu Sáng cũng trồng thuốc
như xưa, vườn không rộng mà nhà đủ kín đáo; ngõ vào có một, ngõ ra thì nhiều.
Được sự đồng ý của anh Sáu Sáng, tôi triệu tập ở nhà anh một cuộc hội nghị mở rộng
của ban cán sự thành phố Sài Gòn - Chợ Lớn. Ban cán sự lúc đó mới có ba đồng
chí: anh Oanh (cũng có tên là Bạch Đằng lớn), anh Tư Chí và anh Mười Thức, cả
ba là công nhân kỳ cựu của thành phố, mời thêm hai đồng chí nữa là Hảo, nguyên
học sinh tốt nghiệp trường Kỹ nghệ thực hành và chú thanh niên Hoàng, cháu tôi,
học sinh lớp Tú tài trường trung học Pétrus Ký. Oanh, trạc tuổi với tôi, người
Bắc Ninh, làm thợ giỏi, giao thiệp rộng, siêng công tác, chỉ có một cái dở là
thỉnh thoảng ghé tiệm “làm vài điếu” 5. nhưng
không ghiền. Anh sống ở Chợ Cũ, đường Guynemer 6,
hồi đó có thể xem là khu phố đóng giày; anh hoạt động đâu từ 1935, 1936, cũng
đã sẵn sàng khởi nghĩa hồi tháng 11 năm 1940 mà giờ chót không được lệnh. Thức,
rể ông hương trưởng Hoài, chồng đồng chí Mười, cũng thợ giày, cùng người Bắc, từ
chiến tranh về ở Tân Thuận Bình, tôi mời anh trở lại Sài Gòn, nơi anh từng hoạt
động những năm Mặt trận bình dân. Từ Chí, người Quảng Nam, làm bồi bếp cho Tây ở
bót mật thám Bô-Lô, Chợ Lớn, đã dám mở còng cho Hà Huy Giáp chạy trốn, bấy lâu
nay về vùng Phú Lạc mở tiệm bán cá khô không xa nhà Bảy Trân, là người trong
nhóm cộng sản Phú Lạc.
Cuộc họp Ban cán sự lần này quan trọng nhiều cho công tác Đảng
ở Sài Gòn vì một mặt Ban cán sự thành lập chưa đầy nửa năm, đã bắt đầu tập hợp
được cả chục đảng viên “nằm chờ” từ sau 1940, mặt khác, và đây mới là điều quyết
định nhất, một phương châm được vạch ra cho Thành bộ theo đó mà hoạt động. Những
chỉ thị của Thường vụ Xứ ủy cho ban cán sự thành có thể được xem như một bộ phận
của đường lối chung của Xứ ủy (đã được trình bày trên kia). Hãy nói lại rằng:
nếu người phụ trách Sài Gòn là anh Phúc thì anh ấy đã lập Thành ủy lâm thời rồi.
Tôi tổ chức hơi khác anh Phúc một chút; tôi lập Ban cán sự để rồi sau đó xây dựng
lại được một số cơ sở, một Đại hội đại biểu sẽ bầu ra Thành ủy. Hai cách làm
không chắc cách nào hơn cách nào.
Thay mặt cho Xứ ủy, tôi truyền đạt và giải thích tỉ mỉ cho
ban cán sự thành những điểm sau đây của một đường lối cách mạng trong thành phố
một phương hướng hoạt động nhằm làm cho Sài Gòn và ngoại ô thật sự trở thành một
pháo đài của chủ nghĩa cộng sản.
Thứ nhất: trong tương lai, chắc là không xa mấy, Sài
Gòn sẽ phải trở thành trung tâm điểm của một phong trào đấu tranh cách mạng nổi
lên khắp Nam Kỳ lục tỉnh nhằm thực hiện thành công nhiệm vụ vinh quang nhất,
cũng là khó khăn nhất là khởi nghĩa vũ trang giành độc lập dân tộc. Có khởi
nghĩa vũ trang mới có độc lập dân tộc; không có cách nào khác giành độc lập
cho nên mọi hoạt động của chúng ta bây giờ đâu phải nhằm vào cái mục tiêu khởi
nghĩa cách mạng. Và cần phải khẳng định rằng một cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ, muốn
thành công, muốn tránh khỏi thất bại đau đớn như hồi 1940, thì nó phải là bộ phận
không tách rời của một cuộc khởi nghĩa trên toàn quốc. Khởi nghĩa địa phương,
cô độc, không thể thành công dù là ở trong một địa phương lớn như là Nam Kỳ. Một
cuộc tổng khởi nghĩa, tất nhiên là cuộc tổng khởi nghĩa trên toàn quốc, chắc
không thể nổ ra cùng ngày mà sẽ nổ ra chỗ trước chỗ sau, nhưng trước sau phải
không cách nhau bao lâu. Kinh nghiệm khởi nghĩa tháng Mười năm 1917 ở Nga do
Lenin chỉ đạo, đã cho ta biết như vậy. Xứ ta, Bắc, Trung, Nam cách bức, phương
tiện liên lạc của ta còn thô sơ thì càng không có khởi nghĩa đồng thời được.
Xưa nay, trên thế giới, ở nước nào cũng vậy, phong trào cách mạng phát triển bất
đồng. Vấn đề lớn được đặt ra trước mắt của chúng ta là, mặc dù hậu quả những cuộc
đàn áp thực dân hồi 1939, 1940, 1941 rất nghiêm trọng cho phong trào cách mạng ở
Nam Kỳ, đương nhiên Nam Kỳ không được phép vắng mặt, cũng không được phép đến
quá trễ trong một cuộc tổng khởi nghĩa cách mạng nhất định sẽ phải nổ ra trong
thời gian chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Điều đáng lo nhất là, nếu hồi
đầu chiến tranh (1939, 1940), Đảng bộ Nam Kỳ có đông đảo đảng viên, đông đảo quần
chúng (được Trung ương nhận xét là xứ bộ mạnh nhất nước), thì sang 1941, 1942,
cơ sở của ta còn lại hết sức thưa thớt, hệ thống của chúng ta tan vỡ, quần
chúng của chúng ta phần thì mất phương hướng, mất lòng tin, phần thì chưa tập hợp
lại được. Sắp tới, nếu tình hình chiến tranh thế giới chuyển biến mau có lợi về
phe ta (thời điểm này đã bắt đầu trông thấy rõ) thì liệu ta, ở Nam Kỳ có kịp
xây dựng lại cơ sở và hệ thống Đảng, tập hợp đủ lực lượng nhân dân hợp lực với
Trung, Bắc làm tổng khởi nghĩa cùng một lúc, hoặc gần cùng một lúc, hay là, đến
khi có điều kiện khách quan, có thời cơ lịch sử, thì ở Nam Kỳ và ở Sài Gòn ta lại
bất lực đứng nhìn thời cuộc trước những lực lượng kình địch to lớn hơn ta nhiều? Nam Kỳ mà không khởi nghĩa kịp với Bắc, Trung, thì tình hình đó sẽ gây ra vô
cùng khó khăn cho cách mạng Việt Nam, cách mạng Đông Dương. Ta mà không giành
được chính quyền ở Nam thì kẻ địch ngoại bang hoặc tay sai bản xứ của đế quốc sẽ
giành lấy và các đế quốc sẽ dựa vào Nam Kỳ chưa làm nổi cách mạng để mà chống
phá cách mạng thành công ở Bắc, Trung tựa như một trăm năm trước Pháp căn cứ
vào Nam Kỳ lục tỉnh để đánh lấy Bắc Kỳ. Bởi vậy cho nên chúng ta ở Nam Kỳ phải
nỗ lực “chạy đua với thời gian”, khẩn trương, không để mất thời giờ, cũng hết sức
thận trọng không để tổn thất lớn về lực lượng nồng cốt - cán bộ đảng viên nay
còn lại không bao nhiêu. Vấn đề lớn được đặt ra là mấy năm nay, ở Nam Kỳ, chúng
ta không được biết là Trung ương Đảng còn hay không (sau khi Thường vụ bị bắt đầu
1940 ở Sài Gòn), nếu còn thì đã có những nghị quyết, chỉ thị gì? Chúng ta cho
tới bây giờ chưa có liên lạc được với Đảng bộ Bắc, Trung. Đọc nghị quyết Trung
ương cuối 1939, thấy ghi rằng Đảng phải “tìm cách khôi phục hệ thống Trung,
Nam, Bắc”; như vậy có nghĩa là hệ thống Trung, Nam, Bắc của Đảng ngay từ chiến
tranh thế giới bắt đầu đã bị trục trặc, đứt đoạn như thế nào đó chớ không đợi đến
sau khởi nghĩa Nam Kỳ thất bại. Cho nên để đảm bảo cho tổng khởi nghĩa sắp tới
mang tính chất toàn quốc, chúng ta phải “tìm cách khôi phục hệ thống Trung,
Nam, Bắc”.
Thứ hai: Trong tương lai, một cuộc khởi nghĩa ở Nam Kỳ
phải lấy thành phố Sài Gòn làm nơi quyết định sự thành bại. Chúng ta hoàn toàn
không xem nhẹ nông thôn; ở đảng bộ Nam Kỳ từ những năm 1930, đã có truyền thống
nông vận mạnh, truyền thống tổ chức và lãnh đạo nông dân đấu tranh. Nay ta tiếp
tục truyền thống đó. Nhưng ngày nay là lúc vấn đề chuẩn bị tổng khởi nghĩa cách
mạng đã được đặt ra thì chúng ta cần có ý thức rất rõ rằng đầu não của địch, yết
hầu của địch tại Nam Kỳ đều tập trung ở Sài Gòn. Muốn đánh địch cho chết tươi,
chết không kịp ngáp, thì phải đánh mạnh nhất vào đầu não, vào yết hầu của
chúng. Ví như ta lấy được năm, mười quận, ba, bốn tỉnh mà chưa làm chủ được Sài
Gòn thì cách mạng ở Nam Kỳ chưa thể xem là thắng lợi. Đốn cành mà chưa chặt bứt
gốc thì cây chưa đổ. Gốc còn thì cành lá sẽ mọc lại. Chúng ta tin rằng cuộc “chạy
đua với thời gian” ở Nam Kỳ sẽ kết thúc thắng lợi cho ta mặc dầu rằng nơi đây
năm 1940, chúng ta đã bị địch giáng cho những đòn tối tăm mày mặt. Nhưng trong
Sài Gòn hồi 1940 không có khởi nghĩa nên tổn thất của ta tương đối ít vì lực lượng
không phải đã bộc lộ hết, cán bộ còn khá nhiều các hội ái hữu (làm nhiệm vụ
công đoàn) cũng còn khá nhiều, có thể móc nối lại và dựa vào đó mà phát triển
mau. Nội thành Sài Gòn, nhân dân, không chỉ nhân dân lao động, có truyền thống
đấu tranh mạnh nhất Đông Dương, không có thành phố nào hơn, không có thành phố
nào bằng. Và, đặc biệt là chung quanh Sài Gòn, ta có một “vành đai đỏ” nổi tiếng
mà sức chiến đấu phối hợp với nội thành đã từng được chứng minh nhất là ở những
năm 1936-1937, hay trở về trước, ở những năm 1930-1931. Ta sẽ “nắm sừng con
trâu để vật ngã nó”; ta phải đánh qụy địch ngay tại chỗ nó mạnh nhất là Sài
Gòn. Giành được chính quyền ở Sài Gòn là tạo điều kiện thuận lợi để mau chóng
giành chính quyền ở các tỉnh, các quận, dễ như trở bàn tay. Bởi vậy cho nên các
tỉnh đảng bộ sẽ có lợi mà đóng góp cho Sài Gòn những cán bộ biết công tác thành
thị. Xứ ủy Nam Kỳ sẽ tập trung nhiều trí tuệ, nhiều lực lượng về Sài Gòn, các tỉnh
lân cận và ngoại ô thành phố, nhằm có ngày phải đánh một đòn quyết định, một
đòn chí tử vào đầu não, vào yết hầu của địch. Khởi nghĩa sắp tới sẽ được thực
hiện khác hẳn với hồi tháng 11 năm 1940.
Thứ ba: Một cuộc khởi nghĩa cách mạng muốn được thành
công thì không thể làm theo kiểu Blanqui 7. ở
Pháp, hoặc theo kiểu Thiên Địa Hội ở Nam Kỳ những năm 1911, 1916, hoặc theo kiểu
Việt Nam Quốc dân đảng ở Bắc Kỳ năm 1930, chỉ tập trung ra trận một số chiến sĩ
kiên quyết mà đồng thời chưa có phong trào đấu tranh của nhân dân lên cao đến tột
đỉnh. Một cuộc khởi nghĩa cách mạng không thể là một cuộc “âm mưu”; đảng cách
mạng, đảng mác-xít, đảng cộng sản tuy là đảng bí mật “bất hợp pháp” nhưng không
phải là một “hội kín”. Ta sẽ làm cuộc khởi nghĩa theo những chỉ thị của chủ
nghĩa Marx và Lenin; theo Marx và Lenin thì khởi nghĩa là một khoa học, một
nghệ thuật, ta phải nắm chắc. Các đồng chí lãnh đạo Xứ ủy và Thành bộ phải thuộc
lòng những lời dạy của Lenin về khởi nghĩa, chớ không phải của ai khác, thì mới
tránh được những sai lầm tai hại của xứ ủy năm 1940.
Cụ thể trước mắt, chúng ta ở Sài Gòn phải nỗ lực đến mức cao
nhất làm cho được năm công tác lớn sau đây:
Một là: Xây dựng lại cơ sở và hệ thống Thành bộ Sài Gòn
của Đảng cho hoàn chỉnh, cho vững chắc, nhanh chóng, đủ số lượng tối thiểu cho
việc thực hiện quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân trong cái thành phố lớn nhất
Đông Dương (với số dân non già 800.000 người) và trong đó có nhiều đảng phái
chính trị và nhiều tổ chức tôn giáo có lực lượng lớn và ảnh hưởng sâu. Vực dậy
các đồng chí ẩn náu, đưa thêm đồng chí ở các tỉnh lên.
Hai là: Mạnh dạn thâm nhập vào đội ngũ công nhân, đi
vào xí nghiệp, thu phục đa số giai cấp công nhân, khắc phục cho kỳ được cái nhược
điểm lớn từ trước tới nay của ta là mạnh ở công nhân lao động lẻ tẻ, ở khu phố
và xí nghiệp nhỏ mà yếu ở công nhân lao động tập trung, ở các công sở và tư sở.
Nói đi vào công nhân lao động cũng là nói đi vào tầng lớp công chức và tư chức
(tầng lớp các “thầy”). Ở Sài Gòn lâu nay hai chữ thầy thợ, đi liền nhau. Xem trọng
thợ mà không được xem nhẹ thầy. “Biến các công sở và tư sở thành pháo đài của
chủ nghĩa cộng sản” điều này ta nói mãi mà từ khi lập đảng tới nay, ít nhất là ở
Sài Gòn ta chưa làm được; bây giờ, để đi đến tổng khởi nghĩa thì điều chủ yếu
là phải khởi nghĩa thành công ở Sài Gòn trước hết; Sài Gòn khởi nghĩa phải
thành công thì khởi nghĩa mới thành công ở khắp Nam Kỳ. Muốn được như vậy phải
tổ chức công đoàn và nhiều hội biến tướng như hồi thời kỳ Mặt trận dân chủ; ta
phải chú trọng đặc biệt vào việc cấp tốc đào tạo cán bộ công đoàn, có như vậy mới
đáp ứng được yêu cầu nhảy vọt một khi tình thế cách mạng xảy ra. Tình thế cách
mạng sẽ xảy ra, nếu ta không có đủ cán bộ thì không lãnh đạo nổi quần chúng, quần
chúng không được lãnh đạo thì đã không thành sức mạnh thật sự mà lại còn có thể
bị đảng này, phái nọ lôi kéo đi vào hướng sai lệch nguy hiểm. Hãy nhớ rằng một
thời, phái La Lutte tờ-rốt-kýt có ảnh hưởng trong một số không nhỏ công nhân
viên chức Sài Gòn. Ta phải làm thế nào để cho đa số, cho tất cả công nhân viên
chức nhất trí đứng dưới cờ lãnh đạo của Đảng cộng sản để cho ta có thể chiếm lấy
các cơ quan của địch chủ yếu bằng lực lượng của công nhân viên chức trong các
cơ quan đó, chớ không phải chủ yếu bằng dân làng được đưa lên “ém” trước trong
nội thành như kế hoạch hồi 1940, lực lượng nông dân quanh thành sẽ hỗ trợ đắc lực
cho nội thành là khi nào bản thân dân nội thành là chủ lực.
Ba là: Chú trọng vận động thanh niên thành phố. Ở thành
phố Sài Gòn, nếu công nhân được xem là tay mặt của đảng thì thanh niên phải được
xem là tay trái. Ở đây, nói thanh niên là chẳng những nói thanh niên lao động,
mà còn nói cả thanh niên học sinh, sinh viên, tiểu tư sản, trí thức nữa. Họ là
tầng lớp tuổi trẻ đầy nhiệt huyết, có nhiều khả năng đấu tranh cho cách mạng giải
phóng dân tộc, dám hy sinh, nếu ta biết đem lại cho họ một lý tưởng cách mạng tốt
đẹp và khoa học. Ở Sài Gòn, lâu nay, người ta thấy thanh niên học sinh và sinh
viên từ Hà Nội về nghỉ hè sáng tạo nhiều hình thức hoạt động yêu nước đáng được
khuyến khích như diễn những vở kịch lịch sử dân tộc, hát những bài hát yêu nước
hùng tráng, cắm trại hè rầm rộ ở Thủ Đức, họ không theo phong trào của “Tổng ủy
Thể dục và thanh niên” 8. của
chính quyền thực dân Pháp. Triệu chứng rất tốt. Ta có thể tìm cách chuyển về hướng
cách mạng các phong trào đang phát triển đó. Nếu ta không làm được công việc
quan trọng này thì sẽ có những chính đảng tư sản, hay tiểu tư sản, hay tờ-rốt-kýt,
lôi cuốn thanh niên đi chệch con đường yêu nước chân chính. Điều mà ta thấy quá
rõ là cả Nhật lẫn Pháp đều ra sức hoạt động để lôi kéo thanh niên, trước hết là
thanh niên có học thức. Ta phải gấp gáp tìm cho những hình thức tổ chức thích hợp
và có hiệu quả (hiện tại ta chưa tìm ra) để thu hút thanh niên về phía cách mạng
giải phóng dân tộc. Các cuộc xung kích chiến đấu sau này phải cậy nhiều ở thanh
niên và công nhân. Tin cậy thanh niên thì cầm chắc là không thất vọng.
Bốn là: Đi vào nông dân các quận huyện, các tỉnh xung
quanh Sài Gòn trong vòng ba, bốn mươi cây số. Lịch sử các cuộc khởi nghĩa 1885,
1911, 1916, 1940, rồi các cuộc tổng bãi công, tổng biểu tình trong thời kỳ giữa
hai cuộc chiến tranh thế giới, đều nói lên rằng nội và ngoại thành Sài Gòn,
nhân dân vì được thống nhất nên rất mạnh, nội thành, ngoại thành tương tuỳ mật
thiết. Vả lại, hơn nửa số công nhân viên chức Sài Gòn, Chợ Lớn có nhà cửa ở ngoại
thành, sớm đi tối về; công nhân nông dân thực tế là sát cánh. Những điều ấy
cho phép chúng ta thấy trước rằng một cuộc khởi nghĩa ở Sài Gòn sẽ phải do hàng
chục vạn công nhân lao động, thanh niên và nhân dân thành phố thực hiện, những
cuộc nổi dậy đó nhất thiết phải được sự yểm trợ tích cực của cả triệu nông dân ở
ngoại thành và ở các tỉnh kế cận. Bởi vậy cho nên Xứ ủy và Thành ủy cần giúp sức
cho hai Tỉnh đảng bộ Gia Định và Chợ Lớn xây dựng lực lượng nông dân cho vững
vàng, nhanh chóng để cho việc phối hợp được thực hiện thành công tốt đẹp nhất
trong những ngày tổng khởi nghĩa.
Năm là: Đi vào binh vận một cách mạnh dạn và có kế hoạch,
trước hết là vận động số lính người Việt Nam trong quân đội Pháp, số này đông cả
mấy vạn người. Một vạn người tay trắng là ít; một vạn người có súng đạn trong
tay là lớn. Chắc rằng lực lượng chính trị nào cũng ra sức tranh thủ số binh
lính đó. Nhưng cũng chắc chắn rằng số binh lính đó sẽ ngả về phía chính đảng
nào có nhiều quần chúng công nông dưới cờ. Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai,
Pháp tăng nhiều số lính người Việt Nam; chúng đào tạo ra một lớp sĩ quan người
Việt Nam; chúng đưa số lính các binh chủng ở Nam Kỳ lên tới 40.000 người;
riêng ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định có khoảng 10.000 quân. Vài năm nay, Nhật tổ
chức quân “Hai Hô”, một thứ lính thủy đánh bộ. Nhật cũng tổ chức một lực lượng
bán vũ trang của Cao Đài phái Trần Quang Vinh. Trọng tâm binh vận của ta là
binh đoàn bảo an lưu động Gia Định Chí Hòa (brigade mobile) và binh đoàn phụ
thuộc sở Sen đầm Chợ Lớn (brigade auxiliare de la gendarmerie de Cholon). Phải
làm tất cả để cho các binh đoàn đó ngả về phía cách mạng. Chúng ta chưa đủ cán
bộ để làm binh vận đối với lính Pháp, lính Nhật; việc binh vận trong số lính
người Việt mà thành công sẽ giải quyết được một phần vấn đề vũ trang quần chúng
trong khởi nghĩa cách mạng sắp tới. Pháp đã bị Đức đánh bại, Nhật sẽ bị Mỹ,
Anh, Trung Quốc đánh bại, thì việc binh vận của ta hiện nay và từ nay về sau khắc
có điều kiện thuận lợi. Vấn đề còn lại là phải đưa một số cán bộ giỏi làm việc
binh vận.
Đó là năm nhiệm vụ, năm phương hướng công tác chủ yếu mà tôi,
nhân danh Xứ ủy đã đề ra cho ban cán sự thành Sài Gòn những ngày cuối năm 1943.
Dĩ nhiên là tôi đã dành đủ thời gian để giải thích luôn đường lối cách mạng mà
Xứ ủy đề ra.
Lúc này Xứ ủy ra quyết định ra báo Tiền phong làm
cơ quan tuyên truyền của mình. Báo Tiền Phong, cơ quan của Xứ ủy Nam Kỳ đặc
biệt chú trọng vào hai đề tài lớn trong nước: đấu tranh chống “Chủ nghĩa liên Á”
(Đại Đông Á) của Nhật và đấu tranh chống chủ nghĩa “Pháp-Việt phục hưng” của
gã thực dân Pháp Decoux. Từ năm 1943 việc giải thích tình hình chiến tranh thế
giới không còn khó khăn lớn như trước nữa, nhưng báo Tiền Phong cũng ra sức
cung cấp cho các đồng chí những lập luận cần thiết đã nói lên rằng Liên Xô,
Trung Quốc và phe Đồng minh nhất định thắng, phe Đức, Ý, Nhật nhất định thua,
phe phát xít quân phiệt thua thì càng có điều kiện thuận lợi, càng mau thắng,
song phải rõ, Đồng minh thắng thì không phải tự nhiên Việt Nam ta được giải
phóng đâu, ta phải nỗ lực hết sức, thừa cơ để làm khởi nghĩa cách mạng, tự mình
giải phóng cho mình, bằng không làm nổi cách mạng thì nước ta sẽ bị thống trị nữa
dưới ách một vài trong số các nước Pháp, Anh, Trung Quốc, Mỹ.
Bước sang năm 1944, tôi gần như là túc trực ở vùng Sài Gòn,
Chợ Lớn, Gia Định thỉnh thoảng mới đi Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre.
Đấu tranh chống “Huyền thoại Đông Dương” (mythe de l’Indochine) của Pháp và chống “Chủ nghĩa Đại Đông Á” của Nhật
Trong suốt năm 1942 và phần lớn năm 1943, mọi hoạt động của bọn
tôi đều nhằm dựng dậy một số đồng chí còn sót lại sau khởi nghĩa 1940, đang ẩn
náu, đang nằm nhà và tránh mọi công tác Đảng. Nói các đồng chí ấy là “mất tinh
thần” thì không đúng lắm. Gọi họ là “Chờ xem” thì đúng hơn. Quả tình thời thế
lúc ấy buộc phần lớn các đồng chí ấy “chờ xem”, chờ xem coi sau 1940 các nhà
lãnh đạo Đảng rút ra những bài học gì, chẳng lẽ cứ theo dấu xe đã đổ thì theo
sao được? Nhưng lãnh đạo ở miền Nam thì đã bị bắt hết rồi còn ai đâu mà rút
kinh nghiệm? Còn ai đâu mà vạch đường lối? Làm cách mạng không phải ai cũng
có sức và có chí tự động. Phần thì khi ấy tình hình chiến tranh thế giới đen tối
quá, triển vọng cách mạng thế giới chưa sáng sủa chút nào. Vậy thì, trong hoàn
cảnh đó, “nằm chờ” có một mặt ý nghĩa tích cực là bảo tồn những cán bộ đã được
đào tạo từ hàng chục năm, phòng có ngày xây dựng lại sự nghiệp. Những anh Khiêm
(Ung Văn Khiêm), anh Tây (Nguyễn Văn Tây), v.v… miễn là các anh ấy còn sống,
thì sẽ có ngày đắc dụng hết sức. Nhưng cần phải biết rõ trong số đồng chí 1939,
1940 còn sống thì ai ở đâu, ai “rót” 9. hẳn,
ai còn có thể dựng dậy, muốn dựng họ dậy thì cần giải quyết những vấn đề tư tưởng
gì? Bởi vậy cho nên trong lúc đầu, vào 1942 đầu 1943, tôi để hết tâm trí làm một
cuộc tuyên truyền hẹp chủ yếu là trong số đồng chí còn sống sót sau cuộc khủng
bố 1939 và 1940, và ngay trong số đó cũng chỉ chọn một ít mà thôi. Không có
báo, không có sách, không có hội nghị học tập. Chỉ tuyên truyền miệng, giải
thích cho từng cá nhân, từ nhóm nhỏ là chính; đến không tiếng, đi không dấu, bảo
đảm bí mật an toàn.
Nhưng từ khi ban cán sự Sài Gòn, miền Đông, và Xứ ủy Nam Kỳ
được thành lập lại rồi thì sự tuyên truyền cách mạng phải rộng ra để vũ trang
lý luận cho đồng chí, để trong chừng mực có thể, truyền bá rộng đường lối của đảng
bộ và đấu tranh chống các tư tưởng địch đang tuyên truyền lúc bấy giờ. Lúc bấy
giờ tư tưởng địch, chính trị địch đang quảng bá rộn ràng nhất là “chủ nghĩa
liên bang” của Decoux, còn gọi là “Huyền thoại Đông Dương” và chủ nghĩa Đại
Đông Á, cũng gọi là “Liên Á” của Nhật. Cả Pháp lẫn Nhật đều dùng tất cả các
phương tiện để cổ vũ cho “chủ nghĩa” của chúng bằng những nha, những hãng
thông tin, bằng những đoàn thể thân Pháp, thân Nhật, và chúng tuyên truyền cổ động
trên các mặt báo chí, bằng thể dục thể thao, văn hóa, nghệ thuật, giáo dục v.v…
Từ giữa 1943 tụi tôi có kế hoạch tuyên truyền cách mạng ở Nam Kỳ, chủ yếu là chống
chủ nghĩa Đại Đông Á và chống chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề mới, và bằng cách đó,
khẳng định đường lối chủ trương của Đảng Cộng sản.Máy in roneo của hãng Gestetner, mẫu 1913 (quay tay). Tôi bàn với các đồng chí là phải xuất bản một loạt sách tuyên
truyền “bỏ túi”, giống như lời “cộng sản tùng thơ” hồi 1933, 1934, 1935; mỗi
quyển dài bằng một bài tạp chí gọn giải quyết một vấn đề. Các vấn đề nối tiếp
nhau có hệ thống. Sách “bỏ túi” phải ra đều kỳ nhất có thể được, một vài tháng
một lần. Có hai cái khó; thứ nhất là Văn (Kiệt) chết rồi, lúc ấy chỉ còn có một
mình tôi viết được sách dù là sách “bỏ túi” để cho các đồng chí căn cứ vào đó
mà có nội dung tuyên truyền thống nhất; thứ hai là, nếu hồi 1933, 1934, tôi có
một cái máy Gestetner 10. của
Đảng Cộng sản Pháp mua dùm, thì, bây giờ phương tiện in ấn của tôi hết sức lạc
hậu: xu xoa 11.
Tụi tôi có cải tiến nghề in của chúng tôi: cắt kiếng, đổ xu xoa mấy lớp một lần
nấu, mỗi tấm kiếng cho phép in hai mặt, mỗi mặt in được mấy chục trang lớn bằng
giấy học sinh. Tạm được. Kế bên bộ “tùng thơ” còn có tờ báo Tiền phong phát
hành không đều kỳ để thông tin về tình hình lớn trong nước và trên thế giới.
Sách tuyên truyền bỏ túi và báo Tiền Phong đều do tôi làm cả! Bao biện quá;
mà làm thế nào khác được? Do “biên tập” có một mình tôi và phương tiện in ấn hết
sức đơn giản, cho nên “trụ sở” biên tập lúc thì như đi theo tôi lúc ở Phú Lạc,
lúc thì ở Gò Vấp, lúc thì ở Chợ Gạo. Ở mỗi “trụ sở” thì chọn một chú hay một cô
học khá văn không cần hay nhưng chữ viết thì phải đẹp. Quả là tôi bao biện, bao
biện thì không nên, nhưng bây giờ làm sao khác được? Các tay “bỉnh bút” còn ở
trong tù.
Chống chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề mới
Hồi 1942, 1943, cái “Huyền thoại Đông Dương” (mythe de
l’Indochine), còn gọi là “Pháp-Việt đề huề mới” của Decoux, được Pháp và đám
tay sai của Pháp tuyên truyền mạnh lắm. Còn lúc ấy, ở cả Việt Nam nói chung và
Nam Kỳ nói riêng, cái hy vọng mà bọn thân Nhật đặt vào Nhật (lật đổ Pháp) ban đầu
(1942) rất mạnh, đến sau 1943, yếu dần, suy dần cho đến đỗi chủ tịch Hội Liên Á
là tướng Tòng Tỉnh phải bay sang Sài Gòn, Hà Nội để “lên dây cót” cho bè đảng
người bản xứ, rồi Nhật phải gởi một số lãnh tụ tay sai (người Việt Nam, nghe
đâu trong số đó có Diệm, Ân, Sâm 12.)
sang lánh mặt ở Singapore. Tụi thân Pháp lên chân một chút. Thì chính trong lúc
ấy tôi viết một loạt sách “bỏ túi” để công kích chủ trương chính sách “Liên
bang Đông Dương” của Decoux. Mấy mũi nhọn tôi chĩa vào chính sách của Decoux là:
Thứ nhất: Cái “Liên bang Đông Dương” ngày nay của Decoux,
cũng như cái “nước Pháp Á châu” (la France d’Asie) của Sarraut hồi chiến tranh
thế giới thứ nhất, cũng như cái “chính sách đề huề hợp tác” (politique de
collaboration) của Varenne hồi 1925 khi ảnh hưởng của cách mạng Trung Quốc dội
mạnh vào Việt Nam, đều là những cách của thực dân đối phó với một tình thế khó
khăn, đều là những lừa phỉnh, đều là những bánh vẽ chỉ có nghe nhãn hiệu mà
chưa hề thấy đường bột, hễ khó khăn qua thì Pháp không nói tới nữa. Decoux,
Varenne, Sarraut giống nhau. Mà kỳ này thì Decoux chắc sẽ không có thì giờ để
mà ca ngợi lâu cái bánh vẽ của mình, chó sói Pháp sẽ bị chó sói Nhật giật mất
miếng mồi ngon trước khi quân Đồng minh vào Đông Dương. Vấn đề tư tưởng cần giải
quyết ở đây là làm cho đồng chí, đồng bào không bi quan ở chỗ Việt Nam một cổ
hai ách khó bề giải thoát.
Thứ nhì: cái “Liên bang Đông Dương” của Decoux đề nghị sẽ chỉ
là cái “nhà tù trong nhà tù” thôi, không có gì mới. Decoux tính sẽ lập ra “năm
nước”: nước Lào, nước Miên, nước Bắc Kỳ, nước Trung Kỳ, nước Nam Kỳ. “Năm nước”
hợp lại thành Liên bang Đông Dương do Pháp nắm các đòn bẩy chỉ huy. Liên bang
Đông Dương đó ở trong Liên hiệp Pháp; dân mỗi nước có quyền lập chế độ cộng
hòa hay giữ chế độ quân chủ, có quyền nói lên lòng yêu đất nước mình nhưng có
nghĩa vụ phải yêu nước Pháp là nước “cha đỡ đầu” cho Liên bang Đông Dương. Dân
mỗi nước được phép tuyên dương những sự kiện lịch sử anh hùng của dân tộc mình
miễn là không chống đối lại Pháp. Như vậy, Pháp vẫn giữ chính sách chia cắt Việt
Nam làm ba; cái “nước Nam Kỳ” phải ở trong Liên bang Đông Dương, Liên bang phải
ở trong Liên hiệp Pháp; tất cả phải trung thành với Pháp. Nhà tù ở trong tù vừa,
tù vừa ở trong tù lớn. Cái “Huyền thoại Đông Dương” của Decoux chỉ là thế thôi.
Rốt cuộc lại thì Decoux chỉ đề nghị là sẽ thay chữ “Đông Dương thuộc Pháp” bằng
chữ “Liên bang Đông Dương”, sẽ thay những chữ “xứ thuộc địa”, “xứ bảo hộ”, bằng
cái chữ “bang”, chữ “nước”; sẽ không còn “Trung Kỳ xứ bảo hộ”, “Nam Kỳ xứ thuộc
địa” mà thành ra “nước Trung Kỳ”, “nước Nam Kỳ”, “nước Bắc Kỳ”, cả ba ở trong
“Liên bang Đông Dương” do nước Pháp làm “cha đỡ đầu”.
Ai muốn theo thì theo! Cái bánh thời Decoux hơn là cái bánh
thời Sarraut, Varenne ở chỗ nó có hình vẽ, nội việc xem hình vẽ thôi thì đã ớn rồi! Nhưng nếu không kịp thời vạch trần thực chất của chủ trương “Liên bang Đông
Dương” thì chủ trương này có thể đánh lừa nhiều người, nhiều người tưởng đâu
bây giờ để cạnh tranh với Nhật, Pháp chịu một số nhượng bộ nào đó cho chủ nghĩa
dân tộc Việt Nam, tưởng đâu Pháp dọn đường cho một chủ trương Đông Dương tự trị
sau chiến tranh.
Nếu chỉ có thế thôi thì chủ trương đường lối của Decoux sẽ
không lấy gì làm nguy hiểm, không lừa dối được số đông dân. Decoux trong những
năm 1942, 1943, 1944 còn làm làm nhiều chuyện mị dân có ít nhiều kết quả. Tôi
chú ý đến hai việc nổi bật sau đây:
1. Pháp bỏ ra nhiều công sức, tài chính để gây nên và phát
triển khá rầm rộ một phong trào thể dục, thể thao lớn thu hút nhiều vạn thanh
niên và uốn nắn thanh niên theo khẩu hiệu “Thống chế Pétain muôn năm!” của
chính phủ Vichy tay sai Đức Hitler. Tuyên cáo của Xứ uỷ Nam Kỳ nhận định và
tuyên bố rộng rãi rằng đó là cách của Pháp chuẩn bị chiến tranh vì quyền lợi của
Pháp, đó là Pháp giành thanh niên Việt Nam với Nhật. Tuy vậy, Xứ uỷ Nam kỳ
không yêu cầu thanh niên tẩy chay phong trào thể dục thể thao do Ducoroy đứng đầu.
Trái lại “ở đâu có quần chúng thì Đảng Cộng sản phải có mặt”, tuy rằng khi ấy Đảng
bộ Nam Kỳ còn rất yếu, chúng tôi cũng cố gắng đưa người vào trường Phan Thiết
xem họ làm gì và xem ta có thể làm gì được để tranh thủ tuổi trẻ với địch. Một
trong những người đó sau này là Ngô Thất Sơn, đến tháng 8 năm 1945, là cận vệ của
tôi, sau làm đến cấp tá của quân đội và được tuyên dương “anh hùng”.
2. Lúc ấy, có một ngành hoạt động của bọn Decoux ở ngoài tầm
tay của Xứ ủy chúng tôi; ấy là hoạt động của chúng trên mặt trận văn hóa. Tôi
thấy rằng bọn Decoux sớm nhận ra tầm quan trọng chính trị của vận động văn hoá,
trước bọn tôi; trong lúc đó thì ở Nam Kỳ bọn tôi gần như mù tịt về vấn đề này,
và thực tế không có chút phương tiện nào để hoạt động cả. Mắt tôi sáng ra khi
thấy nhà cầm quyền thực dân dùng đến những từ “chấn hưng văn hoá dân tộc”, lập
một số trường học nhằm khôi phục nghệ thuật Lào, Khmer, nghệ thuật Việt Nam.
Decoux cổ vũ rất nhiều cho việc y tổ chức những giải thưởng văn học, những cuộc
triển lãm nghệ thuật. Việc ấy không phải không gây nhiều ảnh hưởng có lợi cho
Pháp. Decoux còn mở rộng đại học, lập thêm trường phổ thông. Ảnh hưởng ngó thấy
trong các giới tư sản trí thức. Mà ở Nam Kỳ chúng tôi không có phản ứng kịp thời,
chúng tôi bị động; chúng tôi chỉ biết nói rằng đó là cách thực dân Pháp xoa dịu
tinh thần dân tộc đang lên trong thời cuộc chiến tranh thế giới. Mãi cho đến
khi sinh viên Hà Nội về nghỉ hè ở Nam Kỳ, ở Sài Gòn với học sinh Sài Gòn lục tỉnh
họp nhau lại để tổ chức diễn những vở kịch yêu nước, hát những bài hát yêu nước
được đồng bào hoan nghênh nhiệt liệt, thì chúng tôi ở Sài Gòn mới sáng mắt thêm
rằng văn nghệ có tác dụng chính trị lớn, rằng nếu không kịp có chính sách đối
phó thì thanh niên có thể bị kẻ khác lôi kéo đi chệch đường cách mạng giải
phóng dân tộc. Và bản thân tôi mới nhận ra rằng cái chính sách gọi là “chấn
hưng văn hoá dân tộc” có chỗ mạnh và chỗ yếu của nó, mạnh là dưới hình thức giả
vờ dân tộc, Pháp có thể lôi kéo thanh niên, có thể làm cho dân tin lầm rằng chúng
không còn khắc nghiệt áp bức dân tộc như trước nữa. Nhưng đảng cách mạng, người
yêu nước, có thể dùng “gậy ông đập lưng ông”, ngày nọ cũng nói chơi là “giáo
Tàu đâm Chệt”, ta có thể lợi dụng cái mức chủ nghĩa dân tộc được cho phép ấy để
công khai hợp pháp tuyên truyền sâu rộng cho chủ nghĩa yêu nước. (Việc này tôi
sẽ có dịp nói lại khi nói tới vấn đề thanh vận và Thanh niên Tiền phong ở Sài
Gòn).
Trước những ngày tàn tạ, chết yểu của “Huyền thoại Đông
Dương” (le mythe de l’Indochine) của Decoux, thì De Gaulle ở Brazzaville đề nghị
cho Đông Dương một thứ “tự trị sau một thời gian”. Cái bả De Gaulle và cái huyền
thoại Decoux đều trở thành mảnh giấy lộn.
Vấn đề là tuyệt đối không được trông mong ở bất cứ phái nào của
đế quốc dù Pháp Pétain hay Pháp De Gaulle, sẽ ban bố tự trị cho Việt Nam, cho
Đông Dương. Vấn đề là phải tính toán, phải hoạt động sao cho chính quyền Pháp bị
đánh đổ, các dân tộc Đông Dương, trước hết là dân tộc Việt Nam được giải phóng
bằng một cuộc cách mạng nổ ra ngay trong lúc tàn cuộc chiến tranh thế giới hiện
nay. Pháp vẫn cứ là đế quốc thực dân dù là tàn cuộc chiến tranh thế giới Pháp
thoát khỏi ách của Đức Hitler, cái hứa hẹn “tự trị sau một thời gian” chỉ có thể
là một thứ mặt nạ Pháp đeo vào để tranh giành ảnh hưởng của Nhật, để cố giữ
Đông Dương dưới ách của nó.
Vấn đề là tuyệt đối không phải lựa chọn giữa Nhật và Pháp;
chúng đều là đế quốc thực dân cả; không thằng nào hơn thằng nào. Mà kẻ thù số
một trong thời thế bấy giờ là Pháp, đế quốc Nhật; Nhật cho Pháp sống sót một
thời gian và chỉ một thời gian thôi, để làm việc hậu cần cho Nhật, để giữ an
ninh cho quân Nhật trên một đất nước có truyền thống cách mạng giải phóng dân tộc.
Tới ngày nào đó, trong cuộc chiến tranh, Nhật sẽ lật đổ Pháp để gạt bỏ một lưỡi
gươm bên hông, điều ấy hoàn toàn sẽ không có ý nghĩa rằng Nhật giải phóng Việt
Nam, mà chỉ có ý nghĩa rằng Nhật giành quyền độc chiếm Đông Dương; một sự thay
thầy đổi chủ, không hơn không kém.
Chống chủ nghĩa Đại Đông Á
“Chủ nghĩa Đại Đông Á” hay là “chủ nghĩa Liên Á” của Nhật thực
tế chỉ là một ngọn cờ xâm lược thực dân. Nhưng không phải ai cũng biết như thế.
Và có nhiều người biết song lại cho rằng có thể “tương kế tựu kế” lợi dụng Nhật
được. Tư tưởng này đã có từ đầu thế kỷ XX lận kìa chớ đâu phải bây giờ mới có.Xe tuyên truyền cho "chủ nghĩa Đại Đông Á" của Nhật
ở Sài Gòn. Bên trái là áp-phích ca ngợi thống chế Pétain của Pháp. (nguồn: J.M. Pedrazzani, La France en Indochine de Catroux à Sainteny,
Flammarion).
Trong số sách của tôi viết ra hồi thời kỳ khôi phục cơ sở và
hệ thống Đảng ở Nam Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ hai, tôi xem quyển “Việt
Nam trên đường độc lập” chống “chủ nghĩa Pháp-Việt đề huề mới” và quyển “Rạng
đông của một dân tộc” - chống “chủ nghĩa Đại Đông Á”, chống Nhật xâm lược, là
tài liệu tuyên truyền chính trị và tư tưởng có tác dụng thiết thực nhất. Hồi đó
(1942, 1943), ảnh hưởng tai hại của “chủ nghĩa Đại Đông Á” ở Nam Kỳ rất lớn, có
thể nói là đến mức cao nhất. Tôi nói ở Nam Kỳ là nơi tôi đang hoạt động lúc bấy
giờ. Chắc là khắp Nam, Trung, Bắc không nơi nào mà bè đảng thân Nhật nhiều và mạnh
như ở Nam Kỳ. Ở Nam Kỳ thì một phần số đạo Cao Đài chủ yếu là phái Cao Đài Tây
Ninh mà người đứng đầu lúc này là Trần Quang Vinh, ra mặt thân Nhật; Cao Đài
có vài triệu tín đồ khắp lục tỉnh. Còn Phật giáo Hòa Hảo thì phát triển rộng ở
Hậu Giang, và từ khi quân Nhật đưa thầy Hòa Hảo (bị Pháp an trí ở Bạc Liêu) về
Sài Gòn, ở đường Miche 13,
và được sở Sen đầm Nhật bảo vệ, thì Phật giáo Hòa Hảo cũng hướng mạnh về phía
Nhật. Tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo cũng đông có tới hàng chục vạn. Ngoài ra, Nhật
còn làm chỗ dựa cho phái chính trị gọi là Phục quốc do Trần Văn Ân đứng đầu, cựu
chủ tịch hội nhà báo là Nguyễn Văn Sâm cũng ở trong đó. Họ suy tôn Cường Để lâu
nay ở bên Nhật (tôi không rõ ông Cường Để có đồng ý hay không) và tiếng đồn khắp
xứ là Nhật sẽ hạ Pháp, sẽ đem Cường Để về làm vua của nước Việt Nam được trao
trả độc lập. Tất cả chúng đều đi theo cờ “chủ nghĩa Đại Đông Á” cũng gọi là “chủ
nghĩa Liên Á”. Từ 1941 cho đến giữa năm 1943, quân Nhật luôn luôn chiến thắng ở
tây và nam Thái Bình Dương đánh bại Mỹ, Anh, Hà Lan, thế như chẻ tre, đến đâu
Nhật cũng phất cờ chủ nghĩa Đại Đông Á, khua môi múa mép rằng Nhật là người anh
cả da vàng quyết tâm và có đủ sức giải phóng các nước Á châu khỏi ách các đế quốc
thực dân da trắng. Ảnh hưởng lớn, rộng, không dễ gỡ.
Để làm cho đồng bào trước hết là cán bộ, đảng viên hiểu sự thật,
hiểu các chính sách của Nhật, tôi viết một loạt sách tuyên truyền “bỏ túi” về
những vấn đề như:
- Mấy nét về cuộc duy tân của Nhật. Nhật đã trở thành một cường
quốc tư bản chủ nghĩa. Các cuộc xâm chiếm thuộc địa của Nhật hồi đầu thế kỷ XX.
- Tham vọng bá chủ của Nhật; chương trình Điền Trung
(Tanaka) và sự khởi đầu thực hiện chương trình đó trong thời gian trước chiến
tranh thế giới lần thứ nhất. Nhật đánh Trung Quốc.
- “Chủ nghĩa Đại Đông Á” chỉ là kế hoạch của Nhật làm bá chủ ở
châu Á, là kế hoạch chiếm lấy thị trường lớn nhất thế giới.
Tôi nhắc lại chuyện Phan Bội Châu và các chí sĩ Đông Du, hồi
1908 bị chính phủ Nhật trục xuất theo lời yêu cầu của Pháp; đế quốc Nhật, đế
quốc Pháp cũng đồng một phường, khác nhau là nước Nhật và nước ta gần nhau, sớm
đi tối về được, nếu Việt Nam bị Nhật thống trị thì càng khó giải phóng và khác
nhau là Pháp ít dân đất rộng, còn Nhật đất hẹp người đông, nước ta về tay Nhật
có thể trở thành một thuộc địa di dân, nếu ngày nào đó ở trong nước ta và ở
Miên, Lào có năm mười triệu người Nhật định cư, thì khi ấy cuộc giải phóng sẽ
khó khăn đến chừng nào? Tai họa của một chủ nghĩa Đại Đông Á thành công sẽ là
tai hoạ vô biên. Sách “Rạng đông của một dân tộc” được in lại nhiều lần, quay
roneo nữa.
Vào 1943 thì Nhật dẫm chân và bắt đầu thối lui ở tất cả các
chiến trường, uy tín Nhật bắt đầu xuống, tướng Tòng Tỉnh, chủ tịch hội Liên Á
được phái qua Sài Gòn, Hà Nội để “lên dây cót” cho đám tay sai thân Nhật, mà chỉ
“lên” được một lúc nào, một phần nào thôi. Hẳn rằng chủ nghĩa Đại Đông Á mất đà
từ 1943 trở đi, tất nhiên là không phải nhờ các sách tuyên truyền bỏ túi chống
Nhật của tôi… Vài tuần một tập sách dày không quá 32 trang, in không quá một
trăm bản làm thế nào ảnh hưởng đáng kể đến thời cuộc, nhưng hoạt động tư tưởng
chính trị đó của toàn Đảng bộ Nam Kỳ ít nhất cũng nói lên được rằng, ở Nam Kỳ,
Đảng Cộng sản không chết mất sau cuộc đại tàn sát 1940, mà đã hồi sinh rồi và sẽ
tới ngày đứng lên phất cờ giải phóng dân tộc.
18/7/2012Quyết Nguyễn
Máy in roneo của hãng Gestetner, mẫu 1913 (quay tay).



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét