Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2023
Hồi ký Trần Văn Giàu 2
Đó, hình như cái “nghiệp” của tôi là vừa làm công tác thực tiễn
vừa làm công tác tư tưởng, mà công tác tư tưởng, có những lúc là chính. Tôi nhận
thấy rằng khi nào và ở đâu mà công tác tư tưởng hoặc bị xem nhẹ hoặc bị quên lửng
thì không thể làm việc tổ chức và lãnh đạo đấu tranh được. Cho nên sau khi từ
trại giam Tà Lài về tới Phú Lạc là tôi lo giải quyết các vấn đề tư tưởng cho
các đồng chí còn sống sót sau những cuộc khủng bố trắng 1940, 1941. Cho nên,
khi Xứ ủy được thành lập lại, tôi đã nghĩ đến các vấn đề tổng khởi nghĩa giành
chính quyền. Và để giành nhân dân với các tổ chức thân Nhật, thân Pháp tôi có ý
thức dành nhiều thời giờ viết sách, mở lớp huấn luyện chính trị nhằm giải thích đường lối cách mạng, củng cố lòng tin, đả phá nguy cơ của chủ nghĩa đại Đông Á,
của chủ nghĩa Pháp - Việt phục hưng. Bọn tôi làm được việc, một phần do nỗ lực
chủ quan, một người làm việc bằng năm, bằng mười, phần nữa là do tình hình thế
giới từ 1943, 1944 mới thêm thuận lợi lạc quan, có “tận lực” mà trước hết là có
“thời thế”. Không phải nói như thế để ra vẻ “khiêm tốn” đâu, sự thật quả như thế.
Về sau, kiểm điểm lại, tôi thấy Xứ ủy Nam Kỳ đã “dám” tự mình vạch ra một đường
lối để tiến tới trong thời kỳ tiền cách mạng. Thực tế là dám nhận lãnh trách
nhiệm trước lịch sử và nhìn chung, đường lối tự vạch ra đó là đúng, bằng cớ của
cái đúng ấy là cách mạng tháng Tám ở Nam Bộ đã thành công gần cùng một lúc với
cách mạng tháng Tám ở Bắc, Trung. Tuy vậy, truy nguyên thì không phải là cái
“dám lãnh trách nhiệm” ấy nó khai đường cho chiến thắng. Khai đường mở lối cho
chiến thắng là chủ trương của Lenin: rằng những người cách mạng phải ra sức thừa
cơ hội chiến tranh thế giới để làm cách mạng thành công, chủ trương đó được đảng
Cộng sản Đông Dương khẳng định lại trong Luận cương chính trị 1930, và một lần
nữa trong Nghị quyết Trung ương lần thứ VI cuối năm 1939, mà chủ yếu, hơn hết,
là chủ nghĩa Lenin về vấn đề chiến tranh đế quốc và cách mạng vô sản mà người cộng
sản nào cũng thấm nhuần ngay từ khi mới vào đảng. Ngay từ khi gặp đảng thì
không người yêu nước nào mà không đặt câu hỏi chính, câu hỏi này được trả lời
thông suốt thì người yêu nước đó mới vào đảng. Đó là hai câu hỏi:
Không ai dám bảo rằng mình tài giỏi, tài giỏi mấy cũng còn phải nhờ
thời thế mới làm nên; mà phần lớn những yếu tố của thời thế không do ta tạo
thành. Thời thế nghịch thì “anh hùng ẵm hận”, ngày xưa bảo là “vận khú”. Dù
sao, chèo ngược vẫn hơn là buông trôi. Ông bà từng dạy: “chớ đem thành bại luận
anh hùng”. Còn thời thế thuận mà không sử dụng được mới là dở thật, là đáng chê
trách, há miệng chờ trái sung rơi xuống, càng dở hơn, trái sung rất có thể rơi
trên mũi, trên mắt.
Bàn tới bàn lui, chẳng biết có gì
quan trọng hơn, mấu chốt hơn là gấp rút đào tạo nhiều cán bộ công đoàn để phòng
khi thời cuộc biến chuyển ta có đủ người làm việc cho giỏi. Chúng tôi nhắc lại
lời của Stalin: “cán bộ quyết định tất cả”, xem đó là chí lý. Đó cũng là
“chuyên môn” của tôi trong huấn luyện đào tạo cán bộ. Vả lại, bây giờ anh em
khá đông, tôi không phải trực tiếp đi nhiều nơi, nên lo việc huấn luyện là
chính, đồng thời kiểm tra, đôn đốc chỗ nào cần. Các anh Văn, Lực, Lựu, Ri, Tư
cà phê, Hai Râu, Giỏi (Eiffel) và Giỏi (cứu hỏa) đều hăng hái lắm, nhưng họ ít
kiến thức “sai đâu đánh đó” chớ lý luận cách mạng chưa có gì, chưa ai có một bó đuốc trong tay; vì vậy, sáng kiến bị hạn chế. Phải ra sức đào tạo họ thành những
nhà lãnh đạo công đoàn, lãnh đạo phong trào công nhân, và khi cần thì đủ sức đương đầu với các lãnh tụ chính đảng tư sản, tiểu tư sản, tôn giáo. Phải đào tạo
nhiều, phải thật nhiều cán bộ cơ sở xuất thân từ xí nghiệp, để khi thời thế đến,
họ có sức nhân lên gấp mười, gấp hai mươi sức lao động và sức tổ chức công đoàn, làm cho lực lượng công nhân lao động trở thành mạnh nhất ở Sài Gòn - Chợ
Lớn - Gia Định, làm cho phong trào công nhân có tác dụng tập hợp và dẫn đầu tất
cả các phong trào yêu nước. Nói thực hiện vai trò lãnh đạo của giai cấp công
nhân, là một mặt thực hiện vai trò lãnh đạo của đảng Cộng sản - đội tiên phong
mácxít lêninnít của giai cấp công nhân, mặt khác (và đồng thời) là làm sao cho
phong trào công nhân thật sự dẫn đầu tất cả các phong trào yêu nước, thu hút
các phong trào yêu nước theo mình. Một mặt không đủ; phải hai mặt thì mới chọn
là sự “lãnh đạo của giai cấp công nhân”, lúc đó cũng gọi là “bá quyền của giai
cấp công nhân” - Điều kiện cốt yếu cho cách mạng dân tộc dân chủ triệt để thành
công. Trong mục đích chính trị đó, Thành ủy và Thường vụ Xứ ủy quyết định mở những
lớp học liên hoàn cho cán bộ công đoàn toàn thành phố và một số anh chị em từ lục
tỉnh lên tiếp tay làm công vận. Học viên chủ yếu do các công đoàn lựa chọn. Ban đầu giảng viên chỉ có mình tôi, cùng lúc dạy nhiều lớp, ở chùa Bà Đầm, ở nhà
Hoàng Đôn Văn (ĐaKao) ở Xóm Lách, ở Bàu Lăng, v.v... Khi ấy Lý Chính Thắng chưa
tham gia, Nguyễn Thành A còn ở căng Bà Rá chưa về, Hà Huy Giáp ở căng ngoài
Trung Kỳ chưa vào, Nguyễn Văn Nguyễn mới từ Côn Lôn về Mỹ Tho cũng chưa chịu nhập
cuộc, Nguyễn Văn Tây ẩn náu nơi nào đó ở Hậu Giang, Ung Văn Khiêm giả đi làm cố
nông ở Cần Thơ, các anh lúc đó đều chưa nhận công tác, còn “chờ xem”. Các đồng
chí đó, sau 9 tháng 3 sẽ có điều kiện góp phần đào tạo cán bộ công đoàn và các
anh em sẽ hoạt động đắc lực lắm. Tạm thời tôi “bao sân”, anh Oanh (Bạch Đằng lớn)
nói đùa rằng tôi một mình day trở như “Tam chiến Lữ Bố”! (lớp học đảng và công đoàn, lớp học thanh niên và trí thức).
Toàn là những đề tài lịch sử, đề tài yêu nước chống ngoại xâm. Tôi không được đi xem diễn, chỉ được đọc kịch bản “Hội nghị Diên Hồng”. Không có vở nào cấu kết hay. Diễn xuất không có gì xuất sắc. Nhưng công chúng Sài Gòn hoan nghênh “Đêm Lam Sơn” dữ lắm. Tại sao? Tìm hiểu thì có thể thấy được rằng điều đó chứng tỏ một tâm trạng chính trị của quần chúng mà những người cán bộ đảng cách mạng không dễ xem thường: bằng mọi cách khêu gợi lòng yêu nước, khêu gợi tinh thần dân tộc, khêu gợi tự hào dân tộc, thì dễ khuấy lên được phong trào quần chúng, đẩy nhanh cách mạng tới trước, chớ nếu chỉ lo bênh vực quyền lợi thiết thực của dân thì chưa đem nhẹ quyền lợi thiết thực của dân, nhưng, trước mắt và lâu dài, nếu muốn huy động hết sức đông đảo quần chúng thuộc tất cả các tầng lớp xã hội thì phải giương cao ngọn cờ dân tộc, phải không rời chủ nghĩa yêu nước chân chính. Vở kịch “Đêm Lam Sơn” gây xúc động lớn. Tới màn chót, khi Lê Lợi tuốt gươm thề quyết tâm tiêu diệt giặc Minh, thì cả rạp hát công chúng, không ai bảo ai, đều đứng dậy, vỗ tay, hò reo, nhịp tay nhịp chân đồng hát và hát đi hát lại bài “Tiếng gọi sinh viên” (từ nay được đổi tên là “Tiếng gọi thanh niên” cho hợp với yêu cầu xã hội và chính trị). Dư luận Sài Gòn nêu cao sức đồng cảm sâu sắc giữa người xem vở kịch và tác giả, diễn viên vở kịch yêu nước. Đêm ấy, anh Oanh đi xem về, kết luận rõ ràng: ta phải đến với nhóm sinh viên, học sinh này, phát huy đầy đủ khả năng của họ, hướng dẫn họ đi đúng đường, bằng không thì hoặc địch (Pháp hay Nhật) sẽ lợi dụng họ, sẽ lái họ vào đường sai lầm nguy hiểm, hoặc tự họ sẽ tổ chức thành một chánh đảng quốc gia tiểu tư sản, khi ấy sẽ khó nắm họ hơn nay. Tôi đồng ý. Nhất là vì, ít lâu nay, do điều tra, tôi biết chắc rằng phong trào sinh viên, học sinh là một phong trào tự phát. Còn như nếu phải trả lời câu hỏi tại sao Toàn quyền Đông Dương và Thống đốc Nam Kỳ cho phép sinh viên, học sinh hoạt động như thế kia mà không kiểm duyệt kịch bản, cấm cản công diễn, thì trước hết ta chớ nghi ngờ tấm lòng trong sáng của tuổi trẻ, ta hãy tìm nguyên nhân trong chính sách “Liên bang” của Decoux thì rõ (tuyên cáo của Xứ ủy chú trọng đến việc phê phán “chủ nghĩa Liên bang của Decoux”). Nói theo kiểu của ta thì ấy là đám thanh niên táo bạo và yêu nước kia đã biết “lợi dụng khả năng công khai hợp pháp” tựa như Xứ ủy Nam Kỳ năm 1933, mười năm trước, đã lợi dụng khả năng hợp pháp đưa “Sổ lao động” Nguyễn Văn Tạo tranh cử hội đồng thành phố.
3. Bao cà ròn: bao (nhỏ) đan bằng cói.
5) Cuộc đảo chánh Nhật 9 tháng 3 năm 1945
Những người Việt làm việc
cho sở Mật thám Pháp trình diện quân đội Nhật trước khi được dùng để phục vụ
cho Kempeitai. Biển chữ Hán: Đông Kinh châu lược trinh cục/ Cục tình báo Bắc
Kỳ (Ảnh Thư viện Quốc gia Pháp)
Không cần phải tài tình sáng
suốt gì lắm mới đoán trước Nhật sẽ lật Pháp ngày nào đó. Từ mấy năm nay ai cũng
thấy rằng hai con chó tranh nhau một miếng thịt có ngày phải cắn nhau, không
sao tránh khỏi, Nhật sẽ thắng, Pháp sẽ thua. Nhưng rất ít người ở Sài Gòn, kể cả
tôi, có thể đoán được rằng phải chờ đến gần ngày tận số của nó, Nhật mới lật đổ
Pháp! Các phe phái thân Nhật xem là trễ quá. Nếu Nhật lật Pháp hồi năm 1943,
khi tướng Tòng Tỉnh - chủ tịch hội Liên Á sang Sài Gòn để lên dây cót tinh thần
cho bè đảng khi ấy chưa phải đã trễ. Để cho tới nay, tháng 3 năm 1945, thì ngay
cả bọn thân Nhật cũng nản, lần này Tòng Tỉnh sang Sài Gòn “lên dây cót” cho họ
chỉ là một viên thuốc không có hiệu quả lâu dài. Đến đầu năm 1945, thì người dốt
chính trị nhất nước Việt Nam này, cũng thấy Nhật sắp thua, vậy cái việc Nhật lật
Pháp chỉ là một hành động tự vệ cho Nhật. Nhật sợ Pháp đánh sau lưng, chứ hoàn
toàn, tuyệt đối không phải là một “nghĩa cử”, không phải là “vì người da vàng
mình với nhau”, không phải “vì dân tộc Việt Nam đồng văn đồng chủng với dân tộc
Nhật”. Đêm 9, quanh trại lính đường Norodom 14, khoảng 5.000 lính Cao Đài làm
thanh viện cho vài ngàn lính Nhật đủ buộc quân Pháp đầu hàng. Mấy ngày sau dân
chúng Sài Gòn được phe thân Nhật hô hào dữ mà chỉ có mấy ngàn người đi biểu
tình hoan hô “anh cả da vàng”. Tôi không muốn đánh giá quá cao truyền đơn và
báo chí mật, bản tin mật của chúng tôi có tác dụng “lật tẩy” ý đồ của Nhật
trong cuộc đảo chánh; tôi cho rằng nhân dân Sài Gòn vốn nhạy bén về chính trị,
tự mình cũng thấy được cái ý đồ xấu xa của Nhật từ mấy năm nay đã tự nó lật mặt
nạ nó bằng hành động cụ thể. Tất nhiên là trong xu thế đó, sự tuyên truyền cổ động
của chúng tôi đã có tác dụng. Trong nhân dân thành phố nói riêng, nhân dân Nam
Kỳ nói chung, mà chắc là ở cả nước Việt Nam cũng thế thôi, cuộc đảo chánh 9
tháng 3 không làm cho nhân dân ta có ảo tưởng gì đối với Nhật cả. Cái khải hoàn
môn mà phe Cao Đài Trần Quang Vinh dựng lên ở khúc rộng đường Blansubé (Phạm Ngọc
Thạch ngày này, trước nhà Văn hóa thanh niên), làm bằng hoa lá, tươi rồi héo,
héo rồi khô đến khi bị một que diêm đốt cháy rụi chỉ mấy phút tiêu biểu cho “hy
vọng” đến thời tàn của phe đã cổ vũ cho thuyết Đại Đông Á mấy năm nay. Bọn sử
gia thực dân về sau sẽ viết lếu viết láo rằng, đêm 9 tháng 3, dân chúng Sài Gòn
bị bất ngờ, không hoan hô Nhật bởi vì luyến tiếc Pháp, rằng dân chúng Sài Gòn
“dửng dưng” nên đứng trân mà ngó thời cuộc. Sự thật đâu phải như vậy! Tuyệt đại đa số dân Sài Gòn, dân Nam Kỳ, dân Việt Nam ai mà luyến tiếc Pháp? Tám mươi
năm mang ách thực dân chẳng nhiều quá rồi sao? Nhưng người ta cũng không mấy
ai hy vọng gì Nhật đứng được lâu, càng không tin rằng độc lập mà Nhật sắp ban
cho là độc lập thật. Nếu có cái gì gọi là “bất ngờ”, là không ngờ rằng quân phiệt
Nhật ngu xuẩn đợi cho đến nay mới làm cái việc chúng có thể làm hai, ba năm trước,
nếu làm hồi hai, ba năm trước thì Nhật có thể phần nào bao bọc cái lợi ích đế
quốc ích kỷ của chúng trong cái vỏ “nghĩa cử” dễ tin hơn.
4. Hồng quân Liên Xô đã đến gần sát Berlin. Đức phát xít sẽ sụp đổ nay mai thôi. Đức sụp đổ rồi, Đồng minh sẽ dồn sức qua Viễn Đông và Thái Bình Dương thì Nhật cũng không thể kháng cự lâu dài được. (Thành thực mà nhắc lại, hồi đó tôi nghĩ rằng Nhật nhất định sẽ đầu hàng, nhưng mà không đầu hàng sớm lắm đâu, ít nào cũng đến cuối năm 1945; tôi nghĩ rằng Nhật thua trận trên mặt biển thì chúng sẽ dựa vào lục địa mà chờ đợi một trận quyết chiến hết sức lớn, hết sức đẫm máu khi Mỹ đổ bộ lên đất Nhật, tôi hoàn toàn không biết gì về vũ khí hạt nhân; tôi chắc chắn rằng mọi người cũng chẳng hơn gì tôi. Tôi cũng tính sai rằng Liên Xô sẽ không can thiệp sớm vào chiến tranh Viễn Đông, rằng Liên Xô sẽ trả đũa quân Mỹ, Anh về cái tội Mỹ, Anh dây dưa quá trong việc mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu để “chia lửa” với Liên Xô, trả đũa bằng cách để cho Anh, Mỹ, Nhật đánh nhau lâu hơn nữa. (Sau rồi tôi mới thấy rằng tính toán của tôi nông cạn, sai, lấy cái chủ quan - cần thì giờ để hoàn thành chuẩn bị khởi nghĩa - làm hướng xét đoán). Trong trường hợp đổ bộ lên Trung Kỳ từ Philippines thì chúng tôi chủ trương khởi nghĩa từng phần, thừa lúc Nhật, Mỹ đánh nhau lập chính quyền độc lập ở bất cứ nơi nào có thể lập được. Trong tình hình thế giới khi ấy, thì dù Mỹ có hay không có đổ bộ lên Trung Kỳ, Nhật trước sau cũng sẽ phải ñầu hàng. Nhật đầu hàng thì sẽ xảy ra tình thế cách mạng trực tiếp cho chúng ta. Nhật đầu hàng thì quân Đồng minh, trong đó có quân Pháp, sẽ vào Đông Dương để giải giáp quân Nhật và để giành lại Đông Dương cho chủ cũ. Cho nên khởi nghĩa cách mạng ở Việt Nam nhất thiết phải nổ ra và thành công trước khi (nhấn mạnh là trước khi) quân Đồng minh vào. Khi quân Đồng minh vào mà đã có chính quyền độc lập của dân tộc Việt Nam thống nhất an bài rồi lại được toàn dân hết lòng ủng hộ, thì họ phải thương lượng với chính quyền cách mạng đó. Nếu ta không giành được chính quyền thì họ sẽ không đếm xỉa đến cuộc kháng Nhật của ta đâu. Thương lượng với họ, ta sẽ có hai cái thế mạnh, một là ta đã chống Nhật, đã ủng hộ Đồng minh, hai là ta đang nắm chính quyền và được đồng bào tín nhiệm; ta sẽ hết sức lợi dụng mâu thuẫn giữa Anh, Pháp, Mỹ, Tàu. Tiếng nói của Liên Xô chắc có trọng lượng mặc dầu Liên Xô ở rất xa Đông Dương. Chắc chắn là anh em ta ở ngoài Bắc cũng nghĩ như vậy và cũng làm như vậy, chứ không thể khác.
1. Chu, Mao: Mao đây, tất
nhiên, là Mao Trạch Đông; Chu không phải là Chu Ân Lai, mà là Chu Đức
(1886-1976), nguyên soái, người thường được coi là cha đẻ của Giải phóng quân
Trung Quốc.
Nhà sử học Pierre Brocheux (Paris 13) gửi
thư cho chúng tôi. Ông nói: “Chỗ này, Trần Văn Giàu đã mắc lỡm trí nhớ. Sự thật
là ông đã nhầm lẫn hai cái tên: Brocheux (chúng tôi có dịp gặp nhau nhiều lần
và có quan hệ tốt, vì như ông nói, chúng tôi đều là người Nam Kỳ) và ông cò
Rochet (tôi đoán là ông này). Cha tôi tán thành De Gaulle ngay từ lời kêu gọi
18 tháng sáu 1940 mà ông nghe thấy qua đài (do Radio Brazzaville tiếp vận),
nhưng không tham gia một tổ chức kháng chiến nào và không đóng vài trò nào cả.
Tôi mong rằng Diễn đàn sẽ nói lại cho rõ, nhất là trong trường hợp các bạn xuất
bản Hồi Ký thành sách in. Trần Văn Giàu đã dành danh dự to lớn cho dòng họ
Brocheux, nhưng với tư cách nhà sử học, tôi thấy cần phải nói rõ sự thật”.
Thành công của Dương Khuy ở Mỹ Tho trong việc lập Tỉnh ủy cùng với Chín Còn, em chồng chị Mười Tốt (Mười Thập) có cái để mà phấn khởi. Riêng tôi thì, vào đầu năm 1945, tôi có đi Bà Điểm, Hóc Môn đến mấy lần. Vùng Củ Chi, Hóc Môn, Bà Điểm, tôi quen biết khá nhiều từ mười năm trước. Hồi 1933, khi tôi ở Liên Xô về, cái đặc ủy (ngang với Tỉnh ủy) mà tôi tổ chức trước hết ở Nam Kỳ (trong sự cố gắng xây dựng lại hệ thống Xứ ủy đã bị tan vỡ từ 1932), là đặc ủy Vàm Cỏ Đông, gồm các cơ sở đảng ở quận Thủ Thừa (Tân An), quận Đức Hòa (Chợ Lớn) và quận Hóc Môn (Gia Định). Lúc ấy, tôi công tác với anh em Võ Văn Tần, Võ Văn Ngân và nhiều đồng chí ở Bà Điểm, Hóc Môn trong khi đó chị Hai Sóc (người phụ nữ vóc vạc lớn), chú Voi, (người thanh niên rất nhỏ thó), anh Ngữ (em của Bùi Thủ là bạn thân của tôi hồi ở Toulouse, rồi ở Moscou), anh Đối (một tay nghề võ có tiếng ở địa phương), anh Mười Thinh (ở tại chợ Hóc Môn) và nhiều anh em khác mà tôi đã từng dạy học chính trị trong Khám Lớn, Sài Gòn, hồi thời Mặt trận bình dân. Tôi tin rằng nếu ở Nam Kỳ mà có một trung tâm chỉ huy nào (Xứ ủy hay Xứ ủy lâm thời), khác với Xứ ủy chúng tôi thì nó phải đóng hoặc ở vùng Hóc Môn, Bà Điểm hoặc ở Mỹ Tho chứ không thể ở đâu khác. Mà ở Sài Gòn, ở Mỹ Tho thì dứt khoát là, cho đến đầu 1945, không có Xứ ủy, Tỉnh ủy nào khác rồi. Chỉ còn Bà Điểm, Hóc Môn. Tôi lên đó thì được biết rằng còn một nhóm đồng chí hoạt động ít nhiều nhưng cũng không có Xứ ủy đảng Cộng sản. Tôi bàn với nhóm đồng chí đó là nên thống nhất với chúng tôi. Nhưng các đồng chí xem chừng không muốn, họ nói với tôi là bây giờ không tổ chức đảng nữa mà chỉ tổ chức Việt Minh (?). Tôi lấy làm lạ và cho rằng có cái gì mới đây, và nếu các đồng chí nói đúng thì như vậy là “chủ nghĩa thủ tiêu” (tôi nói tiếng Pháp là “liquidationnisme”) tức là một màu chủ nghĩa quốc gia dân tộc chứ không phải chủ nghĩa Marx-Lenin nữa. Chủ nghĩa Marx-Lenin nào mà lại thay đảng bằng Mặt trận, thay Cộng sản bằng Việt Minh? Xứ ủy Cộng sản thì tôi hiểu ngay chứ làm sao tôi hiểu được “Xứ ủy Việt Minh”. Chỉ có thể có kỳ bộ Việt Minh nếu Việt Minh là một thứ Mặt trận phản đế. Hay là các anh ấy hiểu sai, hiểu lầm những chỉ thị nào đó của cấp trên của họ? Nếu họ hiểu sai, hiểu lầm thì sẽ là may mắn, còn nếu như họ hiểu đúng mà đúng như vậy thì chết rồi, họ đi ngược với chủ nghĩa Marx-Lenin rồi. (Về sau, sau cách mạng tháng Tám tôi mới hay rằng nghị quyết của Hội nghị Trung ương năm 1941 chỉ thị phải đưa Mặt trận Việt Minh ra hàng đầu để cho sự tuyên truyền cổ động về chủ nghĩa yêu nước được triển khai dễ dàng, đảng Cộng sản đứng bên trong mà lãnh đạo một cách khéo léo, chớ tuyệt nhiên không phải lấy Việt Minh thay đảng Cộng sản 1). Tôi trở về Phú Lạc, nhờ Bảy Trân lên Bà Điểm điều tra thêm, Bảy Trân biết anh em, chị em Bà Điểm còn nhiều hơn tôi; Bảy Trân ñi về báo cáo cũng y như tôi đã nghe biết. Mới đáng lo chớ! Nhưng, anh em Bà Điểm hồi đầu 1945, không có thực lực và không có hoạt động gì làm bọn tôi ngại, chớ nếu khuynh hướng “thủ tiêu chủ nghĩa” mà mạnh, dù một chút thôi, thì chắc là bọn tôi sẽ “đấu” dữ lắm, nghĩa là sẽ giải thích cho anh em chớ không thỏa hợp, bọn tôi chủ trương là, y như trước nay, đảng là đảng Cộng sản, đảng Marx-Lenin, còn Mặt trận có thể gọi là phản đế, dân chủ, Việt Minh, hay dân tộc, gì cũng được.
Vào tháng 4, tháng 5
năm 1945, Hà Huy Giáp vượt ngục ở Trung vào Nam nằm ở nhà thương tư Phạm Ngọc
Thạch. Anh Giáp đồng ý với bọn tôi là phải tổ chức Thanh niên Tiền phong; Giáp
cùng chúng tôi đi giảng bài ở một số cơ sở lớp học Công đoàn và lớp học Thanh
niên trí thức. Tôi nhờ Giáp làm cái việc thương lượng thống nhất mà tôi làm
không được. Tôi nói rõ với Giáp là: với giá đắt mấy cũng phải thống nhất, cái
giá đó có thể là tôi - Trần Văn Giàu - từ bỏ chức vụ Bí thư Xứ ủy nếu bên kia đòi hỏi. Cũng không thành công. Vì sao? Các đồng chí “Giải Phóng” trước hết
là Vi và Dự nói: Giàu đầu hàng Pháp năm 1935, đã bán Deschamps cho mật thám
Pháp; Giàu là tay sai của Pháp; ở Tà Lài, Giàu được Pháp biệt đãi; Pháp tổ
chức cho Giàu và đồng bọn vượt căng Tà Lài để phá cộng sản! Cho nên Giàu lập “Xứ ủy Tiền Phong” lấy cờ vàng sao đỏ làm cờ hiệu chống lại “Xứ ủy Việt Minh”
lấy cờ đỏ sao vàng làm cờ hiệu. Phe “Giải Phóng” báo cáo ra Bắc cũng y như vậy: Xứ ủy của Giàu chống đảng! Tôi nghe đâu anh em ngoài Bắc có gửi Bùi Lâm vào
Sài Gòn điều tra tình hình hư thật thì Bùi Lâm về đã nói y như “Giải Phóng”
và nói thêm rằng “Ngay cả thằng Giáp cũng bị thằng Giàu nó mua chuộc mất rồi”.
Rồi từ ngày Thanh niên
Tiền phong xuất hiện, phe “Giải phóng” tặng thêm cho tôi (Giàu) một danh hiệu
mới “tay sai của Nhật”, có người trong bọn họ giải thích: “Đã làm tay sai
cho Pháp được thì làm tay sai cho Nhật cũng được, chớ sao”. Cái nhóm Trần Văn
Vi, Bùi Văn Dự (Giải Phóng) đi tới mức cho người ám sát tôi bằng bất kỳ cách
nào. Theo lời một người đồng chí tên là Võ Văn Thanh con của Võ Văn Tần ở Đức
Hòa, khi ấy được lệnh của Vi hễ gặp Giàu thì có thể chém bằng mác, đâm bằng xà
búp 2, giết chết một tên ở Tà Lài đã ngày ngày cùng sếp căng đi săn bắn, kiếm
thịt rừng ăn nhậu; ở căng Tà Lài cũng như ở bót Catinat đều nằm giường ruột
gà, nệm dày một chống 3! Dựng đứng lên như vậy, mà than ôi cũng có người tin!
Về sau, gặp tôi, Thanh, cũng tên là Sáu Voi (Giám đốc Sở Lương thực Thành phố)
thú nhận kể lại cái sự ly kỳ ấy. Hoàng Quốc Việt biết chán âm mưu đó, nên ở cuộc
chỉnh huấn Việt Bắc, Việt nói với tôi, để bảo tôi “khai thiệt” rằng “anh em để cho mình sống tới nay là may rồi” thế là Việt cũng tin và đã ghìm rằng ở
bót Catinat, Giàu nằm giường lò xo, nệm một chống; ở Tà Lài Giàu xách súng đi
săn, ăn nhậu với sếp Tây; rằng Pháp tổ chức cho bọn Giàu vượt căng Tà Lài.
Hãy ghi rõ điều này. Trước khi Hoàng Quốc Việt vào tới Sài
Gòn, nghĩa là sau Tổng khởi nghĩa, sau ngày độc lập (chiều tối ngày 2 tháng 9),
tôi và Xứ ủy chúng tôi không có nhận được một chỉ thị nào hết của Trung ương. Nếu
sau 9 tháng 3, tôi được đọc một vài tài liệu về Việt Minh ấy là tình cờ do giao
thiệp cá nhân mà có. Không chỉ thị viết, không phái viên nào đến gặp chúng tôi để chỉ thị miệng, nghe nói có vài người vào mà các anh chị ấy không hề gặp Xứ ủy và tôi. Sau, nghe nói có đồng chí Ngoạn vào Sài Gòn, đồng chí ấy bị bắt thì Trần
Văn Vi và Bùi Văn Dự hô lên rằng tôi chỉ điểm bắt Ngoạn ở một địa điểm gần nhà
tôi sau khi gặp tôi. Ghê chưa? Hồi đó, tôi có nhiều nhà. Ai biết tôi ở nhà nào? Và tôi chưa hề gặp một ai từ Bắc vào liên lạc, kể cả Bùi Lâm mà sau này tôi mới
biết mặt. Chúng tôi chỉ tuỳ sức mình, tùy tình hình mà liệu công việc phải làm; cho nên không thể không có sự khác biệt giữa Xứ uỷ chúng tôi và các quyết nghị
của Trung ương, khác biệt nhiều khi quan trọng, nhưng không thể chối cãi rằng về
mục tiêu lớn của Tổng khởi nghĩa cách mạng là đồng nhất.
Nói người này, nói người kia thì bằng cớ ở đâu?
Trong những vấn đề loại này rất khó mà chứng minh. Nhưng cuối cùng rồi cũng vẫn
có thể làm sáng tỏ vấn đề. Tôi nghe phong phanh rằng, hồi 1952, ở Nam Bộ có cuộc
chỉnh huấn; rằng trong cuộc chỉnh huấn này có một đồng chí đã nhận hồi năm
1935, chính mình đã khai bắt Deschamps. Hồi 1952 đó, hình như Ban Tổ chức Trung
ương đảng có điện hỏi Xứ ủy (hay Trung ương Cục) về vấn đề này thì được điện trả
lời rằng, khai bắt Deschamps không phải là đồng chí Giàu mà là một đồng chí
khác. Tôi không được đọc bức điện. Nhưng có mấy đồng chí được đọc, và họ có can đảm nói lên sự thật ấy trong vài cuộc họp hội nghị cán bộ bàn về lịch sử đảng bộ
thành phố Sài Gòn. Tôi mừng lắm, nên có viết thơ cho người đã được đọc điện của
Ban Lịch sử đảng thành phố Sài Gòn, người đó là Lưu Phương Thanh (Phó trưởng
ban Lịch sử đảng thành phố Hồ Chí Minh).
Theo chỗ tôi (Trần Văn Giàu) biết, biết chắc lắm, thì ngay
cả đồng chí D. tức L. cũng không phải là nguyên nhân ñầu tiên của việc bắt đồng
chí Deschamps và một số đồng chí Việt Nam hồi tháng 4 năm 1935. Hồi 1935, sau
khi bị bắt, trước khi bị ñưa ra tòa, Vi, Dựt, tôi (Giàu) và sau đó hỏi ý chị Mười
Tốt (sau này là Nguyễn Thị Thập), chúng tôi nhất trí với nhau rằng thủ phạm vụ
này là thằng thợ Sáu, cũng gọi là Sáu Nhỏ. Thợ Sáu, người Quảng Nam, vào Sài
Gòn không rõ từ hồi nào, nói là làm thợ máy và thật ra thì y cũng biết máy ô-tô
chút đỉnh. Một hôm, chúng tôi còn ở Khám Lớn (vụ trước) thì Sáu và hai người nữa
bị bắt ở Xóm Chiếu vì rải truyền đơn cộng sản, họ bị tù ba đến sáu tháng. Ai vô
tù, bọn tôi cũng huấn luyện chính trị. Vi (Trần Văn Vi tức Biện Vi) lo dạy học
cho ba tay thợ mới vào. Trong ba tay này, Sáu nhanh nhảu hơn hết, chịu huấn luyện đến nửa năm đã có thể làm một cán bộ trung cấp. Vi và Sáu mãn tù gần cùng một
lúc. Ra tù, Vi hoạt động tại Sài Gòn, cộng tác mật thiết với Sáu. Vi làm Xứ ủy
viên, Sáu làm cán sự thành, sau đó kiêm cả liên lạc quốc tế vì nó biết nói chút
ít tiếng Pháp, tiếng Quảng Đông; hàng ngày nó đối phó là chồng chị Mười Tốt,
khi ấy làm việc ở hãng dầu Phú Xuân mà nhà thì ở Bàn Cờ. Trước khi tôi phụ
trách cả Bí thư Xứ ủy và liên lạc quốc tế (những mối liên lạc này chủ yếu do
tôi tạo lập từ khi tôi ở Moscou về Sài Gòn). Sau đó, Dựt ở Tàu về Sài Gòn, tôi
giao liên lạc quốc tế cho Dựt (1934), và Vi giới thiệu thằng Sáu Nhỏ cho Dựt để
lên xuống tàu trực tiếp với các đồng chí Pháp, Trung Quốc, chớ để Dựt trực tiếp
thì dễ lộ bí mật lắm. Công việc bình thường, tàu bè qua lại, báo cáo chỉ thị và
tài liệu gửi đều. Tôi ra nước ngoài vài tháng. Khi tôi trở về Sài Gòn, tháng 3
năm 1935, thì Sáu Nhỏ đón tôi; có Vi có Dựt nữa. Vi bảo Sáu Nhỏ đem tôi gửi tạm
một nơi trước khi bố trí chỗ ở lâu dài. Sáu Nhỏ đem tôi lại ở nhà anh sốp-phơ của
một thằng Pháp xếp hãng rượu Bình Tây, thằng Pháp thì ở đường bây giờ là Võ Văn
Tần; sốp-phơ của nó ở Bàn Cờ, từ đường Verdun (bây giờ là Cách mạng tháng Tám)
vô không đầy một trăm thước, một căn phố gỗ lợp ngói, nhà không có ống nước, phải
xài nước giếng. Tôi về nhà mới một buổi tối, liền đã sanh nghi, bởi vì không rõ
người bên cạnh là ai mà vách bổ kho 12 cho phép người bên cạnh trông sang và
nghe nói. Không thể ở được. Tối hôm đó, tôi ngồi ngoài sân, sân không đèn điện,
chỉ có đèn trời, thấy người nhà bên cạnh ra cùng ngồi chơi mà sao anh ta lại chọn
hai chỗ ngồi lạ lùng, ngó thẳng mặt và ngó cạnh mặt. Chắc nó nhìn theo hình chụp
ở bót để xem tôi là ai, có đúng đối tượng nó phải bắt không? Đêm ấy tôi không
ngủ, đợi tới khuya, lúc có người ta đi gánh nước thì tôi mặc quần xà lỏn, xách
gàu, xách thau ra giếng. Với ý định là “giông” với cái xà lỏn đó, lẩn vài
phút trong bụi rậm của Bàn Cờ, trong xóm ngõ quanh co như trận đồ bát quái thì
thánh mà tìm ra! Nhưng, tôi vừa đặt gàu xuống miệng giếng thì một bầy lính kín đến còng tay tôi. Bị bắt lần này khác với hai lần trước, cò không hề hỏi tôi vậy
tôi ở nhà ai, ai đem lại ở nhà đó, chủ nhà làm gì, tên gì. Cũng không thấy Tây
nó bắt chủ nhà và thằng thợ Sáu. Thế là rõ. Mười ngày sau, Deschamps và một đồng
chí Trung Quốc (làm tàu khác) bị bắt. Thợ Sáu vẫn an toàn! Anh ta lại vào thăm
tụi tôi khi tụi tôi bị thành án. Lạ một điều, theo lời chị Bảy Huệ (sau đó là
Phó trưởng Ban Tổ chức), thợ Sáu vẫn tiếp tục hoạt động và nhà nó lại là chỗ tá
túc của một số anh chị em ta đang công tác! Chị Bảy Huệ nói rằng, lúc đó anh
chị em đã nghi ngờ sự đi về của thợ Sáu mà không biết gì rõ hơn.
1. Chủ nghĩa thủ tiêu: Vì những lý do lịch sử của đảng xã hội Nga trước
Cách mạng tháng mười (đấu tranh giữa phe bôn-sê-vic và phe men-sê-vic), danh từ
“chủ nghĩa thủ tiêu” đã trở thành một điều cấm kỵ tuyệt đối (hao hao giống khẩu
hiệu “Đổi mới mà không đổi màu” của phe bảo thủ trong ĐCSVN đầu thập niên
1990). Người ta hiểu tại sao Trần Văn Giàu chống lại chủ trương “thay đảng bằng
Việt Minh” (một cách hiểu méo mó chủ trương Mặt trận dân tộc thống nhất của
Nguyễn Ái Quốc, từ những người trước đó đã được nhồi sọ về “chủ nghĩa dân tộc”
mà Nguyễn Ái Quốc bị quy kết). Và cũng hiểu thêm những khó khăn mà Hồ Chí Minh
gặp phải ở Moskva khi Stalin tra hỏi tại sao đã “giải tán đảng cộng sản” (thực
ra là rút vào vòng bí mật) và hạch sách “giữa cái ghế của giai cấp vô sản và
cái ghế của giai cấp tư sản, đồng chí chọn cái ghế nào mà ngồi?”).
Nếu không đủ mạnh, mạnh hơn tất cả các đảng
phái khác cộng lại, nếu ta lẹt đẹt trong vòng cô độc, không ai trông thấy lực
lượng hùng hậu của ta mà chỉ nghe tiếng tăm của ta thôi, thì, vào lúc Nhật Bản
bị bại trận, khủng hoảng chính trị xảy đến, các đảng phái quốc gia và giáo phái
sẽ giành chính quyền, chớ ta nhỏ yếu thì làm gì được? Vậy ta cấp tốc phải trở
nên mạnh. Nhưng làm cách nào để trở nên mạnh cho thật nhanh? Hội truyền bá quốc
ngữ, đoàn SET (2) hoạt động công khai, nhưng sức thu hút quần chúng của các tổ
chức đó đều có giới hạn. Những hội biến tướng như tương tế, thể thao, trợ táng,
v.v… thì, lúc này không làm sao tập hợp được đông đảo nhân dân, nhất là không
làm sao xung động được phong trào, không làm sao có sức đưa quần chúng xuống đường
biểu tình theo một số khẩu hiệu chính trị được.
Còn những ý chưa thật rõ, nhưng mà, ta sử dụng công khai hợp pháp thì tất cả đều
rõ làm sao được? Còn thiếu từ cách mạng; nhưng mình đi tới với tay che trán của
mình, che mắt của địch, thì dương từ “cách mạng” sẽ bộc lộ nguyên hình của mình
còn gì? Từ “cách mạng” sẽ từ từ đến sau, đến ngay khi tổ chức đã xếp, khi
phong trào bắt đầu khởi động, nói cho rõ hơn, khi sự chỉ đạo của Xứ ủy thêm chặt
chẽ. Ngày chủ nhật 5 tháng 7, trong cuộc lễ Tuyên thệ Thanh niên Tiền phong lần
thứ nhất (tuyên thệ là một sáng tạo có tác động tâm lý cao, hướng đi tới biến
Thanh niên Tiền phong thành một tổ chức yêu nước nửa quân sự), trước 25 ngàn
thanh niên tập hợp ở vườn Ông Thượng, trong đội ngũ hẳn hoi, thủ lĩnh Thanh
niên Tiền phong bác sĩ Phạm Ngọc Thạch đứng ra kêu gọi thanh niên, và trong lời
kêu gọi đó, anh đã nhấn mạnh vào mục đích cách mạng, tinh thần cách mạng mà mỗi
thanh niên đều phải có.
Lại còn vấn đề chống dịch tả. Nghe nói bệnh dịch tả từ đâu đó sang Miên, từ
Miên sang Nam Kỳ; đông người mắc phải, khắp nơi đều có chết vì bệnh dịch tả.
Thuốc không đủ, không có. Nhân dân lo sợ. Thì Thanh niên Tiền phong nơi nơi
trang bị cho mình mấy lít rượu thuốc trừ tả, theo toa dân tộc củ gừng, củ là,
v.v… nhất là ý chí cứu nạn, cứu khổ cho dân chúng lao động thành thị và thôn
quê. Xảy ra ca bệnh ở đâu thì ở ñó nổi mõ một hồi, một dùi, thanh niên xa gần
chạy tới ngay, đánh gió, xoa bóp, cho uống rượu thuốc. Vậy mà hàng trăm, hàng
ngàn người được cứu sống. Người ta đồn rằng con bệnh dịch tả sợ Thanh niên Tiền
phong. Đồng bào rất cảm kích.
Thật không phải dễ vận động trí thức. Trí thức có nhiều ưu điểm mà cũng có nhiều
nhược điểm lắm, chưa kể đến việc rất quan trọng mà cũng khó khăn là đấu tranh
chống mọi thứ hoạt động của Pháp và của Nhật trong mưu đồ của chúng lôi kéo trí
thức. Decoux mở rộng diện vô dân Tây và dùng một số công chức Việt Nam trả
lương theo ngạch Tây; đồng tiền “hấp dẫn” khá lắm. De Gaulle hứa hẹn tự trị
cho Đông Dương, cố giữ Đông Dương trong khối kinh tế văn hóa Pháp mà trí thức
thì quen thuộc với văn hóa Pháp. Còn Nhật thì hẹn sẽ ban độc lập cho Việt Nam,
cổ vũ cho tính cao đẳng của văn hóa Phù Tang. Có nhiều nhà trí thức Tây học vào
những chính đảng thân Nhật; như giáo sư Hồ Văn Ngà, một bạn thân của tôi, một
trong số 18 người cùng tôi bị trục xuất từ Paris về Sài Gòn hồi 1930.
Tôi nhớ một chiều tối năm 1943, một thanh niên Phú Lạc,
giỏi võ, chở xe đạp tôi đến nhà bác sĩ Hồ Tá Khanh ở góc đường
Pellerin-Colombert (10) ngó ra vườn cây sao trước dinh toàn quyền. Tôi vào một
mình. Bấm chuông. Người nhà ra hỏi ai. Trả lời: Bạn cũ từ bên Pháp đến thăm. Cửa
mở. Khanh ngó tôi một giây rồi khẽ kêu: Giàu, anh Giàu! Lâu nay tụi mình không
gặp nhau! Khanh không thay đổi mấy, cặp mắt xếch một chút, người cao cao, ăn
nói có duyên, lịch thiệp, con của nhà chí sĩ trong Duy Tân hội (Hồ Tá Bang),
kinh doanh nước mắm ở Phan Thiết. Khanh nguyên là sinh viên y ở Marseille, bây
giờ là bác sĩ nhi khoa nổi tiếng nhất ở Sài Gòn. Anh biết tôi vượt ngục. Hình
như kỹ sư Phan Hiếu Kinh đã nói nhỏ với anh là có gặp tôi làm thợ hồ ở Đà Lạt.
Tôi tranh thủ thời giờ để sau khi hỏi thăm qua loa, nói vắn tắt về tình hình và
nhiệm vụ. Khanh hỏi tới đâu, tôi trả lời đến đó. Câu chuyện giết hết nửa giờ
thì tôi xin từ giã. Khanh bảo tôi ngồi chờ một chút. Anh đi vô buồng. Tôi hơi
lo. Ông ấy đi đâu? Nếu nghe tiếng chuông tê-lê-phôn thì tôi sẽ nhảy liền.
Nhưng chỉ nghe tiếng mở tủ sắt. Khanh trở ra salon, đưa tôi một cái phong bì no
nóc. Anh nói: “Đây là số tiền còn lại của báo Văn Lang mà tôi là thủ quỹ. Văn
Lang chết, tụi tôi làm tuần, làm giỗ cho nó, ăn mãi chưa hết; nay còn bấy
nhiêu đây. Thay mặt anh em, tôi trao cho anh làm việc có ích”. Tôi cám ơn và hẹn
sẽ trở lại nhưng không biết chừng nào, chắc là còn lâu. Tháng 4 năm 1945, tôi gặp
lại Khanh một lần nữa khi Trần Trọng Kim mời Khanh làm tổng trưởng Bộ Kinh tế;
khi ấy Khanh nhắn tôi đến nhà anh để hỏi coi có nên hay không nên nhận lời mời ấy
(11), sự thật là để báo tin cho tôi rằng anh sắp ra Huế.
Trích đoạn này cho thấy rõ
Hoàng Tùng không ưa gì Trần Văn Giàu, do đó, khi ông nói rằng đến ngày họp hội
nghị Tân Trào (16 tháng 8.1945), bà Nguyễn Thị Thập vẫn chưa ra tới Hà Nội, điều đó không phải nói ra để “bênh vực” Trần Văn Giàu.
Vũ trang thì có hai thứ: Vũ khí thô sơ thì dễ kiếm, ai cũng có thể có như mác thông, tầm vông, vạt nhọn, đao kiếm, mũi chĩa, xà búp, phảng kéo ngay ra, nhân dân tự vũ trang lấy. Thứ này coi vậy mà cần lắm, không phải vô ích đâu, xem thường không được. Nhưng, ở cái thời kỳ kỹ thuật máy móc này, rõ ràng quả là những vũ khí thắng quân Tống, đánh Nguyên, đánh Minh, diệt Thanh không đủ nữa. Cần phải có súng đạn càng nhiều càng tốt để trang bị cho các lực lượng xung kích, cần có tinh thần cao mà cũng phải biết sử dụng mấy loại súng nhỏ hiện đại. Khỏi cần phải bàn cãi.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Có một Phan Hoàng say đắm nước Nga
Có m ộ t Phan Hoàng say đ ắ m n ướ c Nga (Nhân đ ọ c chùm 10 bài th ơ 1-2-3 c ủ a nhà báo - nhà th ơ Phan Ho à ng) Tôi yêu v ă n h ọ c N...
-
Tản mạn về những yếu tố tình dục trong văn học Việt Nam Nghĩ đến tình dục, hay quan hệ tình dục (tiếng Anh: sexual intercourse), còn gọi là ...
-
Một chút tình thu (Mùa Thu trong thi ca VN) Tôi có điều may mắn là trong mười năm làm giáo sư trung học (1958-1968), dạy môn văn ch...
-
Vạch tính chất phản động của bài "Nhất định thắng" của Trần Dần Sau tám mươi năm bị địch giày xéo và sau mười lăm năm bị chiến t...
.jpg)















.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét