Tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời” của nhà
văn Tô Hoàng do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1991. Theo tác giả:
“Sách ra quầy chưa bao lâu thì anh Bùi Khởi Giang viết bài này. Thuở ấy, trong
những bài nhận xét, phê bình cuốn sách, tôi thích nhất bài của anh Giang. Bởi
nó bắt “đúng mạch” người viết và những gì tôi muốn tâm sự với bạn đọc. Sau
đó, cả anh Giang lẫn tôi đều không lưu giữ được bài viết này. Rất gần đây, anh
Giang tìm ra và gửi cho tôi.
Không có điều gì đáng khoe khoang về một cuốn sách, lại ra đời khá lâu rồi. Đọc
bài anh Bùi Khởi Giang viết bây giờ, tôi bỗng giật mình vì một lẽ khác: Các
nhân vật của tôi sống vào những năm đầu thập kỷ 1980. Sách ra vào năm đầu thập
kỷ 1990. Đã hơn 30 năm nước chảy dưới chân cầu, đã bước qua năm 2018, thế mà hình
như cả bạn và tôi vẫn đang trải qua tâm trạng “lạc loài”, sống ngay trên
quê hương mình mà vẫn luôn phấp phỏng, âu lo như sống nơi xứ lạ; vẫn không yên ổn,
chơi vơi, không hề cảm thấy có một sự chằng néo, một tay vịn chắc chắn nào…
Tôi muốn chia sẻ cảm giác này với các bạn của tôi”!
*** Lần ấy, Tô Hoàng cầm bút viết liền một mạch cuốn tiểu thuyết
đầu tay của mình. Không biết tiếng kêu có thấu trời hay không nhưng quả nó đã
thấu được tấc lòng người đọc, đã đồng vọng trong những lương tri biết cả tự hào
lẫn hổ thẹn khi một lần cúi đầu suy ngẫm.
Cuốn tiểu thuyết của Tô Hoàng không phải là cuốn đầu tiên viết về những người
Việt Nam làm việc và học tập ở Liên Xô (cũ) như một nhận xét lầm lẫn ở đầu
bài viết mới đây của một tác giả nào đó.
… Trước anh đã có bốn, năm người khai thác đề tài này. Thành công, đóng
góp của Tô Hoàng là ở chỗ anh đã vượt qua được nỗi bức xúc mang tính tân văn,
thời sự và cái mầu sắc hiếu kỳ viễn xứ của đề tài, vượt qua được sự trang trải
có tính chất tự nghiệm của bản thân cho những năm tháng du học của mình, để thực
sự đem lại cho người đọc một nỗi ám ảnh lo âu và những dự cảm bất an về những mảnh
đời, những thân phận của những nhân vật trong tác phẩm. Những cảm xúc khi tiếp
nhận ấy của người đọc, lâu nay thường vẫn là một trong những dấu hiệu mách bảo
một sức sống lâu bền của một tác phẩm văn học.
Để ý một tý ta sẽ thấy các nhân vật người Việt trong tác phẩm của Tô Hoàng đều
có một vẻ lạc loài day dứt, tồi tội. “Biết thân đến bước lạc loài” (Kiều),
nhưng lạc loài không phải chỉ vì họ bị bứt khỏi đời sống cộng đồng ở quê hương
để rồi phải “tha phương cầu thực nơi đất khách quê người” trong một cộng đồng
người Việt mới ở hải ngoại, trong một cuộc lựa chọn dù có phần hợp lý nhưng vẫn
là bất đắc dĩ. Ngay như “ông Bỉnh đã xấp xỉ năm mươi, dạo còn ở bên nhà nghe
đâu cũng đã thuộc hàng cán bộ cấp vụ cấp cục. Ông ta ở bên này giữ chân đại diện
tại khối SEV (tổ chức hợp tác kinh tế giữa các nước thuộc phe XHCN) đâu đó đã
ba nhiệm kỳ, như thể trong nước không tìm được ai xứng đáng hơn thay thế ông ta
nữa” (tr.61). Nhà ngoại giao chuyên nghiệp ấy đã biết tạo cho mình một cuộc sống
thoải mái cả trong công việc lẫn đời sống riêng tư. Trong công việc, với “những
gì ông ta đang thực thi tại SEV”, ông tự nhận thấy “mọi trù liệu hoạch định mà
bản thân ông cùng các đồng sự của ông đang nặn óc ta từng ngày từng giờ, so với
hiện tình mà dân ta đang phải đối mặt chỉ là trò “mèo cào sân gạch”. Vì vậy,
“không chịu chết chìm cả lũ với nhau”, ông tìm ra một giải pháp mà cũng là một
triết lý sống cho riêng mình: “thì ai có điều kiện, có hoàn cảnh cứ bơi vào bờ
đã. Để con thuyền Nôe kia vơi nhẹ đi. Còn hơn là cứ dăng díu, co quắp lấy nhau
cho sóng biển nhận chìm cả sao?”. Vì vậy ông ta “lạc loài”, buôn lậu.
Vì vậy, ông ta thoải mái “không cần che đậy vờ vịt”, quan hệ bất chính với Liên
“hệt như một cặp vợ chồng”, bởi “ông chồng của bà này thì hám quyền lực, còn bà
vợ tôi thì chỉ hám tiền thôi… Họ biết bám lấy những giá trị thực, còn hai chúng
tôi chỉ bám lấy những giá trị giả, tức thú tiêu dao tháng ngày”(tr.63). “Tiêu
dao” như thế nhưng ông ta vẫn cảm thấy lạc loài khi nhớ mình “vẫn là thằng dân
của nước Việt Nam” trong những chuyến công cán đây đó, với tư cách nhà ngoại
giao nơi hải ngoại, khi chợt nhớ đến cái thân phận phải đóng một lúc mấy vai trong
quan hệ với Liên: “Một anh chồng hờ, một chàng đầu bếp, một con vú em”. Nói chi
đến những Phương, những Liên, những Duy, những con người ngơ ngác lạc loài thực
sự trong truyện. Liên lạc loài giữa hai nỗi chán chường vô vọng. Khinh bỉ chồng
vì thói bon chen, dốt nát đớn hèn “nhưng lại muốn cưỡi đầu cưỡi cổ thiên hạ”,
chán chồng ví “cái cảnh miếng ăn chưa vào miệng đã bị giật ra” trong đời sống
chăn gối, cô bỏ sang đây “bồ bịch cho nó đã đời”. Bậm trợn, huỵch toẹt như thế
nhưng rốt cuộc Liên đã phải bật lên nức nở, tức tưởi: “Tôi chán ngấy tận cổ cuộc
sống vạ vật ở bên này rồi, nhưng về nước tôi còn ghê tởm khủng khiếp hơn”. Cô lạc loài giữa sự bất lực mà hãnh tiến của người đàn ông ở
nhà và sự phá bĩnh đàng điếm của Bỉnh, người đàn ông ở đây. Lạc loài trong nỗi
cô đơn của một chuyến ra đi không thành, cô tìm an ủi trong một lần lạc loài cuối
cùng, vô vọng ở “mười bốn giờ lơ lửng giữa không trung chả là người của quốc
gia nào cả” trong chuyến bay về nước với chồng con, khi bước qua barie cuối
cùng ở sân bay Seremechievô và trước khi tới Nội Bài (tr.177). Thông minh nhưng nhẫn nhục, cam chịu, Phương, cô bạn gái cùng
phòng của Liên cũng từng thấm thía nỗi cô đơn lạc loài như thế, nhưng không “
sang trọng phù phiếm” như Liên, mà nhọc nhằn trong mối toan lo miếng cơm manh
áo đời thường. Khác với Liên, cô sang đây để “làm kinh tế”, để cứu vớt nền kinh
tế ọp ẹp của gia đình. Vì chồng con, cô tự nguyện lấy những chiếc nồi hầm,
những viên thuốc kháng sinh, những chậu nhôm làm mối quan tâm lo lắng thường nhật
của mình. Khi gặp Duy, người tình đầu đời dang dở, cô lại tình nguyện gánh vác
thêm cái gánh nặng kinh tế của gia đình Duy bên nhà. Tiểu thuyết “Ngửa mặt kêu trời” của Tô Hoàng in chung với tiểu
thuyết “Kẻ ám sát cánh đồng” của Nguyễn Quang Thiều trong tủ sách “Văn học thời
kỳ Đổi mới” do NXB Hội Nhà văn ấn hành năm 1991
Thông minh thào vát và chủ động là thế, “nhiều lúc Phương cảm thấy ngoài những
ngày tất tưởi đi lùng sục hàng ra, còn hệt như chị bị cắt đứt mọi mối dây dợ gắn
bó chị với cuộc đời, chị như người sa chân rơi xuống đáy sâu của một khe hẻm thật
ắng lặng, thật yên tĩnh, chị nằm dưới đáy mồ chờ cái chết đang đến dần dần”…
(tr.76) . Và thật khủng khiếp, cô đơn lạc loài tột đỉnh, khi một lần đi mua
hàng với Duy, lúc hai chồng chậu nhôm đứt dây buộc, “những chiếc chậu bắt ánh nắng
sáng loang loáng nhảy tâng tâng trên nền gạch lát nghiêng ở công viên rồi lăn
đi tứ phía”, ngượng và nhục, anh chàng họa sỹ đã túm lấy tóc chị, mắng chị vô lối
và oan ức: “Cút mẹ nó đi cho khuất mắt, thật là vô sỉ” (tr.30). Tô Hoàng dừng
lại ở đấy , kể sang chuyện khác, không để cho Phương phải khóc. Nhưng người đọc,
nhất là những ai đã từng có dịp qua Liên Xô hay những nước XHCN Đông Âu trong
những năm qua, hẳn không khỏi thấy cay nhức nơi sống mũi. Thương cho
Phương, thương cả cho mình. Và thương cho Duy nữa, cái anh chàng họa sỹ lạc
loài “lúc nào cũng khép kín, im lặng trong nỗi cô đơn của mình”, như lời nhận
xét của giáo sư Nataxon. Anh đã mắc phải căn bệnh nguy hiểm nhất của thời buổi
này” là “không chịu giao tiếp, cứ khép kín những mặc cảm riêng tư lại”, vẫn như
lời giáo sư Nataxon nói với Phương. Anh lạc loài, lủi thủi trong “ngôi mộ Tào
Tháo” (tr.51) của mình vì những mặc cảm tự ti, thấy mình không đủ điều kiện hội
nhập với nền văn hóa nghệ thuật chung của nhân loại. Anh chưa được chuẩn bị đầy
đủ cho cái ngày hôm nay, để được thoải mái ngang ngửa với đám sinh viên Hy Lạp,
Bắc Âu, Ả Rập bạn mình.
Anh đã lỡ nhịp bởi tuổi trẻ và niềm say mê nghệ thuật của anh đã dành cho chiến
tranh, cho những tháng ngày nghiệt ngã. Những ngày đó, khi anh có tranh được
mang ra tận Hà Nội triển lãm, cấp trên của anh vừa ngỏ ý muốn cho anh ra
nước ngoài học tập, lại cũng muốn điều anh trở lại chiến trường tham gia một
chiến dịch lớn sắp mở ra. Họ thử tinh thần anh mà anh không hay. Anh đã thật
thà bày tỏ nguyện vọng được ra nước ngoài học tập.
Và thế là một cơ hội bị tước đoạt và tương lai đóng sập lại trước mắt anh: Anh
phải nhanh chóng trở lại chiến trường vì “quan điểm, lập trường đánh Mỹ chưa
triệt để”. Để anh chịu thêm 3 năm đạn bom, bệnh hoạn, cơ cực nữa. Và khi sang
Nga lòng dạ anh đầy u uất, hoài nghi, buồn nản; anh không còn độ tươi tắn, nhạy
cảm của tuổi đi học. Nhưng rồi trái tim quả cảm của người lính vừa bước ra khỏi
cuộc chiến cũng không khỏi ngại ngần tìm một giới hạn bình an trong sự “ngưỡng
thiên”nghệ thuật của mình. Khi nghe giáo sư, người thầy bằng tuổi mình tỏ thái
độ phẫn nộ trước quan điểm xô vanh nước lớn, muốn áp đặt mô hình Xô viết
lên các nền văn hóa nghệ thuật của những nước gửi sinh viên sang học tập ở Liên
Xô, Duy đã nhận xét đượm buồn: “Ví như nhà trường Xô viết có đặt ra những
mục tiêu như vậy, nhưng vị tất đám sinh viên Hy Lạp, Bắc Âu, Ả Rập của
giáo sư đã tiếp thu khi mùa hè nào họ cũng đủ tiền bạc để sang chơi bên Ý bên
Pháp, bên Mỹ. Còn chúng tôi sang đây là cùng đường rồi. Sự “ngưỡng thiên” của
chúng tôi cũng chỉ giới hạn ở đây”(tr.170 – chúng tôi nhấn mạnh). Như vậy là rốt
cuộc, Duy còn bị lạc loài ngay trong cái “sự ngưỡng thiên” của mình. Điều thú vị
là, giáo sư Nataxon, người thầy bằng tuổi Duy, người đã nhìn thấy bằng tấm lòng
cảm thông, sự lạc loài của Duy giữa đám học trò quốc tế của ông, đến lượt mình,
hình như cũng là con người lạc loài ở xứ sở quê hương, bởi những quan điểm và ý
tưởng nghệ thuật của mình.
Dễ thấy một điều, dường như tiểu thuyết của Tô Hoàng không có nhân vật nào hoàn
toàn xấu, vậy mà câu chuyện vẫn không rơi vào hời hợt dễ dãi. Dù hành lạc trắng
trợn và trần tục như Bỉnh, Liên; dù vị tha phần nào thánh thiện như Phương hay
dù gian truân vật vã khi đánh mất mình rồi tìm lại được mình, để cuối cùng vĩnh
viễn mất mình trong cái chết êm ái mà oan khiên định mệnh như Duy, những nhân vật
của Tô Hoàng đều rất thành thực với chính mình, thành thực đối diện với bản
thân mình. Vì thế bên dưới cái dòng chảy tự sự của những câu chuyện sinh hoạt đời
thường dung dị, có lúc tục tĩu, là một mạch ngầm xiết xoáy những nỗi niềm day dứt,
thảng thốt như là sám hối. Chiều sâu triết luận của câu chuyện nằm ở chính cái
mạch ngầm sám hối này. Cái đêm không ngủ trần truồng của Liên trước ngày về nước
là gì nếu không phài là một lời sám hối đau đớn? Sự chăm sóc muộn màng và cảm động
của Phương dành cho Duy những ngày ở Liên Xô như muốn bù đắp cho người yêu đầu
đời của mình những thiếu thốn do sự vắng mặt trước đây của mình, hành động ấy
khi điềm đạm khi cuồng nhiệt, nhưng vẫn chỉ là một lời sám hối dịu dàng khắc
khoải vì vô vọng. Còn mối tình của Duy với Nadia, cô gái Nga “lạc loài” có
tên là Hy vọng, mối tình đạt tới tuyệt đỉnh của niềm ao ước và sự mãn nguyện ấy
cũng có gì khác hơn lời sám hối tuyệt vọng trong cơn hấp hối của Duy. Có một lời
sám hối nữa, như chung cho cả Duy lẫn Phương, và phần nào cho cả những người
như Liên: “Tựa như họ chưa từng sống, chưa từng yêu, chưa từng bao giờ được
thanh thản nhẹ nhõm trong những dự định, những ý nguyện riêng tư. Tựa như họ
sinh ra trên cõi đời này là để trù liệu những biến cố dữ dằn, những mất mát
chia ly họ phải gánh chịu, tiếp đến là những phấp phỏng âu lo… những phấp phỏng
âu lo quá đỗi tầm thường suy cho cùng cũng chỉ để cốt có miếng ăn đổ đầy miệng,
manh áo đắp lên thân…” (tr.84)
Hãy yên nghỉ, anh Duy. Đừng giật mình vì tiếng thét của Igor tốt bụng khi thấy
nhân viên hải quan Nga ở sân bay lạnh lùng, tàn nhẫn dốc ngược chiếc bình đựng
đám tro thân xác anh: “Đồ man rợ, chúng mày mất hết nhân tính rồi sao ?”… Hãy
yên nghỉ, đừng giật mình, vì Phương dịu dàng, thông minh và quả cảm của anh đã ở
bên anh, đưa anh về với Đất Mẹ.
Hãy yên nghỉ , vì cái chết của anh đã là lời sám hối cuối cùng, day dứt ám ảnh
và đau đớn của những con người trung thực, “biết thân đến bước lạc loài”!. Tp. HCM, 31/4/1992 Bùi Khởi Giang Nguồn: Bài đăng trên Tập san Văn hóa và Đời sống, số chuyên đề Những linh hồn bị ruồng bỏ, tháng 6 năm 1992 Theo https://vanchuongphuongnam.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét