"Tạ" - Bờ bên kia của sáng tạo
Cầm trên tay thi phẩm
"Tạ" (NXB Hội nhà văn, năm 2018) của nhà thơ Trương Vũ Thiên An,
lòng tôi trăn trở với bao cảm xúc...
Đây là thi phẩm đặc biệt vì được ra đời trong cuộc chơi đầy
thân phận của một người đang cơn bạo bệnh nhưng lòng vẫn còn bao hy vọng, khát
vọng được tận hiến với đời, với thi ca và thiên chức làm thầy. Bằng thế đứng của
một người chiến thắng định mệnh, nhà thơ Trương Vũ Thiên An đã đi đến sự tự do
tuyệt đối. Không sợ hãi, không bi lụy mà tha thiết, say đắm yêu đời, yêu người.
Anh như thách thức với căn bệnh hiểm nghèo mà anh đã tự gọi một cách rất lạc
quan "em đã tỏ ra bí mật nhưng tôi đã biết tên em: em là K". Hơn nữa,
đây cũng chính là cuộc cuốn lại một số bài trên lối về vừa hồn nhiên vừa chín đằm
của một đời thơ.
Trước hết, nhan đề thi phẩm là một sự tạ ơn, tạ ơn cuộc đời
bao thương mến mà mẹ cha, vợ con, bạn bè, học trò đã dành cho anh. "Tạ"
là bản hợp âm hòa trộn của nhiều cung bậc cảm xúc. Là sự chạm khắc của một cái
tôi luôn ý thức về sự cách tân, đổi mới thi ca: "Những tác phẩm như
những con tàu mà lòng tôi là một sân ga/ Tàu đến/ Lòng tôi mở của.../ Tác
phẩm đi qua bóng đèn nhỏ lệ/ Khống chỉ một hồi còi giữa ga không" (Đêm
sân ga).
Với Trương Vũ Thiên An, tác phẩm như là một hành trình, hành
trình sáng tạo vừa thăm thẳm cô đơn, vừa đớn đau thống thiết, vừa hân hoan hạnh
phúc. Để có được những câu thơ hay, những bài thơ ấn tượng, người thơ đã sống
sâu sắc với từng cảm xúc đi qua đời mình: "Mười năm làm
thơ/ Không chống nổi bốn mươi năm làm đời/ Bài thơ đóng lại/ Ngoài
ngõ có sương rơi/ Mặt trời trong thơ là mặt trời của lòng tôi/ Mỗi sớm
đi qua một ngày nhân hậu/ Đi qua tôi/ Mọc lung linh một cành hồng thấm
máu.../ Ôi một ngày bằng mười năm thơ/ Có những bài thơ viết mười năm
chưa đủ/ Có những câu thơ đến phút cuối cuộc đời chỉ mới vừa ấp ủ" (Bài
thơ qua ngõ phố).
Những câu thơ đẹp lạ bởi ý tưởng và cách bày tỏ. Sáng tạo thi
ca luôn vẫy gọi người thơ dấn thân trên cánh đồng chữ nghĩa và biển tư tưởng
mênh mông. Thi ca vượt lên thời gian, vượt lên sự phi lý để hiện hữu như niềm
vui bất tận của đời người. Vì cuộc đời thực là hành trình của biết bao mất mát
và buồn đau. Nỗi đau buồn trong thi phẩm bắt đầu từ cảm thức ly hương: "Mẹ
không dắt tôi vào mà em dắt tôi/ Và rón rén sau tôi là định mệnh/ Tôi
nhiều quê nên không có quê nào cả/ Trong buổi họp tộc dòng không ai đọc
tên tôi/ Trên lối về cầu ngói Thanh Toàn tôi đạp trượt chân tôi/ Đôi khi
ngồi thu lu một mình trên Chùa Cầu như con khỉ/ Chỉ mây trắng trắng một
màu tự kỉ/ Bay tự thế kỉ trước về đắp mặt tôi đi" (Hợp âm).
Vẫn còn nơi đây nỗi lòng người gác chân lên cô đơn. Chân dung
anh tự họa là sự trộn lẫn của hai dòng văn hóa âm thầm chảy, âm thầm kiến tạo
là Huế và Quảng Nam: "Tôi là hợp lưu của hai dòng Huế Quảng". Để
rồi, từ đó người thơ ước nguyện: "Tôi cứ sống như một ngày chim đến/
Tha tôi về nhả hạt giữa làng quê". Ở người thơ, có sự tài hoa, lịch
lãm của người con đất kinh kỳ, đất cố đô vừa có sự chân thành, táo bạo của xứ
Quảng - quê hương của Ngũ Phụng tề phi, của những tư tưởng đổi mới từ Phan Châu
Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi...
Dẫu cuộc đời bao sóng gió, trải qua bao suy tư, chiêm nghiệm,
người thơ vẫn giữ được niềm tin yêu nồng nàn với nhân gian, với mảnh đất ân
tình xứ Quảng. Xứ Quảng trong thơ anh lấp lánh nghĩa tình, lấp lánh sắc màu
hương vị. Một trong những bài hay nhất tập thơ, theo tôi đó là bài Thổ cẩm:
"Người phụ nữ Cơ Tu dệt tình vào phiên chợ mai
Gùi một gùi sương đi tìm tiếng hú
Tìm bông tìm gai tìm vỏ cây sui bên hông con suối
Giấu mặt trời vào giấu bếp lửa vào giấu tiếng con chim vào
Cộm tấm thổ cẩm ngàn năm
Mẹ dài chân căng rừng thiêng vào tôi căng tôi vào khung dệt
Cả làng tôi cùng kéo sợi dài
Tôi là hoa văn của mối tình đau
Tôi là tấm thổ cẩm thịt da mắt mịn chiều đông mà đêm sờ nóng
hổi
Mẹ dệt tôi vào những tấm khung nang
Những phụ nữ làng tôi dệt chồng vào váy
Những đứa như tôi dệt vào sương rẫy
Chúng tôi bện tay nhau thành tấm vải giăng ngang
Thành sợi tơ làng cầm chân lữ khách
Thành tình yêu có tên ngũ sắc
Mai gió mùa mẹ còn vén khung đau
... Làng tôi đứng bên suối Tà Lu
Gió núi dệt làng tôi vào thị trấn Prao thành sợi
Những đôi chân dài của phụ nữ Cơ Tu biết nói
Bài thơ gây ấn tượng mê hoặc về ngôn ngữ và thi ảnh. Cách điệp
từ "dệt" tài hoa và độc đáo làm nên ý tứ kỳ diệu. Một làng quê Cơ Tu
giàu truyền thống văn hóa với vẻ đẹp của những đôi tay thần kỳ dệt thổ cẩm, cái
hồn, cái thần của đất và người như lung linh trong cái nhìn say đắm của thi
nhân. Không câu nệ vào ngữ pháp, bài thơ như dòng chảy của trực cảm, thách thức
mọi giới hạn của sự gò bó câu chữ, tươi mới và lạ lẫm trong cách cảm. Để tư tưởng
về tình yêu quê hương đất nước được xác tín qua chính việc giữ gìn những vẻ đẹp
riêng về văn hóa bật lên ở cuối bài: "Căng cuộc đời mình thành Tổ quốc
trên khung". Đọc thơ anh, hạnh phúc vì không có sự sáo mòn, cũ kỹ của ngôn
ngữ. Viết về những địa danh quen thuộc thân thương như Tam Kỳ, Núi Thành... nơi
anh đã sống những tháng ngày đẹp nhất của một đời người làm thầy bằng con mắt rất
riêng: "Tháng ba chưa về mà hoa sưa đã sưa/ ba dòng sông chở mùa
ra với bể/ mùa hoa về rồi vàng thì cũng vàng rồi mà em lênh
đênh/ Tháng ba có về nhúng giữa thời gian/ Mà nhuộm ướt những ngả đường
mộng mị màu hoàng yến" (Thành phố màu hoàng yến).
Và còn biết bao nhiêu câu thơ hay ám ảnh người đọc về những
nơi anh đã đặt chân đến trên quê hương Quảng Nam: "Mộng đã tan rồi,
mưa bay về cuối núi/ Chiều đáy thung ta chạm một đỉnh sầu"(Chiều đáy
thung); "Lá đỏ nửa triền đá dựng/ Chiều cũng vừa lanh canh lanh
canh" (Bậu có về đèo Le).
"Tạ" còn là hợp âm của những nỗi niềm một người
con, một người cha, một người chồng, một người thầy. Ở đâu và bao giờ cũng hiền
từ, đức độ, mực thước. Người thơ nhân hậu đã hát lên rằng: "Tôi à ơi
với cuộc đời yêu thương bão nổi/ Trong mỗi chữ tôi cũng có một cuộc đời".
Hành trình sáng tạo là hành trình yêu thương, của cho và nhận. "Tạ"
như một niềm tin yêu gửi lại với bạn bè, với tháng năm để xác tín rằng người
thơ đã đến và đã sống một đời đầy ý nghĩa cùng chúng ta.
HUỲNH THU HẬU




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét