Đêm trăng xứ Mường
Hàng trăm bó đuốc rực cháy soi thứ ánh sáng mờ đục lên gương
mặt bừng bừng sát khí của đám gia nhân nhà Lang Bùi Công. Những gã đàn ông thủa
nào chỉ quen cuốc cày, cung nỏ săn bắn, bây giờ tay gươm tay giáo mê muội đâm
chém đốt phá.
Trên lưng con ngựa màu đen người đàn ông khua mũi giáo lùa
đàn chó săn đánh hơi sục sạo kiếm tìm nơi bờ bụi bằng những chiếc lanh nhọn hoắt.
Thanh đao trên tay ông sắc lẹm chém ngả rạp những thân cây.
Tôi nhai đám lá rừng đắp lên mặt Quách Ngọc Dung cầm máu vết
thương cho nàng. Giọt huyết lệ từ khóe mắt nàng chảy xuống bàn tay tôi. Bàn tay
đang ôm ấp chở che nàng cũng là bàn tay gieo rắc những tai họa giáng xuống gia
đình nàng.
Ánh trăng trung tuần vằng vặc. Tôi nén đau từ vết thương nơi
bàn chân bò lên phiến đá khắc hình con phượng hoàng cạnh giếng nước gần nhà
Lang Quách Ngọc. Đêm thanh vắng, cơn gió đêm bứt chiếc lá vàng khẽ khàng chao
rơi xuống giếng thiêng. Nằm trên phiến đá tôi vẫn nghe như gợn nước dưới giếng
sâu nhắc lại lời cha nuôi vọng về từ Mường Động. Giếng nước này ví như rốn rồng
hấp thụ linh khí trời đất thu về nguồn tài lộc thịnh vượng cho gia đình nhà
lang Quách Ngọc. Một lần say ông bảo, là người nhà Lang Bùi Công thì không để
ai được phép hơn mình và phải lấy lại những thứ quý giá bị người khác cướp mất.
Năm ấy, vó ngựa hai người con trai nhà Lang Mường Rụng và
Lang Mường Động cùng dừng lại trước cuộc thi bắn nỏ kén rể nhà Lang Mường Vang.
Gần trưa, mặt trời lên cao hơn đỉnh núi thiêng Đá Bạch. Nắng gay gắt nhưng trai
bản gẩn bản xa vẫn đến thi tài ngày càng đông. Đám đông xô đẩy chen lấn tranh
giành khi biết lệ thi tài không phân biệt thường dân hay dòng dõi quan lang.
Trai bản gần bản xa đã bao người thử sức gài tên, kéo dây, bật lẫy, nhưng mũi
tên nhà thường dân chẳng đủ danh giá để chạm hồng tâm trên tấm bia đặt phía bìa
rừng.
Trên lưng ngựa, hai chàng trai trộm thấy nhan sắc xinh đẹp của
con gái nhà Lang Mường Vang cũng nhập cuộc so tài. Ba mũi tên của con trai nhà
lang Mường Rụng bắn trúng hồng tâm trên tấm bia treo phía bìa rừng. Hai mũi tên
của cha nuôi cũng trúng hồng tâm chẳng kém tài. Lần bắn cuối cùng, cha nuôi vừa
bật lẫy nỏ thì có một cơn gió thổi đến lái mũi tên chệch hồng tâm găm vào thân
cây. Năm ấy, ông buồn bã trở về Mường Động mang theo mối hồ nghi rằng con trai
nhà lang Mường Rụng đã nhờ thầy mo yểm phép đổi hướng gió. Ông bẻ mũi tên thề độc
sẽ trả thù.
Tròn 18 tuổi cha nuôi đưa tôi đến đây, ông giương nỏ bắn mũi
tên vào bàn chân tôi. Ông bảo: Ta đã cho người thăm dò, tối nay con gái lớn
nhà Lang Quách Ngọc sẽ ra đây múc nước. Chắc chắn Ngọc Dung sẽ có cách chữa khỏi
bàn chân cho con. Chỉ có máu mới lay động trái tim một đứa con gái có trái tim
nhân hậu. Con hãy dùng tất cả tài năng pháp thuật chiếm lấy trái tim của nó.
Ông ném chiếc túi khót về phía tôi rồi kéo cương ngựa vút đi. Tôi đau đớn nhoài
người nhặt chiếc túi khót ông đã cướp từ người thầy cuối cùng của tôi bằng địa
vị và quyền lực.
Trong cơn mê tỉnh nơi bàn chân tôi như vẫn nghe thấy tiếng thầy
mo dạy tôi bùa yêu, lời lão gào hun hút trong gió đêm khoét sâu vào trí óc tôi:
“Hãy lấy ba sợi tóc của Ngọc Dung làm chỉ khâu, đọc bùa chú rồi xâu qua chiếc
kim, thêu tên tôi và nàng lên tấm khăn đội đầu màu trắng của nàng”. Khi ấy trái
tim nàng sẽ mãi mãi thuộc về tôi kèm theo thứ tình yêu đầy ma mị.
Cơn gió đêm vừa thổi thêm những chiếc lá vàng rụng xuống phủ
lên người tôi. Có tiếng lá khô xao xác vỡ vào bước chân cùng câu hát khe khẽ
vang: “Gáo với giếng nước trong múc ánh trăng vàng…” Nhìn thấy máu từ bàn
chân tôi chiếc gáo dừa trên tay Ngọc Dung rơi khô khốc. Nàng chạy đến nâng tôi
rồi hái đám lá mọc bên thành giếng cầm máu cho tôi. Nàng gọi người dìu
tôi vào nhà, đặt tôi nằm lên tấm phản lim cạnh bếp lửa.
Những đêm nằm trên tấm phản lim nghe ngọn lửa sưởi ấm lòng.
Tôi dối lòng nói với Ngọc Dung rằng cha tôi là một thầy mo nổi tiếng được cả xứ
Mường Động trọng vọng. Trong một lần cùng cha đến thăm người bà con xa xứ Mường
Bi, tôi và cha bị cướp đuổi chạy vào rừng. Tôi trúng mũi tên còn chẳng biết cha
tôi có chạy thoát không.
Vết thương nơi bàn chân đã bắt đầu lên da non sau những ngày
tôi uống bát thuốc do Ngọc Dung sắc từ mạch nước giếng thiêng. Ba sợi tóc của
nàng và chiếc khăn đã nằm trong tay nải của tôi. Mấy lần tôi định làm bùa chú
thêu tên tôi và nàng lên chiếc khăn. Nhưng nhìn ánh lửa soi lên khuôn mặt thanh
tú của nàng khi ngủ mũi kim trên tay tôi lại chệch hướng đâm vào đầu ngón tay
như mũi tên của cha nuôi năm xưa. Tôi không muốn nàng sẽ hóa điên nếu như tôi từ
biệt, sau lần tôi và nàng đi rừng tìm lá thuốc.
Hôm ấy, nàng vừa bứt đám lá thuốc bỗng hét lên vì vết cắn
nhói buốt ở cánh tay. Trong bụi cây con rắn lục trườn đi. Tôi vội đặt nàng nằm
dưới gốc cây rồi hút những giọt máu độc, đắp lá thuốc lên cánh tay theo lời
nàng. Lần đâu tiên trong đời tôi chạm vào thịt da của một người con gái. Từ hôm
ấy tôi dành cả tình yêu đầu đời cho Ngọc Dung. Tôi cảm nhận hình như trái tim
nàng cũng dành tình cảm cho tôi. Có lần tôi thấy nàng nhặt mẩu than viết chữ gì
đó lên chân cột nhà sàn rồi vội vàng xóa đi. Tò mò, Tôi đến gần xem thử thì ra
là tên tôi và nàng trên nét than đã mờ.
Năm nay mùa bội thu, Cha Ngọc Dung đưa tôi đi xem những cánh
đồng trĩu nặng lúa vàng, ngọt lịm thân mía… trong những bản làng trù phú nằm dưới
chân những ngọn núi đá vôi. Xa xa, theo gió vọng về câu đồng dao của đám trẻ
trâu: “Khát nước xuống suối, đói lòng đến nhà lang”.
Ông cười khi nghe câu đồng dao ca ngợi mình rồi chỉ tay về
phía ngụn nước đang đùn lên trong vắt bảo rằng sự trù phú nơi đây chính nhờ con
mương chảy về từ Đồng Thảm. Nếu cả xứ Mường có khô hạn thì con mương này
vẫn đầy ăm ắp nước tưới tiêu cho cả thung lũng xứ này. Bao đời giặc ngoại xâm
và những kẻ có mưu đồ tạo phản muốn cướp Mường Rụng của ông đều thất bại vì sự
no ấm đoàn kết của người dân nơi đây.
Tôi lại gần vục nước uống. Mùi nước thơm là lạ làm tôi giật
mình khi nhận ra địa thế rồng bay của con mương uốn khúc. Trên gò đất rộng nơi ấy
là mộ tổ nhà Lang. Có lẽ ông không biết về phong thủy địa lý nên đã nói cho tôi
biết bí mật về long mạch của dòng họ. Tôi cười thầm vì có thể báo tin cho cha
nuôi biết rằng đã tìm ra lý do mang về sự cường thịnh cho Mường Rụng.
Con chim bồ câu mang lá thư hồi âm của cha nuôi đã trở về.
Cha nuôi bảo tôi hãy cưới Ngọc Dung để tạo dựng niềm tin rồi tìm cách phá thế rồng
bay của con mương nơi Đồng Thảm.
Tôi và Ngọc Dung nên duyên chồng vợ. Ngày trọng đại ấy, nhà
Lang Quách Ngọc trong sự mừng vui của men rượu cần đã không còn nhận ra kẻ tình
địch năm xưa, khuôn mặt đã được thời gian phủ dấu bằng chòm râu bạc. Cha nuôi
rượu nâng tay bắt với nhà thông gia nhưng tham vọng trong đáy mắt vẫn hun hút
như vực sâu. Tôi chính thức ở rể theo phong tục người Mường
Một đêm, Ngọc Dung bảo tôi rằng nàng mang thai, tôi áp tai
vào bụng nàng lắng nghe tiếng mầm sống khẽ cựa. Sáng hôm sau, tôi thông
báo tin vui cho cả nhà nhưng thoáng chốc mừng vui của lão Lang Quách Ngọc bị niềm
lo âu lấn át. Ông bảo rằng phía tây Mường Rụng năm nay hạn hán. Ông vừa từ dưới
ấy về, dân chúng đói khát bỏ nhà cửa đi ăn xin. Tôi nghĩ hay là bảo ông đào một
con mương từ Đổng Thảm dẫn nước về phía tây cứu dân.
Nhưng nhịp đập khe khẽ trong bụng Ngọc Dung làm tôi rùng mình
nghĩ về cảnh nghèo khó của tôi và Mế. Chắc Mế đã rất vất vả khi đơn độc
mang thai tôi nơi bìa rừng.
Tôi và Mế từng sống ở một căn lều dột nát phía chân núi. Hằng
ngày, Mế đến nhà Lang làm thuê đắp đổi bát gạo, chiều về đi mò ốc dưới con suối
cạnh rừng. Năm tôi bảy tuổi, một đoàn người đến tìm. Gã tóc bạc đeo chiếc tùi
khót chỉ vào tôi nói với một người ngồi trên lưng con ngựa màu đen, “Chính nó
là người có căn làm thầy mo”.
Người trên lưng ngựa ném cho Mế một túi bạc rồi sai gia nhân
lôi tôi về nhà. Mế chạy theo giằng tay kéo tôi lại nhưng sức vóc của một người
đàn bà quanh năm lam lũ không chống chọi nổi với đám gia nhân trai tráng nhà
Lang.
Từ một đứa trẻ nghèo khó bỗng chốc tôi được làm con nuôi nhà
Lang ăn cơm no mặc áo ấm. Cha nuôi vung tiền mời những thầy mo giỏi đến dạy tôi
học làm bùa phép, chài ém. Để không phá vỡ quy tắc nhà mo không truyền dạy cho
người ngoài, mỗi thầy mo chỉ truyền dạy cho tôi một phép bùa, Tôi học gọi gió
hô mưa, đuổi ánh trăng, tắt tia nắng mặt trời…
Lớn lên lẽ đời dạy tôi hiểu vì sao Mế là người đàn bà bị cả bản
Mường hắt hủi đuổi ra sống một mình nơi bìa rừng. Bao lần tôi trở về chốn cũ
tìm Mế nhưng con suối đã đổi dòng, vách nhà nứa tan hoang.
Ngày xưa, mỗi lần nhìn tôi học phép bùa, cha nuôi lại gieo giắc
ý nghĩ phải phá đi sự cường thịnh của người Mường Rụng trong suy nghĩ non nớt của
tôi. Tôi hỏi: “Tại sao phải hại người ta khi con và họ không quen biết thù oán
với nhau?” Ông lia ánh mắt về phía Mường Rụng. Trong đáy mắt đong đầy tham vọng
cao hơn ngọn núi, sâu hơn cả dòng sông. Ông bảo “là người nhà Lang Bùi Công thì
không để ai được hơn mình”
Bây giờ, nếu tôi không thể phá được long mạch của nhà Lang
Quách Ngọc thì cha nuôi sẽ không tha cho Mế. Dịp trước về thăm nhà, tôi thấy một
người đàn bà bị nhốt trong kho nhà cha nuôi. Người đàn bà ôm nắm rơm bện hình đứa
trẻ con hát ru. Tôi nghe giọng nói và câu hát quen thuộc như âm điệu ngày xưa Mế
vẫn hát ru tôi. Tôi lại gần khung cửa sổ. Người đàn bà giật mình ngoảnh lại
nhìn khi thấy bóng tôi in trên tường. Người đàn bà lóng ngóng rút một cọng rơm
bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến. Tôi bàng hoàng nhận ra khuôn mặt của Mế dù bây
giờ đôi mắt đã mang phần hoang dại. Tôi đạp tung cánh cửa chạy vào ôm mế. Mế hất
tay tôi ra bằng đôi bàn tay vẫn thường vuốt mái tóc tôi thủa bé rồi quay mặt
vào tường nựng nịu bó rơm. Tôi đặt tay lên vai nhìn sâu vào đôi mắt Mế hy
vọng tình mẫu tử sẽ khiến Mế nhận ra tôi. Mế xiết chặt bó rơm hét lên sợ hãi.
Tôi giằng bó rơm từ tay Mế ném ra thềm sân, tôi kéo mế vào
lòng gục đầu lên vai Mế khóc. Mế hất tay tôi ra rồi chạy ra thềm sân nhặt bó
rơm. Tôi lay Mế bảo “con là con của mế đây”. Nhưng Mế vẫn nhìn tôi bằng đôi mắt
hoang dại. Mế hét lên “đừng làm hại con tôi”. Tai tôi ù đi. Nghe tiếng động cha
nuôi từ ngoài sân chạy vào đẩy tôi và Mế tách rời nhau. Ông rút con dao găm kề
lên cổ Mế. Ông gằn giọng: Nếu mày không thể phá đi rốn rồng và long mạch
của Mường Rụng thì sẽ không bao giờ hai mế con mày găp lại nhau. Tôi quỳ xuống
van xin, nhưng lưỡi dao trên tay ông càng cứa sâu lên cổ Mế, những giọt máu
loang ra thấm vào lưới dao sắc lạnh. Tôi cười chua chát nhận ra mình chỉ là một
mũi tên bật ra từ lẫy nỏ.
Ngày nào cũng có những nhóm người từ phía tây Mường Rụng đến
vùng này xin ăn. Những con người đói khát giơ bàn gầy guộc đón nhận những nắm gạo
từ thiện của nhà Lang Quách Ngọc.
Một hôm, ông bảo tôi cùng ông về phía tây Mường Rụng tìm xem
có cách nào cứu dân. Con ngựa của tôi và ông khát nước dạt những bước nặng nhọc
vào bóng cây. Trong rừng một con sóc chạy về phía con suối cạn lần tìm giọt nước
cuối cùng. Tôi cài mũi tên nâng nỏ ngắm bắn nhưng bị bàn tay ông gạt xuống. Ông
bảo: Muông thú cũng có linh hồn. Từ lâu ta đã cấm săn bắn ở Mường Rụng. Thịt
thú rừng đều được trao đổi mua bán bằng nông sản do người dân Mường Rụng trồng
trọt, cấy hái.
Tôi buông tay nỏ nhìn ông. Ánh mắt của ông khiến tôi hiểu vì
sao người chiền thắng trong cuộc thi bắn nỏ kén rể năm xưa là ông. Chắc hẳn ông
ngoại của Ngọc Dung đã nhận ra ánh mắt nhân từ khi ông ngắm bắn hồng tâm trái
nghich với ánh mắt đong đầy sự hiếu thắng của lão Lang Bùi Công. Ánh mắt ông
thôi thúc tôi muốn giúp ông, giúp dân bản Mường Rụng để trả ơn nghĩa cưu mang.
Tôi bảo ông bí mật lập một đàn tế trời. Phép cúng thần Pống
Pêu cầu mưa tôi đã học nhưng chưa sử dụng bao giờ. Đàn tế trời lập xong, tôi đội
mũ chầu, mặc chiếc áo dài xanh ngồi tế ba ngày ba đêm. Bài tế vừa kết thúc mây
đen vần vũ kéo đến. Trời chưa kịp ban mưa thì có những trận gió ào ạt thổi mây
bay về phía Mường Động. Bên ấy, mưa xuống như trút. Tôi lắc đầu không dám nói
cho mọi người biết rằng đã có một thầy mo cao tay hơn tôi chặn gió bắt mưa của
tôi. Ông lắc đầu, lặng lẽ lau đi vệt nước mắt.
Giờ thì tôi đang cùng bố vợ bổ những nhát cuốc đầu tiên khơi
dòng con mương Đồng Thảm dẫn nước về phía tây Mường Rụng, dù trước đó trong cuộc
họp bàn vấp phải sự phản đối quyết liệt của người dòng họ Quách.
Hôm sau, có người từ Mường Động đến tìm tôi. Gã mang đến thịt
con trâu trắng được nhồi trong thân cây gỗ đại thụ hội tụ sự ma quái của rừng
sâu. Gã nhắn rằng lão Lang Bùi Công yêu cầu tôi thả khúc gỗ xuống giếng thiêng
yểm bùa chú phá hủy rốn rồng.
Tôi nhặt con dao quắm định chém gã làm đôi nhưng gã kịp giở
cho tôi xem bọc vải đựng ngón tay của Mế. Gã nhắn lời lão Lang Bùi Công nếu muốn
gặp lại Mế thì không được từ chối. Bao lần nhấc lên đặt xuống, cuối cùng tôi nhắm
mắt buông tay, khúc gỗ khô khốc rơi xuống giếng thiêng. Tôi lặng lẽ trở về Mường
Động.
Sẩm tối, tôi chạm sân căn nhà sàn bề thế nhà Lang Bùi Công.
Trong ánh đuốc mờ ảo tôi thấy đám người đang vây quanh một người đàn bà bị treo
trên thân cây. Tôi nhận ra Mế, muốn chạy đến gỡ sợi dây, nhưng trùn bước khi thấy
lão Lang Bùi Công đang mặc long bào tay lăm lăm ngọn giáo. Lão cười lớn bảo đây
là bài học cho những người dám cản bước mưu đồ của lão. Lão ra lệnh cho đám gia
nhân sẵn sàng vũ khí tiến đánh Mường Rụng.
Lão và đám quân mã đi khỏi tôi chạy đến gỡ sợi dây nhưng Mế
đã tắt thở. Tôi lạy mế ba lạy tạ tội bất hiếu vì chưa thể chôn cất Mế. Tôichạy
ngược trở lại con đường tắt bàn chân đạp gai vượt suối trèo non đầu nặng trĩu sự
lo lắng. Mế đã không còn tôi không muốn mất thêm Ngọc Dung và đứa con nàng đang
mang trong bụng.
Nửa đêm. Xứ Mường Rụng tan hoang sau cuộc thảm sát của nhà
lang Bùi Công. Những người dân nơi đây qua bao năm yên bình bàn tay đã quen cấy
cày vun xới, đã quên cầm cung nỏ gươm giáo nên ngả rạp như những thân mía bị lưỡi
dao phạt vào. Tôi chạy đi tìm Ngọc Dung trong ngập ngụa máu và ánh lửa gian nhà
sàn rực cháy. Nàng đang gục đầu khóc bên thi thể của lão Lang Quách Ngọc cạnh
giếng nước. Tôi chạy đến kịp kéo tay trước khi nàng định gieo mình xuống giếng.
Tôi cắn bật máu từ ngón tay tôi và nàng nhỏ xuống giếng. Tôi nắm tay nàng chạy
vào cánh rừng tìm chút hy vọng mong manh. Màu diệp lục ngàn năm nương náu vẫn
luôn là bàn tay trở che cho bao thế hệ người Mường. Tôi hy vọng giây phút sinh
tử này rừng sẽ giang bàn tay cứu rỗi gia đình tôi thoát khỏi mũi giáo tử thần.
Đàn chó săn nhà lão Lang Bùi Công đã đánh hơi thấy mùi của
tôi và Ngọc Dung. Chúng vây quanh bụi gai sủa lên thảm thiết. Lão lang Bùi Công
và đám gia nhân nghe tiếng chó sủa khép kín vòng vây. Lão giơ cao mũi giáo cười
ha hả bảo rằng sẽ để lời nguyền giếng độc chôn vùi mãi mãi cùng thân xác tôi.
Ngọc Dung vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt bình thản. Nàng xé chiếc khăn đội đầu băng
vết thương của tôi và nàng. Nàng bảo tôi nắm bàn tay nàng để sau khi chết cả
gia đình sẽ đoàn viên, sẽ được sống bình yên, hạnh phúc, bên nhau, không phải
lo âu trong mưu đồ quyền lực, toan tính, hận thù…
Tôi ôm Ngọc Dung đợi mũi giáo kết liễu từ người tôi từng mang
ơn nuôi dưỡng, kẻ đã cướp của tôi mạng sống đấng sinh thành.
Bỗng tôi nghe tiếng leng keng binh khí rơi xuống nền đất cùng
tiếng đám gia nhân hò nhau bỏ chạy. Tôi mở mắt, một luồng khói từ giếng thiêng
trào lên. Một con trâu trắng lao về phía lão lang Bùi Công. Lão giơ mũi giáo chống
đỡ. Cây giáo rèn từ mảnh đồng thau pha vàng và thân gỗ quý trên núi thiêng Đá Bạch
tạo thành thứ linh khí chém gãy một sừng con trâu. Lưỡi giáo trên tay lão cũng
vỡ vụn. Linh hồn con trâu trắng điên cuồng khua chiếc sừng còn lại hất văng lão
lên không trung, chiếc sừng nhọn hoắt găm thấu tim, máu nhuộm đỏ long bào. Thì
ra hai giọt máu nhỏ xuống giếng thiêng của tôi và Ngọc Dung là thứ phép hồi
sinh giải lời nguyền giếng độc. Linh hồn con trâu trắng ngậm một chiếc lá
đặt lên bụng Ngọc Dung rồi đạp luồng khói bay vào rừng.
Ánh trăng tháng tám lấp lánh thoa lên chiếc lá những tia sáng
dìu dịu. Mai sau, con tôi ra đời tâm hồn sẽ trong sáng hiền hòa như ánh trăng
đang treo trên đỉnh rừng. Gia đình tôi sẽ gieo trên miền đất này những mảnh lá
hồi sinh.
Kiếu Xuân Quỳnh
Nguồn: Văn nghệ số 43/2018
Theo http://baovannghe.com.vn/






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét