Cách nay đã hơn hai mươi năm, tôi được biết nhà thơ Tô Thi
Vân - đó là bút nghệ. Ông tên khai sinh là Tạ Văn Thiệu, quê ở làng Tê Quả, xã
Tam Hưng huyện Thanh Oai (Hà Tây), Hà Nội. Về quê ông thấy nhà thờ họ Tạ rất bề
thế, khi tìm hiểu thì được biết đây là một dòng họ lớn và truyền thống trong
làng. Bên cạnh đó có làng Đại Định (cùng xã) cũng có một chi phái họ Tạ (đây là
tổ tiên của ông Tạ Đình Đề với rất nhiều giai thoại một thời gắn với Chủ tịch Hồ
Chí Minh). Hai chi phái họ Tạ này cũng cùng một thủy tổ. Nếu chuyện chỉ có như vậy
thì âu cũng là sự bình thường. Song, một hôm đến chơi nhà thầy giáo Tạ Gia Thế, thầy
Thế dạy Văn ở một trường PTTH ngoài Hà Nội nhưng gia đình vẫn ở Đại Định, được
biết trên cổng nhà thầy Thế có hai chữ “ô y”. Cổng và chữ do tiền nhân để
lại nhưng đến nay không hiểu hai chữ ấy nghĩa như thế nào, ý là muốn biết tổ
tiên muốn nhắn gửi điều gì đến con cháu…
Chuyện dừng ở đấy, tôi không có Hán học nên cũng chẳng lưu
tâm. Bẵng đi một thời gian, gặp thầy Thế, ông nói: Có người bảo tôi “ô y” là
con chim én. Vâng, hẳn là như thế rồi, theo nghĩa đen của hai từ này… Vẫn chưa
xong, một thời gian sau thầy Thế lại bảo: Có người nói đây là chữ Nôm, nghĩa
hai chữ này là “ổ ê”… nhà mày!. Kể cũng có lý vì đây là một ngôi nhà thờ của chi
họTạ làng Đại Định. Thế rồi thầy Thế xây một bức tường hoa trước mặt ngôi nhà.
Cũng muốn cho nó… cổ, thầy nhờ ai đó làm cho hai câu chữ Hán viết vào hai bên
cái trụ vườn, một bên đại ý rằng: mùa xuân chim én lại bay về. Cũng vui và hàm
ý tươi tắn. Những tưởng thế là xong chuyện!
Mỗi ngày một tuổi, tôi hay để ý đến xung quanh và nhận ra rằng,
còn rất nhiều chữ nghĩa đại để như trường hợp của gia đình thầy Tạ Gia Thế mà vẫn
không có lời giải thích thỏa đáng. Tôi lờ mờ nhận thấy đây là một vấn đề của đời
sống, nó không ảnh hưởng đến bát cơm, manh áo nhà ai nhưng rõ ràng chúng
ta đã không hiểu những thế hệ trước mình mặc dù khoảng cách về mặt thời gian chỉ
là vài thế hệ.
Trong thời tôi đi học,vào những năm sáu mươi đến tám mươi của
TK XX. Giáo trình dạy và học rất ổn định và chúng tôi chỉ biết chừng ấy thứ
trong thời đại của mình. Sau này, nhất là sau “Giải phóng miền Nam”, được tiếp
xúc với văn học phía bên kia (Việt Nam cộng hòa) tôi cũng vỡ ra nhiều trong nhận
thức của mình. Một trong những thứ đó là bài thơ: “Đêm thu nghe tiếng quạ kêu”
của thi sĩ Quách Tấn trong tập “Mùa cổ điển”. Trong bài thơ này Quách Tấn có
câu: “Từ Ô Y hạng rủ rê sang”. Lại xuất hiện một từ “ô y” nữa. Để tâm tìm hiểu
được biết: “Ô Y hạng” có nghĩa là “ngõ Ao Đen”.
Trong câu thơ trên Quách Tấn đã mượn điển tích này của Lưu Vũ Tích, một nhà thơ đời nhà Đường – Trung Quốc. Cái tên “Ô Y hạng” có từ thời Đông Tấn. Khi đó Nam Kinh chính là kinh đô và có tên là Kiến Nghiệp. Ở con ngõ nhỏ này có hai gia tộc lớn cư ngụ đó là Vương Đạo và Tạ An. Hai họ này đều có nhiều người làm quan to trong triều. Người trong hai gia tộc này thường mặc áo đen (có lẽ là phẩm phục của thời đại này) nên người đời gọi con ngõ này là: ngõ Áo Đen (Ô Y hạng)! Song, Ô Y hạng chỉ thực sự nổi tiếng về sau khi thi nhân đời Đường là Lưu Vũ Tích (772 – 842) cho ra đời bài thơ cùng tên. Bài thơ là nỗi miềm hoài cảm, nói lên sự biến đổi mau chóng của thời gian. Nơi đây (Ô Y hạng) xưa kia là lầu son gác tía, nay chỉ còn lại một phế tích hoang tàn. Sau đó trên nền của đền đài xưa người ta cho xây một nhà lầu lấy tên là “Lâu Yến đường” để tưởng nhớ đến hai dòng họ xưa, chắc là từ câu thứ ba trong bài này... Bài thơ chỉ có bốn câu mà được xem là tuyệt phẩm:
Trong câu thơ trên Quách Tấn đã mượn điển tích này của Lưu Vũ Tích, một nhà thơ đời nhà Đường – Trung Quốc. Cái tên “Ô Y hạng” có từ thời Đông Tấn. Khi đó Nam Kinh chính là kinh đô và có tên là Kiến Nghiệp. Ở con ngõ nhỏ này có hai gia tộc lớn cư ngụ đó là Vương Đạo và Tạ An. Hai họ này đều có nhiều người làm quan to trong triều. Người trong hai gia tộc này thường mặc áo đen (có lẽ là phẩm phục của thời đại này) nên người đời gọi con ngõ này là: ngõ Áo Đen (Ô Y hạng)! Song, Ô Y hạng chỉ thực sự nổi tiếng về sau khi thi nhân đời Đường là Lưu Vũ Tích (772 – 842) cho ra đời bài thơ cùng tên. Bài thơ là nỗi miềm hoài cảm, nói lên sự biến đổi mau chóng của thời gian. Nơi đây (Ô Y hạng) xưa kia là lầu son gác tía, nay chỉ còn lại một phế tích hoang tàn. Sau đó trên nền của đền đài xưa người ta cho xây một nhà lầu lấy tên là “Lâu Yến đường” để tưởng nhớ đến hai dòng họ xưa, chắc là từ câu thứ ba trong bài này... Bài thơ chỉ có bốn câu mà được xem là tuyệt phẩm:
Chu tước kiều biên dã thảo hoa
Ô Y hạng khẩu tịch dương tà
Cựu thời Vương Tạ đường tiền yến
Phi nhập tầm thường bách tính gia
(Ô Y hạng – Lưu Vũ Tích)
Nhà thơ Ngô Văn Phú dịch:
Bên bờ cỏ dại hoa hồng
Ô Y ngõ cũ nằm trong nắng chiều
Én lầu Vương Tạ thủa nào
Bây giờ lưu lạc bay vào nhà dân
Chỉ có vậy mà mất cả một thôi đường để giải thích hai từ “Ô
Y” trên trán cổng nhà thầy Tạ Gia Thế, thuộc dòng họ Tạ ở Tam Hưng, Thanh Oai…
Phải chăng, đó chẳng đã là ước vọng của các thế hệ trước (của họ Tạ) mong con
cháu mình thành đạt!
Có một lần nhà văn Đỗ Chu đến báo Văn nghệ, nhân lúc vắng vẻ
ông kể cho tôi nghe: Sinh thời, Cụ Hoa Bằng – Hồng Thúc Trâm (hiện nay có một
con đường ở phường Yên Hoa, Hà Nội song song với Đường Láng cách nhau qua con
sông Tô, được đặt tên Hoa Bằng), sau khi “Hòa bình lập lại” (1954) vẫn thường
xách điếu cày đi bộ từ làng Cót (Kẻ Cót – Hạ Yên Quyết, Hà Nội), sang làng Láng
(Hà Nội) để vào các nhà xuất bản. Công việc của cụ là hiệu đính phần chữ Hán
cho các “Nhà” này. Nay trong nhà cụ vẫn còn giữ được một bức hoanh phi có bốn chữ
“Kỳ nghiêm hồ”… Hiện nhiều người xem chẳng hiểu ý tứ ra làm sao cả. Tôi cũng
coi câu chuyện nhà văn Đỗ Chu kể là thường tình! Một lần vô tình đụng đến một
“thư” trong “tứ thư” của Mạnh Tử (vì không chuyên nên không ghi lại là “thư”
nào) có câu: “Thập mục sở thị, thập thủ sở chỉ, kỳ nghiêm hồ” (Tạm dịch:
Mười cái mắt đang nhìn (mày), mười cái tay đang chỉ (mày), hãy coi chừng)!... Cứ
như ý tứ trong bức hoành mà suy, có nghĩa là cụ Hồng Thúc Trâm rất khiêm tốn dặn
con cháu: chỉ có mười người quan tâm đến mình (mày) mà đã phải giữ gìn. Còn những
người khác, nói theo “ngôn ngữ bây giờ” là “có số, có má” phải có hàng triệu người,
nhiều triệu người quan tâm. Nếu có làm gì đừng tưởng người đời không biết!
Trong nhà tôi, tiền nhân cũng để lại một bức hoành có ba chữ:
“Cửu tắc trưng”. Ông nội tôi mất đã từ lâu. Bố tôi Tây học rồi tham gia kháng
chiến chống Pháp. Lại nữa, thời của cụ người ta đả phá những thứ này ghê gớm lắm,
họ coi đó là sản phẩm của Phong kiến, Đế quốc… Chuyện trò với nhau về đề tài
này có khi còn bị nghi kỵ, còn nguy hiểm đến gia đình, bản thân và con
cái. Không mang bỏ đi như các nhà khác, bố tôi vẫn giữ nó ở nguyên vị trí trang
trọng nhất trong nhà. Có nhiều nhà trong làng đã đem câu đối ra đóng ghế băng để
ngồi. Tôi đã đến một nhà như thế, sờ tayxuống mặt dưới của ghế cứ gờn gợn. Lật
lên xem vàng son một thời còn chói lọi…
Bẵng đi một vài năm, đôi ba cụ già đến nhà tôi vẫn ngước nhìn
và xuýt xoa về bức hoành phi. Rồi, rất nhiều người đến ai cũng khen nhưng không
ai biết ý nghĩa ra làm sao mặc dù đọc được chữ. Người thì bảo: Cửu tắc trưng là
“lâu thì nên”. Người lại bảo: Cửu tắc trưng là “lâu thì phô bày ra”… nghe cũng
có lý vì người dịch có vẻ đã sát chữ!... Cũng lại tình cờ ông Kiều Hải ở làng
Đông Sàng, cùng xã với tôi sang chơi. Thủa còn đi học tôi rất trọng ông Hải bởi
học giỏi.Sau khi hết nghĩa vụ quân sự, ông Hải phục viên và thi đỗ vào trường Đại
hoc Cơ Điện Bắc Thái. Thủa ấy như thế là ghê gớm lắm vì cả xã có khi một năm chỉ
có một, hai người thi đỗ đại học. Ông Hải bảo tôi: Ba chữ “cửu tắc trưng” nhà
ông nằm trong sách “Lễ ký” (Kinh Lễ, một trong ngũ kinh của Khổng Tử). Ông Hải
đọc cho tôi: Cố chí thành vô tức, bất tức tắc cửu, cửu tắc trưng, trưng tắc du
viễn, du viễn tắc bác hậu, bác hậu tắc cao minh. (ông Kiều Hải tạm dịch: Bởi
nên, tâm chí thành thật của bậc chí cực không hề nghỉ ngơi, không nghỉ ngơi thì
bền lâu, bền lâu thì nghiệm ra ngoài, thì phổ cập ra xa, thì dày và rộng. Dày rộng
thì cao sáng).
Thiết nghĩ, những điều nêu trên với người lớp trước có lẽ
cũng chỉ là những điều bình thường, vì thi cử ai chả phải đọc “tứ thư, Ngũ
kinh”. Vậy mà đến nay với hậu thế như là một lời thách đố. Nguyên nhân cũng rất
đơn giản: Chúng ta đã bỏ qua, đã không giữ được cái “gạch nối” trong văn hóa
hàng nghìn năm của mình! Chạnh lòng nhớ đến hai dòng họ Tạ An, Vương Đạo mà buồn.
Với họ, trên nền đổ nát của lầu son gác tía xưa, mấy trăm năm sau người ta còn
xây lại một “Lâu Yến đường” để vọng niệm…
Tôi lớn lên xung quanh mình, trong nhà mình rất nhiều văn tự
Hán, mấy chục năm nay tôi là kẻ mù lòa trong một phạm vi văn hóa ấy. Thế rồi
tôi tự tìm sách vở, không “thầy thợ”, tự mình mày mò học chữ Hán để khả dĩ biết
một tí ti xung quanh mình trong thăm thẳm sâu văn hóa Việt nhiều thế kỷ. Sang
ngay bên nhà hàng xóm, nhà này còn giữ được một đôi câu đối sơn son thiếp vàng
rất đẹp. Tôi đọc được như sau: “Mông Phụ tùng cao vân xá bạch (vế phải)/
Hậu An đào mậu nguyệt đình thanh (vế trái)”. Cách nay khoảng sáu, bảy mươi năm,
ngôi nhà này là của một cụ trong gia đình tôi, vì một lý do nào đó, cụ tôi phải
bán. Người mua là người ở một xóm khác trong làng. Sau khi mua chuyển về ở, họ
đã mang theo đôi câu đối này. Tôi suy luận, về bên này có “Mông
Phụ” - địa danh làng tôi. Về bên kia “Hậu An” phải là địa danh xóm cũ… Tôi
đi hỏi những người già trong làng, không ai biết xóm nào là xóm “Hậu An”!. Tôi đến
địa điểm cũ của nhà hàng xóm, xóm này hiện được nhập với một xóm khác vì nhỏ và
ít người. Vậy là cái tên gốc “Hậu An” không còn ai nhớ được! Chỉ là
trong phạm vi một ngôi làng, vài chục năm qua cái tên của một xóm trong làng đã
bị mai một. Cứ vậy mà suy, chúng ta đã để mất rất nhiều thứ, thoạt nghe có vẻ
không gây tác hại gì. Song, đối với một người cần tìm hiểu, nghiên cứu… làm sao
có một cái nhìn đầy đủ một ngôi làng (đã được công nhận là làng Việt cổ) trong
tiến trình phát triển của lịch sử.
Nguyên nhân chính là chúng ta bỏ chữ Hán! Bỏ chữ Hán là đúng
bởi chữ Hán quá khó, ngay cả đến người Trung Quốc học cả đời cũng không hết chữ,
ấy là chưa nói đến các phiền phức khác khi hội nhập quốc tế. May thay công nghệ
phát triển, chỉ cần một chiếc điện thoại thông minh với phần mềm cài đặt chữ
Hán là người ta bỏ được quyền từ điển cắp nách hay bỏ túi. Trong lịch sử, Việt
Nam cũng như một số nước châu Á vẫn dùng chung chữ Hán (phồn thể) như Nhật Bản,
Cao Ly… Sau này do quá phức tạp người Nhật đã cải tiến chữ Hán ra văn tự của
mình. Cao Ly cũng vậy nhưng vẫn trên cơ sở hệ “chữ vuông”. Chúng ta chuyển sang
ngữ hệ La Tinh, âu cũng là cái may mắn cho dân tộc này.
Năm 1945, sau khi giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí
Minh phát động chiến dịch diệt “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Việc học
chữ quốc ngữ đưa cả dân tộc trước một cơ hội thoát mù! Rất đáng tiếc cũng từ đó
chúng ta đã gần như đoạn tuyệt với chữ Hán - Một văn tự mà cả dân tộc đã dùng gần
hai nghìn năm, nếu lấy mốc từ sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 sau CN)… Cho
đến tận bây giờ, mỗi năm một số trường ĐH đào tạo một số ít sinh viên chuyên
Hán Nôm. Số lượng ít ỏi này khả dĩ bao quát hết được một di sản to lớn đang trầm
khuất trong dân gian…
Vài năm gần đây trong cả nước rất nhiều kiến trúc nhà truyền
thống được phục hồi và xây dựng mới, chủ nhân của những công trình này đa số là
người có điều kiện (có tiền). Nhà truyền thống có thể duy danh định nghĩa: Nhà
một tầng có hai mái dốc và nhất thiết phải có bàn thờ ở gian giữa nhà. Có thể
nói nhà truyền thống là kết tinh nhiều nghìn năm sinh sống của người Việt trên
dải đất này.Nhà truyền thống là sự hài hòa của tất cả mọi yếu tố: Môi trường,
khí hậu, thổ nhưỡng, tâm sinh lý, tín ngưỡng, tập tục… Là kiến trúc tiêu biểu cho
làng quê Việt Nam - Những cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước.
Đặc điểm nổi bật của những ngôi nhà được xây dựng trong thời
gian này là to lớn, lộng lẫy hơn trước rất nhiều. Đây không phải là một trào lưu
phục cổ, hoài cổ mà những kiến trúc này thực sự tham gia vào đời sống tích cực
hơn những kiến trúc khác (không phải truyền thống) rất nhiều. Đối với không gian
thờ tự, tâm linhmột điều không thể thiếu là nhất thiết phải có hoành phi câu đối. Hoành
phi câu đối trong ngôi nhà truyền thống của người Việt đem lại một giá trị thẩm
mỹ, giá trị về mặt tinh thần ẩn trong chữ nghĩa. Giá trị này đã được khẳng định
qua hàng nghìn năm lịch sử… Câu đối và hoành phi nhất thiết phải là chữ Hán chứ
không phải là chữ Quốc ngữ. Một số dùng chữ Quốc ngữ nhưng về thẩm mỹ, chữ Quốc
ngữ (trình bày như hiện nay) chưa thể thay thế được chữ Hán ngay chỉ về mặt
hình thức. Ấy là chưa nói đến sự hàm súc trong ngữ nghĩa của chữ Hán,… Cũng từ
đây xảy ra một nghịch lý: Sống trong ngôi nhà truyền thống xây dựng rất nhiều
tiền, nhưng chủ nhân lại không đọc được một chữ Hán nào trên hoành phi câu đối
nhà mình. Có người chép bằng chữ Quốc ngữ dán ngay bên cạnh để đọc cho tiện. Thế
cũng được, nhưng hình như chúng ta đang bỏ trống một khoảng lớn trong thẩm mỹ mà
thực tế đời sống đang đặt ra…
Tôi không cổ súy cho việc đưa chữ Hán vào giảng dạy trong các
trường phổ thông. Tôi cũng chưa tìm hiểu xem tại sao những người Nhật tôi gặp ai
cũng biết chữ Hán ít nhất là viết được tên mình và đọc một số một số văn bản
thông dụng. Người trẻ ở Hàn Quốc không như thế, tôi đã bút đàm với họ và rất
nhiều người không viết nổi tên mình bằng Hán tự… Tôi xem một số chương trình
trên “ti vi” thấy ngay ở chợ, người Nhật thông báo giá hàng và tên sản phẩm bằng
chữ Hán. Một số người Nhật cho tôi “các” để tiện giao dịch, trên đó hầu như là
song ngữ: Cả chữ Hán và chữ Nhật! Tôi biết điều này không phải như nước mình,
dùng song ngữ trong trường hợp: Ai biết chữ nào thì dùng chữ đó cho tiện… Tôi
cũng chưa hỏi ông Kiều Hải - Một kỹ sư cơ điện khi về nghỉ hưu mới học chữ Hán,
hơn năm năm mà… thâm hậu thế!
Văn hóa là sự giao thoa, đối với chữ Hán đó là một tất yếu của
lịch sử… Phải chăng đã đến lúc chúng ta nhìn nhận lại vấn đề này một cách
nghiêm túc!. Bởi, quanh ta còn biết bao điều liên quan đến chữ Hán mà như một mật
mã đang cần lời giải. Phải chăng, đó chính là tiếng vọng thăm thẳm của quá khứ
một dân tộc!.
Hà Nguyên Huyến






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét