Kẻ sát nhân lương thiện
Ký ức xa xôi trở thành một
trong những tri thức đầu đời của hắn là câu hát: “Con Vua thì lại làm Vua/ Con
Sãi ở chùa lại quét lá đa…”
Nhà văn Lại văn Long và tập Kẻ Sát nhân lương thiện
Đến bây giờ hắn cũng không biết mình thuộc câu đó từ lúc nào
và ai là người đã hát cho hắn nghe đầu tiên. Chỉ biết khi còn là một cậu học
trò tiểu học, ý nghĩa câu hát đã là cơ sở cho tuổi thơ hắn hình thành mặc cảm
thân phận và nẩy nở ước mơ về một sự vượt qua thân phận.
Hắn đã lớn lên nhờ năm tháng cắn răng chịu đựng của người mẹ:
Những ngày phiêu bạt tìm chồng “bụng mang dạ chửa”, không vốn liếng, không người
thân. Giai đoạn nào trên vai quang gánh, đầu thúng xôi, đầu đứa con lê lếch phố
phường. Quanh năm thân mẹ tiều tụy, mắt buồn xa xăm, cho đứa con côi cút luôn
hướng đến một góc tối tăm, kín đáo ở lớp học và một tính cách e dè, xa lánh với
tất cả quan hệ còn lại của xã hội.
1975… Đại bác rền rĩ, máy bay gầm gầm rú… phố nhỏ hoang mang.
Người lính – biểu tượng cuối cùng của một chế độ trong giờ cáo chung lột bỏ mọi
thứ, trốn chạy ám ảnh về sự trả thù… 24 giờ của một xã hội vô chính phủ. Phố nhỏ
vỡ tung: đập phá, cướp giật, hôi của, thanh toán lẫn nhau… Hò reo của say máu,
khóc than của mất mát và im lặng náu mình của các loại chờ đợi…
Mẹ con người bán xôi chia nhỏ thạp gạo, lúc này nhu cầu dự
phòng trên hết! Cậu bé mười sáu tuổi ngồi chắn cửa ngôi nhà ọp ẹp, liên tục cầu
khấn thầm cho cái tổ ấm xiêu vẹo. Kể ra nỗi lo của cậu cũng thừa, những kẻ có
gan, có sức, có chí làm cướp giờ đây còn đang bận rộn với đập phá, khuân vác,
hò hét… trước và trong những cửa hàng to lớn, những gia đình giàu có đã di tản.
Roát… Oành! Ba kẻ tội tù xổng trại dùng súng bắn nát cả cửa sắt
nhà ông chánh án. Biệt thự kể bên là tư dinh của tỉnh trưởng cũng đã mở rộng cổng
cho các thần dân của ngài chia sẻ bớt sự giàu có. Anh lính gác cổng hôm nào,
đang chỉ huy chiến hữu của mình giỡ nốt cần ăng-ten ti-vi trên nóc. Họ dùng cả
xe tải G.M.C vào việc chuyển sở hữu tài sản… Khi không còn luật pháp, bạo lực đồng
nghĩa quyền lực!
Trưa hôm sau, những chiếc xe tăng và xe quân sự của “phía bên
kia” đã vào đến. Cả thị xã đổ ra xem “cộng sản”… cờ xanh đỏ sao vàng phấp phới
từ nóc dinh tỉnh trưởng đến mái lều lụp xụp nhất thị xã.
Trưa hôm sau nữa, trật tự được xác lập sau khi các loa phóng
thanh tuyên bố bản án tử hình dành cho số “loạn quân”. Bình yên trong những
ngày đầy âu lo như lớp sương giăng mờ thị xã. Thời cuộc đi qua cuộc sống người
nghèo một thoáng ngỡ ngàng, rồi chuyện cơm áo vẫn là một ép uổng tưởng chừng bất
tận. Xóm lao động trước đây bao nhiêu người là bấy nhiêu nghề, toàn những cảnh
kiếm sống nhọc nhằn thân xác. Giải phóng về, anh khuân vác, bác thợ nề, chị bán
rong… đều dừng lại cái riêng, chung nhau nghề mới. Ai cũng như ai. Sáng sáng
quanh gánh, dao rựa kéo nhau vào núi, chiều về thành đoàn đổi củi lấy gạo tỏa
khắp ngõ ngách thị xã.
Cậu học trò lớp mười dang dở chẳng còn màng đến chuyện học
hành, cùng với đoàn quân vô sản mỗi ngày một gánh củi bán dạo. Ngày đầu mắc cỡ,
qua các phố có nhà quen cứ phải ngó ngón chân, cắm đầu bước… khổ nhục có tình mẹ
con đền bù, chóng quen…
Tháng bảy năm 1977, có chính sách vận động di dân lập vùng
kinh tế mới, mẹ con hắn được chọn.
Sáng kiến này cho phép từ 17 tuổi trở lên được sống tập trung
trong doanh trại Thanh niên xung kích.
Năm giờ kẻng đánh, doanh trại rạo rực thể dục tập thể, bếp đỏ
lửa, nước sôi, sắn khoai bốc mùi… Bảy giờ nai nịt gọn gàng, xuất quân ra đồng…
Mười một giờ nhà bếp cho ăn: cơm độn bắp xay, bầu bí nấu canh, cá khô nướng… mười
ba giờ tiếp tục làm việc… mười bảy giờ ăn cơm tại chỗ… mười chín giờ làm tiếp
ca đêm cho đến hai mốt giờ. Đêm nào thiếu ánh sáng hoặc mưa gió thì tập trung
sinh hoạt chính trị. Hàng ngàn người ngồi bên đống lửa nghe một người nói về
“Pa-ven của cách mạng Tháng Mười”…
Và nếu không có buổi chiều 21-10-1977 ấy; có lẽ hắn cũng như
hàng ngàn con người ở lại, xứng đáng trở thành những “Pa-ven của vùng kinh tế mới”…
Buổi chiều không bao giờ quên!… Đứa trẻ hao mòn trong mặc cảm mồ côi bất ngờ…
có bố!
Bố hắn trở về – Nét kiêu dũng của bậc anh hùng trên chiếc
com-măng-ca có tài xế, cận vệ, tóc bạc, trán hói, quân phục bạc màu, nước da trừng
trải… xứng đáng là “vị thánh” của mẹ con hắn.
Bố nước mắt, mẹ nước mắt, hắn ngỡ ngàng rồi điên lên vì hạnh
phúc lớn bất ngờ! Một phút gặp gỡ xóa nhòa mười tám năm cứ tưởng trống không…!
Đại úy Bí thư xã, chỉ huy trưởng Thanh niên xung kích đến
thăm gia đình lần đầu tiên, mang theo bao nhiêu lời khen về hắn trong cái bắt
tay “đồng chí” với vị trung tá hắn gọi bằng bố.
Hắn kinh ngạc trước sự săn sóc tinh thần của ông ấy. Buổi
sáng hôm nào, ông ấy đã tặng cho tiểu đội không hoàn thành nhiệm vụ của hắn một
câu nặng trịch “lập trường”… “Các anh – tàn dư chế độ cũ, quen nhảy đầm, uống
rượu hơn là làm ruộng… Phải rèn luyện nhiều nữa…” Thế mà nay… Cảm ơn số phận đã
cho một ông bố muộn màng nhưng đầy ý nghĩa…
Ông bố đã kéo hắn ra khỏi tiểu đội một, trung đội 3, đại đội
9 của lực lượng Thanh niên xung kích, và kéo mẹ hắn ra khỏi cái “chuồng bồ câu”
hai mái – tám miếng tôn – tiêu chuẩn dân kinh tế mới, để về tại thị xã. Ở đó bố
bất ngờ “tặng” mẹ con hắn một ngôi biệt thự sang trọng ngoài cổng còn y tấm biển
đá với dòng nhũ vàng “Villa Pensée”…
Hôm tân gia kiêm lễ đoàn tụ gia đình, bố hắn chếnh choáng hơi
men, trịnh trọng tuyên bố: “Cám ơn các đồng chí đã nhường cho tôi một ngôi nhà
đầy ý nghĩa “Cách mạng”. Thiếu tá quận trưởng Lâm Quang Sang – chủ Villa pensée
này, có người cha là chủ của bố tôi trước Cách mạng tháng Tám và hơn 30 năm về
trước, tôi cũng là đầy tớ của “cậu ấm Sang này”, ngày được ăn hai bữa để tắm rửa,
chải chuốt, cắt cỏ cho ngựa quý của “Cậu”. Các đồng chí thấy đó (chỉ tay ra sau
nhà), “ngài thiếu tá quận trưởng” mang cả máu mê ngựa từ miền Trung vào đây.
Dãy chuồng ngựa năm gian này là bằng chứng của thói đam mê trưởng giả. Không biết
hôm nay các đồng chí ở trại cải tạo đã giúp “ngài” thoát khỏi cơn ghiền ngựa
quý chưa ha… ha!. Men rượu thêm men chiến thắng làm những người tham dự phấn
khích cực độ.
Chiều hôm đó sau 18 năm khai sinh, hắn mạnh dạn tin tưởng cuộc
đời sẽ không dành cho hắn phận… “quét lá đa”.
Và quả vậy hắn đã được “bù đắp” bằng những năm ôm vở đến trường
tiếp theo. Nếu nghĩa “bù đắp” được thực hiện trọn vẹn thì hôm nay hắn đã là một
nhà nghiên cứu sử học như mơ ước. Song một “ân huệ” mới đã buộc hắn phải giả từ
trường Đại học ở cuối năm thứ hai, để trở thành một công nhân lao động giản đơn
ở một nhà máy chế tạo ô tô trên đất nước Xô-viết.
Thay vì hàng ngày phải mài thân ở ghế giảng đường, thư viện,
tích lũy tri thức để rồi tự “hạ thấp” con người mình bằng lý lịch trí thức, tiểu
tư sản. Thì hôm nay, ở nhà máy ô-tô này, đầu óc chả cần phải tư duy trước yêu cầu
công việc: “Năm phút giáng một nhát búa ký cho hai bánh răng cưa khớp vào nhau…
” thế là xong! Sau mấy năm có nồi điện, bàn ủi, xoong chảo, đem về Việt Nam
dùng. Lại có thêm lý lịch công nhân và cái “mác”: “đã được đào tạo ở nước xã hội
chủ nghĩa tiên tiến về kỹ thuật… đập búa năm ki-lô-gam”. Đó là một trong những
lý do chân thành nhất thổi bùng lên ham muốn “vượt biên” để hắn mạnh dạn hơn với
sự ra đi.
Thằng con trai đi rồi, ông bà già ở nhà cần cù, tích cực tăng
gia sản xuất. Sau bao năm chinh chiến, trở về ngôi biệt thự lộng lẫy của kẻ thù
giai cấp, ông cảm nhận sâu xa ý nghĩa vinh quang của cuộc cách mạng mà ông đã
tham gia. Ông có cảm hứng với ngôi nhà “chiến lợi phẩm” này lắm! Dù tính trầm
ít bộc lộ, song không ít lần bà bắt gặp ông đi làm về, dừng lại trước cửa vuốt
ve say sưa hàng cột ốp đá ở hành lang. Có lần ông còn tâm sự với bà:
– Hồi bố con tôi còn ở đợ cho gia đình thằng Sang ngoài Huế,
suốt đời lui cui dưới xó nhà kho, chuồng trâu, chuồng ngựa, chứ có bao giờ dám
bén mảng lên nhà trên. Việc lau rửa quét dọn ở đó còn có một mụ khác, đàn ông,
trai cày chân cẳng lấm lem mà bước lên thềm nhà lát men thì chỉ có ăn gậy…
– Bà cũng kể lại cho ông nghe những ngày mẹ con chui rúc ở nhờ,
ở đậu. Nay bị đuổi, mai bị xua… cực thân mình đã đành, tội nghiệp thằng con chẳng
bao giờ dám mời bạn bè đến. Vì mấy khi chỗ ở đáng được gọi là “nhà”.
“Cái khổ không nhà gia truyền từ đời cha đến đời mình, đến cả
đời con… không đi làm cách mạng thì kéo dài đến chừng nào?” Kết luận thầm lặng
của ông hôm đó tưởng như khúc khải hoàn chấm dứt chuỗi triền miên thống khổ… Mấy
năm sau trung tá Sửu được cấp Đại tá trước khi về hưu. Mọi cái đối với ông đều ở
thế chấp nhận được. Một nửa cuộc đời đóng góp cho binh nghiệp cách mạng, về hưu
với vợ con và một mái nhà khang trang tự chủ, thiết tưởng chẳng còn gì vướng bận.
Lúc này vấn đề đẳng cấp, lợi ích đang bành trướng sâu vào các quan hệ xã hội.
Nhưng đối với một người về hưu như ông, “lợi ích” chỉ quanh quẩn trong khuôn
viên vinlla pensée. Nghĩa là hiện tại ông đủ thì giờ để thực hiện quan điểm “lợi
ích” của mình trong phạm vi xã hội đã phân ra cho ông.
Villa Pensée vẫn nguyên vẹn với cấu trúc cũ. Sát hàng rào cuối
vườn là dãy trệt năm căn, chủ nhân cũ dùng làm chuồng ngựa. Từ chuồng ngựa
bước lên trăm bước, một nhà chữ A hai tầng xinh gọn với màu tím than của tường
nhà và màu xanh ngọc của thềm nhà làm nổi bật hàng cột chống lan-can ốp đá trắng
vân đen. Lùi bốn mét sát tường phía trái ngôi nhà là đầu hồi đổ bê-tông vuông vức
dùng làm ga-ra thoáng để xe du lịch. Một khu vườn đẹp, rộng hai nghìn mét vuông
trước mặt tòa nhà chính. Một đường trải đá cuội trắng chạy từ cổng vào chia khu
vườn thành hai phần, mé trái là sân ten-nít, sàn lắp bê-tông có những đường sơn
để kẻ biên. Mé phải là một vườn hoa và một hồ kiểng méo mó kéo dài, trong đặt
hòn non bộ, viền quanh bằng những cây liễu rủ cành tha thướt xuống mặt hồ. Giữa
vườn hoa có đài phun nước bằng tượng tiên cá, hai bên có hai chú hài đồng…
Nói chung đây là một thiết kế hoàn toàn “nghệ thuật vị nghệ
thuật” của bọn trưởng giả, chẳng giúp ích gì cho cuộc hưu trí của ông, ông quyết
cải tạo lại…
Đầu tiên ông sử dụng hồ kiểng làm hố ủ phân, cưa bớt những
cây tùng cây liễu rậm rạp, kế đến là cậy sân ten-nít lên trồng khoai lang. Sau
nữa chôn thêm vài cây cọc xung quanh tượng tiên cá, rồi lấy dây kẽm gỡ từ hàng
rào cột vào đầu tiên cá căng ra mấy cọc kế bên, kéo lan sang mấy gốc liễu “trụi
cành”. Thế là ông có một giàn rộng, kiên cố, có thể thả lên đấy dăm bảy dây bầu,
dây bí. Đất hồi giờ không trồng bầu, bí, lại thêm hố phân hỗ trợ, nên khoai
lang, bầu, bí tốt đáo để… Thêm dăm bảy con lợn quay vòng, cặp vợ chồng già đã
biến Villa Pensée trưởng giả thành một tiểu công xã tự cấp tự túc… Giữa tháng
11 năm 1988 ông nhận được một bức thư bất ngờ:
“Sài gòn, ngày 03 tháng 11 năm 1988
Kính gửi: ông Trương Văn Sửu. Tôi đã được phóng thích sau mười
ba năm ở trại cải tạo của các ông. Và hơn mười năm qua ông đã ở không trả tiền
tại “Villa Pensée” của tôi. Như thế là quá đủ đối với “nợ máu” của một “tay sai
đế quốc” rồi phải không?
Vợ con tôi từ Pháp sẽ trở về, chúng tôi sẽ làm thủ tục xin lại
ngôi nhà ông đang ở. Tôi viết thư này báo trước để ông khỏi bất ngờ và đủ thời
gian chuẩn bị. Đây là luật pháp của một xã hội văn minh mà một sĩ quan cao cấp
như ông tất thừa hiểu.
Ông với tôi không xa lạ gì, nên mong rằng ông sẽ không gây
nhiều khó khăn trong việc để căn nhà trở lại chủ cũ.
Cảm ơn – chúc ông khỏe.
LÂM QUANG SANG“
Nhưng bất ngờ lớn hơn là sau đó ít lâu, ông được các đồng chí
còn đương chức của mình mời đến xác nhận tính đúng đắn của bức thư trên.
Ông chưa hoàn hồn vì các chuyện khó tin nhưng có thật đấy,
thì sáu tháng sau, vào một buổi trưa, một chiếc xe du lịch đời mới bóng nhoáng
lao thẳng vào “Villa Pensée”. Ba người sang trọng xuống xe, đường hoàng tiến về
phía ông Sửu đang đứng dựa cột, nhìn ra đường. Người đàn ông cao to, đầu bạc,
đeo kiếng gọng vàng, mặc com-lê xám đưa tay trước:
– Nếu tôi không lầm, đây là ông Sửu… dù đã ba mươi năm…
– Vâng, tôi đây ông Sang – Chủ nhà bắt tay mặt và đưa tay
trái đẩy cửa phòng khách.
– Xin mời các ông bà…
– Có lẽ tôi không cần nhắc lại… – Lâm Quang Sang lại lên tiếng
trước. – Không cần! Chừng nào anh đến ở?
– Mười lăm ngày nữa! – Lâm Quang Vinh, – con trai Lâm Quang
Sang trả lời kèm cái hất vẻ xấc xược về phía chủ nhà.
– Đáng ra chúng tôi không có đề nghị này, song ông đã làm hư
hại nhiều quá nên chúng tôi buộc phải… – Người đàn bà mặc váy xanh, áo
lông trắng, mình mẩy đầy châu báu dùng một giọng cố kéo lơ lớ để than phiền về
chuyện khoai lang mọc trên sân ten-nit và bầu bí bò trên vườn hoa… .
Thế rồi đâu cũng vào đấy. Có thêm vai trò của chính quyền nên
yêu cầu mỗi bên đều được thoả mãn. Đại khái là:
1- Bên đòi nhà được bồi thường một khoản tiền nhỏ tương đương
với công chăn nuôi, sản xuất của vợ chồng ông Sửu trong… ba năm.
2- Trong thời gian chờ đợi được phân nhà khác, vợ chồng ông Sửu
“được” quyền trú ngụ tạm thời tại… một trong năm căn chuồng ngựa cũ.
Hai bên cam kết thi hành các điều khoản đã ghi.
Trở về chủ cũ “Pensée” bừng nở, kiến trúc phục vụ nhu cầu
“nghệ thuật hóa” đời sống của giới thượng lưu – hào hoa, lịch lãm, nay được
“can” đôi chút để tăng phần bề thế theo chiều sâu phù hợp với tư cách: “Văn phòng
của Công ty kinh doanh Việt kiều”.
“Pensée” phục hồi chủ sở hữu, phục hồi “nhan sắc” và đáng nói
hơn: – phục hồi quyền lực tư sản. Sức hấp dẫn của “mác Việt kiều” và sự liên tưởng
về những con số đầu tư bằng đô-la (qua những lời hứa hẹn) đã giúp cho một số
người công kênh tàn tích đổi màu của một chế độ đã được đánh đổ bằng máu của
chính họ.
Mới khai trương hơn tháng, khi hai chữ “đầu tư” vừa được công
bố ở một quảng cáo… các kiểu xe hơi với các loại biển số nườm nượp đến viếng…
có lần nghe tin bà giám đốc Việt kiều tặng nghìn đôla trùng tu nghĩa trang liệt
sĩ, một vị phó chủ tịch tỉnh đã xúc động gọi nhầm bà là… “đồng chí”… Hôm
sau báo chí nhắc lại lần nữa, coi như thay mặt cho hơn nghìn liệt sỹ nằm dưới mồ
cảm ơn “hương hoa” của bà…
Những việc đó hàng ngày diễn ra dưới mắt vị đại tá về hưu,
lúc đầu ông cũng ấm ức bực bội. Song dần dần theo tác dụng của các loại tuyên
truyền, ông phải tự nói với mình “mười lăm năm rồi… tất cả là người Việt Nam”.
Ngay cả đối với lời hứa của những người có trách nhiệm về một căn nhà mới, thay
cho gian chuồng ngựa vợ chồng đang tá túc làm ông hết hy vọng, hết chờ đợi và
cũng hết nốt bực bội. Sau năm bảy chục lần hẹn hò… cũng may Chủ tịch một phường
ngọai ô đã chiếu cố đến hòan cảnh, cấp cho ông một khoảng đất dăm trăm mét vuông
ở rìa thị xã. Vấn đề còn lại là cất nhà, bài toán chưa được giải quyết là tiền?
Ông viết thư cho cậu con trai ở Liên Xô đề nghị nó hỗ trợ. Lá
thư hồi âm chẳng mang thêm được gì về ngoài chuyện trách móc: “Bố không hiểu
chúng con phải sống, làm việc thế nào, thu nhập ra sao? Nhưng nói dứt khoát rằng:
Đừng hy vọng vào nghề “Ở đợ” nước ngoài của con hiện nay… “.
Để chứng minh đam mê trưởng giả không bị mất đi sau mười mấy
năm ở trại cải tạo, Lâm Quang Sang đã chọn được gần chục con ngựa khác xứ về
nuôi. Hàng ngày lão bỏ tiền ra thuê cắt cỏ nuôi ngựa, lão trả giá rất hời nên
nhiều người muốn làm, nhưng ông Sang chỉ muốn lấy việc đó làm chuyện “giúp đỡ”
cho con người đã từng gặp gỡ trong quá khứ với lão. Thế là hai vợ chồng đai tá
cộng sản già được bao thầu thức ăn cho mấy con ngựa trong thời gian dài để tích
thêm tiền làm nhà.
Thịnh tình của thiếu tá bại trận đã được đại tá thắng trận
ghi nhớ bằng “sự bảo đảm danh dự quân nhân” qua chất lượng các bao cỏ… . Có lẽ
ông cũng chưa quên là mình đã từng làm việc này cách đây 40 năm.
Khi ông có được 2/3 số tiền theo tính toán của căn nhà gỗ lợp
giấy dầu thì cậu con trai trở về sau bảy năm làm thuê ở nước ngoài. “Khả năng”
thì cũng như lời hứa trong thư – về tay trắng…
Trước mặt bố mẹ hắn “kiểm điểm” những hành vi thiếu khôn
ngoan (mà hắn cho là “sĩ diện”) dẫn đến sự tay trắng sau bảy năm… ông già
tính nhẩm cũng ra ngay giá của “danh dự” con trai ông vừa bảo tồn được… . Dù
sao cũng chỉ là sự hào phóng của kẻ nghèo… !
Sau một tuần nghỉ ngơi hắn nghĩ đến chuyện giúp bố mẹ thoát
khỏi… mùi phân ngựa.
Hắn đã gõ cửa bao nhiêu nơi, đều không có nhu cầu về thứ lao
động giản đơn đó, nên “chuyên viên đập búa năm ki-lô-gam” (dù đã được đào tạo ở
nước công nghiệp tiên tiến) cũng đành thất nghiệp…
Cuối cùng hắn đành nối dõi ông già, vác bao đi cắt cỏ ngựa
thuê…
***
Chiều đó trời nắng gắt, vợ chồng con cái lưng đẫm mồ hôi, cỏ
mía cao ngang ngực, cạnh sắc như dao, cứa rát mặt, thêm bực dọc vốn là căn bệnh
âm ỉ lòng hắn từ khi trở thành người thất nghiệp đến giờ – “đời bất công, người
sướng mãi, kẻ khổ triền miên… mẹ kiếp!” – hắn chửi.
– Con mệt về trước đi, bố mẹ ráng thêm bao nữa về sau. – Mẹ hắn
bao giờ cũng dịu ngọt với con.
– Muốn bao giờ về thì tùy! Về trước đây… ! – hắn đáp sẵng
giọng rồi chẳng cần nhìn ai, bỏ lại tất cả, lừ đừ cất bước… .
… Hắn mang cả dáng lừ đừ đó đi qua hai trụ cổng chung để ra
phía nhà sau. Tin… tin… còi xe hơi thúc giục tránh đường… mặc
kệ! Hắn cứ đi, tin… tin… lại còi nữa!
– Điếc hả? – qua kính xe hắn thấy khuôn mặt Lâm Quang Vinh hầm
hầm, con bé ngồi cạnh cũng ngoe nguẩy, chau mày ra điều tức giận.
Chiếc xe sau còn sốt ruột hơn, hai ba cái đầu lau nhau thò ra
cửa kính hầm hè chửi rủa… .
Hắn quay lại gừm gừm.
– Cái gì?
“Mẹ mày chớ gì… ” chiếc xe đi đầu dấn ga vọt lên tưởng như muốn
đè bẹp thằng “hạ đẳng” vô lễ. Nhưng không, tất cả đều khựng lại, người trên hai
xe túa xuống… vung vẩy đe dọa bằng hành động. Thằng Vinh nhanh nhất nên một
giây trước khi mọi người hiểu chuyện gì thì “tên xấc xược” đã lãnh trọn mũi giầy
vào ngực… Đau đớn ê chề trước cú đá của địch thủ và trước bao nhiêu con mắt
khinh bỉ xung quanh, hắn lảo đảo đi về cái hốc trú ẩn trong chuồng ngựa, bỏ lại
sau lưng chuỗi cười miệt thị và tiếng hét lanh lảnh của một vị quan chức nào
đó.
– Gông cổ nó lại! Đồ bố láo… Gọi điện cho anh Hùng bên công
an cho tôi.
Đầu óc u u lọang quạng, hắn mò mẫm vào đầu giường bố hắn.
Phương tiện cuối cùng ông bố để dành cho hắn đây – khẩu súng lục còn mới tinh,
với nguyên ổ đạn. Làm thủ tục kiểm tra cho cây súng “cất tiếng” xong, hắn đi
ra, đưa chân khép cửa nhà. Hắn có thấy rõ hũ rượu ngâm thuốc của ông già còn đến
hơn nửa, song không cần! Lúc này căm thù đã cho lại hắn sự dũng cảm vốn tiết kiệm
từ hơn hai mươi năm nay. Cầm súng vững vàng, hắn hướng đến ngôi nhà trước mặt,
nơi có tiếng ồn ào vui vẻ là nơi cần đến… Hắn chạng chân đứng giữa khung cửa đã
mở toang hoang của phòng khách lớn, một cuộc nói chuyện vui vẻ sặc sụa men bia
và mịt mù khói thuốc. Cả thẩy có bốn thằng đàn ông ngả nghiêng bên bốn con đàn
bà lơi lả. “Chúng nó” – bọn trưởng giả cũ và mới sung sướng thỏa thuê vì tiền của,
vì đe dọa hành hạ được người khác. Những người có số phận không may, đáng chết!…
Hai phát đầu cho hai thằng góc trái… “Pằng! Pằng!… tiếp tục cho những đứa còn lại…
Những cây thịt kéo đổ đồ đạc rổn rảng… Thằng cuối cùng – “Thằng đáng ghét nhất
đây”… kính râm gắn trên sống mũi, mắt nhướn lên, tay rã rời trên mép bàn
– ông phó giám đốc Việt kiều Lâm Quang Vinh bảnh bao hùng dũng đã ướt át và mềm
nhũn… Pằng! một chấm đỏ nổi lên giữa cái trán trắng trẻo rịn mồ hôi. Pằng! Phát
thứ hai cái chấm thành cái lỗ toác hoác đỏ lòm. Cái thân gọn gàng, vừa khít
trong bộ com-lê khéo cắt đổ chồm lên đống lon, ly, tách trên bàn… Máu, các loại
nước giải khát và cả nước dãi… lênh láng trên đệm sa-lông, trên kiếng mặt
bàn, nhớp nhúa trên quần áo, da thịt người sống, kẻ chết…
Có đứa con gái trúng đạn sây sát, có đứa không bị gì, nhưng tất
cả đều lạc hồn mất trí, chồng chất ngổn ngang thành đống xác… .
Mọi việc diễn ra bất ngờ, kết thúc nhanh gọn. Ngoài tiếng
súng trong phòng chát chúa, tiếng đồ đạc đổ bể, phản ứng của gần chục cái mồm
kia chẳng có gì đáng kể… .
Mọi thứ đã giải quyết xong, tên sát nhân đường hòang đến tủ
rượu, nhấc ra một chai còn nguyên tem vàng chóe, trở báng súng đập văng cổ chai
rồi ngửa cổ khô đắng tu… .
Còn viên đạn cuối cùng hắn tặng cho chân dung một lão già mặc
áo chùng, đội khăn đóng, đeo mề đay Pháp thuộc trên tường.
Hắn bắn cả vào người họ Lâm đã thành quá khứ…
***
– Lúc đó anh say rượu?
– Không!
– Thế sao miệng anh có mùi rượu?
– Tôi uống sau khi làm xong mọi việc.
– Anh có hối hận vì tội lỗi ghê gớm đó không?
– Có gì phải hối hận khi tôi đã có ý định từ hai mươi năm trước
.
– Tại sao anh không dành cho mình viên đạn cuối cùng theo thường
lệ… ?
– Bởi viên đạn đó tôi phải dành cho một việc khác quan trọng
hơn!
– Việc gì?
– Thay mặt ông nội tôi thanh toán nốt món nợ…
– Anh có thể trở thành người lương thiện lại được không?
– Chỉ có người lương thiện thật sự mới dám nổ súng vào sự đè
nén truyền kiếp! Tôi không muốn “con vua tiếp tục làm vua”… cha tôi đã tìm cách
thanh toán việc này bằng ba mươi năm chiến đấu có tổ chức. Tôi đã làm theo cách
của tôi. Tự giải phóng mình khỏi số phận đê hèn là một việc thiện, ít nhất là
cho chính mình… Con tôi (nếu có) sẽ không bao giờ phải đi cắt cỏ ngựa thuê cho
các thế hệ của dòng họ Lâm như ba đời trước nó…
(Giải nhất cuộc thi truyện ngắn Báo Văn Nghệ 1990 – 1991)
26/2/2023
Lại Văn Long
Theo https://vanchuongphuongnam.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét