Có những loại âm
thanh xem ra rất quen thuộc nhưng người ta chưa bao giờ nghe, mà chỉ đọc thấy
trong văn chương. Tiếng chiêng, tiếng cồng, tiếng tù và chẳng hạn, không phải
ai, nhất là những người sinh ra từ khoảng giữa thế kỷ này và lớn lên ở thành phố,
đều đã có dịp nghe, mặc dù vẫn hát hoặc nghe hát:
Chiêng trống cồng mừng anh lên rẫy xuống đồi xuống nương đi cày...
Hoặc đọc trong thơ bà Huyện Thanh Quan:
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Chiêng trống cồng mừng anh lên rẫy xuống đồi xuống nương đi cày...
Hoặc đọc trong thơ bà Huyện Thanh Quan:
Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
Dám chắc hầu hết học
sinh nếu không được thầy giảng cho thì cả đời cũng không hiểu được “tiếng ốc”
là gì, chứ đừng nói đã nghe nó. Nhiều người có thể còn hỏi: con ốc mà kêu được
sao?
Có những loại âm
thanh không bao giờ phổ biến, chỉ có tại một vùng nào đó thôi, người nơi khác đọc
thấy tha hồ tưởng tượng, nhưng mỗi người tưởng tượng một khác, thậm chí có trường
hợp lại hiểu sai đi. Hồi ở trại Thanh Cẩm, Thanh Hóa, tôi khá thân với anh Sĩ,
một sĩ quan cảnh sát người Nam rất giỏi nhạc lý, trước kia có chân trong ban nhạc
của Cảnh sát ở Sài Gòn. Một buổi chiều đi làm về, cảnh trí hai bên đường êm đềm
bát ngát, một bên là nương sắn và đồi núi, một bên là dòng sông Mã trong xanh,
chúng tôi nghe trên đồi vẳng xuống hàng loạt tiếng “lốc cốc... lốc cốc...” không
đều nhau, lúc thưa thớt, lúc rộn rã dồn dập, tôi nói với anh Sĩ:
“Anh có bao giờ sống đúng với cái cảnh ông Phạm Duy đã tả trong bài Nương Chiều như hôm nay chưa:
Chiều ơi, lúc chiều về rợp những nương khoai
Trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều
“Anh có bao giờ sống đúng với cái cảnh ông Phạm Duy đã tả trong bài Nương Chiều như hôm nay chưa:
Chiều ơi, lúc chiều về rợp những nương khoai
Trâu bò về giục mõ xa xôi, ơi chiều
Anh nghe tiếng
trâu bò giục mõ đó không?”
Anh Sĩ nhìn tôi,
trợn mắt, miệng há hốc như vừa khám phá ra một bí mật anh không bao giờ ngờ tới:
“Trời ơi... trời ơi... té ra... giục mõ là như thế đó hả? Lâu nay tôi hiểu chữ này hoàn toàn khác, đúng ra là tôi không hiểu gì cả. Tôi tưởng 'mõ' đây là cái miệng con trâu con bò, còn 'giục' nói theo giọng Nam, có nghĩa là vục vào, đưa vào. Ha ha ha ha...”
“Trời ơi... trời ơi... té ra... giục mõ là như thế đó hả? Lâu nay tôi hiểu chữ này hoàn toàn khác, đúng ra là tôi không hiểu gì cả. Tôi tưởng 'mõ' đây là cái miệng con trâu con bò, còn 'giục' nói theo giọng Nam, có nghĩa là vục vào, đưa vào. Ha ha ha ha...”
Anh cười ngặt nghẽo,
vừa đi vừa ôm bụng cười cho cái sự lầm lẫn đơn giản mà trọng đại đến thế. Tôi
nói với anh:
“Tôi không lầm như anh, nhưng mãi cho đến khi ra ở vùng này tôi mới thấy trâu bò được treo mõ vào cổ và biết được cái tiếng mõ ấy phát ra như thế nào. Một khi đã thả trâu bò vào rừng núi để ăn lá mà không có tiếng mõ tự động phát ra liên tục như thế thì làm sao biết nó ở đâu mà tìm. Tìm một con đã chết giở, chứ đừng nói cả đàn. Rồi một hôm tôi bỗng liên hệ được cái 'tiếng mõ xa xôi' của ông Phạm Duy với tiếng lốc cốc của đàn trâu ở đây, từ sự thưởng thức hàm thụ một tác phẩm nghệ thuật đến lúc sống thực với nó, chứng nghiệm nó, lắm khi là một đoạn đường rất dài, có thể là một 'con đường đau khổ' như anh với tôi đang đi.”
“Tôi không lầm như anh, nhưng mãi cho đến khi ra ở vùng này tôi mới thấy trâu bò được treo mõ vào cổ và biết được cái tiếng mõ ấy phát ra như thế nào. Một khi đã thả trâu bò vào rừng núi để ăn lá mà không có tiếng mõ tự động phát ra liên tục như thế thì làm sao biết nó ở đâu mà tìm. Tìm một con đã chết giở, chứ đừng nói cả đàn. Rồi một hôm tôi bỗng liên hệ được cái 'tiếng mõ xa xôi' của ông Phạm Duy với tiếng lốc cốc của đàn trâu ở đây, từ sự thưởng thức hàm thụ một tác phẩm nghệ thuật đến lúc sống thực với nó, chứng nghiệm nó, lắm khi là một đoạn đường rất dài, có thể là một 'con đường đau khổ' như anh với tôi đang đi.”
Anh Sĩ nói:
“Nhưng làm sao trước kia anh hiểu được cái vụ 'giục mõ' này? Dù chưa thấy, chưa nghe, nhưng anh đã hiểu đúng chớ không lầm tai hại như tôi!”
“Nhưng làm sao trước kia anh hiểu được cái vụ 'giục mõ' này? Dù chưa thấy, chưa nghe, nhưng anh đã hiểu đúng chớ không lầm tai hại như tôi!”
Tôi trả lời:
“Không phải khi bắt đầu hát bài đó khi còn niên thiếu là tôi đã hiểu ngay đâu. Rất nhiều điều mình nghe hoặc đọc từ nhỏ mãi lớn lên mới dần dần hiểu ra. Tôi kết hợp với hình ảnh trong những sách khác, nhất là sách truyện đường rừng ngoài Bắc trong đó mô tả trâu bò đeo mõ, rồi những phương ngữ như trâu gõ mõ, chó leo thang, mà dần hiểu ra thôi. Mà cũng hiểu lơ mơ đại khái, phải dùng trí tưởng tượng để bù đắp rất nhiều. Tôi chắc không riêng gì tụi mình ở trong Nam khó hiểu những vụ như thế này, một người nhỏ lớn sống ở Hà Nội chắc cũng không hơn tụi mình trong chuyện 'giục mõ' này đâu.”
“Không phải khi bắt đầu hát bài đó khi còn niên thiếu là tôi đã hiểu ngay đâu. Rất nhiều điều mình nghe hoặc đọc từ nhỏ mãi lớn lên mới dần dần hiểu ra. Tôi kết hợp với hình ảnh trong những sách khác, nhất là sách truyện đường rừng ngoài Bắc trong đó mô tả trâu bò đeo mõ, rồi những phương ngữ như trâu gõ mõ, chó leo thang, mà dần hiểu ra thôi. Mà cũng hiểu lơ mơ đại khái, phải dùng trí tưởng tượng để bù đắp rất nhiều. Tôi chắc không riêng gì tụi mình ở trong Nam khó hiểu những vụ như thế này, một người nhỏ lớn sống ở Hà Nội chắc cũng không hơn tụi mình trong chuyện 'giục mõ' này đâu.”
Ông sĩ quan cảnh
sát nhận xét:
“Nhưng nhờ phát âm đúng chính tả mà họ sẽ không bị những cái sai lầm tày trời như tôi vừa rồi.”
“Nhưng nhờ phát âm đúng chính tả mà họ sẽ không bị những cái sai lầm tày trời như tôi vừa rồi.”
“Cái đó thì tôi đồng
ý với anh. Tôi có một người bạn thân người Bạc Liêu, chơi với nhau từ thời cùng
học trung học, mãi đến khi lớn lên tôi mới tình cờ khám phá những cái hiểu lầm
tương tự như anh vừa rồi nơi bạn tôi, chung quy cũng tại cách phát âm không
phân biệt của miền Nam.”
Anh Sĩ tò mò:
“Anh ấy hiểu lầm cái gì?”
“Anh ấy hiểu lầm cái gì?”
“Thời sinh viên
chúng tôi vẫn còn thường 'ăn một mâm nằm một chiếu' với nhau. Một buổi tối trước
khi ngủ tôi nằm luận với bạn tôi về bài Lữ Hành, a, tình cờ vụ này cũng lại
liên quan đến chữ nghĩa của ông Phạm Duy như hôm nay. Hồi đó tôi mới khám phá ý
nghĩa triết học của bài Lữ Hành, khoái lắm, muốn chia sẻ với bạn:
Người đi trong không gian
Nhịp xe uốn vòng tử sinh
Bánh xe tang ngoại ô
Chiếc nôi trong vườn hoa.
Người đi trong không gian
Nhịp xe uốn vòng tử sinh
Bánh xe tang ngoại ô
Chiếc nôi trong vườn hoa.
Thấy chưa, cuộc
sinh tử ở đời được tác giả gói trọn trong hai hình ảnh ngược nhau: chiếc xe chở
người chết đi chôn ở vùng ngoại ô buồn thảm, và chiếc nôi của em bé sơ sinh tượng
trưng cho sự sống lại nằm tại một nơi tươi sáng là vườn hoa...
Tôi đang thao thao
tới đây thì bạn tôi bỗng kêu lên: Chết cha, lâu nay mình đâu có dè chữ 'xe
tang' là xe đám ma, mình vẫn tưởng tác giả tả hình ảnh một chiếc xe dần dần
'tan biến' 'tan đi' mờ khuất ở một nơi xa xôi ở ngoại ô thành phố. Ờ, ờ... 'xe tang' là có
lý quá, hay quá, sao lâu nay mình không nghĩ ra được!'”
Anh Sĩ lại cười sặc
sụa, khoái chí vì có đồng minh. Tôi nghĩ những hiểu lầm như thế có rất nhiều, mỗi
người đều mang trong mình một mớ, rồi dần dần theo với sự lịch duyệt ở đời mà
được giải dần đi. Cũng có khi cho đến chết vẫn chưa giải được hết, trường hợp
này thôi đành chở kiếp sau giải nốt, nếu gặp duyên may.
Trở về với những
âm thanh thường được nhắc trong văn chương. Tiếng mẹ ru. Chắc chắn đây là loại
tiếng phổ quát nhất, vì ai cũng có mẹ, và bà mẹ nào cũng ru con. Tiếng ru được
ca tụng là phải vì trên đời còn thứ tiếng gì êm đềm hơn, đẫm tình cảm hơn, mang
đầy sức sống hơn, mà lại đến với một con người từ buổi còn non nớt. Dù ngày nay
chưa chắc bà mẹ nào cũng biết ru con, và một số điệu ru đang là đối tượng cho
những nhà sưu tầm khôi phục, gìn giữ, nhưng tiếng mẹ ru không là một cái gì xa
lạ đến nỗi một người có thể nói tôi chỉ đọc thấy nó trong sách chứ tôi không biết
nó là cái gì. Không như tiếng sáo diều, thứ tiếng được nói đến rất nhiều trong
các âm thanh làm nên tình tự quê hương, nhưng đa số người Việt Nam lại chưa có
dịp nghe một lần trong đời mình.
Tiếng mẹ ru thường được Phạm Duy nói tới trong quê hương ca của
ông. Cũng như tiếng sáo diều!
Tôi chưa được nghe sáo diều như thế nào cả (nhất là sáo cồng).
Như trường hợp tiếng mõ trâu bò trước đây, tôi biết nó nhưng tôi chưa nghe nó,
chưa nói đến chuyện cảm nó. Tiếng sáo diều có trong bầu trời thơ ấu của tôi qua
những truyện, những thơ tôi đọc, âm thanh ấy đi vào ngõ mắt chứ không phải qua
thính giác. Nó có tạo thành một cảm giác vi vu nào đó trong tôi, có lẽ vậy, vẫn
thành một tình cảm quê hương, nhưng là một tình cảm ước lệ chứ không có thực chứng.
Có thể trong đời sống chúng ta mang nhiều tình cảm loại đó, một cách có ý thức
hoặc không có ý thức đầy đủ, do một số các điều kiện mang lại. Không kể các chế
độ độc tài bưng bít mọi thứ để cố tình nhào nặn tình cảm con người theo ý họ muốn,
văn chương sách vở là thứ mang lại cho con người nhiều tình cảm ước lệ nhất. Vì
thế mà các bậc phụ huynh mấy thế hệ trước đây nhất thiết cấm con gái không cho đọc tiểu thuyết, cũng chỉ vì sợ những tình cảm ủy
mị, những mối tình lâm ly sẽ làm “hư” con mình. Xa hơn nữa thì:
Đàn ông chớ đọc Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều
Đàn ông chớ đọc Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều
Những tình cảm mà
văn chương mang lại, tuy là vay mượn, nếu không được hướng dẫn, điều chỉnh đúng
mức thì một ngày kia sẽ thành tình cảm thực nơi một con người. Don Quichotte là
một ví dụ. Chàng đọc quá nhiều sách kiếm hiệp đến độ nhập tâm, một ngày kia bèn
lên ngựa để đi hành hiệp giống y như những trang hiệp sĩ mà chàng tiêm nhiễm
trong sách. Tôi nghi nhiều tình cảm trong chúng ta cũng “giả” như vậy, kể cả
cái gọi là tình quê hương, nhất là khi vì nhu cầu chính trị, nó được điều động
ca ngợi như là một thứ không có không được, không có thì “không lớn nổi thành
người,” vân vân. Cũng như tiếng sáo diều đã nhập vào tâm thức của tôi đến độ
tôi tưởng tiếng kêu của nó là tiếng tình tự quê hương c ủ a tôi, trong khi tôi
chưa hề nghe thấy nó bao giờ. Tuy nhiên tôi không buồn vì tình trạng giả ngụy
như vậy, vì đời sống tinh thần của tôi đã bị điều kiện hóa từ khi còn thơ bởi
sách vở, và những tình cảm tôi tiêm nhiễm được ấy là tốt chứ không phải là xấu.
Tiếng sáo diều hàm thụ ấy không có lỗi gì đối với tôi vì nó có thực trên bầu trời
quê cha đất tổ của tôi là châu thổ sông Hồng, được mô tả lại bởi những tấm lòng
yêu mến quê hương thành thật, tôi tiêm nhiễm nó, cho nó thành một tình cảm ước
lệ của tôi về quê hương. Cũng được thôi, miễn là tôi không hiểu sai về nó (ví dụ
như hiểu ra đó là tiếng véo von của một... loại chim, giống như trường hợp “giục
mõ” thành “vục mỏ” vậy), hay dùng nó một cách giả dối.
Tôi không nhớ
trong những bài luận tả làng quê tôi mà tôi làm lúc nhỏ có khi nào tôi nói đến
tiếng sáo diều không? Nếu có thì hoàn toàn do tôi cóp ý của các tác giả mà tôi
đọc, chứ làng quê tôi thì trừ trẻ con chơi thứ diều nhỏ đơn sơ dây ngắn, người
lớn không ai chơi thả diều, nói gì đến diều có sáo. Mãi lớn lên tôi mới biết
qua sách vở rằng thôn quê miền Bắc ngày xưa có môn chơi diều rất thịnh hành,
làm diều, thả diều là một môn nghệ thuật khá phức tạp, và đặt những ống sáo
trên diều để nó phát ra tiếng kêu trên không lại là một nghệ thuật khác. Tiếng
kêu ấy, đồng hóa vào bầu trời quê hương, để các tác giả miền Bắc không tiếc lời
ca tụng, nhớ thương, cho thấy đời sống nông thôn vùng đồng bằng sông Hồng ngày xưa
có nhiều vẻ đẹp, người dân cần cù khổ cực nhưng biết tô điểm cho đời sống. Quê
tôi ở miền Trung không có đánh đu, tung còn, hát trống quân, hội hè rước xách,
và trên không trung không có tiếng sáo diều. Dĩ nhiên không phải vì thế mà người
ta kém yêu quê hương nơi mình sinh ra, nhưng người đọc sách vẫn tưởng tượng
mình có một chốn quê hương khác, nhiều màu sắc, nhiều dáng vẻ hơn, nhất là đó
là nơi gốc gác xưa cũ của tổ tiên mình.
Thả diều là môn chơi của văn minh nông nghiệp, khi con người
còn gần gũi thân thiết với thiên nhiên, biết mượn sức gió để bày ra một trò
chơi, để tạo nên một điệu nhạc giữa bầu trời chiều quê lồng lộng. Điệu sáo do
trời thổi ấy đã để lại một kỷ niệm êm đềm dai dẳng vì nó phát ra từ trời cao vọng
xuống, người ta không nghe nó mà đón nó vào hồn. Không biết tiếng sáo diều bắt
đầu ngân nga trên bầu trời Việt Nam tự thời nào, nhưng âm vang của nó rất sâu
và rất xa. Tiếng sáo đã ngưng mà lòng người vẫn còn nghe văng vẳng, nó cùng bao
âm thanh khác nữa góp phần xây dựng nên một tình tự mà ta vẫn gọi là tình tự
quê hương.
Phạm Phú Minh





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét