Ba Vì - Ngọn núi huyền thoại
Từ thành phố Sài Gòn, vừa chân ướt chân ráo về tới thủ đô Hà Nội vào
ngày 18-3-2001, tôi đã linh cảm thấy tâm hồn mình chịu một sức hút mạnh mẽ của
vùng trời cao rộng miền trung du và thượng du phía bắc đất nước. Đêm nằm tôi cứ
mơ tưởng không dứt đến Ba Vì, Đền Hùng, Tam Đảo, Hoàng Liên Sơn, và Xứ Lạng xa
xăm… Trong tâm trạng ấy, tôi chợt liên tưởng đến lời cảm thán của Chung Tử Kì
sau khi nghe một khúc đàn của Bá Nha: Nga nga hồ, chí tại cao sơn! (Vòi
vọi thay, chí ở núi cao!).
Tôi chợt nghĩ đến một số khá đông người của thời hiện đại: họ không
tha thiết đến thăm Ba Vì bằng du lịch đến thăm Vạn Lí Trường Thành của Trung
Hoa. Tuy là người Việt nhưng họ lại hết sức tâm đắc với câu nói “Bất đáo
Trường Thành phi hảo Hán”. Tôi thì khác, tôi muốn hét to một câu mà tôi vừa
nghĩ ra để đối lại câu nói trên: “Bất đáo Ba Vì phi hảo Việt” (không
đến Ba Vì, không xứng Việt). Ngay lập tức trong óc tôi nảy ra một “cao kiến”.
Tôi bèn đi tìm gặp nhà thơ Nguyễn Ngọc Oánh, nguyên phó thống đốc Ngân hàng nhà
nước Việt Nam, một người khá độc đáo đã làm nên một cuộc giao duyên thú vị giữa…
tiền tệ và thơ ca. Tôi và anh tuy chưa hề biết mặt nhau nhưng từ lâu giữa chúng
tôi đã có cái “duyên văn tự”: vì nhận biết được giá trị của thơ anh, tôi đã tuyển
một số bài hay đưa vào “tủ thơ Việt Nam” do Nhà xuất bản Đồng Nai ấn hành.
Ngay sau khi lắng nghe tôi đề xuất nguyện vọng được hành hương về
nguồn, có lẽ chính Nguyễn Ngọc Oánh cũng cảm thấy lòng mình háo hức (nói theo
dân gian thì… tôi đã gãi vào đúng chỗ ngứa của anh), và anh đã hồ hởi đáp ứng.
Điều đó cũng có nghĩa là chính anh sẽ phải “chịu trận” cho cuộc hành hương trọng
đại này. Thế rồi chỉ một ngày sau, anh đã nhanh như cắt thuê hay mượn được một
chiếc xe con, rủ thêm được hai nhà thơ nữa là Trúc Thông và Nguyễn Đức Mậu, và
cả bọn đăng trình vào một buổi sáng mùa xuân ấm áp. Chiếc xe bon bon chạy trên
con đường dài vắt qua miền trung du rồi bò lên dốc núi Ba Vì, khó nhọc uốn lượn
theo những đường vòng khúc khuỷu quanh sườn núi.
Ba Vì hiện đã trở thành vườn quốc gia nổi tiếng với những tầng thực
vật đặc trưng của vùng khí hậu cận thượng du bắc Việt Nam. Đó là khu rừng già
nhiệt đới nguyên sinh rậm rạp, phủ xanh cả ngọn núi Ba Vì và tràn xuống các
thung lũng và vùng bán sơn địa xung quanh. Tôi cảm thấy lòng vô hạn sung sướng
khi nhận biết rằng Ba Vì, ngọn núi huyền thoại của dân tộc và của riêng tâm hồn
tôi, đến nay vẫn giữ nguyên vẻ đẹp hoang sơ nguyên thuỷ. Dường như suốt bao thế
kỉ qua, bao nhiêu biến động của thời cuộc cũng như những tác động tiêu cực của
nền văn minh hiện đại vẫn chưa có mấy cơ hội xâm phạm tới ngọn núi khá cheo leo
hiểm trở này. Tương truyền Ba Vì – nơi ngự trị của thần Tản Viên (tức Tản Viên
Sơn Thánh), vị thần tối thượng của dân tộc ta, một trong “tứ bất tử”1, là ngọn
núi đặc biệt thiêng liêng cần phải được kính cẩn giữ gìn nguyên vẹn. Tôi nhận
ra sự tương đồng giữa Ba Vì và núi Yên Tử ở Quảng Ninh quê mẹ tôi: thiên nhiên
kì vĩ, nguyên sơ, linh thiêng như một cảnh giới khác hẳn cõi tục. Phải chăng Ba
Vì là đất Thánh, sánh ngang với Yên Tử là đất Phật?
Suốt cả tiếng đồng hồ, chiếc xe con len lỏi tiến lên như một kẻ mạo
hiểm trong màn sương mù dày đặc và trong ướt át mưa rừng. Chúng tôi không nói
ra nhưng trong lòng ai cũng dấy lên một nỗi lo: có lẽ cuộc hành hương của chúng
tôi đã không may gặp phải ngày tiết trời quá xấu. Chúng tôi đâu biết rằng những
cuộc đi vào chốn thâm sơn cùng cốc luôn luôn là những cuộc chơi “ú tim”. Thật vậy,
sau một “cua” lượn quanh một mỏm núi, xe chúng tôi đột ngột lọt vào một vùng
ánh sáng trong trẻo khiến ai nấy thở phào nhẹ nhõm và vui mừng như muốn thốt
lên: “Có thế chứ! Không lẽ trời Phật lại không mở lòng ưu ái với bọn thi nhân
lãng tử này?”. Xe tiếp tục vượt lên cao và dừng lại bên Đền Thượng (thờ thần Tản
Viên). Chúng tôi ngây ngất ngắm cảnh thiên nhiên vừa hùng vĩ vừa thơ mộng của vùng
đất Sơn Tây mà thi sĩ núi Tản sông Đà đã từng miêu tả bằng những câu thơ vô
cùng sống động:
Nước dợn sống Đà con cá nhảy,
Mây trùm non Tản cái diều bay.
Mây trùm non Tản cái diều bay.
Nguyễn Ngọc Oánh đứng làm chủ lễ trong cuộc cúng thần Tản Viên tại
đền (anh đã chuẩn bị chu đáo các lễ vật như vàng hương, gà, xôi, bánh trái).
Trong mấy phút ngồi thiền định trên núi, tôi nhận thấy rõ linh điển của núi Ba
Vì rất mạnh.
Sau đó chúng tôi trèo lên đỉnh cao nhất của ngọn núi, phóng mắt ra
khắp bốn phương trời, cố dõi tìm hình ảnh của thủ đô Hà Nội đang chìm khuất sau
mây khói. Trên đỉnh cao này, người xưa đã lập sẵn miếu thờ Thánh Mẫu Thượng
Thiên (tức thánh mẫu Liễu Hạnh, một vị trong “tứ bất tử”) tượng trưng cho Trời,
và miếu thờ Địa Mẫu Diêu Trì tượng trưng cho Đất. Chúng ta không thể không khâm
phục tổ tiên của chúng ta: ngay từ thời thái cổ, người Việt đã đạt tới một tư
tưởng triết học cao siêu phản ánh đúng bản chất của tự nhiên (đó chính là những
triết thuyết kinh điển về Âm – Dương và về tam tài Thiên – Địa – Nhân của
Phương Đông).
Suốt chặng đường đăng sơn lên đỉnh Ba Vì, chúng tôi gặp cả một dòng
người hành hương đông như trảy hội. Đông nhất là các cô cậu học sinh trẻ măng,
những “con khôn của dòng giống Tiên Rồng”. Họ lũ lượt cuốc bộ và leo dốc cả chục
cây số đường núi. Tôi thấy rõ: dù gian nan vất vả đến mấy, không một ai trong bọn
họ chịu thoái lui hay bỏ dở cuộc hành trình. Hình như trong đáy sâu của những
tâm hồn son trẻ kia có sức mạnh thần bí nào thôi thúc các em quyết dấn bước để
hoàn tất cuộc hành hương về nguồn, để thật sự được đặt chân lên đỉnh ngọn núi
huyền thoại. Phải, chính nơi đây, từ thuở xa xưa, Sơn Tinh (thần Tản Viên) vì sự
sống còn của đất nước Văn Lang, đã dùng phép thần thông đắp cao chót vót để chống
lại thuỷ tai do Thủy Tinh gây ra. Tôi chợt nhận ra một điều: cho dù vật đổi sao
dời, khí thiêng tích tụ trên ngọn Ba Vì vẫn đời đời tồn tại.
Chiều dần buông xuống, chúng tôi lưu luyến từ giã ngọn núi Ba Vì
thiêng liêng, lòng thầm nhủ: không biết đến bao giờ chúng tôi mới lại có diễm
phúc được trở lại thăm Ba Vì lần nữa? Trong khi chiếc xe con ngoan ngoãn bò xuống
núi, lòng chúng tôi bỗng trầm lặng hẳn đi: hình như ai nấy đều cảm nhận được
cái hạo khí của vùng đất Sơn Tây mà từ thời dựng nước Văn Lang đã chứa đựng biết
bao sự tích oai hùng. Vâng, thật khó mà diễn tả được cảm xúc của những kẻ suốt
đời khao khát đất nước mình, vậy mà mãi đến khi mái đầu điểm bạc mới thật sự được
ngâm mình giữa thiên nhiên hoành tráng của một vùng đất địa linh nhân kiệt, nơi
phát tích của những đấng anh hùng hiển hách: Hai Bà Trưng, Phùng Hưng, Ngô Quyền.
Bỗng dưng cao hứng, tôi khe khẽ cất tiếng hát bài “Nhớ Ba Vì” của
thi sĩ Quang Dũng (người xứ Đoài, Sơn Tây) cho mọi người cùng nghe. Có phải do
có duyên với Ba Vì chăng mà từ hồi mười một mười hai tuổi tôi đã đặc biệt thích
và nhớ nhập tâm bài hát ấy: “Ba Vì mờ cao, làn sương chiều xa buông, gió về
hương núi thơm dâng hồn về đâu? Rừng thông lên mờ tím, đồi lau úa trong hơi mờ
ướt. Nước róc rách đâu đây gót chân đi lang hang lối về miền mây…Từ xa thương
nhớ Ba vì ơi! Thời gian chưa muốn phai dáng người. Giang hồ dừng bước nhớ nhung
Ba Vì ơi!”.
Lạ thay: sau khi rời khỏi vùng đất thiêng, nỗi “thương nhớ ngàn
năm” dường như vơi dịu đi và thay vào đó là một trạng thái tâm hồn sung sức lạ
thường khiến chúng tôi ai nấy đều cảm thấy phấn chấn. Phải chăng vì đây là một
cuộc hành hương “không hẹn mà nên” - chúng tôi kẻ trong Nam, người ngoài Bắc,
riêng tôi lần đầu tiên gặp mặt bốn người đồng hành gồm ba nhà thơ và một lái xe
- nhưng chúng tôi đã đồng thuận trong chớp nhoáng và quyết chí rủ nhau đến với
Ba Vì. Chính vì thế mà Ba Vì thiêng liêng đã ưu ái ban thêm sức sống và niềm
vui cho lũ hậu duệ của Người!
Tôi tin rằng, bất cứ người nào đã một lần tới bái viếng Ba Vì, cũng
đều cảm nhận được niềm ân sủng vô giá của đất trời y hệt như chúng tôi.
Kiều Văn





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét