Nếu tính theo khoảng cách không gian từ Hà Nội, có lẽ không
có thủ đô của quốc gia nào trên thế giới xa hơn Santiago của Chilê. Dù bay với
hãng Emirates theo ngả Đubai, hay bay với hãng Airfrance theo ngả Paris thì
cũng mất không ít hơn 30 giờ đồng hồ cả bay trên trời với đợi ở các chặng dừng
dưới đất mới tới nơi tưởng như tận cùng thế giới này. “Xa xôi thế nên một năm
chưa đến chục đoàn Việt Nam đến thăm và làm việc”, Đại sứ Ngô Đức Thắng giải
thích như thế. Quả vậy, đầu tháng 11 rồi mà chúng tôi mới là đoàn thứ năm. Theo
kế hoạch, tháng 12 còn hai đoàn nữa, vậy là năm nay tổng cộng chỉ có 7 đoàn Việt
Nam đến thăm và làm việc ở Chilê.
Khi chúng tôi đến, ở Chilê đang là mùa xuân. Ở bán cầu Nam,
các quy luật thời tiết hoàn toàn trái ngược với nước ta. Bây giờ ở Hà Nội đang
giữa mùa thu, ngày đang ngắn dần, cây lá sắp úa vàng, nhưng ở Santiago, mùa
xuân đang độ chín. 8 giờ sáng, nhiệt độ ngoài trời 16 - 18 độ C, khoác chiếc áo
khoác mỏng ra đường đã là dễ chịu. Buổi trưa, trời xanh ngăn ngắt, nắng vàng rười
rượi, nhiệt độ lên đến 23 -24 độ C. Gần 8 giờ tối, vẫn thấy le lói đâu đấy trên
vòm lá, những tia nắng cuối ngày còn sót lại. Trên các đường phố, cây lá xanh
mướt mát, các loài hoa đua sắc rực rỡ.
Mới chạm mặt lần đầu, Santiago chẳng khác gì mấy thành phố
châu Âu, Bắc Mỹ. Cũng những đường phố tấp nập xe cộ, những quảng trường với các
tượng đài danh nhân, những khu nhà kiến trúc cổ điển, những đường phố rợp bóng
cây phong. Nhưng quan sát kỹ mới thấy, hầu hết các công trình xây dựng ở đây đều
mang dáng vẻ thô và chắc chắn, phía đỉnh bao giờ cũng thu nhỏ lại. Ngay cả toà
cao ốc 82 tầng, ốp kính, chiếm kỷ lục về chiều cao ở khu vực Mỹ Latinh, mới xây
dựng ở ngay trung tâm thành phố hầu như cũng không ra ngoài cái luật bất thành
văn ấy. Thực ra, không phải là triết lý xây dựng phương Đông “thượng thu, hạ
thách” có ảnh hưởng gì, mà là nguy cơ động đất buộc người ta phải bảo đảm một kết
cấu thật bền vững cho mỗi ngôi nhà. Ở đây, mật độ những trận động đất vào loại
dày đặc nhất thể giới.
Lịch sử phát triển của thành phố Santiago là một điển hình
cho quá trình người châu Âu chinh phục vùng đất Mỹ Latinh. Sau khi Magienlăng
khám phá ra con đường hàng hải từ Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương qua mũi đất
cực Nam của châu Mỹ, người Tây Ban Nha bắt đầu đặt chân đến miền Trung của
Chilê. Có lẽ do điều kiện khí hậu ôn hòa kiểu Địa Trung Hải và những thuận lợi
cho phát triển trồng trọt và đánh bắt cá trên biển đã khiến những người Tây Ban
Nha chọn nơi đây làm căn cứ để khởi đầu cho sự hiện diện của mình trên dải đất
dài dằng dặc hơn 4.600 cây số này, nơi tựa lưng vào dãy núi Andes hùng vĩ, ngoảnh
mặt ra Thái Bình Dương bao la. Năm 1541, Pedro De Vandivia, một người Tây Ban
Nha, đã lập ra thị trấn Santiago, mở đầu cho lịch sử thành phố thủ đô của
Chilê. Nhưng vùng đất Chilê vốn đã có chủ, là nơi sinh sống của những người thổ
dân. Sự kháng cự của thổ dân Mapuche đã dẫn đến việc Santiago bị đốt cháy và
Pedro De Vandivia bị giết chết ngay tại căn cứ cố thủ của ông trên đồi Santa
Lucia vào năm 1553.
Tuy nhiên với sự hơn hẳn về vũ khí và kỹ thuật trong sản xuất
nông nghiệp, đánh bắt hải sản, những người Tây Ban Nha nhanh chóng trở lại khôi
phục Santiago, trấn áp các lực lượng thổ dân, nhanh chóng mở rộng lãnh thổ ảnh
hưởng đến tận cực Nam của lục địa Nam Mỹ. Đến lượt mình, chính những người Tây
Ban Nha ở Chi lê lại không chấp nhận sự trị vì của Hoàng triều ở quê hương của
mình. Cuộc đấu tranh giành độc lập của Chilê đã thành công và ngày 22-2-1818,
Chilê chính thức tuyên bố độc lập, thành nước Cộng hoà Chilê, tách khỏi đế quốc
Tây Ban Nha.
Trong cuộc chiến tranh Thái Bình Dương từ 1879 đến 1883, quân
đội Chilê dưới sự chỉ huy của viên tướng Baqueđano đã đánh bại quân đội của
Pêru và Bôlivia để chiếm lấy toàn bộ dải đất ven biển Thái Bình Dương của hai
quốc gia này. Đây là vùng đất chủ yếu là sa mạc, nơi có hoang mạc Acatama khô cằn
nhất thế giới. Nhưng vùng lãnh thổ miền Bắc này lại là con gà đẻ trứng vàng cho
Chilê khi người ta phát hiện ra các mỏ đồng ở đây. Ngày nay, Chilê là nước sản
xuất ra 40% sản lượng đồng của toàn thế giới và đồng đem lại quá 1/3 thu nhập
cho quốc gia này.
Santiago cũng chứng kiến những thăng trầm của Chilê thời hiện
đại mà một trong số đó là cuộc đảo chính đẫm máu của viên tướng Augustô
Pinôchê. Ngày 11-9-1973, Pinôchê đã huy động quân đội và xe tăng bao vây, nã
pháo vào Dinh Tổng thống, giết chết Tổng thống dân cử Sanvađo Agienđê cùng hàng
trăm người là thành viên chính phủ và những người bảo vệ trung thành với với Tổng
thống. Chính phủ của Liên minh Đoàn kết bình dân do Đảng Xã hội cầm đầu liên
minh với 16 đảng phái khác bị lật đổ. Chế độ độc tài quân sự của Pinôchê kéo
dài đến năm 1989 và cùng với đó là “thành tích” 45,1% dân Chilê sống dưới mức bần
cùng.
Bây giờ Santiago đã là một trong những thành phố lớn nhất của
Mỹ Latinh với hơn 6 triệu dân. Đứng trên núi San Cristobal cao 860 mét nhìn xuống,
Santiago hiện lên với hai nửa khác nhau như tối với sáng, như đen với trắng. Nửa
phía Nam thành phố là khu vực hiện đại, giàu có, với trục trung tâm là con sông
Mapôchô bắt nguồn từ dãy núi Anđes chảy theo hướng đông - tây. Đây là nơi tập
trung những cao ốc sang trọng, những khu phố sầm uất, những trụ sở ngân hàng,
nhà hàng, khách sạn, những khu văn hoá vui chơi, giải trí, nghĩa là tất cả những
gì tinh hoa của thành phố. Nửa phía Bắc của Santiago như một tấm thảm cũ màu
xám, dày đặc những ngôi nhà thấp lụp sụp, trải dài đến tận chân núi phía xa.
Ở Santiago, bất cứ nơi nào đều có thể nhìn thấy núi nếu tầm mắt
không bị che khuất bởi các ngôi nhà. Núi bao quanh thành phố như một vòng thành
thiên nhiên vĩ đại. Nếu quan sát kỹ, có thể phân biệt rất rõ hai phía của vòng
thành núi này. Về phía đông, đông - Bắc, đông - Nam, là những ngọn núi cao phủ
tuyết trắng. Đó chính là những ngọn núi của dãy Anđes, cột sống của lục địa Mỹ
Latinh, chạy suốt từ phía tây Vênêzuêla cho xuống đến tận cực nam của lục địa,
làm thành biên giới tự nhiên giữa Chilê với Argentina, Bôlivia và một phần với
Pêru. Về phía Tây của Santiago là những dải núi thấp, không có tuyết phủ, đó
chính là vùng đất thoải dần từ dãy núi Anđes ra bờ biển Thái Bình Dương.
Santiago nằm ở vị trí gần như chính giữa, cân đối về phía hai
đầu của đất nước. Đây cũng là tâm điểm của vùng đất miền Trung Chilê. Khí hậu
kiểu Địa Trung Hải, ôn hòa, quanh năm mát mẻ. Mùa hè rất ngắn, có lúc nhiệt độ
ngoài trời cũng lên khá cao, nhưng do độ ẩm rất thấp nên chỉ vào bước vào bóng
râm đã cảm thấy mát mẻ. Dãy núi Anđes như bức thành tự nhiên, che chắn giông
bão từ phía đông, đồng thời cũng làm cho lượng mưa của Chilê khá thấp. Tuy
nhiên, chính Anđes với lượng băng tuyết khổng lồ trở thành nguồn cung cấp, đáp ứng
mọi nhu cầu về nước cho miền Trung Chilê. Với sự ưu đãi của thiên nhiên, chăn
nuôi bò và trồng nho ở đây rất phát triển.
Thịt bò ở Chilê ngon nổi tiếng thế giới. Cách chế biến thịt bò ở đây vừa kế thừa những tinh túy ẩm thực của vùng đất cổ châu Âu, vừa pha trộn với những khám phá mới mẻ, những hương vị đặc trưng của vùng đất mới càng làm cho những món ăn từ thịt bò trở nên hấp dẫn với thực khách. Những vườn nho bạt ngàn trên những triền đồi thoai thoải dưới chân dãy Anđes. Có lẽ không khí trong lành, sự điều hòa của mưa, nắng và gió trên độ cao cả nghìn mét làm cho trái nho ở đây mang hương vị rất riêng, không lẫn vào đâu được. Bởi vậy nên rượu vang Chilê ngon nổi tiếng. Thịt bò và rượu vang đã trở thành một thứ văn hoá ẩm thực rất riêng, niềm tự hào của Chilê và một gu tiêu dùng với nhiều người trên khắp thế giới. Quả thật, những người chẳng mấy sành điệu về cái thú ẩm thực như chúng tôi cũng không cầm lòng được trước sự hấp dẫn của bít-tết bò và rượu vang đỏ Chilê.
Thịt bò ở Chilê ngon nổi tiếng thế giới. Cách chế biến thịt bò ở đây vừa kế thừa những tinh túy ẩm thực của vùng đất cổ châu Âu, vừa pha trộn với những khám phá mới mẻ, những hương vị đặc trưng của vùng đất mới càng làm cho những món ăn từ thịt bò trở nên hấp dẫn với thực khách. Những vườn nho bạt ngàn trên những triền đồi thoai thoải dưới chân dãy Anđes. Có lẽ không khí trong lành, sự điều hòa của mưa, nắng và gió trên độ cao cả nghìn mét làm cho trái nho ở đây mang hương vị rất riêng, không lẫn vào đâu được. Bởi vậy nên rượu vang Chilê ngon nổi tiếng. Thịt bò và rượu vang đã trở thành một thứ văn hoá ẩm thực rất riêng, niềm tự hào của Chilê và một gu tiêu dùng với nhiều người trên khắp thế giới. Quả thật, những người chẳng mấy sành điệu về cái thú ẩm thực như chúng tôi cũng không cầm lòng được trước sự hấp dẫn của bít-tết bò và rượu vang đỏ Chilê.
Hôm ra đón chúng tôi ở sân bay, ngồi trên xe về khách sạn,
Nguyễn Việt Thành, anh bạn làm việc ở Thương vụ của Việt Nam tại Chilê bình luận:
“Đến Chilê mà chưa lên núi Anđes và ra biển Thái Bình Dương thì thật là thiếu
sót”. Quả thật, chúng tôi mới chỉ có kế hoạch đi làm việc với lãnh đạo Hạ nghị
viện Chilê ở thành phố Vanparaisô, cách Santiago 140 cây số về phía Nam. Đây
cũng là thành phố cảng biển lớn nhất của Chilê, đồng thời là nơi có ngôi nhà bảo
tàng của Pablô Nêruđa, nhà thơ lớn của Chilê. Thế là đã được một nửa ra biển.
Còn nửa lên núi? Vậy là tranh thủ ngày nghỉ, chúng tôi lên kế hoạch thực hiện
hành trình lên Valle Nevado (Thung lũng tuyết), một cơ sở dịch vụ thể thao mùa
đông ở độ cao 2.860 mét trên dãy Anđes. Nguyễn Việt Thành là hướng dẫn viên
kiêm lái xe.
Ra khỏi trung tâm Santiago khoảng 1 giờ đồng hồ, con đường
lên núi bắt đầu trưng ra tất cả sự hiểm trở đến khắc nghiệt của nó. Càng lên
cao, đường càng dốc, càng nhiều cua tay áo hiểm trở. Có đoạn, con đường xếp lớp
như lò so, đến 11 khúc cua tay áo chồng lên nhau. Số đếm không thể nhầm vì người
ta ghi rõ số thứ tự các vòng cua ở tấm biển ven đường trước mỗi khúc cua. Có đoạn,
người ta phải xây cả bức tường đá thẳng đứng thay cho ta-luy dương đoạn đường
dưới đồng thời trở thành ta-luy âm của đoạn đường phía trên. Thỉnh thoảng lại
thấy bên ven đường, mấy cục đá xếp chồng lên nhau cùng những bó hoa đã héo khô
hoặc một lá cờ Chilê cắm bên cạnh, dấu hiệu của tai nạn đổ xe, chết người. Ai nấy
toát mồ hôi hột, ớn lạnh sống lưng. Gần hai giờ leo từ chân dốc với hai lần nghỉ
mới lên tới nơi. Ớn là vậy nhưng được bù lại bởi bữa tiệc tuyệt hảo cho mắt. Những
vách đá hiểm trở, sừng sững vươn ngang trời. Những thung lũng sâu hun hút, thăm
thẳm. Những lớp sóng núi chập trùng đến tận chân trời. Và hoa, các loài hoa đẹp
đến hút hồn, vẫy gọi, chào mời, quyến rũ mắt nhìn suốt dọc đường đi. Mấy người
trong đoàn cứ xuýt xoa không ngớt về một loài hoa có bốn cánh mỏng
tang, sắc vàng rười rượi. Anh bạn Nguyễn Việt Thành bảo đó là loài hoa dại có
tên là Amapolas. Hoa Amapolas nở vàng rực rỡ khắp nơi, trên các dải đất ven đường,
trên các sườn núi cheo leo, bừng sắc vàng trên nền những vách đá xám. Có nơi,
loài hoa này tạo thành cả một thảm hoa, sắc vàng óng lên dưới nắng, hút hồn
khách qua đường.
Phong cảnh Valle Nevado thật đúng là ngoạn mục. Nhìn xuống
ngay chân mình, vực sâu thăm thẳm không nhìn thấy đáy dưới vách đá dựng đứng.
Xa xa, những đỉnh núi cao chất ngất phủ tuyết trắng xoá, màu tuyết lẫn vào màu
mây trời. Nền trời trong xanh ngăn ngắt, những con đại bàng Condor dang cánh
chao liệng. Gió thổi lồng lộng, táp vào da mặt cái lạnh tê tái. Khoảng 30 phút ở
ngoài trời đã cảm thấy cái lạnh ngấm vào da thịt, run từ trong run ra. Đành rút
vào trong nhà hàng để rồi ngồi nhìn ra. Ông chủ nhà hàng bảo: “Ngoài trời đang
là 4 độ C nhưng cảm giác chỉ là 2 độ thôi. Các bạn mặc đồ mỏng thế này không tốt
cho sức khoẻ đâu!”. Quả thật, mỗi chúng tôi chỉ có áo sơ mi với cái áo khoác mỏng,
nên rét là phải. Mới ngồi chưa ấm chỗ, món bít-tết bò chưa kịp mang ra, mây ở
đâu đã ùn ùn kéo tới. Ông chủ nhà hàng lại nhắc: “Nếu không định ngủ lại thì muộn
nhất là 3 giờ chiều các bạn phải xuống núi mới kịp!”. Vậy là dù thịt bò và rượu
vang đỏ Camenere ngon đến mấy cũng không thể níu chân. Hai giờ rưỡi chiều, cả
đoàn đã lên xe. Con đường xuống núi giờ mây mù dày đặc, tưởng như xắn ra miếng
được. Trước đầu xe chỉ lờ mờ nhìn thấy vạch sơn vàng ở ven đường. Ai nấy nín thở
trước mỗi vòng cua. Xuống đến chân đèo, tất cả đều thở phào như trút được gánh
nặng. Ai cũng kêu lên: “Ông Thành giỏi thật!”. Mà lái xe đường đèo trong mây mù
như thế với một người không chuyên nghiệp như ông bạn Thành thì quả là quá giỏi.
Khác với phần nhiều các quốc gia trên thế giới, nghị viện bao
giờ cũng ở đóng ở thủ đô với vị trí trang nghiêm nhất, Nghị viện Chilê lại làm
việc tại Vanparaisô, thành phố bên bờ Thái Bình Dương, cách thủ đô Santiagô 140
cây số về phía Nam. Con đường cao tốc từ Santiago đi Vanparaisôvới 3-4 làn đường
mỗi chiều, xe chúng tôi chạy 140 km/giờ mà vẫn bị một số xe khác cho hít khói.
Vượt qua mấy đoạn đường quanh co đèo dốc, Vanparaisô đã hiện ra trước mắt,
chênh vênh bên bờ đại dương. Ngoại trừ một dải ven biển bằng phẳng rất hẹp, nơi
rộng nhất dễ chừng cũng chỉ vài ba trăm mét, còn lại cả thành phố đều nằm trên
mặt bích nghiêng của những dải núi cao cỡ năm, sáu trăm mét. Nhà cửa san sát,
phủ kín những sườn núi từ chân lên đến đỉnh. Nhiều đường phố vừa hẹp vừa dốc
ngược, người yếu bóng vía chắc không dám ngồi lên xe. Vậy mà dân địa phương vẫn
lái xe lên xuống bình thản, với tốc độ chóng mặt.
Tranh thủ thời gian sau khi làm việc với Hạ viện Chilê, chúng
tôi đến thăm ngôi nhà - bảo tàng của Pablô Nêruđa. Ngôi nhà của nhà thơ với một
tầng trệt, hai tầng lầu, xây trên lưng chừng núi. Ở vào điểm gần giữa đáy của một
vòng cung núi hướng ra phía biển, trên độ cao cỡ đến ba trăm mét, nên hướng
nhìn của ngôi nhà bao quát hầu như cả thành phố. Thẳng trước mặt, ngay phía dưới
là cảng Vanparaisô tấp nập tàu bè. Có thể thấy rõ cả 5 - 6 chiếc tàu chiến đậu
thành hàng dài trên một cầu cảng. Ngoài xa là mênh mông Thái Bình Dương, màu nước
cũng bàng bạc trong lấp loá nắng chiều hoà lẫn với sắc mây trời phía cuối tầm mắt
nhìn.
Gần hết giờ mở cửa buổi chiều mà dòng người xếp hàng vào thăm bên trong ngôi nhà còn dài dằng dặc. Có xếp hàng thì chắc chắn chúng tôi cũng không kịp giờ vào thăm. Tiếc xót xa bởi đã vượt qua hơn hai chục nghìn cây số mới tới đây mà không được tận mắt nhìn những kỷ vật bên trong ngôi nhà đã gắn bó với một thời của Pablô Nêruđa, một nhà thơ lớn được nhận Giải Nobel văn chương mà tôi rất hâm mộ. Đành đi loanh quanh trong khu vườn trên những con đường nhỏ lòng vòng những bậc thang, dưới vòm lá xanh và những sắc hoa lạ để tận hưởng cái cảm giác được hòa mình vào cái không gian mà một thời nhà thơ đã sống, đã chiêm nghiệm về tình về biển, về quê hương và về số phận của nhân dân. Thôi đành tự an ủi mình bởi còn trước mắt cuộc viếng thăm bảo tàng La Chascona Pablô Nêruđa ở Santiagô.
Gần hết giờ mở cửa buổi chiều mà dòng người xếp hàng vào thăm bên trong ngôi nhà còn dài dằng dặc. Có xếp hàng thì chắc chắn chúng tôi cũng không kịp giờ vào thăm. Tiếc xót xa bởi đã vượt qua hơn hai chục nghìn cây số mới tới đây mà không được tận mắt nhìn những kỷ vật bên trong ngôi nhà đã gắn bó với một thời của Pablô Nêruđa, một nhà thơ lớn được nhận Giải Nobel văn chương mà tôi rất hâm mộ. Đành đi loanh quanh trong khu vườn trên những con đường nhỏ lòng vòng những bậc thang, dưới vòm lá xanh và những sắc hoa lạ để tận hưởng cái cảm giác được hòa mình vào cái không gian mà một thời nhà thơ đã sống, đã chiêm nghiệm về tình về biển, về quê hương và về số phận của nhân dân. Thôi đành tự an ủi mình bởi còn trước mắt cuộc viếng thăm bảo tàng La Chascona Pablô Nêruđa ở Santiagô.
Chúng tôi lần theo con ngõ nhỏ có địa chỉ là Fernaldo Marquez
De La Plata, số 0192, để tìm đến La Chascona Pablô Nêruđa. Khu nhà nhỏ nằm ngay
dưới chân phía Nam núi San Cristobal, từ xa đã có thể nhận ra bởi những bức tường
sơn màu xanh nước biển. Gọi là khu nhà bởi các công trình xây dựng ở đây không
liên kết thành một khối mà gồm ba phần khác nhau. Ở mặt bằng dưới chân núi là
dãy phòng khách, nhà ăn, phòng bếp và một ô nhỏ để đồ đạc không dùng đến. Lần
theo lối đi với những bậc thang đá lên sườn đồi phía bên trái là công trình nhỏ,
hai tầng với phòng khách tầng dưới và phòng ngủ ở tầng trên. Đây là nơi dành
cho người vợ thứ ba của Pablô Nêruđa, bà Matilđa Urrutia, người đã sống và chia
xẻ buồn vui với nhà thơ đến những giây phút cuối cuộc đời. Lại lần theo một lối
đường đất nhỏ lên cao hơn phía bên phải là phòng làm việc của nhà thơ. Trên bàn
làm việc của Pablô Nêruđa là một trang bản thảo đã đánh máy đang được sửa với
những dòng chữ viết màu mực đỏ đề chéo bên lề. Một cây bút đã đóng nắp đặt lên
trên trang thơ như tượng trưng cho sự khép lại của một cuộc đời sáng tạo của
nhà thơ. Ngay phía bên trái là hình một bàn tay bằng đồng đặt chặn lên một tập
bản thảo khác. Người ta bảo, đó chính là nguyên mẫu bàn tay của vợ ông, bà
Matilđa, bàn tay mà ông đã ngợi ca trong thơ: “Mềm mại đôi tay em; Bay qua thời
gian; Trên biển và trên khói; Bay trên Mùa Xuân”. Phía bên phải là một chiếc hộp
gỗ đựng bút, trên mặt hộp in hình con thuyền buồm đang rẽ sóng ra khơi. Trên bệ
cửa sổ lớn nhìn lên núi San Cristobal là một kỷ vật đặc trưng của nước Nga, một
con búp bê gỗ matruska cỡ lớn với 11 hình được mở ra và xếp hàng từ lớn đến nhỏ.
Nửa còn lại của căn phòng là chiếc lò sưởi với ống khói được xây bằng đá núi
San Cristobal. Đối diện với lò sưởi, chiếc bàn nước nhỏ, mặt bàn hình tròn sơn
hình những cây đàn ghi ta, cùng hai chiếc ghế phô-tơi đơn, nơi nhà thơ thường
ngồi chuyện trò với vợ hay bạn văn thâm tình.
Theo một cầu thang gỗ bước xuống thấp hơn 3 - 4 bậc là căn phòng xép được nhà thơ đặt tên là Phòng France (Phòng Pháp), nơi ông lưu giữ những kỷ vật quan trọng: Huy chương giải thưởng Nobel về văn học, Huân chương Lê-nin, tấm bản đồ ghi dấu những nơi ông đã đến, chiếc la bàn cổ bằng đồng, tấm bản đồ cổ về đất nước Chilê… Đặc biệt, trên giá sách có nhiều cuốn sách tiếng Pháp. Thời trai trẻ, Pablô Nêruđa đã được học tiếng Pháp, đã từng đi dạy ngôn ngữ và văn học Pháp. Có lẽ vì thế mà ông rất yêu nền văn chương Pháp, đọc rất nhiều sách về văn hóa và văn học Pháp.
Theo một cầu thang gỗ bước xuống thấp hơn 3 - 4 bậc là căn phòng xép được nhà thơ đặt tên là Phòng France (Phòng Pháp), nơi ông lưu giữ những kỷ vật quan trọng: Huy chương giải thưởng Nobel về văn học, Huân chương Lê-nin, tấm bản đồ ghi dấu những nơi ông đã đến, chiếc la bàn cổ bằng đồng, tấm bản đồ cổ về đất nước Chilê… Đặc biệt, trên giá sách có nhiều cuốn sách tiếng Pháp. Thời trai trẻ, Pablô Nêruđa đã được học tiếng Pháp, đã từng đi dạy ngôn ngữ và văn học Pháp. Có lẽ vì thế mà ông rất yêu nền văn chương Pháp, đọc rất nhiều sách về văn hóa và văn học Pháp.
La Chascona là khu nhà được Pablô Nêruđa xây dựng năm 1953 để
tặng cho Matilđa Urrutia và trìu mến đặt tên cho nó theo đặc điểm mái tóc của
bà. Theo tiếng thổ dân Quechua, La Chascona nghĩa là “tóc rối”. Đây cũng là khu
nhà mà nhà thơ không chỉ gửi gắm vào đó tình yêu cho nàng thơ Matilđa, mà còn cả
tình yêu với biển cả. Cả khu nhà giống như một con tàu đang hướng ra phía Tây,
phía Thái Bình Dương. Phòng làm việc của nhà thơ ở trên cao nhất như đài chỉ
huy của con tàu. Trong căn nhà có rất nhiều kỷ vật gắn với biển, từ những chiếc
vỏ sò, bản đồ hàng hải, chiếc la bàn cổ - một vật dụng không thể thiếu đối với
những người đi biển ngày xưa, đến những bức tranh về những con tàu,
về đại dương, những hình vẽ về biển trên các đồ vật. Chính tại đây, ngày 23
tháng 9 năm 1973, đúng 12 ngày sau cuộc đảo chính đẫm máu của Pinôchê, người
thân và bạn bè đã đau buồn vĩnh biệt ông. Trái tim của nhà thơ lớn Pablô Nêruđa
đã ngừng đập sau 69 năm lao động nghệ thuật và đấu tranh cho công bằng, lẽ phải
và tự do của nhân dân. Cho đến bây giờ, nguyên nhân về cái chết của nhà thơ vẫn
chưa được làm sáng tỏ. Sau khi quàn ở La Chascona, thi hài ông được mai táng tại
nghĩa trang thành phố để rồi gần hai mươi năm sau, bạn bè đã đưa ông về an nghỉ
tại một bán đảo nhỏ tuyệt đẹp phía Nam thành phố Vanparaisô. Nơi đây, tiếng lá
reo trong gió và tiếng sóng vỗ ngoài đại dương xa ru yên giấc ngủ vĩnh hằng của
Pablô Nêruđa, một người cộng sản, nhà thơ lớn của nhân loại, người con và lãnh
tụ tinh thần của nhân dân Chilê, người suốt đời tụng ca tình yêu, đất nước và
biển cả.
Từ bảo tàng La Chascona bước ra chỉ vài trăm bước chân đã là
những đường phố tấp nập, những quán ăn ồn ào, những cửa hàng sang trọng, những
nhà hát lộng lẫy, những trung tâm vui chơi giải trí sôi động của quận Bella
Vista, một quận trung tâm nhộn nhịp vào bậc nhất của Santiago. Xa hơn là đại lộ
Bernado O’Highins, đại lộ trung tâm mang tên người có công khai sinh nền độc lập
của Chilê, với sự pha trộn những sắc hình cổ điển của kiến trúc châu Âu với chất
phóng khoáng của kiến trúc không gian Mỹ Latinh, cùng sự tấp nập, phồn hoa của
Santiago hiện đại. Xa hơn nữa, nơi những cửa ngõ ngoại ô của thành phố là những
bộn bề của cuộc sống, nơi những ngôi nhà mới đang xây, những con đường mới đang
mở và cả những khu ổ chuột của người nghèo khó, những lều lán tạm bợ của người
nhập cư đang chờ bàn tay cứu giúp của xã hội. Santiago, một hình ảnh thu nhỏ đặc
trưng của Chilê, đất nước đang trăn trở trên con đường phát triển.
Chúng tôi không có nhiều thời gian lưu lại ở Chi lê. Tất cả
những gì cảm nhận được qua mấy ngày làm việc tại đây chỉ như một khuôn hình trực
cảm rất nhanh về đất nước xa xôi nghìn trùng này. Nhưng không vì xa xôi thế mà
Chilê với Việt Nam quá lạ lẫm hay xa cách trong tâm tưởng của nhân dân hai nước.
Tôi nhớ mãi câu nói của ông Fidel Espinoza, Chủ tịch Hạ viện Chilê hôm tiếp
đoàn: “Nói đến Việt Nam là chúng tôi nhớ đến Hồ Chí Minh. Đó là từ ngữ rất thân
thuộc ở Chilê!”. Vâng, xin cảm ơn tình cảm tốt đẹp của các bạn Chilê dành cho đất
nước chúng tôi. Với chúng tôi cũng vậy. Những tên tuổi của Chilê như Sanvađo
Agienđê, Pablô Nêruđa cũng quá đỗi thân thuộc, gần gũi. Và chính tên tuổi những
con người đã chiến đấu, lao động, dâng hiến vì tình yêu, tự do và hạnh phúc của
con người đó đã làm cho hai đất nước xa cách nhau quá nửa vòng trái đất trở nên
gần gũi và thân quen.
Tạ Ngọc Tấn
Nguồn: Văn nghệ số 6+7+8/2018









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét