Thức ăn được dọn lên tươm tất, rõ là ngon. Nhựa mận hôi hổi bốc
khói, chả nướng nựng mùi nghệ, thịt hấp trần mỡ màng, món tái trộn thính vàng
thơm, dồi qua hai lửa hấp rồi nướng không còn xỉn màu tiết đọng… rau ghém tươi
non bắt mắt. Ngồi vào bàn, thày lập nghiêm nét mặt rạng trí thức, nhưng vẫn
nhỏ nhẹ giọng sư phạm từ tốn rằng đến nay, đừng nói nhác thấy, chỉ cần thoáng
nghĩ thôi là đã rờn rợn… muốn ói. Lão bà Brigitte Bardot minh tinh màn bạc
tài sắc một thời mà biết, hẳn nổi cơn thịnh nộ tam bành, nhân danh những người
bảo vệ động vật toàn thế giới nghiệm trị, chứ không bỡn.
Thày ơi, cái khốn khó thời ấy bó cái khôn, làm mụ mị đầu óc,
chẳng còn nhớ ra được "cờ tây - cầy tơ " chỉ là địa dương - dê đất
thôi mà, chứ đặc sản gì đâu. Có là quốc túy thì với Lỗ Trí Thâm bên
Tàu, trong thực đơn ngự trù của nàng Dae Jang Geum xứ Hàn quốc Năm trăm
năm trước, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm minh triết: "Lận thế treo
dê mang bán chó. Lập danh cưỡi hạc lại treo tiền".
Cuối cùng, đành phải đưa thày vào nhà bếp thấy tận
mắt mà yên tâm thưởng thức để thừa nhận đúng là "cái tang dê
cái mới đẻ lứa đầu, thả rông nơi bán sơn địa, lại không được ăn vào mùa
chúng động hớn…" như chúng tôi láu lỉnh liến láu bịa chuyện trong lần
đầu đãi thày "mộc tồn" đại kỵ - tabou với người
phương Tây, cả với đại đa số người Việt ngày răm mùng một đi lễ chùa.
Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái, từ thời Hồng Bàng, dê là một
trong hai đồ lễ không thể thiếu trong cưới xin: "Rượu nồng dê béo". Thời tiền Hán trước công nguyên, người phương bắc tuyệt đối bị cấm đoán đưa
dê cái xuống phương Nam, nhất là địa phận tộc Lạc Việt để nơi đây
không sao phát triển đàn dê sứ giả - bouc émissaire biểu trưng sự sinh
sản phồn thịnh. Thuở ấy, chỉ các thiên tử mới được quyền đi xe dê vào hâu
cung ban mưa móc.
Hương vị thịt dê được thày tấm tắc khen ngon ấy đâu tự thân
nó có được. Phải đúng điệu văn hóa ẩm thực ta là thui bằng
rơm nếp, tẩy rượu với gừng, chứ không đang tay dùng cành lá quất tơi bời
làm dê be be váng trời, vã đầm đìa mồ hôi cho hết mùi hoi. Trước khi nấu nướng,
phải ướp một chặp rượu sủi tăm Ân Thi, Hưng Yên - cùng cất bằng gạo,
nhưng "quốc lủi" ta không quá nặng nồng nặc như Mao Đài quốc tửu
Trung Hoa chuyên dành đãi thượng khách, cũng chẳng nhàn nhạt ngai ngái như rượu
Sa kê ngang danh tiếng núi Phú Sĩ tứ thời chỏm tuyết Nhật Bản. Rồi lại bóp mẻ
chua, mắm tôm ngấu, nêm đủ riềng, nghệ, sả. Khi ăn, lại phải kèm rau ngổ,
rau húng, lá mơ tam thể tăng hương vị. Nhờ cái tang đỗ xanh đồ bở tơi nhưng cấm
vỡ hạt cùng đậu phọng rang giòn giã giập giập nhồi cùng rau răm vò nát, dồi
dê mới ra được cái vị bùi mà chúng tôi phải ra sức uốn ba tấc lưỡi diễn
giải vòng vo, dài dòng: "vừa ngầy ngậy, dẻo quánh lại đậm đà -
légèrement gras et agréable au gout: chữ của thày". Cái vị bùi dồi dê
làm thầy "bùi miệng" ăn tìtì, "bùi tai" nghe sướng
con nhĩ những lời bình có cánh không dứt, từ vị bùi có một không hai của dồi
dê đến hương vị đặc sắc tiếng ta vàb"bùi ngùi" ôn cố
cái bận mắc cỡ quá trời "đãi cày tơ rành rành mà lại dối thầy là dê
bảy món"
Thầy thừa nhận trong tiếng mẹ đẻ cùng các tiếng trong cộng
đầu châu Âu không thể có một từ ngữ nào chỉ đúng vị bùi, bởi trong ẩm thực
phong phú thơm ngon của cả lục địa lâu đời phát triển này làm chi có
được cái vị bùi độc nhất vô nhị ấy. Cũng phải, ngay chữ Hán ngàn năm
cũng chẳng có nữa là - Khổ tận, cam (ngọt) lai "là hết, còn ca dao ta dạt
dào: "Hết đắng cay đến ngọt bùi." Hương vị tiếng ta là
dzậy!
Thầy lâng lâng hãnh diện đồng hương Alexandre de Rhodes thông
minh vô chừng, chỉ nhờ một bé bản xứ mươi mười hai tuổi dạy truyền khẩu chóng
vánh mà thông thạo ngay được tiếng Việt để rồi La tinh hóa
thành công tiếng ta thành chữ quốc ngữ văn minh, khoa học, tiện dụng. Năm 1651, cuốn từ điển Việt - Bồ - La tinh đầu tiên của ông ra lò ở
nhà in riêng của tòa thánh Vatican giữa thành La mã trung tâm văn hóa thế giới.
Thành tựu đó đâu chỉ bằng một chủ quan tài năng xuất chúng cùng nỗ lực tận cùng
tạo nên công cụ dễ bề truyền bá kinh bổn của ông cố đạo quê xứ
Avignon miền nam nước Pháp này. Cơ bản là tiếng ta sẵn có những tiền đề cần
và đủ để hiệu dụng chữ La tinh làm ký tự. Phong phú, đa dạng lắm, tiếng
ta dễ đến 15.000 âm, với 12 nguyên âm và 17 phụ âm, kể cả "bán nguyên
âm bán phụ âm y grec" mượn từ chữ Hy Lạp nữa đấy. Nhất là sáu
thanh điệu tuyệt vời. Dễ dàng la tinh hóa mà hầu như không một ly vướng mắc cái
nạn khốn khổ từ đồng âm dị nghĩa. Tiếng Nhật nghèo ngữ âm, khoảng chừng
năm trăm âm đổ lại. Riêng một âm "koo" có đến 400 chữ hán đồng
tự khác nghĩa, đến các bậc đại trí giả nhiều khi còn phải tra cứu từ điển
mỏi tay nữa là. Một âm "shoo" có 300 chữ hán tượng hình lỉnh kỉnh đủ
các bộ kèm theo khó thuộc. Thành thử tài giỏi đến mấy, cố gắng đến đâu vẫn cứ là bất
thành la tinh hóa chữ Nhật là dzậy. Tiếng Tàu nhiều âm hơn đấy ,khốn nỗi
cũng chẳng la tinh hóa đặng. Trên đất nước đông dân nhất thế gian này có
tới tám thứ tiếng chính thống: Bắc Kinh, Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến...,
không kể hàng trăm thứ tiếng các dân tộc ít người khác. Người vùng nào nói, chỉ
người cùng địa phương đó mới hiểu, nên đành phải dùng chữ tượng hình cổ lỗ từ
thời bành tổ để giao tiếp bút đàm chớ biết làm sao.
Một hương vị độc đáo tiếng ta là thanh điệu. Hai thanh
"sắc" và "huyền" lên bổng xuống trầm rõ nặng, nhẹ khác
nhau. Còn "hỏi" và "ngã" lại như sóng nối nhau - chẻ
làm tư, thành hai chu kỳ dao động trầm bổng liên tiếp không đứt đoạn. Tiếng ta
giàu nhạc tính là thế, thành ca dao là vậy, sinh ra lối hát nói dân gian, rồi
nâng lên hàn lâm ca trù như một lẽ đương nhiên. Bà Quách Thị Hồ thành danh ca
nương đâu chỉ bằng một giọng hát vàng thiên phú và chuyên cần luyện thanh mà
cái chính là không ngừng trau dồi để tinh thông tiếng Việt, làm nổi lên đủ
cung bậc cảm xúc các áng thơ có tới bảy, tám phần từ ngữ Hán - Việt uyên
thâm, các điển tích bí ẩn lịch sử, văn hóa thuở trước.
Thày ghen với chúng tôi giỏi giang, lịch duyệt nhờ có hai cái
lưỡi - hai ngôn ngữ (deux langues) - song ngữ (bilingue). Giá cũng làu làu
được tiếng Việt, âu thày cũng hạnh phúc như chúng tôi thấm đậm hai văn hóa
đông - tây.
Tiến sĩ Ivo Vasiljev hào hứng tự hào trường phái ngôn ngữ học
Praha thủ đô Tiệp nước ông phát hiện với cả thế giới rằng ca dao ta là một
hiện tượng ngôn ngữ độc đáo: vừa là ngôn ngữ vừa là văn hóa - bằng
ngôn ngữ đặc thù phác ra nét văn hóa nổi trội. Ca dao được hình dung
như một cổ thụ xum xuê, xanh tươi, đầy nhựa sống: cây đa - làng nào
đồng bằng sông Hồng mà chả có, gắn bó thân thương với con người từ tấm bé
đến khi lớn khôn trải đời. Lục bát - một thể thơ sáng tạo riêng
của tiếng ta, là "rễ đa" tua tủa quấn quýt lấy cái thân lực lưỡng
"cây đa" ca dao chất chứa nhựa sống văn hóa.
Ca và dao đều là bài hát. Chỉ có điều "dao" là
bài hát ngắn, không cần giai điệu, chỉ bằng tiết tấu thể hiện văn
hóa Việt Nam ta: "Thuận vợ thuận chồng. Tát biển đông cũng cạn!" mãnh liệt chống lại sự áp đặt của lề thói lễ giáo Khổng-Mạnh
"Phu xướng phụ tùy" buộc người vợ răm rắp cúc cung
phục tùng để mãi mãi sáng lối sống thuận hòa con người Việt: "Râu
tôm nấu với ruột bầu. Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon".
Còn "ca" là bài hát dài, có giai điệu, thể hiện
thành chương, khúc lời tỏ tình kin đáo, chân chất đến mộc mạc, nhưng lại
tinh tế, sâu sắc, lai láng, bóng bẩy: "Đêm qua tát nước đầu đình. Bỏ
quên cái áo trên ngành hoa sen. Em được cho chúng anh xin. Hay là em để làm tin
trong nhà. Áo anh sứt chỉ đường tà. Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu".
Văn hóa ấy là yêu không trăng hoa mà phải đến bến kết thành vợ
thành chồng, bằng một hôn lễ đúng phép tắc, đủ tập tục:
"Giúp em một thúng xôi vò. Một con lợn béo một vò rượu tăm. Giúp em
đôi chiếu em nằm. Đôi chăn em đắp đôi chằm em đeo. Giúp em quan tám tiền cheo.
Quan năm tiền cưới lại đèo buồng cau". Nên chi vẫn cứ hoan hỷ, nếu ngay
lần đầu sanh con gái "Ruộng sâu trấu nái không bằng con gái đầu
lòng", mặc cho các "chánh nhân quân tử" chổng mông hò
văn hóa Trung Hoa: "Thập nữ viết vô - Sanh mười con gái
cũng là không con"
Có thế nhà ngôn ngữ học cấu trúc Cao Xuân Hạo mới cho rằng phải
dạy con trẻ học thuộc lòng ca dao, ngay khi chúng cắp sách đến trường. Ca
dao chứa những áng văn đẹp nhất, hay nhất, bổ ích nhất, chứa đựng linh hồn tiếng
Việt giản dị nhất, hàm súc nhất: "Có cha có mẹ vẫn hơn. Không cha
không mẹ như đờn không dây. Mẹ cha như nước như mây. Làm con phải ở cho tày
lòng con".
Luận bàn hương vị thịt dê, thầy trân trọng ngay chữ "hương vị". Về hình vị, đúng là một từ - một từ đa âm. Mỗi âm lại
chỉ một cảm giác khác nhau, từ các giác quan khác nhau. Hương (parfum) là khứu
giác, còn vị (gout) lại từ lưỡi. Từ vật thể đồ ăn thức uống,
theo tính biểu trưng tiếng Việt, "hương vị" khai quát hóa
thành biểu cảm phi vật thể; hương vị quê hương, hương vị tổ quốc, hương vị tết
nhất, hương vị cuộc đời… hương vị tiếng nước tôi.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét