Khó có một địa danh nào lưu dấu ấn trong dòng chảy âm nhạc
cách mạng bằng Đường 9 - Khe Sanh (Hướng Hóa). Đó là thời kỳ phát triển tột bậc
của âm nhạc hoành tráng, ngùn ngụt hào khí “tiếng hát át tiếng bom”, những âm
thanh chiến đấu, những tiếng reo vui mừng thắng lợi vang vọng cả núi rừng Trường
Sơn cổ vũ quân và dân ta chiến đấu và chiến thắng.
Năm 1966, nhạc sĩ Huy Thục xung phong đi vào chiến trường với
bút danh Lê Anh Chiến (tên người con trai của ông). Hòa vào đoàn quân trên đường
ra trận với khí thế “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, cảm nhận trực tiếp cuộc
kháng chiến thần thánh của dân tộc, trên mảnh đất Quảng Trị ông đã cho ra đời
các ca khúc “Tiếng hát trên đường quê hương”, “Chào Đường 9 anh hùng”, “Ơi dòng
suối La La”, “Chiến thắng trên đồi Động Tri”, đặc biệt là “Tiếng đàn Ta lư” và
“Cô gái Pakô”.
Không ai có thể ngờ rằng, cái giai điệu rộn ràng, trẻ trung của
“Tiếng đàn Ta lư” lại được Huy Thục viết ra trong nỗi đau đồng đội hy sinh.
Nhưng trước hết, hình ảnh đẹp của những thiếu nữ Vân Kiều hồn nhiên, yêu đời ôm
đàn Ta lư trên đường ra trận đã gây ấn tượng trong ông, hình thành trong ông những
nét nhạc trong sáng, rộn ràng. Bằng chất liệu dân ca Vân Kiều, người nhạc
sĩ đã mượn tâm trạng vui tươi của thiếu nữ Vân Kiều đi tải đạn, tiếp lương ra
trận để tạo nên dòng giai điệu lạc quan, tươi trẻ. Huy Thục ca ngợi các thiếu
nữ Vân Kiều, tuy vất vả, gian nan, gùi gạo nặng trĩu trên vai, đói thì uống nước
suối, ăn rau rừng, chứ không tơ hào đến một hạt gạo của Cách mạng. Trong hoàn cảnh
ấy, còn có thể hiểu “Ta lư” là dân công, là bộ đội, là sợi dây gắn bó tiền tuyến
với hậu phương, là sự dũng cảm tuyệt vời, niềm lạc quan tuyệt vời. Sự thật ấy,
tâm sự ấy, Huy Thục gói ghém vào cả một tiếng đàn, một khí phách quật cường,
quyết thắng.
Khi Huy Thục đang viết dở dang bài hát thì bom Mỹ dội xuống,
Đại đội I công bình nơi đội văn công xung kích của Huy Thục phục vụ biểu diễn
hy sinh gần hết. Từ trong đau thương ấy, “Tiếng đàn Ta lư” bay vút những âm
thanh lạc quan của tuổi trẻ. Ở điệu Si thứ, 9 nhịp đầu, Huy Thục đã phá tan cái
nỗi đau thương đang bao trùm lên Đại đội I nơi ông đang thâm nhập. Và ngày
6/9/1967, “Tiếng đàn Ta lư” được hoàn thành ngay tại Đại đội I công binh khi họ
vừa mở đường xong. Huy Thục tập ngay cho ca sĩ Vân Anh và đi biểu diễn. Không
ngờ bài hát ra đời trong bom đạn ấy, lại “thánh thót nhịp nhàng”, nẩy mầm xanh
tươi giữa chiến trường Đường 9 - Khe Sanh đến vậy. Và từ hôm ấy, cả chiến trường
gọi Tiểu đội xung kích văn công của Huy Thục là “Tiểu đội Ta lư”. Cuối năm
1968, bài “Tiếng đàn Ta lư” được biểu diễn báo cáo với Bác Hồ do nghệ sĩ Tường
Vi trình bày đã thành công ngoài mong đợi. Nhạc sĩ Huy Thục được Bác Hồ tặng
Huân chương chiến công hạng hai cho tác phẩm này vào tháng 6 năm 1969.
Đến với dân tộc Pakô, nhạc sĩ Huy Thục gặp chị Hồ Thị Hồng
quê ở Đakrông đang tải đạn ra mặt trận. Khi chia tay, chị Hồng nói với Huy Thục:
“Bao giờ đất nước độc lập, thống nhất như Bác Hồ nói, miềng nhớ về thăm dân bản
em nhé!”. Ấn tượng ấy đã được Huy Thục gửi vào bài “Cô gái Pakô” mà người ta
thường gọi “Cô gái Pakô con cháu Bác Hồ” với những lời ca thắm thiết.
Mùa xuân đến rồi bản làng ơi!
Thơ Bác gọi dậy vang non sông
Kèn tiến công vang dội khắp hai miền
Bác Hồ gọi ấy là mùa xuân đến
Và câu kết ông viết:
“Ngày chiến thắng anh về
Cùng bản làng em hát
Người con gái Pakô
Nhạc sĩ Huy Thục hoàn thành bài hát “Cô gái Pakô” vào ngày
19/5/1969. Bài hát không chỉ phong phú về giá trị biểu cảm, kỹ thuật sáng tạo,
hình tượng âm nhạc tươi sáng, khỏe khoắn, mà còn giàu cả nữ tính, khi ông đặt
bút viết từng lời ca mộc mạc, dung dị nhưng hết sức gợi cảm:
Ê! Người con gái Pakô con cháu Bác Hồ
Dù gian khổ, vượt núi, băng rừng
Dù mưa bom em vẫn không ngại chi
Đi đánh Mỹ giữ lấy núi rừng
Gùi trên vai súng đạn ra tiền tuyến
Gạo ngàn cân em gùi ra chiến trường
Để bộ đội Bác Hồ ăn no (mà) đánh thắng
Mùa thu năm 1967, nhạc sĩ Huy Du vào chiến trường phục vụ chiến
đấu. Tại đây, có một hình ảnh gây ấn tượng mạnh trong lòng nhạc sĩ Huy Du đó là
người nữ chiến sĩ làm công việc nuôi quân tại Bộ chỉ huy chiến dịch Đường 9 -
Khe Sanh. Cô gái đã đem đến cho cán bộ, chiến sĩ ở Bộ chỉ huy những niềm vui
qua những bữa cơm đạm bạc. Để kiếm nắm rau có khi cô phải đi sâu vào rừng, băng
qua những bãi bom tọa độ. Nhưng số phận thật trớ trêu, khi Huy Du trở ra Bắc
thì nghe tin người nữ chiến sĩ nuôi quân ấy đã hi sinh. Với tình cảm yêu
thương, quý trọng, Huy Du đã làm cho hình ảnh người chiến sĩ nuôi quân sống mãi
với bài ca “Nổi lửa lên em”:
Trăng đã dậy rồi khơi bếp hồng lên nhé
Lá nếp rau rừng thêm ấm tình anh nuôi
Nổi lửa lên em…
Không chỉ vậy, Khe Sanh - Hướng Hóa của 50 năm trước từng
vang lên dòng giai điệu sử thi, ngùn ngụt hào khí chiến thắng:
Khe Sanh rực cháy bốt đồn giặc tan
Đồn Làng Vây hôm nao nơi đây quân giặc phơi thây
Trời Tà Cơn reo vui khắp nơi bóng cờ sao bay
(Tiến về Khe Sanh - Văn Dung)
Văn Dung nổi tiếng là một nhạc sĩ hào hoa, có những dấu vết
chắc nịch trong sáng tác âm nhạc, nhất là trong thời kỳ chống Mỹ. Ông đã đi thực
tế sáng tác trong chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh và đã cho ra đời những tác phẩm
không thể nào quên. Tháng 5 - 1968, quân ta chuẩn bị đánh lớn ở Khe Sanh. Tin
lan truyền như một Điện Biên Phủ của thời chống Mỹ, nhạc sĩ trong và ngoài quân
đội cùng hướng về Khe Sanh với những suy nghĩ sáng tạo. Ở thời điểm này, Văn
Dung đã viết bài hát “Tiến về Khe Sanh” với một nhịp điệu hào sảng, giai điệu lạc
quan, phơi phới:
Núi chắn trùng trùng, chim bay mỏi cánh (hơ)
Quân băng ngàn núi, đêm vượt rừng sâu (hơ)
Rừng Trường Sơn đêm đêm xôn xao nghe đoàn quân đi
Về Khe Sanh quê hương bấy lâu mong chờ hôm nay.
Với tiết nhịp ¼ , Văn Dung đã tạo cho “Tiến về Khe Sanh” một
không khí khẩn trương nhưng cũng không kém phần hồ hởi, phóng khoáng. Văn Dung
có biệt tài cảm tác nhanh. Ông đi nhiều và sáng tác kịp thời nhưng luôn giữ được
chất tài hoa trong những âm hưởng giàu sức biểu cảm. Âm hưởng hùng ca trữ tình
trong những sáng tác của Văn Dung đã đem lại cho người nghe một cảm giác lạc
quan trong cuộc sống cam go, gian khổ ở chiến trường.
Giai điệu của “Tiến về Khe Sanh” ngay trong đoạn mở đầu đã là
một lời hoan ca chiến thắng. Cứ thế, giai điệu cuồn cuộn trào dâng, người nghe
như đang tắm mình trong ngày chiến thắng năm ấy, như đang say trong một chiến
thắng được cho là Điện Biên Phủ thứ hai:
Vững bước ta đi lên, biển Đông đã sáng
Tiếng súng ta vang vang, rền trời Khe Sanh.
Hình ảnh pháo binh trong chiến thắng Khe Sanh đã được rất nhiều
nhạc sĩ ghi lại trong các nhạc phẩm của mình. Trong liên khúc “Ngọn cờ giải
phóng Khe Sanh”, nhạc sĩ Nguyên Nhung viết tràn đầy khí thế:
Nghe Khe Sanh rung chuyển, mưa đạn pháo binh ta thét gầm
Và với nhạc sĩ Thanh Phúc, trong “Pháo ta nổ rền trời Khe
Sanh” (thơ Nguyễn Khắc Tơ), ông đã dùng chất nhạc dồn dập, nói lên khí thế khẩn
trương của giờ phút quyết định:
Pháo ơi, pháo ơi/ đi nhanh lên nhé
Ta làm sét nổ/ dội trên đầu thù
Ta làm thác đổ/ cuốn đi bao bốt đồn.
Đúng như lịch sử đã ghi nhận, ngày 9/7/1968, sau 170 ngày đêm
chiến đấu anh dũng, mưu trí và kiên cường, lá cờ quyết chiến quyết thắng của
Quân Giải phóng miền Nam kiêu hãnh tung bay trên sân bay Tà Cơn. Hướng Hóa trở
thành huyện đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Và những thanh âm reo vui
thắng lợi còn lưu dấu trong âm nhạc của Nguyên Nhung (Ca ngợi Khe Sanh chiến thắng),
Đức Nhuận (Nghe tiếng pháo Khe Sanh), Lê Lan (Đường về Khe Sanh), Huy Thục (Chiến
thắng đồi Động Tri)... Thực tế Trường Sơn ngày ấy đã cho các nhạc sĩ hiểu hơn về
con người, về tuổi trẻ Việt Nam, về cuộc chiến đấu được bắt nguồn từ những con
người bình dị, từ tình yêu quê hương đất nước, Hướng Hóa - Khe Sanh và niềm tự
hào dân tộc.
Đã 50 năm Khe Sanh - Hướng Hóa được giải phóng, nghe lại những
giai điệu của Khe Sanh chiến thắng, không những để giở lại những trang sử oai
hùng xưa mà còn được nghe thấy giai điệu lạc quan về những đổi thay trên vùng đất
lửa. Hai mươi năm chiến tranh hủy diệt, thế mà giờ đây, một màu xanh bạt ngàn,
ngọt ngào hương hoa cà phê, những mảnh vườn sum suê trái quả:
Ê Tà Cơn, Làng Vây bát ngát cà phê, bát ngát hồ tiêu
Hướng Hóa - Khe Sanh mùa xuân quê ta
(Hướng Hóa mùa xuân về - Văn Báo)
Đúng như Quang Tạo và Hữu Dũng trong “Tình đất Khe Sanh” đã
viết:
Đường 9 - Khe Sanh đâu chỉ đạn bom lửa cháy
Đất nước sinh sôi hóa thân từ muôn trái tim
Người Pa Kô, người Vân Kiều
Người miền xuôi, miền ngược
Cùng về đây thắp ngời lên một vùng quê Hướng Hóa
Chúng ta còn nghe thấy những âm thanh ngày mới của Khe Sanh -
Hướng Hóa trong các ca khúc: “Lang lư Khe Sanh” (Trần Hoàn), “Trăng rằm Khe
Sanh”, “Khe Sanh tình yêu” (Võ Thế Hùng), “Phố núi của tôi”, “Khe Sanh vang
mãi bản hùng ca” (Hoàng Anh), “Tình em gió hát” (Xuân Vũ, thơ Nguyễn Văn
Dùng), “Bài ca Hướng Hóa” (Lê Anh), “Anh sẽ về Khe Sanh ơi” (Đỗ Thăng Long),
“Mưa chiều Khe Sanh” (Trần Tích), “Bồng bềnh Khe Sanh” (Thanh Ngọc), “Khe Sanh
niềm tự hào” (Nguyễn Bình Luận)…
Từ cứ điểm Làng Vây cho đến sân bay Tà Cơn, từ thung lũng Khe
Sanh cho đến vùng Lìa xa ngái, màu xanh cây trái nói lên sự hồi sinh mãnh liệt
trên vùng đất từng là đất chết. Tất cả những điều đó đã được các nhạc sĩ cảm hứng
viết nên các ca khúc: “Nồng nàn nắng mới Khe Sanh” (Lê Đình Trí), “Bừng sáng
Khe Sanh” (Văn Lượng), “Khe Sanh ngày mới” (Phan Thảng), “Bình minh ở phía
hoàng hôn” (Hoàng Hữu Lộc), “Lời phố núi” (Lê Thanh Ngọc), “Khe Sanh phố núi của
tôi” (Trần Kiềm), “Khe Sanh chiều phố núi” (Phan Thạch Hùng), “Khe Sanh ngày mới”
(Lê Phương Bắc), “Tháng 7 Khe Sanh” (Phan Anh Tiến), “Chuyện tình A mam” (Văn
Sỹ)...
Đất trời Hướng Hóa - Khe Sanh đang nồng nàn dậy men cuộc sống.
Dòng chảy âm thanh khởi nguồn từ những bản hùng ca chiến đấu năm xưa vẫn cuộn
chảy như dòng sông quê hương ôm ấp núi đồi, nương rẫy, buổi nắng lên cất tiếng
hát gọi mặt trời.
Võ Thế Hùng
Nguồn: Tạp chí Cửa Việt số 286,
tháng 7 năm 2018
tháng 7 năm 2018





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét