1. Không hiểu vô tình hay sự lựa chọn có ý thức, Hoàng Vũ Thuật
mở đầu tập thơ Mùi của mình với bài thơ “Chiếc ghế bỏ trống” viết tặng
bạn anh, nhà viết kịch, với những câu thơ đong đầy ưu tư mà khi đọc lên và ngẫm
ngợi ta không khỏi cảm thấy se sắt cõi lòng trước lẽ biến dịch của cuộc đời.
rồi nắng tắt
nặng trĩu đêm dày
sóng
bận rộn cuộc tình muôn thuở
ngôi
sao vụt sáng nỗi thèm khát
anh
nghe cuộc đời cựa quậy
chỗ
chiếc ghế bỏ trống.
(Chiếc ghế bỏ trống)
2. Đời vốn là sân khấu với những biến dịch khôn lường của thế
sự. Ý tưởng này không mới, thậm chí cũ mòn. Song, cái mới ở đây là cách nhìn cuộc
đời với những biến dịch đầy bi hài chỉ diễn ra “quẩn quanh” bên một “chiếc ghế
bỏ trống”. Và cũng từ “chiếc ghế bỏ trống” này, những phận người nổi trôi, bồng
bềnh, chìm đắm trong cõi u minh của lợi danh, lừa gạt, tị hiềm, giả dối, phi
nhân... cứ thế mà “cựa quậy”, mà bày ra một cách “trần trụi” giữa cuộc đời. Và
cứ thế, cuốn con người vào những bến mê của sự huyễn hoặc, của bi kịch phận người
mà chủ nghĩa hiện sinh gọi đó là sự vong thân, sự tha hóa bản thể trong kiếp
lưu đày của thân phận trước một thế giới đầy những buồn nôn... Và đây chính
là mùi hiện sinh, một cảm thức chủ đạo tan chảy trong thơ Hoàng Vũ Thuật,
cái mùi mà bằng sự cảm nhận tinh tế của một thi nhân luôn khắc khoải
trước số phận con người, anh đã nhìn thấy sự “lây nhiễm” của nó đối với nhân tính,
khi con người ngày càng tha hóa khủng khiếp trước quyền lực, dục vọng, tiền
tài...
Mùi...
có thể viêm nhiễm sau cuộc giải phẫu
có thể mới ra đời đã biến mất
có thể từ trời cao đổ xuống từ dưới đất trồi lên....
mùi mưa mùi nắng mùi gió mùi cáu bẩn
mùi nguyên trinh
mùi kiệt quệ mùi phục sinh mùi mùa
mùi của mùi.
(Mùi)
Vì vậy, trong tận cùng tâm cảm, anh đau với nỗi đau của
đồng loại khi con người bị cuốn vào vòng xoáy của thế sự đảo điên. Và câu hỏi
nhà thơ tự vấn chính mình cũng là tự vấn tha nhân.
sao
loài người
mê ngủ
hoài thai cùng đảo điên
(Ngày
mới)
Và những đảo điên của thế sự đã làm vỡ nát tâm hồn vốn rất dễ
bị tổn thương của thi nhân khi anh nhận ra quá nhiều điều bất an của cuộc sống
đang từng phút, giây hiển hiện như những hố thẳm chôn vùi nhân phẩm con người,
đẩy con người vào những bi kịch có tên và không tên, được sơn phết bằng những mỹ
từ “nằm ngoài chân lý” với những mớ “lý luận huyễn hoặc”, hoàn toàn xa lạ với
những giá trị nhân bản của loài người.
tôi nhai nhạt nhẽo cuốn sách ngược nội dung
thuộc làu mỹ từ nằm ngoài chân lý
chữ nghĩa nhảy dây rười rượi màu son
(Hai
ngày không tôi)
Không những thế, mùi hiện sinh trong thơ Hoàng
Vũ Thuật còn thể hiện trong nhiều bài thơ nói về nỗi khổ đau phận người như sự
ám ảnh của một tâm thức hiện sinh mà anh đã trải nghiệm từ “những điều trông thấy”
trước nỗi “đau đớn lòng”. Và sự nghiệm sinh này là nhân tố giúp anh chuyển hóa
hệ hình tư duy nghệ thuật thơ của mình, dũng cảm bứt phá, vượt thoát khỏi lối
tư duy thơ ca minh họa để vươn đến chân trời mới, hệ hình mới với ý thức sáng tạo
mới. Phải chăng, đây cũng là một giá trị cần được ghi nhận trong sự vận động của
tư duy thơ Hoàng Vũ Thuật ở một số bài thơ gần đây mà tập thơ Mùi là
một minh chứng. Bởi, với một nhà thơ “lớp trước” như anh, việc từ bỏ cái “ao
tù” của tư duy thơ chật hẹp để vươn ra “biển lớn” là điều không dễ dàng, nếu
nhà thơ không có ý thức tự lột xác mình. Chính điều này đã đưa anh đến với cảm
thức hiện sinh, một cảm thức mang tính nhân văn sâu sắc, bởi nó luôn quan tâm đến
số phận con người, với nỗi cô đơn bản thể, với sự mong manh, hư ảo của kiếp
nhân sinh. Và với một trái tim “không ngủ yên”, trước đau thương của nhân quần,
Hoàng Vũ Thuật đã thể hiện cảm thức hiện sinh trong thơ thật cảm động
mà khi đọc lên ta không khỏi thấy lòng quặn thắt, đớn đau.
những cánh tay chọc thủng gạch ngói
những chiếc nón vẫy mưa
những tiếng kêu đứt đoạn
những hốc mắt đói nhìn
mỏi mòn đêm tối
kiệt
quệ rạng ngày...
mẹ
thắp hương chờ
những đứa con không trở lại
những đứa con khát sữa gào lên khuya khoắt
sạp giường lạnh tanh
sách vở trộn bùn đất
rơm rạ trộn thây người
(Lá
cứ hồn nhiên)
Vâng! “Lá cứ hồn nhiên”... Song, chẳng lẽ con người lại cứ
mãi hồn nhiên trước nỗi đau của đồng loại!? Đó là những câu hỏi xuyên thủng lịch
sử mà Hoàng Vũ Thuật đặt ra trong thơ. Bởi suy cho cùng, giá trị cao quí
của thơ ca hay lịch sửkhông phải là sự biện minh cho một chủ thuyết nào mà chính
là giá trị nhân văn, là sự quan tâm đến từng số phận con người được thể hiện
trong đó.
đôi khi ngoái về trái đất nhìn
thác
máu xối xả
biển đen ngòm hoại tử
những bóng câm lặng vật vờ
những vở tuồng chính trường châu lục
những
chém giết kinh hoàng
những trận động đất kép
(Hai
ngày không tôi)
Đã một thời, thơ không chạm đến niềm đau, nỗi buồn. Thậm
chí, những điều này bị xem như một cấm kỵ. Nhưng, nếu thơ không nói đến nỗi đau
phận người vốn là căn tính của bản thể thì thơ có hoàn thành sứ mệnh của mình với
thiên chức là sứ giả của cái đẹp để cứu rỗi con người hay không!? Và như vậy,
liệu thơ có còn cần cho con người, khi nó chỉ là những lời tụng ca sáo rỗng, vô
nghĩa, cổ xúy cho những thứ ngụy tín hoàn toàn xa lạ với con người!? Hoàng Vũ
Thuật ý thức rất rõ điều này nên mùi hiện sinh trong thơ anh thấm đẫm
chất nhân bản sâu sắc là vì thế.
đôi
khi tôi nhớ ngày mẹ tôi ra trường đấu
dượng tôi vỡ sọ sau loạt đạn người thân
anh tôi ngả xuống
chẳng kịp nhắn tin
chú
tôi kháng chiến
một đi không trở lại
thằng bạn họ Hoàng buồn bã
ngày ngày
cúi
lạy cô đơn
Và từ nỗi đau phận người, mùi hiện sinh trong
thơ Hoàng Vũ Thuật còn biểu hiện ở nỗi cô đơn thận phận, ở khát vọng tự do
trong các bài thơ: Chiếc ghế bỏ trống, Trước nhà thờ Đức Bà Pari, Trở về,
Tự do, Buồn ơi, Bài thơ chưa viết... Ở những bài thơ này, nỗi cô đơn phận
người luôn dày vò tâm cảm anh, cứa vào lòng anh những vết thương rỉ máu mà sự
thấu cảm trước nỗi “cô độc” của Quasimodo, một “kỳ nhân” nhưng không “kỳ tâm”
trong tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Paris nỗi tiếng của Victor Hugo
không khỏi làm ta nhói lòng.
hai
mươi tám vị tông đồ ngự trên tường cao
hai mươi tám cánh thiên thần
trắng
muốt
tôi là thằng gù Quasimođo
đơn độc
kéo hồi chuông
hỡi những hồn oan bé nhỏ bây giờ nơi đâu.
(Trước
nhà thờ Đức Bà Paris)
Hay sự thổn thức của niềm cô đơn bản thể hiển lộ qua cảm
thức rỗng không ở các bài thơ: Hai ngày không tôi, Nàng biến đi trong gió, Rỗng...
Và tận cùng của nỗi cô đơn là: cuộc chơi trốn tìm/ tôi bắt được
nàng/ nhưng chỉ là cái bóng vô hình cái bóng chẳng nói/ cái
bóng đầy tôi /cái bóng của những khoảng trống/ trong suốt (Nàng
biến đi trong gió) Để rồi:đắng cay chồng hạnh phúc/ con đường mới
xuyên qua cuộc đời em lặng lẽ (Rỗng)
Song hành với nỗi cô đơn là nỗi khao khát tự do bản thể,
một khát khao mà nhân loại luôn ngưỡng vọng. Và điều này được Hoàng Vũ Thuật
nói đến trong thơ như một tuyên ngôn sống của anh và thế hệ anh mà một thời
không được, hoặc không dám nói đến, dù chỉ trong thơ: hôm nay ngày cuối/ bắt
đầu một kiếp khác/ tự do/ ăn tự do ngủ tự do nói tự do
làm tự do sống tư do (Người)
Tôi muốn chia sẻ cùng bạn đọc cái cảm thức tự do mà
theo Hoàng Vũ Thuật là: “thông điệp của mọi thông điệp”. Và bài thơ Tự do,
theo tôi là một tượng đài thiêng liêng của khát vọng tự do bản thể dựng
lên bằng sự trải nghiệm cả một đời người qua bao đắng cay của thế cuộc mà thi
nhân muốn gởi đến chúng ta.
tự
do như chữ viết có mắt có chân
bay
lên xuyên tường rào xuyên núi xuyên đất
đến
và đi không biên giới
tự do vang trong ngôi nhà ấm áp tiếng cười trẻ thơ
nước từ chỗ cao xuống thấp
khát cần uống đói cần ăn...
tự do thông điệp của mọi thông điệp
giản dị chân thành cuộc gặp không định trước
người nằm xuống tự do đứng lên.
Nhận thức về tự do bản thể cũng là nhận thức được
quy luật biến dịch của đời sống nên những suy niệm về sự hư ảo của kiếp người
cũng là một phương diện thể hiện mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật
ở các bài thơ: Viết cho một người bạn vừa treo cổ, Trà đạo, Không
không phải, Ánh chớp, Nước, Lý giải... Cát bụi rồi cũng sẽ trở về cùng cát bụi.
Không có cái gì trên đời này là miên viễn. Nếu ai đó tin rằng ở cõi trần còn có
cái gì là vĩnh hằng thì chỉ là những ý nghĩ điên rồ huyễn hoặc của một thứ tư
duy hoang tưởng. Ta hãy nghe Hoàng Vũ Thuật chia sẻ điều ấy trong thơ:
cái sống không mang nổi ý nghĩa thì cái sống chỉ là sợi dây
đánh đu cùng cái chết
anh đánh đu tất
thảy mọi thứ trên đời
và
mọi thứ
không bao giờ thật cả.
(Viết
cho một người bạn vừa treo cổ)
Vâng! Mọi thứ “không bao giờ thật cả”!? Có những điều
hôm nay là chân lý nhưng ngày mai lại là ngụy chân lý. Sự hoài nghi, phải chăng
cũng là điều cần thiết cho cuộc sống mà nếu không có đủ độ chín của tư duy và
chiều sâu tâm hồn, thi nhân không thể đặt ra trong thơ mình những tâm tưởng
mang tính phản biện sâu sắc đến thế? Tôi rất thú vị với ý thức phản biện trong
thơ Hoàng Vũ Thuật. Chính sự “lật trở” của một tư duy thơ luôn vận động đã làm
nên một giá trị khác của thơ anh đó là tính triết luận. Và chính chất triết luận
làm cho mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật có hương vị riêng, đầy
quyến rũ. Ta hãy nghe anh lý giải về cái không “có thật” ở cuộc đời bằng cái
nhìn thấm đẫm màu sắc hiện sinh qua sự chuyển dịch của hiện hữu:
đám mây
dạt
vào khoảng không rồi tan biến
để lại giọt nước trên mặt hồ
sinh tử.
bong bóng bước trong sương giá
tin rằng
vũ trụ trong lòng tay
sự tàn lụi tín ngưỡng
(Lý
giải)
Và chính vì sự dịch chuyển vô thường của hiện hữu, nên
nhiều khi con người không lý giải nổi về sự hiện hữu của chính mình. Trong cái
nhìn của triết học hiện sinh mọi hiện hữu đều phi lý và đây cũng là một phẩm
tính của mùi hiện sinh trong thơ Hoàng Vũ Thuật qua những câu hỏi đầy trăn
trở. Về đâu/ dòng sông ngang qua đời/ ta/ không bọt/ về
đâu những con sóng vỗ chân cầu/ đừng nói nữa/ chiếc hộp trà đêm
đêm/ đối diện/ dấu đi/ thi thể ngàn năm/ trôi/ sóng
truyền kiếp/ chiều nay/ dạt phía chân cầu. (Trà đạo)
Và: Tôi phải làm gì/ với sợi dây thời gian/ căng chặt
quanh người/ đè nặng hơi thở cơn mê vòm ngực/ trước đường biên/ hữu
hạn (Không không phải)
3. Để trả lời câu hỏi thơ là gì, mỗi nhà thơ có cách lý giải
riêng. Và cách lý giải của Hoàng Vũ Thuật ở đây chính là cảm thức hiện
sinh được thể hiện trong thơ anh với những dằn vặt, ưu lo trước số phận
con người, là sự hoài nghi trước những phi lý đến buồn nôn của hữu thể. Thơ
Hoàng Vũ Thuật, vì vậy, là thơ có Tính Người, một giá trị mà mọi nhà thơ
chân chính đều hướng đến. Và nếu nói như Apollinaire: “Nhà thơ là kẻ tìm ra được
hứng thú mới, dẫu hứng thú đó khó chịu đựng. Có thể thành nhà thơ ở mọi lĩnh vực:
Miễn là thích phiêu lưu và đi khám phá” (1) thì Hoàng Vũ Thuật là nhà thơ như
thế. Bởi, thi nhân đã không ngừng khám phá cuộc sống, khám phá chính mình để
sáng tạo và chính điều này là căn cước cho sự tồn sinh của thơ anh trong cuộc đời
cũng như trong tâm thức người tiếp nhận. Vì nói như Pierre Reverdy: “Thơ không ở
trong cuộc đời, cũng chẳng ở trong sự vật – Thơ chính là cách sử dụng sự vật và
cuộc đời, cùng là cái gì anh mang thêm vào cuộc đời và sự vật.” (2)
Với tập thơ Mùi, Hoàng Vũ Thuật là một trong không
nhiều nhà thơ đã mang đến cho thơ ca hiện đại Việt Nam một cách nhìn khác về cuộc
đời. Đó là một cái nhìn hiện thực như nó vốn có chứ không phải như nó phải có.
Và đây là khởi nguyên để tạo nên cái mùi hiện sinh đầy nhân bản, một
giá trị cần được khẳng định trong thơ Hoàng Vũ Thuật và thơ ca dân tộc hôm nay
và mai sau...
Chú thích:
(1) (2) Trần Hoài Anh, Thơ - Quan niệm và Cảm nhận,
Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr. 269, tr. 270, tr. 271.
Nguồn: Vanvn.net






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét