Nguyễn Khuyến là nhà thơ có nhiều duyên nợ với rượu, cả trong
đời lẫn trong sáng tác thơ văn. Theo Hồ Tĩnh Tâm, trong thơ Nôm, thơ chữ Hán đã
có 53 lần Yên Đổ nói đến rượu - uống rượu. Có rất nhiều bài hay và đoạn thơ hay
mà chúng tôi đã giới thiệu một ít bài kể trên, nếu chúng ta muốn biết thêm, đó
là các bài: Nếm rượu, Chén rượu Đồ Tô, Rượu Trung Sơn, Ông phỗng đá, Chợ Đồng,
Mừng ông nghè mới đỗ, Ngày xuân gửi bạn…
Nhà thơ Tú Xương cũng rất thích rượu. Một buổi sáng nọ, các
chai, nậm, trong nhà ông không còn một giọt nào. Người ông bần thần, chân tay rời
rạc khiến ông không sao cầm bút viết nổi một chữ. Ông cứ đứng lên ngồi xuống,
ra ra vào vào ngóng vợ, y như trẻ con ngóng mẹ.
Bà Tú cắp thúng từ chợ Rồng về đến cửa, ông Tú đã ra đón, gãi
đầu gãi tai, nói:
- Tôi mong bà phỏng cả mắt, bà có thấy sốt ruột nóng gan
không?
- Có chuyện gì vậy ông? - Bà Tú ngạc nhiên hỏi.
- Hôm nay tôi muốn uống với bà mấy chén rượu, tạo cảm hứng viết
một bài thơ tặng bà. Tôi vừa tìm ra tứ…
Bà Tú (tên thật là Phạm Thị Mẫn) vốn cũng thuộc dòng nho gia.
Bà rất yêu thích thơ văn. Với văn chương ông Tú, bà là độc giả số một. Vậy nên
khi ông hé lộ việc ông sắp viết thơ tặng bà thì bà hưởng ứng ngay, dù bà thừa
biết ông làm thơ tặng bà lúc này còn vì muốn được bà chuốc rượu.
Bà Tú đã phỏng đoán không sai: Bà cầm cả mấy cái chai, cái nậm
trong góc nhà giơ lên lắc lắc thì chẳng có cái nào phát ra thứ âm thanh chứng tỏ
nó còn rượu. Bà vội móc hầu bao sai con chạy ra quán đầu phố Hàng Nâu (Nam Định).
Một lúc sau, chai rượu nếp bắc cắm tăm đã được thằng bé mang về. Ông Tú mời bà
Tú lên sập gụ ngồi đối diện với ông. Ông rót rượu ra hai cái chén cổ, bưng mời
bà một chén với phong độ rất trịnh trọng. Ông nâng chén của mình nhấp một ngụm
rồi từ tốn đọc:
Rượu với thơ suông cũng nhạt phèo…
Biết chồng có ý vòi đồ nhắm, bà Tú mau lẹ xuống bếp rán mấy
thanh đậu phụ bà mới mua ở chợ về. Trong lúc bà rán đậu dưới bếp thì trên nhà,
ông Tú đã “đi” được đôi ba chén, cái đầu lâng lâng, tứ thơ bây giờ mới xuất thần.
Bà Tú bưng đồ nhắm lên, gắp một thanh đậu chấm nước mắm bỏ vào bát ông Tú. Ông
Tú càng thêm hứng khởi, nói:
- Tôi vừa làm xong bài thơ tặng bà đây… Rồi đọc:
Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được cái gì hay cái ấy
Có chăng chừa rượu với chừa trà.
Bà Tú bật cười, nói:
- Ông thì chỉ được cái nói mép, chứ có chừa được cái gì! Đấy,
như ông bảo chừa rượu sao không chừa đi lại còn vòi vĩnh?
Ông Tú nói giọng hài hước nhưng thật bụng:
- Tôi nói “có chăng” chứ tôi đâu đã dám chắc sẽ chừa! Mà suy
cho cùng cũng chỉ bởi vì tôi không chừa được bà cho nên mới không chừa được rượu.
Tửu sắc tương liên mà lỵ!
Trong sách giáo khoa Văn học lớp 11 tập I, NXB Giáo dục, 2005,
viết về văn thơ Phan Bội Châu: Văn thơ cụ Phan là một thành công rực rỡ của thể
loại văn chương tuyên truyền cổ động cách mạng. Ở đây, lý tưởng dân tộc cao cả,
tình cảm thương dân, thương nước sâu nặng, phong phú, nhiệt huyết, sôi sục cuồn
cuộn đã là cội nguồn cảm hứng sáng tạo và cũng trở thành phong cách nghệ thuật
văn chương của cụ. Nhưng ít ai biết báo Tiếng Dân, ngày 9-1-1937,
đăng bài nói về rượu với tựa đề “Tình tự với rượu”, khá thâm trầm của cụ:
I
Buồn tẻo, buồn teo, hỡi chị men,
Thôi thời với chị kể nhân duyên.
Non sông nợ cũ đền chưa trắng,
Gió sấm luồng xưa rủi đã đen.
Thân vẫn còn đây trời ngó xuống,
Đời như sáo nữa, đất bùng lên.
Ừ năm ba chén cười hay khóc,
Khóc lại cười ư cũng đảo điên.
II
Mưa khéo trêu nhau gió chọc nhau,
Núi sông bó chặt những dây sầu.
Bà đâu vắng ngắt bà cùng chén,
Bạn luống trông hoài bạn với bầu
Khấn nguyện đàn sau chim đỉnh núi
Kêu rêu hồn nước quốc đêm thu
Trời ơi, chớ bảo say là quấy!
Trời nếu như tôi cũng gật gù.
III
Muốn tạ thần thơ, thần cứ tiến
Toan đuổi ma sầu, ma lại đến
Có sống thôi đi đỡ với đời
Chẳng say thời cũng chi hơn chén
Văn minh nhảy nhót gái xô trai
Phấn đấu lung tung, vàng lẫn vện
Giốc hồ đạp án nói trời kêu
Khi nói với một trong những nhà khoa bảng có lối hành văn trữ
tình hào hoa cuối thế kỷ 19, người ta thường nhắc tới ông nghè Chu Mạnh Trinh
(1862-1905). Trước đây và hiện nay, có nhiều người vẫn thuộc lòng một số thơ
văn của ông mà tiêu biểu là bài Phong cảnh Hương Sơn.
Tác phẩm Chu Mạnh Trinh để lại không nhiều. Nhà thơ mất sớm,
các hậu duệ còn nhỏ nên rất tiếc tập hợp các tác phẩm còn ít. Xin giới thiệu một
bài thơ Mừng xuân của ông, do nhà văn Lê Văn Ba sưu tầm in trong cuốn Nhà
thơ Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh (NXB Văn hóa dân tộc, 2016). Lê Văn
Ba viết:
Nhân sinh ba vạn sáu nghìn ngày, có mấy ngày hả hê như giáp Tết
năm ấy? Chu Mạnh Trinh để lại thị xã Hưng Yên bao kỷ niệm đẹp. Từ hôm đó ông trở
về quê, làm một người bình thường, một người tự do.
Tan một bữa rượu, cụ Cử ra về. Còn lại một mình. Chu Mạnh
Trinh ngồi lại trong thư phòng qua bức mành thấy mưa xuân lất phất bay. Những
giọt li ti đang rửa sạch bụi bám trên lá cây. Tiếng con chim hót đâu đây như hỏi
ông có nhớ ước mộng năm xưa đi chơi chùa Hương, muốn trở thành Lưu Thần, Nguyễn
Triệu? Nhà ông cũng có cảnh “Bồng lai xuân sắc mãn giang quan” cơ mà. Chu Mạnh
Trinh vớ tay cầm chiếc nậm rót thêm rượu. Chỉ một chén vơi nhưng đã có hoa mai,
cây trúc đây cùng say. Ông được nghỉ việc công rồi, được cáo quan về nhà rồi. Sống
tùy ý, tùy thích, phải chăng đấy mới là mùa xuân? Thi hứng tràn đầy, sẵn bút, mực
còn để trên bàn, Chu Mạnh Trinh lia bút đề ngay lên tường bài thơ xuân. Nét mực
đưa tới đâu, tường vội hút chặt ngay lấy như muốn lưu giữ vĩnh viễn chút gì đó
của hồn thơ.
MỪNG XUÂN
Sớm mưa, rửa sạch bụi trần
Oanh ca trên nước, tan dần chiêm bao
Mừng xuân, hoa liễu đón chào
Tấm lòng non nước gửi vào văn nhân
Cành mai say chén tri âm
Nghe thơ, trúc tỏ tình thân láng giềng
Việc xong, sức khỏe vẹn tuyền
Lâng lâng, thỏa mọi nỗi niềm, ấy xuân.
Trần Lê Văn dịch
Trong An ninh thế giới cuối tháng, số tháng
12-2008, Hoài Nam viết: Cổ nhân có câu: “Dĩ tửu trợ văn, dĩ văn hội hữu” (lấy
rượu giúp cho cảm hứng văn chương, lấy văn chương để kết giao bạn bè). Lại có
thêm quan niệm: Rượu là sự thăng hoa của ngũ cốc, thơ là sự kết tinh của ngôn từ.
Chỉ bằng từng ấy có lẽ đã đủ để nhìn ra một mối liên hệ thật mật thiết giữa rượu,
thơ và thi sỹ. Trên thực tế của nhiều trường hợp, đó là cái tam vị đã làm nên sự
nhất thể. Tình bạn giữa những con người trong giới bút mực. Tình bạn ấy diễn ra
trong đời thường, và cũng có lúc, như một sự ngẫu nhiên thú vị, nó in dấu trong
thơ, nó giúp người yêu thơ hiểu thêm về các thi sĩ và tình cảm bằng hữu mà họ
dành cho nhau.
Năm 1937, trên báo Đàn bà xuất hiện một bài thơ của
Nguyễn Vỹ, có cái tên “Gửi Trương Tửu”. Khi soạn “Thi nhân Việt Nam”, Hoài
Thanh đã đưa bài thơ này vào sách và cho rằng: Đây “mới thực là kiệt tác của
Nguyễn Vỹ”. Mở đầu bài thơ đã là những câu ngây ngất hơi men: “Nay ta thèm
rượu nhớ mong ai/ Một mình nhấm nháp chẳng buồn say/ Trước kia hai thằng hết một
nậm/ Trò chuyện dông dài mặt đỏ sậm/ Nay một mình ta một be con/ Cạn rượu rồi
thơ mới véo von…”.
Rượu làm sống lại hồi ức của tác giả về người bạn thân thiết
Trương Tửu, về những kỷ niệm khi hai người còn gần gũi bên nhau. Và đây là những
câu thơ mà nhiều người đã thuộc nằm lòng, có thể nói, những câu thơ “xanh mãi với
thời gian” bởi chất kiêu bạc phóng túng của chúng: “Dạo ấy chúng mình
nghèo xơ xác/ Mà vẫn coi tiền như cái rác/ Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang/ Rủ
nhau chè chén nói huênh hoang/ Xáo lộn văn chương với chả cá/ Chửi Đông, chửi
Tây chửi tất cả/ Rồi ngủ một giấc mộng với mê/ Sáng dậy, nhìn nhau cười hê
hê”. (Sau này, trong bài viết “Kỷ niệm về Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ kể khá
chi tiết về việc ông cùng Trương Tửu và Vũ Trang sống với nhau trên gác trọ phố
Khâm Thiên - khoảng 1934, 1935. Mỗi sáng về mùa đông, ba người lại trùm ba cái
chăn bông ngồi ở phòng khách, uống trà, nói chuyện văn chương. Nhiều tháng họ
không có tiền, nhưng có lần Nguyễn Vỹ được 10 đồng nhuận bút, Trương Tửu lấy 4
đồng uống rượu đế ăn thịt cầy, Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Định để biểu diễn
thôi miên. Trong bài viết này, Nguyễn Vỹ cũng tỏ ra rất khâm phục sức đọc sức
nghĩ và tài hùng biện của Trương Tửu.
Với “Gửi Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ công khai bộc lộ nỗi chán chường
cá nhân trước tình cảnh cùng quẫn và sự bế tắc tinh thần của những người sống bằng
ngòi bút viết văn, viết báo trong một xã hội Việt Nam thuộc địa và tư sản hóa.
Câu thơ được truyền tụng nhiều nhất: “Nhà văn An Nam khổ như chó”! Đó cũng đồng
thời là nỗi chán chường trước tình cảnh của hai người bạn: “Anh đi che tàn
một lũ ngốc… Còn tôi bưng thúng theo đàn bà”. Nhưng không chỉ có vậy, “Gửi
Trương Tửu” còn là sự gửi gắm những ước mơ của hai người bạn Nguyễn Vỹ - Trương
Tửu. Trong văn bản bài thơ được in ở “Thi nhân Việt Nam” ước mơ ấy hiện ra khá
mờ nhạt: “Tôi làm trạng nguyên, anh tể tướng/ Rồi anh bên võ tôi bên văn/
Múa bút tung gươm hả một phen”. Nó, ước mơ ấy, sẽ thực sự là ước mơ cháy bỏng
nếu ta hoàn nguyên 14 câu thơ đã bị chính quyền thực dân kiểm duyệt - theo tư
liệu mà gia đình giáo sư Trương Tửu hiện còn lưu giữ: “Cho bõ căm hờn cái
xã hội/ Mà anh thường kêu mục, nát, ruỗng/ Cho người cày ruộng kẻ làm công/ Đều
được yên vui hớn hở lòng/ Bao giờ chúng mình gạch một chữ/ Làm cho đảo điên pho
lịch sử/ Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa/ Hất mồ nhổm dậy cười say sưa/ Để xem hai
chàng trai quắc thước/ Quét sạch quân thù trên đất nước/ Để cho toàn thể dân Việt
Nam/ Đều được tự do muôn muôn năm/ Để cho muôn muôn đời dân tộc/ Hết đói rét, lầm
than, tang tóc…”.
Những câu thơ như vậy, tất nhiên, không cách gì tránh khỏi được
nhát kéo kiểm duyệt của chính quyền thực dân. Nhưng quan trọng là, qua những
câu thơ đó, Nguyễn Vỹ đã thực sự hiểu, chia sẻ với nguyện vọng và tư tưởng của
bạn. Điều này sẽ được chứng minh nếu chúng ta không quên rằng, từ giữa những
năm 30, nhà văn - nhà phê bình văn học Trương Tửu đã bắt đầu đọc sách của chủ
nghĩa Marx, tiếp cận với báo của Đảng Cộng sản do Trần Huy Liệu phụ trách, rồi
tham gia chống việc Bảo Đại vận động tranh cử và vì thế bị chính quyền thực dân
kết án. Tinh thần đấu tranh hừng hực - như đoạn thơ 14 câu trên cho thấy - hẳn
đã thường trực trong tư tưởng Trương Tửu, và cũng hẳn đã lôi cuốn Nguyễn Vỹ.
Nhưng lôi cuốn là một chuyện, cùng đi được với nhau trên một con đường hay
không lại là một chuyện khác. Có lẽ chính vì thế mà Nguyễn Vỹ, sau cao trào, đã
kết lại bài thơ gửi bạn của mình bằng một thoái trào: “Mẹ cha cái kiếp làm
thi sỹ/ Chơi cờ nước cao gặp thế bí/ Rồi đâm ra điên ra vẩn vơ/ Rốt cuộc chỉ
còn… mộng vơi mơ”.
Hơi men vẫn còn ngây ngất ướp lấy bài thơ khi tác giả chua
thêm ở cuối bài năm chữ: “Viết rồi vẫn còn say”, chính cái hơi men đã tái hiện
một tình bạn và góp phần làm nên sức trường tồn của một thi phẩm.
Ưng Bình Thúc Giạ Thị là nhà nho uyên bác, lại tinh thông Tây
học, từng làm quan lớn trong triều Nguyễn, nhưng nhà thơ trước sau vẫn giản dị
là một con người Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam, yêu Tổ quốc Việt Nam, luôn
luôn thiết tha với cảnh vật, con người xứ sở mình. Ông được nhiều tầng lớp người
trong xã hội quý mến, kính nể. Chẳng thế mà năm 1951, khi ông tròn 75 tuổi, bạn
bè tổ chức lễ điếu sống ông.
Không ít bài thơ viết bằng chữ Hán, cũng như Quốc ngữ, ta bắt
gặp tâm trạng cô đơn, nỗi sầu da diết của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, cô đơn ngay cả
khi tiệc tùng đàn ca réo rắt, cô đơn ngay cả giữa chốn đông người. Xin dẫn
bài: Giáp Tý xuân tam nguyệt nhị thập cửu dạ chiêu ẩm tác thi mệnh cầm đề
thi: Mùa xuân năm Giáp Tý - 1924, đêm 29 tháng 3 cùng khách uống rượu làm thơ
và nghe đàn.
Dịch thơ: Đông Chi, Mộng Vị mối tình lan/ Chàng bẵng
ngâm thơ biếng gảy đàn/ Sầu nhớ thương người vài chén rượu/ Nỗi lòng vằng vặc vạn
trùng san/ Quỷ ma ác liệt đầy sòng bạc/ Mặc khách thanh tao thiếu bạn vàng/ Vẳng
điệu Hành Vân đàn thập lục/ Rì rào réo rắt hạt mưa tan.
Và đây là bài “Tiễn biệt người tình”, ông sáng tác ở Hội An,
1904:
Ngọn gió ngành xuân thổi phất phơ
Khi đưa, khi đón lại khi chờ
Câu thi tiễn biệt càng ngao ngán
Chén rượu tương phùng luống ngẩn ngơ
Ngoắt bạn, bạn đành chân bước tới
Kêu ai, ai giả bộ làm ngơ.
Thôi thôi đã thế thôi thì thế
Thương cũng xin vâng, ghét cũng nhờ.
Theo nhà văn Triệu Xuân, Nguyễn Đình Thi có bài thơ rất độc
đáo về rượu. Đó là bài “Không đề”. Triệu Xuân viết: Những năm cuối đời, mỗi khi
vô Sài Gòn, nhà văn Nguyễn Đình Thi thường lui tới nhà Triệu Xuân… Sau Tết năm
1999, đến chơi nhà Triệu Xuân (16-3-1999), trong tiệc rượu, nhà thơ Nguyễn Đình
Thi có đọc - và chép tặng Triệu Xuân- vài bài thơ. “Không đề” là một trong số
bài thơ đó. Khi ông Thi vừa đọc xong, tôi thuộc liền, nhất là câu thơ cuối:
“Chén rượu bên đèn nước mắt đầy”, nghe lần đầu đã nổi da gà. Tôi hỏi ông Thi:
Sao lạ thế, giống hệt tâm trạng của không ít người (ý nói là của Triệu Xuân)!
Ông Thi lặng đi, mãi mới trả lời: "Ý câu ấy, tôi lấy của ông Tuân (Nhà văn
Nguyễn Tuân). Một hôm, đến cơ quan Hội rất sớm, mặt mày phờ phạc, ông Tuân nói
với tôi: Thi ơi, đêm qua tôi không ngủ được, thức và viết mãi, khi cầm chén rượu
uống, thấy mặn chát, thì ra toàn nước mắt, ông ạ!".
Cuộc đời như một áng mây trôi
Gió thu lại thổi suốt đêm dài.
Bạn bè ngày ấy dần xa khuất
Chén rượu bên đèn nước mắt đầy
Chép tặng Triệu Xuân. Ký tên Nguyễn Đình Thi
Trong Tuyển thơ Nguyễn Đình Thi, bài Không đề được
làm năm 1997, nó như sau: Năm mươi năm như một bóng mây/ Gió thu lại thổi
suốt đêm dài/ Vẳng nghe khúc hát người năm ấy/ Chén rượu bên đèn nước mắt đầy.
Rõ ràng, bản mà Ông Thi chép tặng Triệu Xuân ngày 16-03-1999,
hay hơn! – Rút từ “Triệu Xuân Sống và Viết”.
Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật cho rằng thi sĩ
Vũ Hoàng Chương là lớp hậu sinh thuộc hàng con cháu cụ Tản Đà. Người thơ này nổi
tiếng cả trong viết và trong các ngón nghề ăn chơi theo đường Tây học. “Say
đi em” là bài thơ bạo liệt nhất của ông chứ gì? Ông giục giã say cho “Lơi
lả ánh đèn, cho điên rồ xác thịt”. Ông giục giã uống để quên, quên hết “Rượu,
rượu nữa và quên, quên hết/ Ta quá say rồi/ Sắc ngả mầu trôi”. Cảm giác vật
chất, gấp gáp và hối thúc như kiểu vũ trường điện tử hôm nay quả là không hiếm
gặp trong thơ ông cách đây đã hơn bảy thập kỷ. Ngay cả khi ông thông báo trong
bài “Một phút ngừng say” thì tôi vẫn thấy hiện hình cảm giác vật chất
của rượu - thơ - say còn sót lại. Công bằng mà nói, sau những câu thơ tốc độ và
đậm sắc màu điện tử, có vẻ lạ, có vẻ dễ được một thời vồ vập ấy thì những câu
thơ “hậu rượu” - tôi muốn được gọi như thế - của ông là những câu thơ tôi cho
là hay nhất, dễ thương nhất. Đã mấy thi sĩ viết được những câu đi qua rượu mà lắng
sâu, xa vắng được thế này:
Bấc trĩu hoa đèn nhựa úa nâu
Phai say nằm khóc mộng ban đầu
Bước chân song sóng vòng tay mở
Dạo ấy người ơi xa lắm đâu
… Tuyết xuống phương nào lạnh lắm không
Mà đây lòng trắng một mùa đông
Tương tư nối đuốc thâu canh đợi
Thoảng gió Trà My động mấy bông.
Cũng như nhiều nhà thơ đương thời, Vũ Hoàng Chương mượn rượu
để tiêu sầu, nhưng cái sầu càng sâu đậm thêm. Trong bài Đời vắng em rồi, Vũ
Hoàng Chương viết:
Có ai say để quên sầu,
Lòng ta lảo đảo càng sâu vết buồn
và…
Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?
Xin mời đọc lại bài Phương xa của ông:
Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xuôi về đông hay giạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bảy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh.
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ.
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.
Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt,
Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan.
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt,
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan.
Thi sĩ Vũ Hoàng Chương nổi tiếng với tập Thơ say (1941).
Ông còn mê rượu, thơ, hát cô đầu… cả Quan Họ nữa. Sau Thơ say hai
năm, ông cho in tập Mây. Nó từ một mối tình của ông. Nguyên do thế
này.
Tháng tư năm Nhâm Ngọ (1942) ông theo thi sĩ Lê Trọng Quỹ
sang làng Dương Ổ (Hà Bắc) nghe hát Quan Họ. Bên ấy, Lê Quân có “đệ nhị phòng”
là cô Tạ, anh em đùa là Dương Quý Phi của Lê thi sĩ. Tới nơi, cô ta đón tiếp trọng
thể, bê lên một mâm rượu rồi đi mời thêm bạn hát. Hoàng và Lê ngồi uống, rồi
Hoàng say kê đầu lên cái gối bằng giấy xếp, đánh một giấc. Khi tỉnh dậy thấy có
9-10 người ngồi hát quây quần, trong đám ấy có một thiếu nữ “đẹp như mộng”. Hỏi
thầm Lê Quân biết là cô Mây - Hoàng ứng khẩu ngay một bài thơ tứ tuyệt, vừa thôi
xao tức thì:
Ánh rượu đào trên má đỏ hây
Tiếng ca tròn với khuôn trăng đầy
Ngọn cau, trăng cũng tròn theo tiếng
Tròn não nùng, như tuổi của Mây.
Mọi người biết ngay thi sĩ phải bùa rồi, và cũng ủng hộ.
Nhưng Mây, vừa tuổi trăng rằm, đẹp lắm lại đã có chồng từ ba năm trước. Chồng
nàng kém nàng năm tuổi. Giờ nó lên 10, còn chơi khăng đánh đáo. Tục lệ ở làng rất
ngặt, nếu cô gái lớn lên có trục trặc gì, nhà gái phải trả nhà trai toàn bộ tổn
phí cưới xin trước đó, gọi là trả của. Cuộc tình của Mây với Hoàng khó thành.
Vì Mây nhút nhát, nghe cha mẹ. Yêu Hoàng, Mây chỉ biết khóc, mà nói chuyện về hội
hè đình đám thì có duyên lắm.
Hoàng, sau nhiều lần từ Hà Nội sang, ngày càng khó xử. Ngặt nỗi
nếu Mây thuyết phục được gia đình trả của, nàng cũng không thể theo Hoàng rời
làng được, chị em bạn bè nàng cũng vậy. Mà Hoàng lại không thể nhập tịch làng
Dương Ổ, vì là con trưởng, cưới vợ, tất dâu trưởng phải lo cúng giỗ ở Nam Định,
quê Hoàng.
Sau lần cùng Mạnh Phú Tư sang Dương Ổ, đi xe tay từ Hà Nội
lúc chập tối, vào làng đã 10 giờ đêm, dân làng cho rằng Hoàng có thể rủ Mây đi
trốn, mà Mây nhẹ dạ dễ theo công tử Hà Thành lắm. Và gia đình Mây đã bắt Mây lập
tức phải về nhà chồng, mặc nàng phản đối.
Nhùng nhằng đi lại hết cả mùa hè. Vào thu Hoàng phải xuống Hải
Phòng dạy học, thế là ước mộng thành mây khói.
Cuối năm tập thơ Mây của Hoàng đã được bạn bè đón đợi,
Huy Cận ứng khẩu:
Đã lâu gặp lại chàng say
Lửa thiêng xin đốt chờ Mây xuống trần.
Nhưng cũng phải đến hết mùa thu năm sau, trời rét, tập Mây mới
in xong. Bìa tập, họa sĩ Tô Ngọc Vân vẽ một cái bầu rượu màu nâu, hình thù mập
tròn chứa đám mây giang hồ. Căn cứ vào tầm quan trọng của cái bầu rượu lại bởi
cái huy hiệu của NXB Đời Nay in nhỏ, khó xem, nên có người xuyên tạc
là nhà xuất bản Hồ Lô.
Thật cũng duyên lạ, tỉnh rượu, Vũ Hoàng Chương gặp được người
đẹp tên Mây, và tập thơ ra đời từ ấy, lại được ông Vân (Mây) vẽ bìa, bìa lại có
hình nậm rượu chứa đám mây. Bánh xe “chuyển xa luân” thế cũng khéo một vòng. Chắc
cũng bởi cái họ Vũ (Mưa) mà mối tình dang dở?
Ngoài tập thơ Mây do mối tình này, Vũ Hoàng Chương
còn viết kịch thơ Vân Muội, khi diễn ông thủ vai chính. Ông gặp Mây
năm 26 tuổi, cứ theo tinh thần hồi ký của ông thì có thể đoán đây là mối tình đầu,
nó sâu sắc và lưu dấu không phai trong đời. - Theo sách Văn hóa rượu.
Cùng tầm tuổi, cùng sinh ra ở Nam Định, cùng xếp liền nhau
trong Thi nhân Việt Nam, cùng có những năm tháng tiêu tao ngất ngưởng
rượu thơ đây đó, nhưng khác với thi sĩ “Tố của Hoàng”, Nguyễn Bính lại
là một kênh hoàn toàn khác. Và ông khác ngay ở một mô-típ muôn đời là rượu với
thơ.
Đến Lạng Sơn năm 1940, trong tâm hồn ông là cả “một trời quan
tái”. Trong chén rượu, đằng trước và đằng sau bước chân thứ lữ giang hồ vẫn chỉ
là hình bóng giai nhân:
Chiều lại buồn rồi, em vẫn xa
Lá rừng thu đổ, nắng sông tà
Chênh vênh quán rượu mờ sương khói
Váng vất thôn sâu quạnh tiếng gà.
Rồi cũng không còn nghe thấy tiếng gà và cảm giác váng vất nữa,
Nguyễn Bính tuyệt vời trong một đặc tả sức thất tình trong bốn câu thơ rượu kết
thúc bài “Một trời quan tái”.
Chiều nay… thương nhớ nhất chiều nay
Thoáng bóng em trong cốc rượu đầy
Tôi uống cả em và uống cả
Một trời quan tái mấy cho say.
Đến Huế năm 1941, để rồi có bài thơ “Trời mưa ở Huế”
- bài thơ là cả cuộc đời ông vần vụ trong nghèo túng mà vẫn không nghèo
xót thương và tâm tưởng:
… Cúi mặt soi gương chén rượu đầy
Bốn mắt nhuộm chung màu lữ thứ
Đôi lòng hòa một vị chua cay
Đứa thương cha yếu thằng thương mẹ
Cha mẹ chiều chiều… con nước mây.
Và dễ thường không phải là ông, không phải là Nguyễn Bính đâu
dễ có được những câu thơ rượu hay hết nhẽ, hay vì chưa ai nói được cái cảm giác
“lạnh ngón tay” của người nâng ly rượu ngày mưa lúc xa nhà, xa mọi thứ:
Sầu nghiêng mái quán mưa tong tả
Chén ứa men lành lạnh ngón tay.
Nguyễn Vỹ đã viết mấy câu thơ nổi tiếng:
… Mỗi lần cầm bút nói văn chương
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Và nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm giời kiết vẫn kiết.
Nguyễn Bính không nói bỗ bã như Nguyễn Vỹ, nhưng tâm tư của
ông thì cũng như vậy. Và rồi cũng như Nguyễn Vỹ, ông lại dùng rượu để quên buồn
phiền.
… Tâm giao mấy kẻ thì phương Bắc
Ly tán vì cơn gió bụi này
Người ơi, buồn lắm mà không khóc
Mà vẫn cười qua chén rượu đầy
Vẫn đám tiêu hoang cho đến hết
Ngày mai ra sao rồi hẵng hay
Ngày mai xán lạn màu non nước
Cốt nhất làm sao tự buổi này
Ta đi, nhưng biết về đâu chứ?
Đã mấy phong yên lộng bốn trời
Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
Uống say mà gọi thế nhân ơi!
Lại uống rượu! Nếu có người nào chịu khó đi đếm những lần
Nguyễn Bính nhắc đến rượu ở trong thơ sẽ gặp được nhiều lần. Có lẽ cả trăm lần
ông dùng từ rượu:
- Chị ơi! Tết đến em mua rượu
Em uống cho say đến não lòng.
Xuân tha hương
- Hôm qua còn sót hơn đồng bạc
Hai đứa bàn nhau uống rượu say.
Giời mưa ở Huế
- Nhưng mộng mà thôi mộng mất thôi
Hoa tàn rượu ế ấy tình tôi.
Hoa với rượu
Nhưng ngồi giữa chợ “để uống say mà gọi thế nhân ơi!” cũng thật
là thú vị. Tiếc là Nguyễn Bính không chịu kết lại bài thơ ở đây để ông còn ngồi
uống rượu mãi giữa chợ mà ông lại viết thêm một khổ nữa:
Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
Ngươi ơi! Hề! Ngươi ơi!
Người sang bên ấy sao mà lạnh
Nhịp trúc ta về lạnh mấy mươi…
Có lẽ như ông đã quá say.
Nói đến thơ Nguyễn Bính, người đời thường ghi nhớ, truyền tụng
nhiều bài thơ tình bất hủ của ông: Tương tư, Cô hàng xóm, Cô lái đò, Lỡ bước
sang ngang, Chân quê… Có lẽ ít ai biết bài thơ Cho tôi ly nữa. Bài
thơ lúc đầu đăng trên Tiểu thuyết thứ 5, sau in trong tập Tâm hồn
tôi (NXB Nguyễn Cường, 1940). Đó là sự say của một thi sĩ lớn, một
tâm hồn lớn mang nặng nỗi đau đời. Cái hay, cái độc đáo là ở tứ thơ phát triển
theo từng cung bậc tâm lý người say sau mỗi chén rượu. Lời thơ cứ nhẹ tênh theo
hơi men phảng phất mà sức chuyển tải tư tưởng rất nặng, rất đằm. Bước vào cuộc
say thi sĩ còn nói lỡm cô chủ quán rằng đừng nghỉ sớm, trưa, chiều, tối càng có
mặt càng mê nàng…
Năm 1934, báo Phong Hóa có đăng bài thơ dài “Minh
niên khai bút” của nhà thơ Tú Mỡ chúc Tết cho 15 nhân vật thời ấy mà ông gọi là
“Thập ngũ tài tử”, trong đó có hai nhân vật văn học là Tản Đà và Nguyễn Thị
Manh Manh, bấy giờ đang trong cuộc đấu tranh giữa thơ mới và thơ cũ.
Nhà thơ Tản Đà mà chúng ta đã quen thuộc, được Tú Mỡ chúc như
sau:
Minh niên khai bút, nút khai chai
Vạn sự giai thành, một hóa hai
Còn rượu, còn thơ, còn chếnh choáng
Còn chưa đáng chán cõi trần ai.
Còn bà Nguyễn Thị Manh Manh (tên thật là Nguyễn Thị Kiêm),
sinh năm 1914 tại Gò Công - một người nhiệt thành đấu tranh cho thơ mới, đã mấy
lần hăng hái diễn thuyết tại Hội Khuyến học Sài Gòn, tranh luận với các đại biểu
thơ cũ. Nhà thơ Tú Mỡ đã chúc bà Nguyễn Thị Kiêm như sau:
Minh niên khai mỏ, lại khai môi
Ngoáy “đít cua” rồi thở hết hơi
Kêu rống trong Nam ngoài đất Bắc
Làm cho bành trướng gái tân thời.
Cũng trong số báo Phong Hóa này, Nguyễn Bính còn viết
đôi câu đối:
Tết tung túng tắng tiền tiêu Tết
Xuân xiếc xênh xang sắm sửa xuân.
Còn đây là đôi câu đối của bạn đọc ở Hải Dương chúc Tết cho
hai kiện tướng của Tự Lực văn đoàn năm 1934:
- Xuân sang, kể chuyện “Đào hoa”, Khái Hưng ru “Hồn bướm vào
cõi tiên”, chợt nghĩ đến “Nửa chừng xuân” mà đã lo quãng “Đời mưa gió”.
- Tết đến, đọc văn “Thơ mới”, Thế Lữ ngắm “Đêm trăng ở hang
Văn Dú” mới tưởng tới “Lưỡi tầm sét” rồi thấy sợ con “Đường thiên lôi”.
Năm 1933, cụ Tú Mỡ có bài thơ “Tửu đức tụng”. Cụ làm bài thơ
này không chủ đích ca ngợi rượu, vì cụ không uống rượu, mặc dù cụ viết:
Anh em hỡi, này ta bảo thật:
Rượu cho nhiều mà sướng nhất trần ai
Ai ơi! Chẳng uống cũng hoài!
Cụ viết bài thơ này vì “hôm rằm tháng bảy 1933 nhà nước bãi độc
quyền rượu, để người Nam được nấu rượu Nam”. Các ông Lưu Linh Việt Nam là sung
sướng lắm. Vậy Tú Mỡ đặt bài “Tửu đức tụng” này để tặng chung bà con trong làng
say, và tặng riêng cho ông chích tiên, thi sĩ kiêm tửu sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu.
Một chuyện vui khác: Mồng ba Tết năm 1942, nhà văn Thạch Lam
rủ một số bạn văn về quê ông ở Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mừng xuân. Trong số bạn
văn ấy có Khái Hưng, Trần Tiêu, Thế Lữ, Song Kim, Huyền Kiêu, Đinh Hùng.
Cuộc rượu diễn ra trong ngôi nhà làm theo kiểu Ánh Sáng, có cửa
rộng nhìn ra vườn đầy hoa. Thạch Lam có bà vợ giỏi nấu ăn, thường gọi là chị
Lâm, bao giờ cũng làm mâm cỗ rất Hà Nội mỗi khi có giỗ tế. Tác giả “Hà Nội
băm sáu phố phường” còn được bạn bè suy tôn là người có “quan niệm siêu đẳng
về thực ẩm”.
Mọi người nâng chén và tấm tắc khen rượu ngon: tinh chất hơn
Mai Quế Lộ, đằm thắm hơn Thanh Mai, thơm hơn hẳn mọi thứ Cẩm, Cúc…
Tuy khen rượu ngon, ngon đặc biệt, mà vẫn không ai biết là loại
rượu gì. Thạch Lam cười và nói vợ mang cả hũ rượu ra. Đó là một hũ sành to có
nút lá chuối khô bịt kín, có dán một mảnh giấy hồng điều viết bốn chữ nho làm
nhãn “Đào Lê Mỹ Tửu”.
Nhà văn Thạch Lam nghiêm trang giải thích: “Đào Lê Mỹ Tửu là
rượu ngon đã đành. Có ngon mới đem thết bạn. Nhưng Đào Lê không phải là quả
đào, quả lê đâu nhé. Nói lái là Đề Lao. Cả người nấu và người uống thứ rượu này
là dễ bị Tây đoan tống vào đề lao lắm đấy”.
Cả mâm rượu phá lên cười:
- Đào Lê Mỹ Tửu vạn tuế!
Ngày xuân ai chẳng có chút say. Trước cảnh sắc tươi non,
trong hương bay ngào ngạt, ai cũng nghĩ cảnh sắc đó, hương thơm ấy là của vũ trụ
ban tặng cho riêng mình. “Vì ta sông núi nổi màu xuân” (thơ Đỗ Phủ). Ngập trong
lời chúc của thân quyến, bạn bè họ tự thưởng thêm cho mình một chút say.
Các thi sĩ là người sống hết mình, yêu hết mình và cũng say hết
mình.
Lưu Trọng Lư có cái say của đấng tao nhân mặc khách. Một sự
say thảng đến, chợt đi trên bước giang hồ, lữ thứ. Dưới cây bút tài hoa của Lưu
Trọng Lư nó như một tiếng đờn bầu bật lên ngân vọng giữa bao la trời đất:
Ước gì ta có rượu say
Sông kia bên ấy, bên này của ta.
Trời cao đất rộng bao la
Hiu hiu gió sậy, la đà dặm trăng.
Một mai bên quán ngập ngừng
Quẩy theo với rượu một vừng giai nhân…
Ở Lưu Trọng Lư, rượu tượng trưng cho cuộc sống phóng túng của
một lãng tử. Đây là bài thơ nổi tiếng mang tên Giang hồ:
Mời anh cạn hết chén này,
Trăng vàng ở cuối non tây ngậm buồn.
Tiếng gà đã rộn trong thôn,
Nửa đời phiêu lãng chỉ còn đêm nay.
Để lòng với rượu cùng say,
Chừ đây lời nói chua cay lạ thường!
Chừ đây đêm hãy đầy sương,
Con thuyền còn buộc, trăng buông lạnh lùng!
Chừ đây trăng nước não nùng,
Chừ đây hoa cỏ bên sông rũ buồn.
Tiếng gà lại rộn trong thôn...
Khoan đừng tơ tưởng vợ con ở nhà
Giờ này còn của đôi ta,
Giang hồ rượu ấy còn pha lệ người,
Ô sao rượu chẳng kề môi,
Lời đâu kiều diễm cho nguôi lòng chàng?
Tay em nâng chén hoàng hoa,
Sá gì hớp rượu vì ta bận lòng.
Hãy gượm lắng nghe dòng sông chảy,
Gió đùa trăng trên bãi lạnh lùng.
Sá gì hớp rượu, bận lòng,
Đợi gì môi nhấp rượu nồng mới say?
Hãy nhích lại đưa tay ta nắm
Hãy buông ra đằm thắm nhìn nhau.
Rồi trong những phút giây lâu,
Mắt sầu gợn sóng, lòng đau rộn tình.
Phút giây ấy, ta mình ngây ngất,
Bỗng con thuyền buộc chặt, rời cây.
Cho ta khất chén rượu này,
Vì ta em hãy lựa dây đoạn trường.
Khoan để đốt chút hương trầm đã!
Đợi trầm bay rộn rã lời ca...
Nghe xong ta ngắm lời xa,
Dòng sông Ngân đã nhạt mờ từ lâu.
Tiếng gà đã gáy mau trong xóm,
Bình minh đà rạng khóm tre cồn.
Trông nàng môi lạt màu son,
Giật mình ta nhớ vợ con ở nhà,
Từ đấy chẳng bao giờ phiêu lãng,
Niềm thê nhi ngày tháng quen dần.
Đôi phen nhớ cảnh phong trần:
Bóng nàng ẩn hiện xa gần đâu đây.
Tưởng nghe tiếng gọi nơi hồ hải,
Mắt lệ mờ ta mải trông theo,
Trong buồng bỗng tiếng con reo,
Vội vàng khép cửa gió heo lạnh lùng.
Đêm ấy rượu nàng ta không uống,
Từ sau thề không uống rượu ai.
Đòi phen ngồi ngóng chân trời,
Chẳng bao giờ nghĩ đến đời phiêu lưu.
Ngoan ngoãn như con cừu non dại,
Cỏ quanh vườn cắn mãi còn ngon.
Sau lưng nghe tiếng cười dòn,
Vội vàng ngoảnh lại... thằng con vẫn cười.
Nó đưa ta một chai rượu bé,
Bảo rằng: "Đây, rượu mẹ dâng cha"
Là ngày sinh nhật vợ ta đó mà!
Ta uống chẳng hoá ra lỗi hẹn,
Mà từ nan đâu vẹn đạo chồng!
Than ôi! trời giá đêm đông,
Màu du tử thực bên lòng hết sôi?
Chén lại chén kề môi thủ thỉ,
Càng vơi càng tuý luý càng đầy!
Lúc tỉnh rượu lặng ngồi bên án,
Trông vào gương, lằn trán có vôi;
Vợ con khúc khích đừng cười,
Còn ta vô ý lệ rơi xuống bàn,
Hết say vẫn bàng hoàng trong mộng
Xót xa thay cái giống giang hồ!
Ngón đàn thêm một đưòng tơ,
Mà người sương gió nghìn thu nhọc nhằn,
Thôi rồi ra chốn nước non,
Lồng son lại để sổ con chim trời.
Thú hồ bể quyến mời du tử,
Niềm thê nhi khôn giữ được người.
Biết sao trái được tính trời,
Giang hồ cốt ấy, trọn đời phiêu linh...
Hôm nay ngồi rũ canh trường,
Nơi thuyền trọ, rượu quỳnh tương ai mời
Người dâng rượu xa nơi trần giới,
Lạnh lùng thay gió thổi đêm đông!
Tuy người đã khuất non sông,
Mặt hoa lãng đãng như lồng dưới trăng
Mường tượng thấy tung tăng cười nói,
Như tưởng chừng người mới hôm qua!...
Nào hay nghìn cổ cách xa,
Tài tình đến thế mà ra hão huyền!
Họa còn chút trong thuyền dấu cũ,
Cây đàn tranh mốc ủ trên phên,
Phím long, dây đã rỉ rền,
Còn nguyên trên gỗ ghi tên họ người.
Nàng xưa vốn một loài trăng gió
Cũng vì vương víu nợ cầm ca
Một đi lìa cửa lìa nhà,
Nắm xương tàn lạnh phương xa gửi nhờ.
Đêm nay họa có mình ta,
Đốt hương trầm cũ chờ ma dạo đàn.
Nguồn: Thi nhân Việt Nam. Hoài Thanh, Hoài Chân.
NXB Văn học, 2007.
Với nhà thơ Tố Hữu, thì rượu mạnh mẽ hơn, hùng dũng hơn.
Trong bài Ly rượu thọ, ông viết năm 1939, có đoạn:
Mã Chiếm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hí lạnh giữa tàn quân
… Rồi từ đó, và gươm vàng võ phục
Và cừu hận và lòng sôi rửa nhục
Mãi chôn sâu trong một cõi trời riêng
Buông hồn đau, liễu rủ suối ưu phiền
Cốt oanh liệt đã khoác màu ẩn sĩ
Rượu cứ rót cho say sưa lạc hỉ
Đàn ca lên cho át tiếng đầu rơi
Dưới gươm bay vun vút loáng xanh trời
… Và bàn tay run rẩy đỡ ly ngà
Bỗng quật xuống nền hoa: ly rượu vỡ!
Ly rượu vỡ tan tành. Ôi bỡ ngỡ
Ôi hãi hùng, Mã tướng run toàn thân.
Tháng 8-1964, Tố Hữu sang thăm Cu Ba, ông viết một bài thật
tình cảm, hình như gửi tặng một người con gái Cu Ba:
Anh viết cho em, tự đảo này
Cu Ba, hòn đảo lửa, đảo say
Ở đây say thật, say trời đất
Sóng biển say cùng rượu, mật say
Mừng bạn ngày vui, chén rượu đầy
Hết buồn, chưa hết nhớ chua cay
Em ơi, mía ngọt từng khi mặn
Máu trộn bùn vun gốc mía này…
Thanh Tịnh là nhà thơ tiền chiến có thể là duy nhất suốt phần
đời còn lại chung thủy với màu áo lính. Ông làm thơ từ thuở tuổi đôi mươi nhịp
với những nhà thơ mới lớp đầu tiên. Nét riêng của thơ, văn ông là khi thơ văn
lãng mạn nghiêng về những tình cảm mới mẻ, thích sử dụng mô típ văn học phương
Tây, thì thơ văn của Thanh Tịnh nghiêng về những tình quê hương, nhất là ở xứ
Huế của ông. Bài “Kính tặng sư Viên Thành” của ông lại có nói một chút về rượu,
hơi lạ?
Một mái am tranh bạn cổ tùng
Bốn mùa sương gió tỏa mông lung
Bên đồi dương vắng, dòng khe vắng
Có kẻ giang hồ thấy nản chân
Cửa Phật đây rồi, tôi thấy tôi
Mơ trời cao cả luyến xa xôi
Chuông chùa ngân rã mười phương mộng
Khe biếc say kinh cá hận mồi
Van xin chút rượu gội đêm nay
Tôi người mơ mộng ham cùng cá
Coi nhẹ trăm năm hận một ngày!
Cảm tấm chân thành đạo sĩ thương
Đón tôi trong cửa mở muôn phương
Nhưng sen hồ lạnh mùa thu dậy
Tôi nhớ hương cây cảm bụi đường
Từ biệt anh ngàn tôi lại đi
Lang thang chưa chán bước lưu ly
Quen đời quán chật hồ thu rộng
Chán kiếp bằng ngang sổ thẳng lỳ
Đạo sĩ chờ tôi chán hải hồ
Tôi chờ đạo sĩ lãng hư vô
Tôi mơ đêm lạnh lòng sơn tự
Ấp ủ men ngàn đợi áo khô.
Còn Huyền Kiêu thì:
Hiu hắt trăng khuya lạnh bốn bề
Ý sầu lên vút tới sao Khuê
Quý thay giây phút gần tương biệt
Vương vấn người đi với kẻ về
Ngồi suốt đêm trường không nói năng
Ngậm ngùi chén rượu ánh vầng trăng
Người xưa lưu luyến ra sao nhỉ?
Có giống như mình lưu luyến chăng?
Trích bài Tương biệt dạ.
Nhà lý luận phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh cho rằng: Vị
trí nhà thơ Thâm Tâm (1917-1950) đối với thơ mới có cái gì na ná như Thôi Hiệu ở
Trung Quốc đối với thơ Đường. Nếu chọn mười nhà thơ Đường lớn nhất chưa chắc đã
có Thôi Hiệu. Nhưng nếu chọn mười bài thơ Đường hay nhất không thể không
có Hoàng hạc lâu. Vâng, kể tên mười nhà thơ lớn nhất không chắc có
Thâm Tâm. Nhưng chọn mười bài thơ mới hay nhất khó có thể bỏ qua Tống biệt
hành. Thi phẩm là sự thăng hoa đột xuất của ngòi bút Thâm Tâm.
So với nhiều thi sĩ khác, Thâm Tâm càng uống càng tỉnh, nhìn
cuộc đời cái gì cũng có liên quan đến rượu. Ông nhìn mưa bay bằng con mắt ấy:
Ngoài phố mưa bay xuân bốc rượu.
Nhìn cả cuộc đời thoáng qua bằng con mắt ấy:
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say.
Hầu như toàn bộ thơ Thâm Tâm là tinh hoa chắt ra từ “cái sống
ngang tàng quen bốc men”. Thơ viết bằng rượu. Rượu làm nên thơ. Còn có vinh dự
nào hơn?
Ông có bài thơ dài viết ngày 4-5-1940 với tựa đề Gửi
T.T.Kh. Xin trích mấy câu:
Các anh hãy uống thật say
Cho tôi những cốc rượu đầy rồi im
Giờ hình như quá nửa đêm,
Lòng đau đem lại cái tin cuối mùa:
Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi.
Giờ hình như ở ngoài trời
Tiếng xe đã nghiến rã rời ra đi…
… Hãy vui lên, các anh ơi,
Nàng đi tôi gọi hồn tôi trở về
Tâm hồn lạnh nhạt đêm nghe
Tiếng mùa lá chết đã xê dịch chiều
Giờ hình như gió thổi nhiều
Những loài hoa máu đã gieo nốt đời.
Bao nhiêu nghệ sĩ nổi trôi,
Sá chi cái đẹp dưới trời mong manh
Sá chi những chuyện tâm tình
Lòng đau đem chứa trong bình rượu cay!
Có lần, một bạn thơ đến thăm nhà thơ Yến Lan lúc ông nằm trên
giường bệnh mấy tháng trước khi qua đời. Ông nói: “Cái sợ nhất của tuổi già là
sự tỉnh táo”.
Câu nói không hẳn chỉ là sự chiêm nghiệm của ông khiến tôi lạnh
người. Người già thường sợ cô đơn, hoặc sợ lú lẫn làm phiền con cháu. Với ông -
một thi sĩ, sự tỉnh táo của tuổi già còn đáng sợ hơn. Cũng lần này, hỏi thăm
ông về mấy năm tháng buồn vì tai nạn nghề cầm bút, ông im lặng nói lảng
sang chuyện khác. Ôi cái sự tỉnh của ông, sao nghĩ tới thấy buồn thương.
Linh Lân Yến Lan lành hiền và từng chói sáng trên thi
đàn với “Nhóm thơ Bình Định” và “Trường thơ loạn”, ít nhất tới giờ mọi người vẫn
ngưỡng mộ với Bến My Lăng và Bình Định năm 1935. Riêng Bến
My Lăng, cái bến thơ đẹp lộng lẫy và kỳ ảo không thể thiếu trong danh mục
những bài thơ hay nhất Việt Nam thế kỷ XX! Thử đọc lại vài đoạn: “Bến My
Lăng nằm không thuyền đợi khách/ Rượu hết rồi ông lái chẳng buông câu/ Trăng
thì đầy rơi vàng trên mặt sách/ Ông lái buồn để gió lén mơn râu/… Nhưng đêm kia
đến một chàng kỵ mã/ Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly/ Chàng lái đò, gọi đò
như hối hả/ Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi/ Ông lão vẫn say trăng nằm gối
sách/ Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng/ Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách/ Gọi
đò thôi run rẩy cả ngành trăng”. Ông đã về với cái bến trăng huyền ảo của
ông cách đây đúng 10 năm. Lạ lùng thay lại nhằm vào đêm trăng đẹp nhất trong
năm: trung thu. Ông lặng về với trăng trong niềm hân hoan lớn của trẻ nhỏ tùng
cắc múa lân, ông, con linh thú lân lành hiền đi không làm đau cỏ!
Kỷ niệm sinh nhật thứ 73 của ông, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn
tặng ông câu đối: “Nẫm niên dư bắc thượng nam quy tứ hữu thi đàn do lưu
văn nghệ sứ. Thất tuần ngoại triêu ngâm mộ vịnh nhứt sinh hoa bút trường thán
nguyệt vân thiên”. Một đời ra bắc về nam có mặt với thi đàn, một đời “hoa
bút” để rồi “trường thán nguyệt vân thiên”. Sau khi nhận quà tặng, Yến Lan cười
buồn nói nhỏ nhẹ: “Ông phê tui!”. Ngửa mặt mà than dài với trăng mây, xét cho
cùng cũng là chỗ bấu víu của văn nghệ sĩ mọi thời.
Nhưng cũng chỉ là cách nói có tính chia sẻ. Bằng cách của
mình, bằng “sự tỉnh táo” đáng sợ cuối đời, Yến Lan cứ lặng lẽ “nhả” những sợi
tinh tơ bằng thơ tứ tuyệt. Có lẽ khi văn học sử ghi nhận Yến Lan thời Thơ Mới
thì đến nay, tài thơ tứ tuyệt, nhất là chuỗi thơ mấy chục năm về hưu của ông
chưa được nhìn nhận đúng tầm. Tôi xin bắt đầu phần này bằng bài thơ cách ngày
ông mất vài tháng (xin lưu ý, hai năm cuối đời, ông chỉ nằm, đọc cho bà Lan,
người vợ, người bạn đời của ông ghi lại): “Nghe báo trên trời thiếu một
sao/ Đàn chim kinh ngạc hoảng nhìn nhau/ Có người đã thức nhiều đêm trắng/ Tìm
mãi không ra trống chỗ nào” (Mất sao). Bài thơ ghi ngày 9-7-1998. Cùng mạch
chiêm nghiệm này, xin trích thêm một số nữa: “Vò rối tơ rồi gỡ rối tơ/ Gỡ
không ra mối lại đem vò/ Nàng Vân giả dại nàng Vân dại/ Vân dại nên đời cũng ngẩn
ngơ” (Chèo); “Tay bưng thuốc đắng nhìn xuyên chén/ Năm tháng còn trên mấy đốt
tay” (Hẹn); “Lắc chiếc lọ sành còn rượu nhín/ Vọng lên đỉnh núi cụng vài ly”
(Xuân tảo)… Nhiều, nhiều lắm lắm những bài thơ câu thơ tứ tuyệt hay như thế
trong hơn 500 bài.
Báo Thanh Niên, 22-9-2008.
Báo Thanh Niên số ra ngày 9-10-1998, nhạc sĩ Trịnh
Công Sơn viết: Thi sĩ Bùi Giáng, anh là ai? Anh là hư không, là vô thường, là
thiên niên kỷ trước, là vô biên mầu nhiệm, là bát quái trận đồ vô ra bế tắc mà
rốt cùng vẫn luôn lưu một sự đời miên viễn nói cười hả hê vu vơ khôn cùng. Anh
ít dùng rượu để ru mình. Ở cõi đời này, anh đã đến, đã sống và đã rơi vào cơn
hôn mê vô tận. Anh nói cười bằng một thứ ngôn ngữ xa lạ với thế gian, và từ đó
sinh ra ngộ nhận, tất nhiên không hẳn vì rượu. Anh đã mắng chửi tôi suốt một đời
như một hiền giả đi qua cuộc đời này đã mắng chửi một hòn đá cuội. Tôi đã giác
ngộ ra điều đó trong phút anh chia tay với cuộc đời này. Dù sao lý do để tồn tại,
tôi nghĩ rằng, với anh cũng chỉ bằng một giây phút lâm chung. Anh đã yên tâm nhắm
mắt, nằm nghỉ trong một giấc ngủ dài. Anh không còn bận tâm về một thiên đường
hay một địa ngục nào nữa. Bởi vì, nói cho cùng, thiên đường và địa ngục cũng
chính là anh trong cõi tịch lặng của bản lai diện mục.
Anh đã sống không buồn vui và cũng đã chết không vui buồn.
Anh đã sống như đã chết và bây giờ anh chết chính là thời khắc anh được phục
sinh. Trên thập giá hồng anh bước xuống và anh nói rằng: “Tao đã phục sinh. Bạn
bè của tôi ơi tôi đã phục sinh và tôi sẽ nói cho các bạn nghe: Có một tình yêu
đối với tất cả mọi người, một tình yêu vô tận, vô cùng to lớn đó là tình yêu đối
với nỗi đau của tất cả mọi người”.
Bùi Giáng con đường, Bùi Giáng xứ sở, Bùi Giáng đi qua cuộc đời
bé nhỏ. Bé nhỏ mà to. To lớn vô cùng. Bùi Giáng hiền hòa. Bùi Giáng hiểm nguy.
Bùi Giáng thi sĩ. Bùi Giáng cũng chẳng ra gì. Đôi khi thường quá. Nhiều khi
cũng rất phi thường. Phi thường trong cõi vô thường. Bùi Giáng muôn hình vạn trạng.
Nói không hết lời - Hết lời là cạn, Bùi Giáng chảy hoài. Chảy đến trăm năm. Chảy
bằng nỗi nhớ. Nhớ đời. Nhớ cõi. Nhớ cõi xa xăm. Lên ngôi một bận. Nhớ trời lận
đận. Nhớ em vô tận. Nhớ chốn mênh mông. Bùi Giáng không còn. Ai ơi ai nhớ. Bùi
Giáng hư vô. Nhớ làm gì nữa. Bùi Giáng ơi ơi nhớ làm gì nữa. Nhớ làm gì nữa Bùi
Giáng ơi ơi.
Lời văn của họ Trịnh trên đây rất chi là giống tâm trạng Bùi
Giáng thường nhật. Sơn nói Bùi Giáng ít dùng rượu, không hẳn.
Nhà báo Giao Hưởng có bài phỏng vấn Nguyễn Thanh Hoài, người
cháu từng sống gần gũi nhất với thi sĩ Bùi Giáng trong những năm cuối đời tại
căn nhà nằm trong một đường hẻm, thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.
Anh Hoài nhớ rất rõ về sinh hoạt thường ngày mà người trong nhà xem là có phần
“bất thường” của Bùi Giáng. Cứ mỗi sáng ông thức dậy rất sớm, khoảng 3-4 giờ,
yên lặng ngồi thiền khoảng một tiếng đồng hồ. Sau đó ông bắt đầu lên tiếng, khi
thì kể chuyện xưa, chuyện nay một mình, khi thì đọc dăm bài thơ với giọng sang
sảng. Đôi lúc ông lại mắng này mắng nọ, to tiếng như để đánh thức cả nhà dậy
cùng. Sau này có lần ông nói với tôi rằng ông không muốn mọi người “ngủ nướng”,
vì ông cho rằng bầu thanh khí dồn tụ ngẫu nhiên, đậm đặc vào buổi sáng sớm,
không dậy mà hưởng thì rất uổng. Ông la hét một thôi một hồi rồi leo rào để đi
ra đường. Thường thường nơi đặt chân đầu tiên trong ngày của ông là một quán cà
phê “cóc” nào đó. Ông gọi cà phê đen để uống và để nhìn thiên hạ qua lại lúc
đèn đường còn sáng cho tới khi mặt trời lên. Đó là thú vui không thay đổi của
ông suốt mấy chục năm cuối đời.
Những sáng sớm ấy, ông thường rủ rê con cháu đi theo, nhưng
giờ đó còn quá sớm không ai đi được. Vì thế ông đơn độc ra đường, hễ uống xong
ly cà phê là ông chuyển qua uống rượu và rong chơi khắp Sài Gòn bất kể mưa nắng.
Ông đi bộ là chính, nhiều khi đi suốt ngày - nếu có về nhà cũng chỉ nghỉ chân một
lát, sau đó lại tiếp tục ra khỏi nhà, là đà lãng đãng trên đường trong cơn nửa
say nửa tỉnh. Khi nào về nhà, ông thường mang quà phân phát cho mấy cháu nhỏ
trong nhà, cất những bài thơ đã làm, ăn qua loa vài miếng cơm, rồi… đi nữa! Nếp
sinh hoat đó cứ đều đặn lặp đi lặp lại cho đến khuya ông mới chịu dừng bước.
Thông thường trước khi đi nghỉ, dầu nhâm nhi rượu trắng suốt ngày ông vẫn ngồi
thiền khoảng một tiếng mới ngả lưng xuống giường. Còn như những lúc quá say thì
“bạ đâu ông nằm đó”, những lúc ấy gia đình phải ẵm ông vào phòng mới được.
Ông rất thương những người bán ve chai, nên đi tới nơi nào
ông cũng ngó quanh ngó quất xem có món nào người ta vứt đi để góp nhặt. Những
thứ nào còn xài được, bán được, từ chai xì dầu đến miếng nhựa bên đường, ông đều
lượm bỏ vào bao mang về nhà chất đó, đợi đến khi mấy cô mua ve chai đi qua nhà,
ông gọi vào trân trọng đem ra tặng mấy cô ấy. Ông nói mấy cô ấy tuy số phận và
công việc có cực nhọc, nhưng so với các nữ hoàng, các nàng công chúa, các tài tử
xinê nổi tiếng như Marilyn Monroe, hoặc Brigitte Bardot, thì thân xác dung nhan
có khác gì nhau? Cái tâm bình đẳng nơi ông không chỉ đối với tài tử giai nhân
và những người đẹp ve chai trẻ già bé lớn, mà dường như hết thảy ai ai ông cũng
xem như nhau, không phân biệt thành phần, tuổi tác. Đối với ai, ông cũng xem là
“ngẫu nhĩ tồn sinh” nhất là khi uống rượu như ông từng hét trước sân nhà: Rồi
đây tôi sẽ nhớ nhung/ Cái ly rượu đế vô cùng trần gian. Có người vô tình hỏi
ông uống suốt ngày làm chi vậy, ông khoa tay đọc mấy câu: Bấy nay gặp gỡ
cười chào/ Con đâu có biết cái đầu tiên ông/ Nghĩa là ông rất phiêu bồng/ Đầu
tiên rất mực cuối cùng ông điên…
Giống như Phùng Quán, Bùi Giáng uống rượu thường ghi nợ ở một
quán gần nhà (nằm trong con hẻm đường Lê Quang Định), chủ quán là ông Tốt rất
“từ bi”, hễ Bùi Giáng uống rượu chịu bao nhiêu vẫn cứ để ghi sổ dài dài, nên cuối
năm 1997, giáp Tết Mậu Dần 1998 (năm Bùi Giáng mất), đã viết mấy câu vào sổ nợ: “Bài
thơ thân tặng Đại ca/ Kính thưa ông Tốt là cha thằng Bùi khùng”.
Nghe nói ông Tốt đã xin Bùi Giáng đừng gọi ông ta bằng “cha”
mà ông ta sẽ bị tổn thọ. Song Bùi Giáng bác bỏ, nói biết đâu kiếp trước, kiếp
xưa, kiếp xa “ngài” đã mấy triệu lần làm cha “Bùi” này rồi. Chiều 30 Tết, gia đình
ra trả nợ để lấy cuốn sổ ấy về, thay vào cuốn sổ mới, Bùi Giáng lập tức ghi mở
hàng: “Trả xong món nợ láng giềng/ Lòng vui phơi phới tháng Giêng Mậu Dần”.
Nhưng chỉ vài giờ sau giao thừa, Bùi Giáng lại xuất hiện trước
cửa ông Tốt “đạp đất” để khai bút đầu năm vào sổ, thiếu “một ngàn rưỡi
ngày nguyên đán”. Mồng hai, mồng ba cũng vậy, đến: “Hôm nay mồng bốn
tháng giêng/ Hai ngàn nợ này - say rượu suốt hoài trăm năm” và kéo dài gần
hết tháng giêng: “Sau tết 20 ngày nợ hai ngàn rưỡi” và “sau tết
22 ngày/ nợ nơi này hai ngàn rưỡi”… Điều khác người, là tiền nợ ông ghi bằng
chữ chứ không ghi bằng số.
Hãy đọc một đoạn trích bài thơ về rượu của Bùi Giáng,
bài Rượu và khô đuối:
Anh chỉ biết rằng một hôm khô đuối
Chợt đi về và bảo với riêng anh
Rằng khô mực của xuân xanh xua đuổi
Rất thập thành dễ sợ bóng đi nhanh
Đành phải cảm phiền cô rượu đế
Đong cho giùm một xị rưỡi lem nhem
Để có thể giúp máu tim hồng lệ
Đắp đền cho thân thể đang thuồng thèm
Anh chỉ biết đành phải tuân mệnh lệnh
Rất tuyệt trù là sự thể tối cao
Của tim máu thể thân đòi hỏi đến
Và bất cần hậu quả sẽ ra sao
Em sẽ hỏi rằng thật ra như thế
Hay thật thà chẳng phải thế chăng ru
Anh sẽ đáp rằng dẫu sao thì dẫu
Khô đuối kia vẫn kiều diễm tuyệt trù
Còn khô mực đế vương kia quá dễ sợ
Nó đắt tiền quá cỡ túi tiền ta
Chỉ khô đuối thần tiên kia tương trợ
Với túi quần và túi áo lân la
Là tâm sự láng giềng thân thiết lắm
Với thôn làng hàng xóm rất bôn ba
Từ bốn biển ngược xuôi từ vô tận
Của thời gian về đày đọa trẻ, già
Em sẽ hỏi rằng thật ra sự thật
Thật thà là như thật thế hay sao
Anh chẳng thể đáp thế nào được cả
Bùi Giáng sinh ngày 17-12-1926 tại Duy Xuyên (Quảng Nam); từ
trần lúc 14 giờ ngày 7/10/1998 (ngày 17/8 Mậu Dần) tại Sài Gòn, hưởng thọ 73 tuổi.
Ông là một nhà thơ có kiến thức uyên bác đã cho xuất bản hơn 60 cuốn sách gồm:
hơn 10 tập thơ, hàng chục dịch phẩm, nhiều tập biên khảo về triết học và thơ.
Ông từng “khét tiếng” trên văn đàn miền Nam trước năm 1975 với lối thơ “xiêu
đình đổ quán”, mà ông có thể “nhấm bút” cả chục bài liền trong quán rượu hay
quán cà phê. Thời ông mắc bệnh điên cũng là thời “phát tiết” ra nhiều tác phẩm
nổi tiếng. Ông lấy trời đất làm nhà, lấy chuồn chuồn, châu chấu, lấy rượu làm bạn
và làm thơ phiêu bồng phóng dật, tạo ra một lối thơ mà người ta gọi là “Trường
phái Bùi Giáng”.
Báo An ninh thế giới cuối tháng, số 8 tháng 4 năm
2002, Nguyễn Triều kể lại câu chuyện rất vui và cảm động. Dạo đó: Quán Xăng xết
ở 107 phố Huế là một quán rượu lạ kỳ. Cái ngách vào chỉ một người đi lọt. Cả
quán giỏi được 6m2, chứa được dăm bảy người. Chủ quán là bà cụ Cả, lúc đó đã gần
90 tuổi. Cụ là người Công giáo, hiền hậu và cả nể. Cụ Nguyễn Thế Phương, tác giả Đi
bước nữa, hay đến đây. Một dạo cụ bệnh, phải vào Việt-Xô nằm. Sau bữa cơm
chiều, cụ thường trốn viện, để nguyên cả bộ quần áo bệnh nhân, đến quán. Cụ mua
một cút, gọi thêm một chén, cứ đứng, cụ dốc tuột một hơi, rồi chào mọi người ra
về. Chúng tôi bao giờ cũng nài: “Bác ơi, đi bước nữa đi!”. Cụ không từ chối.
Chúng tôi lại mời cụ đi thêm bước nữa. Cụ không từ chối. Rồi cụ Cả can, chúng
tôi đưa cụ Phương ra phố, gọi xích lô đưa cụ về viện.
Lặng lẽ nhỏ nhẹ nhất là cụ Trọng Hứa. Cụ nói chuyện cứ như sợ
ai nghe trộm. Cụ lặng uống rồi đi. Như một cái bóng…
Hữu Nội là một ca sĩ lúc đó đang lên. Anh uống và hút thuốc
lào mới khiếp. Sắp lên chương trình rồi mà còn tranh thủ ra quán làm mấy chén,
kéo dăm hơi thuốc lào. Thế mà họng không làm sao. Tài thật.
Quán Trúc Viên ở 41 Trần Hưng Đạo, ông chủ là anh Chí Thắng,
một thời tập trung nhiều nhà văn, nhà báo, nhà thơ. Thậm chí họ còn ra cả một tập
thơ riêng về quán này do các tửu sĩ quen viết và xuất bản. Cụ Hoàng Trung Thông
cũng cho quán mấy chữ Hán. Chữ Hán của cụ đẹp lắm.
Nhà báo, nhà phê bình văn học Phạm Ngọc Luật, như sách đã dẫn,
anh cho biết: Anh rất biết là nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi. Anh làm thơ, yêu thơ và
diễn thuyết về thơ đầy tâm huyết như anh xem bóng đá, lại rất “kỵ giơ” với rượu,
thế mà anh viết những câu thơ rượu cứ như khẩu khí Lý Bạch vậy:
Ừ thì một chén nữa
Sao đất nghiêng thế này?
Uống cho đất bằng lại
Dễ gì ta đã say.
Đấy là uống rượu có bạn. Còn đây, nhà thơ Quang Khải uống rượu
một mình cốt là để có thêm không gian mà suy ngẫm:
Không bạn hữu, chẳng láng giềng
Mình nhâm nhi với nỗi niềm mình thôi.
- Nâng ly!
Đã chếnh choáng rồi
Thì ra tận đáy là nơi thật mình.
Nhà thơ Nguyễn Duy đã có hẳn một du ký về những vùng miền rượu
dọc chiều dài đất nước, độc đáo lắm. Khảo sát đó vẫn còn nhiều phần trăm của
văn hóa ẩm thực. Còn một khi nổi chất thi nhân, thơ rượu của anh cũng đằm chuyện
gia đình vợ con như cụ Yến Lan, ngấm nghía lắm: “Tình như rượu chôn lâu đằm
lịm/ Cuối đời đem ra nhấm mới mềm lòng”. Tư chất ấy cho anh cực thân
thương gọi “Vợ ơi” trong bài “Mời vợ uống rượu” đầu năm mới:
Mỗi năm Tết có một lần
Mời em ly rượu tay nâng ngang mày
Vợ cười chưa uống đã say
Ngọt bùi thì nổi đắng cay thì chìm.
Nguyễn Duy có bài thơ Ông già sông Hậu rất hay, được
dư luận khen, chê một thời:
Ông già giống cha tôi quá thể
Đi làm đồng có xị đế giắt lưng
Đang mùa cày không ngày nào bỏ buổi
Khách tới thăm - tìm chủ ở ngoài đồng
Khoanh rắn hổ nướng vàng trên lửa rạ
Thịt rắn xé trắng ngần mâm lá sen xanh non
Rượu trong veo, muối tiêu và ớt đỏ
Chủ khách cụng ly ngay bờ cỏ chân cồn
Trôi dạt theo sông về đây cày cấy mướn
Sống giang hồ trên đồng ruộng bao la
Hỏi gia sản một đời người đâu cả
Người chỉ tay vào cái bụng, khà khà
“Qua ngẫm chán, sống nghĩa là xả láng
Ăn hết nhiều, chứ ở hết bao nhiêu
Nhà cửa tà tà che lá dừa lá mía
Nón áo khỏi lo nhưng nhậu phải đều đều”
“Ai nghèo thiếu, qua chia cơm sẻ áo
Bụng người sôi cũng sôi giống bụng ta
Ky cóp một thân làm chi cho cực
Giàu ở lòng còn đẹp ở thịt da…”
Chủ giục khách nhậu đi đừng hỏi nữa
Việc bán lúa dư đăng báo chí cho phiền
Dư ít nuôi làng, dư nhiều nuôi nước
Nhà văn Nguyễn Quang Sáng bình bài thơ trên: Lúc mới ra đời -
1977, bài thơ này rất khó in, vì nó có vẻ ngang ngang không thuận với đường hướng
tuyên truyền chính sách lúc bấy giờ. Nhưng con người thì vẫn vốn có cái cốt
cách riêng chớ. Ông già đó nhậu đó, mà sản xuất giỏi đó, giàu lòng nhân và
trách nhiệm công dân cao cả, thật đúng cách một ông già Nam Bộ.
Trần Nhuận Minh, tuy chưa làm cái việc kiểm toán đời mình như
Yến Lan hoặc Nguyễn Duy, nhưng chỉ với hai bài “Bạn hữu” và “Tiệc
đêm” đã thấy, bằng những câu thơ rượu, anh đã rất thế sự làm cái việc “chạnh”,
mà “chạnh” rất dữ dội vào lòng chúng ta: “Ngổn ngang lưng chén rượu/ Sương
nắng bạc đời người/ Niềm tin yêu thuở ấy/ Đâu đã thành xa xôi”; và báo động
cho một nhỡn tiền chẳng mấy vui: “Anh làm chủ tịch khóa này/ Bước ra trong
tiếng vỗ tay vang rền/ Ngà ngà chén rượu sang đêm/ Nỗi vui nghiêng ngửa, bóng
đèn đung đưa… Mong sao lúc thất thế rồi/ Trong đây còn có một người đón anh”.
Một bài khác của Trần Nhuận Minh, bài “Bạn thơ mời rượu trên
sông Tiền”:
Rắn nướng ngon động trời
Rượu đế say sụt đất
Gặp nhau có dễ đâu
Sông Tiền trôi ngang mặt
Ngàn ly dù uống cạn
Một nỗi niềm không vơi
Thế trận cài răng lược
Can qua nửa đời người
Ta thì bảo theo địch
Địch lại rằng theo ta
Thời nào cũng lận đận
Cũng không yên cửa nhà
Hai em trai chết trận
Chiến tranh ở hai đầu
Ảnh thờ mờ sương khói
Vẫn không nhìn mặt nhau
Câu thơ như gan ruột
Phơi ra giữa trời mây
Mỗi người một số phận
Ngang qua thế kỷ này…
Đất nước liền một dải
Hòa bình luôn bốn mùa
Thế là sướng cái bụng
Kể chi ngày khổ xưa…
Miệt vườn không rớt nắng
Lá ẩm tiếng ong bay
Điệu đờn ca lãng tử
Rượu uống hoài chẳng say…
Sóc Trăng - Mỹ Tho, 30-10-1999.
Lưu Quang Vũ có bài thơ dài nói về “Đêm đông chí uống rượu với
bác Lâm và bác Khánh, nói chuyện những cuộc chia tay thời chiến tranh”. (nhà
báo Nguyễn Lâm và Nghệ sĩ Nhân dân Đào Trọng Khánh). Xin trích:
Nhang tàn lả tả rơi lưng cốc
Nhà lạnh trần cao ngọn nến gầy
Chăn rách chiếu manh quần áo lạ
Chuyện dài đêm vắng rượu buồn say
Gió hú ầm ào qua gạch vỡ
Người chết vùi thân dưới hố bom
Kẻ sống vật vờ không chốn ở
Lang thang trẻ ốm ngủ bên đường
Cơ sự làm sao đến nỗi này
Mông lung không đoán được ngày mai
Máu chảy thành sông thây chất núi
Bè bạn tan hoang mình rã rời
Thơ Khánh buồn như lòng đất nước
Thơ hay đời loạn chẳng đâu dùng
Vườn cũ cây tàn chim chết cả
Người chơi đàn nguyệt có còn không
…Tối đen thành phố đêm lưu lạc
Máy bay giặc rít ở trên đầu
Ba đứa da vàng ngồi uống rượu
Mặt buồn như sỏi dưới hang sâu
Chúng mình không có bom nguyên tử
Chỉ có thuốc lào hút với nhau
Thương nhà thương nước thương cho bạn
Không khóc mà sao cổ nghẹn ngào
Thôi nhé mai này tiễn Khánh đi
Đường xa bom phá tàu không về
Lênh đênh ai hát ngoài song cửa
“Hoa lá quên giờ tàn
Mây trắng bay tìm đàn”
Ngày xưa yên ấm quá
Trẻ hát đồng dao trên phố
Con trai xách điếu đi cày
Con gái quang liềm gặt lúa
Bao giờ hết loạn người ơi
Cạn cùng nhau chén nữa
Tàn canh là xa xôi
Lòng như vầng trăng nhọn
Chém giữa trời không nguôi.
Nhà thơ giàu chất thi sĩ Nguyễn Trọng Tạo đã lộ hết mình
trong thơ rượu: “Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình” là đúng anh. Không
chệch được. Còn đúng hơn trong một tự họa này: “Vẽ tôi mực rượu giấy trời/
Nửa say nửa tỉnh nửa cười nửa đau”. Con người vừa mới tuyên bố, kích cỡ khẩu
khí có vẻ tung có vẻ hoành như Lý Bạch: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/
Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”, ấy thế rồi cũng lại là người dễ “co” về
với cảm thái cô đơn, đổ vỡ:
Tôi còn cái xác không hồn
Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai.
Nhưng có lẽ đúng nhất hay là hay nhất khi anh Tạo cùng bạn bè
hòa trong nhau, cưu mang nhau vì rượu:
Đất trời lướt khướt dìu nhau bước
Đắc đạo rượu ngon đắc đạo tình
Bạn bè ở Huế thương nhau thiệt
Một đứa vợ la chục đứa kinh.
Mùa lụt 1983 tôi ghé Huế, tình cờ gặp nhà thơ Thu Bồn đang uống
rượu ở nhà nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường. (Nguyễn Trọng Tạo viết trên tờ Đà
Nẵng cuối tuần, chủ nhật, 6-7-2003). Anh đang sướng vì câu nói ngây thơ và rất
nên thơ của bé Hoàng Dạ Thi: “Huế vừa đi vừa tím”. Thu Bồn thú nhận rằng,
anh đã đến Huế nhiều lần, và cũng bị ám ảnh về “Huế tím”, nhưng không
thể nào hình dung ra được “Huế vừa đi vừa tím” rất xuất thần như vậy.
Anh bảo thơ ca lạ lùng nhất phát ra từ cặp mắt và tâm hồn trẻ thơ, và khen
Hoàng Dạ Thi là một “thi sĩ đại tài thiên bẩm”. Khi rượu đã ngấm men, tình càng
thúc gọi, anh rủ tôi đi bộ qua cầu Gia Hội sang Chi Lăng thăm cô gái anh mới
quen, cô Châu. Cô Châu mắt to, mũi cao, da ngăm, có dáng thể thao, khỏe mạnh,
vui vẻ đón chúng tôi. Ngồi uống nước trước bàn thờ còn đọng ngấn nước sau trận
lụt mới vừa lui, Thu Bồn bảo chính ngấn nước ngập bàn thờ ấy đã “xui” anh viết
được bài thơ về lụt Huế, rồi anh đọc rất xúc động bài thơ ấy. Tôi nhớ có câu thật
ấn tượng: “Một phen cóc nhái nhảy lên bàn thờ”. Nhưng có lẽ bài thơ
hay nhất anh viết về Huế lại là bài “Tạm biệt” anh viết sau đó mấy hôm:
Bởi vì em dắt anh lên thăm những ngôi đền cổ
Chén ngọc giờ chìm dưới đáy sông sâu.
Anh thổ lộ với tôi, Em trong bài thơ là một cô gái
có thật. Tôi đoán cô Châu. Anh cười hiền.
Người yêu thơ ở Huế không ai không thuộc bài thơ này. Bài thơ
có hai câu rất xuất thần về Huế - sông Hương:
Con sông dùng dằng con sông không chảy
Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.
Sau này, anh tục huyền với nghệ sĩ Lý Bạch Huệ, trong các cuộc
rượu với Thu Bồn, anh em Huế thường đùa anh, đọc trệch chữ Huế thành
chữ Huệ bằng giọng Huế thật dễ thương: “Sông chảy vào lòng
nên Huệ rất sâu”. Đến hai câu kết bài thơ “Tạm biệt Huế với
chiếc hôn thầm lặng - Anh trở về hóa đá phía bên kia”, anh em lại đùa
anh: “Anh trở về hóa đá ở trong bia”. Đá ở đây là nước đá, và bia ở
đây là bia anh vẫn hay uống, chứ không phải là “trăm năm bia đá thì mòn”. Điều
đó chứng tỏ bài thơ “Tạm biệt” của Thu Bồn đã trở thành bài thơ ngôn truyền hết
sức độc đáo.
Nguyễn Trọng Tạo viết tiếp: Năm 1985, vào ngày đổi tiền, tôi
và Thu Bồn lang thang trên đường phố Hà Nội, không đồng xu dính túi, mà lại
thèm ngồi nhâm nhi chén rượu với nhau. Thu Bồn tháo đồng hồ tay và lấy chiếc mũ
cối bộ đội của tôi đi bán cho con phe để lấy tiền uống rượu, nhưng con phe cũng
từ chối. Anh quyết định “đẩy” chiếc xe máy Vespa, nhưng người hẹn mua không tới.
Liền rủ tôi đến nhà nhà văn Ngô Thảo xúc mấy ký gạo ra chợ Âm Phủ đổi lấy rượu
và thịt chó. Thế là bạn bè kéo đến uống rượu, đọc thơ. Tối hôm ấy, tôi và Thu Bồn
ngủ trên sân thượng nhà Nguyễn Thụy Kha (cùng ngõ với Ngô Thảo).
Ngủ trên sân thượng thật mát mẻ, phóng khoáng, nhưng quá nửa
đêm trời đổ mưa. Sợ phiền vợ chồng Kha, tôi và anh cuốn chiếu xuống hành lang cạnh
cầu thang ngủ tiếp. Nào ngờ cản đường chuột chạy. Một con chuột cống đã cắn vào
trán Thu Bồn, tóe máu. Sáng ra, vợ Kha hốt hoảng, tìm bông băng lại vết thương
cho anh. Ngô Thảo thương quá, tổ chức một tiệc rượu để “chia buồn” với thi sĩ bị
chuột cắn.
Cuộc rượu toàn những nhà thơ, nhà văn lính. Bỗng có hai cô
gái Hà Nội rất xinh đến thăm “thương binh”, họ ào vào ngồi hai bên tả hữu Thu Bồn
mà… rót rượu. Nhà nghiên cứu phê bình Đào Thái Tôn xuất hiện, đòi ngồi cạnh Thu
Bồn để “nghiên cứu” vết thương trên trán anh, nhưng hai cô gái quyết cố thủ. Họ
Đào thất thế, bỗng xuất thần đọc câu thơ sáu chữ trả miếng hai cô gái:
Anh ngon đến chuột cũng thèm!
Câu thơ xuất thần bất ngờ được vỗ tay tán thưởng, khiến hai
cô đỏ mặt, vội nhường chỗ cho họ Đào ngồi bên Thu Bồn để “nghiên cứu” vết
thương và rượu Làng Vân.
Sau hôm đó, tôi làm bài thơ “Những nhà thơ lính” để tặng Thu
Bồn, có hai câu kết:
Không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm
Những nhà thơ qua máu lửa chiến trường!
Cũng trong bài báo này, Nguyễn Trọng Tạo nhớ lại: Người ta
thường tiếu lâm về cái tính tằn tiện của người Khu Năm, nhưng với Thu Bồn thì
khác. Có tiền là anh nghĩ đến việc tổ chức cuộc vui cho bạn bè. Hồi tôi còn ở
Huế, Thu Bồn vào sống ở thành phố Hồ Chí Minh, một dịp đi qua Huế, anh đưa một
xe bạn bè vào nhà tôi và tuyên bố với vợ tôi là sẽ bày cuộc nhậu ở đây. Vợ tôi
lúng túng vì tôi đang vắng nhà, anh bảo vợ tôi vào bếp nổi lửa lên, còn anh thì
mang vào một lồng gà và mấy ký thịt bò mua dọc đường. Và Thu Bồn xắn tay lên
làm bếp. Khi tôi về thì đã thấy một bữa tiệc linh đình bày ra trên sàn nhà lát
gạch. Anh bảo tôi gọi bạn bè ở Huế đến nhậu. Nhậu xong, anh mang chiếc cát-xét
ra bật nhạc lên và… nhảy. Thu Bồn thích nhảy những điệu nhảy Mỹ-Latinh, khiến cả
căn phòng nhộn nhịp như một vũ trường.
Năm 1998, tôi từ Hà Nội vào Đà Nẵng dự Hội nghị văn học miền
Trung, ở cùng phòng với Thu Bồn. Tôi kiểm tra ví của anh. Anh bảo: “Thu Bồn giờ
túi hết tiền, bút hết mực, súng hết đạn rồi. Buồn lắm!”. Tôi thấy thương anh
quá, đưa anh ít tiền tiêu vặt. Sáng hôm sau, tôi cùng Thanh Thảo, Nguyễn Thụy
Kha đến thăm một Tổng biên tập báo, được nhận một số tiền đặt viết bài. Chúng
tôi gom lại đưa cho Thu Bồn. Anh cảm động lắm. Nhưng tối hôm đó, anh đã dùng tất
cả số tiền ấy mua một chai rượu Tây loại xịn, mở ra mời mọi người cùng uống.
Tôi trách anh. Anh nói nhỏ nhẹ với tôi: “Tao thấy chúng nó thèm rượu quá mà chẳng
đứa nào chịu chi. Hình như chúng nó cũng chẳng có tiền đâu Tạo ạ!”.
Lại nhớ một lần vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi rủ Thu Bồn đến
quán bia 81 Trần Quốc Thảo, nơi anh em văn nghệ vẫn thường lui tới. Tôi gọi một
can bia hơi, Thu Bồn ngăn lại. Anh bảo, chỉ gọi hai ly và một đĩa đậu phụng
thôi. Tôi ngạc nhiên. Anh bảo: “Ta chỉ gọi cò mồi thôi. Lát nữa chúng
nó tới, không đủ sức mà nhậu đâu”. Quả đúng như vậy, một lát sau, anh em văn
nghệ tới, người gọi bia, kẻ gọi đồ nhậu cứ tưng bừng như nhà có đám. Trịnh Công
Sơn vừa gọi mười lon bia Ken ứng với số tiền trong túi, thì Trần Tiến
đã gọi một thùng đặt vào bàn rồi cáo lui vì có việc bận. Không biết trong cuộc
nhậu, Thu Bồn đã hẹn hò thế nào mà tối hôm đó, tại nhà Thu Bồn ở số 6 Đặng Thái
Thân tụ hội gần 20 người bạn. Bữa tiệc ấy do anh làm đầu bếp cùng với mấy chị rất
xinh đẹp đều là vợ của bạn anh. Lại đọc thơ, lại hát. Tôi còn nhớ, Trịnh Công
Sơn khen bộ bàn ghế bằng gốc dừa của Thu Bồn thật dễ thương. Thế là sáng hôm
sau, anh thuê xe chở cả bộ bàn ghế ấy đến nhà họ Trịnh tặng bạn…
Bỗng Thu Bồn bị tai biến mạch máu não. Tuổi sáu lăm đang
phong độ bỗng sụp xuống như một con voi ngã bệnh. Đủ các loại thầy thuốc cứu chữa.
Cuối năm 2001, tôi và Nguyễn Thụy Kha vào thăm mộ Trịnh Công Sơn ở chùa Quảng
Bình nghĩa trang Gò Dưa, ghé suối Lồ Ồ thăm Thu Bồn. Chúng tôi đến sau một giờ
gọi điện thoại. Ô tô vừa đến cổng đã thấy Thu Bồn đứng giữa sân dang hai tay
lên trời như muốn ôm chầm lấy cả chiếc ô tô. Nguyễn Đình Toán nhảy khỏi xe chụp
ảnh lia lịa về cuộc gặp gỡ này. Thu Bồn đưa chúng tôi đi thăm khắp vườn, lên
nhà trên, xuống nhà dưới, vào tận phòng ngủ của hai người. Trên đầu giường vẫn
để một khẩu súng ngắn và mấy viên đạn đồng vàng sẫm. Thu Bồn nói rằng, anh chưa
bao giờ rời khẩu súng này. Để làm gì? Để nhớ lính, và để ngừa kẻ trộm. Nhưng kẻ
trộm đã lén vào nhà khuân đi khá nhiều tranh, tượng quý giá của anh. Biết chúng
tôi đến, nhưng Lý Bạch Huệ không kịp về. Chị đang mải đi tặng thơ Thu Bồn vừa
xuất bản tận trên Biên Hòa.
Thu Bồn lấy một bình rượu quý bảo tôi rót mời mọi người nâng
ly. Thu Bồn cũng nâng ly, nhưng anh chỉ nhấp môi chứ không dám uống. Bệnh tật
đã cướp của anh cái thú vui mãn tính. Thu Bồn nhìn chúng tôi uống rượu, chợt cười
buồn…
Xe chúng tôi rời cổng nhà anh, anh vẫn đứng giữa sân dang hai
tay lên trời. Mái tóc bạc trắng bay tung trong gió. Nụ cười sáng giữa lởm chởm
râu bạc.
Kỷ niệm một năm ngày Thu Bồn mất, Tạ Văn Sỹ, người Bình Định,
sinh năm 1955, nhỏ hơn Thu Bồn gần hai con giáp, viết một bài thơ “Uống rượu với
Thu Bồn”:
- Sỹ ơi, uống nữa cho vơi
Anh em ta kẻ chịu chơi cuối cùng
Đã chơi không được nửa chừng
Đau già buồn trẻ cụng chung ly này.
- Vâng, thưa anh, uống cho say
Rồi ra ta vỗ trắng tay phong trần
Đau anh hồn lớn thi nhân
Buồn tôi là những thăng trầm nhục vinh
Đau anh một cõi tử sinh
Buồn tôi thế thái thân tình thiệt hơn
Đau anh bao mộng chưa tròn
Buồn tôi là những cỏn con chuyện đời…
Một ly này nữa, xin mời
Đông tây kim cổ đất trời say chung
Một ly này nữa, xin mừng
Hồn thiêng thiên cổ cụng cùng muôn sau
Một ly này nữa, mời nhau
Đánh đu cùng với bể dâu đã từng…
Sá gì, trong cuộc sầu chung
Cũng giầu giầu chất thi sĩ như Nguyễn Trọng Tạo, nhà thơ Vũ
Duy Thông lại có một kiểu cách hay khang khác, anh trầm kín và nồng nàn trong
khá nhiều bài thơ có phong vị rượu, hay nói đúng hơn là “mượn” rượu để tỏ
tình. “Khau Vai” là bài thơ hay, hay cả bài, kiểu đó. Tám câu cuối
bài không giấu được độ “liều” đáng yêu của thi sĩ:
… Uống cho người ấy không yên được
Dẫu đã chồng con đã vẹn bề
Uống cho trăng lên bên kia núi
Bật khóc thương người trong cơn mê
Uống cho Khau Vai xa thăm thẳm
Thăm thẳm trời xa thăm thẳm buồn
Mai người xuống núi người ở lại
Cầm chắc chân trời mưa gió tuôn.
Sau Trần Quốc Thực là Trần Thanh Sơn, những người thơ nhiều
chất thi sĩ, đã lần lượt không còn. Các anh đã “phiêu” trong thơ rượu nhiều lần.
Đây là một lần với Trịnh Thanh Sơn:
Một cộng với một thành hai
Anh cộng cô đơn thành biển
Nắng tắt mà người không đến
Anh ngồi rót biển vào chai.
Không là tất cả nhưng xem ra, một khi cái sức thất tình và đa
tình của các nhà thơ càng lớn thì rượu thơ không muốn cũng mò về. Tôi rất tin
là thơ rượu với thi nhân đúng là duyên trời định.
Nhà văn Triệu Xuân cho tôi nhiều tư liệu quý, hiếm! Đây là
bài thơ Canh rượu của nhà thơ Xuân Sách, tên khai sinh: Ngô Xuân Sách. Sinh
ngày 4 tháng 7 năm 1932 tại xã Trường Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa; mất
ngày 2 tháng 6 năm 2008, tại Hà Nội, thọ 66 tuổi. Ông chép tặng Triệu Xuân
bài Canh rượu tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 03-10-2005.
Cởi giày dép ra ngồi chiếu hoa
Chó thui rơm rạ khói quê nhà
Nào ta nâng chén mừng hội ngộ
Những đứa ở gần những đứa xa
Bạn bè một thuở rồi ly tán
Đứa ở trời Tây đứa ở nhờ
Có đứa lập ngôn đứa lập nghiệp
Đứa đi buôn chuyến đứa làm thơ
Trái đất quay tròn ta cũng quay
Chạy đâu cũng nắng với mưa này
Cùng nhau đấu hót trong canh rượu
Tỉnh dậy đứa nào cũng trắng tay!
Xuân Sách. Theo bản viết tay do Tác giả chép tặng nhà
văn Triệu Xuân tại Nhà sáng tác Vũng Tàu, ngày 03-10-2005. Bài đã post
trên www.tyrieuxuan.info ngày
15-9-2008.
Cuối cùng, tôi muốn mượn lời của Phạm Xuân Nguyên nói đến rượu
và hoa, hoa và rượu với văn sĩ muôn đời:
Rượu với thi nhân, và những ai mang tâm hồn thi nhân khi đến
với rượu, vì thế, thường sánh với hoa. Cái nồng của rượu cần cái sắc hương của
hoa như một hòa hợp, một nâng đỡ, một dìu dặt, một tương giao. Đối hoa ẩm tửu,
người uống không còn là kẻ phàm phu tục tử. Hoa làm cho rượu thêm thơm ngon.
Hoa thanh lọc những ô tạp của rượu để còn lại cái thần, cái chất. Hoa là thành
tố của một cuộc rượu được nâng lên mức nghệ thuật. Nói không quá, có một thứ
văn hóa “rượu hoa”. Nhưng tao nhân mặc khách thuở trước “khi xem hoa nở khi chờ
trăng lên” bao giờ cũng nhấn thêm một chút phảng phất của hồn say, vài chén tửu
lúc đó thêm phần lung linh, huyền diệu cho cái đẹp.
Vâng, cái ĐẸP là phải được chiêm ngưỡng, phải được SAY. Như
Cao Bá Quát “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Rượu và hoa hay cái tình tri âm tri
kỷ. “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”[1], mà tri kỷ đây lại là cái Đẹp vốn mong
manh, hiếm quý trong đời, một chén này đây mừng có người có ta, một chén này
đây say quan hà biên tái, một chén này đây khóc hội ngộ cười chia xa. Rượu độc ẩm
là buồn, cực buồn. Nhưng vắng hoa, vắng đẹp, vắng tri âm tri kỷ thì đành, không
thể uống một cuộc rượu đầy vơi không biết, mất còn không hay được. Một mình thì
một chén cũng là say mà nghìn chén vẫn là tỉnh, như Nguyễn Bính “thoáng thấy em
trong cốc rượu đầy” nên “tôi uống cả em và uống cả, một trời quan tái mấy cho
say”. Dễ mấy ai trong đời tương hợp được trọn vẹn rượu và hoa!
Rượu là nước có lửa, hoa là lửa có nước. Tưởng tương khắc mà
tương sinh. Nghĩ cũng hay và tài tình cho tiếng Việt, rượu và chè là hai thứ đồ
uống nhưng ghép lại với nhau thành “rượu chè” là mang nghĩa xấu, là hàm một ý
chê. Hoa và rượu là hai thứ, hai phạm trù khác nhau, tưởng đối lập nhau, nhưng
đặt bên nhau lại là một tương hợp. Ngắm hoa, ngắm cái đẹp, thưởng thức một điều
ưng ý vừa lòng, thiếu đi một nồng độ say, như không cảm được hết, không thấu được
sâu, không hiểu được xa cái huyền ảo diệu kỳ bên trong. Nâng chén dốc vào lòng
một ngụm say mà trước mắt không có đối tượng để nhìn để ngẫm để suy thì chén rượu
ngon lắm lúc hóa thành rượu đắng. Cuộc đời cần có rượu và hoa, cần cả rượu và
hoa, như vật chất và tinh thần, như thể và tâm, như động và tĩnh, như phàm nhân
và thánh nhân, như hữu và vô. Có nghĩa gì đâu, “hai đứa sống bằng hoa với rượu,
sống vào giời đất sống vào nhau”, một cuộc sống giản dị yên lành đến thế đến tận
thiên niên kỷ ba vẫn là niềm mong mỏi của số đông nhân loại.
Tôi ước được một lần như một thi sĩ đời Đường kia đem rượu ra
uống trước hoa, “cạn dăm ba chén gọi là mua vui”. Đời hiếm lắm những khoảnh khắc
thanh thản, thôi thì ta lắng lòng mình lại bằng cái chất nước của con người làm
ra sánh với chất lửa của trời đất. Uống cho một thoáng giật mình “Chỉ e
hoa biết mỉm cười, Hoa không phải nở cho người già nua”. Nghĩ được như thi
gia đó đã là một cao diệu của hoa và rượu rồi vậy!.
Chú thích:
Chú thích:
[1] Thơ Âu Dương Tu (Đời Tống,
Trung Quốc): Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu/ Thoại bất đầu cơ bán cú đa/
Dao tri hồ thượng nhất tôn tửu/ Năng ức thiên nhai vạn lý nhân (Bài: Xuân
nhật Tây Hồ ký tạ pháp Tào Vận). Dịch nghĩa:
Dịch nghĩa: Ngày Xuân ở Tây Hồ, Thơ gửi ông Tư pháp họ Tạ. Uống
rượu mà gặp bạn hiểu mình thì ngàn chén cũng là còn ít/ Nói chuyện mà không hợp
nhau thì nửa câu cũng là còn nhiều/ Mới biết ở trên hồ nâng một chén rượu/ Hay
nhớ đến người đi vạn dặm nơi chân trời xa xôi. Chú thích của Triệu Xuân.

















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét