Trong lời người biên soạn, nhà văn Trần Thanh Phương viết:… Nói như Nguyên Hồng: Rượu của nhà văn, nhà thơ phải có tiếng chim, có thiên
thai… Các bậc tiền nhân nước ta như Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh… có nhiều câu thơ nói
về rượu rất hay.
Trong sách Văn hóa rượu của nhiều tác giả: nhà văn Lý Khắc
Cung, giáo sư Nguyễn Lân Dũng, bác sĩ Nguyễn Đức Kiệt và nhiều người khác, do
Thái Lương chủ biên (NXB Văn hóa - Thông tin, 1998), cho biết: Ở nước ta, bia mới
chỉ xuất hiện từ những năm cuối thế kỷ 19 (1890), khi thực dân Pháp cho xây thầu
ở đường Hoàng Hoa Thám ngày nay một xưởng bia tư nhân nhỏ để phục vụ cho đội
quân viễn chinh, nay là Nhà máy bia Hà Nội. Bia là thuật ngữ nước ngoài, còn Rượu
là tiếng thuần Việt.
Rượu có cội nguồn sâu xa trong lịch sử Việt Nam. Từ lâu, rượu
đã được gắn liền với phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo… Câu “Vô tửu bất
thành lễ” đã trở thành ngạn ngữ trong dân gian. Có chén tiễn đưa, có chén bằng
hữu, có chén thề nguyền, có chén chiến đấu, có rượu lễ, rượu cúng, có cả rượu để
thờ một vị thần linh theo tục đồng bào dân tộc thiểu số nào đó…
Thành ngữ La tinh có câu: “Trong rượu có sự thật”. Nói như
nhà thơ Trần Huyền Trân: Nguồn đau cứ rót cho nhau/ Lời say sưa mới là câu chân
tình (trong bài “Uống rượu với Tản Đà”). Sinh thời, cụ Tản Đà thường nói: Tửu
trung ưng thị thần tiên (trong lúc uống rượu chính là lúc thần tiên) và Tửu
trung tự hữu thánh hiền (Trong rượu vốn đã có thánh hiền). Đại thi hào Nguyễn
Du lại có câu thơ thật hay: Sinh tiền bất tận bô trung tửu/ Tử hậu thì kiêu mộ
thượng bôi (Lúc sống, không uống cạn chén rượu/ Chết rồi thì ai rưới lên mồ
cho).
Cũng tương tự, người đời còn nói: “Thả lạc sinh tiền nhất tửu
bôi/ Hà tu thân hậu thiên tải danh” (Hãy vui lúc sống một chén rượu/ Cần gì lúc
chết để tiếng nghìn đời). Rượu còn giúp cho con người dễ mở rộng giao tiếp, cảm
thông, chia sẻ, dung thứ cho nhau: Xưa kia ai biết ai đâu/ Vì chung chén rượu mở
đầu làm quen (ca dao)…
Có cái duyên muôn đời, đặc biệt ở phương Đông chúng ta là, rượu
hay bén với thơ văn. Biết chung sống với nhau khéo léo thì duyên cực đẹp, đẹp
như tiên. Với người tử tế, rượu là chất men xúc tác, giúp con người thăng hoa.
Những chén rượu nồng ấm giúp thêm một chút phấn khích để sáng tạo, giúp lắng lại
với đời sống nội tâm, giúp nghiền ngẫm về lẽ đời, về kiếp người… Rượu ấy thật
có ích, làm đẹp thêm đời sống con người. Thơ văn trước đây cũng như hôm nay
giúp ta hiểu được những chén rượu thanh tao, sang trọng và đầy chất nhân văn ấy.
Tôi nghĩ, trên đời này, trong những câu chuyện vui buồn, sau mảng đề tài muôn
thuở về tình yêu thì mảng đề tài được nhiều người đề cập tới là rượu. “Nam vô tửu
như cờ vô phong”. Thiết nghĩ, ta cũng nên nhớ thêm một câu châm ngôn nữa: “Âm tửu
dung hòa đích quân tử” - Nghĩa là người quân tử uống rượu phải trầm tĩnh. Uống
chỉ đến mức phấn chấn, suy nghĩ những điều có lợi cho hạnh phúc gia đình và cho
đất nước, đó mới thực là người sành rượu.
Chính vì vậy, trong mấy trăm trang sách, tôi dồn hết tâm sức
cũng để minh chứng cho điều đó. Khái niệm rượu trong sách mà tôi sưu tầm, biên
soạn này nhất thiết phải là thứ rượu có văn hóa, tức tượng trưng tinh thần của
rượu (tửu tinh thần). Ta hãy quên đi một Chí Phèo nát rượu để nhớ lại bức tranh
ông tiên râu tóc bạc phơ, má đỏ như hai quả đào, một tay chống gậy, một tay cầm
bầu rượu, thì rượu là biểu tượng của Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh. Ta hãy nhớ lại
một nhà thơ, nhà văn đang ngồi bóp trán trước trang giấy, bên cạnh ly rượu để
tìm cảm hứng… Vậy, nên mong những vị dù khó tính nhất thường hay cân nhắc đủ thứ
mặt lợi hại cho vấn đề, cũng rộng lòng thể tất cho.
Tôi rất tâm đắc thấy lời khuyên thứ 10 trong 10 lời khuyên của
Epiquya (nhà triết học cổ Hy Lạp) là: Luôn có trong tủ sách của mình một quyển
sách mới, có trong nhà kho một chai rượu ngon và có trên bàn một bông hoa tươi.
Mở đầu cuốn sách, tôi trân trọng in lại những bài thơ của Chủ
tịch Hồ Chí Minh có nhắc đến rượu và những lời bình của một số vị có tên tuổi.
Chắc chắn chưa đủ.
Phần tiếp là những câu thơ hay hoặc những câu chuyện thú vị
bên mâm rượu của các vị văn sĩ ở nhiều thời đại. Mặc dù đã cố gắng, nhưng vẫn
còn bỏ sót nhiều.
Cuối cùng, tôi chọn 11 văn sĩ xưa và nay ở nhiều thế hệ xếp một
chiếu theo thứ tự tuổi tác, để nghe các vị luận bàn về chuyện thơ văn, chuyện
nhân tình thế thái bên hương vị của men cay.
Thưa quý bạn đọc, gần 10 năm nay, tôi đã sưu tầm, biên soạn
và cho xuất bản ba cuốn sách với hơn 2.000 trang nói về nhà văn nước ta. Đó là:
- Chân dung và bút tích nhà văn Việt Nam (2 tập, gồm 505 nhà
văn).
- Còn là tinh anh, về cái chết của 50 nhà văn.
- Lời cuối với nhà văn đã đi xa (gồm 110 Điếu văn đọc trong
tang lễ nhà văn).
Tôi tâm niệm, những năm cuối đời, tôi sẽ hoàn thành bộ sách về
nhà văn nước nhà theo cách của riêng mình. Tôi đã làm được ba. Cuốn thứ tư này,
tôi muốn mượn rượu nói về nhà văn và nhà văn nói về rượu để nhớ nhà văn.
Cuối cùng, tôi rất cám ơn các tác giả của những cuốn sách, những
bài báo mà tôi trích dẫn trong sách này. Tôi đặc biệt cám ơn nhà văn Triệu Xuân
đã giúp tôi thêm tư liệu quý để hoàn tất tác phẩm. Mong quý đồng nghiệp yêu mến,
quý trọng nhà văn đã viết bài về họ thông cảm và lượng thứ cho sự mạn phép của
tôi khi tôi sử dụng tư liệu của quý đồng nghiệp.
Cám ơn Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Tôi mong rằng cuốn sách mà bạn đang cầm trên tay sẽ làm bạn
say về những câu thơ, câu văn của văn sĩ nước nhà trong nhiều thời đại.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 23-9-2016
Trần Thanh Phương
Rượu với văn chương
Người
Việt Nam cũng như các dân tộc khác trên thế giới biết cách ủ rượu, nấu rượu và
uống rượu từ lâu đời.
Nhiều
nhà nghiên cứu khoa học cho rằng, rượu là một phát minh vĩ đại của con người
sau lửa. Khi phát minh ra lửa thì con người đã bắt đầu ăn thịt chín. Đến lúc
động vật hiếm dần, con người chuyển sang ăn thực vật. Mà một trong những loài
thực vật đầu tiên con người cổ xưa tìm ăn là quả nho, loại quả hoang dại mọc ở
vùng châu thổ sông Nin. Rồi quả nho cũng trở nên thưa vắng. Với bản tính tư
hữu, con người đem nho về cất giấu tại nơi ở của mình. Nho được ủ lại sau mấy
ngày đem ăn, họ cảm thấy khỏe hơn, thông minh hơn, yêu đời hơn… Và họ liền đặt
cho cái lâng lâng đó một biệt danh là Spirít, nghĩa là linh hồn, ngày nay thuật
ngữ ấy là Rượu.
Ngay từ
thời đại các vua Hùng, việc ăn mặc của dân tộc ta tuy còn thô sơ, nhưng đã có
một trình độ văn hóa nhất định. Sách Lĩnh Nam chích quái chép rằng:
“…Hồi
quốc sơ, dân không đủ đồ dùng, phải lấy vỏ cây làm áo, dệt cỏ tranh làm chiếu,
lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây tung lư làm cơm, lấy cầm thú, cá,
ba ba làm mắm, lấy rễ rừng làm muối, cày bằng dao… Đất sản xuất được nhiều gạo
nếp, lấy ống tre mà thổi cơm…”.
Rồi qua
một thời gian dài từ thế kỷ nọ đến thế kỷ kia, trên cơ sở những thực phẩm chính
của dân tộc: loại chất bột chủ yếu là gạo, ngô, khoai, sắn; loại prôtít như cá,
thịt; loại thực vật như rau, cà; loại chất lỏng như rượu, trà, dân ta đã chế
biến và sáng tạo nhiều món ăn của người Việt.
Sách
Văn hóa Việt Nam những điều học hỏi (NXB Văn hóa - Thông tin, 2008), Vũ Ngọc
Khánh có nhắc: Ta thường hay nói tới bầu rượu, túi thơ, nhưng đã mấy ai nhớ đến
bầu. Bầu là cái gì?
Xa xưa
lắm, người Việt Nam có những Thần rượu, đã biết ông Lý Thiết Quài và những rượu
đế, rượu ngang, rượu tăm, rượu cần, rượu nếp và… rượu quốc lủi. Xét về tên gọi,
như thế, rượu của ta “bình dân” hơn, ít mỹ miều nhưng gần gũi với dân lao động
hơn so với các quốc gia khác. Sự “bình dân” của rượu nước Nam đúng như câu ca
dao cũ: Rượu ngon bất luận be sành.
Những
thứ đựng rượu của dân mình bây giờ gọi là “bao bì” dân dã, quê kiểng nhưng thật
gần gũi với cuộc sống. Ấy là những bè, nậm, hũ, be, cút, chĩnh, ché, sừng, bầu,
bát… bằng gốm sứ, bằng vỏ quả bầu, bằng cả sừng và bằng cả bong bóng con vật
rất gần gũi với thôn dân: con trâu. Bên mâm cỗ ngày xuân, ta không có những ly
cà phê, cũng chẳng có những chén ngà, chén ngọc. Đồ uống của mình chỉ là dăm ba
cái chén Bát Tràng, thứ to có chén vại, thứ nhỏ có chén hạt mít, bỗ bã hơn là tô,
là ang. Ấy vậy mà vẫn chén chú, chén anh, chén tạc, chén thù một cách vui vẻ,
đậm đà.
Đã nhắc
đến bầu rượu thì cũng không nên quên cách uống rượu của người Việt. Cái nếp
thanh lịch: “Bán dạ tam bôi tửu” (nửa đêm ba chén rượu) là của các nhà chữ
nghĩa, thích an tâm dưỡng khí, chứ người dân ta thì uống bằng cút, bằng be,
bằng vò, bằng hũ, bằng bát. Hồi công ty Nam Đồng Ích được nhà nước thực dân cho
phép kinh doanh, sản xuất ra một thứ chai đựng rượu, có dán nhãn quảng cáo hình
con hưu (hươu), thì được dân chấp nhận ngay, vì lượng rượu của nó vừa phải.
Người ta gọi ngay là một hưu rượu. Cũng tương tự giống như khi dùng lon sữa bò
để đong gạo, người ta cứ quen là suất ăn mỗi người một bò (đúng 250 gram)… Rượu
ngoại, dân ta không chuộng. Người ta thích rượu của các làng cất lấy, có nồng
độ, có chất lượng và nhất là thật hơn. Dân gian thường truyền đi những câu về
tứ vật (khuyên tránh không lấy vợ; không chơi bạn; không đánh cờ và không uống
rượu ở làng nào đấy), thực ra cũng có ý giới thiệu giá trị của rượu từng địa
phương. “Vật ẩm Duy Tịnh tửu” (Đừng uống rượu ở làng Duy Tịnh). Thật ra thì
rượu ở đây nổi tiếng khắp miền Thanh nên bị một số người tìm cách đánh tráo,
lừa khách qua đường. Nhiều nơi khác, rượu được ưa chuộng như rượu làng Vân
chẳng hạn. Vùng miền núi có rượu cần là loại rượu mà truyện cổ tích Mường Thái
gọi là “nước thân, nước thương chảy ngược”. Chả là uống rượu không rót ra chén
bát mà phải cầm cần hút cho rượu dưới vò chảy ngược lên trên miệng. Rượu cần
uống vừa ngọt, vừa đậm, đổ bao nhiêu sừng trâu nước lã vào đấy mà không thấy
nhạt, thường rất khó say. Người Mường có câu rất hay:
Ủ gạo
làm rượu ngon
Từ
những hơi men, tạo nên con người. Nhà thơ Nguyễn Bính đã phải dặn đi dặn lại:
Rượu cần em uống cho say/ Vui cùng chị một vài giây cuối cùng. Dù là dân gian,
Nguyễn Bính vẫn là nhà thơ của thời đại mới, chứ những nhà thơ, nhà học giả
thời trước phải uống rượu có bỏ hoa cúc vào. Rượu cúc, trà sen là rất quen
thuộc với các cụ ngày xưa.
Nâng
chén rượu, chén trà, các cụ sành ăn uống, các bậc văn sĩ phải biết chất lượng
của trà, rượu: ở phần nào là cao hơn. Người ta sẽ bảo nhau: Rượu trên be, chè
dưới chén (hay dưới ấm)…
Người
xưa dạy “Trà tam rượu tứ” ý nói uống trà chỉ nên ba chén (pha tới lần thứ ba,
sau đó thì nước đã nhạt); uống rượu chỉ nên bốn chén (chén mắt trâu, chén hạt
mít) vì uống chừng đó còn đủ tỉnh táo, sáng suốt để nói năng.
Chén
rượu của các cụ, các văn sĩ đâu phải chỉ là chén rượu bình thường. Có nhiều
loại rượu:
Rượu
tiễn biệt: Tiễn đưa một chén quan hà.
Rượu
bằng hữu: Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân.
Rượu
thề nguyền: Chén son nguyện với trăng già.
Rượu
chiến đấu: Chén tân khổ nhắp ngon mùi chính khí…
Hầu như
trong nhiều loại cỗ bàn, dù là giỗ Tết hay hiếu hỷ thì thực phẩm dâng cũng chủ
yếu vẫn là hoa quả. Điều ấy mang ý nghĩa tâm linh rất rõ. Tâm linh mà gắn với
cội nguồn. Còn trầu, rượu sử dụng trong tất cả mọi trường hợp để tỏ lòng thành
kính. Không rượu bất thành lễ. Đối với người bình dân nói chung, văn nghệ sĩ
nói riêng, rượu đem lại cho họ nhiều cung bậc trong đời sống vật chất và tinh
thần. Còn bảo người Việt ta uống nhiều rượu, đó là một chuyện khác, chúng tôi
không bàn ở đây. Sinh thời, trong cuốn sách Nói chuyện với người uống rượu (NXB
TP.Hồ Chí Minh, 1981), bác sĩ Trần Hữu Nghiệp dẫn ra một tư liệu đáng tin cậy,
rằng “Xã hội Việt Nam thời trước, nhân dân lao động nói chung không hề lạm dụng
rượu. Trong quyển sách in năm 1898, nhà bác học, là bác sĩ Can-mét (A.
Calmette) ước lượng anh em “cu li” nghèo ở Sài Gòn tiêu thụ mỗi tháng từ 2,5
đến 3 lít rượu đế 36 chữ (độ), tức là trung bình ba ngày uống hết một xị, nghĩa
là chỉ một phần tư lít. Không nhiều!”.
Đối với
văn sĩ, đây đó, và thời nào họ cũng thường bị oan cho là họ uống nhiều rượu,
thậm chí họ uống nhiều không thua những người ở ngành nghề khác, kể cả binh sĩ
ngoài trận mạc. Xin nhắc một chuyện có thật bị hiểu lầm về rượu. Trong hồi ký
của một vị tướng quân đội ta, tác giả kể rằng: Ở Điện Biên Phủ, sau khi bị ta
bắt làm tù binh, tướng Đờ Cát hỏi:
- Có
phải trước khi ra trận, các ông cho binh lính uống nhiều rượu mạnh không? Lính
các ông nhỏ người, nhưng lúc xông vào sở chỉ huy của tôi, người nào mặt cũng đỏ
gay, mắt quắc lên, mạnh mẽ trông thật đáng sợ.
Câu trả
lời với tướng bại trận rất đơn giản:
- Không
có rượu mạnh nào cả mà chỉ có chí căm thù. Căm thù các ông sang xâm lược nước
tôi. Cái đó mạnh hơn rượu rất nhiều. (Sách Nói chuyện với người uống rượu).
Một
chuyện khác: Năm 1973, mùa xuân. Hiệp định Hòa bình Paris về Việt Nam được ký
kết, Nhà nước ta đã mời tiến sĩ Henri Kitxinhgiơ, cố vấn đặc biệt của Tổng
thống Hoa Kỳ sang thăm thủ đô Hà Nội. Sau khi mời đi thăm phố Khâm Thiên đổ
nát, viếng đài tưởng niệm những người dân thường bị bom Mỹ hủy diệt đêm 26
tháng Chạp năm Nhâm Tý (1972), thăm Viện Bảo tàng lịch sử… Chính phủ ta mở tiệc
chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ, với cố vấn đặc biệt của Chính phủ ta Lê Đức Thọ.
Sau các cuộc hòa đàm thẳng thắn, nóng bỏng ở Paris, hai vị cố vấn đã hiểu biết
lẫn nhau hơn. Những câu chuyện vui nhưng không kém phần thâm ý của hai vị cố
vấn giữa giờ giải lao của cuộc họp kéo dài căng thẳng và quyết liệt cũng có
phần cởi mở và dễ chịu hơn. Sau những giờ phút lo lắng khi đặt chân đến thủ đô
của một dân tộc bất khuất, ngàn năm văn hiến, tiến sĩ Kitxinhgiơ đã thật sự yên
tâm. Do đó, khi cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ ngỏ lời mời tiến sĩ Kitxinhgiơ dự
cuộc chiêu đãi trọng thể của Chính phủ ta, ông đã thẳng thắn hỏi:
- Thưa
ngài, tôi có thể biết trước thực đơn không?
Cố vấn
Lê Đức Thọ nói:
- Đó là
các món đặc sản của dân tộc tôi, cơm tám, giò chả.
Người
phiên dịch nói xong, tiến sĩ Kitxinhgiơ gật đầu rồi ra hiệu, hỏi tiếp:
- Trong
bữa ăn có món rượu được đóng nắp bằng thứ lá chuối khô mà các ngài quen gọi là
Quốc lủi không? (từ cuốc lủi ông ta không sao diễn tả hết được).
Cố vấn
Lê Đức Thọ trả lời:
- Nếu
ngài thích rượu đó.
Cố vấn
Kitxinhgiơ nói ngay:
Thế là
trong bữa tiệc chiêu đãi cố vấn Kitxinhgiơ không thể thiếu rượu ngang. Nhưng
không phải là rượu ngang làng Vân hay rượu ngang mua ngoài hàng nước. Đó là thứ
rượu được cất bằng nước mưa với nếp quýt hoa vàng của tỉnh Thái Bình. Người
nghệ nhân đóng chiếc cối xay thật là kỳ tài! Cả trăm hạt thóc cho vào xay đều
vỡ bong thành hai cánh trấu. Như vậy còn chứng tỏ thóc được phơi rất đều nắng.
Và sau cùng là khâu nấu cơm nếp, ủ men, cất rượu phải thật đúng quy trình và
đúng nhiệt độ. Rượu này, vào ngày Tết, lễ của các nước anh em thuộc Đông Âu cũ,
các đồng chí lãnh đạo vẫn gửi biếu các nguyên thủ quốc gia đó. Lần này đãi vị
cố vấn đặc biệt Hoa Kỳ, thứ rượu ngon ấy lại được đem ra. Theo yêu cầu của
khách, những chai rượu sủi tăm, nút lá chuối khô được bày ngay ngắn trên bàn
tiệc. Tiến sĩ Kitxinhgiơ tấm tắc khen êm giọng và thơm đến rạo rực, kỳ diệu của
hương gạo nếp. Ông bảo ông đã uống rất nhiều rượu trên thế giới nhưng không một
thứ rượu nào nặng, êm giọng và thơm tuyệt vời như cuốc lủi Việt Nam. Và, ông đề
nghị cố vấn Lê Đức Thọ giải thích từ cuốc lủi. Ông Lê Đức Thọ nói đó là thứ
rượu Nhà nước cấm tư nhân nấu để tiết kiệm lương thực phục vụ nhiệm vụ chiến
đấu, song các ngày lễ, Tết cổ truyền ở Việt Nam người ta vẫn nấu một vài nồi.
Có người dùng không hết đem bán lén ra thị trường, nên gọi là cuốc chui, cuốc
lủi. Vị cố vấn tỏ ra khoái trá, cười ầm lên.
Bữa
tiệc ấy, tiến sĩ Kitxinhgiơ cảm thấy thật ngon miệng. Ông đã uống rất nhiều và
đã rất say!
Cứ nghĩ
rằng ông khen xã giao, nhưng trước khi chia tay ông đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ
nếu có tặng phẩm cho ông thì cứ cho xin dăm lít cuốc lủi để ông giới thiệu với
bạn bè ông ở Mỹ thứ rượu tinh khiết, ngon tuyệt vời được cất ủ bằng một loại
lương thực cao cấp của Việt Nam! Ông bảo, đó là một trong vài thứ rượu ngon tuyệt
trần của thế giới mà ông có may mắn được thưởng thức. Ông còn hỏi giá thành
rượu này có cao không? Cố vấn Lê Đức Thọ nói khoảng 500 đồng (lúc đó) một lít.
Tiến sĩ Kitxinhgiơ phiên từ tiền Ngân hàng Việt Nam sang đôla Mỹ và thốt lên:
- Rẻ
quá! Rẻ quá! Mà lại rất ngon, rất tuyệt, rất tinh khiết!
Theo
sách Văn hóa rượu.
Tục ngữ
có câu: “Rượu vào lời ra”, ấy là chỉ cái xấu của những người uống rượu nói dai,
nhưng đối với người có nợ với văn chương thì rượu là nguồn cảm hứng bao la của
bao nhiêu sáng tác văn học rực rỡ như đã thưa ở trên. Đường thi có câu: Đấu tửu
thi bách niên - nghĩa là rượu vào hàng trăm bài thơ ra. Uống rượu, có triết lý
về rượu, uống trà là có bao nhiêu những ưu tư nghiền ngẫm…
Đọc và
chép lại những vần thơ cũ trích dẫn dưới đây, tôi nghĩ thơ cũng giống như rượu:
càng lâu năm thì càng quý. Quan hệ mật thiết giữa rượu và thơ là như hình với
bóng - cùng nhau trưởng thành già dặn qua thời gian, và tôi rất tán thành về sự
so sánh giữa rượu và thơ của Ưng Bình Thúc Giạ Thị:
Rượu có
mùi thơm nên uống mãi,
Thơ là
thuốc bổ cứ ngâm hoài…
Người
xưa cũng có câu:
Nửa đêm
ba chung rượu
Sáng
sớm giở chén trà
Ngày
ngày cứ như thế
Thầy
thuốc chẳng đến nhà.
Chúng
ta cùng thưởng thức hương vị rượu qua những vần thơ trong văn học Việt Nam xưa.
Đặc
điểm nổi bật của thẩm mỹ thời xưa là tính ước lệ. Gần đây, tháng 7-2016, trên
báo Giáo dục với thời đại, Túy Phượng cho rằng:
Quan
niệm về vẻ đẹp của con người cũng nằm trong mạch chảy đó. Chúng ta không lạ với
chân dung người trai tài tử trung đại trong văn học Việt Nam được dựng bằng
hình ảnh gắn liền với: cầm, kỳ, thi, tửu. Thành ngữ Cầm kì thi tửu với nội dung
diễn tả lối sống tao nhã của nhà nho thời phong kiến. Họ lấy nghệ thuật và
hương vị men cay (đánh đàn, chơi cờ, làm thơ, uống rượu) làm tiêu chí sống.
Cầm,
kỳ, thi, tửu,
Đường
ăn chơi mỗi vẻ mỗi hay.
Đàn năm
cung réo rắt tính tình đây,
Cờ đôi
nước rập rình xe ngựa đó.
Thơ một
túi phẩm đề câu nguyệt lộ,
Rượu ba
chung tiêu sái cuộc yên hà.
Còn
Phạm Xuân Nguyên thì: Tôi cứ nghĩ có hai thứ lửa trên đời. Một thứ lửa của mặt
trời là do đất trời thiên nhiên tạo ra cho muôn loài. Một thứ lửa của rượu là
do con người tạo ra cho lòng mình. Lửa của mặt trời là lửa. Lửa của rượu là
nước. Nhân loại có một thứ ngôn ngữ chung là rượu dù tên gọi của nó ở mỗi quốc
gia dân tộc có khác nhau. Khi vui uống rượu mừng vui. Khi buồn uống rượu chia
buồn. Lúc đám đông rượu để hòa đồng. Lúc cô đơn rượu để một mình. Rượu đem lại
trạng thái say. Cái say nguyên thủy là say rượu, từ đó mới ra các thứ say khác:
say người, say tình, say tài… Đây là nói cái say theo nghĩa đẹp, hoặc là nói
say dưới góc độ mỹ học. Cái say viết hoa - SAY. Có ai trong đời không một lần
say một cái gì không? Nếu có một người như thế thì người đó thật là bất hạnh,
bất hạnh cho chính mình và bất hạnh cho đồng loại. Say là cảm giác tuyệt đỉnh,
tột cùng. Trong say cảm xúc lên đến đỉnh chon von, châng lâng. Người uống rượu
chân chính, đích thực không phải uống để say mà uống để SAY. Ai uống để say để
quậy không phải là người uống rượu nữa mà là rượu uống người. Trong tất cả các
nền văn hóa, có hơn một kiểu đồ uống mang chất rượu được dùng, các đồ uống được
phân loại theo ý nghĩa xã hội của chúng, việc phân loại đồ uống được dùng để
xác định thế giới xã hội. Rất ít, nếu không nói là tuyệt đối không có, thứ đồ
uống “trung lập về mặt xã hội”. Mọi thứ đồ uống đều mang theo một ý nghĩa tượng
trưng, mọi thứ đồ uống đều chuyên chở một thông điệp. Rượu là một phương tiện
mang tính tượng trưng để nhận diện, miêu tả, cấu trúc và vận hành các hệ thống
văn hóa, các giá trị, các quan hệ liên cá nhân, các chuẩn mực hành vi và các dự
tính. Rượu có men, mỗi thứ rượu có một chất men riêng, người uống rượu ngấm
men, bốc men, và rượu thì ai cũng uống được dù ít dù nhiều, nhưng uống rượu để
men rượu ngấm vào lòng biến thành cái SAY tinh thần, cảm xúc thì chỉ ít người
uống được. Lý Bạch nói: “Cổ kim thánh hiền giai tịch mịch. Duy hữu ẩm tửu lưu
kỳ danh”, nhưng “kỳ danh” của những ẩm tửu gia lưu lại nhiều nhất là các thi
nhân, như chính ông. Vì sao vậy? Vì rượu đã dẫn men nhập hồn thơ thi nhân làm
bốc lên ngọn lửa của ý tình, cảm xúc, vần điệu khiến những câu thơ vụt ra đầu
ngọn bút như cũng có men nồng gây say cho người đọc. Và chính cái SAY đó đã đưa
chân Lý Bạch lội xuống hồ tìm vớt trăng lên. Có ai SAY được như ông Lý thế
không.
Một số
truyện thơ Nôm khuyết danh chứa đựng những nội dung rất đẹp về rượu:
-
Thưởng xuân sinh cũng dạo chơi,
Thơ
lưng lưng túi, rượu vơi vơi bầu.
Bích
Câu kì ngộ.
- Hề
đồng theo bốn năm thằng,
Thơ
ninh ních túi, rượu lưng lửng bầu.
Nhị độ
mai.
- Chè
sen rượu cúc thảnh thơi,
Cóc
ngồi chịu chuyện, Bén ngồi ngâm thơ.
Trê
cóc.
Trong
thơ khuyết danh có một bài khá hay, bài Rượu ngon cứ uống:
Rượu
ngon ai chẳng chuộng,
Gặp
rượu đây hãy uống một đôi vò
Gối
chưa mòn, răng chưa rụng,
đầu
chưa bạc, vai chưa so
Còn
quắc thước dễ hồ ta chịu hẳn.
Xuân
tàm đáo tử ti phướng tận
Lạp
chúc thành hôi lệ vị can
Giốc
nghìn vàng một tiệc cho yên
Như
dụng ngã, tam niên thì biết rõ
Cơn
chếnh choáng việc tầy trời cũng nhỏ
Dẫu thị
phi, phi thị có là chi.
Mặc
đời, hãy cứ uống đi…
Sách
Cùng một lứa bên trời lận đận, NXB Thanh Niên, 2009.
Còn ca
dao thì vô cùng nhiều:
- Đốt
than nướng cá cho vàng
Đem
tiền mua rượu cho chàng uống chơi.
- Rượu
nhạt uống lắm cũng say
Anh
nhiều lời nói, em ngây tấm lòng.
- Xưa
kia ai biết ai đâu
Vì
chung chén rượu mở đầu làm quen.
- Còn
trời, còn nước còn non
Còn cô
bán rượu, anh còn say sưa.
- Say
là say nghĩa say nhân
Say thơ
Lý Bạch, say đàn Bá Nha.
- Mang
bầu đến quán rượu dâu
Say sưa
quên hết những câu ân tình.
- Đố ai
nằm võng không đưa
Ru em
không hát, anh chừa rượu tăm.
Hai con
lợn béo với vò rượu tăm.
- Làng
Mui thì bán củi đồng
Nam Dư
mía mật giàu lòng ăn chơi
Thanh
Trì buôn bán mọi nơi
Đồng
Nhân, Thúy Ái là nơi chăn tằm
Làng Mơ
thì bán rượu tăm
Sở Lờ
cua ốc quanh năm đủ đời.
Sách Ca
dao - Ngạn ngữ Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, 1972.
- Em là
con gái Kẻ Mơ
Em đi
bán rượu tình cờ gặp anh
Rượu
ngon chẳng quản be sành
Áo rách
khéo vá hơn lành vụng may
Rượu lạt
uống lắm cũng say
Áo rách
có mụn vá may lại lành.
- Đất
Quảng Nam chưa mưa đã thấm
Rượu
hồng đào chưa nhắm đã say.
- Rượu
nằm trong nhạo chờ em
Anh nằm
phòng vắng chờ em tối ngày.
- Bắt
con cá lóc nướng trui
Làm mâm
rượu trắng đãi người phương xa.
- Rượu
lạt uống riết cũng say
Người
khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm.
-
Thương tôi rượu chén trầu cơi
Đến
cùng phụ mẫu, đến nơi sinh thành.
Sách Bộ
hành với ca dao, Lê Giang sưu tầm, NXB Trẻ, 2004.
Ở Nam
Bộ có câu hát ru: Ví dầu cầu ván đóng đinh/ Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi/
Khó đi mượn chén ăn cơm/ Mượn ly uống rượu, mượn đờn kéo chơi. Mượn ly uống
rượu thì chỉ cần một cái là đủ, để rảnh tay mượn thêm cây đờn kéo chơi nữa chớ!
Đó cũng
chỉ là cách nói cà rỡn thôi. Người Nam Bộ có thói quen “trà tam rượu tứ” (hiểu
theo cách: uống trà phải ba người và uống rượu thì bốn người) chứ không phải
như câu giải thích mà các vị vừa đọc ở trang trước. Cách uống rượu ở Nam Bộ,
một là người già trước bữa ăn uống một ly nhỏ rượu thuốc… cho tiêu cơm. Còn
cuộc nhậu thì phải có bốn người trở lên mới vui. “Tửu phùng tri kỷ, thiên bôi
thiểu” thì ở Nam Bộ “trời biểu thôi”, có tri kỷ đến thăm thì phải báo hàng xóm,
dòng họ gần đó đến chung vui, chớ hai người “thiên bôi thiểu” thì hàng xóm gọi
là “hai ông hiệp sĩ” uống rượu ghiền!
Trong
sách Đồng bằng sông Cửu Long, nét sinh hoạt xưa, nhà văn Sơn Nam đã sưu tầm
được bài vè đám cưới xưa ở vùng đất phương Nam. Theo Sơn Nam, đám cưới ở miền
đất mới này tổ chức rất đơn giản về nghi lễ, nặng về ăn uống và có hai thứ
không thể thiếu là đờn ca tài tử và rượu. Mở đầu bài vè:
Dạy
việc đám cưới chẳng phải là dễ
Che
trại ra, mượn ván lót dài
Ngoài
phòng trà lại có tay sai
Trong
đãi rượu, ngoài trai dọn dẹp
Dĩa quả
tử chưng ra coi đẹp
Ba bình
bông kết phụng loan xòe
Rượu áp
sanh mua lấy mười ve
Hai hũ
rượu mâm trầu cho xứng
Bạc
tiền hai gói đỏ niêm phong
Trong
viên quan uống rượu đánh cờ
Ngoài
tài tử đờn ca xướng hát…
Bài vè
trên lời lẽ chưa ổn, văn vẻ còn tả chân, chưa trau chuốt.
Cũng
như trong văn học dân gian, trong các tác phẩm văn học Việt Nam xưa, rượu xuất
hiện nhiều và không thể thiếu trong các nghi lễ. Trong chiến trận, tướng sĩ thể
hiện tinh thần đoàn kết một lòng được Nguyễn Trãi ghi lại trong Bình Ngô đại
cáo với chi tiết: Tướng sĩ một lòng phụ tử hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.
Chén rượu thề thể hiện cho quyết tâm đồng cam cộng khổ cùng sinh tử vì đất
nước.
Ở Hoa
Tiên truyện của Nguyễn Huy Tự, rượu xuất hiện trong lời thề nguyện:
Tiên
thề dù hãi chút lòng,
Trên mồ
một chén, rượu trong cũng là.
Dùng
rượu thay lời tiễn biệt trong các cuộc biệt ly:
Rót ba
chén rượu phụng bồi,
Lễ đưa
Đạo Dẫn, một hồi tạm ly.
Ngư
Tiều y thuật vấn đáp - Nguyễn Đình Chiểu.
Rượu là
hơi men làm cho tình bằng hữu thêm thắm thiết:
Cùng
nhau kết bạn đồng tâm,
Khi cờ
khi rượu khi cầm khi thi.
Lục Vân
Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.
Rượu
trở thành nguồn cảm hứng, là đề tài của thơ ca:
Cùng
nhau tả chút tình hoài,
Năm ba
chén rượu một vài câu thơ.
Lục Vân
Tiên - Nguyễn Đình Chiểu.
Vì câu
danh nghĩa phải đi xa
Day mũi
thuyền nan dạ xót xa
Người
dễ muốn chi nương đất khách
Trời đà
khiến vậy mến vua ta
Một
phương thà tránh đường gai góc
Trăm
tuổi cho tròn phận tóc da
Chén
rượu ấm lòng xin cạn chén
Nhớ
nhau ngày khác biết sao mà.
Khi
tướng sĩ thắng trận, vua thường dùng rượu để ban thưởng cho những công lao mà
kẻ ở sa trường vừa lập được:
Sở
Vương bước xuống kim giai,
Tay
bưng chén rượu thưởng tài trạng nguyên.
Rượu có
một vai trò rất lớn. Thế nhưng rượu cũng gây những tác hại không nhỏ. Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ văn đã cảnh báo rõ những tác hại ghê
gớm. Tướng sĩ dưới quyền: có kẻ thích rượu ngon thì khi giặc Mông Thát tràn
sang chén rượu ngọt ngon sẽ không đủ làm giặc say chết, và như thế thì nguy cơ
mất nước tan nhà đã hiển hiện trước mắt.
Đến Văn
tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, cụ Đồ Chiểu cũng chỉ trích nặng nề những kẻ cam tâm làm
tay sai cho giặc để được chia rượu lạt gậm bánh mì nghe càng thêm hổ!
Đoàn
Thị Điểm sinh năm 1705, quê ở trấn Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Năm 37
tuổi, bà mới nhận lời lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ, đã góa
vợ. Vừa cưới xong, Nguyễn Kiều lại phải đi sứ Trung Quốc ba năm. Có lẽ trong
thời gian xa chồng này, Đoàn Thị Điểm đã dịch ra quốc âm tập Chinh phụ ngâm của
Đặng Trần Côn. Năm 1745, Nguyễn Kiều về nước được cử làm tham thị ở Nghệ An.
Đoàn Thị Điểm cùng đi với chồng. Trên đường đi, bà bị cảm nặng và mất ở Nghệ An
vào ngày 11 tháng 9 âm lịch (năm Mậu Thìn). Chúng tôi xin trích một đoạn trong
Chinh phụ ngâm:
Ngòi
đầu cầu nước trong như lọc
Đường
bên cầu cỏ mọc còn non
Đưa
chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn
bằng ngựa, thủy khôn bằng thuyền
Nước có
chảy lòng phiền khôn rửa
Cỏ có
thơm dạ nhớ chẳng khuây
Nhủ rồi,
nhủ lại cầm tay
Bước đi
một bước, giây giây lại dừng
Lòng
thiếp tựa bóng trăng theo
Dạ
chàng xa, tìm cõi thiên san
Múa
gươm, rượu tiễn chưa tàn
Chỉ
ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo.
Thi,
cầm, kỳ, tửu cũng được nhắc đến trong Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều.
Đây là khúc ngâm lấy lời người cung nữ bị vua ruồng bỏ, oán than về thân phận
mình. Mở đầu là hình ảnh một đêm thu lạnh lẽo, người cung nữ sống cô đơn trong
cung cấm đang hồi tưởng về nông nỗi cuộc đời mình. Nàng nhớ lại thuở còn chưa
vào cung. Nhan sắc lộng lẫy, tài cầm, kỳ, thi, tửu đều hơn người, tiếng tăm
vang lừng khắp trong nước, khiến cho biết bao nhiêu vương tôn, công tử hâm mộ,
nhưng nàng vẫn chẳng để ý đến một ai.
… Câu
cầm tú đàn anh họ Lý
Nét đan
thanh bậc chị chàng Vương
Cờ tiên
rượu thánh ai đang
Lưu
Linh, Đế Thích là làng tri âm
Cầm
điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã
Địch
lầu thu đường gã Tiêu Lang
Dẫu
nghề tay múa miệng xang
Thiên
tiên cũng xếp nghê thường trong trăng…
Cung
oán ngâm khúc
Về sau,
những bậc hiền tài, nặng lòng thương dân yêu nước, không bao giờ xem thú tiêu
khiển “cầm, kỳ, thi, tửu” là thật hay, thật tốt, trái lại ôn tồn, răn dạy cháu
con: Đua chi chén rượu, câu thơ/ Thuốc lào ngon nhạt, nước cờ thấp cao (Nguyễn
Trãi,Gia huấn ca).
Nhưng ở
góc độ thể hiện tâm trạng, từ thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã để lại những vần thơ
đầy cảm xúc:
Chén
rượu câu thơ ấy hứng nồng
Ngõ
tênh hênh nằm cửa trúc
Say lểu
thểu đứng đường thông.
Thuật
hứng, 16.
Trong
Quốc Âm thi tập, Nguyễn Trãi có những vần thơ về rượu:
Túi thơ
bầu rượu quẩy xình xoàng
Khỏe
dụng đầm hâm mấy dặm trường…
Bài số
8.
hoặc:
- Chén
chăng lọ chuốc rượu la phù
Khách
đến ngâm chơi miễn có câu
Lòng
một tấc son còn nhớ chúa
Tóc hai
phần bạc bởi thương thu.
- …
Rượu năm ba chén đổi công danh
Ngoài
chưng phần ấy cầu đâu nữa
Cầu một
ngồi coi đời thái bình.
Tự
thán, số 10.
- …
Công danh lỡ đường vô sự
Non
nước ghê chốn hữu tình
Nào của
cởi buồn trong thuở ấy
Có thơ
đầy túi, rượu đầy bình.
Tự
thán, số 16.
- Ngủ
thì nằm, đói thì ăn
Việc
văn ai hỏi áo bô cằn
Tranh
trương vách nài chi bức
Đình
thưởng sen năng có gian
Vườn
quỳnh dầu chim kêu hót
Cõi
trần có trúc đứng ngăn
Già
(trà) vưỡn lấy rượu làm khỏe
Hoại
lại quen lòng khó khăn.
Tự
thán, số 40.
Còn
Nguyễn Bỉnh Khiêm tiêu diêu trong cảnh nhàn tản, đã hạ bút:
Một mai
một cuốc một cần câu
Thơ
thẩn dù ai vui thú nào
Ta dại
ta tìm nơi vắng vẻ
Người
khôn người đến chốn lao xao
Thu ăn
măng trúc đông ăn giá
Xuân
tắm hồ sen, hạ tắm ao
Rượu
đến gốc cây ta sẽ nhắp
Nhìn
xem phú quí tựa chiêm bao…
Bài
Nhắp rượu.
Và xem
đó như một lẽ sống để tránh xa thói đời.
Mạnh
mẽ, quyết liệt như Hồ Xuân Hương cũng có lúc ngao ngán cho phận hồng nhan, mượn
men rượu để quên đi thực tế phũ phàng, chua chát. Buồn thay, rượu càng uống
càng tỉnh, tỉnh để nhận rõ sự đời ngao ngán:
Chén
rượu hương đưa, say lại tỉnh,
Vầng
trăng bóng xế, khuyết chưa tròn.
Tự tình
Còn bà
Huyện Thanh Quan thì:
Bầu
giốc giang sơn say chấp rượu
Túi
lưng phong nguyệt nặng vì thơ.
Tức
cảnh chiều thu
Nguyễn
Công Trứ thì tỏ thái độ qua những vần thơ ngông ngạo với đời:
- Ai
say, ai tỉnh, ai thua được,
Ta mặc
ta, mà ai mặc ai.
- Thơ
một túi, phẩm đề câu nguyệt lộ,
Rượu ba
chung, tiêu sái cuộc yên hà.
- Thơ
một túi gieo vần Đỗ, Lý
Rượu
lưng bầu rót chén lưu linh.
Cầm kỳ
thi tửu, bài 3.
Một bài
khác của Nguyễn Công Trứ:
Trời
đất cho ta một cái tài,
Giắt
lưng dành để tháng ngày chơi.
Dở
duyên với rượu không từ chén,
Trót nợ
cùng thơ phải chuốt lời.
Cờ sẵn
bàn sơn, xe ngựa đó,
Đàn còn
phím trúc, tính tình dây.
Ai say,
ai tỉnh, ai thua được,
Ta mặc
ta, mà ai mặc ai.
Bài Cầm
kỳ thi tửu.
Và một
bài nữa, bài Thú uống rượu của Nguyễn Công Trứ:
Đánh ba
chén rượu khoanh tay giấc
Ngâm
một câu thơ vỗ bụng cười
Cái
công danh là cái nợ đời
Đường
thản lý cát nhân chi đã vội
Giắt
lòng giang sơn vào nửa túi
Rót
nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu
Cảnh
cùng thông ai có bận chi đâu
Mùi
tiêu sái trần gian âu mấy nhỉ.
Bởi
trót đã khuya sớm với rượu nên nhà thơ ngày đêm vẫn uống cho dù mặc người đời
khen hay chê thì cứ bỏ ngoài tai, miễn sao vào vòng cương tỏa chân vẫn không
vướng, tới cuộc trần ai, áo cũng chẳng hoen:
Trót đà
khuya sớm với ma men,
Mặc kệ
người chê, mặc kệ khen.
Ngó lại
hàng rào hương cúc lộn,
Trông
ra cửa sổ bóng trăng chen.
Vào
vòng cương tỏa chân không vướng,
Tới
cuộc trần ai áo chẳng hoen.
Cứ
những ai hay tình thú ấy,
Có
chăng Bành Trạch với Thanh Liên.
Bài
Uống rượu tự vịnh của Nguyễn Công Trứ.
Trong
bài Cầm kỳ thi tửu của Nguyễn Công Trứ, ta thấy mấy món ăn chơi thanh lịch bổ
túc cho nhau:
Tiếng
đàn hay, làm cơ sáng nước
Ý thơ
vui, vì rượu say nồng.
Thơ túi
rượu bầu là hình ảnh của người đã thoát vòng danh lợi và là phần thưởng của kẻ
đã trả xong nợ đời.
Nợ tang
bồng trang trắng, vỗ tay reo
Thảnh
thơi thơ túi rượu bầu.
Chí làm
trai - Nguyễn Công Trứ
và…
Hẹn với
lợi danh ba chén rượu
Vui
cùng phong nguyệt một bầu thơ.
Thoát
vòng danh lợi - Nguyễn Công Trứ
Cùng là
“uống rượu tiêu sầu” nhưng ở Cao Bá Quát đã có một phong vị khác thường, nó nói
lên con người này không chỉ có chất Lão - Trang “Mảnh hình hài không có có
không”, nhàn tản “Trầm tư bách kế bất như nhàn”, mà còn có một cái nhìn bao
trùm “cửu hoàn”, “kim cổ” - cái kích thước ấy, không phải chỉ để “nói chí” mà
quả là có cái phi thường:
Ba vạn
sáu ngàn ngày là mấy?
Cảnh
phù du trông thấy đã nực cười.
Thôi
công đâu chuốc lấy sự đời,
Tiêu
khiển một vài chung lếu láo.
Đoạn
tống nhất sinh duy hữu tửu,
Trầm tư
bách kết bất như nhàn.
Dưới
thiều quang thấp thoáng bóng Nam San,
Ngoảnh
mặt lại cửu hoàn coi cũng nhỏ.
Khoảng
trời đất cổ kim kim cổ,
Mảnh
hình hài không có có không.
Lọ là
thiên tứ vạn chung.
Và đây
là bài “Uống rượu tiêu sầu” thứ hai, cũng trích trong Cao Bá Quát toàn tập, tập
I, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, NXB Văn học, 2004.
Thế sự
thăng trầm quân mạc vấn,
Yên ba
thâm xứ hữu ngư châu.
Vắt tay
nằm nghĩ chuyện đâu đâu,
Đem
mộng sự đọ với chân thân thì cũng hết.
Duy
giang thượng chi thanh phong,
Dữ sơn
gian chi minh nguyệt.
Kho
trời chung, mà vô tận của mình riêng.
Cuộc
vuông tròn phó mặc khuôn thiêng,
Ai
thành thị, ai vui miền lâm tẩu.
Gõ nhịp
lấy, đọc câu “Tương tiến tửu”:
“Quân
bất kiến
Hoàng
Hà chi thủy thiên thượng lai,
Bôn lưu
đáo hải bất phục hồi”.
Làm chi
cho mệt một đời.
Đối với
Cao Bá Quát nhìn hơi men là để nhìn đời, nhìn người:
Phong
tiền tửu điếm hữu mỹ tửu - (Hễ) quán rượu ở đầu gió có rượu ngon.
Tỉnh
giả thường thiểu, túy giả đồng - (Thì) ít người tỉnh mà vô số người say.
Rồi phó
mặc cho thế sự:
Thôi
công đâu chuốc lấy sự đời
Tiêu
khiển một vài chung lếu láo.
Uống
rượu tiêu sầu.
Trước
khi chúng tôi dành khá nhiều trang để nói về rượu trong Truyện Kiều, xin mời
quý bạn đọc lại bài thơ về rượu rất hay của đại thi hào Nguyễn Du. Bài thơ chữ
Hán có tựa đề Đối tửu, tạm dịch như sau:
Ngồi
xếp bằng tròn trước cửa sổ,
rượu
vào hơi say, mắt lim dim
Vô số
cánh hoa rơi trên thềm rêu xanh
Lúc
sống, không uống cạn chén rượu
Chết
rồi, ai rưới lên mồ cho?
Sắc
xuân thay đổi dần, chim hoàng oanh bay đi
Năm
tháng ngầm thôi thúc đầu bạc
Cuộc
đời trăm năm, chỉ mong say suốt ngày
Thế sự
như đám mây nổi, thật đáng buồn.
Nhân
vật Thúy Kiều chịu cảnh thân lươn bao quản lấm đầu trong kiếp hồng nhan mong
manh thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần. Thế nhưng đời nàng cũng có lúc nồng
ấm với men tình, men rượu, có lúc đắng cay tủi nhục với những cơn say túy lúy.
Lần đầu tiên, rượu đến với Kiều như men tình hạnh phúc cùng chàng Kim Trọng:
Thêm
nến giá, nối hương bình,
Cùng
nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.
Chén
quỳnh chứng cho lời minh sơn thệ hải. Nhưng bể dâu biến đổi, Kiều phải thăng
trầm trong bước đường lưu lạc. Kiều rơi vào lầu xanh của mụ Tú Bà, chấp nhận
cái cảnh Biết bao bướm lả ong lơi/ Cuộc say đầy tháng trận cười suốt đêm cho
đến:
Khi
tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật
mình, mình lại thương mình xót xa.
Truyện
Kiều từ trước tới nay vẫn được coi là một tác phẩm văn học cổ điển ưu tú trong
lịch sử văn học nước ta, được phổ biến rất rộng rãi trong nhân dân. Dưới rất
nhiều hình thức, như: lẩy Kiều, tập Kiều, bói Kiều, đố Kiều… Gần 200 năm từ khi
Truyện Kiều ra đời tới nay, nhân loại đã tốn không biết bao nhiêu là giấy mực
để bàn tới nó. Nói chuyện “văn nghệ giữa đời thường”, chúng tôi đã sưu tầm được
và biên soạn chữ Tửu trong Truyện Kiều của Hồ Tĩnh Tâm, do kỷ lục gia nghiên
cứu truyện Kiều Phan Đan Quế cung cấp đôi nét về THI - TỬU trong Truyện Kiều -
Vốn là một đề tài từ trước tới nay hình như rất ít người đề cập.
Cứ như
Nguyễn Du miêu tả, thì Thúy Kiều tài sắc vẹn toàn, có thể làm xiêu thành đổ
quách; nhưng dường như trong số kiếp đã ẩn sẵn “một thiên bạc mệnh”. Chính vì
vậy, khi tình yêu giữa nàng và chàng Kim mới vừa chớm nở, họ đã lập tức thành
tâm giao tâm đắc, tri kỷ tri âm, cùng vịnh thơ với nhau, nâng bầu mời rượu với
nhau. Ưu ái cho tình yêu của đôi trai tài gái sắc, chỉ trong một ngày, Nguyễn
Du đã phóng tay, để cho họ được tới hai lần uống rượu với nhau.
Lần thứ
nhất vào ban ngày. Nhân cha mẹ và hai em về dự sinh nhật bên ngoại, Thúy Kiều
đã tìm đến tận thư phòng của Kim Trọng để tình tự. Kiều vẽ tranh Đạm Thanh.
Chàng Kim thảo vài câu thơ vào tranh ấy. Rồi hai người chuốc rượu mời nhau. Xét
theo quan điểm “nam nữ thụ thụ bất thân”, việc chỉ có hai người với nhau trong
thư phòng vắng vẻ, đã là một điều cấm kỵ; đằng này, cụ Nguyễn còn giải phóng
cho họ nâng ly mời nhau, thì… cụ Nguyễn quả là người đi tiên phong đầu tiên
trong lĩnh vực giải phóng phụ nữ.
Phải
chăng đây là lần đầu Kiều uống rượu:
Đủ điều
trung khúc ân cần,
Lòng
xuân phơi phới chén xuân tàng tàng.
“Trung
khúc” là khúc lòng thầm kín. “Đủ điều trung khúc ân cần” là hai người nói với
nhau rất nhiều về nỗi niềm thầm kín của lứa đôi. Đã vậy lại còn thêm chén rượu
nồng đưa đẩy, đến mức “lòng xuân phơi phới chén xuân tàng tàng”. “Chén xuân” là
chén rượu tỏ tình yêu. Càng uống càng thấy “lòng xuân” tràn đầy tình yêu “phơi
phới”, đến mức đã “tàng tàng” với nhau, tức cả hai đều đã ngà ngà vì nhau và vì
rượu. Không biết cuộc hàn huyên bắt đầu từ bao giờ. Nhưng chắc chắn là nó đã
kéo dài tới mức cả hai đều quên cả thời khắc, nên mới giật mình nhận thấy:
“Trông ra ác đã ngậm sương non đoài”.
Uống
như vậy gọi là uống rượu tình trong buổi đầu bày tỏ. Chỉ có hai người thôi. Cụ
Nguyễn thật là khéo. Vậy mà nào đã thôi đâu. Liền đó, cụ Nguyễn đã mạnh bạo đi
thêm nước cờ thứ hai, mà tôi dám đoan chắc rằng, toàn bộ giai cấp thống trị
phong kiến, và những nhà hủ nho phong kiến, nhất định sẽ phải giãy nảy lên mà
la làng. Vì cụ Nguyễn đã cách tân quá thể, khi cụ dám để Thúy Kiều ngay trong
đêm hôm đó, khi vừa mới chia tay trở về, đã lập tức quay ngay trở lại, bằng
cách “xăm xăm băng nẻo vườn khuya một mình”. Quả là táo bạo tới không tưởng
nổi. Thân gái đêm hôm, dám một mình xăm xăm đi tắt tới nhà trai. Vào thời ấy,
hẳn chỉ có Nguyễn Du mới dám viết như vậy.
Và cuộc
rượu ái tình lần này mới thật là đáng nhớ. Thơ Nguyễn Du dành cho họ, cứ như
chảy tràn ra từ đáy cốc; lóng lánh ngời lên tình yêu đôi lứa.
Tóc tơ
căn vặn tấc lòng,
Trăm
năm tạc một chữ đồng đến xương.
Chén hà
sánh giọng quỳnh tương,
Dải là
hương lộn bình gương bóng lồng.
Quả là
phong lưu, phong vận, tao nhã và đài các. Không gian hẹp, không gian rộng đều
tuyệt cả. Trong phòng thì lửa nến, hương trầm; ngoài trời thì vầng trăng vằng
vặc. Không gian ấy, thời gian ấy, cảnh ấy… sinh tình xiết bao. Họ không chỉ nói
với nhau lời vàng đá, mà còn thảo ra lời vàng đá, rồi cùng nhau thề thốt đinh
ninh “hai mặt một lời” với bầu xanh cao vòi vọi.
Lần đầu
gặp nhau “trong tiết tháng ba”, “Vương Quan quen mặt ra chào”, còn “hai Kiều e
lệ nép vào dưới hoa”, ấy vậy mà Kim, Kiều đã đem lòng tương tư. Lần thứ hai gặp
nhau nâng chén, hai bên đã lập tức bày tỏ nỗi niềm thầm kín trắc ẩn. Còn lần
này thì họ đã vượt lên tất cả lệ luật của đạo giáo và của thời đại. Họ tự xe
duyên bằng “tóc tơ căn vặn tấc lòng, trăm năm tạc một chữ đồng đến xương”. Họ
đâu cần ông tơ bà nguyệt. Chất “anh hùng ca” của tình yêu tự “giải phóng” là ở
chỗ đó. Thúy Kiều đâu phải là cô gái “ngoan thảo” chịu chấp nhận “cha mẹ đặt đâu
con ngồi đấy”. Thúy Kiều là hiện thân của tư tưởng tự giải phóng khỏi ràng buộc
lễ nghi phong kiến. Đó chính là tư tưởng của Nguyễn Du, tình yêu của Nguyễn Du,
đối với một tầng lớp nhân dân bị đè nén và ràng buộc bởi tư tưởng phong kiến,
đạo giáo phong kiến, và lề luật phong kiến, tới mức thống khổ.
Nếu như
“tiên tửu” là một cách uống đẹp, thì cuộc rượu “tiên thề” của chàng Kim và nàng
Kiều cũng là một cách uống đẹp (tôi gọi là “tình tửu” hay “đôi lứa tửu”) -
“Chén hà” là chén ngọc nhuốm ráng chiều, rực lên. “Quỳnh tương” là rượu quý.
Chén quý không thể rót rượu xoàng. Rượu quý không thể uống chén xoàng. Chén và
rượu phải “sánh giọng” với nhau. “Dải là hương lộn” là những dải lụa ở trong
thư phòng đều có tẩm mùi trầm hương bay lộn lên mà thấm vào. “Bình gương bóng
lồng”. “Bình” là bức bình phong trong thư phòng. “Gương” là tấm gương soi gắn
trên bình phong. “Bình gương bóng lồng” là bóng hai người lồng vào nhau trong
tấm gương soi trên bức bình phong. Thiết nghĩ, chỉ với hai câu lục bát, thì
không thể nào còn có thể tả hay hơn và đẹp hơn về cảnh đôi lứa nâng ly thề
nguyền được nữa!
Hơn 10
năm trước đây, Hồ Tĩnh Tâm cho biết, khi cùng Hoàng Dân viết cuốn Luận về
Truyện Kiều (NXB Thanh Niên, 2002), chúng tôi, không hiểu sao lại bỏ qua vấn đề
rượu trong Truyện Kiều rất thú vị này?! Nay mới được dịp dư dả thời gian, lại
được sự khuyến khích của mấy ông bạn thơ, bạn rượu, chuyên chú vào chỉ một đề
tài ấy, chúng tôi mới để tâm đọc kỹ lại Nguyễn Du - Truyện Kiều để cho bài khảo
luận này. Tất nhiên thơ cụ Nguyễn Tiên Điền thuộc loại thi ca kinh điển Việt
Nam: mênh mông, siêu uẩn, càng đọc càng hay, càng nghĩ càng ngợp, lời lời châu
ngọc, hàng hàng gấm thêu. Tài lực chúng tôi chỉ mong manh hạt bụi, nên đành
biết đâu nói đấy, bạo gan đánh trống qua cửa nhà sấm, không khỏi khiến các bậc
thức giả, các nhà Kiều học, các tửu đồ, thi nhân bốn phương chê cười… thì cũng
đành cam chịu tiếng hàm hồ, con oanh học nói… chứ còn biết làm sao cho thỏa tấm
lòng yêu kính Tố Như tiên sinh được đây!
Người
biên soạn công trình này cho biết:
Tổng số câu thơ/ lần trong Truyện Kiều nói về rượu và uống rượu là 28/28 trong tổng số 3254 câu thơ, (khoảng 2,9%); trải dài suốt quá trình phát triển của cốt truyện từ đầu (gia thế - gia biến - lưu lạc - đoàn viên) đến cuối. Nếu so sánh với các truyện Nôm hữu danh và khuyết danh khác, các văn tế, khúc ngâm thời trung đại ở Việt Nam thì Truyện Kiều có tổng số lần/ câu nói về rượu - uống rượu nhiều nhất, phong phú nhất.
Tổng số câu thơ/ lần trong Truyện Kiều nói về rượu và uống rượu là 28/28 trong tổng số 3254 câu thơ, (khoảng 2,9%); trải dài suốt quá trình phát triển của cốt truyện từ đầu (gia thế - gia biến - lưu lạc - đoàn viên) đến cuối. Nếu so sánh với các truyện Nôm hữu danh và khuyết danh khác, các văn tế, khúc ngâm thời trung đại ở Việt Nam thì Truyện Kiều có tổng số lần/ câu nói về rượu - uống rượu nhiều nhất, phong phú nhất.
Sau đây
là thứ tự câu, ngữ cảnh nói đến rượu - uống rượu trong Truyện Kiều và hoàn cảnh
xuất hiện (bản của Đào Duy Anh, NXB Văn học, 1979), theo trình tự cốt truyện:
Lần thứ
|
Thứ tự câu
|
Ngữ cảnh
|
Hoàn cảnh xuất hiện
|
1
|
424
|
Đủ điều trung khúc ân cần
Lòng xuân phơi phới, chén xuân tàng tàng.
Ngày vui ngắn chẳng đầy gang
|
Kiều - Kim gặp gỡ tại nhà trọ của Kim.
|
2
|
454
|
Chén hà sánh giọng quỳnh tương
Dải là hương lộn, bình gương bóng lồng.
|
Kiều - Kim cùng uống rượu sau lễ thề nguyền dưới trăng.
|
3
|
701
|
Thề hoa chưa ráo chén vàng
Lỗi thề, thôi đã phụ phàng với hoa.
|
Kiều ngồi một mình trong đêm, sau quyết định bán mình chuộc
cha.
|
4
|
727
|
Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề.
|
Trong đêm trao duyên.
|
5
|
1039
|
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng
Tin sương luống hãy rày trông mai chờ.
|
Tâm trạng Thúy Kiều khi ở lầu Ngưng Bích.
|
6
|
1230
|
Biết bao bướm lả ong lơi
Cuộc say đầy tháng, trận cười suốt đêm.
|
Cuộc sống của Kiều sau khi nàng buộc phải nhận tiếp khách.
|
7
|
1233
|
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình, xót xa!
|
Kiều một mình trong đêm tàn tại lầu xanh của Tú Bà.
|
8
|
1295
|
Khi gió gác, khi trăng sân,
Bầu tiên chuốc rượu, câu thần nối thơ.
|
Kiều - Thúc tại lầu xanh của Tú Bà.
|
9
|
1473
|
Mảng vui rượu sớm, cờ trưa
Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh.
|
Cuộc sống Kiều - Thúc tại nhà riêng ở Lâm Tri.
|
10
|
1499
|
Tiễn đưa một chén quan hà
Xuân đình thoắt đã đổi ra Cao đình.
|
Kiều tiễn Thúc về thăm Hoạn Thư - vợ cả.
|
11
|
1504
|
Cầm tay dài ngắn thở than
Chia phôi ngừng chén hợp tan nghẹn lời.
|
nt
|
12
|
1517
|
Chén đưa nhớ bữa hôm nay
|
nt
|
13
|
1518
|
Chén mừng xin đợi ngày rày năm sau.
|
nt
|
14
|
1571
|
Tẩy trần vui chén thong dong
Nỗi lòng ai ở trong lòng mà ra.
|
Hoạn Thư mở tiệc mừng chồng về thăm.
|
15
|
1834
|
Tẩy trần, mượn chén giải phiền đêm thu.
|
Hoạn Thư - Thúc Sinh uống rượu, Kiều hầu rượu.
|
16
|
1835
|
Vợ chồng chén tạc chén thù
|
|
17
|
1836
|
Bắt nàng đứng chực trì hồ hai nơi.
Bắt khoan bắt nhặt đến lời
Bắt quỳ tận mặt, bắt mời tận tay.
Sinh càng như dại như ngây.
|
Thúc Sinh vừa uống vừa khóc.
|
18
|
1840
|
Giọt dài giọt ngắn, chén đầy chén vơi
Ngảnh đi, chợt nói chợt cười.
|
Thúc cáo say, lảng ra.
|
19
|
1842
|
Cáo say, chàng đã tính bài lảng ra.
Tiểu thư vội thét: - Con Hoa!
Khuyên chàng chẳng cạn thì ta có đòn!
Sinh càng nát ruột tan hồn.
|
Thúc đành phải cạn chẽn nữa.
Hoạn lại bày tiếp trò chơi.
|
20
|
1846
|
Chén mời phải ngậm bồ hòn, ráo ngay!
|
|
21
|
Tiểu thư cười nói tỉnh say
|
||
22
|
1847
1848
|
Chưa xong cuộc rượu lại bày trò chơi.
|
|
23
|
2568
|
Bắt nàng thị yến dưới màn,
Dở say, lại ép cung đàn nhặt tâu
|
Hồ Tôn Hiến dở say, bắt Kiều đàn.
|
24
|
2590
|
Hạ công chén đã quá say
Hồ công đến lúc rạng ngày nhớ ra.
|
Hồ Tôn Hiến quá say trong tiệc.
|
25
|
3061
|
Tàng tàng chén cúc dở say,
Đứng lên, Vân mới giãi bày một hai.
|
Tiệc đoàn viên ở nhà họ Vương.
|
26
|
3135
|
Động phòng dìu dặt chén mồi
Bâng khuâng duyên mới, ngậm ngùi tình xưa.
|
Kiều - Kim uống rượu đêm động phòng.
|
27
|
3190
|
Thêm nến giá, nối hương bình
Cùng nhau lại chuốc chén quỳnh giao hoan.
|
nt
|
28
|
3223
|
Khi chén rượu, khi cuộc cờ,
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên.
|
Cuộc sống của Kiều sau đêm đem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ.
|
Cụ thể,
trong Truyện Kiều, chúng tôi nhận thấy:
- 18/28
lần tả - kể trực tiếp cảnh uống, say rượu.
- 6/28
lần tả cuộc sống, sinh hoạt của các nhân vật, tả thời gian trôi.
- 3/28
lần tả uống rượu buổi chia ly (Kiều - Thúc).
- 3 lần
tả uống rượu đoàn viên (Vân - Kiều - Kim).
- 14/28
lần tả tâm trạng nhân vật khi uống rượu, lúc say, lúc tỉnh.
Trong
Truyện Kiều, Kiều uống rượu cùng Kim Trọng tất cả 7 lần. 2 lần trong đoạn đầu:
gặp gỡ - thề bồi; 2 lần trong đêm đoàn viên - hội ngộ. Còn 3 lần trong thời
gian gia biến - lưu lạc được Nguyễn Du tái hiện trong hồi ức của Kiều chỉ nhớ
về lần uống thứ hai. Sau khi cùng chàng Kim quỳ bái dưới trăng: Tóc tơ căn vặn
tấc lòng/ Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương, thì đến cảnh: Chén hà sánh giọng
quỳnh tương/ Giải là hương lộn, bình gương bóng lồng… sống lại trong trí nhớ
của Kiều như vừa mới… đêm qua. Như vậy, thực tế Kiều - Kim đối ẩm có 4 lần.
Giữa 2 lần đầu và 2 lần cuối cách nhau dằng dặc một khoảng thời gian 15 năm.
Cuối
thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Nguyễn Khuyến với bao tâm trạng khi phải cáo quan về
quê nhà sống cuộc đời thanh đạm, cũng mượn rượu để giải khuây đầy vơi tâm sự.
Chúng tôi xin dẫn một số đoạn trích và một vài bài thơ của cụ Tam Nguyên Yên Đổ
Nguyễn Khuyến.
Trổ tài
muốn học ông say,
Thì ba
trăm chén dốc ngay cạn bầu.
Khi
Dương Khuê mất, tất cả dường như đã chấm dứt với cụ Yên Đổ:
Bác
Dương thôi đã thôi rồi
Nước
mây man mác ngậm ngùi lòng ta
Nhớ từ
thuở đăng khoa ngày trước
Vẫn sớm
hôm tôi bác cùng nhau
… Có
khi từng gác cheo leo
Thú vui
con hát lựa chiều cầm xoang
Cũng có
lúc rượu ngon cùng nhắp
Chén
quỳnh tương ăm ắp bầu xuân
Có khi
bàn soạn câu văn
Biết bao
đông bích điển phần trước sau
… Ai
chẳng biết chán đời là phải
Sao vội
vàng đã mải lên tiên
Rượu
ngon không có bạn hiền
Không
mua không phải không tiền không mua.
RƯỢU
Trời
sinh ăn uống đã thành quen,
Nghi
Địch trời con đáng đặt tên!
Nghiêu,
Thuấn trước không bài Tửu cáo,
Thương,
Chu mới có tiệc Tân diên.
Ví cho
men gạo dùng không tốt,
Sao ở
văn chương tiếng vẫn truyền?
Nhìn
lại bọn ta đâu vắng cả?
UỐNG
RƯỢU MÙA THU
Năm
gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối
đêm sâu đóm lập lòe.
Lưng
giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao
lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời
ai nhuộm mà xanh ngắt,
Mắt lão
không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu
tiếng rằng hay, hay chẳng mấy,
Độ năm
ba chén đã say nhè.
UỐNG
RƯỢU Ở VƯỜN BÙI
Túy ông
ý chẳng say về rượu,
Say vì
đâu nước thẳm với non cao.
Non
lạnh ngắt, nước tuôn ào
Tôi với
bác xưa nay cùng thích thế!
Đời
trước thánh hiền đều vắng vẻ,
Có
người say rượu tiếng còn nay
Cho nên
say, say khướt cả ngày,
Say mà
chẳng biết rằng say ngã đùng
Chú Ba
Nhân thuở trước sang sông,
Chỉ
tỉnh rượu ba ngày không phải ít
Kêu gào
thế cười chi cho mệt
Chớ
buồn chi nghe tiếng hát làng say
Xin
ngươi gắng cạn chén này.
CHƠI
TÂY HỒ
Thuyền
lan nhè nhẹ,
Một con
chèo đủng đỉnh dạo hồ Tây.
Sóng
dập dờn sắc nước lẫn chiều mây
Bát
ngát nhẽ, ghẹo người du lãm
Yên
thủy mang mang vô hạn cảm,
Ngư
long tịch tịch thục đồng tâm.
Rượu
lưng bầu mong mỏi bạn tri âm,
Xuân
vắng vẻ biết cùng ai ngâm họa?
Gió hây
hây nức mùi hương xạ,
Nhác
trông lên vách phấn đã đôi bài.
Thơ ai
xin họa một bài!
ĐẠI LÃO
Năm nay
tớ đã bảy mươi tư,
Rằng
lão, rằng quan tớ cũng ừ.
Lúc
hứng, uống thêm dăm chén rượu,
Khi
buồn ngâm láo một câu thơ.
Bạn già
lớp trước nay còn mấy?
Chuyện
cũ mười phần chín chẳng như.
Cũng
muốn sống thêm dăm tuổi nữa,
Thử xem
trời mãi thế này ư?
SAU KHI
SAY
Năm
chục xuân thu, nửa mẫu ao,
Trước
song nằm khểnh thảnh thơi sao.
Bùn
sâu, mặt nước sen che kín,
Gió
cuốn, ven đường cỏ lướt theo.
Câu vặt
chi cần người khác thưởng,
Cảnh
nhàn chỉ có rượu thêm hào.
Xuân
tàn, mắt lóa trông nào rõ,
Chỉ
thấy lơ mơ ánh nắng chiều.
CHỪA
RƯỢU
Những
lúc say sưa cũng muốn chừa,
Muốn
chừa nhưng tính lại hay ưa.
Hay ưa
nên nỗi không chừa được
Chừa
được nhưng mà cũng chẳng chừa.















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét