Sự sinh tồn của các ngôn ngữ
Do ảnh hưởng của những nhân tố khách quan và chủ quan (dân số, văn hóa - ngôn
ngữ, tâm lý - xã hội, chính sách ngôn ngữ và sự việc thực thi chính sách ngôn
ngữ này), nên nhiều ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam đang suy yếu. Một
số bộ phận đáng kể người dân tộc thiểu số quên tiếng dân tộc mình. Việc
bảo tồn và phát triển ngôn ngữ dân tộc thiểu số cần phải được chú ý hơn nữa. Bởi vì đây là một nét bản sắc trong văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, đồng
thời cũng là phương tiện giúp cho việc giáo dục, truyền thông và phát triển
kinh tế - xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số.
1. Mở đầu:
Nguy cơ tiêu vong không những là nguy cơ đối với ngôn ngữ các
dân tộc thiểu số ở Việt Nam, mà là nguy cơ đối với các ngôn ngữ khác trên toàn
cầu. Thuật ngữ “ngôn ngữ nguy cấp” (endangered languages) ngày càng được
nhiều người sử dụng, đặc biệt trong ngôn ngữ học thế giới. Báo cáo điều tra của
tổ chức Worldwatch cảnh báo:
nhiều ngôn ngữ trên thế giới hiện nay đang thực sự đứng trước khả năng bị tiêu
vong vào cuối thế kỷ XXI. Thế giới đang ngày càng mất đi sự đa dạng về ngôn ngữ
và văn hóa; trên thế giới hiện nay có khoảng 6.800 ngôn ngữ khác nhau, trong đó
có 3.400 (50%) đến 6.120 (90%) ngôn ngữ có nguy cơ bị tiêu vong vào năm 2100.
David Crystal cho rằng, trong vòng 100 năm trở lại đây, cứ hai tuần lại có một
ngôn ngữ bị tiêu vong [9]. Suzanne Romaine khẳng định, ngày càng nhiều ngôn ngữ
trên thế giới bị mai một. Theo tác giả, 60% đến 90% số ngôn ngữ trong tổng số ngôn
ngữ trên thế giới có thể sẽ phải đối mặt với nguy cơ tiêu vong trong vòng 100
năm tới [10, tr.115- 132]. Một số tác giả đưa ra nhận xét: ở thời hiện đại, cứ
một thế kỷ thì 50% số ngôn ngữ sẽ bị mất. Có người lại đưa ra con số: do tác động
của toàn cầu hóa, trong thế kỷ XXI, khoảng 90% số ngôn ngữ trên thế giới sẽ chỉ
còn trong ký ức của nhân loại. Nhân “Ngày Quốc tế về tiếng mẹ đẻ”
(21/2), Tổ chức
Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công bố kết
quả một nghiên cứu cho rằng, một nửa trong số ngôn ngữ trên thế giới đang có
nguy cơ biến mất [11]. Lời cảnh báo trên không loại trừ đối với thực tế Việt
Nam: nguy cơ tiêu vong đang đe dọa phần lớn các ngôn ngữ.
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Việt Nam có 54 dân tộc,
tổng số dân là 85.846.997 người. Trong số 54 dân tộc, dân tộc Kinh có dân số
73.594.427 người, chiếm 85,6 % tổng dân số cả nước, là dân tộc đa số. Với dân
số 12.252.570 người, chiếm 14,4 % tổng dân số, 53 dân tộc còn lại là các dân tộc
thiểu số. Trong Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam (do Tổng cục
Thống kê công bố ngày 21/03/1989), trên lãnh thổ Việt Nam có các dân tộc anh em
cùng chung sống, bao gồm:
Kinh, Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông, Nùng, Hoa, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán
Chay, Chăm, Cơ Ho, Xơ Đăng, Sán Dìu, Hrê, Ra Glai, Mnông, Xtiêng, Thổ, Bru -
Vân Kiều, Khơ Mú, Cơ Tu, Giáy, Ta Ôi, Mạ, Gié - Triêng, Co, Chơ Ro, Xinh Mun,
Hà Nhì, Chu Ru, Lào, Kháng, La Chí, Phù Lá, La Hủ, La Ha, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt,
Lô Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Brâu, Ơ Đu.
Như cách hiểu phổ biến, tương ứng với 54 dân tộc thiểu số phải
là 54 ngôn ngữ. Tuy nhiên, trên thực tế thì tình hình lại không đơn giản vậy.
Hiện nay, việc xác định một cách chính xác số lượng các ngôn ngữ ở Việt Nam
đang có những khó khăn nhất định. Từ thực tế nghiên cứu trong nhiều năm gần
đây, có thể khẳng định: số lượng các ngôn ngữ ở Việt Nam phải lớn hơn con số
54. Có dân tộc thiểu số gồm các nhóm với những tiếng mẹ đẻ khác nhau. Theo một
số tài liệu: Việt Nam có khoảng trên 90 ngôn ngữ khác nhau và rất
nhiều các tiếng địa phương (phương ngữ, thổ ngữ). Các ngôn ngữ này đại diện cho 5 ngữ hệ: Nam Á, Thái - Kađai, Nam Đảo, Mông - Miền và Hán - Tạng.
nhiều các tiếng địa phương (phương ngữ, thổ ngữ). Các ngôn ngữ này đại diện cho 5 ngữ hệ: Nam Á, Thái - Kađai, Nam Đảo, Mông - Miền và Hán - Tạng.
Như vậy, thành phần ngôn ngữ tham gia vào cảnh huống ngôn ngữ
ở Việt Nam đã tạo nên một bức tranh đa thành tố, nhiều màu sắc. Nhìn khái quát,
mỗi cộng đồng dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều có tiếng mẹ đẻ (hay “ngôn ngữ tộc
người”), đồng thời sử dụng tiếng Việt (tiếng dân tộc Kinh) làm ngôn ngữ giao tiếp
chung (gọi là “tiếng phổ thông”). Bài viết trình bày về các nhân tố ảnh
hưởng, mức độ sinh tồn của các ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay, đặc
biệt là ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trước nguy cơ tiêu vong (3).
2. Những nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh tồn của các ngôn ngữ
ở Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh tồn của các ngôn ngữ
ở Việt Nam bao gồm các nhân tố khách quan và chủ quan. Trong đó chủ yếu là
các nhân tố: dân số, văn hóa - ngôn ngữ, tâm lý xã hội, chính sách của nhà nước...
2.1. Nhân tố dân số
Ở Việt Nam, số người nói các ngôn ngữ dân tộc thiểu số không
nhiều (đặc biệt ít so với tiếng Việt). Các dân tộc thiểu số có số dân trên một
triệu người rất ít (Tày, Thái, Mường, Khmer). Hầu hết dân tộc thiểu số ở Việt
Nam có dân số dưới 1 triệu người. Các dân tộc dưới 10 ngàn người là La Hủ, La
Ha, Pà Thẻn, Lự, Ngái, Chứt, Lô Lô, Mảng, Cơ Lao, Bố Y, Cống, Si La, Pu Péo, Rơ
Măm, Brâu, Ơ Đu. Các dân tộc thiểu số ở Việt Nam lại thường cư trú phân tán xen
kẽ với các dân tộc khác, do đó, số lượng người nói một ngôn ngữ trong một đơn vị
hành chính không cao và không tập trung. Số người nói được các ngôn ngữ dân tộc
thiểu số thường thuộc lứa tuổi già và trung niên. Nhiều trẻ em không biết (chuyển
sang nói ngôn ngữ khác) hoặc nói ngôn ngữ khác nhiều hơn, thạo hơn so với tiếng
mẹ đẻ của mình. Tóm lại, ngôn ngữ các dân tộc thiểu số có xu hướng được sử dụng
giảm dần ở các thế hệ, trong đó thế hệ trẻ có xu hướng ưu tiên tiếng Việt và
các ngoại ngữ hơn tiếng mẹ đẻ của mình. Theo lẽ tự nhiên, các ngôn ngữ có số lượng
người nói ít, phân tán, không có nhiều độ tuổi sử dụng... thì rất cần báo động
về sự sinh tồn của chúng.
2.2. Nhân tố văn hóa - ngôn ngữ
Hiện nay, quá nửa số dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã có chữ viết.
Đó là các dân tộc Tày, Thái, Hoa, Khmer, Nùng, Mông, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na,
Chăm, Sán Chay, Xơ Đăng, Hrê, Cơ Ho, Cơ Tu, Ra Glai, M'nông, Xtiêng, Bru - Vân
Kiều, Lô Lô, Gié-Triêng, Co, Chơ Ro, Lào, Pà Thẻn, Lự... Các dân tộc này có hệ
thống chữ cổ truyền hoặc mới, có chữ dạng vuông gốc Hán (trong đó có các hệ chữ
Nôm), dạng Sanskrit, dạng Latinh
và cả dạng chữ hình vẽ. Có dân tộc có tới vài ba bộ chữ (Chăm, Thái, Tày,
Mông...).
Trong đời sống,
chữ viết (một dạng của ngôn ngữ) có vai trò đáng kể trong bảo tồn và phát triển
ngôn ngữ (để giáo dục; biên soạn các sách công cụ như từ điển, ngữ pháp, sách
giáo khoa; để hình thành ngôn ngữ văn học...), giúp cho việc ghi chép và truyền
bá các tác phẩm nghệ thuật truyền thống và sáng tác mới, dùng trong in ấn,
phát thanh và truyền hình. Chính chữ viết giúp cho ngôn ngữ có thể phát huy chức
năng xã hội rộng lớn hơn, là điều kiện để sinh tồn cho các ngôn ngữ.
Tuy nhiên, trên thực tế, các hệ thống chữ dân tộc thiểu số
nói trên có phạm vi sử dụng rất hẹp, chưa được nhiều người biết, nên không có
được ích lợi rõ rệt. Ngoài ra, vẫn còn gần một nửa số dân tộc chưa có chữ viết.
Một số ngôn ngữ chỉ ở dạng lời nói, chưa được ghi bằng chữ, thì khó trở thành
ngôn ngữ văn học, không có được vai trò tích cực trong việc làm nên những thành
tựu văn hoá cũng như bảo tồn, kế thừa và phát triển chúng.
Không thể không nhắc tới vai trò của tôn giáo với ngôn ngữ
các dân tộc thiểu số. Ở Việt Nam, hầu hết các hệ thống chữ viết gắn với tôn
giáo tín ngưỡng. Trong nhà thờ và chùa chiền, các tu sĩ và nhà sư sử dụng các
ngôn ngữ dân tộc thiểu số để truyền đạo, với các bản dịch Kinh thánh, những lời
giảng đạo, thánh ca, những câu chuyện mang màu sắc cổ tích về Đức Chúa Trời và
Đức Phật, đã góp phần khiến các ngôn ngữ được sử dụng tích cực, trở nên phong
phú về từ vựng và cách diễn đạt. Chữ Quốc ngữ (chữ ghi tiếng Việt) ra đời trong
một hoàn cảnh rất đặc biệt, gắn liền với lịch sử mở đạo, với vai trò của các
giáo sĩ Dòng Tên ở Đàng trong (từ năm 1615), nhờ vậy có vai trò tích cực đối với
tiếng Việt. Tuy nhiên, ở các dân tộc thiểu số Việt Nam, chữ ghi tiếng dân
tộc không phổ biến.
Hiện nay, ở vùng đồng bàocác dân tộc thiểu số, việc sử dụng
đồng thời hai ngôn ngữ (tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số) là
phổ biến. Tuy nhiên, số người thuộc các dân tộc thiểu số biết tiếng mẹ đẻ thật
sự sâu sắc, biết chữ và tạo lập được văn bản bằng chữ, còn rất ít. Đa số ngôn
ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay không được truyền dạy có tổ chức,
chỉ được truyền dạy tự nhiên hoặc đang “thử nghiệm”, và chỉ được dùng dưới dạng
khẩu ngữ, trong phạm vi gia đình, làng bản, thường bị các ngôn ngữ của các dân
tộc có số dân lớn hơn (trong đó có tiếng Việt) lấn át trong rất nhiều hoàn cảnh
giao tiếp, kể cả ở gia đình, làng bản. Tiếng nói riêng của các dân tộc thiểu số
hiện đang đứng trước nguy cơ bị lãng quên, hoặc pha trộn đến mức nhiều khi mất
cả nét bản sắc, bị giảm thiểu các chức năng xã hội, chỉ được dùng trong một số
hoàn cảnh giao tiếp nhất định ở gia đình và làng xóm, chỉ ở dạng khẩu ngữ
(không ở dạng ngôn ngữ thành văn với sự tham gia của chữ viết...), trở nên
nghèo nàn và kém dần sức biểu cảm do không được bảo tồn và phát triển.
Ở Việt Nam trước đây và hiện nay, có một số ngôn ngữ dân tộc
thiểu số được sử dụng như đối tượng hoặc phương tiện dạy - học (hoặc vừa là đối
tượng vừa là phương tiện) trong một số trường phổ thông và các cơ sở giáo dục
khác ở vùng dân tộc thiểu số ở một phạm vi và hoàn cảnh nhất định, chủ yếu là
“thử nghiệm”). Đó là ngôn ngữ các dân tộc H'mông, Chăm, Khmer, Gia Rai, Hoa, Ê
Đê, Thái, Xơ Đăng... Một số ngôn ngữ đang được sử dụng trên Đài Tiếng nói Việt
Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, kênh VTV5, các đài phát thanh và truyền hình địa
phương. Ví dụ ngôn ngữ các dân tộc: Khmer, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Chăm, Mông,
Thái, Xơ Đăng, Tày, Hà Nhì, Hrê, Cơ Tu... Một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số đã
được sử dụng để in ấn (bằng chữ của các dân tộc này) các tác phẩm văn nghệ truyền
thống, các sáng tác mới; để biên soạn các từ điển đối chiếu song ngữ, các sách
miêu tả ngữ pháp, các sách giáo khoa (như ngôn ngữ các dân tộc H'mông, Thái,
Chăm, Ba Na, M'nông, Xơ Đăng, Cơ Ho, Ta ôi, Bru - Vân Kiều, Ra Glai, Hrê, Gia
Rai, Ê Đê, Khmer...). Đây thường là tiếng nói của các dân tộc có số dân đông
(như một nghịch lí: ngôn ngữ có số người nói ít - tức là có nguy cơ tiêu vong lớn,
thì lại rất ít được quan tâm).
Theo lẽ tự nhiên, một ngôn ngữ ít được truyền dạy và sử dụng trong đời sống cộng đồng, thì sức sống rất hạn chế.
Theo lẽ tự nhiên, một ngôn ngữ ít được truyền dạy và sử dụng trong đời sống cộng đồng, thì sức sống rất hạn chế.
Cho đến nay, có không ít các ngôn ngữ ở Việt Nam được nghiên
cứu. Nhiều công trình đã được xuất bản (cả về nghiên cứu cơ bản lẫn thực hành).
Từ những năm 90 của thế kỉ XX, trong khuôn khổ hợp tác Việt - Xô (từ 1979, sau
này là Việt - Nga), chương trình “Hợp tác Việt - Xô (sau này là Việt - Nga) khảo
sát điền dã ngôn ngữ dân tộc thiểu số Việt Nam” đã điều tra nhiều ngôn ngữ
làm cơ sở biên soạn nhiều công trình Tiếng Xinhmul (1990), Tiếng Pu Péo (1992),
Tiếng Rục (1993), Tiếng Cơ Lao (2011).Viện Ngôn ngữ học Việt Nam tiếp tục các
chương trình nghiên cứu về tiếng nói và chữ viết có nguy cơ mai một. Tư liệu điều
tra (1997 - 1999) của Dự án điều tra tổng thể về các ngôn ngữ dân tộc
thiểu số ở Việt Nam đã được xử lí bằng công nghệ số hóa và CD - ROM. Có
thể kể đến một số cuốn sách chuyên khảo về từng ngôn ngữ đã được biên soạn: Tiếng
Pu Péo (1992), Tiếng Rục (1993), Tiếng Hà Nhì (2001), Tiếng Mảng (2008)… Tuy
nhiên, những nghiên cứu này nhìn chung chưa ở diện rộng và sâu, phần lớn chưa
được ứng dụng vào thực tế.
2.3. Nhân tố tâm lý - xã hội
Ở Việt Nam, không hoặc rất ít gặp thái độ kỳ thị dân tộc cũng
như sự kì thị ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân
khác nhau, chủ yếu vì lý do kinh tế, các bậc cha mẹ thuộc dân tộc thiểu số thường
phải hướng con cái chủ yếu tới việc nắm vững tiếng Việt và các ngoại ngữ (Anh,
Pháp, Hoa, Hàn Quốc...), tạm gác lại nỗi lo lắng về sự lãng quên tiếng mẹ đẻ của
mình. Do cách hiểu có phần phiến diện trước các giá trị văn hóa, chưa hình dung
đủ rõ về phương thức tiến hành, một số nhà quản lý và các chuyên gia cũng lảng
tránh hoặc trả lời chung chung trước những câu hỏi: dạy và học ngôn ngữ các dân
tộc thiểu số để làm gì? nên dạy - học và sử dụng chúng như thế nào?
2.4. Nhân tố chính sách ngôn ngữ
Nhà nước Việt Nam thừa nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền
có ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết) riêng của tất cả các dân tộc ở Việt Nam; thừa
nhận và đảm bảo về mặt pháp lý quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ, quyền bảo tồn
và phát triển tiếng nói chữ viết riêng của các dân tộc thiểu số; tạo điều kiện
để các dân tộc thiểu số sử dụng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình trong
các phạm vi và lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội; khuyến khích các dân tộc
thiểu số học tiếng Việt, đưa tiếng Việt thực sự trở thành ngôn ngữ giao tiếp
chung giữa các dân tộc, là phương tiện để đoàn kết, củng cố khối thống nhất các
dân tộc anh em trong một quốc gia.
Chẳng hạn, Điều 5, Chương 1, Hiến pháp Việt Nam năm 1980,
ghi: “Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết giữ gìn và phát huy những
phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Điều 7, Luật
Giáo dục ban hành năm 2005 ghi: “Nhà nước tạo điều kiện để người dân tộc thiểu số
được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình nhằm giữ gìn và phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc, giúp học sinh người dân tộc thiểu số dễ dàng tiếp thu kiến thức
khi học tập trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác”. Quyết định 53-CP ngày 22
tháng 2 năm 1980 của Chính phủ đã chỉ rõ: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi
dân tộc thiểu số ở Việt Nam vừa là vốn quý của dân tộc đó, vừa là tài sản văn
hóa chung của cả nước”. Trong Nghị định 5 của Chính phủ tháng 5 năm 2011
ghi: “Tiếng nói, chữ viết và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc được
đưa vào chương trình giảng dạy trong các trường phổ thông, trường phổ thông dân
tộc nội trú, phổ thông dân tộc bán trú, trung tâm giáo dục thường xuyên, trung
tâm học tập cộng đồng, trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại
học phù hợp với địa bàn vùng dân tộc”.
Chính sách nói trên của Nhà nước Việt Nam hoàn toàn phù hợp với
tinh thần và những cố gắng của cộng đồng quốc tế. Ngày 21 tháng 2 hàng năm đã
được quy ước là Ngày Quốc tế về tiếng mẹ đẻ. Ý nghĩa của ngày này là cảnh
báo về nguy cơ tiêu vong của các ngôn ngữ trên thế giới, là lời kêu gọi các nhà
nước, tổ chức và cá nhân hãy bảo vệ sự đa dạng của các ngôn ngữ, vì điều đó gắn
liền với sự đa dạng văn hóa của nhân loại, là sự tôn trọng đối với phẩm giá và
quyền của con người.
Các luận điểm trên có thể xem là cơ sở pháp lý trong bảo tồn
và phát triển ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
khác nhau, trong đó có việc đưa ra và thực hiện những biện pháp cụ thể, nên
ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam chưa có đủ điều kiện thoát khỏi nguy
cơ tiêu vong.
3. Mức độ sinh tồn của các ngôn ngữ ở Việt Nam hiện nay
Ở Việt Nam hiện nay, có đủ các mức độ về sức sống của các
ngôn ngữ các dân tộc thiểu số. Đó là: khỏe mạnh, suy yếu, nguy cấp, hầu như chỉ
còn trong ký ức. Ở đây xin nói về các mức độ có thể dẫn đến nguy cơ tiêu vong.
- Suy yếu. Biểu hiện của mức suy yếu là các ngôn ngữ
đang mất dần các chức năng làm phương tiện giao tiếp; phạm vi sử dụng hẹp (chủ
yếu chỉ ở gia đình, làng bản); số lượng người nói ít (dưới 1 triệu người) và
không sử dụng thường xuyên... Đa số các ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam
thuộc loại này hoặc ở mức thấp hơn. Các ngôn ngữ này có thể phân biệt thành 2
nhóm.
Nhóm 1: có từ một chục nghìn đến vài ba chục nghìn người sử dụng, vẫn
được các thành viên trong cộng đồng sử dụng trong giao tiếp hàng ngày và truyền
lại cho thế hệ sau qua khẩu ngữ. Tuy nhiên, các ngôn ngữ này có xu hướng dễ bị
“hòa” vào các ngôn ngữ có vị thế cao hơn. Đó là các ngôn ngữ như Hà Nhì, Giáy,
Khơ Mú, Chu Ru, Pa Cô, Ta Ôi...
Nhóm 2: có nguy cơ bị mất dần ở thế hệ trẻ, hiện
chỉ còn khoảng trên dưới 1.000 người sử dụng, phần lớn là người già. Đó là các
ngôn ngữ Mảng, Kháng, Xinh Mun, Cống, Si La, Xá Phó, Phù Lá, La Hủ...
- Nguy cấp. Biểu hiện của mức nguy cấp là ít được sử dụng;
chỉ được dùng ở gia đình làng bản, nhưng hoàn toàn không được dùng ở thế hệ trẻ;
số lượng người nói rất ít (từ trên dưới 100 người đến vài nghìn người); chịu
áp lực rất mạnh từ các ngôn ngữ khác... Các ngôn ngữ ở mức này có thể tiêu vong
trong vài thập kỉ tới. Đó là ngôn ngữ của các dân tộc: Pu Péo, Cơ Lao (Trắng),
La Chí, La Ha, Cống, Si La, Rơ Măm, Đan Lai, Li Hà, Tày Poọng, Mã Liềng, Rục,
Mày, Sách, A Rem...
- Hầu như chỉ còn trong ký ức. Người Tu Dí (của dân
tộc Bố Y) hiện chỉ nói bằng tiếng Hoa, người Ơ Đu chỉ nói bằng tiếng Thái, người
San Chí (dân tộc Sán Chay) chỉ biết nói tiếng Hoa và tiếng Việt, người Cơ Lao
(Đỏ) đã chuyển sang nói tiếng Hoa và tiếng Tày. Ngôn ngữ của các dân tộc này
thuộc loại hầu như chỉ còn trong ký ức. Đây là các ngôn ngữ hiện không
có số lượng người nói hoặc có số lượng hiếm hoi (khoảng từ 1 đến 15 người sử
dụng). Một số ngôn ngữ chỉ có vài ba người già còn nhớ, và chỉ dùng trong một số
hoàn cảnh đặc biệt (cúng bái, bói toán, gặp người đồng tộc nơi khác đến...). Đa
số người các cộng đồng này thậm chí coi tiếng dân tộc khác là tiếng mẹ
đẻ hay ngôn ngữ tộc người của mình.
Nhìn chung, ở Việt Nam hiện nay, suy yếu, nguy cấp, hầu như
chỉ còn trong ký ức là những trạng thái ngôn ngữ thường gặp ở các vùng dân tộc
thiểu số. Các trạng thái này có thể gặp ở cả dân tộc, hoặc một bộ
phận của dân tộc. Tình trạng một hoặc một số bộ phận của dân tộc
quên tiếng dân tộc mình tương đối phổ biến ở Việt Nam.
4. Kết luận:
Trên thực tế, nhiều dân tộc ở Việt Nam đang đứng trước nguy
cơ tiêu vong ngôn ngữ, đồng thời thất lạc các hình thái văn hóa được lưu giữ và
phát triển bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Nguy cơ đó trong hoàn cảnh thực tế hiện
nay ngày càng lớn. Trước khi bàn đến chuyện phát triển các ngôn ngữ này,
cần phải làm cho chúng dừng lại trước cánh cửa tiêu vong. Trước hết, cần báo
động về nguy cơ nói trên với các nhà hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc,
cũng như với những chủ nhân của các ngôn ngữ. Trong tương lai ảm đạm, có thể
các dân tộc ở Việt Nam rốt cuộc sẽ nói bằng tiếng Việt hoặc một ngoại ngữ khác;
nhiều tiếng mẹ đẻ có thể chỉ còn trong ký ức. Cần có những biện pháp cấp bách
và thiết thực giúp các ngôn ngữ này dừng lại trước ngưỡng cửa tiêu vong. Về mặt
lý thuyết, để bảo tồn và phát triển các ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong, cần thực
hiện các biện pháp như sau:
Một là, điều tra, nghiên cứu ngôn ngữ - xã hội
- tộc người, xác định danh sách và phân loại các ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong;
xác định phương hướng kế hoạch hóa và xây dựng chính sách ngôn ngữ.
Hai
là, nghiên cứu đầy đủ và sâu hơn về cấu trúc (ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa và
ngữ pháp), tình hình chữ viết và những văn bản chữ viết hiện có, tình hình xã hội
ngôn ngữ học ở các ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong; cải tiến và xây dựng các hệ
thống chữ viết; biên soạn các sách công cụ (sách giáo khoa, sách ngữ pháp, từ
điển...); sưu tập các văn bản (vốn văn nghệ truyền thống; sáng tác mới...) và
ghi bằng các ngôn ngữ có nguy cơ tiêu vong; dạy và học các ngôn ngữ có nguy cơ
tiêu vong, sử dụng chúng trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Ba là,
thu thập, lưu trữ xây dựng ngân hàng dữ liệu; phổ biến các ngôn ngữ có nguy cơ
tiêu vong; giúp cho người bản ngữ hiểu rõ hơn về vai trò di sản - ngôn ngữ đối
với bản sắc văn hóa truyền thống của họ và có ý thức bảo tồn, phát triển tiếng
mẹ đẻ; giúp cho xã hội nói chung và các nhà quản lý nói riêng hiểu sâu sắc hơn
về vai trò ngôn ngữ các dân tộc, có hành động thiết thực hơn đối với sự đa dạng
văn hóa truyền thống trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.
Trong những năm qua ở Việt Nam, các biện pháp trên chỉ được
áp dụng lẻ tẻ, mang tính thời đoạn và không đồng bộ, chưa mang tính kế hoạch và
chưa đầu tư đúng mức. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến trạng thái
ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trên thực tế nói chung là không lạc quan. Nhân tố
quan trọng nhất đem lại sức sống cho các ngôn ngữ là ở chỗ chúng được truyền dạy
và có vai trò (được sử dụng) trong đời sống xã hội. Ngoài ra, cần có những biện
pháp khác như: kế hoạch hóa và xây dựng chính sách ngôn ngữ; nghiên cứu cơ bản;
cải tiến và xây dựng các hệ thống chữ viết; biên soạn các sách dạy và học; xây
dựng ngân hàng dữ liệu... Đây có thể xem là những điều kiện tồn tại của ngôn ngữ
các dân tộc thiểu số, giúp chúng thoát ra khỏi tình trạng suy yếu hoặc nguy cấp,
và có thể trở thành khỏe mạnh.
Chú thích:
(3). Bài viết này đã được đăng bằng tiếng Anh trên Tạp chí Vietnam Social Sciences, No. 1, 2018.
[1] Baker, Colin (2008), Những cơ sở
của giáo dục song ngữ và vấn đề song ngữ, Nxb
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
[2] Nguyễn Hữu Hoành, Nguyễn Văn Lợi,
Tạ Văn Thông (2013), Ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam,
Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội.
[3] Phạm Quỳnh (2007), Tiểu luận, Nxb
Tri thức, Hà Nội.
[4] Tạ Văn Thông (1993), “Mối quan hệ giữa
chữ và tiếng các dân tộc thiểu số với chữ và tiếng Việt”, Những vấn đề
chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[5] Hoàng Tuệ (1984), Ngôn ngữ các
dân tộc thiểu số Việt Nam và chính sách ngôn ngữ, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội.
[6] Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa
của Liên Hợp Quốc tại Băng Cốc (2007), Tài liệu hướng dẫn Phát triển
Chương trình Xóa mù chữ và Giáo dục cho người lớn tại cộng đồng ngôn ngữ thiểu
số, Nxb Giao thông Vận tải,
Hà Nội.
Hà Nội.
[7] Viện Ngôn ngữ học (1993), Những vấn
đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[8] Viện Ngôn ngữ học (2002), Cảnh huống
và chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
[9] Crystal, David (2000), Language
Death, Cambridge University Press.
[10] Romaine, Suzanne (2007), “Preserving
Endangered Languages”, Language and Linguistics Compass Journal, Volume 1,
Issue 1-2, Wiley-Blackwell Publishers.
[11] Wurm, Stephen A. (2001), Atlas of the
World's Languages in Danger of Disappearing, UNESCO Publishing.
16/5/2019
ạ Văn Thông, Tạ Quang Tùng








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét