Nghe Phạm Duy
“Yêu đến thác rồi mà tình vẫn chưa tan, cho đi hết cả
tâm hồn mình, đến cạn kiệt cả sức mình, cho dù có không được người đời đáp lại
thì người nghệ sĩ - tâm hồn yêu ấy cũng vẫn không một lần trách móc, chỉ lặng lẽ,
u uẩn kết thành khối ngọc quý dâng đời”.
Nhạc sĩ Phạm Duy cùng các ca sĩ, nghệ sĩ trong
đêm nhạc
"Ngày trở về" (Đà Nẵng, tháng 1-2006)
Kính tặng Nhạc sĩ với tấm lòng biết ơn chân thành
Thế hệ chúng tôi, những người Việt trẻ sinh ra và lớn lên ở
Miền Bắc sau 1975, ít được biết đến những tên tuổi lớn của Miền Nam trước năm
1975, mà tên tuổi của nhạc sĩ Phạm Duy là một trường hợp.
Có thể nói tôi sinh trưởng trong một gia đình yêu văn chương
nghệ thuật. Tôi biết đến Đặng Thế Phong, và đặc biệt là Văn Cao từ khi còn là một
cô gái nhỏ, qua lời hát của bà ngoại. Nhưng tên tuổi của Phạm Duy thì chỉ mãi
sau này. Kỷ niệm đầu tiên của tôi về người nhạc sĩ toàn tài này là lần xem một
cuốn băng của “Thúy Nga Paris” trong đó có một bài hát rất hay do cô ca sĩ Ngọc
Hạ trình bày. Qua lời giới thiệu của MC Nguyễn Ngọc Ngạn, tôi được biết đó là
bài hát “Tình hoài hương” của nhạc sĩ Phạm Duy. Chỉ với một bài hát đó thôi, với
giai điệu mượt mà và uyển chuyển đạt đến độ tuyệt vời đó, Phạm Duy đã chinh phục
tôi hoàn toàn. Tôi bắt đầu lao vào tìm hiểu âm nhạc Phạm Duy, và đã đi từ sững
sờ này đến sững sờ khác.
Với một khối lượng tác phẩm đồ sộ cả về số lượng (trên 1.000
ca khúc) lẫn chất lượng: chủ đề đa dạng, giai điệu phong phú, trữ tình mà hùng
tráng (từ những phóng tác trên nền dân ca, đến tình ca, tâm ca, đạo
ca, anh hùng ca, và trường ca), ca từ tinh tế, chắt lọc, giầu chất thơ, Phạm
Duy không chỉ là người đặt nền cho Tân nhạc Việt Nam (nouvelle musique), là “thi
nhân của ca khúcViệt Nam” như người Pháp đã xưng tụng ông (le poète de la
chanson vietnamienne) mà ông còn xứng đáng được tôn vinh là “Nhạc sĩ của mọi thời
đại”.
Nói về âm nhạc Phạm Duy có lẽ nói mãi cũng không thể hết. Và
có lẽ cũng không có gì là quá lời khi nói âm nhạc của ông chính là linh hồn Việt,
tâm hồn Việt, tiếng nói Việt. Có lẽ bởi thế mà nó gần gũi với bất cứ người dân
Việt nào từng được may mắn bước chân vào thế giới âm nhạc của nhạc sĩ, bất chấp
những thứ lẩm cẩm mà người ta vẫn gọi là “chính kiến”, “tư tưởng”, hay “chính
trị”. Âu đó có lẽ cũng là sự kỳ diệu của ngôn ngữ âm nhạc, có khả năng gắn kết
con người dưới một mái nhà chung có tên là Tình Yêu.
Trả lời phỏng vấn các phóng viên Hãng phim Tuổi Trẻ
Phạm Duy dành một phần không nhỏ các sáng tác của mình cho những
câu chuyện tình đẹp trong văn học dân tộc mà một trong những tình khúc của ông
khiến tôi rung động nhất vì vẻ đẹp toàn bích của nó chính là “Khối tình Trương
Chi”. Trước Phạm Duy, tôi đã nghe “Trương Chi” của “Người Sông Ngự” Văn Cao.
Sau Phạm Duy, tôi nghe “Chuyện tình Trương Chi - Mỵ Nương” của Anh Bằng.
Có thể là cảm nhận của mỗi người một khác - như người Anh vẫn
nói (“tastes differ”) - hay như người Nga nói - trong vấn đề cảm nhận thật khó
tranh cãi ai đúng ai sai (“o vkusak nje sporjat”). Đối với riêng cá nhân tôi,
cùng với “Trương Chi” của Văn Cao, thì “Khối tình Trương Chi” của Phạm Duy đã dựng
nên một tượng đài kỳ vĩ trong nền Tân nhạc Việt Nam, khó ai có thể vượt qua được.
Và cũng khó so sánh lắm, giữa hai thiên tài âm nhạc ấy. Bởi mỗi ca khúc mang một
tâm tình riêng, một vẻ đẹp riêng, và đều “mười phân vẹn mười” cả.
Khác với Văn Cao, người đem tâm sự của mình vào “Trương Chi”
(theo Phạm Duy), Phạm Duy tự nhận mình chỉ đơn thuần “kể lại câu chuyện cổ truyền”
- một “câu chuyện tình đẹp và ngang trái có thể so sánh với những câu chuỵện
tình đẹp nhất trong văn học thế giới” (trích “Hồi ký” - Phạm Duy) - một “khối
tình mang xuống tuyền đài chưa tan” từng làm thổn thức bao trái tim Việt từ bao
đời nay:
“Đêm năm xưa ôm mối tình dở dang. Chôn đáy sông hồn cầm, ai
chết đêm nguyệt rằm. Nợ tình còn đó chưa đền xong”.
Chỉ là một câu chuyện kể lại nhưng với ngôn ngữ quyến rũ và đầy
sức thuyết phục của âm nhạc, người sĩ tài hoa ấy đã chạm tới tận đáy tâm hồn của
người nghe nhạc. Bản nhạc mở đầu êm dịu và du dương, như đưa ta vào một không
gian sông nước êm ả, có tiếng nhạc trầm bổng “gây mơ” và mê hoặc lòng người của
chàng ngư phủ họ Trương: “Đêm năm xưa khi cung đàn lên tơ. Hoa lá quên giờ tàn. Mây trắng
bay từng đàn. Hồn người thổn thức trong phòng loan... Êm êm êm dần lan. Cung
Nam Thương mờ vang. Em yêu ai bờ sông nhớ thương ai trong đàn. Xa xa xa rồi
tan, cung Nam Ai thở than. Ai thương em lầu buồn mỗi lúc khuya tàn canh”.
Tôi rất phục nhạc sĩ khi ông viết “Êm êm êm dần lan” và “Xa
xa xa dần tan” trên nền giai điệu lan tỏa dịu dàng như những con sóng trên mặt
nước, như tiếng hát của người ngư phủ thoắt xa thoắt gần trong gió. Phải nói
chưa có một ca khúc nào tôi đã từng được nghe lại có được sự hòa hợp đến tinh tế
và tài tình như vậy giữa ca từ và giai điệu. Bản nhạc đưa ta vào một khung cảnh
như thực như mơ, rồi thoắt vút cao như tiếng lòng náo nức của người con gái
đang yêu:
“Dứt khúc đàn lòng em thấy đê mê. Ôi tiếng đàn lời không mong
ước thề” và cuối cùng buông trầm, trĩu nặng như nỗi lòng tương tư khi
tiếng hát của người tri kỷ dần xa:
“Đã thấy tàn, đời không gió xuân về, khi tiếng ai dần xa.
Tương tư một khối u sầu. Đợi chờ trăng lên để tan hết thương đau. Mi em nước mắt
hoen màu. Tóc chảy hàng ngàn môi thắm còn đâu?”
Âm nhạc của Phạm Duy buồn mà không bi lụy. Đó cũng là một lý
do vì sao tôi thích nghe Phạm Duy. Bản nhạc này cũng thế, đủ buồn để thương cảm
cho một mối tình dang dở “xa cách nhau vì đời, tủi hờn duyên kiếp bao giờ nguôi”.
Đủ trầm lắng để suy tư về những nghịch lý cuộc đời, về hai chữ “tri âm - tri kỷ”.
Nhưng không ai oán, than van, có lẽ như tấm tình “hồn trắng tình trong” (chữ của
Duy Quang) của chàng ngư phủ - nghệ sĩ họ Trương vậy. Yêu đến thác rồi mà tình
vẫn chưa tan, cho đi hết cả tâm hồn mình, đến cạn kiệt cả sức mình, cho dù có
không được người đời đáp lại thì người nghệ sĩ - tâm hồn yêu ấy cũng vẫn không
một lần trách móc, chỉ lặng lẽ, u uần kết thành khối ngọc quý dâng đời.
Có một thắc mắc tôi đã muốn khi nào gặp Phạm Duy sẽ hỏi. Đó
là về câu “Nâng niu một chén âm hồn” mà ông viết. Tôi đã tự hỏi mình tại sao
ông không viết “oan hồn” mà lại là “âm hồn”. Mối tình của chàng Trương là một mối
tình oan (“Tình oan còn vọng tiếng tơ ngân” - như tôi đã viết sau này trong một
bài thơ về mối tình Trương Chi - Mỵ Nương). Oan trái, oan nghiệt, oan ức. Là mối
tình “tri âm nghịch kiếp”. Vậy sao ông không viết “oan hồn” cho đúng với “tình
oan”. Nhưng sau này càng hiểu Phạm Duy, tôi càng thấy ông có lý khi dùng chữ “âm
hồn” thay cho “oan hồn” mà tôi nghĩ đến. Hai chữ “oan hồn” nặng nề quá, bi
thương quá, không phải là Phạm Duy đâu. “Âm hồn” nghe âm u buồn, không thảm thiết,
mà vẫn lẩn quất, ám ảnh người nghe không dứt, ấy mới chính là ông.
Bữa cơm Tết đầu tiên trên quê hương
cùng các con trai, sau 30
năm vắng bóng
Cùng với hàng loạt tác phẩm để đời khác của ông như “Bà mẹ
Gio Linh”, “Gánh lúa”, “Về miền Trung”, “Tình ca”, hay trường ca “Mẹ Việt Nam”,
“Con đường cái quan”, v.v..., “Khối tình Trương Chi” chắc chắn sẽ sống mãi
trong lòng người yêu âm nhạc Việt Nam nói chung và yêu âm nhạc Phạm Duy nói riêng,
bất chấp thời gian, không gian, và tất thảy những gì khác nữa.
Riêng cá nhân mình, tôi muốn nói lời cảm ơn chân thành đến nhạc
sĩ, vì những gì mà âm nhạc ông đã mang đến cho tôi - một cảm nhận mới mẻ và hân
hoan, một cái nhìn mới và toàn diện hơn về cuộc sống. Và tôi mong ước biết bao,
khi âm nhạc Phạm Duy vang lên nơi đất Việt sau ba mươi năm vắng bóng, đến với
những người dân Việt mà ông yêu quý và vì họ mà ông đã sáng tác không mệt mỏi
suốt hơn nửa thế kỷ qua.
Một mùa xuân mới lại đến, cầu chúc cho nhạc sĩ sức khỏe dồi
dào, để vui hưởng cuộc sống và tiếp tục chia sẻ tình yêu âm nhạc của mình với
người hâm mộ. Cuối cùng thì tất thảy những gì khác nữa đều sẽ đi qua, chỉ có âm
nhạc và tình yêu mới là trường tồn.
24/2/2006
Nguyễn Thủy Minh







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét