"Ba phút sự thật"
của Phùng Quán
Nhà xuất bản Văn nghệ (TP Hồ Chí Minh) vừa ấn hành tập
ký Ba phút sự thật của nhà văn Phùng Quán, tập hợp mười lăm bài ký thấm
đẫm nhân văn của cố nhà thơ nổi tiếng. “Ba phút sự thật” là bài viết ngắn về
anh hùng dân tộc Cuba Ăng-tô-ni-ô Êch-xê-va-na đã vạch kế hoạch đánh chiếm Đài
phát thanh Quốc gia để có 3 phút nói lên sự thật, vạch mặt chế độ độc tài
Batista. Từng câu chuyện dù rất ngắn của Phùng Quán bao giờ cũng toát lên triết
lý nhân văn sâu sắc, găm vào trí nhớ người đọc. Ví dụ, kết thúc bài viết ngắn
“Ba phút sự thật”, anh viết: "Câu chuyện dạy tôi một bài học lớn về nghệ
thuật ngôn từ. Cả những đề tài lớn lao nhất như sự thật, như chân lý, đều có thể
diễn đạt trong vòng 180 giây đồng hồ với điều kiện tác giả phải sẵn sàng đem mạng
sống trả giá cho những giây đồng hồ quý báu đó” (tr. 15). Vâng, để nói lên sự
thật, viết về sự thật, chính Phùng Quán đã đánh đổi cả tuổi thanh xuân của
mình! Vâng, Ba phút sự thật là sự thật của nhiều mảng đời buồn đau
chưa từng được nói ra của những con người nổi tiếng tài hoa bạc phận.
Cuốn sách có xuất xứ từ tập bản thảo Chuyện Phùng Quán do tôi sưu tầm
và tuyển chọn trong hai năm 2004-2005, gồm các bài viết của các nhà văn nhà
thơ, bạn đọc cả nước về văn chương và cuộc đời Phùng Quán và những bài viết của
nhà văn Phùng Quán mới được sưu tầm và biên soạn từ chồng lai cảo anh để lại. Đầu
năm 2006, tôi gửi bản thảo cho anh Nguyễn Đức Bình, giám đốc NXB Văn Nghệ. Trước
đó năm 2002, tôi cũng đã sưu tầm và tuyển chọn tập Nhớ Phùng Quán dày
532 trang do NXB Trẻ và Công ty Văn hóa Phương Nam ấn hành. Tập Nhớ Phùng
Quán cũng tập hợp nhiều bài viết xúc động của các nhà văn bạn bè anh Quán
sau khi anh qua đời và tập hợp một số thơ và những bài ký của Phùng Quán. Cuốn
sách rất được bạn đọc trong nước tìm mua và ca ngợi. Đọc tập bản thảo, anh Nguyễn
Đức Bình điện ra Huế bàn với tôi rằng: “Tập Chuyện Phùng Quán rất xúc
động, nhưng có kết cấu hơi giống với cuốn Nhớ Phùng Quán, nên sợ bạn đọc
không chú ý. Nên chăng anh tập hợp cho nhà xuất bản cuốn sách gồm những bài viết
của Phùng Quán về những nhân vật nổi tiếng, như thế chắc bạn đọc sẽ đón nhận
hơn, còn các bài viết của bạn bè về Phùng Quán tôi cứ giữ đây, sẽ sử dụng sau”.
Tôi đồng ý với anh Bình. Tôi điện ra cho chị Vũ Thị Bội Trâm; chị Trâm mừng lắm,
vì chị muốn in một cuốn sách về những bài viết của anh mà không biết in ở đâu.
Chị lụi cụi chép gửi vào cho tôi bài “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” và
một số bài khác. Tôi tập hợp bài, viết lời giới thiệu, bản lý lịch văn học
Phùng Quán, chú thích những chỗ cần thiết rồi gửi cho Nguyễn Đức Bình. Thế là bản
thảo cuốn sách Ba phút sự thật của Phùng Quán được hình thành. Được sự
đồng ý của chị Vũ Thị Bội Trâm, vợ nhà thơ, NXB Văn Nghệ đã tiến hành in ấn
trong thời gian rất nhanh. Làm bản thảo tháng 3, đến cuối tháng 5 /2006 sách đã
in xong, Công ty Văn hóa Phương Nam nhận phát hành toàn bộ. Sau khi sách phát
hành, Nguyễn Đức Bình điện ra bảo tôi nên nhờ một số nhà văn viết bài giới thiệu,
vì anh sợ cuốn sách bị “đánh”. Quả thực đọc từng bài viết của anh Quán, những
“vấn đề” có thể bị chìm đi trong câu chuyện, nhưng khi tập hợp thành sách thì
những “vấn đề” ấy lại cộm lên, nên Bình ngại là phải. Tôi động viên Bình, không
sao đâu, vì tất cả các bài viết của anh Quán đều tâm huyết và rất trách nhiệm với
cuộc đời. Nhà văn Nguyễn Khắc Phê ngay tức khắc viết bài giới thiệu trên
báo Tuổi Trẻ. Đến nay sau khi sách ra được gần hai tháng, chị Bội Trâm và
tôi nhận được rất nhiều cú điện thoại khen sách nay, chưa thấy có ai phê phán
gì.
Ba phút sự thật là những trang kỷ niệm, hồi ức của nhà văn Phùng Quán về
những người bà con thân thuộc, về đồng đội, đồng nghiệp văn nghệ sĩ nổi tiếng của
mình như Tố Hữu, Đoàn Phú Tứ, Nguyễn Hữu Đang, Văn Cao, Hồ Vi, Trần Đức Thảo, Phùng
Cung, Tuân Nguyễn, Văn Cao...; viết về những chiến sĩ cách mạng Cuba; những
hồi ức về những chiến sĩ cảm tử quân trong những ngày đánh Pháp ở Huế, hồi ức về
những ngày đi lao động cải tạo của nhà văn ở công trường Cổ Đam, Hà Nam, v.v...
Đọc Ba phút sự thật ta càng hiểu thêm tâm trạng của Phùng Quán trong
những ngày sau vụ Nhân văn-Giai phẩm, hiểu thêm về tình cảnh khốn khó của
những người trí thức yêu nước một thời. Qua những trang ký cháy bỏng tâm can,
ta càng hiểu thêm nhân cách cao thượng và lòng chung thủy như nhất của ngòi bút
Phùng Quán. Đây là cuốn sách chân thực và xúc động từ trang đầu đến trang cuối.
Phùng Quán (1932-1995) là nhà văn để lại nhiều dấu ấn khó quên trong lịch sử
văn học Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XX. Anh là một nhà văn chiến sĩ trọn đời
trung thành với lý tưởng mà mình đã chọn từ thuở thiếu thời: Đi theo Vệ quốc
Đoàn chiến đấu vì Tổ Quốc, nhân dân; dù phải vượt qua vô vàn tai ương đau khổ
suốt 30 năm trời từ sau vụ Nhân văn. Thế nhưng anh không hề thù oán ai, vẫn
cặm cụi viết, và vẫn “viết ngay viết thẳng từ dòng đầu tới dòng cuối”, luôn
xưng tụng đất nước, xưng tụng nhân dân, xưng tụng tình yêu bằng những tác phẩm
văn chương cuốn hút, bốc lửa, thiết tha và nhân bản. Phùng Quán đã để lại trong
lòng bạn bè, đồng nghiệp một nhân cách cao cả, một lòng tin yêu đồng đội sâu sắc,
một tấm gương lao động hết mình... với gần trăm tác phẩm thơ, trường ca, truyện
thơ, tiểu thuyết, truyện tranh được nhiều thế hệ bạn đọc mến mộ.
Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ tiểu thuyết Vượt Côn Đảo viết khi anh
mới 22 tuổi, được tái bản gần chục lần, cho đến bộ tiểu thuyết ngàn trang Tuổi
thơ dữ dội, được tái bản lần thứ năm (lần tái bản gần đây nhất là năm 2005, do
NXB Kim Đồng thực hiện), được đạo diễn Vinh Sơn dựng thành phim cùng tên làm
xúc động hàng triệu triệu khán giả Việt Nam trong và ngoài nước. Bộ phim Tuổi
thơ dữ dội được giải bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam năm 1990. Tuổi
thơ dữ dội xuất hiện 32 năm sau sự kiện Nhân văn đã nhận được giải
thưởng Hội Nhà văn, chứng tỏ sự kiên trung trước sau như một của ngòi bút Phùng
Quán đối với con đường mà anh đã chọn! Nhắc đến Phùng Quán ai cũng nhớ những
bài thơ gan ruột như “Tiếng hát trên địa ngục Côn Đảo” viết về chị Võ Thị Sáu,
bài thơ “Lời mẹ dặn” nổi tiếng một thời:
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu...
Và những bài thơ “Hôn”, “Chống tham ô lãng phí”, Trăng
Hoàng cung, “Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe”... đọc lên như nghe lời
kinh nguyện cầu cho thân phận nhà thơ, thân phận con người:
... Đã đi với nhân dân
Thì thơ không thể khác
Dân máu lệ khốn cùng
Thơ chết áo đắp mặt...
Ngoài tiểu thuyết, thơ, Phùng Quán là cây viết ký viết báo bậc thầy. Sinh thời
những bài ký, bài báo của Phùng Quán bao giờ cũng thu hút người đọc; được các
báo in đi in lại. Như bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, tạp chí Cửa
Việt của Hoàng Phủ Ngọc Tường in rồi, sau đó báo Tiền Phong in lại.
Một số bài viết của anh đã được giới thiệu trên các báo, nhưng cũng có những
bài viết chưa công bố bao giờ, nằm trong lai cảo, do vợ nhà văn cung cấp. Chuyện
vô cùng cảm động về “Người bạn lính cùng tiểu đội”. Đó là thiên ký sự tài hoa,
xúc động viết về một quãng đời đầy tai ương, khốn khổ của nhà thơ Tuân Nguyễn,
một người bạn cùng quê, cùng đơn vị chiến đấu thân thiết nhất của Phùng Quán
trong kháng chiến chống Pháp. Tuân Nguyễn là một nhà thơ rất mới mẻ. Từ những
năm 60 của thế kỷ trước, anh đã có những câu rất lạ:
Sóng Sông Hồng bỗng xanh màu Danube
Nhạc bồng bềnh trôi tới các vì sao
Trời lung linh khẽ chao mình theo nhịp
Những người nước lạ phải lòng nhau.
Tuân Nguyễn làm biên tập ở Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, anh say mê
Dostoevsky, Chekhov... và đang căm cụi viết cuốn tiểu thuyết quan trọng nhất của
đời mình. Đang viết dở thì năm 1963, anh bị bắt vì tội “xét lại”, và bị tù 9
năm. Có một chi tiết vừa khôi hài vừa đau đớn được Phùng Quán kể lại. Khoảng
năm 1963, Tuân Nguyễn còn sống độc thân. Để có tư liệu viết tiểu thuyết, anh
năn nỉ xin Phùng Quán một đồng tiền vàng. Đồng tiền vàng là tên của một loại
bao cao su do Tiệp Khắc sản xuất hồi đó, chỉ được bán phân phối trong của hàng
mậu dịch. Tuân Nguyễn xin “xem thực tế” để miêu tả tính cách nhân vật trong tiểu
thuyết. Phùng Quán không có, bèn nhờ một người bạn tìm cho Tuân Nguyễn một đồng
tiền vàng. Cái ngày mà Tuân Nguyễn cầm được đồng tiền vàng trong tay, hồ hởi về
phòng làm việc, là cái ngày mà anh bị công an bắt. Đồng tiền vàng trong túi quần,
anh chưa kịp bóc ra coi thì bị còng tay và đồng tiền vàng bị tịch thu. 9 năm
sau, khi ra tù, Phùng Quán hỏi, Tuân Nguyễn vẫn chưa hề biết đồng tiền vàng ấy
mặt ngang mũi dọc thế nào! Thiên ký sự còn kể nhiều chuyện Tuân Nguyễn ở trong
tù không khác gì Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn (tr. 140-197).
Bài “Đầu năm xông đất nhà thơ Tố Hữu”, Phùng Quán kể lại lần đầu tiên sau 32
năm cậu cháu quay lưng lại với nhau, kể cả khi cháu cưới vợ, cậu cũng không
thèm tới. Bây giờ khi nhà thơ Tố Hữu đã không còn là phó Chủ tịch Hội đồng Bộ
trưởng nữa, vợ chồng Phùng Quán mới mạnh dạn đến thăm người cậu của mình. “Tết
này trước cổng biệt thự của nhà thơ quang cảnh vắng teo. Không có chiếc ô tô
con nào, không công an cũng chẳng lính cảnh vệ. Cái cổng sắt mọi ngày nom như hẹp
lại, hai cánh cửa khép hờ, ai vào cứ việc đẩy cửa mà vào y như thể dân thường...”.
Phùng Quán đề nghị cậu đọc thơ, Tố Hữu đọc cho cháu nghe một bài thơ mới viết với
giọng thơ khác lạ, thể hiện tâm trạng của ông trước cơn lốc thị trường. “Đầu đề
bài thơ là ‘Anh bộ đội mua đồng hồ’. Xin lưu ý là ‘anh bộ đội’ nghe - Có
anh bộ đội mua đồng hồ / Thiệt giả không rành anh cứ lo / Đành hỏi cô nàng, cô
tủm tỉm; - từ “tủm tỉm của tôi là đắt lắm đấy, - Giả mà như thật khó chi
mô!” Cậu cháu trò chuyện vui vẻ. Khi tiễn vợ chồng Phùng Quán ra cổng, nhà thơ
Tố Hữu nói với vợ Phùng Quán: “Thằng Quán nó dại...”. Khi ra gần đến cổng sắt,
nhà thơ dừng lại, nói tiếp như vẫn không dứt dòng suy nghĩ của mình: “Mà cậu
cũng dại...” (tr. 22). Chuyện “Bản hùng ca bị mối xông và 17 bộ hài cốt liệt
sĩ” là những trang viết hào hùng và cảm động về Trung đội cảm tử Vệ quốc Đoàn của
Trung đoàn Trần Cao Vân đã hy sinh tập thể rất cao cả trong những ngày toàn quốc
kháng chiến khốc liệt ở thành phố Huế. Phùng Quán viết bài này khi nghe tin
công nhân xây dựng đã đào được 17 bộ hài cốt Việt Minh khi xây dựng trụ sở Uỷ
ban Khoa học Kỹ thuật Thừa Thiên Huế trên đường Hà Nội. Viết xong, Phùng Quán
chép lại một bản chép tay nắn nót đề tặng: “Các bạn trẻ ở Uỷ ban Khoa học Kỹ thật
Thừa Thiên Huế”. Không hiểu sao, nhà văn Nguyễn Khắc Phê lại giữ bản chép tay
này. Biết tôi đang tập hợp bài cho cuốn sách của Phùng Quán, anh Phê đã bàn
giao lại bài viết với nét chữ bút sắt chấm mực của Phùng Quán cho tôi quản lý.
Bài “Cuộc hàng trình cuối cùng của một triết gia” viết về nhà triết học Trần Đức
Thảo, một người nổi tiếng, đã từng xuất bản nhiều tác phẩm triết học ở Pháp, ở
Anh, ở Mỹ, Tây Ban Nha, ở Nhật, ở Đức, ở Hungari... “Năm 1952, triết gia đã từ
bỏ tất cả vinh quang, tiền bạc, tiện nghi và phương tiện nghiên cứu học thuật,
trở về Tổ Quốc theo con đường Paris-Luân Đôn-Praha-Moskva-Việt Bắc để cùng được
ăn rau tàu bay với chiến sĩ và cùng run những con sốt rét rừng... Và triết gia
đã từng nhận công tác tại văn phòng Tổng Bí thư rồi ủy viên Ban Văn Sử Địa -
nay là Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, phó Tổng Giám đốc Trường Đại học Sư phạm
Văn khoa, chủ nhiệm khoa sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chuyên viên cao cấp
của Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia. Ông mất ở Pháp, bình tro đưa về Hà Nội bằng
máy bay.” “Về đến Hà Nội, vì không gia đình vợ con và không có cơ quan nào và
trường đại học nào trước đây đã từng công tác và giảng dạy nhận về để nhờ hoặc
để quản, nên triết gia phải tạm trú tới 50 ngày dưới một gầm cầu thang của nhà
tang lễ thành phố” (tr. 45-46), cô đơn, lạnh lẽo, không có người phúng viếng
nhang đèn… Nhiều lần đọc bài viết của Phùng Quán về nhà triết học Trần Đức Thảo,
lần nào tôi cũng ứa nước mắt.
Rồi chuyện ông Nguyễn Hữu Đang trong bài viết “Những
ngày cuối năm tìm thăm người dựng Lễ đài Tuyên ngôn Độc lập” rất xúc động.
Nguyễn Hữu Đang là người chỉ huy dựng Lễ đài Độc lập 2-9-1945, Trưởng Ban tổ chức
Lễ ra mắt của Chính phủ Hồ Chí Minh, sau thời gian đi tù ở cao nguyên Hà Giang
(sau vụ Nhân văn-Giai phẩm), ông được tha về quê ở Thái Bình suốt 15 năm
không gia đình, vợ con, phải đi nhặt từng chiếc vỏ bao thuốc lá để “làm hàng đối
lưu” đổi cho trẻ con lấy từng con cóc để giết thịt, băm nhỏ, bỏ vào chai để ăn
dần bồi dưỡng tuổi già. Người “trai tân” 80 tuổi này đi nhặt cái xô tôn thủng
đáy, tấm gỗ dán, hai cái vại muối dưa sứt miệng người ta vứt ngoài bờ tre về
làm bàn ghế. Ông bảo: “Hai cái vại còn tốt như thế này mà đem quẳng bụi tre...
Tôi nhặt về cọ rửa sạch sẽ, lật đít lên, làm thành cái ghế ngồi vừa vững chãi lại
vừa mát. Chú ngồi thử mà xem, có khác gì ngồi trên đôn sứ đời Minh?” (tr.127).
Rồi bao chuyện oái oăm, cảm động về nhà thơ Hồ Vi, về Phùng Cung, Đoàn Phú Thứ,
Văn Cao…, những trí thức đi theo cách mạng bị loại ra ngoài lề cuộc sống!
Hồi ức “Một năm lao động ở công trường Cổ Đam” (Hà Nam) giúp bạn đọc hiểu thêm
những năm tháng Phùng Quán đã trải qua nỗi đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần
như thế nào. Câu chuyện được kể với giọng văn hài hước, làm cho người đọc cười
ra nước mắt. Thời gian sau khi bị Nhân văn-Giai phẩm, Phùng Quán phải đi cải
tạo lao động ở rất nhiều nơi. “Từ năm 1958, tôi đã phải đi nhiều đợt lao động ở
hợp tác xã nông nghiệp Thái Lai (Thái Bình), công trường nhà máy đường Việt Trì
(Phú Thọ), nông trường cao su-cà phê Thắng Lợi ở Thọ Xuân (Thanh Hóa)... Đợt
nào tôi cũng gặp phải chuyện trục trặc, oan ức, đều bị cơ quan quản lý nhận xét
là ‘chưa tiến bộ’, ‘chưa khắc phục được tư tưởng Nhân văn’, đôi khi còn có
‘ý định ngóc đầu dậy’”... “Năm 1964 cho đến đầu năm 1965, tôi tiếp tục được Hội
Văn nghệ cử đi lao động cải tạo ở công trường trạm bơm điện Cốc Thành, Cổ Đam.
Trạm bơm điện Cốc Thành vào loại lớn nhất miền Bắc ngày đó... Tôi phải lao động
ở đội mộc rồi chuyển sang đội bê tông. Lao động nặng mà không có tiền ăn sáng,
tôi đói mềm người. Tôi lại xấu máu đói. Hễ đói là tay chân bủn rủn, mồ hôi vã
ra như tắm. Mặc dù lúc nào tôi cũng đinh ninh trong dạ là phải hết sức cố gắng,
phải thật quyết tâm phấn đấu để mau chóng thoát khỏi cái cảnh trợ cấp 27 đồng một
tháng. Nhưng rồi tôi lại gặp phải vài chuyện trục trặc không đâu, làm mất toi
công sức lao động hơn một năm trời. (tr. 95-98).
Xin trích một câu chuyện “trục trặc không đâu” ấy:
“Hường (đội trưởng đội mộc - cốp pha - NM) có cái thú là mê sáng tác ca khúc.
Nghĩa là đặt lời mới theo một số làn điệu dân ca quan họ. Hường khoe với tôi...
bài hát theo điệu ‘Trèo lên trái núi Thiên Thai’. Hường hát luôn: ‘Ra đường phải
thắt xanh tuya này xanh i í i ì tuya...’.
Ngày Tết sắp đến. Công trường thông báo sẽ tổ chức một đêm văn nghệ quần chúng,
tiết mục tự biên tự diễn. Hường say sưa sáng tác bài hát cho đêm văn nghệ. Nội
dung bài hát là ca ngợi đội mộc đóng cốp pha đúng kỹ thuật, năng suất cao. Bài
hát theo điệu ‘Tình bằng có cái trống cơm’.
Đã lâu quá rồi tôi không còn cả bài hát, chỉ nhớ câu đầu: ‘Tình bằng có cái búa
đinh, khen ai khéo gõ ấy mới đinh nên đinh, ấy mới đinh nên đinh...’. Nhưng rồi
hình như công việc đặt lời cho bài hát của anh không được suôn sẻ, gặp phải chỗ
bí. Tôi để ý, nhiều lúc đang làm việc Hường bỗng ngẩn ra, buông đục, bỏ cưa, bỏ
rìu, rút trong túi áo ra tờ giấy nhàu nát, trải lên mặt tấm ván, nhấm nhấm nước
bọt cây bút chì thợ mộc vót nhọn hoắt mà lúc nào anh cũng cài trên vành tai,
cúi xuống tờ giấy gạch gạch xóa xóa, miệng lẩm nhẩm hát cái gì đó tôi không
nghe rõ lời, trán cau lại.
Cũng là người sáng tác nên tôi thông cảm ngay. Điệu này là anh ta đang bí đây.
Tôi thấy thương anh, muốn giúp anh gỡ bí. Bước đến gần, tôi hỏi: ‘Sáng tác gặp
khó khăn à? Thử nói xem anh bí chỗ nào, tôi có thể giúp anh được không? Tôi
không rành sáng tác bài hát lắm, nhưng việc đặt lời cho bài hát nói cũng gần với
văn thơ’. Anh chỉ đầu bút chì vào tờ giấy, nói: ‘Mình đang vấp cái chỗ: lội,
lội, lội sông ấy mấy đi tìm..., không biết đặt cái tiếng gì vào đó cho đúng giọng.
Mình muốn dùng chữ đóng, đóng, đóng hay cưa, cưa, cưa, nhưng đều
không đúng điệu dấu nặng. Nghĩ nát cả óc mà không ra. Tôi góp ý: Hay anh dùng
chữ đẽo, đẽo, đẽo. Nếu hát lên thì đẽo có thể hát thành đẹo,
người nghe cũng hiểu.
Anh gật gù: ‘Đúng, đúng. Ý kiến của cậu hay’. Vượt qua được chỗ bí, anh hoàn
thành được bài hát ngay chiều hôm đó...
Đêm văn nghệ, bài hát của đội mộc làm cho mọi người cười vỡ trời vì khi hát đến
chỗ đẹo, đẹo đẹo, khán giả ngồi bên dưới sân khấu liền rộ lên hát
theo đéo, đéo, đéo muốn vỡ hội trường. Ban tổ chức phải la hét đến khản
cổ mới giữ lại được trật tự, nhưng không sao giữa yên được hoàn toàn. Thỉnh thoảng
bên dưới khán giả vẫn rúc rích: đéo, đéo, đéo...
Hường bị giám đốc công trường gọi lên xạc cho một trận tơi bời, kết tội anh là
cố ý phá rối đêm văn nghệ chào mừng thắng lợi của công trường. Hường hoảng quá
phải thú thật: ba tiếng đẽo, đẽo, đẽo ấy là cậu Phùng Quán nó góp ý
kiến cho tôi. Lúc đầu tôi định đặt là cưa, cưa, cưa, nhưng hẳn bảo hát
là đẽo... nó đúng điệu hơn...
Giám đốc công trường gầm ghè: ‘Đấy đồng chí cứ khen hắn là hiền nữa đi. Nó xỏ
mũi đồng chí mà đồng chí không biết. Tôi đã cảnh giác với đồng chí nhiều lần mà
đồng chí đều bỏ ngoài tai, không nghe!’’’
Tất cả những áng văn ấy được Phùng Quán viết với một giọng văn tự sự pha hài rất
chuyên nghiệp, lão luyện, kết cấu đầy kịch tính, dẫn người đọc đi từ bất ngờ
này đến bất ngờ khác. Đọc Ba phút sự thật của Phùng Quán bạn đọc sẽ
hiểu thêm số phận bi tráng mà cao thượng của những người trí thức; càng hiểu
thêm sự nhân hậu của cây bút Phùng Quán “một đời lao lực, một đời cay cực, một đời
thơ”.
Để có được cuốn sách, chị Vũ Thị Bội Trâm, người vợ thủy chung, người mà khi
yêu Phùng Quán, gia đình và cơ quan can ngăn, đã khẳng khái: “Tôi tin anh ấy là
người tốt, thời gian sẽ trả lời”. Chị Bội Trâm năm nay 75 tuổi, cách đây hơn 20
năm chị bị ung thư vú, thế mà đêm đêm giương mục kỉnh, lục tìm, đọc và chép lại
từng tờ di cảo của chồng giúp cho người làm sách. Riêng bản thân tôi, từ hơn 11
năm nay, có tư liệu nào về Phùng Quán, của Phùng Quán là sưu tầm cho bằng được,
rồi cất giữ, chờ ngày công bố. Chúng tôi tin rằng cuốn Ba phút sự thật sẽ
mang đến cho bạn đọc nhiều chi tiết mới mẻ, cảm động về đời thường của những
nhân vật “nổi tiếng” mà lâu nay chúng ta ít có điều kiện tìm hiểu. Đọc sách
chúng ta càng trân trọng tài viết ký và tấm lòng thủy chung như nhất với cuộc đời
của nhà thơ Phùng Quán.
Cuốn sách còn có 40 trang Phụ lục, gồm các bài viết về gia đình của Phùng Quán ở
Huế, về chị Bội Trâm, người vợ nhà văn yêu chồng đến tận cùng, những giai thoại
về Phùng Quán, những bức ảnh quý giá về cuộc đời nhà văn; đặc biệt có phần
“Phùng Quán - tiểu sử văn học” tương đối đầy đủ để bạn đọc hiểu thêm nhà văn
yêu mến của chúng ta đã sống và viết cật lực như thế nào.
Cám ơn Nhà xuất bản Văn nghệ đã mang đến cho bạn đọc một cuốn sách quý.
Phụ lục
Phùng Quán - Tiểu sử văn học
Họ tên khai sinh đồng thời là bút danh văn học: Phùng Quán. Tuổi nhỏ ở làng thường
được gọi là Bê. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam thế hệ đầu tiên 1956. Năm 1958,
tham gia Nhân văn-Giai phẩm, bị kỷ luật. Đến ngày 3-2-1988, Phùng Quán được
Hội Nhà văn Việt Nam ra văn bản “phục hồi Hội tịch”.
Sinh: Tháng 1 năm 1932 (Tân Mùi), tại làng Thanh Thủy Thượng, tổng Dạ Lê, nay
là xã Thủy Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Tham gia Vệ quốc Đoàn tháng 1-1946 tại một đơn vị trinh sát thuộc Trung đoàn
101 Trần Cao Vân, tỉnh Thừa Thiên. Tham gia nhiều trận đánh ác liệt ở địa
phương. Sau đó gia nhập thiếu sinh quân Liên khu IV, đoàn Văn công Liên khu IV,
giữ chân hậu cần, bếp núc, kéo phông màn và đọc thơ diễn tấu cho bộ đội nghe.
Thời gian này Phùng Quán được đi học thiếu sinh quân và Trường Quân chính, tham
gia đoàn phóng viên quân đội về Sầm Sơn, Thanh Hóa để thông tin về sự kiện trao
trả từ binh. Nhờ chuyến đi này, Phùng Quán có tư liệu quý để viết tiểu thuyết đầu
tay Vượt Côn Đảo và Trường ca Võ Thị Sáu. Năm 1954, được điều về
cơ quan sinh hoạt Văn nghệ Quân đội, thuộc Tổng cục Chính trị, tiền thân của tạp
chí Văn nghệ Quân đội, 4 Lý Nam Đế, Hà Nội.
Sau vụ Nhân văn, Phùng Quán bị kỷ luật, ra ngoài biên chế nhà nước, bị
khai trừ khỏi Hội Nhà văn, rời tạp chí Văn nghệ Quân đội, được Hội Nhà văn
trợ cấp 27 đồng/ tháng (lương tối thiểu công chức lúc đó là 36 đồng), đi lao động
cải tạo tại các nông trường, công trường và địa phương ở Thái Bình, Nam Hà,
Thanh Hóa, Việt Trì... Năm 1964, sau khi hoàn thành chương trình “lao động cải
tạo”, Phùng Quán được chuyển về công tác tại Phòng Tuyên truyền (Bộ Thủy lợi),
Vụ Văn hóa Quần chúng (Bộ Văn hóa), Nhà Văn hóa Trung ương. Ở Bộ Văn hóa, nhiều
năm anh được phân công đi tăng gia sản xuất tại rừng núi Bắc Thái. Về hưu 1985.
Năm 1962, Phùng Quán lấy vợ là Vũ Thị Bội Trâm. Sau khi lấy nhau cho đến năm
1981 (20 năm) hai vợ chồng vẫn ở hai nơi: anh ở tại nhà mẹ nuôi tên là Trưởng
Dơi ở làng Nghi Tàm, xã Quảng An, Hà Nội. Mẹ Trưởng Dơi có một người con là liệt
sĩ, mẹ đã được công nhận Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng. Hàng ngày Phùng Quán viết văn
rồi mượn tên thân hữu bạn bè để in, lấy nhuận bút và câu trộm cá Hồ Tây bán lấy
tiền nuôi con. Từ năm 1978-1980, Phùng Quán ở trong một căn phòng nhỏ 4 m2 do Bộ
Văn hóa phân ở 80 Lê Văn Hưu, Hà Nội, còn vợ vẫn ở nhà bố mẹ là ông Vũ Huy Ngọ
và bà Nguyễn Thị Minh ở 3 phố Hàng Cân, Hà Nội. Từ năm 1981 đến nay, thường trú
tại Khu tập thể Trường Chu Văn An, 10 Thụy Khuê, Hà Nội. Căn nhà nguyên là cái
xưởng trường, Sở Giáo dục Hà Nội, Ban giám hiệu và Công đoàn Trường Chu Văn An
cấp cho chị Vũ Thị Bội Trâm. Ở đây Phùng Quán đã tự tay đục đẽo dựng một cái
“Chòi ngắm sóng” bằng gỗ, lợp lá gồi. Đây là chỗ mà hằng ngày anh tiếp đón bạn
bè, uống rượu đọc thơ. Trên chòi ngắm sóng có dán, treo rất nhiều thơ, tranh ký
hoạ của các nhà thơ, họa sĩ trong cả nước tặng Phùng Quán. Từ năm 2003, khu
“chòi ngắm sóng” bị giải tỏa. Gia đình chị Vũ Thị Bội Trâm được cấp một khu nhà
tại chung cư Vĩnh Phúc, Phòng 204, Khu D3, Chung cư Vĩnh Phúc, Quận Ba Đình, Hà
Nội. Đây là căn hộ đàng hoàng nhất mà chị Bội Trâm được ở trong cuộc đời của
mình, nhưng anh Phùng Quán không còn nữa...
Cha: Phùng Văn Nguyện, học Đệ Tam niên Trường Quốc học, tham gia truy điệu cụ
Phan Châu Trinh, đòi thả cụ Phan Bội Châu, tham gia bãi khóa, biểu tình chống
Pháp năm 1926. Sau đó bị bắt giam, bị kết án 2 năm tù treo, bị bồi thường 3 năm
tiền học bổng. Ông trốn vào Sài Gòn, đổi tên là Phùng Quý Đông, thi đỗ vào
ngành công chức Pháp, làm việc ở Kho bạc Sài Gòn mấy năm, sau đó tưởng yên, xin
chuyển về quê công tác để lấy vợ, nhưng bị phát hiện và bị mật thám Pháp bắt và
bị giam ở nhà lao Đà Nẵng, bị tra tấn chết trong tù vào năm 1932, khi con trai
Phùng Quán mới biết bò.
Mẹ: Công Tằng Tôn Nữ Thị Tứ, thường gọi là bà Phán (vì chồng làm thông phán),
dòng Hoàng phái (theo đế hệ triều Nguyễn: Miên Hường Ưng Bửu Vĩnh... thì bà thuộc
hệ Bửu). Bà là một phụ nữ có nhan sắc và chữ nghĩa. Mới lấy chồng sinh con chưa
được 1 năm, thì chồng bị Pháp giết, bà ở vậy nuôi con cho đến khi con đi theo Vệ
quốc Đoàn, rồi thờ chồng, đợi con cho đến lúc chết ở Cố Đô Huế năm 1970, ngày
giỗ là ngày 2 tháng Giêng âm lịch.
Vợ: Vũ Thị Bội Trâm, sinh năm 1932, giáo viên dạy văn trường Chu Văn An từ năm
1970. Về hưu năm 1985. Hiện sống thờ chồng với đồng lương hưu.
Con gái đầu: Phùng Đỗ Quyên, sinh năm 1963, lấy chồng là cán bộ Bộ Ngoại giao
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, hiện ở Viên Chăn, đã có 2 con. Con trai út:
Phùng Quân, sinh năm 1968, hiện ở với mẹ.
Nhà văn Phùng Quán mất lúc 16 giờ 50 ngày 22 tháng 1 năm 1995 (giờ Canh Thân),
tức ngày 22 Tháng Chạp (ngày Quý Sửu) năm Giáp Tuất tại nhà riêng với căn bệnh
hiểm nghèo xơ gan cổ trướng, thọ 64 tuổi. Mộ của anh nằm tại quê vợ, thôn Kiều
Mai, xã Phú Diễn, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Đã được chị Vũ Thị Bội Trâm xây cất
đàng hoàng bằng tiền nhuận bút Tuổi thơ dữ dội do Nhà xuất bản Kim Đồng
tái bản 1997.
Tác phẩm chính đã xuất bản
Vượt Côn Đảo. Tiểu thuyết, 1954: Nhà xuất bản Quân đội Nhân
dân 1954, tái bản 4 lần; Nhà xuất bản văn học Thiếu nhi Liên Xô dịch 1956; Nhà
xuất bản Thuận Hóa tái bản lần thứ 5, 1987, in 50.200 bản; Giải thưởng Hội Văn
nghệ Việt Nam (1954- 1955).
Võ Thị Sáu. Trường ca, 1955. Tái bản 3 lần. Giải nhất cuộc
thi sáng tác hưởng ứng Đại hội Liên hoan Thanh niên Sinh viên Thế giới ở
Warszawa (Ba Lan). Nhà xuất bản Phụ nữ Việt Nam 1955.
Tôi muốn mời đến Tổ quốc tôi. Thơ, 1955. Nhà xuất bản Quân đội
Nhân dân, 1955; Báo Phụ nữ Liên Xô dịch và in, 1957.
Cuộc đời một đôi dép cao su. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh
niên, 1956.
Thạch Sanh cháu Bác Hồ. Truyện thiếu nhi, NXB Thanh niên,
1955; Nhà xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.
Bên bờ Hiền Lương. Bút ký, Nhà xuất bản Văn nghệ, 1955; Nhà
xuất bản Thượng Hải (Trung Quốc) dịch và in năm 1956.
Như con cò vàng trong cổ tích. Tập truyện thiếu nhi, (tác phẩm
ký bút danh Vũ Quang Khải, em trai vợ, lúc đang làm cán bộ ở Diễn Châu, Nghệ
An); Giải nhất cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật kỷ niệm 100 năm ngày sinh
Lenin do hãng Thông tấn Nôvôxti (Liên Xô) tổ chức năm 1970; Sở Văn hóa Thông tin
Bình Trị Thiên xuất bản, 1987.
Em gái nhỏ và chim bồ câu. Truyện thơ
Vĩnh Linh, lịch sử văn hóa (ký tên tác giả là Nguyễn
Huy). Nhà xuất bản Văn hóa, năm 1982. In 6.100 bản.
Dũng sĩ chép còm. Truyện thiếu nhi; Nhà xuất bản Trẻ, Thành
phố Hồ Chí Minh, 1987, đang in với bút danh Trần Vỹ Dạ (do nhà thơ Thanh Tịnh
chuyển). Khi Phùng Quán được phục hồi hội tịch mới đổi lại tên Phùng Quán (in
40.000 cuốn), tái bản tại NXB Kim Đồng.
Tuổi thơ dữ dội. Tiểu thuyết; Nhà xuất bản Thuận Hóa in lần đầu
1983, với tên sách Buổi đầu thử thách, tập 1 (ký tên Đào Phương), in 5.150
bản. In lần thứ 2 năm 1988 đổi lại tên Tuổi thơ dữ dội thành 3 tập,
800 trang, số lượng in mỗi tập 20.000 bản. Nhà xuất bản Kim Đồng tái bản lần thứ
nhất năm 1997, thành 6 tập khổ 10,2 x15,2 cm. Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ
Chí Minh tái bản lần 2. Đến nay bộ tiểu thuyết này đã được tái bản 5 lần. Giải
thưởng (giải A) Hội Nhà văn Việt Nam 1987; Xưởng phim Giải phóng dựng thành
phim Tuổi thơ dữ dội do đạo diễn Vinh Sơn thực hiện. Phim được Huy chương
Bạc tại Liên hoan Phim Việt Nam tại Nha Trang, năm 1990 và được Tổng cục Chính
trị Bộ Quốc phòng tặng giải thưởng nhân kỷ niệm 50 năm ngày Thành lập Quân đội
Nhân dân Việt Nam 1994.
Người du kích hói đầu. Truyện thiếu nhi, 1990.
Tiếng đàn trong rừng thẳm. Truyện thiếu nhi, 1991.
Đôi bạn tật nguyền kỳ lạ. Truyện thiếu nhi, NXB Thuận Hóa,
1991, in 4000 cuốn.
Trăng Hoàng cung, tiểu thuyết thơ, Thanh Vân xuất bản,
California, 1993.
Bản hùng ca về 17 Vệ quốc Đoàn. Tủ sách Tuổi hồng, NXB Trẻ,
1993.
Thơ Phùng Quán. Tập thơ, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1995. Tái
bản có bổ sung phần di cảo (300 trang), NXB Văn học, năm 2003 do vợ nhà thơ bỏ
vốn ra in.
Ngàn cánh hạc giấy. Truyện tranh, lời Phùng Quán, tranh màu
Lê Anh Vân, NXB Văn hóa Dân tộc in 10.000 bản năm 1992, được sự tài trợ của tổ
chức The Japan Foundation. Đây là truyện tranh duy nhất Phùng Quán ký tên mình.
Chiếc cối giã trầu bằng thép. Truyện tranh, 1984, tranh Huy
Toàn, truyện Phùng Quán, ký tên Thanh Tịnh, NXB Văn hóa Dân tộc 1988.
Thần hổ Chăm Pa. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh
Trương Hiếu, NXB Văn hóa Dân tộc 1986.
Tượng A Vooc Hồ bằng gỗ trầm hương. Truyện tranh, ký tên
Thanh Tịnh, tranh Đỗ Xuân Doãn. NXB Văn hoá Dân tộc 1986.
Tiếng đàn đá. Truyện tranh, ký tên Thanh Tịnh, tranh Huy
Toàn, NXB Văn hoá Dân tộc 1986.
Chuyện Tây Nguyên bên bờ Đanuyp xanh. Truyện tranh, ký tên
Thanh Tịnh, tranh Huy Toàn, NXB Văn hóa 1986.
Pắc Bó đón Bác về. Truyện tranh. Ký tên Thanh Tịnh, tranh
Nguyễn Bích, NXB Văn hóa Dân tộc.
Ba phút sự thật. Ký, NXB Văn nghệ, 5-2006, sách dày 280
trang, ịn 2000 cuốn.
Ngoài các tác phẩm nêu trên, Phùng Quán còn có khoảng 60 truyện
tranh ký tên khác (không mượn tên) trong đó có các tên sách như sau: Ông
già giết voi dữ, NXB Văn hóa 1982; Chiếc thuyền buồm bay, NXB Văn hóa
1984; Siêu Ly trở về, NXB Văn hóa 1984; Dòng suối mang tên em, NXB
Văn hóa 1982; Tiếng đàn trong đêm khuya, NXB Văn hóa 1984; Người phụ
nữ Tày dũng cảm, NXB Văn hóa 1978; Vàng A Sìn kể chuyện đánh giặc, NXB Văn
hóa 1978; Tòng Văn Kim và đồng đội, NXB Văn hóa 1978; Thiên tình sử
Điện Biên, NXB Văn hóa 1984; Dòng sông mất tích, NXB Văn hóa 1986; Hạt
muối đỏ, NXB Văn hóa 1985; Như những dũng sĩ trong truyền thuyết, NXB Văn
hóa 1980; Tiếng chuông Thiên Mụ, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Tên thám
báo và hai em bé, NXB Văn hóa 1981; Từ cõi chết trở về, NXB Văn hóa
1986; Người cầm cờ lệnh của Vua Quang Trung, NXB Văn hóa 1986; Bức
chân dung Lenin, NXB Văn hóa Dân tộc 1987; Một mình vào hang cọp, NXB Văn
hóa 1986; Ngày gặp gỡ, NXB Văn hóa 1985; Chàng Ná, NXB Văn hóa
1980; Bốn anh em tài giỏi, NXB Văn hóa 1988, v.v… Theo hồi ức của Phùng
Quán thì nhà văn còn viết một thiên hùng ca Huyệt lửa chôn chung với
1000 câu thơ về Trung đội cảm tử Huế năm 1946, đã bị mối xông. Năm 30 tuổi anh
viết tác phẩm Nước ta có một người mù, ký tên khác, NXB Thanh Niên định
in, nhưng phát hiện ra là Phùng Quán viết nên không in. Sau khi được phục hồi Hội
tịch Hội Nhà văn, Phùng Quán hỏi thì NXB cho biết đã làm thất lạc bản thảo
(!?).
Phùng Quán còn có nhiều tác phẩm khác viết về nghệ thuật sáng tác và diễn tấu,
truyện ngắn, truyện thiếu nhi ký tên những người quen biết như Thanh Tịnh,
Phương Văn, Vũ Quang Khải v.v… và nhiều bài báo cảm động, in trên các báo Văn
nghệ, Người Hà Nội, NXB Văn hóa, NXB Văn hóa Dân tộc, Tiền phong… mà
chúng tôi mới sưu tầm được một phần.
Gác Phổ Minh, 20/6/2006Ngô Minh


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét