Thứ Tư, 28 tháng 9, 2022

Ðọc "Ðất trời" của Nam DaoXXX

Ðọc "Ðất trời" của Nam Dao

Bất cứ quốc gia nào cũng có một lịch sử cho riêng mình, ghi lại những biến động và sự cố. Nhưng đôi lúc chính sử không được ghi lại khách quan, mà nó được tô điểm theo những quan điểm có lợi cho quyền thế lúc bấy giờ. Hay ngược lại, những điểm đẹp của lịch sử bị lờ đi khi nó bất lợi cho một thế lực nào đó. Ðó là loại sử chết.
Ngoài dòng chính sử, còn phần tồn tại của lịch sử “sống”. Lịch sử sống là thể hình tưởng tượng, suy diễn, phán đoán và cảm nhận quá khứ thông qua cuộc sống hiện tại, thông qua những vấn đề tồn đọng ở quá khứ chưa được giải quyết cho đến nay.
Đất trời (Nhà xuất bản Văn Mới, năm 2002, 406 trang) là tiểu thuyết lịch sử dựa trên những biến cố ở thế kỷ XV, được dựng lại theo cách nhìn của nhà văn đương đại Nam Dao. Ông soi rọi lịch sử với cái nhìn của chính mình ở hiện tại – như lời đối thoại của người hiện tại với lịch sử 600 năm về trước. Việc soi rọi những vết nhơ của lịch sử không có nghĩa là phủ nhận và chà đạp lịch sử. Ngược lại, sự soi rọi đó sẽ làm cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn hơn ở hiện tại, để rồi có những bước đi tự tin hơn và vững chắc hơn ở tương lai. Nam Dao cũng mang đến cho độc giả một quan điểm mở, mời gọi độc giả cùng nhìn về quá khứ với chính mình, để từ đó chúng ta hiểu biết được chúng ta là ai và chúng ta đến từ đâu.

Tóm tắt tác phẩm
Bính Tý, 1936. Hồ Quý Ly, là Đồng bỉnh chương sự, soạn sách Thi Nghĩa, viết bài tựa bằng chữ Nôm. Phát hành tiền giấy Thông bảo hội sao, thi hành phép hạn điền, sát hạch tăng lữ và lệnh cho sư chưa tới 50 tuổi phải hoàn tục.
Đinh Hợi, 1407. Thời gian này của 7 năm về trước, Hồ Quý Ly ép thiếu đế nhà Trần nhường ngôi, và đặt quốc hiệu là Đại Ngu, sau đó Hồ Quý Ly nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương. Lợi dụng tình hình mưa không thuận, gió không hòa, mùa màng thất bát, dân chúng Việt đói khổ và mất lòng tin nơi lãnh đạo, quân Minh đã chia 3 đạo quân chính do Trương Phụ, Chu Vinh, và Mộc Thạnh kéo vào đánh chiếm nước ta. Dân Việt đối diện với cảnh mất nước, lầm than, và tủi nhục. Đoàn người vòng vèo như một con trăn khổng lồ trườn lên triền núi để bị đày ải tới Yên Kinh (Trung Hoa). Nhiều phụ nữ đồng trinh cũng như có gia đình bị hãm hiếp, làm nhục. Đám con cháu của Hồ Quý Ly bị thiến.
Giáp Ngọ, 1414. Quan cai trị nhà Minh là Hoàng Phúc đưa một số nhà nho, tăng lữ… sang Trung Hoa, lập Văn Miếu, cấm không ai được cắt tóc, đàn bà không được nhuộm răng, phải mặc quần, mở học hiệu… đồng hóa Đại Việt, nhằm thiết lập chế độ Minh thuộc lâu dài. Thật ra, Đại Việt và Trung Hoa mãi cứ giằng co với lịch sử hàng ngàn năm, ú tim rượt đuổi tựa trò nghịch ngợm của hai trẻ tranh giật nhau một cái bóng.
Bính Thân, 1416. Thời gian này của 2 năm về trước (năm Quí Tỵ), Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi gặp nhau để bàn chuyện cứu nước Đại Việt khỏi ách thống trị của quân Minh. Nguyễn Trãi đã dùng triết lý “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” nhằm khuyên và nâng cao tinh thần chống quân Minh của Xảo và Hãn.
Mậu Tuất, 1418. Ít lâu sau khi Trương Phụ bị gọi về Yên Kinh, Lê Lợi dấy quân và tổ chức hội thề Lũng Nhai. Nhân lúc quân Minh hoang mang, Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Chích đưa binh chiếm Mường Thôi. Một năm sau (năm Kỷ Hợi, 1419), tổng binh Lý Bân sai làm hộ tịch trên khắp nước Đại Việt. Sang năm Canh Tý (1420), Lê Lợi lấy được Mường Nanh và Mường Thôi. Lý Bân và Phương Chính bại trận đành rút về cố thủ ở Tây Đô. Lê Lợi tiến lên Lỗi Giang, phái Lê Sát và Lê Hào đánh Tây Đô. Hàng dân châu Diễn nơi nơi hưởng ứng, khí thế nghĩa quân như diều gặp gió. Tuy nhiên, thực lực của nghĩa quân chỉ mang tính cầm cự mà chưa đủ quy mô. Cái chết đau thương của bé Vàng Anh đã làm cho Nguyễn Trãi ngộ ra “lấy đạo nghĩa chống hung tàn, mang trí, nhân thay cường bạo”.
Nhâm Dần, 1422. Nguyễn Trãi dâng Bình Ngô sách, Nguyễn Chích và Phạm Văn Xảo cùng nghĩa quân Lê Lợi hợp nhất. Nghĩa quân bị bao vây tại núi Chí Linh trong tình tế tuyệt vọng. Nguyễn Trãi giảng hòa với Trần Trí là tướng của nhà Minh lúc này.
Quý Mão, 1423. Nghĩa quân đóng tại Lam Sơn. Hạ sinh Nguyên Long, không rõ con của Lê Lợi hay Phạm Ngọc Trần. Một năm sau, vua nhà Minh chết bệnh. Nhân tình thế còn bất ổn, nghĩa quân đánh thần tốc, hạ đồn Đa Căng, đuổi Tham chính Lương Nhữ Hốt chạy về Tây Đô. Lúc đó, tân Hoàng Đế nhà Minh gọi Hoàng Phúc về, để Thượng thư Trần Hiệp sang thay. Theo Nguyễn Trãi, chính buổi chuyển tiếp này là thời đã đến. Chiến thắng to lớn này đã khiến lòng nghĩa quân lên cao. Lê Lợi quyết định vây đánh Nghệ An, chặn quân cứu viện từ Tây Đô tiến vào. Trần Trí quả nhiên mắc mưu.
Ất Tỵ, 1425. Hàng dân hưởng ứng nườm nượp xung quân. Nghệ An hoàn toàn bị bao vây và cô lập. Lúc này, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích và Lê Nổ đã đánh chiếm được Tân Bình và Thuận Hóa. Sách Tâm công của Nguyễn Trãi được sử dụng, chủ yếu là bao vây thành và diệt quân tiếp viện. Một năm sau (Bính Ngọ, 1426), nghĩa quân quyết định đánh Đông Đô. Phạm Văn Xảo chặn đường viện binh Vân Nam. Lê Bị và Lê Khuyển phục quân trên biên giới Lưỡng Quảng. Để Đinh Lễ và Nguyễn Xí giữ lực lượng chủ chốt tiến sau, Nguyễn Triện tiến sát Đông Quan, phá vỡ quân Minh đóng ở phía tây Ninh Giang. Lúc đó, Phạm Văn Xảo đánh vỡ quân cứu viện từ Vân Nam và Nguyễn Triện đã chiếm cầu Nhân Mục bắc qua sông Tô Lịch.
Đinh Mùi, 1427. Thành Nghệ An về tay nghĩa quân mà không tốn một giọt máu vì nhờ Nguyễn Trãi thân chinh vào Nghệ An thuyết phục Thái Phúc. Lê Lợi phong Nguyễn Trãi làm Nhập nội hành khiển, Lại bộ thượng thư kiêm Khu mật Viện sứ. Đồng thời, Lê Lợi cũng sai lập dinh Bồ Đề, đối mặt với Đông Quan, cao bằng tháp Báo Thiên để theo rõi động tĩnh. Lần lượt thành Xương Giang, ải Phá Lũy, ải Liên Hoa Chi Lăng bị nghĩa quân đánh tan tác và chiếm được.
Nguyễn Trãi viết Bình Ngô Đại Cáo – bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Đại Việt - được công bố cho toàn thiên hạ vào ngày Tết năm Mậu Thân (1428).
“Xét như nước Đại Việt ta
Thực là một nước văn hiến
Cõi bờ sông nước đã riêng
Phong tục bắc nam cũng khác
Đánh một trận, sạch sanh kình ngạc
Đánh hai trận, tan tác chim muông
Nó như kiến tan đàn dưới bờ đê vỡ
Ta tựa cơn gió mạnh quét sạch lá khô
Ta mưu phạt công tâm, không chiến cũng thắng!
Lấy đạo nghĩa thắng hung tàn
Mang trí, nhân thay cường bạo
Ta coi toàn quân là hơn, để dân nghỉ sức
Chẳng những mưu kế ấy cực kỳ sâu xa
Mà cũng xưa nay chưa từng nghe thấy!
Xã tắc do đó bền vững
Non sông từ đây đổi mới.”
Mậu Thân, 1428. Lê Lợi sai người giết Trần Cảo vì sợ bị chiếm ngôi. Lê Lợi phong tước sắc cho các nghĩa sĩ tụ hội ở Lũng Nhai, phong Tư đồ Trần Nguyên Hãn là tả tướng Quốc, Khu mật Đại sứ Pham Văn Xảo làm Thái Bảo, Hành khiển Nguyễn Trãi được tước quan phục hầu… Những kẻ đã cùng vua hội thề ở Lũng Nhai cũng trở thành hoàng thân quốc thích, thi nhau đưa con cháu vào làm hoạn quan và lính kín. Tháng Tư, Lê Lợi chính thức lên ngôi, lấy đế hiệu là Lê Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên, quốc hiệu Đại Việt, và miễn thuế trong vòng 2 năm.
Kỷ Dậu, 1429. Lê Lợi lập Tư Tề làm Quốc vương và Nguyên Long làm Hoàng thái Tử. Lê Lợi vì lo sợ bị chiếm đoạt ngai vua nên đã sai người giết chết Trần Nguyên Hãn, mặc dù Trần Nguyên Hãn đã xin thoái quan về điền viên vui cảnh già. Đồng thời, Nguyễn Trãi cũng bị hạ ngục. Nguyễn Thiên Tích đã xin tội cho Nguyễn Trãi. Lê Lợi ban biển ngạch công thần cho 93 người, Nguyễn Trãi vào hạng thứ 70 và không đóng vai trò quan trọng trong triều chính. Một năm sau, Lê Lợi cho làm sổ hộ tịch.
Tân Hợi, 1931. Nguyễn Trãi viết Lam Sơn thực lục để lưu lại cho đời sau về cuộc chiến chống đuổi quân Minh. Nhà Minh không chấp nhận xin cầu phong của Lê Lợi và chỉ tước phong cho Lê Lợi là Quyền thự An Nam quốc sự.
Quý Sửu, 1433. Lê Lợi phế Tư Tề xuống làm Quận Vương, lập Nguyên Long kế thừa và dạy cho Nguyên Long giữ vững ngôi vàng như thế vững chắc của ghế với ba chân đều bằng nhau – không cái nào được dài hơn hay ngắn hơn. Lúc này, Nguyễn Trãi lui về Côn Sơn với Thị Lộ. Ngày 22 tháng 8, Lê Lợi mất ở Lam Kinh. Nguyên Long lên nối ngôi lúc 11 tuổi, lấy đế hiệu là Lê Thái Tông.
Giáp Dần, 1934. Nguyên Long phải dựa cột nghe triều chính. Lê Sát tiếm gần như toàn bộ quyền hành và loại trừ những ai không nghe theo mình. Lê Sát ép Nguyên Long phải lấy con gái của mình, Kim Dao, phong cho Nguyên Phi. Nguyễn Trãi được phong làm Hành khiển. Lê Sát sai Nguyễn Trãi làm cầu phong với nhà Minh.
Đinh Tỵ, 1437. Nhà Minh phong vương cho Nguyên Long. Nguyên Long cách chức, xử chém những quan sai kiếm chác hay nhũng nhiễu bá tánh. Nguyên Long ghép tội Lê Sát chuyên quyền rồi phế đi chức tước. Sau đó, phế nguyên phi Kim Dao làm thứ dân, rồi phong Nhật Lệ, con gái Lê Ngân làm Huệ phi, đồng thời, phục lại chức tước cho những người bị hại trước kia. Sai hoạn quan Lương Đăng phụ Nguyễn Trãi đặt ra chế Lễ, Nhạc và triều nghi. Vì do bất đồng với Lương Đăng, Nguyễn Trãi trả lại công việc rồi rút về Côn Sơn. Nguyên Long phế chức tước của Lê Long và truất Huệ Phi xuống thành Tư Dung, rước tượng của mẹ mình, Phạm Ngọc Trần, vào thờ trong Thái Miếu và phong làm Cung từ Hoàng thái hậu. Thị Lộ được phong làm Lễ nghi Học sĩ và vào cung cấm để dạy dỗ Nguyên Long.
Kỷ Mùi, 1439. Khi Dương Thị Bí thụ thai chính cũng là lúc Nguyên Long trở nên bất lực và không còn khả năng tình dục, dẫn tới tính tình thay đổi, nóng giận. Nguyên Long thân chinh đánh họ Cầm ở châu Phục Lễ, bắt tên phản nghịch Hà Tông Lai ở Tuyên Quang. Một năm sau (1440), nhờ bài thuốc của nhà họ Nguyễn ở Đông Sơn, Nguyên Long bình phục khả năng làm đàn ông. Vua phong Nguyễn Thị Anh là Tuyên Từ. Dương Thị Bí ghen và hạ độc Thị Anh nhưng bất thành. Nguyên Long và Thị Lộ biết được chuyện này. Thị Lộ chỉ cách cho Nguyên Long trấn an là phong Thị Bí làm Hoàng hậu, lập Nghi Dân (con Thị Bí) làm Hoàng thái tử, đổi đế hiệu là Đại Bảo.
Tân Dậu, 1441. Một lần nữa Thị Bí sai người giết Thị Anh nhưng bất thành. Nguyên Long nổi giận, giáng Thị Bí làm thứ dân, đuổi ra khỏi cung và xuống chiếu nói rằng ngôi thái tử chưa định. Một năm sau (Giáp Tuất, 1442), Nguyễn Thị Anh sinh Bang Cơ, được phong làm Hoàng hậu. Tháng một, lập Bang Cơ làm Hoàng Thái tử, phong Khắc Xương (con Kim Dao) làm Tân Bình vương, và Nghi Dân làm Lạng Sơn vương.
Nhâm Tuất, 1442. Ngô Thị Ngọc Dao (được Thị Lộ thương yêu như con đẻ) hạ sinhTư Thành. Nguyên Long nghe lời dèm pha của Hoàng hậu xử Ngọc Dao tội Voi giày. Thị Lộ cứu Ngọc Dao. Tháng Ba, thi Hội - Nguyễn Trực đỗ Trạng Nguyên, Ngô Sĩ Liên đỗ đầu bảng Đệ Tam cấp. Nguyễn Trãi soạn văn bia, ghi tên Tiến sĩ. Trên bia Tiến sĩ đầu tiên đặt ở Văn Miếu, Nguyễn Trãi viết: “Hiền tài là văn hiến của đất nước, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, nguyên khí kém thì thế nước suy… Vậy bia dựng lên, để kẻ ác biết chỗ răn, kẻ thiện biết chỗ theo, chỉ rõ về trước, vạch tỏ về sau, một là để rạng danh tiết cho sĩ phu, hai là để vững thế lực cho đất nước.”
Trên đường về Kinh sau khi duyệt quân ở Chí Linh, Nguyên Long băng hà ở Vườn Vải, huyện Gia Định. Ngày 12, bọn Trịnh Khả, Nguyễn Xí, Lê Thụ… tôn Bang Cơ lên làm vua lúc 2 tuổi, đổi đế hiệu là Lê Nhân Tông. Bốn ngày sau, triều đình hặc tội Thi Lộ là thí quân (vụ án Vườn Vải), rồi tru di tam tộc dòng họ Nguyễn Trãi. Bang Cơ làm vua được 17 năm thì bị Nghi Dân giết vào năm 1459. Đinh Liệt và Nguyễn Xí lập Tư Thành lên ngôi, lấy đế hiệu là Lê Thánh Tông. Mười lăm năm sau (1464), Lê Thánh Tông minh oan cho Nguyễn Trãi, truy tặng tước Tán Trù và sưu lục di cảo thơ văn của Nguyễn Trãi.
*

Đất trời mô tả hai mươi năm xương máu và tủi nhục của người con Đại Việt chiến đấu giành độc lập và mười năm xây dựng đất nước của nhà Lê, để rồi kết thúc câu truyện với Vụ án Vườn vải và cái chết oan ức của Nguyễn Trãi.
Mở đầu truyện, nỗi đau và nỗi nhục của người Việt mất nước làm người đọc cảm thấy xót xa và quặn thắt con tim qua những tiếng hú trong đêm khuya. Tiếng hú của những phụ nữ đồng trinh và những phụ nữ có chồng bị làm nhục, tiếng hú của những trẻ thơ bị thiến, và tiếng hú vẳng vọng trong con tim khối óc của những người yêu nước. Ðó cũng là tiếng hú của tác giả xót xa cho một dân tộc triền miên trong tranh chấp, trong chiến tranh khói lửa. Phải chăng, “Đất cao, Trời thấp” của Nam Dao sẽ làm cho không gian trở nên nhỏ hẹp hơn, để những người con của Đại Việt trên toàn thế giới dễ nghe và dễ nhận thức được tiếng hú đầy đau thương và tủi nhục đó?
Đất trời của Nam Dao như hồi chuông cảnh tỉnh cả dân tộc. Sáu trăm năm sau Nguyễn Trãi, lịch sử gần như lặp lại. Đất nước giành được độc lập từ ách thống trị phong kiến, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và mộng xâm lăng bành trướng Trung Hoa. Nhưng giành được độc lập rồi chúng ta tự hỏi sức dân còn hay mất? Giành được độc lập để con dân Việt Nam bán mạng bỏ nước ra đi. Giành được độc lập để cai trị muôn dân bằng guồng máy công an - giống như lời trăn trối của Trần Nguyên Hãn là Lê Lợi cai trị muôn dân bằng Nội Mật Thám - biến đất nước thành trại tù khổng lồ. Giành được độc lập để toàn dân chuộng sản phẩm ngoại, yêu thích văn hóa ngoại. Vậy, chúng ta tự hỏi chúng ta thắng hay thua? Giành được độc lập, sao lại đánh mất chính mình? Đã đến lúc chúng ta nên can đảm chấp nhận quá khứ, xóa bỏ hận thù để xây dựng một Việt Nam vững chắc ở hiện tại và mạnh mẽ tiến lên ở tương lai.
17/6/2006
Trần Quang Vũ
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Trương Thị Thương Huyền và Kết tinh từ tình yêu biển đảo Những năm gần đây, đề tài biển đảo trong VHNT nở rộ. Tình yêu biển đảo được các v...