Thanh kiếm Thái A củavua Gia Long
Khách du lịch ghé qua Paris không thể không lại viếng Điện Quốc
gia Phế binh (Hôtel National des Invalides) có tiếng nhiều nhờ đã chứa mồ của
Vua Napoléon. Nhưng chớ nên quên trong tòa này còn có Viện Bảo tàng Quân đội
(Musée de l'Armée) là một trong những viện lớn nhất thế giới về mỹ thuật, kỹ
thuật và lịch sử quân sự. Đặc biệt Phòng Đông Phương, Cận Đông và Viễn Đông từ
thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 (Salle Orient, Proche Orient et Extrême-Orient du 15ème
au 19ème siècle) trưng bày nhiều khí giới Ba Tư, Ấn Độ, Tích Lan,... những thanh
gươm Trung Quốc, Nhật Bản... bao quanh một thanh bảo kiếm được ghi là của vua
Gia Long.Vua Gia Long
Tôi không phải là người độc nhất tò mò đi tìm xem thanh gươm
này. Nhưng tôi lại đã xin được ông Quản đốc Viện Bảo tàng mở tủ cho tôi chụp
hình. Không biết bao giờ mới có dịp may như thế nầy, tôi đã chụp ngang, chụp dọc,
chụp trên, chụp dưới,... Thanh kiếm gồm có hai phần: một lưỡi dài khoảng một
thước và một cán ngắn bằng một phần năm lưỡi. Đầu cán là một đầu rồng, có thể đầu
một con giao hay một con cù không sừng, bằng vàng chạm trổ. Có người Pháp cho
nó giống một đầu con chó (Note E) (1). Cổ rồng nối liền đầu rồng và đốc kiếm
(garde) làm thành đốc gươm (fusée) là một dãy bảy vòng ngọc thạch giống bảy đốt
tre dính liền với nhau qua những đường gân bằng vàng với đằng cuối một vòng mạ
vàng nằm giữa bốn chuỗi san hô xanh đỏ. Miệng rồng nhả ra một băng mạ vàng cũng
mang phía ngoài bốn chuỗi san hô xanh đỏ uống quanh về đốc kiếm làm thành cánh
đốc kiếm (quillon). Ở đằng cuối, cánh đốc kiếm nầy mở rộng ra quanh lưỡi kiếm,
có chạm trổ những hình lá và nạm những hột kim cương. Lưỡi kiếm hình hơi cong
là một thanh thép sáng ngời, khắc ở phần trên một mặt trời nằm giữa mấy cuộn
mây và tên gươm bằng ba chữ Hán: Thái A Kiếm. Tên này không phải ngẫu
nhiên mà có.
Thanh kiếm Thái ATrong hai cuốn Từ điển Từ ngữ Điển cố Văn học và Từ ngữ
Văn Nôm (3) có sự tích này: "Lúc nhà Tần chưa diệt được Ngô,
Trương Hoa xem thiên văn thường thấy giữa sao Đẩu và sao Ngưu có luồng khí máu
đỏ tía, các đao thuật đều nói đó là điềm báo nước Ngô đang buổi cường thịnh,
chưa đánh được. Riêng Trương Hoa cho lời nói đó không đúng. Đến khi đánh lấy được
Ngô rồi, luồng khí lại mạnh và sáng hơn. Trương Hoa mới đem chuyện hỏi Lôi
Hoán, người giỏi về thiên văn thuật số. Lôi Hoán cùng Trương Hoa lên lầu cao
quan sát một hồi lâu. Lôi Hoán nói: "Chỉ giữa sao Đẩu và sao Ngưu là có
luồng khí lạ đó. Ấy là cái tinh của bảo kiếm ở Phong Thành xông lên tận trời đấy".
Trương Hoa nói: "Quả vậy, nay tôi muốn phiền anh ra làm quan lệnh ở đất ấy
rồi ra công tìm gươm báu cho". Lôi Hoán nhận lời. Ông đến Phong Thành, cho
đào nền nhà ngục, thì tìm ra được một cái hòm đá nằm sâu dưới lòng đất hơn bốn
trượng. Khi sáng lóe ra, bên trong có hai thanh gươm, một thanh có khắc chữ
"Long Tuyền", và một thanh khác chữ "Thái A". Đêm hôm đó
không thấy luồng khí lạ ở giữa sao Đẩu và sao Ngưu nữa".Kinh luân đã tỏ tài cao,Thanh kiếm Thái ANguyên quán hai thanh kiếm trống Long Tuyền và mái Thái A này
trong Tể tướng kiếm, trước mang tên Can Tương và Mạc Da trong Nguyên
nhân kiếm được giải thích trong cuốn Thành ngữ Điển tích Từ điển (2).
"Ngô Hạp Lư đời Đông Châu giết anh lên ngôi, khiến Can Tương là một tên thợ
rèn gươm có tiếng, rèn riêng cho mình một lưỡi gươm. Can Trương tìm sắt tốt
vàng ròng, rồi lựa ba trăm con gái còn tơ đốt than nung lò ba tháng mà vàng
không chảy. Vợ Can Tương là nàng Mạc Da nói, rèn cái gì mà không hóa thì cần phải
có người để cúng mới nên. Mạc Da mới tắm gội sạch sẽ, cắt tóc nhổ răng, khiến
người quạt lửa cho đỏ rối gieo mình vào lò than. Vàng sắt đều chảy. Can Tương lấy
đó rèn hai lưỡi gươm, một lưỡi thuộc dương đặt tên là Can Tương, một lưỡi thuộc
âm đặt tên là Mạc Da. Rồi can Tương đem lưỡi Mạc da dưng cho Hạp Lư , còn lưỡi
Can Tương thì dấu để lại cho mình. Hạp Lư biết được giận lắm, sai người qua đoạt.
Can Tương lấy gươm liệng lên hóa rồng cỡi đi mất". Sáu trăm năm sau, tới
triều Tấn, tiếp theo là câu chuyện Lôi Hoán, Trương Hoa đã thấy ở trên. Thì
ra Thái A Kiếm là lấy từ sự tích bên Tàu.Bây giờ Thục chúa tỉnh ra,
Thanh kiếm Thái A
Trong một bức thư viết cho ông Carnot năm 1922 để trả lời một
câu hỏi của ông André Salles, Thanh tra Thuộc địa, ông Đại tá Payard, Phó Giám
đốc Điện Quốc gia Phế binh tả lưỡi kiếm chỉ có một rảnh khoét (gorge
d'évidement) (Note E) (1), thành thử có tác giả, trong một thiên khảo cứu
tìm tòi (4), xác định thanh kiếm nầy là một sản phẩm Âu châu, chỉ có gắn
vào một đốc kiếm Á châu thực hiện tại chỗ. Tuy nhiên, ở Viện Bảo tàng Quân đội
Paris, bảo kiếm nầy được trình bày là thanh gươm của vua Gia Long. Thật hay không,
cần phải có một bằng chứng, chẳng hạn một cái ảnh vua Gia Long mang kiếm hay một
văn bản xác định thanh kiếm Thái A chính là của vua Gia Long. Ví như thật là của
vua Gia Long thì ai đã đem biếu tặng kiếm cho vị quốc vương Việt Nam và trong
điều kiện nào kiếm được đem về trưng bày trong tủ kính Viện này? Ông Quản đốc
viện không có một tài liệu nào để giải thích sự kiện nếu không là một bản tin vắng
tắt cho biết thanh kiếm được đem từ An Nam về sau cuộc viễn chinh đầu tiên
(Note B) (1). Nếu khó lòng biết được lúc nào kiếm đã đến với vị vua nhà
Nguyễn, có thể đoán biết làm sao kiếm đã rời khỏi hoàng thành. Thanh nầy khác hẳn
thanh kiếm vua Khải Định sau này hay đeo như thấy trong ảnh. Nó cũng không thể
là thanh kiếm vua Hàm Nghi đã mang theo với chiếc ấn khi cùng triều thần xuất
bôn, khởi hịch Cần Vương sau đêm kinh đô thất thủ vì một cặp kiếm cùng các bảo
vật đã được phát hiện gần đây ở thôn Phú Hòa, huyện Hương Khê, tỉnh Hà
Tĩnh (6) đồng thời một thanh gươm khác "dùng để chém những dân
phu chôn vàng" rỉ, mục, nhặt được bên cạnh một gốc cây tươi trên đồi Yên
Ngựa ở vùng Mả Cú thuộc xóm Rồng, thôn Đặng Hóa, Xã Hóa Sơn (7). Ta không
thể tưởng tượng một ông vua nào hay một vị đại thần nào đã đem dâng biếu cho một
người ngoại quốc thanh kiếm của nhà vua, "một bảo vật lịch sử và tượng
trưng quan hệ đến hạnh phúc và sự bảo tồn dân tộc" như vua Đồng Khánh đã
nói với nhà văn Jules Boissière năm 1888 khi tiếp kiến ông nầy ở Huế và tỏ ý được
hoàn lại (Note F) (1). Nếu kiếm rơi vào tay người Pháp thì có thể là vì họ
đã tự tiện đoạt lấy, đặc biệt vào lúc tình hình rối ben, không còn trật tự chẳng
hạn vào những ngày biến cố Ất Dậu 5.7.1885.
Bộ Lại cho đến bộ Binh,
Phố phường hai dãy nép mình cháy tan.
Bao nhiêu của cải bạc vàng,
Nửa thì nó lấy, nửa đốt tàn thành tro...
Vua Khải Định đeo một thanh kiếm
Còn có câu hỏi tại sao vua Hàm Nghi khi xuất bôn không đem
thanh kiếm nầy theo cùng với cặp kiếm của ông, trừ phi kiếm đã bị cướp mất trước
hay trong thời gian biến cố. Dù sao, cướp bóc thời chinh chiến là chuyện thường
thấy ở nhiều nơi, huống hồ quan quân thuộc địa còn làm những việc tầy trời như
tháng giêng 1913, dưới triều vua Duy Tân, viên Khâm sứ Georges Mahé dám cho đào
lăng vua Tự Đức để chiếm lấy những bảo vật, một điều điếm nhục đã gây nhiều phẫn
nộ trong dân chúng cùng triều đình Việt Nam và cũng không ít tai tiếng trong giới
bảo hộ đến nỗi sau đó thủ phạm bị triệu hồi về nước. Xin nhắc lại, cướp kiếm chỉ
là một giả thuyết, đến nay chưa có một tài liệu nào chứng xác sự kiện. Sự can
thiệp của J. Boissière không thấy có kết quả vì thanh kiếm luôn còn nằm ở Viện
Bảo tàng Quân đội Paris. Và ở đây lại xảy ra một sự kiện khác cũng có phần lý
thú.
Ngày 03.10.1913 tờ báo Journal (Note A) (1), đăng một
tin nhỏ: Hôm qua, thứ năm là ngày Viện Bảo tàng mở cửa, lúc bốn giờ, sau lúc
viện đóng cửa, những người canh giữ khám phá một tủ kính bị phá vỡ và đã bị mất
cắp một thanh gươm An Nam, bao gươm và vòng đai. Những bảo vật nầy mạ vàng, nạm
đá, ngọc, có một giá trị lớn. Cuộc điều tra chẳng đem lại kết quả gì. Những dấu
in trên kính đã được ghi lại nhưng khách rất đông, phần lớn là người nước
ngoài. Tủ kính đã được khôn khéo mở ra với những dụng cụ cắt thép tí hon. Ngày
hôm sau, 4.10.1913, tờ báo Temps ( Note B) (1) cũng cho đăng tải một
tin tương tự với chi tiết bao gươm bằng da nạm kim hoàn và cặp móc chạm trổ dát
một viên đá quý lớn. Sau khi đọc tin nầy, lập tức ông André Salles, Thanh tra
Thuộc địa, viết thư cho Trung tướng Niox, Giám đốc Viện Bảo tàng, Tư lệnh Tòa
Quốc gia Phế binh, người có nhiệm vụ thực hiện cuộc điều tra với ông Guérin, để
tố cáo những nhà cách mạng An Nam. Lời buộc tội nầy không có một bằng chứng
nào, có thể chỉ phát xuất từ thái độ hiềm khích của ông André Salles đối với những
chí sĩ Việt Nam. Ông Niox cũng không tin và cho biết thêm thanh gươm không bị mất
cắp, chỉ cái bao gươm thôi (Note C) (1). Theo Đại tá Payard, bao gươm
không phải bằng vàng mà mạ vàng, hai vòng ngoài (chape) và đường viền đồng
(bouterolle) đều nạm đá cả hai mặt. Móc vòng đai (crochet de ceinture) và khâu
treo (bélière) bằng lụa và vàng nạm ngọc san hô, vòng đai bằng lụa và vàng cũng
bị mất cắp cùng bao gươm (Note E) (1). Cần giải thích thêm chăng bao gươm
và đai gươm mềm, dễ xếp vào túi hơn thanh gươm dài cứng...
Theo hai học giả quan tâm đến những bảo vật của hoàng gia thì
vua Gia Long còn có một thanh gươm khác mang tên Thanh gươm quy y.
"Thanh gươm này nguyên là bửu kiếm của tiên triều, thường dùng để chém đầu
giặc, những kẻ phản quốc,... Một điều lạ là nếu ngày mai có người bị giết thì
đêm ấy gươm đã thoát ra khỏi bao. Vua Gia Long thấy thanh kiếm ưa giết người
nên đem dâng cửa Phật và mới gọi là Thanh gươm quy y (Quốc Triều
Chánh Biên) (5). Có lẽ là tình cờ, hai cái gươm của vua Gia Long đều có sự
tích với cái bao: Thanh kiếm Thái A không còn bao nữa, còn Thanh
gươm quy y tự thoát ra bao, bây giờ ở đâu? May ra, ví chi được trưng bày
trước những cặp mắt dửng dưng của người ngoại quốc, nó được kín đáo thờ phụng
như cặp kiếm của vua Hàm Nghi được dân làng Phú Gia lưu giữ: "Một mái nhà
tranh. Một tấm lòng thành. Một bảo tàng lòng dân. Một ngôi làng sơn cước cũng
làm nên một cõi sống đẹp như huyền sử khi con người không quên quá khứ" (6).
Cặp kiếm và bảo vật của vua Hàm Nghi
được dân làng Phú Gia lưu giữ (6).
Chú thích:
1- L. Cadière, H. Cosserat, Documents A. Salles, Bulletin
des Amis du Vieux Hué, 4 (1933) 295-301
2- Diên Hương, Thành ngữ Điển tích Từ điển, nxb Đồng
Tháp, Đồng Tháp (1992) 117-8
3- Nguyễn Thanh Giang, Lữ Huy Nguyên, Từ điển Từ ngữ Điển
cố Văn học, nxb Văn học, Hà Nội (1989) 569; Nguyễn Thanh Giang, Từ ngữ
Văn Nôm, nxb Khoa học Xã hội, Tp Hồ Chí Minh (1998) 673
4- Dominique Rolland, Le sabre de l'Empereur Gia Long, Bulletin
de la Nouvelle Association des Amis du Vieux Hué, 9 (2005) 3-17
5- Bửu Diên, Hoàng Anh, Thanh gươm của vua Gia Long, vị
vua đầu tiên của triều Nguyễn, Nghiên cứu và Phát triển, 4 (34) (2001)
55-9
6- Văn Cầm Hải, Gặp kiếm báu và voi vàng của vua Hàm
Nghi, www.tuoitre.com.vn,
10.02.2007; Nghĩa Dàng, Hà Tĩnh: Phú Hòa - village gardien des objets
sacrés du roi Hàm Nghi, Le Courrier du Vietnam, 29.12.2008
7- Nguyễn Quang Trung Tiến, Theo dấu chân vàng của vua
Hàm Nghi, Huế Xưa và Nay, 80 (3-4) (2007) 30-39.
Võ Quang Yến
Nguồn: Huế Xưa và
Nay (7-8) 82 (2007) 41-45










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét