Xin trao đổi với Thụy Khuê
Cách đây mấy năm trên talawas tôi đọc được một nhận xét
gay gắt của Nguyễn Trung về Thụy Khuê: “Theo tôi, kiến thức của Thụy
Khuê có lẽ không hơn bậc trung học của Sài Gòn cũ, vậy mà bà ta lúc nào cũng
cao giọng dạy dỗ người này người kia, trong đủ mọi lãnh vực. Các nhà văn có tỏ
thái độ bất bình cũng phải thôi. Các cụ có câu: 'dốt mà hay nói chữ’!" (talawas
4.3.2003)
Lúc đó tôi chưa đọc Thụy Khuê nên nghĩ là Nguyễn Trung quá nặng lời.
Gần đây, cũng trên talawas tôi đọc được một nhận xét khác về Thụy Khuê. Nhà văn
Nguyễn Mộng Giác cho Thụy Khuê là một trong những “nhà phê bình có uy tín” ở hải
ngoại. Nguyễn Mộng
Giác trả lời một cuộc phỏng vấn: “Bộ môn phê bình ở miền Nam trước kia
và hải ngoại bây giờ rất yếu. Có thể đếm trên đầu ngón tay những người phê bình
có uy tín. Bây giờ điểm lại người có uy tín nhất hiện nay là Nguyễn Hưng Quốc,
tiếp theo là Đặng Tiến, Bùi Vĩnh Phúc, Thụy Khuê, Trần Hữu Thục, Nguyễn Vy
Khanh... và một vài người khác nữa”. (talawas 14.3.2006)
Tò mò trước những ý kiến đối ngược như vậy, tôi tìm các tác phẩm của Thụy Khuê
để đọc. Thụy Khuê đưa
bài lên mạng nhiều nên công việc này không khó. Nhưng tôi càng đọc
càng thất vọng. Bài viết nào của bà cũng chứa nhiều sai lầm rất sơ đẳng.
Tôi xin dẫn bài viết mới nhất của bà, bài “Thanh Tâm Tuyền
(1936-2006)” đăng trên báo Văn Học xuất bản tại bang California, Hoa Kỳ số
231 ra tháng 5 và tháng 6 năm 2006 để chứng minh. Đây là số đặc biệt về thi sĩ
Thanh Tâm Tuyền. Bài viết của Thụy Khuê là bài viết mở đầu cho số báo ấy.
A. Bà Thụy Khuê mở đầu bài viết của bà bằng đoạn sau:
“Trong vòng mười năm, từ 1945 đến 1954, những xu hướng đối mới văn học nghệ thuật
tạm thời lắng xuống, một phần vì chiến tranh, một phần vì chính sách văn hóa của
Đảng Cộng Sản mà Tố Hữu là đại diện chính thức, chủ trương đề cao thơ mới. Những
người có đầu óc cách tân dần dần bỏ cuộc: Nguyễn Xuân Sanh (Xuân Thu Nhã Tập)
trở về với thơ mới, Tô Ngọc Vân vẽ tranh tuyên truyền, Nguyễn Đình Thi làm thơ
vần, Văn Cao im lặng…”
Chỉ trong một đoạn ngắn như thế mà đã có các điểm sai như sau:
Thời 1945-1954, người “đại diện chính thức” của Đảng Cộng sản
trong lãnh vực văn hóa là Trường Chinh chứ không phải là Tố Hữu. Tố Hữu chỉ là
trưởng Tiểu ban Văn nghệ, dưới quyền Trường Chinh. Trường Chinh là người soạn
thảo tất cả các văn kiện chính thức về đường lối văn hoá thời kháng chiến.
Tố Hữu và Đảng Cộng sản nói chung chưa bao giờ “chủ trương đề
cao thơ mới”. Ngược lại họ luôn luôn lên án Thơ Mới và cấm tái bản toàn bộ các
tác phẩm thuộc phong trào Thơ Mới cho đến khi có phong trào đổi mới vào giữa thập
kỷ 80.
Thụy Khuê không những sai mà còn tự mâu thuẫn đến mức lẩm cẩm
khi bà viết rằng một trong hai nguyên nhân chính khiến những xu hướng đổi mới
văn học nghệ thuật thời 1945-1954 phải tạm thời lắng xuống là vì Đảng Cộng sản
vẫn “chủ trương đề cao thơ mới”. Tại sao Đảng Cộng sản chủ trương đề cao thơ mới
mà xu hướng đổi mới lại lắng xuống? Có trời mà hiểu!
Nói rằng thời 1945-1954 Nguyễn Xuân Sanh “trở về với thơ mới”
là muốn nói ông đã bỏ “thơ mới” một thời gian. Nhưng chúng ta biết Nguyễn Xuân
Sanh xuất hiện vào nửa đầu thập kỷ 40, thời kỳ cuối của phong trào Thơ Mới. Thời
kháng chiến chống Pháp ông vẫn sáng tác theo xu hướng cũ ấy. Ông chưa bao giờ bỏ
“thơ mới”, do đó, không thể có chuyện “trở về với thơ mới”.
Nguyễn Đình Thi chỉ bắt đầu công bố các tác phẩm thơ của ông
trong thời kháng chiến chống Pháp. Những bài thơ đầu tiên của ông là những bài
thơ theo xu hướng đổi mới, do đó, không thể xem ông như một trong những gương mặt
tiêu biểu cho hiện tượng “xu hướng đổi mới văn nghệ tạm thời lắng xuống” sau
năm 1945.
Thời 1945-1954, Văn Cao viết khá nhiều chứ không hề im lặng.
Những bài ca nổi tiếng như “Chiến sĩ hải quân”, “Chiến sĩ không quân”, “Bắc
Sơn”, “Làng tôi”, “Tiến về Hà Nội”, “Trường ca Sông Lô”, v.v... đều được ông
sáng tác thời kháng chiến chống Pháp. Ông chỉ “im lặng” sau vụ án Nhân
văn-Giai phẩm.
B. Tiếp theo, Thụy Khuê viết:
“Những đòi hỏi tự do sáng tác và đổi mới tư duy văn học trổi dậy [1] sau ngày chia đôi đất nước. Ở Bắc, phong
trào Nhân Văn Giai Phẩm chủ trương cải tạo toàn diện đời sống con người, dân chủ
hóa đất nước. Riêng trong địa hạt thi ca, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt muốn
đoạn tuyệt với thơ mới, để bước vào thơ hiện đại. Nhưng họ thất bại và phong
trào Nhân Văn Giai Phẩm bị dẹp tan. Mãi đến cuối thập niên 80, nhóm Nhân Văn mới
được “phục hồi”. Đặng Đình Hưng trở lại văn đàn với Bến Lạ và Ô
Mai, Lê Đạt với Bóng Chữ. Thi pháp của họ đánh dấu khuynh hướng hiện đại
thơ ở Bắc.”
Xin thưa cùng bà Thụy Khuê:
Nhóm Nhân văn-Giai phẩm không hề “chủ trương cải tạo
toàn diện đời sống con người”. Ngược lại, họ còn chống lại những ý định “cải tạo”
mà Đảng Cộng sản đang thực hiện lúc ấy. Họ chống lại phong trào cải cách ruộng
đất cũng như cải tạo tư tưởng, “đem bục công an đặt giữa trái tim người” của Đảng.
Họ chỉ yêu cầu được tự do.
Nói phong trào Nhân văn-Giai phẩm đòi “dân chủ hoá
đất nước” là hơi quá đáng. Tất cả mọi người trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm đều
chấp nhận sự lãnh đạo độc tôn của Đảng Cộng sản. Họ chỉ đòi hỏi Đảng nới lỏng sự
lãnh đạo ấy thôi.
Thời Nhân văn-Giai phẩm, Đặng Đình Hưng chưa xuất bản
thơ. Lúc ấy ông chỉ được biết đến như một nhạc sĩ. Bởi vậy, với Bến lạ và Ô
mai, Đặng Đình Hưng xuất hiện trên văn đàn chứ không phải là “trở lại”.
“Đoạn tuyệt với thơ mới, để bước vào thơ hiện đại”. Đọc câu
này, chúng ta phải hiểu thơ mới không phải là thơ “hiện đại”. Nhưng nếu Thơ Mới
không phải là thơ hiện đại thì không lẽ nó là thơ cổ điển? Vậy thơ hiện đại ở
Việt Nam bắt đầu từ lúc nào? Có lẽ Thụy Khuê lầm lẫn giữa hai khái niệm “hiện đại”
(moderne) và “chủ nghĩa hiện đại” (modernisme) chăng?
“Thi pháp của họ đánh dấu khuynh hướng hiện đại thơ ở Bắc”.
“Khuynh hướng hiện đại thơ” nghĩa là gì? Thụy Khuê muốn nói đến khuynh hướng hiện
đại hóa thơ chăng?
C. Hai đoạn kế tiếp Thụy Khuê chỉ liệt kê và trích dẫn những câu phát biểu của
Mai Thảo và Thanh Tâm Tuyền nên xin phép miễn bàn.
D. Sau đó, Thụy Khuê viết tiếp:
“Trên thực tế, Sáng Tạo đã nổi “ngọn triều lớn” trong giai đoạn 54-60, tương tự
như Tự Lực những năm 39-45. Thổi luồng gió mới vào sinh hoạt văn nghệ, làm thay
đổi bộ mặt thơ văn Việt Nam.”
Xin thưa với bà Thụy Khuê là tất cả các hoạt động nổi bật của
Tự Lực Văn Đoàn đều thuộc những năm 1932-39. Con số “những năm 39-45” mà Thụy
Khuê nêu là thời gian Tự Lực Văn Đoàn hầu như tan rã, chỉ tập trung vào các hoạt
động xã hội (phong trào Ánh Sáng) và chính trị (đảng Đại Việt Dân Chính) mà
thôi.
Đ. Bà Thụy Khuê lại viết tiếp:
“Về nội dung “nổi loạn”, Trần Thanh Hiệp viết “Đặt Nguyễn Xuân Sanh lên đỉnh
cao của đường cong”, tức muốn tiếp tục công việc Xuân Thu Nhã Tập đã bắt đầu những
năm 40 trong sáng tác: mở rộng tự do cho thơ. Sáng Tạo thành công trong việc hiện
đại hóa văn học, cả về lý thuyết lẫn sáng tác, giao hoà hai dòng tư tưởng lớn của
thế kỷ XX: Hiện sinh và Siêu thực.”
Đoạn này cũng có mấy điểm sai:
Tại sao việc tiếp tục công việc của nhóm Xuân Thu
Nhã Tập lại được xem là một sự nổi loạn?
Nhóm Xuân Thu Nhã Tập chủ trương quay về với truyền thống, kết
hợp Đông và Tây, do đó, đóng góp chính của họ không nằm ở chỗ “mở rộng tự do
cho thơ”.
Sáng Tạo không xuất bản bất cứ tác phẩm nào về lý thuyết, làm
sao họ có thể “thành công” “cả về lý thuyết lẫn sáng tác” được?
Hiện sinh có thể được xem là một dòng “tư tưởng lớn” của thế
kỷ XX nhưng siêu thực thì chưa bao giờ là “một dòng tư tưởng” cả. Nền tảng tư
tưởng của trào lưu siêu thực là phân tâm học, trong đó quan trọng nhất là sự
phát hiện ra sự tồn tại của vô thức và tiềm thức.
Ngoài Thanh Tuyền, không ai trong nhóm Sáng Tạo sáng tác theo
lối siêu thực hay thể hiện tư tưởng hiện sinh cả, vậy dấu vết “giao hòa hai
dòng tư tưởng lớn của thế kỷ XX” nằm ở đâu?
Chỉ trong 4 đoạn ngắn mà có đến chừng ấy điểm sai lầm. Tôi
xin phép tạm dừng ở đây, mong nhận được hồi âm của bà Thụy Khuê.
Chú thích:
[1] Lỗi chính tả trong nguyên văn đoạn
trích. Xin đọc là: “trỗi dậy” (talawas)
Sài Gòn, 4/7/2006Phan Thanh Nhị
Phan Thanh Nhị
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét