Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Cám ơn Lê VânXXX

Cám ơn Lê Vân

Cuốn tự truyện của nghệ sĩ Lê Vân, do nhà thơ Bùi Mai Hạnh chấp bút đang gây sốc mạnh cho người đọc. Người ta hỏi nhau: "Ông thấy thế nào?". Mỗi người một ý. Có người “không thể chấp nhận được” Lê Vân về  mặt này hay mặt khác. Có người: "Xem làm gì cái của ấy, hỏng người…".
Riêng tôi, tôi thấy muốn cảm ơn Lê Vân. Tôi không vội vã quy kết như một số người, nhưng  cũng chẳng biết gì hơn để bào chữa cho tác giả. Là người đọc, tôi muốn thử nghĩ thêm đôi chút về con người tài sắc, mang đậm cá tính này.  Và rồi chợt nghĩ: Âu đấy cũng chỉ là sản phẩm tất yếu của một thời đã qua mà thôi. Ở thời khác, nó khác.
 
Vậy thử hỏi: Nguyên nhân nào sản sinh ra hiện tượng khá độc đáo này? Một tài sắc gian truân.
Quá trình phát triển của xã hội loài người đầy biến động, biết bao những sự kiện đáng lưu truyền để ta suy ngẫm. Tiếc thay, do hạn chế về nhiều mặt, con người ta đã lãng quên nhiều hiểu biết, nhiều sự việc có giá trị, để nó trôi xuôi đi mãi theo dòng chảy của thời gian. May thay, đôi khi chúng ta cũng còn có cơ hội thấy lại chút gì để hồi tưởng, để tái hiện lại những điều tưởng như đã mất.
Lê Vân có phải là nhân chứng cho một thời kỳ lịch sử, được thể hiện khá rõ nét qua những dòng tự sự, đã tự phác họa ra được một bức tranh xã hội trong đó có hình ảnh của mình với nụ cười khó hiểu, đầy hạnh phúc lẫn khổ đau?
Báo chí đã nói và còn nói nhiều về cuốn sách này, nhưng chủ yếu nói về cảm tưởng và thái độ của bạn bè, của gia đình đối với tác giả (như: Lê Mai xót thương con gái Lê Vân, mong lời sám hối của Lê Vân được tha thứ; gia đình Lê Vân phản ứng trước cuốn tự truyện; nghệ sĩ Thanh Tú phản ứng…). Nhưng chưa thấy có ai đứng lùi xa hơn một chút để nhìn nhận, đánh giá một cách tổng thể về nó.
Vậy nếu thử nhìn rộng hơn, cuốn tự truyện toát lên được điều gì? Người ta  thấy có cần nó không? Sự ra đời của nó là hay hay dở?
  
Lê Vân sinh ra và lớn lên trong chế độ mới, chế độ lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm kim chỉ nam cho mọi suy nghĩ và hành động, từ chính sách của nhà nước đến đời sống tinh thần và vật chất của người dân. Thời kỳ này người ta cũng nói đến đạo đức. Đấy là: đạo đức cách mạng (hay đạo đức cộng sản). Nó cao thượng mà mênh mang, không dễ gì để hình dung được nó một cách cụ thể. Người ta chỉ mường tượng là nó rất nhân đạo và cao cả. Chế độ có đạo đức này sẽ dân chủ gấp cả triệu lần nền dân chủ đương đại, nó sẽ mang thiên đường đến ngay trên trái đất này cho nhân loại (Fidel Castro)… Nó không chấp nhận tồn tại cùng với đạo đức truyền thống - mang nặng ý thức phong kiến Khổng Mạnh cổ hủ. Nhà nước mới cũng không đề cao tinh thần dân tộc, vì sẽ bị sa vào “chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi” [1]. Nó có sứ mệnh lớn lao là cùng với các nước khác giải phóng nhân loại dưới một ngọn cờ chung. Nó không ưa gì tôn giáo, vì tôn giáo ra đời là do sự bế tắc, không có lối thoát về tư tưởng của con người; tôn giáo lại còn là thuốc phiện ru ngủ quần chúng, thủ tiêu đấu tranh cách mạng.
Sau khi có chính quyền, cuộc cách mạng ở ta vẫn tiếp diễn. Đây là cuộc cách mạng toàn diện, triệt để và lâu dài. Nó sẽ thay đổi toàn bộ từ ý thức hệ đến tổ chức của xã hội cũ, để lập nên một xã hội kiểu mới.
Người dân sống trong thời kỳ đó thấy rất rõ những đổi thay nhanh chóng ngoài xã hội rồi dần dần len lỏi vào trong từng gia đình, đến mỗi con người. Mọi thứ sẽ được giải phóng: giải phóng tư tưởng, giải phóng phụ nữ, giải phóng giai cấp, giải phóng con người… để xây dựng nên những điều hoàn hảo nhất.
Người ta ngơ ngác chưa hiểu cái gì ghê gớm đang diễn ra đây, nó đúng hay sai? Những khái niệm đạo đức được thay đổi. Thế rồi, bố con, chồng vợ, họ hàng tố cáo, vu khống, xỉ vả, đấu tố nhau bằng cả bạo lực vì cuộc  tranh giành quyền lợi. Việc bắt bớ giam cầm và mạng sống của con người được hoàn toàn quyết định bởi vài đồng chí trong “đội” [2]. Tôn giáo được xem như đối ngược với khoa học, đồng nghĩa với mê tín. Người ta mất chỗ để đặt niềm tin, để tôn thờ. Đền chùa miếu mạo được tháo dỡ làm nhà kho, chuồng lợn. Tượng Phật, thánh ở nhiều nơi được an nghỉ dưới ao hồ.
Có người tâm huyết đã ra hẳn thủ đô nghe ngóng, tìm cứu cánh, mò mẫm chút niềm tin. Đến chùa, nơi nào cũng thấy giống như Chùa Bà Đanh [3]. Tới tất cả các vườn hoa công viên, nơi thờ tự để tìm kiếm (tượng) cụ tổ Hùng vương, các vị thánh nhân dân tộc để khấn vái, kêu trình thì tuyệt nhiên chẳng hề thấy có một vị nào tồn tại. Ngoảnh đi thì thấy tượng anh Lý Tự Trọng [4], ngoảnh lại chỉ thấy tượng ông Lênin, đứng ở hai vườn hoa đẹp bậc nhất đô thành (vườn hoa Hồ Tây và vườn hoa Cột cờ).
Để đánh giá ắt phải so sánh. Trong nội dung hẹp của vấn đề, thiết nghĩ cũng chẳng nên nói gì nhiều. Thử lấy một ví dụ cận kề về thời đại chúng tôi, thời của phần nửa đầu thế kỷ trước, thời đại mà nước ta còn lạc hậu, dưới chế độ thực dân phong kiến, làm đối chứng.
Thời ấy, về ý thức cộng đồng, người ta rất coi trọng gia đình. Gia đình được coi là những viên gạch xây nên xã hội. Gia đình thuận, xã hội bền. Đạo đức truyền thống và tôn giáo đã gọt giũa, tẩy rửa con người từ thuở ấu thơ, tạo nên những “vật liệu” tốt để xây dựng gia đình, xã hội.
Ở nhà, con cái trước hết phải vâng lời cha mẹ, cãi cha mẹ là “con hư” [5]. Khi đến trường phải trọng thầy. Thầy dạy “lễ” trước khi dạy học “văn” [6]. Lớn lên phải có “tín”, có “nghĩa” với bạn bè. Khi lập gia đình phải có đạo vợ chồng, có nghĩa thủy chung…
Hầu hết người Việt ta xưa kia đều có đạo. Không đạo Phật thì đạo Thiên chúa hoặc các đạo khác. Không mộ đạo thì cũng  theo tập tục của làng xóm mà giỗ Tết, thờ cúng ông bà, tổ tiên. Nhà của người Việt, không thể thiếu ban thờ. Tín ngưỡng thường là tự nguyện. Con trẻ biết cúi đầu lễ tổ tiên  từ thuở lẫm chẫm biết đi. Để phí hạt cơm là “phải tội”. Tôn giáo là rào cản, ngăn cách giữa con người và tội lỗi bằng những lời răn rất cụ thể, bằng sự sám hối (xưng tội)… Về đạo đức gia đình, lời răn của đạo Phật: Không tà dâm; của đạo Thiên chúa: Không được mơ tưởng vợ chồng người (chỉ mới mơ tưởng đã là có tội!). Người ta luôn hướng thiện. Biết sợ, biết ghét cái ác, cái bất nhân. Nơi nào có đạo, nơi ấy ít tội phạm.
(Về đánh giặc giữ nước, xin hẹn một lần khác.)
Hiện nay, một số người có cảm tình với khái niệm “bản năng”, ngưỡng mộ cách sống theo bản năng. Có lẽ nó giông giống như khả năng riêng, như cá tính chăng? Không, bản năng là thuộc tính của sinh vật, muốn vươn lên lấn át, tranh giành để được sinh tồn, được sống khá hơn. Đó là điều tự nhiên, vốn có, là tốt. Nhưng đối với con người - không chỉ là sinh vật - không nên “theo” bản năng, mà phải có ý thức kiểm soát bản năng, không để nó trì trệ hoặc nổi loạn. Ý thức này phải do gia đình, do xã hội ban cho.
Theo quan niệm tôn giáo, trong mỗi chúng ta đều có thiên thần và quỷ dữ (ông Thiện, ông Ác). Thiên thần khuyên ta làm điều thiện, biết kiềm chế dục vọng. Quỷ dữ xui ta buông thả, làm theo bản năng, liều lĩnh để được thỏa mãn sự ham muốn của riêng mình.
Có đấng tiên tri thời cổ đại cảnh báo rằng: Cỡ ba ngàn năm sau, nhân loại sẽ gặp đại họa, chủ yếu từ phía gia đình. Lúc ấy luật trời lỏng lẻo, loài người sống buông thả, quỷ dữ rất đông, một số xổng ra khỏi cánh cửa địa ngục. Chúng tự giải phóng khỏi lốt quỷ, và bỗng nhiên nhận thấy mình là thiên thần, có sứ mệnh đi “giải phóng” cho con người khỏi những gì chúng cho là vô lý. Chúng muốn nhào nặn lại xã hội loài người. Chúng có nhiều dòng, đều mang nặng tà tâm và rất gian ngoan, xảo quyệt. Lúc kéo lên trần gian, trong lũ thuộc dòng Tham, một nhóm tìm đến các công đường để nhập vào các quan ông, khi xét xử; nhóm khác đến các tư dinh, kiếm các quan bà, quà cáp phỉnh nịnh để xui họ nắm “huyệt” và thao túng các đức ông ngay từ chốn phòng the.
Quỷ thuộc dòng Tâm lý là đông nhất, chúng tỏa xuống từng vùng dân chúng, vào từng nhà lấy lòng và giảng giải giáo lý Sa tăng. Chúng nói nghe cũng dễ lọt tai. Nhiều người theo chúng.
Quỷ thuộc dòng Tình ái lại khoác dáng hào hoa phong nhã, đến nhà có con gái xinh đẹp tìm cách thuyết phục mọi người để “cứu” các cô ra khỏi sự ràng buộc khó chịu của gia phong, rồi lấy làm vợ. Quỷ cái thì ve vãn các công tử hoặc biến thành cave để tạo quỷ con. Lũ già hơn thì vào các gia đình danh giá, giàu có tán tỉnh để “giải thoát” các ông chồng, bà vợ nhẹ dạ cả tin ra khỏi cái “địa ngục gia đình” của họ, rồi lập nên các gia đình khác, nửa quỷ nửa người. Thế là hàng loạt con cái họ, đứa bị “mất” bố, đứa “mất” mẹ, bơ vơ. Như chúng dự tính, bọn trẻ này trước sau sẽ bị đẩy ra đường, nhập với lũ quỷ lai, quỷ xịn, ngày đi phá phách, đêm đêm họp nhau tại các tụ điểm rượu chè, trai gái, đua xe, sát phạt nhau và… chích hút.
Chúng sinh sôi với mức độ chóng mặt.
Có người bảo, chúng xuất hiện đã khá lâu, dễ cũng được mấy đời. Mà nhiều đứa trông đến dễ thương.
Những người có tuổi, dù đã hiểu rõ đạo lý thánh hiền, nhưng giữa cơn đại cuồng phong về tư tưởng, điên đảo về đạo đức có tầm cỡ toàn cầu này thì mấy ai đã cưỡng lại nổi. Cũng đành để nó đưa đi. Sống trong dòng đời hỗn tạp ấy, ta đã bao lần quên câu hát mẹ ru, quên đạo làm cha, làm mẹ, tình nghĩa vợ chồng, quên phận làm con… để làm những việc chẳng ra gì? Thế mà, đâu có một lần sám hối! Vậy trách gì nặng nề đến những thế hệ trẻ cũng chưa một lần biết đến đạo lý làm người của ông cha.
Nhiều thế hệ Lê Vân được sinh và lớn lên trong giai đoạn mà con trẻ được nghe giảng nhiều về “đạo đức cách mạng” nhưng rất kém (hoặc không) hiểu biết về đạo đức truyền thống, trong đó có trách nhiệm cơ bản, rất cụ thể của mỗi người trong gia đình, ngoài xã hội. Trong khi nền nếp gia đình, đạo đức xã hội bị xáo trộn thì thử hỏi làm sao họ có đủ hiểu biết, đủ khả năng để sống thánh thiện giữa “mảnh đất lắm người nhiều ma” này? Làm sao họ có thể tránh được những cám dỗ, những ham muốn “bản năng” để không bước tiếp vào con đường định mệnh không mấy sáng sủa mà “số phận” đã vạch ra trước mắt?
Có người sẽ vặn hỏi: Thời ấy tại sao có người vẫn bằng lòng và thỏa mãn với cuộc sống, với chế độ? Xin thưa ngay: Liệu có chắc chắn như thế không? Hay chỉ là ngộ nhận? Dù đúng vậy thì trong cái tổng thể bao giờ cũng có cũng có số ít trường hợp cá biệt, trái với lẽ thường. Chỉ nên suy ngẫm những trường hợp thể hiện đặc trưng chung nhất của tổng thể mà thôi.    
Trên đây là vài lời nhận xét, lý giải có thể là hời hợt, lệch lạc. Người đời còn chỉ bảo thêm. Và chắc rằng rồi sẽ còn nhiều tác phẩm khác về thời kỳ cận đại và hiện đại ra đời cho ta suy ngẫm thêm để bước tiếp.
Còn riêng tôi, tôi trân trọng việc làm của Lê Vân vì cô hơn người khác là ở chỗ - dù đúng, sai - cũng biết sám hối và đã dũng cảm vẽ nên được bức tranh khá sinh động - theo ý mình - về gia đình, về toàn cảnh xã hội, trong đó có chân dung của mình để nhắc nhở và cảnh báo với chúng ta rằng: Đã có một thời như thế. Có những con người như thế.
Chú thích:
[1] Một chủ nghĩa bị phê phán khi còn tồn tại “12 nước xã hội chủ nghĩa anh em”.
[2] Đội cải cách ruộng đất.
[3] Ngạn ngữ: Vắng như Chùa Bà Đanh.
[4] Lý Tự Trọng (1914-31) Người cộng sản còn trẻ tuổi.
[5] Ngạn ngữ: Con cãi cha mẹ, trăm đường con hư.
[6] Ngạn ngữ: Tiên học lễ, hậu học văn.

12/11/2006
Nguyễn Hữu Năng
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ cô đọng, nhiều tầng nghĩa và đầy cảm xúc “Vườn mộng” thêm lần nữa, tôi có niềm xác tín hoàn hảo về Nguyễn Văn T...