Chuyện các thế hệ
người Việt hải ngoại
Nghiên cứu về cộng đồng di dân Việt Nam hải ngoại không thể
không khảo sát khía cạnh thế hệ vì sự hình thành và tiến triển cũng
như tương lai của cộng đồng đó liên hệ mật thiết đến nhiều thế hệ. Những năm gần
đây đã có một số nhận định, phát biểu nhưng chưa thật sự có những nghiên cứu
đúng nghĩa. Người ta đã nói đến những hiện tượng "thế hệ một rưỡi",
"thế hệ chàng hãng", "thế hệ nửa chừng xuân", "thế hệ
gạch nối", v.v... dần nhường chỗ cho những "thế hệ hội nhập",
"thế hệ mới", "thế hệ trẻ", v.v.
Thế hệ được định nghĩa bởi lịch sử và họ đã đến chỗ hẹn với lịch sử, cho là ở
tuổi trên dưới 20. Thứ, các thế hệ tiến về trước và các thế hệ đi song hành
nhau mà không bắt buộc phải gặp nhau, cũng như lịch sử không thể xóa được các
biên giới xã hội. Dù cùng màu da, tiếng nói hoặc sống trong cùng môi trường văn
hóa, địa lý và lịch sử, mỗi thế hệ có những đặc điểm riêng khiến việc đối thoại,
giao tiếp, làm việc chung chẳng hạn nhiều khi có những vấn đề, đụng chạm - những
bất khả cảm thông! Khoảng cách thế hệ (generation gap) đã và sẽ là một trở ngại
chính cho các vận động chính trị, xã hội cũng như trí thức!
Chỉ lui lại gần một thế kỷ, chúng ta đã có những thế hệ sau:
Thế hệ sống thời thuộc địa Pháp (1900-1940): nhận chịu giáo dục
của Pháp, hưởng văn hóa Pháp, nói tiếng Pháp hoặc biết văn minh Pháp. Pháp này
có hai loại: Pháp cổ điển nên nhiều người thế hệ này tỏ ra Tây trong
cách cư xử, ngôn ngữ và tư tưởng; Pháp thực dân sinh ra Tây con tiếp
tục lợi dụng và bóc lột đồng bào. Ngược lại, nhiều người dù vậy vẫn đón nhận
giáo dục và văn hóa Nho học, bộc lộ ra trong cách xử thế và tình tự, tư duy.
Thế hệ thời Đệ nhị Thế chiến và kháng chiến chống Pháp
(1939-1954): ảnh hưởng Pháp còn ở giáo dục nhưng văn hóa, tư duy đã độc lập
hơn, tự hào làm người Việt Nam.
3A. Thế hệ miền Nam Cộng hòa (1954-1975): ảnh hưởng Pháp vẫn
còn, nhưng dần dà Hoa kỳ giành ảnh hưởng về giáo dục, nếp sống rồi đến văn hóa.
3B. thế hệ miền Bắc cộng sản: văn hóa cộng sản, vô thần, phân chia giai cấp.
4A. Thế hệ Việt Nam thống nhất (1975-1986) trong nước sinh ra
trong tối đen, đáy địa ngục; 4B. thế hệ Việt Nam hải ngoại (1975-1986) lạc
lõng. Trong việc giáo dục, thế hệ di trú thứ nhất cũng như con em họ là thế hệ
nối dài, nhiều cố gắng, hy sinh để thành công, nên người.
Thế hệ sanh từ 1980 là thế hệ trong nước khi bắt đầu hiểu biết
thì xã hội đã cởi mở hơn và lần hồi có dịp tiếp xúc với bên ngoài, với người ở
ngoài về trong nước và đi du học ở nước ngoài; trong khi đó trẻ sanh cùng thời ở
hải ngoại có thể về trong nước và tiếp xúc bớt lằn ranh, biên giới. Thế hệ cuối
này không biết đến chiến tranh và lằn ranh Quốc-Cộng!
Tóm, nay, vào năm 2005, có thể phân biệt hai "chùm"
thế hệ đối chọi: một bên là thế hệ sống với lằn ranh/ biên giới gồm
các thế hệ 1, 2, 3 và một phần 4, sống với quá khứ và có thể ảo tưởng, trên những
quyền hành tưởng tượng có thể có hoặc phải có, luôn tham khảo hệ thống giá trị
đã dần hết cập nhật và nhân chứng. Ðây cắt nghĩa những hiện tượng mê bằng cấp,
bệnh trưng bằng cấp, đưa đến những việc lập hội để có chức tước, viết hồi ký để
nhắc nhở và đánh bóng quá khứ! Bên kia là thế hệ không biên giới, gồm
thế hệ 4 và 5, một thế hệ thật sự internet, @ móc, đối với Việt Nam là một
thế hệ "baby-boom", như đã từng đối với Âu Mỹ sau Đệ nhị Thế chiến.
Phải đến 2008-2015, tức lúc thế hệ này thật sự tam thập nhi lập, mới cho thấy
những đóng góp của họ.
Nói đến liệt kê các thế hệ tức không nói đến phân chia, vì mỗi thế hệ có những
giá trị riêng, văn hóa riêng cũng như hệ thống tham chiếu riêng. Mỗi thế hệ như
luôn trung thành với những giá trị của thế hệ mình! Có khi đi quá, không tin những
người thế hệ khác. Một nhóm người cùng phong trào hoạt động văn hóa học đường
chẳng hạn, khi ra hải ngoại có khuynh hướng tập trung trở lại, hoặc nếu có hoạt
động gì thì kêu gọi nhau làm chung, hoặc tìm cách bảo lãnh / sponsor bạn bè ở
những xứ khác đến cùng định cư một nơi, làm việc chung. Thành ra không lạ, có
người ở hải ngoại tìm không ra việc, có người vừa ra khỏi nước đã có bạn bè mời
về làm chung. Ðó có thể là một đặc tính văn hóa hay, nhưng tính bè nhóm cũng khởi
từ đó. Ðiểm phải ghi nhận, là hệ thống giá trị, văn hóa truyền thừa từ thế hệ
này sang thế hệ kia, sau khi đã trừ đi những cập nhật, phong thổ! Phong
trào nữ quyền cũng đã ảnh hưởng đến đời sống nhiều thế hệ: thế hệ đầu
quen phụ quyền, macho, xem nhẹ vai trò nữ (nhất là khi di tản, hai ba thế
hệ đi chung, sống chung); thế hệ 2, 3 phải cạnh tranh với phái nữ để sinh tồn,
trong đời sống gia đình cũng thay đổi; cuối cùng thế hệ trẻ hiện nay khi đã hội
nhập, sẽ xem người nữ như bạn thay vì là kẻ tranh quyền!
Ðối thoại khó, nguồn gốc có thể khởi từ căn bản luân lý và văn hóa. Một
người được giáo dục để phục tòng, để phù hợp với (một loại) phong hóa, tập tục,
không quen khai phóng, chấp nhận người khác, nếu không thay đổi, cập nhật, khó
có thể đến gần hoặc khởi một đối thoại. Tức biết quyền mà không biết biến,
tức chỉ biết nói ta, chúng tôi mà không dám xưng tôi vì
không có gì là của riêng hết: cứ tam tòng tứ đức làm sao hội nhập được với thế
giới ngày nay, ở đây, nam nữ bình quyền - một thế giới đổi thay quá nhanh và ở
ngoài dòng nước chính. Thành ra bị shock văn hóa, lạc lõng, sống
ngoài lề!
Trong môi trường văn hóa của người Việt hiện nay ở hải ngoại, nhìn chung, người
lớn tuổi có thái độ tư duy, diễn bày với tham vọng xác nhận vị thế tự tôn, tự
cao. Hoặc nói nhiều, diễn văn nhiều, hay đem văn hóa (mà là văn hóa nào?),
phong hóa, văn minh tập tục xưa cũ ra làm ngáo ộp, mà không có hành động - có
thái độ chờ đợi ở người khác kể cả thế hệ con cháu nhưng lại không ngừng theo dõi
cốt răn đe và có dịp... lên tiếng, ký tên! Hoặc nếu có ra tay, dấn thân, thì lại
bị kết án là tay dơ, bắt tay với... kẻ thù! Hoặc như đa số, hết xáo vạc lại xáo
voi [1] một cách vô bổ, kỳ quái và cả sống sượng!
Một thế hệ mới tự tạo cùng với họ, một hệ thống và thứ bậc giá trị mới. Những yếu
tố tích cực, nối kết và thống nhất sẽ được tự nhiên giữ lại, còn những gì phân
biệt và chia rẽ sẽ bị bỏ rơi. Ở hải ngoại, thế hệ trẻ sinh trưởng ở ngoài đất
nước này xa dần văn hóa các thế hệ đi trước. Họ sống cái dân chủ của xã hội họ
đang sống, đối xử công bằng bình đẳng hơn. Họ làm vì việc phải làm, có chương
trình, mục đích phân minh chứ không còn vì phải làm vì cha mẹ muốn, vì lý tưởng
chính trị, và nên làm nhiều hơn là phải làm. Họ dân chủ, minh bạch hơn, không
dùng mánh mối, mưu chước để thành công, trong việc học cũng như khi ra đời! Họ
nghĩ về Việt Nam như là người có gốc Việt Nam chứ không (hoặc bớt) còn là người
Việt Nam. Gốc văn hóa đơn giản, chứ không vì quá khứ 4, 5 ngàn năm văn hiến, vì
đã thắng nhiều thế lực ngoại xâm! Họ thẳng đường mà đi, mà tiến thân hơn là
nghĩ ta từng như thế hoặc ai thắng ai. Và nếu có ai thắng ai hơn ai, họ biết
tôn trọng quý mến nhưng ít đi đến tôn thờ, quỵ luỵ kẻ thắng kẻ hơn! Các thế hệ
này và sau nữa có thể sẽ có những liên hệ tốt đẹp với người cùng thế hệ trong
nước. Hai lớp người này có những điểm chung, hay nói khác, có thể giúp đến lại
gần nhau, đó là kỹ thuật, kinh tế, và cả hai xa lần chuyện quá khứ và dĩ vãng
oai hùng của những thế hệ trước đó! Có thể có những hệ thống giá trị mới sẽ được
sáng tạo ra, trong một tương lai mà sự cách biệt thế hệ bớt lại, tiến bộ cũng sẽ
bền hơn, ít hiểm họa chiến tranh hơn và nhất là kỹ thuật sẽ đóng góp nhiều làm
tiến hóa đời sống con người!
Yếu tố thế hệ đóng vai trò thiết yếu trong việc canh tân biến hóa xã hội. Giá
trị xã hội thay đổi theo con người và thời đại. Nên việc tìm hiểu sự khác biệt,
sự độc đáo của mỗi thế hệ giúp hiểu tại sao có những vấn đề và có thể từ đó làm
sao giải quyết những vấn nạn chung. Việc sinh sống cũng có khác nhau về thế hệ.
Thế hệ "bắt trẻ đồng xanh" (50-55 tuổi) sống tranh chấp do đó có
khuynh hướng hay cảnh giác, khơi trong gạn đục văn hóa mới và quê cũ để việc hội
nhập trở nên sáng suốt và tích cực!
Nói chung thì sau 30 năm hải ngoại đã cho thấy sự có mặt tham gia các vận động
chính trị xã hội cộng đồng của nhiều thế hệ. Sự hình thành và trưởng thành,
kinh nghiệm, ý thức, cái nhìn khác nhau, khiến vai trò cũng khác nhau. Ba thế hệ
nhập một là không nên, không tưởng và cũng bất khả thi. Có chăng là có thể tạo
được một thế liên hoàn, liên hợp hơn là đoàn kết một lòng. Nếu liên hợp
hoạt động được thì ảnh hưởng ra nhiều phía, chứ không ở lại trong một tổ chức,
liên minh hay mặt trận. Thế hệ 1 đáng lẽ rút lui để thế hệ 2 thay thế nhưng đã
chưa xảy ra trọn vẹn đối với cộng đồng người Việt hải ngoại. Thế hệ 1 vẫn bám
víu, vì danh hão, vì chính nghĩa tự ban. Thế hệ 2 nếu chưa chuẩn bị và dứt
khoát thì dễ theo con đường mòn của thế hệ 1. Ðối với thế hệ 3 với kiến thức và
lối sinh xử hội nhập, họ biết sức mạnh tinh thần, chính nghĩa, lý tưởng không đủ,
mà phải có sức mạnh số đông, có thực lực - một cộng đồng đúng
nghĩa, chứ không chỉ có cái vỏ hoặc bề mặt, có thêm kiến thức dân chủ cập nhật
và phải có cả sức mạnh của đồng tiền, có như vậy mới hội nhập chính trị dễ dàng
và hiệu lực hơn. Lý thuyết và hành động với những chỉ nam nhận thưc, công lý và
ngay thẳng!
Dĩ nhiên có những điểm gặp gỡ, như nếu lên phương trình độ ngang và dọc cũng có
những đoạn gặp gỡ, nghĩa là các thế hệ có những xung đột mà cũng có những hợp
tác! Thử xem, 3 thế hệ: trên 60, 40-50, và dưới 30, dù có khoảng cách thế hệ (tự
nhiên) về tư tưởng và quan điểm về vấn đề Việt Nam cũng như vị trí của họ trong
xã hội mới. Thế hệ già trên 60: lập trường chống cộng vững vàng (nói chung),
tích cực theo cách của họ, nhưng họ xem Hoa Kỳ là đất tạm dung. Thế hệ trung
niên nhìn nhận vai trò tương đối của hải ngoại, và để cho người dân trong nước
quyền tự do của họ, cho họ, giúp họ nhưng đừng quyết định cho họ; nên tổ chức tốt
liên hệ người với người, các hội ái hữu, địa phương. Thế hệ trẻ dưới 30 sinh hoạt
chính mạch (mainstream) trong xã hội Hoa-Kỳ, Canada,... nhưng có lúc họ ưu tư về
cội nguồn, về những vấn đề ở Việt Nam (thiên tai, sông Cửu Long, trẻ bụi đời,
v.v.). Những người này dứt khoát đối với những chính đảng truyền thống cũng như
các mặt trận, liên minh theo họ không thích hợp với môi trường xã hội đang sinh
sống cũng như có thể giải quyết vấn đề Việt Nam. Họ tin ở khả năng hơn
là màu sắc chính trị, quá khứ hay dòng dõi; do đó có thể tạo môi trường phát
triển kinh tế và chính trị ở Việt Nam.
Nguyệt san Sinh Viên Quốc Gia (Long Beach CA) của thanh niên sinh
viên Việt Nam hải ngoại ở các đại học Hoa Kỳ ra mắt tháng 8-1980 với bài của
giáo sư Phạm Cao Dương "Sứ mạng của sinh viên Việt Nam tại hải ngoại" [2] , ông nhận định những sinh viên Việt Nam
đợt 3 (so với đợt 1 thời Phan Bội Châu 1905) thành công học hành và nỗ lực gìn
giữ truyền thống Việt Nam nhưng lúc bấy giờ (1980), ông không biết làm sao để
trả món nợ đối với tiền bối Phan Bội Châu! Thì nay 30 năm sau, người trẻ đã từng
và tiếp tục lập nhóm với lý thuyết và hành động, theo mô hình cha anh, hoặc mới
hẳn. Những nhóm Nhân Bản của Tổng Hội Sinh viên Việt Nam tại Paris, đoàn thanh
niên Văn Lang (Montréal), Phong trào Thanh niên Sinh viên học sinh Tranh đấu tại
Canada (Tuyên cáo thành lập 18-5-1990),... Người trẻ dĩ nhiên tích cực gia nhập
hoặc bị lôi kéo. Vận động các giới trẻ, chuyên viên: với Phong trào Thanh niên
sinh viên học sinh tranh đấu giành tự do dân chủ cho Việt Nam (1-9-1991,
Toronto); Phong trào Thanh niên Tân dân chủ (NY) tiếp tục 2000 với Political
Forum 2000 ở Washington D.C. "tiếp tục theo đuổi đường lối hoà bình để xây
dựng dân chủ, dùng dân chủ để thống nhất dân tộc, etc ". Trẻ cũng tham gia
tranh đấu chính trị, là ngoại vi, thành phần của các tổ chức chính trị: Mạng Lưới,
Hội Văn hóa Khoa Học ở Houston TX lúc đầu tham gia các buổi sinh hoạt chính trị,
đóng góp tham luận (với Mặt Trận dân tộc dân chủ Việt Nam Houston 22-9-1991,
v.v.), dần dà nghiêng về văn hóa. Hội Văn hóa Khoa Học ở Houston TX tổ chức những
ngày truyền thống tuyên dương học sinh xuất sắc, tổ chức những trại Lên Ðường tại
TX từ 1998 nhắm huấn luyện khả năng lãnh đạo cho giới trẻ, ra tạp chí Hướng
Việt từ 1993. Ngoài ra còn có những tổ chức trại họp bạn Về Nguồn từ 1984
khởi từ Tennessee sau lan ra các tiểu bang khác (1992 ở Maryland, 1997 ở Camp
Piomingo KY, v.v.) có mục đích phát triển kiến thức văn hoá và sinh hoạt tập thể.
Trại Họp Bạn 45/95 Thanh niên quê hương Hành động ở Dallas TX 16-18/7/1993, BTC
ở Boston, có sự tham dự trẻ Ðông Âu, mục đích "tạo một hướng đi cụ thể cho
giới trẻ trong các lãnh vực phụng sự quê hương và dân tộc", với quan niệm
"lịch sử thuộc về thế hệ trẻ. Một thế hệ không bị trói buộc bởi những gánh
nặng của quá khứ, những ân oán chính trị. Một thế hệ có tinh thần dân chủ, cởi
mở, bao dung, đồng thuận, bất vụ lợi, dấn thân và hợp tác để tranh đấu cho một
tương lai dân chủ, tự do và phú cường cho Việt Nam" (Trích Thư kêu gọi).
Tiểu bang California vùng Orange County cũng như Bắc Cali nhiều trại sinh hoạt
trẻ cũng được tổ chức, cả những lớp đào luyện giáo viên tiếng Việt cho các
trung tâm tiếng Việt như Văn lang. Trung tâm Nguyễn Trường Tộ ở Âu châu tổ chức
mỗi năm một Ðại học Hè, lúc đầu ở vùng Strasbourg, sau di động sang Na Uy, Ðức
quốc. Montréal có nhóm Ngàn Thông, tiếp nối những đoàn Văn Lang và Liên hội
Sinh viên, Tuổi Trẻ cũng như vài nhóm vận động chính trị như Hành
Trình, Focus Việt Nam, tổ chức các Hội thảo thanh niên như "Tuổi trẻ Việt
Nam góp một bàn tay xây dựng tương lai" (Montréal, 6-10-2002) với sự đóng
góp của trẻ ở các tỉnh bang Canada khác và cả Hoa Kỳ. Ðại Hội Thanh Niên Sinh
Viên Toàn Thế Giới kỳ III ở Nam Cali Hè 2003. Hướng đạo Việt Nam theo người ra
ngoài nước, tổ chức những trại họp mặt (Thẳng Tiến I tại Jambville Pháp 8-1985,
II Everton Canada 8-1988, VII ở Houston TX 6-2002, VIII ở Nam Cali 7-2006),
v.v.
Mặt khác, các hội chuyên viên chia nhánh hoặc ngồi chung đàn anh đàn em. Giới y
sĩ là một trong những hội đoàn hải ngoại hay đặt hàng đầu chuyện trao bó đuốc,
từ hội thảo Hội Quốc tế Y sĩ Việt Nam Tự do (1995) với đề tài "tre sắp già
măng phải mọc" đến các hội thảo sau, đến 2003 vẫn bàn chuyện "trẻ
trung hóa y giới" [3] , nhưng cốt lõi chính trị vẫn cứng như
cũ! Một số tổ chức thành hội đoàn chuyên môn, như Hội Chuyên gia Việt Nam (Vietnamese
Professionnals Society, VPS) với các Phân Hội tại các châu Á, Úc, AÂu, Bắc Mỹ
và thành phố như Boston, Toronto, Houston, Atlanta, v.v. Chuyên gia về khoa học,
giáo dục, văn hóa và cả chính trị, tổ chức các hội thảo và xuất bản những Tuyển
tập hội thảo! Ðại hội Canh Tân Việt Nam do Hội Chuyên Gia Việt Nam tổ chức
ở D.C. 8-10/8-93 thúc đẩy giới trẻ về nước phục vụ - Hội bị nghi ngờ là ngoại
vi của một Mặt Trận! Vai trò siêu không gian Internet quan trọng đối với cộng đồng
trải rộng không gian địa lý như Việt Nam hải ngoại: Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam
Lên Ðường (lenduong.net) khởi từ một Ðại hội Thanh niên sinh viên toàn thế giới
(8-10/01-1999) ở Melbourne (Australia), thành lập mạng lưới trẻ năm châu,
phương tiện mới dân chủ kỹ thuật và cả có thể đến với trẻ trong nước, v.v.
Nhìn chung, giới trẻ ở Ðông Âu dấn thân chính trị mạnh, trong khi người trẻ ở Bắc
Mỹ cởi mở và dấn thân xã hội và chuyên môn nhưng ít chính trị hơn. Ở Liên Xô và
Ðông Âu không có vấn đề đụng chạm tranh chấp thế hệ như ở Bắc Mỹ vì hầu như
(lúc đầu) họ không có thế hệ trên 60, 70, cũng có nhưng những người
này cư ngụ ở các nước như Pháp hoặc không liên hệ chặt chẽ với các phong trào
trẻ. Người trẻ Ðông Âu hăng say ra nhiều báo (Tia Sáng, Ði Tới, Cánh Én, Ðàn
Chim Việt,...), làm đài phát thanh (Moscow, Hoàng Dung) và lập đảng (Xã hội Dân
chủ, v.v.).
Theo Census Bureau năm 1990, một phần ba người Việt ở Hoa Kỳ dưới 18 tuổi [4] và ở hải ngoại nói chung, có khoảng
300.000 chuyên viên phần lớn trẻ ở lứa tuổi 30. Người trẻ, chuyên viên, "vẻ
vang dân Việt" (thật) đang nắm các sinh hoạt văn hóa, xã hội, cả chính trị.
Ðây cũng là thế hệ @, a móc, cũng là a thương mãi / commercial a.
Như vậy cứ theo thống kê thì diaspora Việt có ưu thế ở xã hội tự do, dân chủ, với
thế đông đảo, trẻ có thể tìm lý tưởng, có thể mới và có thể định nghĩa mới về
lý tưởng, có thể từ chối hay đặt nghi vấn về những ý tưởng cũng như lý tưởng đã
có, cả lịch sử. Phía nhà văn, Trần Vũ đã gây chú ý một thời vì cương quyết rời
bỏ quá khứ để viết theo suy nghĩ và triết lý sống mới - nhưng không dễ. Cùng
trường hợp với một số nhà thơ đề cao các thể loại hội nhập như Tân Hình thức
(New Formalism), thơ cụ thể, vật chất, tính dục, v.v.
Trong các buổi hội thảo nhắm tuổi trẻ, như về "Vai trò người thanh niên tị
nạn Việt Nam tại hải ngoại", Houston, 3-1-1987 với diễn thuyết của GS Nguyễn
Xuân Vinh, người trẻ có thể nghe để hiểu kinh nghiệm và biết tâm sự người đi
trước. Người trẻ tuổi sống trong một xã hội và văn hóa từ chối quá khứ lịch sử
và độc tài dưới mọi hình thức. Một nhóm trí thức trẻ đã phản ứng chống cách giải
thích truyện Kiều của đàn anh đi trước. Chưa kể từng có những tận dụng tuổi trẻ
qua các phong trào, liên minh, v.v.
Nhiều tổ chức cộng đồng và chính trị đã chú tâm đặc biệt đến giới trẻ. Tổ chức
Phục Hưng là tổ chức chính trị có căn bản và đã có những đóng góp xây dựng cho
giới trẻ ở hải ngoại. Ngoài các lớp tiếng Việt Văn Lang ở nhiều tiểu bang, các
lớp sư phạm cho giáo chức ở hải ngoại, các Trại cho giới trẻ, tổ chức xuất bản
các tài liệu học tập và tạp chí như Ngày Về, Diễn Ðàn Thanh Niên, v.v. Thí
dụ trong Ngày Về số 13 (1987) đặc biệt về Tuổi Trẻ Việt Nam có những
bài tham luận như "Tuổi trẻ Việt Nam: người ở đâu?" của Phạm Cao
Dương, "Tuổi trẻ trong cuộc Quốc dân cách mạng" của Phạm Nam Sách,
v.v. Bài của Phạm Cao Dương kết toán 12 năm sau, tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại
được xem là thành phần thành công nhất trong tập thể di dân, ở các học đường và
chuyên môn. Tuy vậy tác giả đã nhìn thấy thành công đó không trọn vẹn vì xa văn
hóa dân tộc, vì thành công vật chất hơn là tinh thần và ý thức,...
Văn hóa tuổi trẻ thủ đắc ở đời sống hội nhập và văn hóa đa diện (dân chủ, kỹ
thuật, vì sự thật, dám nói, không nể vì, v.v.) cần được đề cao và ảnh hưởng những
cái gọi là căn bản truyền thống. Giới trẻ như đã trình bày, cũng chú tâm đến
văn hóa. Các hội đoàn trẻ, các trại hè, các lớp tiếng Việt và các báo chí được
xuất bản mục đích nhắm giới trẻ; làm một gạch nối thế hệ trung trẻ hoặc hoàn
toàn trẻ, thay vì lúc đầu cộng đồng có khuynh hướng truyền thừa già trẻ - mà
thường theo quan niệm và phương cách người lớn.
*
Về chính trị, chính cách "tranh đấu" lý thuyết sáo mòn quen thuộc của
người lớn đã làm nẩy lộ ra sự cách biệt với thế hệ trẻ. Nói khác đi trẻ già
không những là những mâu thuẫn, cách biệt trong đời sống mà còn thể hiện trong
công cuộc đấu tranh chung hiện nay. Ở trình độ ngôn ngữ sử dụng, ở cách tiếp cận
vấn đề và giải pháp đưa ra. Chúng tôi nhận thấy ý niệm "dân chủ" qua
nhận thức của những vị tiền bối không cùng nội dung với ý niệm "dân chủ"
của người Việt trẻ ở Ðông Âu mà cũng không gần với ý niệm "dân chủ"
trong đầu óc lớp trẻ trưởng thành ở các quốc gia Âu Mỹ!
Nói chính trị là nói đến sinh hoạt cộng đồng, vì cũng vậy! Người thế hệ "lớn"
tham gia việc cộng đồng phần lớn có mục đích đánh bóng và quyền lợi bản thân
hơn là thật sự hy sinh cho tập thể, và phần lớn đó cũng quá bám chức tước và bệnh
chuộng bằng cấp quá trầm kha. Nhưng các ngài đó lại không tôn trọng dân chủ và
cả nội quy hội đoàn và luật lệ bản xứ. Họp đại hội thì không theo một nghị
trình có thứ tự, cách điều hành thì ta đây chủ tịch hơn là tôn trọng Code de
procédure, thành thử có địa phương như Montréal thêm nạn thưa kiện ra tòa vì tổ
chức đại hội đồng và bầu cử sai cả nội quy mà chính họ phải là người tôn trọng
và áp dụng! Chưa kể những tệ đoan đó đưa đến những tốn phí cho hội đoàn (luật
sư, thi hành án lệnh, làm lại, v.v.). Cái đầu có vấn đề thì đừng than van người
ta không tham gia: người "dân ngu khu đen" tự hỏi không lẽ mình lại
đi đóng niên liễm cho các ngài đánh bóng các ngài và kiện tụng nhau?
Có thể nói công cuộc đấu tranh chính trị hiện nay dù muốn dù không đang đi vào
giai đoạn chuyển tiếp. Trước hết là chuyển tiếp thế hệ. Quá khứ nào mà không đẹp
cũng như mọi thất bại và thành công đều hữu ích cho những bước kế tiếp. Nhưng
quá khứ không đủ để đảm bảo tương lai nếu không có máu mới, sinh lực mới, ý thức
cụ thể và cập nhật theo thời đại. Người già (hoặc theo kiểu già, xin tạm gọi
như vậy) làm chính trị, tranh đấu với quá khứ, thành thử đưa đến những cấu kết
con ông cháu cha, dòng dõi, chính thống, gốc đảng này đảng nọ,... và đưa đến những
bỏ qua, nương nhau, nể vì và cả cố chấp, mũ ni,... Người trẻ trái lại làm việc
với khả năng, lý tưởng, luật pháp dân chủ. Nhiều "trái chuối" chín ở
xứ người (tức vỏ vàng Việt Nam mà ruột trắng hội nhập) đã
có ý thức âm thầm làm việc, âm thầm về Việt Nam để nhìn tại chỗ thay vì chỉ
nghe lời răn đe quá mà trở nên cố chấp, lỗi thời như đấng bậc cha mẹ khi bỏ nước
ra đi. Sau nữa, "chính trị" hôm nay không còn mang cùng nội dung như
đầu thế kỷ trước. Thời nay "chính trị" phục vụ con người thay
vì phục vụ những phe đảng, đưa đến hài hòa hơn là đối đầu! Thêm vào nào tự do
cá nhân và thực địa dân chủ! Trách nhiệm do đó ở lớp người trẻ, và trách nhiệm
này khá lớn và khó khăn! Ngoài ra công cuộc đấu tranh, tiếp nối không thể không
đi chung với việc đoàn kết. Khác biệt và có khi mâu thuẫn về chính trị và nguồn
gốc các thành viên của "cộng đồng" ở hải ngoại, giữa người Việt ở
Ðông Âu và các nơi khác Âu Mỹ Úc là một trở ngại cần vượt qua. Hy vọng vẫn ở thế
hệ trẻ hơn!
Hơn 30 năm qua, có thể quan sát thấy tình trạng không bi quan như những lo lắng
của người quan tâm từ những ngày thời đầu 1975 sợ mất tiếng Việt, sợ mất giống
(Võ Phiến, Thanh Nam, Phạm Cao Dương,...), hoặc những sợ hãi có tính bảo thủ, cứ
bo bo với "chính nghĩa" (như Phạm Kim Vinh) vì lo đã phê phán những
thế hệ nối tiếp là "tay sai Mỹ gốc Việt" [5] . Trẻ sẽ duy trì văn hóa Việt Nam dưới một
hình thức nào đó, trái với, nhưng 30 năm sau, vẫn chưa đến nỗi nào, vẫn có những
tiếp nối, duy trì, có thể đa dạng hơn, qua các tổ chức, các lớp tiếng Việt, các
trại Hè, các tạp chí, với các lớp di dân mới và hiện tượng xã hội mới (về Việt
Nam lập gia đình, đoàn tụ gia đình, về sống hưu ở Việt Nam, v.v.)!
Với hiện tượng toàn cầu hóa hiện nay, sẽ bớt đi những nền văn hóa khép kín, nhất
thể! Dù gì thì cũng không dễ chuyển giao trong tình hình bám víu quá khứ như một
phần cộng đồng hải ngoại hiện nay!.
Tương lai sẽ là vấn đề sống chung - nếu không là giải pháp chính trị
thì sẽ vẫn đến tự nhiên vì người Việt nhất là giới trẻ hội nhập có tiềm năng
kinh tế, trí thức và tối tân hóa, từ đó họ có thể giúp phát triển cộng đồng hải
ngoại và Việt Nam trong nước, đi vào toàn cầu hoá. Vấn đề giao lưu văn hóa tích
cực, tự nhiên, thẳng thắn trong và ngoài nước, vẫn là một vấn đề chỉ có thể giải
quyết với thời gian. Ngoài có chống, có tiếp, trong nước khuyến khích đầu tư, hồi
hương, nhưng chưa có chính sách hợp lý về văn hóa, xã hội! Ðối với một số thì
kinh tế thị trường là một phương tiện tốt vì sẽ dần thay đổi bản chất của chế độ
trong nước, xã hội sẽ càng phân hoá và dân sẽ bớt sợ quyền uy của Đảng. Thế kỷ
XXI sẽ là thế kỷ kinh tế trí thức, người Việt ở hải ngoại nằm trong đó nhưng liệu
tâm lý, não trạng (mentality) đã sẵn sàng chưa? Vấn đề văn hóa vẫn quan trọng
khi giao lưu văn hóa đã trở nên không thể tránh, nhưng phải có phẩm chất văn
hóa, nâng cao phẩm giá con người, tức không như trong nước ngưng ở sản xuất những
vidéo, phim ảnh giới thiệu hình ảnh quê hương và mời du lịch, và dù ca nhạc trẻ
trung, mới, đa dạng hơn hải ngoại. Mặt khác, nội dung không chỉ là chuyện luân
lý truyền thống sử dụng lại tuyên truyền hy vọng tâm phục người xem vì thật ra
chính và tà rất tương đối, trong chính có tà và ngược lại - chính tà không đơn
giản trơn tru một chiều như tuyên truyền chính trị!
Quan hệ chính trị và văn hóa mật thiết, đối với Việt Nam còn hơn nữa! Chuyện cấp
thiết là phải thống nhất tình tự dân tộc! Tinh thần Việt Nam vốn là nhân bản, sự
sống còn mạnh mẽ, là những điều khiến dân tộc Việt Nam thoát được những trói buộc
của đô hộ và ngoại bang! Như đã xét qua ở trên, cơ may đã và đang đến với dân tộc
Việt Nam: các thành phần từng chống đối nhau (cộng sản, thân cộng, quốc gia,
v.v...) đã đến gần và ngồi lại với nhau, chỉ còn chút nữa, đó là bỏ chia rẽ và
phát triển tình tự dân tộc là đồng thuận lớn!
Thế hệ người Việt mới và những người đã trưởng thành về chính trị bất luận tuổi
tác và giai tầng xã hội, nhất là giới sinh trưởng trên đất nước ngoài quê hương
gốc, sẽ hiểu sức mạnh của ước muốn của thời đại thế giới đa cực chúng ta đang sống,
sẽ có thái độ và hành động chính trị thực tế hơn và sẽ nhìn thấy ai hoặc lực lượng
nào thật sự là là cản đường tiến hóa của dân tộc!
Trên đây là ghi nhận lại những ý tưởng rời rạc của chúng tôi là những người đã
sống và không tránh khỏi dăm ba khủng hoảng thế hệ. Sống ở quê người đến nay đã
lâu về thời gian hơn sinh sống ở trong nước. Khi rời tổ quốc hành nghề chưa đủ
lâu để có kỷ niệm mà kể lại, chưa đông đồng nghiệp hoặc người cùng địa phương để
gây bè. Lúc mới lưu thân, vấn đề thế hệ không đặt ra vì không bao nhiêu người ở
những nơi heo hút. Nhưng khi xã hội người Việt bắt đầu thành hình với đủ cơ cấu
như phần nào trước đó thì vấn đề thế hệ đôi lúc đã xảy ra. Nhất là trong những
sinh hoạt cộng đồng, hội đoàn hoặc có tính cách chính trị. Dĩ nhiên có một
khuynh hướng tìm đến những người bạn cùng thế hệ. Tuy nhiên thế hệ chúng tôi
làm lót đường, nối cầu một cách tự nhiên vì đi sau và từ chúng tôi đã dần lớn dậy
một, hai, ba thế hệ trẻ hơn. Nếu bi quan thì cho rằng thế hệ mình là thế hệ cuối
còn nhiều phần trăm Việt Nam, hai thế hệ sau nếu chưa thành chuối vàng vỏ
trắng lòng thì cũng như đứa con nuôi của người bản xứ, nếu chỉ
nói về khía cạnh văn hóa, tâm lý của vấn đề thế hệ.
Chú thích:
[1] Sử dụng lại chữ dùng của Tưởng Năng
Tiến trong "Sổ tay thường dân: xáo voi và vợ chồng Phạm Hồng Sơn"
2000 (www.nhanvan.com): "cộng đồng người Việt hải ngoại cũng đang học cách
nấu xáo voi - theo công thức "trăm voi không được bát nước xáo" của
trong nước"!
[2] Sinh Viên Quốc Gia Long Beach CA, 1,
8-1989, tr. 13.
[3] Xem Nguyễn Đức Liên. "Luồng gió mát...
Canada", TS Y Sĩ, 159, 10-2003, tr. 24+.
[4] Theo Lê Ngoan của Northern Illinois
University, Xem Ngày Nay TX, 320, 15-5-1995, tr. B1.
[5] Trong Chính nghĩa lưu vong còn một chút
này (Tủ sách PKV, 1991), ông phê phán nặng nề những người trẻ hơn dùng
ngôn ngữ hay phương cách làm việc của hội nhập Âu-Mỹ! (tr. 140-166).
27/12/2005Nguyễn Vy KhanhNguồn: Tạp chí Định hướng, Trung tâm văn hóa Nguyễn Trường Tộ xuất bản, số 39, mùa hè 2004
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét