Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

XXXMối đe dọa cho an ninh từ tỷ lệ giới tính ở châu Á

Mối đe dọa cho an ninh từ
tỷ lệ giới tính ở châu Á

“An ninh nhân khẩu” (Security demographics) đã trở nên một ngành nhỏ của ngành học Nghiên cứu an ninh (Security Studies) trong vài năm gần đây khi các học giả đã bắt đầu xem xét các tác động tới an ninh của xu hướng biến đổi nhân khẩu dài hạn. Ví dụ, một nghiên cứu mới đây của RAND nhan đề “Động lực học an ninh của các yếu tố nhân khẩu” cho rằng xu hướng nhân khẩu toàn cầu, như xu hướng sinh sản, tăng trưởng dân số và tăng cường đô thị hóa có liên quan tới an ninh quốc tế và của Hoa Kỳ. Các quốc gia với tỷ lệ sinh đẻ cao và số lượng những người trẻ tuổi lớn có thể tạo ra các nguy hiểm về an ninh khi kết hợp với mức thất nghiệp cao - những người trẻ tuổi có thể đi theo các đường lối chính trị cực đoan và đe dọa an ninh quốc gia và các nước láng giềng. Qua việc nghiên cứu các cuộc nội chiến trong thập kỷ 90, các tác giả của Population Action International tính toán rằng các quốc gia với dân số trẻ chiếm từ 40% dân số trở lên sẽ có khả năng lâm vào nội chiến 2,3 lần nhiều hơn các quốc gia có số dân trẻ ít hơn. Nghiên cứu của họ cũng cho thấy trong cùng giai đoạn đó, các quốc gia với số dân trẻ lớn, cộng với mức độ đô thị hóa cao và khan hiếm nguồn lực có 40% khả năng sẽ lâm vào nội chiến.
Những nghiên cứu này về mối liên hệ giữa nhân khẩu và an ninh cung cấp một cái nhìn mới về vấn đề dân số, ổn định xã hội và xung đột. Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho rằng, có một yếu tố nhân khẩu học phải được tính tới khi đánh giá về ổn định xã hội và an ninh quốc gia – đó là tỷ lệ giới tính (sex ratio). Đâu là hàm ý cho an ninh của một xã hội mà số đàn ông của nó, đặc biệt là số người trẻ trưởng thành vượt xa số phụ nữ? Trung Quốc và Ấn Độ cũng như một số quốc gia Châu Á khác, đang có nhiều sự biến đổi về nhân khẩu, mà một yếu tố quan trọng nhất là sự tăng lên rất cao của tỷ lệ giới tính trong những người trẻ tuổi. Tỷ lệ giới tính cao ở Trung Quốc và Ấn Độ là đặc biệt quan trọng cho an ninh dài hạn, cả cho những quốc gia này và những quốc gia Châu Á nói chung.

Nhân khẩu Châu Á
Trong khi xem xét nhân khẩu của Trung Quốc, Ấn Độ và một số các quốc gia khác, chúng tôi đặc biệt chú ý tới sự cấu tạo dân số, đặc biệt là qui mô, lứa tuổi, phân bố giới tính cũng như là động lực của sự thay đổi sự cấu thành đó. Đầu tiên, chúng tôi xác định vùng và quốc gia nơi có độ lệch (skewed ratio) về tỷ lệ giới tính tức là có sự mất cân bằng giữa nam và nữ.
Có thể đánh giá xem liệu dân số của một quốc gia nào đó có độ lệch tỷ lệ giới tính hay không bằng cách xem xét tỷ lệ giới tính so sánh với mức chuẩn là cái phản ánh khuôn mẫu sinh học “bình thường”. Có hai tỷ lệ giới tính được sử dụng để xem xét mức cân bằng giới tính bình thường. Đầu tiên là tỷ lệ giới tính của trẻ khi mới được sinh ra (dưới đây được dịch gọn là “tỷ lệ giới tính lúc sinh” - ND), thường được so sánh với tiêu chuẩn là 105 tới 107 bé trai so với 100 bé gái. Không phải mọi quốc gia đều cung cấp thống kê cho chỉ số này. Chỉ số thứ hai là tỷ lệ giới tính trong tổng dân số nói chung. Chỉ số này được mong đợi là sẽ gần ở mức 100 nam và 100 nữ nhưng nó có thể biến đổi tùy theo cấu trúc tuổi, khuôn mẫu tử vong tổng quát và di cư quốc tế.
Châu Á là một khu vực có dân số, số dân trẻ cũng như là tỷ lệ giới tính rất cao. Tuy nhiên, không phải mọi quốc gia châu Á đều có tỷ lệ giới tính cao, các quốc gia Đông Nam Á có tỷ lệ giới tính gần với mức bình thường hơn các quốc gia ở trung tâm của Nam Á và Đông Á.
Khảo sát sâu hơn, chúng tôi thấy rằng có 6 quốc gia Châu Á có tỷ lệ giới tính lúc sinh và tổng quát cao cũng như qui mô dân số lớn là: Afghanistan, Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Đài Loan. Những tỷ lệ giới tính cao này không xảy ra một cách tự nhiên; nó là kết quả của các quyết định liên quan tới qui mô và cấu tạo giới tính của gia đình. Sự ưa thích mạnh mẽ đối với bé trai, kết hợp với tỷ suất sinh đẻ giảm đã dẫn đến các mánh khoé nhằm điều khiển giới tính của con cái trong những quốc gia đó. Ngược lại với thời gian trước đây, khi qui mô gia đình rất lớn để bảo đảm rằng đứa con trai sẽ sống được đến khi cha mẹ già, áp lực giảm qui mô gia đình hiện nay đã thúc đẩy các bậc cha mẹ sử dụng các biện pháp khác nhau để có được một cơ cấu gia đình mong muốn.
Ở Châu Á, việc sử dụng các công nghệ lựa chọn giới tính và tục giết trẻ sơ sinh để chọn giới tính - trực tiếp hoặc thông qua việc bỏ bê không chăm sóc – đã dẫn tới một hiện tượng thu hút được rất nhiều sự chú ý của các học giả trong các thập kỷ qua, đó là các “phụ nữ mất tích” (missing females). Thuật ngữ các “phụ nữ mất tích” dùng để chỉ số phụ nữ được cho rằng đáng lẽ sẽ sống đến hôm nay nếu không có sự lệch lạc về tỷ suất tử vong vì lý do giới tính. Vào năm 1990, Amartya Sen tính toán rằng có hơn 100 triệu “phụ nữ mất tích” trên toàn thế giới. Kể từ đó tới nay, đã có nhiều bài báo, tạp chí và các nghiên cứu nhấn mạnh vấn đề này. Thêm vào đó, để nhấn mạnh sự thiếu thốn phụ nữ, tiêu đề trên các báo cũng đề cập tới sự tăng lên của một “đội quân” những người độc thân, ước tính từ 40-111 triệu đàn ông Trung Quốc không có khả năng tìm được vợ. Vậy đâu là sự thật?

Tính toán số phụ nữ bị mất tích
Sen ước tính số lượng phụ nữ mất tích bằng cách so sánh tỷ lệ giới tính ở Châu Á với vùng Hạ Sahara ở Châu Phi. Cách làm này bị nhà nhân khẩu học Ansley Coale phản đối vào năm 1991. Sử dụng khuôn mẫu về tỷ lệ sinh đẻ và tử vong ở bản thân các nước Châu Á, Coale cho rằng số lượng này vào khoảng 60 triệu. Gần đây, các nhà kinh tế Stephan Klasen và Claudia Wink đã bổ sung số liệu của Sen và phương pháp của Coale để cho ra con số 93 triệu phụ nữ mất tích trên toàn thế giới. Bằng việc bổ sung các giả định trước đây liên quan đến khả năng sinh sản, cấu trúc độ tuổi, sức khỏe người mẹ, dinh dưỡng và tử suất của dân cư Châu Á, Klasen và Wink kết luận rằng tỷ lệ giới tính lúc sinh của các quốc gia châu Á biến động từ 102,4 và 105,2. Họ cũng cho thấy tỷ lệ giới tính nói chung cho các nước Nam Trung Á và Đông Á biến động từ 96,4-100,3. Kết hợp với tỷ lệ giới tính mong đợi trong hầu hết các dữ liệu gần đây từ các quốc gia trung tâm của Nam Á và Đông Á, chúng tôi ước tính rằng có hơn 90 triệu phụ nữ mất tích chỉ trong 6 quốc gia trên.
Trung Quốc chiếm 45% và Ấn Độ chiếm 44% trong tổng số phụ nữ mất tích, 4 quốc gia còn lại chiếm khoảng 11%. Mặc dù con số thực tế trong một số quốc gia còn lại có thể là nhỏ nhưng trong một số trường hợp, tỷ lệ tương đối của nó so với tổng dân số lại rất cao. Các số liệu trên phù hợp với ước tính của các học giả liên quan đến mức độ của sự phân biệt giới tính, đặc biệt là trong vài thập niên gần đây. Trung Quốc, Ấn Độ và Pakistan đã mất tích lần lượt: 6,2, 7,3 và 8,6% tổng số phụ nữ trong khi Bangladesh, Nepal và Đài Loan mất tích khoảng 4% tổng số phụ nữ.
Mức độ tỷ lệ giới tính bị làm lệch lạc đi ở Châu Á được cho rằng chưa có tiền lệ trong lịch sử. Bởi vì chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ đã chiếm tới 38% dân số của toàn thế giới nên tác động của hiện tượng này có thể vượt ra ngoài Châu Á.

Tỷ lệ giới tính lúc sinh và tỷ lệ giới tính trẻ em
Tỷ lệ giới tính cao ở dân số Trung Quốc và Ấn Độ phần lớn là kết quả của các biện pháp lựa chọn giới tính khi sinh hoặc vào những năm đầu của trẻ sơ sinh. Do các biện pháp nạo phá thai dựa trên lựa chọn giới tính và giết trẻ em là bất hợp pháp ở cả Ấn Độ và Trung Quốc, không có bất cứ số liệu thống kê nào liên quan đến các biện pháp này. Tuy nhiên, tỷ lệ giới tính lúc sinh và tỷ lệ giới tính ở trẻ em cao chỉ ra rằng đã có việc sử dụng rộng rãi một chiến lược trước hoặc sau ngày sinh để phân biệt đối xử với trẻ em gái.
Không phải dễ dàng để có được số liệu về tỷ lệ giới tính lúc sinh đáng tin cậy. Việc đăng ký ngày sinh ở một số hoặc phần lớn các vùng nông thôn có thể không chính xác bởi nhiều ca sinh đẻ xảy ra ngoài bệnh viện. Ấn Độ không có một phương pháp có hệ thống để ghi lại số các ca sinh đẻ xảy ra ngoài bệnh viện, hơn nữa họ sử dụng phương pháp lấy mẫu để ước tính số lượng và giới tính khi sinh. Mặc dù Trung Quốc có một hệ thống đăng ký, các con số được đưa ra bị chính trị hóa cao độ do sự ép buộc của chính sách một con

Trung Quốc
Theo số liệu thống kê của Trung Quốc năm 2000, có 14 triệu trẻ em được sinh ra từ 11/1999-11/2000, với tỷ lệ giới tính là 116,9. Tỷ lệ giới tính lúc sinh của Trung Quốc đã tăng trong 20 năm qua: 108,5 năm 1981; 111,3 năm 1989 và dao động từ 115,6 tới 118,7 từ năm 1994-1995. Tỷ lệ này cũng biến đổi tùy theo địa phương với 2 địa phương ở mức hoặc gần ở mức được mong đợi là 105,0 (Tây Tạng có tỷ lệ này là 102,7 và Xinjiang 106,1) và 9 tỉnh khác nơi tỷ lệ giới tính cao hơn mức trung bình của quốc gia (Hobei: 128,2, Quảng Đông: 130,3 và 135,6 ở Hainan). Chứng cứ về việc sử dụng các biện pháp lựa chọn giới tính lúc sinh để đạt đến cơ cấu gia đình mong muốn trở nên rõ ràng hơn nếu tỷ lệ giới tính lúc sinh được tách ra theo thứ tự sinh: trong khi tỷ lệ giới tính lúc sinh lần đầu được ghi nhận là 107,1 thì lần thứ hai, thứ ba và thứ tư có tỷ lệ giới tính lần lượt là: 151,9, 160,3 và 161,4.
Tỷ lệ giới tính của trẻ em cũng cao tương tự: tỷ lệ giới tính cho lứa tuổi 1-4 tăng từ 107,0 năm 1982 lên 109,4 năm 1989, 118,3 năm 1995 và cuối cùng là 120,8 năm 2000. Theo số liệu năm 2000, tỷ lệ giới tính của trẻ em biến đổi khác nhau tùy theo các địa phương. Theo đó, chỉ có Tây Tạng là có mức tỷ lệ giới tính ở gần hoặc dưới mức 105 và 10 địa phương có mức cao hơn trung bình của Trung Quốc (135,7 ở Hainan, 136,4 ở Henan và 136,8 ở Jiangxi).
Trong những năm 90, nguyên nhân của sự tăng lên trong tỷ lệ giới tính ở Trung Quốc và các phụ nữ mất tích là chủ đề của nhiều cuộc tranh luận căng thẳng. Các học giả đưa ra 3 giả thuyết để giải thích tỷ lệ giới tính cao: do báo cáo không đầy đủ; do việc giết trẻ em/tỷ lệ tử vong của trẻ em gái cao; và do việc bỏ mặc không chăm sóc vì lý do giới tính. Trong khi hầu hết các học giả đồng ý rằng việc giết trẻ con và lựa chọn giới tính đang diễn ra, họ không đồng ý về tầm mức số lượng các em gái không được tính đến trong các dữ liệu thống kê hoặc các báo cáo chính thức. Có rất nhiều các báo cáo không chính thức liên quan đến việc bỏ mặc không chăm sóc các trẻ sơ sinh gái. Những em còn sống thường được nhận nuôi bởi các gia đình hàng xóm hoặc được đưa vào các trại trẻ mồ côi của nhà nước, nơi một số nhỏ được các gia đình ngoại quốc nhận nuôi hoặc có thể chết trong quên lãng.
Có sự báo cáo không đầy đủ là bởi vì đây là một cách thông dụng để các gia đình hoặc các viên chức địa phương giấu các trẻ em gái đi. Cho tới khi xuất bản các số liệu thống kê vào năm 2000, các học giả chỉ có thể ước tính mức độ khai báo không đầy đủ - trong khi một số cho rằng việc khai báo không đầy đủ ở trẻ em gái cao hơn trẻ em nam trong khi một số khác lại cho rằng không có sự khác biệt ở cả 2 giới. Một so sánh về nhóm dân số tuổi từ 0-4 vào năm 1990 với nhóm tuổi tương ứng của họ vào năm 2000 đã cho thấy có vấn đề về số liệu thống kê năm 90 hoặc năm 2000: thậm chí chỉ cần liếc nhanh vào dữ liệu dân số vào năm 90 với 61 triệu trẻ em trai và 55 triệu trẻ em gái ở độ tuổi 0-4 đã cho thấy rằng nó không tương thích với 65 triệu em trai và 60 triệu em trái độ tuổi 10-14 vào năm 2000. Sử dụng phương pháp tính ngược, tính mức độ tử vong cho những độ tuổi trên từ giữa 7/1990 đến 11/2000, Yong Cai và William Lavely tính toán rằng trong thống kê năm 1990 đã không tính tới 6,2% bé trai và 7,5% bế gái trong lứa tuổi 0-4. Một phân tích tương tự cho tài liệu thống kê cũng cho thấy 5% trẻ em lứa tuổi từ 0-7 không được tính tới trong niên giám thống kê năm 1990. Mặc dù tỷ lệ giới tính chỉ bị ảnh hưởng nhỏ bởi sự bỏ sót này, con số thực sự về các phụ nữ bị mất tích bị ảnh hưởng lớn, ít nhất trong nhóm trẻ em lứa tuổi nhỏ.
Tỷ lệ giới tính lúc sinh và trẻ em cao bất thường ở Trung Quốc, thậm chí sau khi đã tính tới con số không được thông báo (ví dụ năm 1990, tỷ lệ giới tính ở 0 tuổi được tính lại là 110,5 thay vì tỉ lệ đã được chấp nhận trước đây là 111,8) đã cho thấy có sự lan rộng của việc sử dụng các phương pháp lựa chọn giới tính và sự bỏ mặc không chăm sóc hoặc sự phân biệt đối xử giữa bé trai và bé gái. Các học giả Trung Quốc trong những năm đầu của thập kỷ 90 đã chỉ ra rằng việc xác định giới tính trước khi sinh đã được thực hiện rộng rãi ở Trung Quốc, mặc dù vào năm 1986 và 1993, Bộ Y tế và Ủy ban Kế hoạch hóa gia đình quốc gia đã nhắc nhở các địa phương phải ngăn cấm mọi phương pháp sử dụng kỹ thuật để xác định giới tính thai nhi. Như tác giả Chu Junhong đã chỉ ra, việc sử dụng các máy siêu âm để xác định giới tính vẫn tồn tại dai dẳng qua các dịch vụ “cửa sau” (do quan hệ cá nhân và hối lộ) thậm chí trong các vùng xa xôi và nghèo nhất. Sự phổ biến của công nghệ siêu âm từ những vùng ven biển phát triển vào trong nội địa được phản chiếu vào trong tỷ lệ giới tính lúc sinh. Vào giữa những năm 80 là tỷ lệ giới tính lúc sinh cao nhất ở những vùng duyên hải, tiếp theo là nhiều vùng trong nội địa và sau cùng là tất cả các địa phương vào năm 1995. Mặc dù cá nhân các nhân viên y tế bị cấm để lộ giới tính thai nhi, một nụ cười hoặc sự cau mày từ kỹ thuật viên sẽ chỉ ra rằng thai nhi là trai hay gái, như vậy là rất khó khăn để kết tội ai đã vi phạm luật.
Việc ưa thích con trai là rất mạnh ở Trung Quốc mặc dù đã có các cố gắng của chính phủ để nâng cao địa vị của phụ nữ. Các bé trai được mong muốn rằng sẽ mang họ của gia đình nhưng động cơ đầu tiên của việc thích có con trai là vì lý do kinh tế. Ngược lại với con gái rời khỏi gia đình sau khi kết hôn, con trai được mong đợi sẽ chăm sóc cho cha mẹ lúc tuổi già. Cha mẹ sẽ sử dụng mọi biện pháp để đảm bảo cho việc sinh ra và sống sót của ít nhất một đứa con trai. Như một phụ nữ đã nói: “Khi tôi nhìn thấy khuôn mặt của con trai tôi, lòng tôi dâng trào tự hào và niềm vui. Cuối cùng, tôi đã có một đứa con trai. Tôi có thể ngẩng cao đầu. Tôi đã quên mọi sự khổ cực phải chịu đựng do việc phải nạo thai trước đó”. Trong một nghiên cứu của mình về sự bỏ mặc không chăm sóc dựa trên lựa chọn giới tính ở vùng nông thôn trung tâm Trung Quốc, Chu thấy rằng trong 820 phụ nữ được điều tra, 301 người đã phá thai, tức là 36% trong số họ đã áp dụng các biện pháp lựa chọn giới tính. Trong khu vực này, các công nghệ lựa chọn giới tính đã thay thế các phương tiện truyền thống hơn như bỏ mặc hoặc giết trẻ em gái. Trên 197 triệu vụ phá thai đã xảy ra từ giữa những năm 1980 và 1998 - nếu một tỷ lệ phần trăm tương tự như vậy của việc phá thai là do kết quả của việc lựa chọn giới tính, số lượng bào thai bị bỏ dựa trên sự phân biệt giới sẽ tăng lên rất nhiều.

Ấn Độ
Niên giám thống kê Ấn Độ năm 2001 không bao gồm thông tin liên quan đến tỷ lệ giới tính lúc sinh. Số liệu mới nhất được công bố từ hệ thống đăng ký khai sinh mẫu giai đoạn 1993-98 cho thấy tỷ lệ giới tính từ 111,0 và 113,8 là cao hơn nhiều tỷ lệ giới tính lúc sinh mong đợi ở Ấn Độ là 103,9. Con số tổng quát này không chỉ ra được nơi các biện pháp lựa chọn giới tính được sử dụng nhiều nhất. Tuy nhiên, tỷ lệ giới tính trẻ em cho dân số tuổi từ 0-6 có thể cung cấp thông tin. Tỷ lệ giới tính trẻ em năm 2001 tăng lên 107,9 từ 105,8 vào năm 1991 với 22 trong tổng số 35 bang có tỷ lệ giới tính cao hơn 104. Tỷ lệ giới tính đã tăng đều đặn trong 40 năm qua. Các bang ở phía bắc và đông bắc, nơi nạn giết trẻ em gái đã có một lịch sử lâu dài cho thấy tỷ lệ giới tính trẻ em rất cao: 126,1 (Punjab), 122,0 (Haryana), 113,9 (Gujarat), 111,5 (Himachal Pradesh), 110,4 (Uttaranchal) và 110,0 (Rajasthan). Những tỷ lệ này còn che giấu một sự việc là tỷ lệ giới tính thậm chí còn cao hơn khi xem xét riêng nông thôn và thành thị - tỷ lệ giới tính trẻ em ở thành thị được cho là cao hơn vì sự phổ biến của các biện pháp lựa chọn giới tính. Ví dụ, mặc dù Gujarat có tỷ lệ giới tính trẻ em là 113,9 nhưng tỷ lệ này ở khu vực thành thị thực tế là 120,9. Tỷ lệ giới tính thành thị ở các bang của Ấn Độ nói chung cao hơn tỷ lệ giới tính ở nông thôn hoặc tỷ lệ này nói chung. Với sự tăng lên của đô thị hóa và việc tiếp cận các công nghệ dễ dàng hơn, chúng ta có thể mong đợi rằng tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục tăng lên.
Những tỷ lệ giới tính cao này đã làm tăng mức báo động ở cả mức quốc gia và quốc tế. Năm 2003, Luật về Các kỹ thuật chẩn đoán trước khi sinh (Qui tắc và ngăn chặn việc sử dụng sai mục đích) được thiết kế để ngăn cấm việc sử dụng các biện pháp lựa chọn giới tính trước hoặc sau khi có thai đã bắt đầu có hiệu lực. Nhưng thách thức thực sự là chứng minh mối liên kết giữa việc sử dụng kỹ thuật siêu âm và sự phá thai khi các kỹ thuật viên sử dụng các dấu hiệu không lời và mã hiệu để chỉ về giới tính của bào thai và như vậy là không thể dễ dàng qui trách nhiệm cho họ. Sự khó khăn trong việc thi hành luật mới là rất lớn.

Đàn ông với vấn đề phụ nữ mất tích
Ở Trung Quốc vào năm 2000, số đàn ông đã vượt hơn số phụ nữ là 38 triệu và 36 triệu ở Ấn Độ vào năm 2001. Trong số đàn ông “thặng dư” ở Trung Quốc thì 12,4 triệu nằm trong nhóm độ tuổi 15-34. Vào năm 2020, con số này sẽ tăng lên 22 triệu ở Trung Quốc và trên thực tế có thể tăng lên tới 33 triệu. Mặc dù thống kê về độ tuổi không có ở Ấn Độ, nhưng các tính toán của chúng tôi cho rằng có một sự thặng dư từ 28-31 triệu đàn ông ở độ tuổi 15-34 vào năm 2020.
Trong một bình luận gần đây liên quan đến khía cạnh đạo đức của các biện pháp lựa chọn giới tính và vấn đề của việc tăng tỷ lệ giới tính ở Ấn Độ, B. M Dickens cho rằng: “Trong khi đây là điểm đáng ngại cho thế hệ trẻ em hiện nay, những con số này lại mang đến hứa hẹn về sự đền bù trong tương lai. Nếu những người đàn ông muốn có con trai của chính mình thì họ cần các bà vợ. Sự khan hiếm của các bà vợ trong tương lai, có lẽ chỉ trong thời gian ngắn tới, sẽ nâng cao giá trị xã hội của các cô con gái, đảo ngược vai trò thấp kém của họ và sự thống trị của đàn ông”.
Tuy nhiên, dự báo lạc quan này rõ ràng là sai lầm. Khi tỷ lệ giới tính ở Trung Quốc và Ấn Độ tăng lên, giá trị xã hội của trẻ em gái giảm xuống. Nhà kinh tế Vibhuti Patel nhận xét: “Logic tân cổ điển về Luật cung cầu không áp dụng được trong các lực xã hội phức tạp nơi hệ thống gia trưởng kiểm soát giới tính, sinh đẻ và lao động phụ nữ mà không có bất cứ sự tôn trọng nào với họ”. Do đó, kinh nghiệm từ cuộc sống thực tế nói lên một sự thật trái ngược với quan điểm lạc quan trên. Trên thực tế, sự thiếu hụt phụ nữ ở Haryana, Punjab và các bang BIMARU (Bihar, Madhya Pradesh, Rajastan, Uttar Pradesh) đã làm leo thang tình trạng bắt cóc và buôn bán trẻ em gái, tệ đa phu, hãm hiếp và lạm dụng tình dục trẻ em. Tương tự như vậy, xuyên suốt lịch sử Trung Quốc, việc áp dụng các hình thức giết trẻ em gái ở nhiều vùng đã làm nảy sinh sự khan hiếm các cô dâu nhưng không dẫn đến sự tăng lên tương ứng trong địa vị xã hội của họ. Hơn thế nữa, nạn buôn bán trẻ em và phụ nữ, nạn bắt cóc, mãi dâm nói chung đều tăng lên.

Tỷ lệ giới tính và an ninh
Nếu dự đoán của chúng tôi là đúng, sẽ có xấp xỉ 22-33 triệu đàn ông trưởng thành thặng dư ở Trung Quốc và 28-31 triệu ở Ấn Độ vào năm 2020 – có nghĩa là xấp xỉ 12-15% đàn ông trưởng thành ở Trung Quốc và Ấn Độ thặng dư so với số phụ nữ. Đâu là hậu quả cho an ninh quốc gia và quốc tế? Cả lý thuyết và lịch sử cho thấy rằng sự lan rộng tình trạng bất ổn định xã hội sẽ là kết quả tự nhiên của hiện tượng này. Khi tìm kiếm sự an ninh cho tự nó trong bối cảnh tồn tại những người đàn ông độc thân (trong nguyên bản dùng thuật ngữ: “bare branch” ý nói đây là những người mà cây phả hệ gia đình của họ ngừng lại, không tiếp tục tạo ra thế hệ sau nữa - ND) này, chính phủ của một quốc gia nào đó có thể chọn những chính sách có thể làm mất ổn định cả khu vực.

Chứng bệnh hành vi của những người đàn ông độc thân
Trong những xã hội có tỷ lệ giới tính cao, những đàn ông thặng dư chia sẻ một số đặc tính như: họ có một địa vị kinh tế-xã hội thấp, có ít hoặc không có quyền đàm phán trong thị trường hôn nhân, thất nghiệp hoặc bán thất nghiệp, sống theo kiểm ngụ cư tạm thời với rất ít liên hệ với cộng đồng. Họ sống, làm việc và xã hội hóa với các đàn ông độc thân khác và tạo ra một hệ văn hóa nhỏ (subculture) của những người độc thân. Những hành vi của những nam thanh niên trẻ tuổi thặng dư cũng theo một khuôn mẫu chung có thể đoán trước. Lý thuyết cho rằng so với các đàn ông khác trong xã hội, những người độc thân sẽ thiên về việc đi tìm sự thỏa mãn thông qua sự trụy lạc, bạo lực và sẽ tìm cách để chiếm đoạt những nguồn lực sẽ cho phép họ cạnh tranh một cách công bằng hơn với những người khác.
Những sự dự đoán mang tính lý thuyết này đã được minh chứng bằng các chứng cứ trong lịch sử. Trong các nền văn hóa khác nhau, một tỷ lệ lớn các vụ bạo lực tội ác là do bởi các thanh niên trẻ, chưa lập gia đình, có địa vị xã hội thấp. Một số lớn các đàn ông độc thân với một nền văn hóa nhỏ đặc thù xa lánh xã hội đã ràng buộc họ lại với nhau và sự thiếu thốn “phần thưởng” (stake) trong trật tự xã hội hiện tại đã dẫn họ tới những nhóm “ăn cướp” xã hội có tổ chức. Dưới đây là một ví dụ từ lịch sử Trung Quốc minh họa cho thấy khả năng về mối liên hệ giữa tỷ lệ giới tính, đàn ông thặng dư và bạo lực.
Cuộc nổi loạn Nien vào năm 1851-63, cuối cùng bị dập tắt vào năm 1868, được khởi đầu bởi các nhóm trộm cướp có tổ chức từ các vùng nghèo khó ở Huai-pei ở miền Bắc Trung Quốc. Các tài liệu cho thấy rằng vào thời điểm này, Huai-pei có tỷ lệ giới tính là 129 đàn ông trên 100 phụ nữ; nạn giết trẻ em gái là một cách để đáp trả sự khan hiếm các nguồn lực gây ra bởi môi trường khắc nghiệt trong vùng do tần suất cao của nạn lụt, hạn hán hoặc châu chấu. Các học giả cho rằng từ giữa những năm 1774 và 1874, 20-25% trẻ em gái ở vùng đông bắc Trung Quốc đã bị giết, nó có nghĩa rằng 20-25% đàn ông không có khả năng cưới vợ.
Mặc dù các gia đình nông dân cá thể đã theo đuổi các chính sách hợp lý trong việc ưu tiên cho con trai là những người được mong đợi sẽ làm tăng thu nhập của họ, tác động xã hội của chính sách này là tạo ra thêm những những người nghèo, những đàn ông độc thân, những người “trở nên các tân binh tự nhiên cho các băng đảng trộm cướp và các nhóm quân sự địa phương”. Một nghiên cứu cho thấy rằng các đàn ông thặng dư thường “bị đẩy” (tuei chui) ra khỏi ngôi nhà của cha mẹ họ từ tuổi thiếu niên và đến sống với những người đàn ông khác trong những ngôi nhà dành cho người độc thân hoặc những nhóm tập thể lớn khác. Những nhóm này, dù với bất cứ đặc tính nào, thường trở thành các băng nhóm trộm cướp. Bằng cách đó, những đàn ông độc thân có thể tìm kiếm được thể diện và sự giàu có mà họ sẽ không đạt được trong một xã hội mà hôn nhân là biểu hiện cho sự trưởng thành.
Đầu tiên, những băng nhóm ở Huai-pei cướp bóc đơn giản chỉ để kiếm sống, họ bắt đầu với những nhóm nhỏ, tự phát nhưng cuối cùng đã được tổ chức thành một nhóm được vũ trang rất mạnh gọi là Nien Jun. Khi Nien phát triển, mối đe dọa của họ bành trướng rất lớn. Vào đỉnh điểm của cuộc nổi loạn, có tới 100.000 đàn ông độc thân tham gia cuộc nổi loạn. Hoạt động ở Hupeh, Honan, Shantung, Kiangsu và Anhui, Nien trở nên rất mạnh mẽ. Vào năm 1862, thống đốc Anhui thông báo rằng “có ít nhất 2000 cứ điểm ở Huai-pei, mỗi cứ điểm có từ 1-3000 cư dân. Dường như, Nien đã kiểm soát trên danh nghĩa ít nhất từ 2-6 triệu người”. Chính quyền phong kiến đã bị bắt buộc phải sử dụng vũ khí nước ngoài và hiện đại hóa quân đội theo kiểu phương Tây để chống lại Nien. Điều này cuối cùng đã giúp quân đội dành được lợi thế và đánh bại Nien vào năm 1868.

Câu trả lời của chính phủ
Chính quyền những nước có tỉ lệ giới tính cao như Trung Quốc và ở một mức thấp hơn là Ấn Độ đã bắt đầu nhận thức được hậu quả của những đàn ông không có vợ cho xã hội của họ. Tăng cường các luật lệ liên quan đến việc nạo thai dựa trên giới tính là một câu trả lời. Tuy nhiên, nếu thậm chí tỷ lệ giới tính lúc sinh trong tương lai có thể giảm xuống, tác động của tỷ lệ giới tính lúc sinh trong quá khứ 25 năm vừa qua sẽ có hậu quả dài hạn. Trong lịch sử, các chính phủ đã giải quyết vấn đề đàn ông không vợ bằng việc ép buộc họ vào quân đội, sử dụng họ trong những công trình lớn cần nhiều lao động thủ công, đưa họ ra vùng biên giới hoặc vào những vùng đang có xung đột quân sự. Những biện pháp trên đây có thể làm tăng bất ổn xã hội nên đều không phải là giải pháp tốt. Các xã hội có tỷ lệ giới tính cao có nhiều khả năng phát triển một khuynh hướng độc đoán để giải quyết các xung đột tiềm năng trong nội bộ xã hội, phá hoại sự phát triển theo hướng dân chủ của của quốc gia. Mặc dù các nhà phân tích hi vọng vào khả năng dân chủ hóa ở Trung Quốc và Ấn Độ, khả năng này dường như giảm xuống nếu các yếu tố về giới của an ninh nhân khẩu được tính tới.
Francis Fukuyama đã đặt câu hỏi rằng liệu hiện tượng hòa bình dân chủ có thể được giải thích tốt hơn bằng địa vụ của phụ nữ trong nền dân chủ hơn là sự tồn tại tự nó của các thể chế dân chủ. Chúng tôi cho rằng khi địa vị của phụ nữ thấp, không chỉ khả năng và ý nghĩa đầy đủ của một nền dân chủ mà cả chính sách ngoại giao hòa bình cũng ít rõ ràng hơn. Các xã hội có tỷ lệ giới tính cao, biểu hiện rõ địa vị xã hội thấp của phụ nữ, không thể mong đợi cạnh tranh với các xã hội có tỷ lệ giới tính bình thường hoặc trên phương diện hình thức chính phủ hoặc trên phương diện khuynh hướng của họ tiến về hòa bình.
Hơn nữa, các cố gắng của các học giả từ các xã hội có tỷ lệ giới tính bình thường phóng chiếu logic về an ninh của họ vào trong một xã hội có tỷ lệ giới tính cao sẽ dẫn đến sự tính toán sai lầm. Sự tính toán an ninh trong một xã hội có tỷ lệ giới tính cao bị thay đổi bởi sự hiện diện của những đàn ông không có vợ - chính phủ có thể nhìn các đàn ông không có vợ như những mối đe dọa an ninh lớn nhất, có tiềm năng phá hoại an ninh khu vực

Ngưỡng cửa
Chúng ta đang đứng ở ngưỡng cửa của thời điểm khi những người đàn ông độc thân của Châu Á đang trở thành một thế lực quan trọng trong xã hội của họ. Người ta có thể cho rằng, làn sóng đầu tiên của việc lựa chọn giới tính hiện đại bắt đầu vào giữa những năm 80, khởi đầu bằng những thay đổi nhỏ và lớn dần lên theo thời gian với tỉ lệ biến đổi lớn hơn trong tỷ lệ giới tính. Làn sóng đầu tiên của những đàn ông không vợ “hiện đại” đã 19 tuổi vào năm 2004 và cứ mỗi năm qua đi, số lượng đàn ông không vợ sẽ tăng lên bởi vì việc lựa chọn giới tính tăng lên hàng năm trong 15 năm cuối của thế kỷ 20.
Ấn Độ và Trung Quốc đã bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu đầu tiên của sự bất ổn định trong xã hội do sự hiện diện của các đàn ông độc thân. Urmila, một ủy viên hội đồng quận ở một vùng nông thôn gần Rohtak (Ấn Độ) nói rằng các đàn ông trẻ độc thân đã quay sang tội ác và bạo lực chống lại phụ nữ đã tăng lên. Tương tự, nhà nhân khẩu học Li Weixiong mới đây đã cảnh báo chính phủ Trung Quốc rằng Trung Quốc đang phải đối mặt với một tương lai “tội ác và bất ổn định khi thế hệ 40 triệu người đàn ông bị vỡ mộng vì thiếu cô dâu” do việc thực hiện các biện pháp phá thai dựa trên giới tính. Thất nghiệp, tội ác và bạo lực đã tăng lên ở cả 2 quốc gia trong vài năm trở lại đây và có vẻ còn tiếp tục tăng khi tỷ lệ giới tính ở thanh niên còn xấu đi trong 2 thập kỷ tới. Nchiporuk coi sự thay đổi dân số của Trung Quốc như là một ví dụ về khả năng sẽ có rủi ro an ninh nội tại. Tác giả này cho rằng dân số này “đang đè gánh nặng lên một số thành phố lớn và làm tăng mức độ sợ hãi về sự bất ổn định chính trị trong tầng lớp lãnh đạo cao cấp của ĐCS Trung Quốc, đặc biệt khi khả năng về sự xuống dốc của kinh tế hiện ra rõ ràng”.
Sự tồn tại của một con số rất đáng kể các đàn ông độc thân không phải là nguyên nhân gây ra bạo lực; bạo lực có thể tìm thấy trong mọi xã hội, bất chấp tỷ lệ giới tính. Đúng hơn là khả năng để cho loại bạo lực như vậy bùng phát và phát triển thành qui mô tương đối lớn sẽ bị tăng cao khi sự lựa chọn phổ biến của xã hội dẫn đến có nhiều đàn ông độc thân. Khả năng về sự bùng phát của bạo lực ở mức độ lớn hơn, nếu cần thiết phải được giải quyết bởi chính phủ với tinh thần là phải ngăn chặn trước hoặc làm giảm nhẹ chúng.
Các quốc gia khác cũng phải bắt đầu phải suy nghĩ tới khả năng rằng các tính toán về an ninh của những xã hội có tỷ lệ giới tính cao này có thể thay đổi theo thời gian và nên có có kế hoạch mang tính chiến lược cho bất cứ sự thay đổi nào như vậy. Ví dụ, liệu các nhà lập kế hoạch an ninh Hoa Kỳ có cần xem xét rằng vào năm 2020, Trung Quốc có thể chủ động mong muốn đưa số đàn ông thặng dư của họ ra bên ngoài, hi sinh cuộc sống của họ vì sự nghiệp quốc gia? Liệu sự quan ngại như vậy có tác động vào kế hoạch chiến lược đã được chuẩn bị cho những sự kiện bất ngờ liên quan đến Đài Loan? Ít nhất, nếu cẩn trọng thì những câu hỏi như vậy nên được đặt ra, thậm chí dù chúng ta tin rằng nó chỉ có ít khả năng xảy ra. Ngành học nhỏ mới này về an ninh nhân khẩu sẽ không bao giờ có khả năng tiên đoán chính xác các sự kiện nhưng nó có thể chỉ ra một khuynh hướng dài hạn quan trọng trên màn hình radar của các nhà làm chính sách an ninh. Đây chính là đóng góp rất quan trọng của nó.
- Adrea den Boer là giảng viên về Chính trị Quốc tế tại Trường Đại học Kent ở Canterbury, Anh.
- Valerie M. Hudson là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Brigham Young.
8/12/2005
Andrea den Boer, Valerie M. Hudson
Trần Kiên dịch
Nguồn: Adrea den Boer và Valerie M. Hudson 
“The Security Threat of Asia’s Sex Ratios” 
SAIS Review, Summer 2004
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình...