Có những người đánh thức tiềm lực
không biết mệt mỏi, dám “xé rào cơ chế”, dám “chịu nghe” lời khác, ngược lại
công thức phát ngôn chính thống, dám hành động vừa quyết đoán vừa nhân tình…
chúng ta mới có được một con đường đổi mới...
Sáng 25-6-2018, hơn 900.000 thí
sinh thi môn văn kỳ thi THPT quốc gia 2018. Đề văn gồm 4 câu, trong đó có
trích đoạn thơ Đánh thức tiềm lực của Nguyễn Duy và hỏi về đánh thức tiềm lực
tự nhiên Việt Nam.
Xin đăng lại tùy bút Hành trình thơ
- Đánh thức tiềm lực (đã được đăng trên Tuổi Trẻ Xuân 2006).
Nỗi nhớ "thời khó thở"
Hồi này, thời thế "dễ thở
hơn" rồi. Thẫn thờ nhớ một "thời khó thở", thời hậu chiến gian
khổ, kéo dài hơn một thập kỷ sau 1975. 30-4-1975, cả dân tộc thở phào nhẹ
nhõm trút gánh nặng 30 năm máu lửa khốc liệt. Một thằng lính làm thơ là tôi
không chỉ thở phào mà còn nhảy dựng lên, hát toáng lên:
"… Tôi đi tìm thân nhân qua rừng
già nguyên thủy/ tôi đi tìm thân nhân qua rừng kẽm gai Mỹ/… Hỡi ai không gặp
thân nhân/ xin cùng tôi chung mái nhà ấm áp/ là nguyên vẹn nhân dân - Tổ quốc/
ta hành hương trên đất đai sum họp/ nơi nào cũng có thân nhân!..." (Tìm
thân nhân - 1975).
Phơi phới vui hòa bình, thống nhất.
Và hi vọng xanh rờn. Trên đất đai này chỉ còn người Việt Nam với nhau. Đã có
người tếu táo rằng: "Từ nay sẽ không còn kẻ ngoại bang nào dám đụng đến
cái lông chân của người Việt Nam!". Vậy mà đáng tiếc thay, chính người
Việt Nam với nhau lại đưa nhau vào một thời ngạt thở mới.
Thời đó, sau 1975, bạt ngàn lính giải
ngũ, trở lại nơi xóm làng xơ xác sau chiến tranh. Triệt để hợp tác hóa ở nông
thôn. Đánh tư sản, triệt nhà giàu ở thành thị. Kẻ vào trại học tập cải tạo,
không bản án, không thời hạn. Người ra biển vượt biên không hẹn ngày về, phó
mặc sinh mạng cho sóng gió và ma quỉ. Đất nước liền một dải mà lắm nhà lại
lâm cảnh ly tán. Mà cõi lòng lại đau nỗi cắt chia mới. Lương thực viện trợ của
nước ngoài như hồi chiến tranh không còn nữa. Nạn đói hoành hành khắp nước.
Đột ngột lính Pol Pot tràn sang, thảm
sát dã man dân lành suốt một dải biên giới Tây Nam. Lại đột ngột súng nổ, lại
chết người, lại cháy nhà, suốt toàn tuyến biên giới phía Bắc. Một thằng lính
làm thơ là tôi đã cởi áo lính rồi, lại cùng lính ra mặt trận phía Nam, lên mặt
trận phía Bắc. Lại đột ngột làm thơ trận mạc: "… Biên ải xưa giặc dã mới
tràn vào/ máu lửa ngỡ cũ rồi mà vẫn mới/ gian truân xưa cứ tưởng đã cũ rồi…"
(Lên mặt trận ngày đầu - Lạng Sơn 17-2-1979).
Nền kinh tế quốc gia "tuột dốc
theo chiều rơi thẳng đứng" (chữ của nhà thơ Tố Hữu, phó chủ tịch Hội đồng
Bộ trưởng lúc bấy giờ). Lại thiếu gạo. Lại đứt bữa. Lại thấy người ăn mày đầy
đường. Lại ăn độn đủ cả sắn, ngô, khoai, bo bo, mì sợi, mì bột, mì hột. Nhà
tôi bắt đầu nuôi lợn trên lầu ba… "nâng con lợn lên ngang tầm thời đại!…"
Tiềm lực ngủ yên
Thời đó, gia đình tôi ở trong khu tập
thể Hội Văn nghệ TP.HCM:… lầu ba, nhà 190 Nam Kỳ Khởi Nghĩa/ tiếng tắc kè nhỏ
giọt trong đêm/ tiếng mưa rừng nhỏ giọt trong trí nhớ/ vết đạn trên tường dù
trát lại vẫn có màu vôi khác… Nghe tiếng tắc kè kêu trong thành phố, nhìn thấy
ánh trăng một đêm cúp điện, lại nhớ về những cánh rừng xưa, những bạn lính
cũ.
Lại thương đến nhão lòng những ước
mơ đơn sơ, mộc mạc một thời. Về với mẹ. Về với vợ con. Về với thanh bình vườn
ruộng. Về để làm cho dân giàu nước mạnh. Sắp về!... Sắp về!... Con tắc kè
trên rừng cây "giơ xương trắng lên trời" do chất độc khai quang hồi
đó, nó nói thế. Nó nhắc thế. Nó cứ điệp khúc thế. Cái điệp khúc mơ của người
lính trận.
Một cựu binh là tôi lại bắt đầu mơ
một điệp khúc mơ đơn sơ mộc mạc khác: "Hãy thức dậy, đất đai/ cho áo em
tôi không còn vá vai/ cho phần gạo mỗi nhà không còn thay bằng ngô, khoai, sắn…".
Và bắt đầu một nỗi day dứt khác:
"… Khoáng sản tiềm tàng trong ruột núi non/ châu báu vô biên dưới thềm lục
địa/ rừng đại ngàn bạc vàng là thế/ phù sa muôn đời sữa mẹ/ sông giàu đằng
sông và bể giàu đằng bể/ còn mặt đất hôm nay - em nghĩ thế nào?/ lòng đất rất
giàu, mặt đất cứ nghèo sao?...".
Đó là nỗi day dứt của một thường
dân. Kèm theo là nỗi day dứt của một thường dân làm thơ:… Lúc này ta làm thơ
cho nhau/ đưa đẩy mà chi mấy lời ngọt lạt/ ta ca hát quá nhiều về tiềm lực/
tiềm lực còn ngủ yên…
Từng chút, từng chút, ý tứ bài thơ
Đánh thức tiềm lực tượng hình dần trong tâm trí tôi, đến đầu năm 1980 mới ngọ
nguậy nở thành từng con chữ trên giấy. Những dòng chữ nặng nề và chậm chạp chở
lênh đênh tâm sự trầm buồn và chân thật như bọt bèo, như rều rác bập bềnh
trôi trên dòng sông tuổi thơ.
Thêm rồi bớt, viết rồi sửa, đến giữa
năm 1982 bài thơ dài ra thành vài trăm dòng. Tôi tự thấy nó còn nôm na lắm,
ngôn ngữ thơ chưa được. Nhưng cái được ở đây là tâm tình thật của tôi. Thôi,
cứ để thế. Tôi dừng bài thơ lại với đoạn kết: Tôi muốn được làm tiếng hát của
em/ tiếng trong sáng của nắng và gió/ tiếng dẻo dai đòn gánh nghiến trên vai/
tiếng trần trụi lưỡi cuốc/ lang thang khắp đất nước/ hát bài hát đánh thức tiềm
lực!
Bài thơ ngủ yên
Bài thơ đi từ trong lòng ra nên tôi
thuộc lòng nó ngay từ lúc vừa viết vừa sửa, cứ lẩm bẩm một mình như lên cơn
thần kinh. Thời đó, thơ như thế là "gai góc" quá, thậm chí là
"phản động", không những bị cấm in mà còn bị cấm đọc. Cái thời hễ
có ai phát ngôn khác đi so với công thức phát ngôn chính thống thì đều bị qui
là "phản động", bị "kiểm thảo", bị "kỷ luật"...
Bản thân tôi, năm 1973-1974 ở Hà Nội
cũng đã từng khốn đốn, lao đao vì mấy bài thơ "có vấn đề" bị viết bản
"tự kiểm" (14 trang giấy khổ lớn, hồi ấy gọi là "giấy năm hào
hai"). May thay, cuộc tổng tấn công mùa xuân 1975 bùng nổ, rồi thống nhất
đất nước… Sự kiện lịch sử lớn lao xóa phăng đi cuộc sát phạt nhỏ mọn trong
làng văn tù túng, lũ chúng tôi bỗng tự nhiên thoát nạn.
Thế mà ngay khi tôi vừa viết xong
bài Đánh thức tiềm lực, đột ngột được tin lão thi sĩ Hoàng Cầm bị tống
ngục Hỏa Lò chỉ vì tội tự ý phát tán bản chép tay tập thơ Kinh Bắc (*)
của chính ông, trong đó có bài Lá diêu bông "ám chỉ chủ nghĩa
xã hội là không tưởng". Tôi không khỏi chột dạ. Tự xem xét lại mình, thơ
của tôi rõ ràng là có "rất nhiều vấn đề". Xin nhớ cho, lúc đó là giữa
năm 1982.
"… Lời nói thật thà có thể bị
xử tội/ lời nịnh hót, dối lừa có thể được tuyên dương/ Có cái miệng làm chức
năng cái bẫy/ sau nụ cười là lởm chởm răng cưa/ có cái môi mỏng ráp hơn lá
mía/ hôn má bên này bật máu má bên kia/ có trận đánh úp nhau bằng chữ nghĩa/
khái niệm bắn đi không biết lối thu về…/ Cần lưu ý có lắm nghề lạ lắm/ nghề
mánh mung cứa cổ bóp hầu nhau/ nghề chửi đổng, nghề ngồi lê, nghề vu cáo/ nghề
ăn cắp lòng tin và chẹt họng đồng bào/ có cả nghề siêu nghề gọi là nghề không
làm gì cả/ thọc gậy bánh xe cũng một thứ nghề…" (đoạn viết năm 1980).
Viết thế ấy thì in ở đâu và đọc cho
ai? Chỉ dám đọc chơi với vài bạn rượu tri kỷ. Được đoạn nào "rỉ
tai" đoạn nấy, từng đoạn, từng đoạn rời rạc. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng
an ủi tôi: "Cứ đợi đấy, rồi sẽ đến hồi có người nghe và có người
in". Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thì "triết" hơn: "Sự chân
thành tự nó hóa giải bế tắc. Hãy xem lại cái cây mình có thật ngay thẳng
không. Cây ngay chẳng sợ chết đứng". Tôi đã thấy những "cây
ngay" mà vẫn bị "chết đứng", nên lòng cứ thấp thỏm một nỗi lo
ngại không xác định, tự nhủ mình phải giữ gìn, chớ hớ hênh mà rước vạ.
Đọc thơ "dù có ra sao cũng
đành"...
Khốn nỗi, cũng giống như có ghẻ phải
gãi, có thơ không thể không đọc. Không được in thì cứ đọc, mai sau dù có ra
sao cũng đành… (một câu hát của Trịnh Công Sơn). Oái oăm thay, lần đầu tiên
tôi công bố Đánh thức tiềm lực, đọc liền mạch hoàn chỉnh toàn bài thơ, lại
là đọc tặng một người thuộc lớp người "đáng sợ" nhất lúc bấy giờ:
ông Sáu Dân, tức Võ Văn Kiệt - ủy viên Bộ Chính trị, bí thư Thành ủy TP.HCM.
Hồi đó, khoảng đầu thu năm 1982,
ông Sáu sắp sửa thôi giữ chức bí thư thành ủy để ra Hà Nội làm Phó Chủ tịch Hội
đồng Bộ trưởng kiêm chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước. Ông Nguyễn Quang Sáng
chợt nảy sáng kiến họp mặt vài anh em bạn ruột (ngay tại căn hộ lụp xụp của
ông trong khu tập thể 194B Nam Kỳ Khởi Nghĩa) để mời ông Sáu đến… chơi!
"Quí trọng ông Sáu thì tụi
mình mới mời ổng uống ly rượu đế. Trước, để coi ổng có chịu đến chơi không.
Sau, để nói thẳng nói thật với ổng chút ít tâm sự của tụi mình về tình hình
thế sự". Ông Sáng xác định "mục đích và ý nghĩa" cuộc gặp như
vậy, rồi gọi điện thoại "thử " xin nói trực tiếp với ông Sáu. Ông
Sáu nhận lời ông Sáng.
Cuộc "chơi" hôm đó thật
thoải mái và vui vẻ. "Phe văn nghệ" có nhà văn Nguyễn Quang Sáng,
nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Trần Long Ẩn, nhà thơ Nguyễn Bá (từ Cần Thơ lên) và
tôi. "Phe chính trị" có mỗi ông Sáu.
Với nét cười hồn hậu, cởi mở, ông
Sáu nói rất ít, không một lời "huấn thị", chỉ kể một kỷ niệm vui
vui hồi chiến tranh, rồi chăm chú lắng nghe chúng tôi hát và "tự do ngôn
luận". Nguyễn Quang Sáng nói chuyện viết và lách, viết đã khó, lách còn
khó hơn. Trịnh Công Sơn vừa hát tình ca vừa góp ý với lãnh đạo thành phố về vấn
đề… ẩm thực. Trần Long Ẩn trổ tài "ca bài ca cà chớn", những ca
khúc lời nhại hài hước diễu cợt cả thời đại. Còn tôi, không biết nói gì hơn
là "xin đọc tặng anh Sáu một bài thơ vừa ráo mực, bài Đánh thức tiềm
lực...".
Bản án nhân tình
Xin chèn ngang một mẩu chuyện cũ…
Tôi chỉ mới được gặp ông Sáu có mỗi một lần, khoảng giữa năm 1981, trong buổi
tổng kết cuộc sinh hoạt chính trị (do nhà thơ Bảo Định Giang điều hành) chuẩn
bị thành lập Hội Nhà văn TP.HCM. Thấy nhiều người đọc thơ tặng ông Sáu, tôi
cũng đọc, bài Ông già Hậu Giang ngang tàng (bản in sau đó đổi
ra Ông già Nam bộ), và bài Bán vàng - để "báo cáo" với
bí thư thành ủy về đời sống thực của số đông thi sĩ lúc bấy giờ. Khúc dạo đầu
còn e ngại lắm, nơm nớp lo có người ngăn cản:
"… Tâm hồn ta là một khối vàng
ròng/ đành đem bán bớt đi từng mảnh nhỏ/ Ta mơ màng, ta uốn éo, ta lả lơi/ để
mặc kệ mái nhà xưa dột nát/ mặc kệ áo quần thằng cu nhếch nhác/ mặc kệ bàn
tay mẹ nó xanh xao/ ta rất gần bể rộng với trời cao/ để xa cách những gì thân
thuộc nhất"...
Không bị ai chặn lời, tôi mạnh dạn
"làm tới": "... Cái ác biến hình lởn vởn quanh ta/ tai ách đến
bất thần không báo trước/ tờ giấy mong manh che chở làm sao được/ một câu thơ
chống đỡ mấy mạng người/ Vợ chồng ngủ với nhau đắn đo như vụng trộm/ không
cái sợ nào bằng cái sợ sinh con/ hạnh phúc lớn vòng tay ôm không xuể...".
Vẫn không thấy ai chặn lời. Phòng họp
lặng ngắt. Tôi bình tâm kết thúc bài thơ:
Thì bán bớt đi một ít vàng ròng/ để
sống được qua ngày gian khổ đã/ phải sống được qua cái thời nghiệt ngã/ để khối
vàng đây chỉ đổi lấy mây trời!
Sau cuộc họp đó tôi không những
không bị "búa" như dự đoán của tôi và của nhiều người khác, mà lạ
thay còn được người thư ký của bí thư thành ủy tìm gặp: "Anh Sáu nhắn cậu
chép tặng anh ấy bài Bán vàng và bài Ông già Hậu Giang để làm kỷ niệm tình cảm".
Tôi hơi ngại, hỏi lại Nguyễn Quang Sáng: "Liệu có phải ông Sáu cần văn bản
chứng cớ để xử lý?...". Ông Sáng nói: "Chắc không phải. Nếu muốn xử,
ổng chỉ cần ra lệnh". Tôi bèn chép hai bài thơ và không quên ghi cẩn thận
dưới tên mỗi bài: Tác giả chép tặng anh Sáu Dân để làm kỷ niệm tình cảm.
Ít lâu sau, tại cuộc gặp gỡ nhân dịp
đại hội thành lập các hội nghệ thuật chuyên ngành của thành phố, với tư cách
Bí thư thành ủy, ông Sáu nói chuyện với đông đảo văn nghệ sĩ. Trong bài nói
không dài đó của ông Sáu Dân có một đoạn tôi không bao giờ quên: "Vừa
qua, tôi đã nghe và đã đọc bài thơ Bán vàng của nhà thơ Nguyễn Duy.
Theo tôi, đó là một bản án nhân tình đối với chế độ của chúng ta. Đau, nhưng
là sự thật. Chúng ta cần chân thành nhìn nhận sự thật để cùng nhau vươn lên,
vượt qua giai đoạn khó khăn. Muốn vượt lên thì phải có niềm tin. Mà cốt lõi của
niềm tin là tin ở con người...".
Lần đầu tiên tôi trực tiếp nghe một
bài huấn thị chính trị như thế, trực tiếp thấy một nhà lãnh đạo chính trị ứng
xử như thế. Đó là khoảng giữa năm 1981. Quả là bất ngờ. Tự nhiên tôi xúc động,
vì một cái gì đó mà tôi chưa biết gọi nó là cái gì, hình như nó chỉ là cái lẽ
nhân tình bình thường mà sao ta ít thấy ở những vị quan lớn. Và, tự nhiên tôi
cảm thấy tin ông…
Đánh thức...
Lúc này, với tất cả nỗi niềm
"tin ở con người", tôi lại trang trọng kính tặng ông Sáu một
"rừng gai góc" mới. Tôi đứng ngay ngắn, nhìn thẳng ông Sáu mà đọc,
thấy ông không cười cười nữa, hơi cúi đầu đăm chiêu với gương mặt bình thản
không phơi lộ cảm xúc. Tôi cũng bình tâm làm phận sự của mình:
"… Xưa mẹ ru cho ta ngủ yên
lành/ để khôn lớn ta hát bài đánh thức/ có lẽ nào người lớn cứ ru nhau/ ru tiềm
lực ngủ vùi trong thớ thịt…/ Tiềm lực còn ngủ yên trong quả tim mắc bệnh đập
cầm chừng/ Tiềm lực ngủ yên trong bộ óc mang khối u tự mãn.
Không ngắc ngứ, không ngừng nghỉ,
tôi kéo một lèo khoảng 10 phút cho đến hết bài thơ. Thấy ai nấy ngồi lặng.
Ông Sáu cũng im lặng chốc lát, mới chậm rãi: "Nặng lắm. Nhưng chịu được".
Hình như ông vừa trải qua một cuộc tra tấn. Rồi ông tiếp: "Nếu kể về cái
tiêu cực thì tôi kể cả ngày không hết. Còn nếu kể về cái tích cực thì tôi kể
cả tuần cũng không hết. Nhưng vấn đề ở đây không phải là chống tiêu cực hay
biểu dương tích cực. Vấn đề ở đây là con người, là văn hóa. Con người có thức
dậy thì đất đai mới thức dậy được...".
Nghe ông Sáu, tôi thở phào nhẹ
nhõm, trút bỏ nỗi lo ngại không xác định lâu nay vốn nặng trĩu lòng. Thì ra
những câu thơ "khó chịu" thế kia không phải chờ đến mai sau mới có
người lắng nghe và chia sẻ. Những người "chịu nghe" và "chịu
được" loại thơ "nặng lắm" ấy đã hiện diện quanh tôi ngay từ
"thời khó thở" đó.
Tiềm lực thức giấc...
Sau cuộc đọc thơ đó, tôi bèn
đem Đánh thức tiềm lực đi đọc và "phát tán" ở nhiều nơi.
Có nơi "hoan hô nhiệt liệt", mời đọc, cho phát hành bài thơ bằng
băng ghi âm hoặc bản in rônêô. Lại có nơi cấm đọc, cấm lưu hành cũng bài thơ
đó. Nó xuất hiện muộn hơn trên mặt báo và sách. Lần đầu tiên Đánh thức
tiềm lực được in là trên tờ Văn Nghệ Đồng Nai do nhà thơ Xuân
Sách làm tổng biên tập, số tháng 12-1984. Nhưng tờ báo văn tỉnh lẻ này chỉ ra
mỗi tháng một kỳ, mỗi kỳ mấy trăm bản, loanh quanh trong "xóm" Đồng
Nai, ít ai biết đến.
Mãi cuối năm 1986, sau nghị quyết
"Đổi mới" của Đại hội VI Đảng Cộng sản VN - được coi là đại hội
"mở cửa" và "cởi trói" - bài Đánh thức tiềm lực mới
được đăng nguyên văn trên báo Tuổi Trẻ, được phát hành khắp trong nước
và ngoài nước. Năm 1987, Đánh thức tiềm lực có mặt đàng hoàng trong
tập thơ Mẹ và em cùng với bài viết "Đi tìm tiềm lực trong thơ
Nguyễn Duy" của Nguyễn Quang Sáng (Nhà xuất bản Thanh Hóa).
Và từ đó nó đã được chọn vào nhiều
tuyển tập. Có một dòng đề từ ngay dưới tên bài thơ, tôi viết thêm sau cuộc đọc
thơ vừa kể, để ghi nhớ một kỷ niệm sâu sắc thời kỳ trước đổi mới: "tiễn
đưa anh Sáu Dân đi làm kinh tế". Chính nhờ có những người-đánh-thức-tiềm-lực
không biết mệt mỏi, những người dám "xé rào cơ chế", dám "chịu
nghe" những gì khác đi, thậm chí là ngược lại cái công thức phát ngôn
chính thống, dám hành động vừa quyết đoán vừa nhân tình… như ông Sáu Dân,
chúng ta mới có được một con đường đổi mới với những ngày "dễ thở
hơn" như hôm nay.
(*) Kinh Bắc đã được NXB
Văn Học xuất bản năm 1994.
Nguyễn Duy
Nguồn: tuoitre.vn
Theo http://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét