Tôi được Ban lãnh đạo khu sáng tác
mang tên nhà văn giải Nobel - Henrich Boll ở Ai-len mời đến nghỉ và sáng tác
trong ba tuần tại khu nhà này. Đó chính là ngôi nhà mà nhà văn Henrich Boll
đã đến vùng này dựng lên và sáng tác trong một thời gian dài. Tại đây, ông đã
viết nhiều tác phẩm quan trọng.
Bây giờ, hàng năm Ban lãnh đạo khu
nhà này mời một số nhà văn trên thế giới đến đó nghỉ và sáng tác. Và hầu như
mỗi lần họ chỉ mời một nhà văn. Trước cổng ngôi nhà có một tấm biển với dòng
chữ : Nơi đây đang trú ngụ một nghệ sĩ, xin đừng quấy rầy đến sự suy ngẫm và
sáng tạo của họ.
Ngôi nhà nằm dưới chân một dãy đồi
bên cạnh bờ biển ở Achill, Ai-len. Đây là lần đầu tiên tôi đến đất nước này.
Từ sân bay phải đi ô tô mất năm tiếng mới về đến khu sáng tác đó. Khi đến đó
tôi mới nhận ra đó là một vùng đồi. Những quả đồi nối nhau bất tận như không
bao giờ hết. Ngôi nhà đầy đủ tiện nghi để một nhà văn có thể sinh sống và làm
việc. Phòng ngủ, phòng khách, phòng vẽ, bếp… Trong nhà sáng tác có một chiếc
xe đạp để nhà văn có thể dùng làm phương tiện đi lại. Đứng từ sân
ngôi nhà nhìn ra chỉ thấy những triền đồi liên tiếp và thi thoảng dưới chân đồi
xa xa hiện lên một ngôi nhà nhỏ bé. Hình như nơi này chỉ có đồi, những thảo
nguyên cỏ bất tận và gió thổi suốt năm tháng. Một cảm giác cô đơn và hoang vu
sẽ tràn ngập lòng tôi nếu tôi không nhìn thấy những đàn cừu lớn đi lang thang
trên những triền đồi bất tận. Người quản lý nhà sáng tác nói với tôi có thể
dùng xe đạp đi xuống những làng gần đó mua thực phẩm và trò chuyện với những
người nông dân xứ này. Tôi vừa rời nước Mỹ với những thành phố khổng lồ ngạt
thở vì người và xe đến một nơi chỉ có tiếng gió. Đêm đầu tiên tôi sống một
mình trong ngôi nhà trên vùng đồi ấy, một cảm giác vừa lo sợ mơ hồ vừa phấn
khích ùa vào tôi. Gió từ biển suốt đêm thổi qua những quả đồi và rít trên mái
nhà và những ô cửa. Sau gần nửa tháng ở đây, tôi thấy chưa bao giờ gió ngừng
thổi. Tôi hỏi một người nông dân già và ông nói từ lúc ông sinh ra và lớn lên
trên vùng đồi này cho đến bây giờ gió chưa ngày nào ngừng thổi. Và có lẽ vậy
mà trên vùng đồi này tôi không hề nhìn thấy một cái cây lớn nào.

Cả vùng đồi
là cỏ và hoa dại cùng những thứ cây có thể chịu được gió. Cứ lúc nào bước ra
khỏi nhà tôi cũng thấy gió thổi như muốn bứt hết tóc của mình. Trong tiếng
gió là tiếng cừu kêu như tiếng trẻ con gọi mẹ. Những người nông dân ở đây
không làm chuồng cho cừu. Họ thả cừu suốt năm như vậy trên những vùng đồi. Suốt
đêm ấy hình như tôi không ngủ. Tôi ngồi trong chiếc ghế rộng bên lò sưởi lửa
cháy suốt đêm. Đã sang đầu tháng Bảy nhưng ở đây vẫn lạnh. Suốt ngày sương mù
che khuất những đỉnh đồi cao.
Sáng sau tôi đạp xe xuống phố sớm.
Người dân ở đây thấy một người Châu á xuất hiện thấy làm lạ. Vì ở vùng này
không có người Châu á nào sinh sống. Tôi nói cho họ biết tôi là nhà thơ từ Việt
Nam đến và đang ở tại nhà sáng tác Henrich Boll thì mọi người ồ lên và kết bạn
với tôi ngay. Tôi nói với một người nông dân rằng khi ở Việt Nam tôi có đọc một
bài báo viết cứ năm người dân Ai-len thì có một nhà thơ. Họ cười và nói lại rằng
cứ năm người Ai-len thì trong đó có một người hoặc là nhà thơ, hoặc là nghệ sỹ
hát dân ca, hoặc là hoạ sỹ. Có lẽ vì thế mà Ai-len chỉ có bốn triệu người thì
đã có bốn nhà văn nhận giải Nobel.
Những ngày sau đó, tôi thường lang
thang xuống một làng gần đấy để trò chuyện với những người nông dân. Nếu
không ai nói họ là nông dân thì tôi cũng khó lòng biết được. Họ sống trong những
ngôi nhà nhỏ nhưng đầy đủ tiện nghi và rất hiện đại. Hầu hết nhà nào cũng có
xe hơi. Làng có khách sạn cho khách du lịch, có siêu thị và có sân chơi gôn.
Mọi làng ở đây đều không có chính quyền thôn hay chính quyền xã. Chỉ có hai
thứ mang tính tập thể: đó là nhà thờ và bưu điện. Tất cả cứ thế mà sống theo
pháp luật. Những người nông dân ở đây hầu như không cấy trồng gì cả. Thu nhập
của họ là chăn nuôi cừu và một số gia súc khác. Ngoài ra họ có một nguồn thu
nhập không lớn lắm nhưng có lẽ không bao giờ cạn. Đó là đất. Trên những thảo
nguyên mênh mông tôi nhìn thấy rất nhiều đống bao tải chất cao. Đó là những
bao tải đựng đất để bán.

Họ bán đất để làm chất đốt trong các lò sưởi để chống
lại mùa đông như kéo dài cả năm ở vùng này. Đất của toàn bộ vùng này là đất
đen. Một thứ đất đen như than. Đất này là do cây rừng của hàng triệu năm về
trước để lại. Tôi vô cùng ngạc nhiên trước sự kỳ lạ lần đầu tiên tôi được biết
này. Những người nông dân cứ việc đào đất và phơi khô ngay trên đồng.
Chỗ đất mỏng chỉ chừng 40cm. Nhưng chỗ dày có thể đào sâu cả hàng mét cũng
chưa hết. Loại đất đen này trải mênh mông gần hết cả vùng phía đông
Ai-len. Dù cho cả bốn triệu người Ai-len đào đất bán thì đến trăm
đời sau cũng không bán hết đất được. Sau khi đào đất lên, những người nông
dân ép lại thành từng thỏi như những khúc củi và bán. Mỗi cân đất khô bán được
khoảng một phần ba êurô ( khoảng sáu đến bảy ngàn đồng tiền Việt Nam). Đất
này cháy rất đượm than và khói có mùi rất dễ chịu. Và trên thứ đất này, người
ta rất khó trồng các loại ngũ cốc và rau qủa, nhưng cỏ thì lại vô cùng tốt
tươi và hoa dại nhiều vô kể. Hình như ở đâu cũng thế, cỏ có thể sống và vươn
lên trong mọi khắc nghiệt. Có lẽ vì thế mà các nhà thơ thường ví nhân dân như
cỏ, im lặng và bền bỉ, mạnh mẽ và bất tận, mọc lên trên tất cả mọi vương quyền.
Buổi tối, những người nông dân thường
tụ tập ở các quán bar. Tôi không hề thấy có bất cứ một quán bar nào ở đây giống
các quán bar ở Việt Nam. Những người nông dân đến quán bar uống bia tươi và
chơi nhạc. Cả bốn triệu người Ai-len đều có thế hát dân ca và thuộc các câu
chuyện cổ tích của xứ sở mình. Những ngôi nhà cổ trong làng đều có lịch sử của
nó. Lịch sử của ngôi nhà hầu hết cũng giản dị như chính những ngôi nhà ấy.
Nhưng mọi đứa trẻ ở đây đều có thế kể cho tôi về ngôi nhà ấy sinh ra như thế
nào và những ai đã sống trong ngôi nhà ấy với những câu chuyện về số phận của
họ. Trong các quán bar, những người nông dân uống bia, chơi Bia và ca hát đến
khoảng một giờ sáng. Trời ở đây rất lạ, chỉ thực sự tối lúc 11 giờ đêm. Mười
rưỡi tối vẫn có thể xâu kim bên cửa sổ được mà không cần đèn. Mùa đông thì trời
tối sớm hơn một chút. Nhưng điều ấy đối với người dân ở đây chẳng quan trọng
gì. Họ làm và chơi đến khi nào buồn ngủ thì ngủ, đến khi nào muốn thức dậy
thì thức dậy. Họ sống nhàn nhã với công việc, với thi ca, với âm nhạc và với
thiên nhiên.

Ở đây không có trộm cắp và không ai cần khóa cửa bao giờ, gia
súc nuôi cứ thả trên đồng suốt tháng này năm nọ, xe hơi cứ vứt ngoài đường, cửa
hiệu bao quanh là những cửa kính mỏng chỉ đập một nhát là có thể chui vào. Thực
sự cuộc sống của người dân Ai-len không phải là giàu. Họ là dân một nước
trung bình và cũng trải qua không ít chiến tranh. Nhưng họ đã sống như thế.
Lúc này nghĩ đến xứ sở chúng ta, tôi thật sự kinh hãi, cứ hở cái gì là mất, hở
quần mất đằng quần, hở áo mất đằng áo, hở xe mất đằng xe, thậm chí hở chó mất
đằng chó. Ở đây không có say rượu, không có đánh cãi chửi nhau, không họp
hành kiểm điểm và họ được quyền tin những gì họ tin, được quyền yêu những gì
họ yêu và chẳng có ai bắt họ phải tin cái này hay yêu cái kia. Mấy hôm trước
tôi đến đọc thơ ở thành phố Sligo. Tại phòng chính tại Trung tâm văn hoá nghệ
thuật thành phố nơi tôi đọc thơ cả một buổi tối có treo một bức tranh chính.
Đó là bức tranh vẽ một con bò sữa. Đối với người dân vùng đó thì con bò là biểu
tượng của ấm no và nhân hậu. Con bò quá gần gũi, quá cần thiết với người
Ai-len vùng này từ xa. Nó không phải là biểu tượng của tín ngưỡng mà nó chỉ
là tình yêu. Họ yêu con bò và họ có quyền đặt con bò lên nơi trang trọng. Họ
đã được sống đúng con người họ, họ được mơ những giấc mơ của họ, họ được khóc
những nỗi buồn đau của họ.
Có lẽ không ở đâu lại yêu các nhà
thơ như người của đất nước này. Sau đêm đọc thơ, tôi được một người bạn đưa
đi chơi phố. Chúng tôi tạt vào một xưởng làm tượng gỗ của một nghệ nhân trên
phố và tôi vô cùng ngạc nhiên nhìn thấy tờ quảng cáo đêm thơ của tôi treo bên
cạnh những thông tin văn hoá khác. Người nghệ nhân kia chưa bao giờ biết tên
tôi, chưa bao giờ đọc thơ tôi, ông chỉ cần biết có một nhà thơ từ xa xôi đến
đọc thơ ở thành phố của ông thế là ông hãnh diện và quí trọng. Ông nói với
tôi: Tôi chưa bao giờ đọc thơ anh, hay thế nào, dở thế nào tôi không biết,
nhưng tôi tin vào hai chữ nhà thơ. Hai chữ ấy là chứng minh thư quan trọng nhất
của tâm hồn anh.
Mấy hôm trước, tôi vừa đi thăm một
nhà thơ, nhà văn rất nổi tiếng của Ai-len: bà Leland Bardwell. Bà đã hơn bảy
mươi tuổi và sống trong một ngôi nhà quá giản dị bên bờ biển. Phòng viết của
bà thật giống như một cái bếp của một nhà nghèo ở Việt Nam. Bà đã chuyển từ
thành phố về và sống ở đó hơn hai mươi năm nay. Ngôi nhà đó cũng giống như
ngôi nhà sáng tác tôi đang ở, lẻ loi giữa một vùng đồi và biển cả mênh mông rất
ít khi nhìn thấy bóng người. Chiếc bàn để ngoài vườn tiếp khách của bà là một
cái khung gỗ tròn để cuộn dây điện cáp. Tất cả đời sống vật chất và phương tiện
của một nhà thơ danh giá chỉ như thế; không một chút ham muốn vật chất hay
quyền lực. Và chỉ như thế đất nước này mới sinh ra cho thế giới những nhà thơ
vĩ đại.
Đêm nay, tôi lại ngồi im lặng bên
lò sưởi trong ngôi nhà của Henrich Boll. Xung quanh tôi chỉ có những quả đồi
xứ Ai-len bất tận, chỉ có tiếng gió thổi suốt đêm từ biển cả vào, chỉ có mình
tôi. Và trong tiếng gió vẳng lên như từ xa xôi tiếng cừu kêu đêm nghe như tiếng
trẻ gọi mẹ. Đây là lần đầu tiên tôi sống trong khung cảnh này. Tôi có cảm
giác như mình đang sống trên phần đất cuối cùng của thế gian và chỉ cần đi
qua bên kia dãy đồi là đến một thế giới khác. Tôi phải cám ơn số phận đã cho
tôi được đi qua những năm tháng có đau đớn, có hạnh phúc, có buồn bã, có mệt
mỏi và được sống ở nơi đầy sự hoang vắng, hoang vắng tưởng như vô tận này. Có
những buổi chiều tôi lang thang trên vùng đồi giống như
chàng Robinson xưa. Và trên khắp vùng đồi kia bạt ngàn hoa dại nở.
Có thể có những bông hoa mà chưa ai nhìn thấy bao giờ. Nhưng nó vẫn nở. Nở cả
mấy triệu năm nay trong im lặng và cô độc. Nó nở vì không phải nở để cho ai
trầm trồ về vẻ đẹp của nó. Nó nở như tự thân nó phải sinh ra như vậy và kiêu
hãnh như vậy dưới trời xanh vô tận kia. Nếu nó chỉ nở với mục đích để cho người
khác nhìn thấy mà cúi đầu trước nó thì nó đã tàn lụi từ lâu rồi. Bởi nó không
đủ kiên nhẫn để đợi trong mấy triệu năm cho tôi hay ai đó một chiều như chiều
nay nhìn thấy nó và cúi đầu chiêm ngưỡng. Và tôi chợt nghĩ về số kiếp bé bỏng
hình như chẳng có ý nghĩa gì của tôi trên thế gian này. Tôi đang sống không
có ai biết đến những ngày ở vùng đồi mênh mông này. Những ngày mà không thù hận,
không đố kỵ, không nguyền rủa, oán trách, không hơn thiệt. Nhưng có một điều
tôi nhận thấy rất rõ khi tôi đứng trên đỉnh đồi một mình với hoa cỏ, với gió,
với trời xanh thì lòng tôi dâng lên niềm kiêu hãnh vô cùng vì đã được sinh ra trên thế gian này để được nhìn thấy một bông hoa dại mọc như mơ hồ dưới những
lá cỏ mà không ai nhìn thấy và cũng có thể họ không cần nhìn thấy. Và tôi tự
hát chỉ mình tôi nghe thấy về sự sinh ra, về sự hiện diện của tôi và của bông
hoa dại kia.
Nguyễn Quang Thiều
Nguồn: Văn nghệ số 17+18/2018
Theo http://trieuxuan.info/
|
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét