VŨ TRỤ NGHIỆP THEO MÌNH
Sự giải thoát cần thiết bắt đầu bằng cái nhìn thật tướng về những khổ đau do lạc thú mang lại. Chư thiên ở cõi trời Đạo Lợi nhìn xuống, thấy người thế gian oe oe sinh lúc mặt trời chưa mọc, có chút phước sống lâu thì xế chiều lúc mặt trời chưa tắt đã ra nghĩa địa rồi, như một đóa phù dung sớm nở tối tàn. Tôi bỗng hiểu lời các đại đức, rằng người trời khó khai ngộ bởi họ thiên hưởng phước, ít lâm nạn trừ phi thọ mạng hết, lúc mà cơ hội và thời gian giải độc tập khí không còn nhiều; họ phải luân hồi để tự thấy khổ, tự thấy tài danh dục lạc đeo đuổi từ vô số kiếp đều hư huyễn. Biết thế, tôi và bạn vẫn ngại ngần rút những mũi tên độc khỏi thân tâm. Phật dạy rút cũng đau, nhưng sự rút này là chữa trị; không rút cũng đau song tắt hơi liền đọa xứ. Chúng ta không biết dục lạc là mũi tên độc bọc đường đã cắm vào thân tâm từ khi ta biết hưởng thụ và cho mình có tài danh hơn thứ sẵn trong chân tánh. Ân sư của tôi ví về một ngân hàng vô tận phước đức và trí tuệ dành cho mọi chúng sanh, ai cũng là chủ sở hữu; song chúng ta không mở kho báu ấy mà đổ sức làm việc gây dựng nghiệp danh rồi chấp thứ nhỏ mọn ấy để cao thấp với đời.
Tôi và bạn tưởng những thứ mình có được là của ta nên gán quyền hưởng thụ. Chúng ta tưởng một bước nhảy vèo vào biển từ bi của Phật mà quên nghiệp bất khả tư nghì. Tôi vẫn thường cúi đầu trước lý thâm sâu “đới nghiệp-cũ”, nghĩa là hành giả trong pháp môn này hạn chế đến chặn đứng tạo nghiệp mới. Chẳng tạo nghiệp mới đơn giản là nằm trọn trong khuôn khổ giới luật, vận dụng giới luật nhuần nhuyễn trên nguyên lý phá chấp trước vạn trần. Ân đức này xem như lưỡi câu của chư Phật và Bồ tát tung ra giữa Biển Ái Dục nhẫn nại đợi chờ những đứa con lầm lỗi biết sụp xuống ăn năm chí thành quy mạng. Nhưng bởi do nghiệp mới từng ngày vẫn “dạy dỗ” nên chúng ta tin ở mình hơn, tin ở ngày mai ngày kia và mãi mãi hơn là tin chỉ có thực tại từng giây phút sẵn sàng trở về với bản-tánhcực-lạc bất cứ lúc nào. Bởi lẽ này chúng ta vẫn rứt miếng mồi của chư Phật một cách khôn ngoan và bỏ lại lưỡi câu trống trơ khô lạnh với thời gian. Tôi và bạn thương lượng với thần Chết để ở lại trong vòng tay êm dịu của ái ma; chúng ta thương lượng với thời gian để mê vào những việc khoác mặt nạ Phật sự hư dối lợi mình và không ngừng cố tăng trưởng công phu để hơn thua với những hiền giả khác giáo, thậm chí là đồng tu trong cùng một pháp môn. Lâm bệnh ngó lỗi thế gian, tôi chưa chịu tin ngay từ lúc sinh ra đã may mắn vạn lần những đứa trẻ cũng mới sinh dị tật, đã mang “nỗi oan” động trời. Thôi khoan bàn nhân quả đời trước; nếu chúng ta chỉ tin mỗi kiếp này tại sao không tự thấy mình sinh ra đầy đặn, là may mắn. Chúng ta may mắn lại chẳng muốn giúp những người không may mắn?, lại đưa tài danh bao bọc sự hưởng thụ. Thực ra, nào đâu có chân-lý-hưởng-thụ; mà như lời ân sư, “sự hưởng thụ gọi chính xác là tiêu phước”. Phước bởi là phước hữu lậu, nên phước ấy ảo, nhưng chúng ta chấp thật nên nhận nghiệp thật. Nạn nghiệp là thật, nỗi đau đớn tột cùng là thật; trong lúc ta vẫn không chịu buông cái phước ảo để nhận thật tướng hạnh phúc. Thực ra lúc nạn nghiệp đến là cơ hội để tôi và bạn tỉnh giác. Nhưng tôi vẫn thấy cuộc đời này không khổ không huyễn thật mà vui thật, nên mơ hồ tin vào dục lạc mình có cơ hội nắm trên sự điêu tàn của phước báu đã trôi theo dĩ vãng. Đã tiêu phước thì núi phước cũng cạn; phước cạn thì nghiệp hiện; nghiệp hiện vẫn không tin nguyện lực chân thật, thì chư Phật Bồ tát hẳn cũng tạm thời để ta nếm mùi vị thống khổ! Bạn tu của tôi vẫn thường niệm kinh hồi hướng cho những con muỗi đốt mình. Lúc đọc sách, những con muỗi đến tìm thức ăn ở thân, đợi nó hút máu lưng bụng liền đuổi đi - là cách bạn thương nó. Còn lúc bạn chìm lắng niệm một câu kinh, những con muỗi do không có ai đuổi nên hút máu no cằng. Thỏa mãn sự no rồi những con này bay không nổi rớt xuống ngay tại chỗ; số khác thậm chí không đủ sức rút nọc. Để thấy hễ tôi tham liềm mê. Mê không được ai nhắc nhở dễ đoản mạng. Tất cả món dục xét đến cùng chỉ là ảo giác. Sự thỏa mãn sáu căn đều ảo. Thân thể người chẳng có nơi nào nhạy cảm cả. Những hành giả thực sự xả ly chia sẻ rằng một khi họ giải tỏa ảo giác, làm tan rã sức mạnh của ảo thì những chỗ được cho nhạy cảm trở nên đồng đẳng với mọi nơi khác trên cơ thể. Và lúc đó cái tự biết hay tạm gọi tánh giác hiển hiện như một sự tự nhắc hành giả quay về. Nếu ta lạy Phật năm vóc sát đất, khoảnh khắc ấy ngoài năm chỗ xúc chạm được cái tự biết báo động, chẳng còn ai ở đó. Cũng như một chỗ ngứa nổi lên, một chỗ nhói lên, thì ngoài cái ngứa và cái đau ấy ra chẳng có ai đứng đó với tư cách tôi cả.
Tôi và bạn quen thói dùng các căn xài ảo giác, thành mê, mê lâu tưởng thật, cứ như tỉnh rồi còn bẹo xem có phải mình vừa mơ hay không. Sập bẫy ảo ảnh, dễ vướng lưới ma. Ta từng nếm món ăn tuyệt hảo do một đầu bếp ở nhà hàng nấu, lúc ăn chỗ khác cũng món ấy song bị quá vãng món ăn phủ lên tâm thức nên thực chất là nhai nuốt ảo ảnh để sống với một thực tại tức tưởi. Ta buông tuồng để rồi quá vãng lôi vào nhốt trong ảo ảnh về một khái niệm từ món ăn “đã chết” đã trở thành “khói sóng”. Cùng một bài hát, ta từng nghe lúc ngồi với người thương tại quán cà phê, thì khó nghệ sĩ nào có thể thuyết phục kéo ta về với thực tại cả. Tôi luôn bị nhốt trong nhà tù ảo nên nỗi lạc vào lục đạo. Không ra khỏi ngôi nhà tù ảo, ai nói luôn làm chủ bản thân là tự dối gạt. Thử tưởng đến một nghịch cảnh động trời, cái ta bùng nổ và lúc đó cũng như đang dự tiệc vua ban, ta lật nhào hết thảy trước sự ngơ ngác của kho tri thức với đầy đủ danh ngôn lời răn kể cả những hình tượng linh thiêng về một đấng tối cao lưu cữu tôn thờ! Sự mê ảo trở thành một phản xạ, thành bản năng và chúng ta luôn luôn tưởng thật. Lúc bạn và tôi lớn lên, không ai nhắc không ai dạy, hễ thấy người nữ liền sinh cảm xúc tiêu cực. Học Phật rõ ra đó là “tấm bùa hộ mệnh” của ma tặng cho chúng ta tự do phiêu du trong khuôn khổ sáu đường. Biết vậy, tôi nào đã ra được! Dục lạc luôn là độc dược bọc đường. Có một điều rất dễ cảm nghiệm là trẻ em rất thích ngọt. Chúng thích đường sữa kẹo bánh, tất cả những thứ kể cả thuốc đắng bọc đường. Sự ngọt ngào luôn tiềm ẩn độc tố. Nếu mang muối ra so sánh với đường, hiển nhiên muối rất cần cho cơ thể, còn đường hoàn toàn nhân loại không cần đến, bởi trong ngũ cốc rau quả ta ăn hàng ngày dư đường rồi. Cơ thể chúng ta nếu thiếu muối mới là tai họa, còn thêm đường là thừa. Nhưng chúng ta thấy muối quá rẻ nên xem thường, chỉ quý đường. Thế gian sự ngọt ngào êm ái luôn được con người tìm kiếm. Chợt nghĩ xa hơn, mấy ai trong sự thăng tiến cảm xúc lại nhận ra mặt trái của nó. Không ai đang sung sướng hưởng thụ năm món dục lạc thế gian lại nhìn ra sự nguy hiểm của nó. Họ cho đó là sự phát triển, không mảy may biết mình đang đi xuống theo một lập trình chuẩn xác của nghiệp. Ngược lại đa phần gặp nghiệp nạn, người dẫu không tu cũng tự kiểm thảo lại mình, biết sợ một điều gì đó, sợ cái hoang lạc. Sợ tức là giác. Quá nhiều người gặp bệnh nạn được duyên may tác động đã quay về nẻo thiện, tin sâu nhân quả, tin và hành theo Phật để lợi lạc mình và tha nhân. Để thấy sự ngọt ngào êm ái hẳn đều là cảnh giới của tâm ma. Thầy tôi nhắc, ngay đến những hành giả tu đắc những tầng định sâu, thọ lạc họ trú ấy nếu không tỉnh táo cũng lạc ngay vào ma đạo, trụ không thiên, lọt xuống hầm vô vi. Quả thực chúng ta không thể không cảnh giác mọi sự hưởng thụ mà giác quan đưa lại. Bằng mọi sự nhẫn nại và sáng suốt, rất cần sự cầu giải thoát khỏi khung trời ảo ảnh để nhìn thật về chân tướng của sự sống qua từng khoảnh khắc. Hiện tại vừa chạm đã thành quá khứ, đã thành bóng huyễn. Tương lai chỉ là ảo vọng, đều ảo và chỉ ảo mà thôi. Chỉ còn lại từng giây phút thực tại nếu ta không nương vào các căn để an trú sẽ theo dòng ảo ảnh cuộn xiết khổ não.
Thầy tôi bảo chúng sanh đọa lạc lại không biết mình đọa lạc. Tài danh có thể đưa họ lên đỉnh cao của tự ngã, đó cũng là sự đọa lạc xuống hố thẳm. Người lúc gặp nạn, bệnh tật kéo đến vẫn chưa chịu nhận ra mình vét phước tiêu gần cạn rồi. Mấy ai có cái nhìn trí tuệ như những đồng tu tôi được biết, họ xem bệnh như một thiện tri thức luôn nhắc nhở sự vô thường, luôn nhắc họ ở lại với cơn đau như chính thực tại hiện tiền; bệnh giúp họ đối trị cân bằng với ham muốn dục lạc; bệnh khiến tâm kiêu mạn của họ xẹp xuống, khiến biết cúi mình trước Nghiệp như kính cẩn trước Pháp. Lúc cơn đau nổi lên, bạn tu của tôi xem đó như cơn thèm dục lạc. Thèm món dục nó khiến thân tâm nhức nhối; bạn tu một lần bỗng à lên, sao cơn thèm này giống cơn đau của bệnh quá. Từ lâu bạn vẫn xem bệnh như bạn; bởi xem sự thèm món dục như cơn đau của bệnh nên bạn cân bằng được tâm, rồi càng ngày thấy món ấy nhạt đi.
Thật cảm ơn bệnh muôn phần. Bởi bệnh gần như tất yếu, mang bệnh vẫn có thể về nước Phật; còn nặng mang dục là tự gieo xuống tam đồ. Sống trọn với nỗi kính trọng vô bờ nhân quả vốn công minh tuyệt đối, nghiệp bệnh nhiều khi là ngọn roi của tánh giác giúp chúng ta tập buông dần thân tâm đầy huyễn giả mộng mị. Tôi đã từng xem bệnh như kẻ thù cần tận diệt; dùng cả những toa thuốc “ác độc” trừ khử những căn bệnh mà người tu hoàn toàn có thể chung sống hòa bình trong niềm ân hưởng của Phật. Rồi có những người quyết diệt bệnh lại gạt đi nguyên nhân sơ sờ gây ra bệnh cho mình. Họ chiến đấu với bệnh mong có lại sự ổn định tạm thời để tiếp tục hưởng thứ dục khiến họ lâm bệnh.
Mỗi chúng sanh từ vô lượng đã cõng quá nhiều nghiệp, và còn sống là đang từng khắc tạo nghiệp. Chúng ta chưa sống được trước hết với Thập thiện Ngũ giới thành nền nếp, là nghiệp đang đốt cháy phước mạng và dĩ nhiên đang phá hoại từng thời công phu hành pháp nhọc nhằn. Một giới tà dâm đối với cư sĩ thôi, bạn tu của tôi bảo đã thực hành quán chiếu thân bất tịnh như một liều thuốc nặng trong thời gian khá dài, đã xem hàng trăm bức ảnh kinh tởm, nghe vô số bài giảng về ái dục như liếm mật ngọt trên lưỡi dao, đã đọc biết bao kinh luận sớ như phần chuyên biệt trong kinh Lăng Nghiêm, sách Thọ khang bảo giám, Thiếu niên bảo thân, Dục hải hồi cuồng,… vẫn chưa dám chắc trì cho ra giới này. Rồi tiến lên tầng công phu dùng sự sáng suốt nhận diện món dục như một liều thuốc độc để ly độc; vẫn còn cảm thấy sóng tâm thức như cuồng lưu chảy ngược! Nếu có định lực, hành giả sẽ dùng trí bát nhã tập quán chiếu về bản chất vô thường của vạn pháp, quán chiếu về bản chất ảo giác huyễn mộng và rốt ráo không của dục để dần ly tâm ý thức hướng về chân tâm từ lâu vẫn ở đó hư hư không. Bây giờ ta được sung sướng, thông minh, thuận chiều trong công việc mà chưa làm nhiều phước là đang hưởng phước. Hưởng rồi sẽ hết; phước cạn thì nạn bệnh sẽ đến; nghiệp nặng nhất vẫn thường sanh từ giới dâm, sau đó là giới sát; rồi nữa các chất gây nghiện sẽ khiến tâm chìm lún vào tầng si không cách gì có định để phát tuệ. Công phu nếu không thực miên mật, đời này gặp duyên sẽ tương tác với túc nghiệp nẩy mầm quả đắng khiến hành giả không đủ sức vượt qua. Vạn pháp giai không. “Giai không” chẳng thể hiểu mà được; mà hành cho nhạt đi cái có. Tôi chưa hề soi thấu ngũ uẩn giai không, ít ra chưa làm nhạt được cái thân huyễn tâm vọng, vẫn chấp vạn pháp là thật nên ai đụng vào thân liền la, ai chạm vào danh liền ấm ức sân nộ; đó chính là minh chứng cho “nhân quả bất không”. Mà dẫu ai đó quán nhạt ngũ ấm, cũng chỉ là không lầm nhân quả thôi, chứ quả vẫn vận hành và thiên biến theo nhân họ gieo. Xem thường tu phước sẽ dễ gặp bệnh trước lúc chúng ta không còn sợ bệnh; chúng ta dễ mất mạng trước lúc không còn sợ chết. Tu phước chính là niệm niệm vì người, cắt nguồn rễ độc trong từng ý niệm tham sân si mạn.
Bạn tu của tôi bảo từ giới thân, người càng sâu chuyên môn sẽ trì giới tâm, tức ý niệm có khởi tà kiến trong sự tiếp xúc đối đãi với vạn sự vạn vật hàng ngày hay không. Giới tâm tính từ khởi tâm động niệm. Tâm không khởi niệm tham, sao dẫn tới hành động thân tạo nghiệp trộm, dâm; tâm không bị niệm si vi tế điều động, sao có thể khiến thân tạo giới sát và nhiều giới khác nữa. Trì giới tâm mới khiến phát định sinh tuệ. Một hành giả trì giới tâm chứng tỏ họ biết sợ nhân quả. Tin sâu nhân quả thêm một tầng sẽ càng phát hiện những vi tế khởi sinh, sẽ càng khiến tâm định thêm một nấc. Vạn pháp đều không ra ngoài nhân quả. Mà nhân quả là thật tướng. Người tin nhân quả được một phần sẽ buông xuống được ngũ dục lục trần bám víu một phần. Công phu thật ra mà nói chẳng ra ngoài việc tin nhân quả hiển hiện nơi vạn pháp để rồi buông xuống chấp trước thế gian. Xem thường nhân quả ở những nấc vụn vặt nhất sẽ khiến hành giả rớt xuống dẫu họ gắng dụng công bao nhiêu chăng nữa, bởi sự gắng này chắc chắn khiến tâm kiêu mạn thêm lớn mà họ chưa nhận ra đó thôi. Những thứ tâm vọng muốn đều có tà lạc, rất hấp dẫn và rất dễ dính mắc. Nếu tâm không được trí soi chiếu qua tấm gương trong suốt của giới sẽ bị mê. Mê, hiểu thô là ta hễ không có thứ mê ấy sẽ không chịu; cái sự không chịu này chính là tập khí si phá hoại tâm thanh tịnh, phá hoại định lực mới như lớp băng mỏng dưới sức nóng mặt trời. Một hành giả cần bước trên đường đạo như trên băng mỏng bằng trí tuệ của giới luật, nếu không dễ sụp chìm xuống đáy của biển nghiệp. Một hành giả luôn tự cảnh tỉnh mình, rằng ta dính vào một món dục đơn giản hơn cả trở bàn tay, song khi đã bị mê rồi không chừng phải trầy da tróc vảy, đau hơn hoạn mới gở nổi. Giới là bào mòn tập khí để hiển lộ tánh giác, vì trong tánh giác vốn không hề có thập ác, vốn không hề có phân biệt chấp trước vạn pháp; trong tánh giác chỉ thuần là cái chiếu soi nhi nhiên.
Nhớ hồi tôi chưa được học Phật, một lần gặp một người, ngồi bên tôi vừa nghĩ gì họ biết không sót niệm nào. Bạn tu dẫn lời một vị sư bảo rằng với sự phát triển chóng mặt của khoa học, tương lai gần sẽ có cái máy khuếch đại ý niệm của mỗi người thành nội dung kiểu như ta thâu âm thanh vậy. Điều này nghe có vẻ thiếu nhân quyền, nhưng đó là tất yếu của khoa học, đó là tất yếu của sáng tạo, nó đúng với lộ trình đi xuống mà nhân loại vẫn nhầm đi lên. Tôi càng bước là càng gần sự chết. Những người chẳng tin khoa học thì thôi, người được khoa học chứng minh vẫn không tin chết chẳng phải hết, mà phần thức ấy còn mãi để lâm vào những cảnh giới bội phần tăm tối khổ não lúc ta sống. Nhưng họ chỉ lo cái phần vật chất và đến trước hố thẳm vẫn không học lấy cụm từ vũ trụ huyền bí. Trái đất cũng thành trụ hoại không như con người sanh già bệnh chết. Bởi sáng tạo mới nảy nòi ra bom nguyên tử và nhiều mối họa khôn lường khác, cũng như mạng toàn cầu chiếu trên cái nhìn của vật lý lượng tử. Không phủ nhận sự sáng tạo khiến loài người được hưởng lợi đời sống vật chất, nhưng người ta quên phần tinh thần quên thế giới tâm linh nên sự sáng tạo chủ yếu phục vụ vật chất ấy đẩy đến sự hoại diệt, còn là sự hoại diệt mau chóng. Có lẽ một cái máy soi tâm thức với vô vàn ý nghĩ xấu ác trong một giây làm méo từ trường, làm ô nhiễm không gian chung như thế nào sẽ được đo rõ ràng, dĩ nhiên sẽ khiến mỗi người tự biết xếp chỗ đứng cho mình. Điều này khiến rất nhiều người bớt lao lực tranh giành chỗ đứng lẫn nhau, tranh giành cả chỗ an tọa của hiền thánh và chư Phật Bồ tát (hóa hiện người thường) để tránh đi cái họa lớn nhất là không chịu để ánh quang minh rọi đường ra khỏi lầm mê.
Tôi đã gặp Phật, sớm được học nhiều lý mầu nhiệm, nên phóng tâm đòi bỏ qua nền giới luật. Chúng ta chưa tin nổi nhân quả là nền móng của pháp bảo khiến sau bao thời gian công phu tưởng mình khá sạch sẽ đâu ngờ gặp nghịch cảnh sơ sơ đã chao đảo như con thuyền nan giữa biển. Bây giờ mới chút bệnh đã chới với thân tâm, đến lúc già yếu, lâm chung trăm nghiệp đổ về không chừng lại khởi tâm trách Phật không gia trì sự điên đảo. Tôi và bạn chưa tin nổi nhân quả nên cửa vào cõi tịnh còn đóng và do đó cái chúng ta có chỉ dừng lại như một dạng tôn giáo. Ân sư tôi dạy thái độ học Phật chiếm chín mươi phần trăm, pháp hành là phần còn lại. Thái độ chính là tha thiết chí thành dâng thân mạng cho chư Phật khai phóng, sẵn sàng buông sự bám chấp cõi trược. Tôi và bạn đều biết nghiệp vốn bất tư nghì. Nghiệp mỗi chúng ta như quả núi luôn treo trên đầu, lâu lâu nó văng xuống cục đá còn đỡ; không có thái độ chí thành buông cái khổ huyễn thế gian, việc hành pháp chẳng khác người vác đá vượt núi. Thiển nghĩ bậc tu chứng nhìn thấy tôi và bạn bứt phá giới luật gắng gỗ khư khư ôm lấy pháp hành một cách mỏi mệt qua ngày đoạn tháng mong ngóng tìm cầu, xót xa vô hạn thay! Tôi và bạn như hai con thuyền vừa xuống sông nước đã tràn. Gắng lắm chúng ta chỉ đủ thời gian vừa tát nước vừa chèo với sức gia trì của chư Phật Bồ tát hy vọng qua bờ. Đây vẫn là một cách nói. Bởi tôi mang theo một vũ trụ nghiệp, một hư-không-nghiệp. Có vị Tổ suốt đời tận lực giảng về sự lạnh lùng khốc liệt của nghiệp nhân quả báo, rất hạn chế giảng pháp môn tu; ngay thời xưa mà Ngài đã thấu rõ phần nhiều chúng sanh như tôi từng sụp nền tảng giới có nguy cơ lâm vào ác đạo quá nhanh đến không chụp kịp. Đồng tu nhắc, chúng ta dốc lòng "tùy hỷ" nghiệp lực cũng như đứa trẻ sờ tay vào những loại keo siêu dính; thử nghĩ xem thần y sẽ xử lý thế nào. Một khi phước không được giới vun bồi, không được định trì giữ, không chừng dễ nếm đòn roi của oan gia, đến lúc ấy chúng ta sẽ hiểu thế nào là sự quậy phá của ma và nghiệp.
Ai từng ngủ và nghỉ ngày đêm khoảng 7 tiếng; sáng tầm 3 rưỡi dậy công phu như bạn tu của tôi, sẽ hiểu thế nào là nghiệp si, là sự kéo chìm xô đẩy của ma hôn trầm; đó âu mới là sự thăm khám nghiệp lực ở một góc hẹp phận người. Chúng ta may mắn dựa vào nguyện lực của Phật, phải chân thật mở lòng nếu không bỏ thân này nghiệp sẽ kéo chìm mất. Thầy dạy tôi tha lực chân thật chỉ giúp con tăng trưởng công phu thôi. Tha lực nhiều lúc cũng đưa đến cho con chút tài vật, song tài vật đó rốt ráo vẫn là phục vụ việc duy nhất thăng tiến huệ mạng. Giai đoạn tu tiểu học, nếu "tha lực" đã giúp ta dính sâu vào phiền não dục lạc, trong lúc pháp hỷ không sanh, nguy hiểm quá chừng! Tam vô lậu học Giới Định Tuệ dành cho bất cứ pháp môn nào, Trí là cứu cánh. Bát Nhã là thắng trí được sinh từ Lục độ ba la mật. Ngay đến đại trí Văn Thù, pháp hành cũng phải bắt đầu từ Phước (bố thí), rồi đến trì giới; sau mới Tinh tấn cầu định. Ai thông làu kinh chăng nữa song chưa thâm tín nhân quả, chưa bắt đầu bằng Bố thí, Trì giới, âu vẫn là người sở hữu Tri thức mà chưa sanh Trí vậy. Thực tế chỉ mỗi Bố thí thôi đã trùm khắp. Bạn còn thấy lỗi thế gian là chưa thực Bố thí cái lỗi ấy để tâm được trong lặng. Tôi còn muốn in tác phẩm này khoác cái danh nọ là chưa hề bố thí niềm vui cho các đồng nghiệp vốn nặng tâm không muốn ai hơn mình. Bạn và tôi còn khởi niệm sân trước nhà sư phá giới hay kẻ phàm báng Phật, là chưa hề bố thí sự bao dung đến những con người còn nặng nghiệp hơn ta. Ngay đến hoằng pháp lợi sanh một khi tín chủ vây quanh, một khi ta chưa hề nắm chắc sanh tử tự tại thì đó đã dọn lại con đường trở về lục đạo.
Bạn tu của tôi nói, không vững giới, chưa chạm định sẽ không có tia sáng dẫu mong manh của Tuệ để quay lại soi chiếu nền tảng giải thoát, hành giả dễ mê đánh bóng tự ngã mà không hay biết. Trong lúc yếu quyết của người tu là khiến cái ta mờ nhạt dần và nếu có thể đó là sự biến mất, nhường cái-thân-ta này lại làm sân chơi toàn vẹn cho cái tự biết/giác. Những thiền sư nhờ buông trọn ý niệm tâm thức, vào định và thấy thân mình mất dấu vết. Họ không hề còn cảm giác mình đang ở thế kiết già tĩnh tọa, hai tay bắt ấn cũng không. Cho đến lúc họ tác ý máy động trở lại mới à lên cái thân này ngồi đây. Với những hành giả tu theo hướng thiền tự tính, sự định có mặt ở khắp các thế đi đứng nằm ngồi. Họ chia sẻ nhiều khi cảm giác chỉ là cái bóng ẩn hiện giữa trần, đôi lúc còn muốn soi gương xem có hình hài thật không. Dẫu đó là bản chất hài hước của những thiền sinh nhiều sức sống, song cũng khiến chúng ta ý thức về sự có mặt của cái ta thật đáng chán. Sự nhạt phai mình đi giữa trần gian chính là bước ra khỏi cảnh ảo luôn luôn hiện hữu hầu mong nhập vào không gian của Đạo cũng hiện hữu trong từng khoảnh khắc sống động. Ẩn mà hiện, thế nên nhìn bề ngoài, một hành giả miên mật với thực tại không khác nhiều so với phàm nhân; chỉ sự tĩnh giác nhờ nương vào cái tự biết sẵn để có chân pháp lạc là yếu quyết để họ ly vọng chấp chạm vào sự huyền nhiệm của pháp.
Từ bi chính là trí tuệ. Chưa khởi tâm từ ái đến những người khổ nạn chung quanh và cả loài vật, thực sự là nền tảng mỏng manh. Tu phước chúng ta sẽ soi được tâm còn chấp tướng hay không (việc tu phước). Song dẫu còn chấp thì ai cũng dễ dàng hơn trên tầng chuyên môn đạo hạnh. Nhân quả rất “tàn khốc” và không hề khoan nhượng mảy mảy đối với bất cứ ai, vì nó là sự thường hằng nghiễm nhiên. Nhiều người mang tiếng chuyên tu, xem thường nhân quả, họ nghĩ đang hành chuyên môn nên không quan tân đến tu giới tu phước. Phước sẽ hóa giải, giảm nhẹ nghiệp dữ nếu ta phải nhận lãnh trong tương lai, và phước sẽ kéo thọ mạng để ta đủ thời gian khiến công phu vượt thoát chín muồi. Suy cho cùng, mọi tài vật danh vọng có được đều đổi từ phước trong mạng ra. Phước đã chiêu cảm thành tài sản và danh vọng, cũng là phước trong mạng cạn hơn những người có tích phước mà không cầu tài sản và danh vọng, mà họ cầu trí huệ chân thật soi chiếu cho ra thân huyễn tâm vọng, soi chiếu cho ra trần cảnh vốn huyễn, soi cho thấu phần nào quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh để chỉnh lại vận mạng được an lành cho đến lúc thực hiện bước nhảy cuối cùng. Ngay đến Đức Phật cũng tu phước để làm gương cho sự cứu vớt tà niệm của chúng sanh thời mạt. Thầy bảo tôi điều con không ngờ tới chính là tâm quá loạn, quá chấp trước trần cảnh vốn bình đẳng giữa trời đất. Thầy tôi dạy con người đều là bộ máy, và trong bộ máy ấy gồm nhiều bộ phận như camera, máy thâu âm, thâu hương vị v.v; hàng ngày tiếp xúc với lục trần chính là chúng ta thâu âm thanh hình ảnh làm dữ liệu trong tàng thức. Chúng ta đưa vào quá nhiều dữ liệu, phủ lên tánh giác. Nhờ nương vào một câu kinh, ai quyết hành trong mọi thời, những dữ liệu xem như được xếp vào kho, không khởi tác dụng nếu không gặp duyên mạnh từ ngoài tác động. Trong lúc hành giả không ngừng nâng cao định lực và sức mạnh của một câu kinh; câu kinh ấy phát năng lực giữ lại kho báu là “tánh giác định”, giữ sự bình lặng để rồi kết nối với từ lực cứu độ của chư Phật Bồ tát. Làm được điều này đòi hỏi người tu phải thật sự hành, thật thà cung kính cùng cực; còn không chúng ta hành chánh pháp song thành tà bởi luôn muốn thâu vô vàn dữ liệu, vẫn muốn giữ dục lạc tài danh khiến tâm luôn vọng. Sự không định nổi trước trần cảnh là cái nhân cho thấy chúng ta rất khó vượt qua cửa tử dễ dàng trước trùng trùng chướng nạn do chính tâm chiêu cảm và trong mọi thời khắc núi nghiệp ấy luôn kết hàng rào kiên cố quanh hành giả khiến ánh sáng từ bên trong và từ bên ngoài sự tướng không thể soi thấu đánh thức trí tuệ trong cơn mê quá sâu của tôi và bạn. Đức Phật không thừa nhận ai là đệ tử của Ngài nếu chưa học Tiểu thừa lại thẳng vào Đại thừa; lời dạy này dành cho những hành giả thuộc Đại thừa. Đức Phật biết trước, thời Mạt chúng sanh sẽ xem thường giới luật nên đối với học nhân Đại thừa Ngài sớm cảnh tỉnh phải học Tiểu thừa - chính là Giới Luật. Ân sư tôi trăm lần nhắc câu giới luật rất quan trọng! Có giới mới sanh định, có định với khai tuệ. Bởi, giới luật là mạng sống của Phật pháp. Ai là người tu cũng thường ngày nên quán chiếu câu này như gìn giữ linh hồn của mình vậy. Xưa nay bậc chân nhân đều xem đây là chân lý tối thượng, xem Giới Luật như có Phật trước mắt. Tam học Giới Định Tuệ là bất biến đối với một học trò của Đức Bổn sư, ngoại trừ hàng thượng thượng căn nhảy thẳng vào nhận tự tánh và đứng ngắt ở đó. Họ thấy mình như không tồn tại, hay đó là sự tồn tại của tha lực thuần khiết nhuốm sáng thân tâm, cũng đồng nghĩa với việc tự ngã được đưa về không. Lý này nghe rất hấp dẫn, dường như ai cũng vào được. Song điều tôi không ngờ là sự lôi dẫn của nghiệp dĩ, con người luôn ngầm bị điều động bởi tham si mạn như mối mọt đục ruỗng niềm tin thánh thiện bổn nhiên từ buổi ban sơ ta gặp nguyện lực từ bi vô biên của Phật. Đó cũng là lý do Phật tiên liệu rõ nhất trong thời Mạt, nên nguyện lập giới luật làm nguồn sống của Pháp. Giới Định Tuệ quyện chặt như một vòng tròn trôn ốc, như mũi khoan đột phá từng tầng vô minh. Công phu được đo phải cậy vào sự soi chiếu tương phản của hành giả trước tấm gương đại chúng và vũ trụ nhân sinh kể cả các loài thuộc thế giới vô hình. Giới tâm luôn vi tế và người lôi được những vi tế nghiệp bày ra giữa thanh thiên bạch nhật chính là họ lôi được những sâu trùng nọc độc mà mắt thường không thể nhìn thấy.
Để bảo vệ một luận án Tiến sĩ theo tiêu chuẩn ở những trường đại học danh tiếng nước ngoài, không chừng chúng ta đổ tâm sức hàng chục năm trời chưa thành công. Còn cái luận án đời người vượt tử sinh thì mức độ khó chỉ có thể tưởng tượng mà thôi. Có lần ngồi uống trà, thầy tôi gần như thì thầm, “chẳng có pháp nào ra khỏi luân hồi mà dễ đâu con. À, con đã nếm mật nằm gai chưa?” Tôi nhớ lời ân sư: Vượt luân hồi là đại sự, ngay đến việc đứng trên muôn người cũng là chuyện nhỏ. Vượt sinh tử là xuyên qua tham sân si mạn như sương khói. Những hành giả một khi họ lăn xả vào học và hành giới, thuần cái nhìn trong khiết với cuộc đời lắm nỗi thị phi, thuần cái nhìn trong khiết cả với hàng hậu học non xanh và thậm chí cả với những ai còn lầm mê hủy pháp, là dấu hiệu cho thấy họ đang quyết liệt vượt luân hồi ngay trong từng giây phút sống. Bởi hơn ai hết họ hiểu đau khổ là tấm gương phản chiếu sự sung sướng. Càng đào xới niềm vui sâu bao nhiêu hố đau khổ phải chiếu sâu hơn thế ấy. Đau khổ dẫu chưa xuất hiện đồng thời với cái gọi hạnh phúc song lúc hội đủ duyên sẽ trỗi lên dìm con người từng khoét sâu sự hưởng thụ dục lạc xuống như là cú đảo ngược cái phản chiếu trong tâm thức vọng động khôn cùng.
PHÍA TRƯỚC LÀ HỐ THẲM
Gặp được Phật pháp là phước báu duyên phận nhiều đời, “trăm nghìn vạn kiếp nan tao ngộ”. Ân sư của tôi dạy rằng có thân người trong đời này như là đi du lịch, hết thọ mạng lại trở về ác đạo và đó chính là quê nhà của những người có cơ hội gặp Phật pháp lại không buông xả thế gian dụng tâm cầu giải thoát. Hàng trí thức cho thấy họ đã tích thiện nghiệp từ rất nhiều kiếp, bởi sở tri chướng che tánh linh vi diệu của căn mạng nên không tin mình đang trôi theo nghiệp lực. Ngược lại nhiều người bị xem khờ khạo, đời nay nghe khuyên theo Phật liền tận tâm buông xả niệm Phật cầu về Cực lạc. Thượng hay hạ căn, kẻ sang hay hèn phải dò vào Phật pháp mới thấu. Học pháp hàng ngày tức ta sống trong pháp. Phật dạy gì nghe nấy, gắng phụng hành bằng cả tâm sức và lòng kính ngưỡng. Những bài giảng kinh của bậc cao tăng người tu đọc nhiều lần, mỗi lần sẽ giúp chiêm nghiệm thêm điều mới - là nét kỳ diệu của Phật pháp. Chúng ta chưa cảm được niềm hạnh phúc tột cùng lúc thành Đạo, chưa hình dung ra cảnh giới vi diệu ở Cực Lạc, hơn thế sống giữa trần gian từ nhỏ nên cuộc đời này vẫn luôn có sức hút ghê gớm khó cưỡng. Nhìn xuống sẽ thấy loài vật chỉ biết đến không gian nhớp nhúa; chúng vẫn thấy “hạnh phúc” trong sự khốn cùng oan nghiệt ấy. Con chó biết rằng phân dơ thì chúng đã không ăn! Càng xem nhẹ tài danh, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ sẽ càng gần Phật tánh hơn. Những gì thuộc thế gian đều huyễn mộng. Thân tứ đại là thật, song già cả hết nhân duyên thì đất nước gió lửa ấy tan rã bốn đường, chỉ còn thần thức tồn lưu trong sự xiềng xích của mọi ham muốn, tùy vào nghiệp lực đưa vào các nẻo luân hồi thống khổ.
Người trẻ không tinh tấn dụng công không chừng muộn, nói chi đến người nghỉ hưu rồi vẫn còn mông lung Phật pháp quả không gì đáng tiếc hơn. Sự Đời lúc mất rồi, nhiều khi con càng “có hiếu”, mẹ cha nơi chín suối càng chịu đọa đày. Đám tang to, nhiều chúng sinh bị giết hại. Nghiệp ấy chắc chắn họ phải nhận một phần bởi lúc chết không tin Phật, không khuyên con cháu đừng hại vật, không khuyên con cháu ăn chay, làm đám chay và phục thiện. Rồi thay vì tụng kinh niệm Phật, phóng sanh vào 7 ngày “thất”, chúng lại mổ heo bò khuếch trương sự “hiếu”. Cái hiếu đó chính là... bất hiếu; cha mẹ “cộng nghiệp” bị đọa xuống cảnh giới thấp hơn.
Tránh nghiệp Tam đồ, trước nhất phải khuôn mình vào Thập thiện. Ân sư tôi bảo đây là tiêu chuẩn thấp nhất trong nhà Phật, không có nấc thấp hơn nữa. Cần cố viên thành cho được 80% như lời của Thiện tri thức nhắc nhở; không phải làm 8 điều còn 2 điều gác lại. Trái với Thập thiện là Thập ác, không có cái "ở giữa". Ta phạm sát sanh như cố ý giết một con kiến, đã là "nhất ác" rồi. Ta mua năm con cá sống, dẫu ăn một và phóng sanh bốn cũng “ác” nữa rồi. 80% của “thiện” đầu tiên có thể chấp nhận được khi ta ăn mặn (nguyên ủy là ăn mạng) theo Tịnh nhục: không giết vật để ăn, không thấy nó bị giết và không nghe tiếng nó kêu khi bị giết; tập ăn chay trong những ngày rằm, mồng một, nâng lên 4 ngày, 8 ngày, 10 ngày, nửa tháng. Đức Phật dạy Ngài A Nan và đại chúng Tỷ khưu trong kinh Lăng Nghiêm, ngay đến “năm thứ tịnh nhục, thịt kia đều do thần lực tôi hóa sanh ra, vốn không có mạng căn. Xứ Bà la môn các ông, đất đai phần nhiều nóng bức, lại thêm cát đá, rau cỏ không sanh được; tôi dùng sức đại bi gia bị, nhân sức đại từ bi, giả gọi là thịt và các ông cũng nhận được cái vị như thịt; làm sao, sau khi Như Lai diệt độ, người ăn thịt chúng sanh, lại gọi là Phật tử”. Ngài còn dạy: “Muốn thế gian này vĩnh viễn không còn kiếp đao binh, chẳng có chiến tranh thì trừ phi chúng sanh không ăn thịt”.
Trong alaya thức mỗi người chứa quá nhiều ấn tượng, là những “âm bản” của hết thảy sự vật hiện tượng thâu vào qua sáu căn, là chủng tử dữ liệu trì níu khiến những kiếp sau ta khó thể thăng lên được. Thập thiện nghiệp là nấc thang cơ bản xác định một sinh mệnh có thể tiến hay lùi trong hành trình tiến hóa tâm linh. Trong kinh Địa Tạng tả cảnh Thánh Nữ Bà la môn lúc niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, xuống “âm” thăm mẹ mình vừa mất, Quỷ vương hỏi mẹ cô trước có bài Phật báng Pháp không liền biết hiện thọ báo ở tầng địa ngục nào. Quả chưa nhỡn tiền chính vì họ còn phước; họ đang vét phước, đang vay phước để sống. Ngân hàng phước đức dường như vô tận, tự nhiên lấy dùng không cần một thế chấp giấy tờ nào ngoài sự phải trả ở Tam ác đạo và hơn thế còn “liên đới” cháu con còng lưng gồng gánh đến bạc tóc. Người hành chánh pháp chẳng dại vay mượn phước đức sống hoài sống phí để rồi thọ khổ muôn đời sau. Ở đời nếu như người thân hoặc bất cứ ai cho mình tài vật (là cho chứ không mượn); cho nghĩa là họ sẽ không lấy lại. Họ không lấy song họ còn nhớ, còn... tiếc; họ còn nhớ tiếc, mình còn nợ, sẽ phải trả cho người khác, hoặc nợ ấy được chuyển hóa thành bệnh tật, nạn nghiệp, trừ phi ta hành thiện bố thí (tài vật, pháp và vô úy). Trong Lục độ, bố thí ba la mật: không có người cho, không có vật cho và không có người được nhận. Ta giúp ai điều gì quên ngay lúc đó, (sẽ không khởi ý niệm khoe), mới trọn phước. Ai mượn gì, trả cũng tốt, không trả cũng hoan hỷ... Soi thêm vào Bát chánh đạo càng rõ mình hơn. Học Phật thấu đáo là người rốt ráo chỉnh lại những gì chưa đúng trong cuộc sống, với cư sĩ nhất là nghề mưu sinh. Quán nhậu (sát nghiệp), nghề phục vụ sự sa đọa...
Con người giàu có thường nghĩ đến hưởng lạc. Tụ điểm ăn chơi càng cao cấp, số chúng sanh bậc thấp khổ nạn càng lớn. Thay vì một con vật bị giết, món gan phải dùng đến rất nhiều sinh mạng. Trên thế giới thật không ngẫu nhiên thiên tai địch họa từng ập vào những nơi thác loạn và nơi gieo rắc bi ai cho nhân loại.
Cuộc sống chúng ta căn bản ngụp lặn trong phiền não. Phiền não như rác rưởi người ta vứt vào nhà; thay vì vất ngược trở ra, ta tận dụng "tái chế" sử dụng. Không gì là vô nghĩa. Phật tánh vĩnh viễn chẳng mất ở bất cứ ai. Lúc chịu hết nghiệp tội, chó cũng sẽ chuyển kiếp và giác ngộ... Các bậc đại sư ví dụ: ti vi có rất nhiều kênh thì trong người ta cũng có chân tâm, tâm quỷ, tâm a tu la, tâm súc sanh. Ta chỉ có thể bật và xem được một kênh mà thôi. Bật kênh Sài Gòn thì các kênh khác đều lặn; cũng như bật kênh Phật thì các kênh khác trong người sẽ chìm. Một kẻ sát nhân tức kênh ác quỷ mà thỉnh thoảng hắn vẫn khởi tâm thương người, ấy là hiện tượng "nhiễu sóng" qua kênh Thiện; đích thị đời hắn vẫn bật kênh tà đạo.
Nhớ một hôm qua thăm ông hàng xóm đã hom hem, ông tâm sự hai năm nay thấy cảnh người chết mà rụng cả tóc. Đang yên đang lành bỗng nằm liệt đến thúi thịt thúi xương mới chết nổi. Người thì suốt ngày than sao từ nhỏ đến lớn không gây nghiệp lại bi đát nỗi này. Tôi bảo đời người kiếp này nối kiếp khác trùng trùng vô tận, có lên được cõi Phật mới hết sinh lão bệnh tử. Chết là sự kiện quan trọng nhất đời người.
Bây giờ ông không lo dặn dò con cháu thì lúc qua bên kia cứ là nhận thêm nghiệp chúng “gửi” xuống. Ông hỏi là sao? Tôi bảo, ví như bây giờ ông dặn con cháu, đám của ba tuyệt đối không sát sanh, nếu như sau này chúng mổ heo gà thì ông ít tội; còn giờ không dặn dò, mai sau chúng sát sanh cúng kiếng giỗ kị lo ráng đỡ. Ông gật gù, nhưng vẫn bảo mấy đứa con cứng đầu lắm. Tôi bảo: Vậy để con viết cho một tờ giấy, ông cứ cất trong túi, lúc biết mình yếu thì lòi ra, bảo đây như là “di chúc”, đứa mô không nghe theo xem như bất hiếu! Ông hoan hỷ, nhờ. Tôi viết: “Lời dặn của ông B. với con cháu. Đời người ai rồi cũng chết. Cha giờ tuổi cao, nghĩ về cái chết rất thoải mái. Cha ngày đêm luôn cầu Phật được ra đi nhẹ nhàng, không đau đớn và mong có chút phước siêu sanh cõi Tịnh. Các con nghe lời cha dặn như sau: Nếu thấy cha yếu thì tắm rửa thay quần áo, để cha nằm yên, con cháu không được vây quanh thương tiếc. Lúc cha đi rồi con cháu không được chạm vào người cha trong vòng ít nhất 9 tiếng đồng hồ; phải giữ yên lặng và tuyệt không than khóc. Trước đó nên mời quý sư đạo hữu về niệm Phật giúp cha, hoặc các con ngồi quanh niệm Phật; cha sẽ cùng niệm “A Di Đà Phật” cầu sanh Cực Lạc. Cha mất rồi con cháu không nên sát sanh trong suốt 49 ngày, kiêng cữ, làm nhiều việc thiện, cúng dường Tam bảo, phóng sanh; động viên nhau niệm Phật hồi hướng...”.
DƯỚI CHÂN NGÀI ĐỊA TẠNG
Một chiều ngang qua vùng Hải Lăng - Quảng Trị, tôi dừng chân viếng tượng Địa Tạng. Địa Tạng - kho tàng Tâm, nơi sinh ra các Pháp. Địa Tạng - cuốn hiếu kinh trong đạo Phật được mười phương chư Phật tới dự thính ghi lại nội dung quan trọng: khi Phật nhập diệt đã phó thác cho Bồ tát Địa Tạng giáo hóa cõi ta bà (gồm tam thiên đại thiên thế giới). Bồ tát nguyện cứu vớt hết thảy chúng sinh nơi địa ngục (Địa ngục vị không thệ bất thành Phật). Bây giờ tôi đang ngồi dưới chân Ngài, nghĩ về cái chết.
Người ta sẽ hỏi: Người trẻ, nghĩ đến cái chết bây giờ có quá sớm? Câu trả lời: Không quá muộn song chẳng còn sớm nữa. Cái chết đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Không ai dám khẳng định người đang hấp hối sẽ chết trước một thanh niên khỏe mạnh. Cái chết sẽ đến thình lình, chóng vánh. Nó khiến chúng ta không kịp trở tay, không kịp nói những điều cần nói và làm những điều cần làm. Tần Thủy Hoàng thời thịnh trị dễ chừng xoay được cả trái đất nhưng việc tìm thuốc trường sinh thất bại. Cuối cùng cái chết thảm thương đến với ông ngoài dự liệu. Không ai sống mãi trừ các vị tu chứng, các vị niệm Phật đạt nhất tâm thành phiến, chư Phật và Bồ tát. Người thường ai chẳng đi đến cái chết. Nhận thức biết mình sẽ chết, sao không chuẩn bị? Đời người, phần lớn có mấy chục năm, người ta lại dùng lượng thời gian đó sống vì dục lạc lợi dưỡng ngược chiều với Đạo. Chuẩn bị cái chết mà chỉ viết tờ di chúc phân chia của cải, lo trước đám tang mình là nghĩ hết sức cạn.
Dượng tôi là giảng viên đại học môn Lý; một người hiền lành, sống giản dị, cần kiệm; dượng không tin thế giới tâm linh. Nghỉ hưu trên chục năm dượng phát hiện ung thư; mổ lần thứ hai, bệnh viện trả về. Thời gian chưa đầy tháng, ông còn tỉnh táo lo việc chung gia đình và lên kế hoạch đám tang. Sợ phiền đến con cháu và mọi người, ông dặn không được để dài ngày...
Sự giải thoát cần thiết bắt đầu bằng cái nhìn thật tướng về những khổ đau do lạc thú mang lại. Chư thiên ở cõi trời Đạo Lợi nhìn xuống, thấy người thế gian oe oe sinh lúc mặt trời chưa mọc, có chút phước sống lâu thì xế chiều lúc mặt trời chưa tắt đã ra nghĩa địa rồi, như một đóa phù dung sớm nở tối tàn. Tôi bỗng hiểu lời các đại đức, rằng người trời khó khai ngộ bởi họ thiên hưởng phước, ít lâm nạn trừ phi thọ mạng hết, lúc mà cơ hội và thời gian giải độc tập khí không còn nhiều; họ phải luân hồi để tự thấy khổ, tự thấy tài danh dục lạc đeo đuổi từ vô số kiếp đều hư huyễn. Biết thế, tôi và bạn vẫn ngại ngần rút những mũi tên độc khỏi thân tâm. Phật dạy rút cũng đau, nhưng sự rút này là chữa trị; không rút cũng đau song tắt hơi liền đọa xứ. Chúng ta không biết dục lạc là mũi tên độc bọc đường đã cắm vào thân tâm từ khi ta biết hưởng thụ và cho mình có tài danh hơn thứ sẵn trong chân tánh. Ân sư của tôi ví về một ngân hàng vô tận phước đức và trí tuệ dành cho mọi chúng sanh, ai cũng là chủ sở hữu; song chúng ta không mở kho báu ấy mà đổ sức làm việc gây dựng nghiệp danh rồi chấp thứ nhỏ mọn ấy để cao thấp với đời.
Tôi và bạn tưởng những thứ mình có được là của ta nên gán quyền hưởng thụ. Chúng ta tưởng một bước nhảy vèo vào biển từ bi của Phật mà quên nghiệp bất khả tư nghì. Tôi vẫn thường cúi đầu trước lý thâm sâu “đới nghiệp-cũ”, nghĩa là hành giả trong pháp môn này hạn chế đến chặn đứng tạo nghiệp mới. Chẳng tạo nghiệp mới đơn giản là nằm trọn trong khuôn khổ giới luật, vận dụng giới luật nhuần nhuyễn trên nguyên lý phá chấp trước vạn trần. Ân đức này xem như lưỡi câu của chư Phật và Bồ tát tung ra giữa Biển Ái Dục nhẫn nại đợi chờ những đứa con lầm lỗi biết sụp xuống ăn năm chí thành quy mạng. Nhưng bởi do nghiệp mới từng ngày vẫn “dạy dỗ” nên chúng ta tin ở mình hơn, tin ở ngày mai ngày kia và mãi mãi hơn là tin chỉ có thực tại từng giây phút sẵn sàng trở về với bản-tánhcực-lạc bất cứ lúc nào. Bởi lẽ này chúng ta vẫn rứt miếng mồi của chư Phật một cách khôn ngoan và bỏ lại lưỡi câu trống trơ khô lạnh với thời gian. Tôi và bạn thương lượng với thần Chết để ở lại trong vòng tay êm dịu của ái ma; chúng ta thương lượng với thời gian để mê vào những việc khoác mặt nạ Phật sự hư dối lợi mình và không ngừng cố tăng trưởng công phu để hơn thua với những hiền giả khác giáo, thậm chí là đồng tu trong cùng một pháp môn. Lâm bệnh ngó lỗi thế gian, tôi chưa chịu tin ngay từ lúc sinh ra đã may mắn vạn lần những đứa trẻ cũng mới sinh dị tật, đã mang “nỗi oan” động trời. Thôi khoan bàn nhân quả đời trước; nếu chúng ta chỉ tin mỗi kiếp này tại sao không tự thấy mình sinh ra đầy đặn, là may mắn. Chúng ta may mắn lại chẳng muốn giúp những người không may mắn?, lại đưa tài danh bao bọc sự hưởng thụ. Thực ra, nào đâu có chân-lý-hưởng-thụ; mà như lời ân sư, “sự hưởng thụ gọi chính xác là tiêu phước”. Phước bởi là phước hữu lậu, nên phước ấy ảo, nhưng chúng ta chấp thật nên nhận nghiệp thật. Nạn nghiệp là thật, nỗi đau đớn tột cùng là thật; trong lúc ta vẫn không chịu buông cái phước ảo để nhận thật tướng hạnh phúc. Thực ra lúc nạn nghiệp đến là cơ hội để tôi và bạn tỉnh giác. Nhưng tôi vẫn thấy cuộc đời này không khổ không huyễn thật mà vui thật, nên mơ hồ tin vào dục lạc mình có cơ hội nắm trên sự điêu tàn của phước báu đã trôi theo dĩ vãng. Đã tiêu phước thì núi phước cũng cạn; phước cạn thì nghiệp hiện; nghiệp hiện vẫn không tin nguyện lực chân thật, thì chư Phật Bồ tát hẳn cũng tạm thời để ta nếm mùi vị thống khổ! Bạn tu của tôi vẫn thường niệm kinh hồi hướng cho những con muỗi đốt mình. Lúc đọc sách, những con muỗi đến tìm thức ăn ở thân, đợi nó hút máu lưng bụng liền đuổi đi - là cách bạn thương nó. Còn lúc bạn chìm lắng niệm một câu kinh, những con muỗi do không có ai đuổi nên hút máu no cằng. Thỏa mãn sự no rồi những con này bay không nổi rớt xuống ngay tại chỗ; số khác thậm chí không đủ sức rút nọc. Để thấy hễ tôi tham liềm mê. Mê không được ai nhắc nhở dễ đoản mạng. Tất cả món dục xét đến cùng chỉ là ảo giác. Sự thỏa mãn sáu căn đều ảo. Thân thể người chẳng có nơi nào nhạy cảm cả. Những hành giả thực sự xả ly chia sẻ rằng một khi họ giải tỏa ảo giác, làm tan rã sức mạnh của ảo thì những chỗ được cho nhạy cảm trở nên đồng đẳng với mọi nơi khác trên cơ thể. Và lúc đó cái tự biết hay tạm gọi tánh giác hiển hiện như một sự tự nhắc hành giả quay về. Nếu ta lạy Phật năm vóc sát đất, khoảnh khắc ấy ngoài năm chỗ xúc chạm được cái tự biết báo động, chẳng còn ai ở đó. Cũng như một chỗ ngứa nổi lên, một chỗ nhói lên, thì ngoài cái ngứa và cái đau ấy ra chẳng có ai đứng đó với tư cách tôi cả.
Tôi và bạn quen thói dùng các căn xài ảo giác, thành mê, mê lâu tưởng thật, cứ như tỉnh rồi còn bẹo xem có phải mình vừa mơ hay không. Sập bẫy ảo ảnh, dễ vướng lưới ma. Ta từng nếm món ăn tuyệt hảo do một đầu bếp ở nhà hàng nấu, lúc ăn chỗ khác cũng món ấy song bị quá vãng món ăn phủ lên tâm thức nên thực chất là nhai nuốt ảo ảnh để sống với một thực tại tức tưởi. Ta buông tuồng để rồi quá vãng lôi vào nhốt trong ảo ảnh về một khái niệm từ món ăn “đã chết” đã trở thành “khói sóng”. Cùng một bài hát, ta từng nghe lúc ngồi với người thương tại quán cà phê, thì khó nghệ sĩ nào có thể thuyết phục kéo ta về với thực tại cả. Tôi luôn bị nhốt trong nhà tù ảo nên nỗi lạc vào lục đạo. Không ra khỏi ngôi nhà tù ảo, ai nói luôn làm chủ bản thân là tự dối gạt. Thử tưởng đến một nghịch cảnh động trời, cái ta bùng nổ và lúc đó cũng như đang dự tiệc vua ban, ta lật nhào hết thảy trước sự ngơ ngác của kho tri thức với đầy đủ danh ngôn lời răn kể cả những hình tượng linh thiêng về một đấng tối cao lưu cữu tôn thờ! Sự mê ảo trở thành một phản xạ, thành bản năng và chúng ta luôn luôn tưởng thật. Lúc bạn và tôi lớn lên, không ai nhắc không ai dạy, hễ thấy người nữ liền sinh cảm xúc tiêu cực. Học Phật rõ ra đó là “tấm bùa hộ mệnh” của ma tặng cho chúng ta tự do phiêu du trong khuôn khổ sáu đường. Biết vậy, tôi nào đã ra được! Dục lạc luôn là độc dược bọc đường. Có một điều rất dễ cảm nghiệm là trẻ em rất thích ngọt. Chúng thích đường sữa kẹo bánh, tất cả những thứ kể cả thuốc đắng bọc đường. Sự ngọt ngào luôn tiềm ẩn độc tố. Nếu mang muối ra so sánh với đường, hiển nhiên muối rất cần cho cơ thể, còn đường hoàn toàn nhân loại không cần đến, bởi trong ngũ cốc rau quả ta ăn hàng ngày dư đường rồi. Cơ thể chúng ta nếu thiếu muối mới là tai họa, còn thêm đường là thừa. Nhưng chúng ta thấy muối quá rẻ nên xem thường, chỉ quý đường. Thế gian sự ngọt ngào êm ái luôn được con người tìm kiếm. Chợt nghĩ xa hơn, mấy ai trong sự thăng tiến cảm xúc lại nhận ra mặt trái của nó. Không ai đang sung sướng hưởng thụ năm món dục lạc thế gian lại nhìn ra sự nguy hiểm của nó. Họ cho đó là sự phát triển, không mảy may biết mình đang đi xuống theo một lập trình chuẩn xác của nghiệp. Ngược lại đa phần gặp nghiệp nạn, người dẫu không tu cũng tự kiểm thảo lại mình, biết sợ một điều gì đó, sợ cái hoang lạc. Sợ tức là giác. Quá nhiều người gặp bệnh nạn được duyên may tác động đã quay về nẻo thiện, tin sâu nhân quả, tin và hành theo Phật để lợi lạc mình và tha nhân. Để thấy sự ngọt ngào êm ái hẳn đều là cảnh giới của tâm ma. Thầy tôi nhắc, ngay đến những hành giả tu đắc những tầng định sâu, thọ lạc họ trú ấy nếu không tỉnh táo cũng lạc ngay vào ma đạo, trụ không thiên, lọt xuống hầm vô vi. Quả thực chúng ta không thể không cảnh giác mọi sự hưởng thụ mà giác quan đưa lại. Bằng mọi sự nhẫn nại và sáng suốt, rất cần sự cầu giải thoát khỏi khung trời ảo ảnh để nhìn thật về chân tướng của sự sống qua từng khoảnh khắc. Hiện tại vừa chạm đã thành quá khứ, đã thành bóng huyễn. Tương lai chỉ là ảo vọng, đều ảo và chỉ ảo mà thôi. Chỉ còn lại từng giây phút thực tại nếu ta không nương vào các căn để an trú sẽ theo dòng ảo ảnh cuộn xiết khổ não.
Thầy tôi bảo chúng sanh đọa lạc lại không biết mình đọa lạc. Tài danh có thể đưa họ lên đỉnh cao của tự ngã, đó cũng là sự đọa lạc xuống hố thẳm. Người lúc gặp nạn, bệnh tật kéo đến vẫn chưa chịu nhận ra mình vét phước tiêu gần cạn rồi. Mấy ai có cái nhìn trí tuệ như những đồng tu tôi được biết, họ xem bệnh như một thiện tri thức luôn nhắc nhở sự vô thường, luôn nhắc họ ở lại với cơn đau như chính thực tại hiện tiền; bệnh giúp họ đối trị cân bằng với ham muốn dục lạc; bệnh khiến tâm kiêu mạn của họ xẹp xuống, khiến biết cúi mình trước Nghiệp như kính cẩn trước Pháp. Lúc cơn đau nổi lên, bạn tu của tôi xem đó như cơn thèm dục lạc. Thèm món dục nó khiến thân tâm nhức nhối; bạn tu một lần bỗng à lên, sao cơn thèm này giống cơn đau của bệnh quá. Từ lâu bạn vẫn xem bệnh như bạn; bởi xem sự thèm món dục như cơn đau của bệnh nên bạn cân bằng được tâm, rồi càng ngày thấy món ấy nhạt đi.
Thật cảm ơn bệnh muôn phần. Bởi bệnh gần như tất yếu, mang bệnh vẫn có thể về nước Phật; còn nặng mang dục là tự gieo xuống tam đồ. Sống trọn với nỗi kính trọng vô bờ nhân quả vốn công minh tuyệt đối, nghiệp bệnh nhiều khi là ngọn roi của tánh giác giúp chúng ta tập buông dần thân tâm đầy huyễn giả mộng mị. Tôi đã từng xem bệnh như kẻ thù cần tận diệt; dùng cả những toa thuốc “ác độc” trừ khử những căn bệnh mà người tu hoàn toàn có thể chung sống hòa bình trong niềm ân hưởng của Phật. Rồi có những người quyết diệt bệnh lại gạt đi nguyên nhân sơ sờ gây ra bệnh cho mình. Họ chiến đấu với bệnh mong có lại sự ổn định tạm thời để tiếp tục hưởng thứ dục khiến họ lâm bệnh.
Mỗi chúng sanh từ vô lượng đã cõng quá nhiều nghiệp, và còn sống là đang từng khắc tạo nghiệp. Chúng ta chưa sống được trước hết với Thập thiện Ngũ giới thành nền nếp, là nghiệp đang đốt cháy phước mạng và dĩ nhiên đang phá hoại từng thời công phu hành pháp nhọc nhằn. Một giới tà dâm đối với cư sĩ thôi, bạn tu của tôi bảo đã thực hành quán chiếu thân bất tịnh như một liều thuốc nặng trong thời gian khá dài, đã xem hàng trăm bức ảnh kinh tởm, nghe vô số bài giảng về ái dục như liếm mật ngọt trên lưỡi dao, đã đọc biết bao kinh luận sớ như phần chuyên biệt trong kinh Lăng Nghiêm, sách Thọ khang bảo giám, Thiếu niên bảo thân, Dục hải hồi cuồng,… vẫn chưa dám chắc trì cho ra giới này. Rồi tiến lên tầng công phu dùng sự sáng suốt nhận diện món dục như một liều thuốc độc để ly độc; vẫn còn cảm thấy sóng tâm thức như cuồng lưu chảy ngược! Nếu có định lực, hành giả sẽ dùng trí bát nhã tập quán chiếu về bản chất vô thường của vạn pháp, quán chiếu về bản chất ảo giác huyễn mộng và rốt ráo không của dục để dần ly tâm ý thức hướng về chân tâm từ lâu vẫn ở đó hư hư không. Bây giờ ta được sung sướng, thông minh, thuận chiều trong công việc mà chưa làm nhiều phước là đang hưởng phước. Hưởng rồi sẽ hết; phước cạn thì nạn bệnh sẽ đến; nghiệp nặng nhất vẫn thường sanh từ giới dâm, sau đó là giới sát; rồi nữa các chất gây nghiện sẽ khiến tâm chìm lún vào tầng si không cách gì có định để phát tuệ. Công phu nếu không thực miên mật, đời này gặp duyên sẽ tương tác với túc nghiệp nẩy mầm quả đắng khiến hành giả không đủ sức vượt qua. Vạn pháp giai không. “Giai không” chẳng thể hiểu mà được; mà hành cho nhạt đi cái có. Tôi chưa hề soi thấu ngũ uẩn giai không, ít ra chưa làm nhạt được cái thân huyễn tâm vọng, vẫn chấp vạn pháp là thật nên ai đụng vào thân liền la, ai chạm vào danh liền ấm ức sân nộ; đó chính là minh chứng cho “nhân quả bất không”. Mà dẫu ai đó quán nhạt ngũ ấm, cũng chỉ là không lầm nhân quả thôi, chứ quả vẫn vận hành và thiên biến theo nhân họ gieo. Xem thường tu phước sẽ dễ gặp bệnh trước lúc chúng ta không còn sợ bệnh; chúng ta dễ mất mạng trước lúc không còn sợ chết. Tu phước chính là niệm niệm vì người, cắt nguồn rễ độc trong từng ý niệm tham sân si mạn.
Bạn tu của tôi bảo từ giới thân, người càng sâu chuyên môn sẽ trì giới tâm, tức ý niệm có khởi tà kiến trong sự tiếp xúc đối đãi với vạn sự vạn vật hàng ngày hay không. Giới tâm tính từ khởi tâm động niệm. Tâm không khởi niệm tham, sao dẫn tới hành động thân tạo nghiệp trộm, dâm; tâm không bị niệm si vi tế điều động, sao có thể khiến thân tạo giới sát và nhiều giới khác nữa. Trì giới tâm mới khiến phát định sinh tuệ. Một hành giả trì giới tâm chứng tỏ họ biết sợ nhân quả. Tin sâu nhân quả thêm một tầng sẽ càng phát hiện những vi tế khởi sinh, sẽ càng khiến tâm định thêm một nấc. Vạn pháp đều không ra ngoài nhân quả. Mà nhân quả là thật tướng. Người tin nhân quả được một phần sẽ buông xuống được ngũ dục lục trần bám víu một phần. Công phu thật ra mà nói chẳng ra ngoài việc tin nhân quả hiển hiện nơi vạn pháp để rồi buông xuống chấp trước thế gian. Xem thường nhân quả ở những nấc vụn vặt nhất sẽ khiến hành giả rớt xuống dẫu họ gắng dụng công bao nhiêu chăng nữa, bởi sự gắng này chắc chắn khiến tâm kiêu mạn thêm lớn mà họ chưa nhận ra đó thôi. Những thứ tâm vọng muốn đều có tà lạc, rất hấp dẫn và rất dễ dính mắc. Nếu tâm không được trí soi chiếu qua tấm gương trong suốt của giới sẽ bị mê. Mê, hiểu thô là ta hễ không có thứ mê ấy sẽ không chịu; cái sự không chịu này chính là tập khí si phá hoại tâm thanh tịnh, phá hoại định lực mới như lớp băng mỏng dưới sức nóng mặt trời. Một hành giả cần bước trên đường đạo như trên băng mỏng bằng trí tuệ của giới luật, nếu không dễ sụp chìm xuống đáy của biển nghiệp. Một hành giả luôn tự cảnh tỉnh mình, rằng ta dính vào một món dục đơn giản hơn cả trở bàn tay, song khi đã bị mê rồi không chừng phải trầy da tróc vảy, đau hơn hoạn mới gở nổi. Giới là bào mòn tập khí để hiển lộ tánh giác, vì trong tánh giác vốn không hề có thập ác, vốn không hề có phân biệt chấp trước vạn pháp; trong tánh giác chỉ thuần là cái chiếu soi nhi nhiên.
Nhớ hồi tôi chưa được học Phật, một lần gặp một người, ngồi bên tôi vừa nghĩ gì họ biết không sót niệm nào. Bạn tu dẫn lời một vị sư bảo rằng với sự phát triển chóng mặt của khoa học, tương lai gần sẽ có cái máy khuếch đại ý niệm của mỗi người thành nội dung kiểu như ta thâu âm thanh vậy. Điều này nghe có vẻ thiếu nhân quyền, nhưng đó là tất yếu của khoa học, đó là tất yếu của sáng tạo, nó đúng với lộ trình đi xuống mà nhân loại vẫn nhầm đi lên. Tôi càng bước là càng gần sự chết. Những người chẳng tin khoa học thì thôi, người được khoa học chứng minh vẫn không tin chết chẳng phải hết, mà phần thức ấy còn mãi để lâm vào những cảnh giới bội phần tăm tối khổ não lúc ta sống. Nhưng họ chỉ lo cái phần vật chất và đến trước hố thẳm vẫn không học lấy cụm từ vũ trụ huyền bí. Trái đất cũng thành trụ hoại không như con người sanh già bệnh chết. Bởi sáng tạo mới nảy nòi ra bom nguyên tử và nhiều mối họa khôn lường khác, cũng như mạng toàn cầu chiếu trên cái nhìn của vật lý lượng tử. Không phủ nhận sự sáng tạo khiến loài người được hưởng lợi đời sống vật chất, nhưng người ta quên phần tinh thần quên thế giới tâm linh nên sự sáng tạo chủ yếu phục vụ vật chất ấy đẩy đến sự hoại diệt, còn là sự hoại diệt mau chóng. Có lẽ một cái máy soi tâm thức với vô vàn ý nghĩ xấu ác trong một giây làm méo từ trường, làm ô nhiễm không gian chung như thế nào sẽ được đo rõ ràng, dĩ nhiên sẽ khiến mỗi người tự biết xếp chỗ đứng cho mình. Điều này khiến rất nhiều người bớt lao lực tranh giành chỗ đứng lẫn nhau, tranh giành cả chỗ an tọa của hiền thánh và chư Phật Bồ tát (hóa hiện người thường) để tránh đi cái họa lớn nhất là không chịu để ánh quang minh rọi đường ra khỏi lầm mê.
Tôi đã gặp Phật, sớm được học nhiều lý mầu nhiệm, nên phóng tâm đòi bỏ qua nền giới luật. Chúng ta chưa tin nổi nhân quả là nền móng của pháp bảo khiến sau bao thời gian công phu tưởng mình khá sạch sẽ đâu ngờ gặp nghịch cảnh sơ sơ đã chao đảo như con thuyền nan giữa biển. Bây giờ mới chút bệnh đã chới với thân tâm, đến lúc già yếu, lâm chung trăm nghiệp đổ về không chừng lại khởi tâm trách Phật không gia trì sự điên đảo. Tôi và bạn chưa tin nổi nhân quả nên cửa vào cõi tịnh còn đóng và do đó cái chúng ta có chỉ dừng lại như một dạng tôn giáo. Ân sư tôi dạy thái độ học Phật chiếm chín mươi phần trăm, pháp hành là phần còn lại. Thái độ chính là tha thiết chí thành dâng thân mạng cho chư Phật khai phóng, sẵn sàng buông sự bám chấp cõi trược. Tôi và bạn đều biết nghiệp vốn bất tư nghì. Nghiệp mỗi chúng ta như quả núi luôn treo trên đầu, lâu lâu nó văng xuống cục đá còn đỡ; không có thái độ chí thành buông cái khổ huyễn thế gian, việc hành pháp chẳng khác người vác đá vượt núi. Thiển nghĩ bậc tu chứng nhìn thấy tôi và bạn bứt phá giới luật gắng gỗ khư khư ôm lấy pháp hành một cách mỏi mệt qua ngày đoạn tháng mong ngóng tìm cầu, xót xa vô hạn thay! Tôi và bạn như hai con thuyền vừa xuống sông nước đã tràn. Gắng lắm chúng ta chỉ đủ thời gian vừa tát nước vừa chèo với sức gia trì của chư Phật Bồ tát hy vọng qua bờ. Đây vẫn là một cách nói. Bởi tôi mang theo một vũ trụ nghiệp, một hư-không-nghiệp. Có vị Tổ suốt đời tận lực giảng về sự lạnh lùng khốc liệt của nghiệp nhân quả báo, rất hạn chế giảng pháp môn tu; ngay thời xưa mà Ngài đã thấu rõ phần nhiều chúng sanh như tôi từng sụp nền tảng giới có nguy cơ lâm vào ác đạo quá nhanh đến không chụp kịp. Đồng tu nhắc, chúng ta dốc lòng "tùy hỷ" nghiệp lực cũng như đứa trẻ sờ tay vào những loại keo siêu dính; thử nghĩ xem thần y sẽ xử lý thế nào. Một khi phước không được giới vun bồi, không được định trì giữ, không chừng dễ nếm đòn roi của oan gia, đến lúc ấy chúng ta sẽ hiểu thế nào là sự quậy phá của ma và nghiệp.
Ai từng ngủ và nghỉ ngày đêm khoảng 7 tiếng; sáng tầm 3 rưỡi dậy công phu như bạn tu của tôi, sẽ hiểu thế nào là nghiệp si, là sự kéo chìm xô đẩy của ma hôn trầm; đó âu mới là sự thăm khám nghiệp lực ở một góc hẹp phận người. Chúng ta may mắn dựa vào nguyện lực của Phật, phải chân thật mở lòng nếu không bỏ thân này nghiệp sẽ kéo chìm mất. Thầy dạy tôi tha lực chân thật chỉ giúp con tăng trưởng công phu thôi. Tha lực nhiều lúc cũng đưa đến cho con chút tài vật, song tài vật đó rốt ráo vẫn là phục vụ việc duy nhất thăng tiến huệ mạng. Giai đoạn tu tiểu học, nếu "tha lực" đã giúp ta dính sâu vào phiền não dục lạc, trong lúc pháp hỷ không sanh, nguy hiểm quá chừng! Tam vô lậu học Giới Định Tuệ dành cho bất cứ pháp môn nào, Trí là cứu cánh. Bát Nhã là thắng trí được sinh từ Lục độ ba la mật. Ngay đến đại trí Văn Thù, pháp hành cũng phải bắt đầu từ Phước (bố thí), rồi đến trì giới; sau mới Tinh tấn cầu định. Ai thông làu kinh chăng nữa song chưa thâm tín nhân quả, chưa bắt đầu bằng Bố thí, Trì giới, âu vẫn là người sở hữu Tri thức mà chưa sanh Trí vậy. Thực tế chỉ mỗi Bố thí thôi đã trùm khắp. Bạn còn thấy lỗi thế gian là chưa thực Bố thí cái lỗi ấy để tâm được trong lặng. Tôi còn muốn in tác phẩm này khoác cái danh nọ là chưa hề bố thí niềm vui cho các đồng nghiệp vốn nặng tâm không muốn ai hơn mình. Bạn và tôi còn khởi niệm sân trước nhà sư phá giới hay kẻ phàm báng Phật, là chưa hề bố thí sự bao dung đến những con người còn nặng nghiệp hơn ta. Ngay đến hoằng pháp lợi sanh một khi tín chủ vây quanh, một khi ta chưa hề nắm chắc sanh tử tự tại thì đó đã dọn lại con đường trở về lục đạo.
Bạn tu của tôi nói, không vững giới, chưa chạm định sẽ không có tia sáng dẫu mong manh của Tuệ để quay lại soi chiếu nền tảng giải thoát, hành giả dễ mê đánh bóng tự ngã mà không hay biết. Trong lúc yếu quyết của người tu là khiến cái ta mờ nhạt dần và nếu có thể đó là sự biến mất, nhường cái-thân-ta này lại làm sân chơi toàn vẹn cho cái tự biết/giác. Những thiền sư nhờ buông trọn ý niệm tâm thức, vào định và thấy thân mình mất dấu vết. Họ không hề còn cảm giác mình đang ở thế kiết già tĩnh tọa, hai tay bắt ấn cũng không. Cho đến lúc họ tác ý máy động trở lại mới à lên cái thân này ngồi đây. Với những hành giả tu theo hướng thiền tự tính, sự định có mặt ở khắp các thế đi đứng nằm ngồi. Họ chia sẻ nhiều khi cảm giác chỉ là cái bóng ẩn hiện giữa trần, đôi lúc còn muốn soi gương xem có hình hài thật không. Dẫu đó là bản chất hài hước của những thiền sinh nhiều sức sống, song cũng khiến chúng ta ý thức về sự có mặt của cái ta thật đáng chán. Sự nhạt phai mình đi giữa trần gian chính là bước ra khỏi cảnh ảo luôn luôn hiện hữu hầu mong nhập vào không gian của Đạo cũng hiện hữu trong từng khoảnh khắc sống động. Ẩn mà hiện, thế nên nhìn bề ngoài, một hành giả miên mật với thực tại không khác nhiều so với phàm nhân; chỉ sự tĩnh giác nhờ nương vào cái tự biết sẵn để có chân pháp lạc là yếu quyết để họ ly vọng chấp chạm vào sự huyền nhiệm của pháp.
Từ bi chính là trí tuệ. Chưa khởi tâm từ ái đến những người khổ nạn chung quanh và cả loài vật, thực sự là nền tảng mỏng manh. Tu phước chúng ta sẽ soi được tâm còn chấp tướng hay không (việc tu phước). Song dẫu còn chấp thì ai cũng dễ dàng hơn trên tầng chuyên môn đạo hạnh. Nhân quả rất “tàn khốc” và không hề khoan nhượng mảy mảy đối với bất cứ ai, vì nó là sự thường hằng nghiễm nhiên. Nhiều người mang tiếng chuyên tu, xem thường nhân quả, họ nghĩ đang hành chuyên môn nên không quan tân đến tu giới tu phước. Phước sẽ hóa giải, giảm nhẹ nghiệp dữ nếu ta phải nhận lãnh trong tương lai, và phước sẽ kéo thọ mạng để ta đủ thời gian khiến công phu vượt thoát chín muồi. Suy cho cùng, mọi tài vật danh vọng có được đều đổi từ phước trong mạng ra. Phước đã chiêu cảm thành tài sản và danh vọng, cũng là phước trong mạng cạn hơn những người có tích phước mà không cầu tài sản và danh vọng, mà họ cầu trí huệ chân thật soi chiếu cho ra thân huyễn tâm vọng, soi chiếu cho ra trần cảnh vốn huyễn, soi cho thấu phần nào quy luật vận hành của vũ trụ nhân sinh để chỉnh lại vận mạng được an lành cho đến lúc thực hiện bước nhảy cuối cùng. Ngay đến Đức Phật cũng tu phước để làm gương cho sự cứu vớt tà niệm của chúng sanh thời mạt. Thầy bảo tôi điều con không ngờ tới chính là tâm quá loạn, quá chấp trước trần cảnh vốn bình đẳng giữa trời đất. Thầy tôi dạy con người đều là bộ máy, và trong bộ máy ấy gồm nhiều bộ phận như camera, máy thâu âm, thâu hương vị v.v; hàng ngày tiếp xúc với lục trần chính là chúng ta thâu âm thanh hình ảnh làm dữ liệu trong tàng thức. Chúng ta đưa vào quá nhiều dữ liệu, phủ lên tánh giác. Nhờ nương vào một câu kinh, ai quyết hành trong mọi thời, những dữ liệu xem như được xếp vào kho, không khởi tác dụng nếu không gặp duyên mạnh từ ngoài tác động. Trong lúc hành giả không ngừng nâng cao định lực và sức mạnh của một câu kinh; câu kinh ấy phát năng lực giữ lại kho báu là “tánh giác định”, giữ sự bình lặng để rồi kết nối với từ lực cứu độ của chư Phật Bồ tát. Làm được điều này đòi hỏi người tu phải thật sự hành, thật thà cung kính cùng cực; còn không chúng ta hành chánh pháp song thành tà bởi luôn muốn thâu vô vàn dữ liệu, vẫn muốn giữ dục lạc tài danh khiến tâm luôn vọng. Sự không định nổi trước trần cảnh là cái nhân cho thấy chúng ta rất khó vượt qua cửa tử dễ dàng trước trùng trùng chướng nạn do chính tâm chiêu cảm và trong mọi thời khắc núi nghiệp ấy luôn kết hàng rào kiên cố quanh hành giả khiến ánh sáng từ bên trong và từ bên ngoài sự tướng không thể soi thấu đánh thức trí tuệ trong cơn mê quá sâu của tôi và bạn. Đức Phật không thừa nhận ai là đệ tử của Ngài nếu chưa học Tiểu thừa lại thẳng vào Đại thừa; lời dạy này dành cho những hành giả thuộc Đại thừa. Đức Phật biết trước, thời Mạt chúng sanh sẽ xem thường giới luật nên đối với học nhân Đại thừa Ngài sớm cảnh tỉnh phải học Tiểu thừa - chính là Giới Luật. Ân sư tôi trăm lần nhắc câu giới luật rất quan trọng! Có giới mới sanh định, có định với khai tuệ. Bởi, giới luật là mạng sống của Phật pháp. Ai là người tu cũng thường ngày nên quán chiếu câu này như gìn giữ linh hồn của mình vậy. Xưa nay bậc chân nhân đều xem đây là chân lý tối thượng, xem Giới Luật như có Phật trước mắt. Tam học Giới Định Tuệ là bất biến đối với một học trò của Đức Bổn sư, ngoại trừ hàng thượng thượng căn nhảy thẳng vào nhận tự tánh và đứng ngắt ở đó. Họ thấy mình như không tồn tại, hay đó là sự tồn tại của tha lực thuần khiết nhuốm sáng thân tâm, cũng đồng nghĩa với việc tự ngã được đưa về không. Lý này nghe rất hấp dẫn, dường như ai cũng vào được. Song điều tôi không ngờ là sự lôi dẫn của nghiệp dĩ, con người luôn ngầm bị điều động bởi tham si mạn như mối mọt đục ruỗng niềm tin thánh thiện bổn nhiên từ buổi ban sơ ta gặp nguyện lực từ bi vô biên của Phật. Đó cũng là lý do Phật tiên liệu rõ nhất trong thời Mạt, nên nguyện lập giới luật làm nguồn sống của Pháp. Giới Định Tuệ quyện chặt như một vòng tròn trôn ốc, như mũi khoan đột phá từng tầng vô minh. Công phu được đo phải cậy vào sự soi chiếu tương phản của hành giả trước tấm gương đại chúng và vũ trụ nhân sinh kể cả các loài thuộc thế giới vô hình. Giới tâm luôn vi tế và người lôi được những vi tế nghiệp bày ra giữa thanh thiên bạch nhật chính là họ lôi được những sâu trùng nọc độc mà mắt thường không thể nhìn thấy.
Để bảo vệ một luận án Tiến sĩ theo tiêu chuẩn ở những trường đại học danh tiếng nước ngoài, không chừng chúng ta đổ tâm sức hàng chục năm trời chưa thành công. Còn cái luận án đời người vượt tử sinh thì mức độ khó chỉ có thể tưởng tượng mà thôi. Có lần ngồi uống trà, thầy tôi gần như thì thầm, “chẳng có pháp nào ra khỏi luân hồi mà dễ đâu con. À, con đã nếm mật nằm gai chưa?” Tôi nhớ lời ân sư: Vượt luân hồi là đại sự, ngay đến việc đứng trên muôn người cũng là chuyện nhỏ. Vượt sinh tử là xuyên qua tham sân si mạn như sương khói. Những hành giả một khi họ lăn xả vào học và hành giới, thuần cái nhìn trong khiết với cuộc đời lắm nỗi thị phi, thuần cái nhìn trong khiết cả với hàng hậu học non xanh và thậm chí cả với những ai còn lầm mê hủy pháp, là dấu hiệu cho thấy họ đang quyết liệt vượt luân hồi ngay trong từng giây phút sống. Bởi hơn ai hết họ hiểu đau khổ là tấm gương phản chiếu sự sung sướng. Càng đào xới niềm vui sâu bao nhiêu hố đau khổ phải chiếu sâu hơn thế ấy. Đau khổ dẫu chưa xuất hiện đồng thời với cái gọi hạnh phúc song lúc hội đủ duyên sẽ trỗi lên dìm con người từng khoét sâu sự hưởng thụ dục lạc xuống như là cú đảo ngược cái phản chiếu trong tâm thức vọng động khôn cùng.
PHÍA TRƯỚC LÀ HỐ THẲM
Gặp được Phật pháp là phước báu duyên phận nhiều đời, “trăm nghìn vạn kiếp nan tao ngộ”. Ân sư của tôi dạy rằng có thân người trong đời này như là đi du lịch, hết thọ mạng lại trở về ác đạo và đó chính là quê nhà của những người có cơ hội gặp Phật pháp lại không buông xả thế gian dụng tâm cầu giải thoát. Hàng trí thức cho thấy họ đã tích thiện nghiệp từ rất nhiều kiếp, bởi sở tri chướng che tánh linh vi diệu của căn mạng nên không tin mình đang trôi theo nghiệp lực. Ngược lại nhiều người bị xem khờ khạo, đời nay nghe khuyên theo Phật liền tận tâm buông xả niệm Phật cầu về Cực lạc. Thượng hay hạ căn, kẻ sang hay hèn phải dò vào Phật pháp mới thấu. Học pháp hàng ngày tức ta sống trong pháp. Phật dạy gì nghe nấy, gắng phụng hành bằng cả tâm sức và lòng kính ngưỡng. Những bài giảng kinh của bậc cao tăng người tu đọc nhiều lần, mỗi lần sẽ giúp chiêm nghiệm thêm điều mới - là nét kỳ diệu của Phật pháp. Chúng ta chưa cảm được niềm hạnh phúc tột cùng lúc thành Đạo, chưa hình dung ra cảnh giới vi diệu ở Cực Lạc, hơn thế sống giữa trần gian từ nhỏ nên cuộc đời này vẫn luôn có sức hút ghê gớm khó cưỡng. Nhìn xuống sẽ thấy loài vật chỉ biết đến không gian nhớp nhúa; chúng vẫn thấy “hạnh phúc” trong sự khốn cùng oan nghiệt ấy. Con chó biết rằng phân dơ thì chúng đã không ăn! Càng xem nhẹ tài danh, sắc dục, ăn uống, ngủ nghỉ sẽ càng gần Phật tánh hơn. Những gì thuộc thế gian đều huyễn mộng. Thân tứ đại là thật, song già cả hết nhân duyên thì đất nước gió lửa ấy tan rã bốn đường, chỉ còn thần thức tồn lưu trong sự xiềng xích của mọi ham muốn, tùy vào nghiệp lực đưa vào các nẻo luân hồi thống khổ.
Người trẻ không tinh tấn dụng công không chừng muộn, nói chi đến người nghỉ hưu rồi vẫn còn mông lung Phật pháp quả không gì đáng tiếc hơn. Sự Đời lúc mất rồi, nhiều khi con càng “có hiếu”, mẹ cha nơi chín suối càng chịu đọa đày. Đám tang to, nhiều chúng sinh bị giết hại. Nghiệp ấy chắc chắn họ phải nhận một phần bởi lúc chết không tin Phật, không khuyên con cháu đừng hại vật, không khuyên con cháu ăn chay, làm đám chay và phục thiện. Rồi thay vì tụng kinh niệm Phật, phóng sanh vào 7 ngày “thất”, chúng lại mổ heo bò khuếch trương sự “hiếu”. Cái hiếu đó chính là... bất hiếu; cha mẹ “cộng nghiệp” bị đọa xuống cảnh giới thấp hơn.
Tránh nghiệp Tam đồ, trước nhất phải khuôn mình vào Thập thiện. Ân sư tôi bảo đây là tiêu chuẩn thấp nhất trong nhà Phật, không có nấc thấp hơn nữa. Cần cố viên thành cho được 80% như lời của Thiện tri thức nhắc nhở; không phải làm 8 điều còn 2 điều gác lại. Trái với Thập thiện là Thập ác, không có cái "ở giữa". Ta phạm sát sanh như cố ý giết một con kiến, đã là "nhất ác" rồi. Ta mua năm con cá sống, dẫu ăn một và phóng sanh bốn cũng “ác” nữa rồi. 80% của “thiện” đầu tiên có thể chấp nhận được khi ta ăn mặn (nguyên ủy là ăn mạng) theo Tịnh nhục: không giết vật để ăn, không thấy nó bị giết và không nghe tiếng nó kêu khi bị giết; tập ăn chay trong những ngày rằm, mồng một, nâng lên 4 ngày, 8 ngày, 10 ngày, nửa tháng. Đức Phật dạy Ngài A Nan và đại chúng Tỷ khưu trong kinh Lăng Nghiêm, ngay đến “năm thứ tịnh nhục, thịt kia đều do thần lực tôi hóa sanh ra, vốn không có mạng căn. Xứ Bà la môn các ông, đất đai phần nhiều nóng bức, lại thêm cát đá, rau cỏ không sanh được; tôi dùng sức đại bi gia bị, nhân sức đại từ bi, giả gọi là thịt và các ông cũng nhận được cái vị như thịt; làm sao, sau khi Như Lai diệt độ, người ăn thịt chúng sanh, lại gọi là Phật tử”. Ngài còn dạy: “Muốn thế gian này vĩnh viễn không còn kiếp đao binh, chẳng có chiến tranh thì trừ phi chúng sanh không ăn thịt”.
Trong alaya thức mỗi người chứa quá nhiều ấn tượng, là những “âm bản” của hết thảy sự vật hiện tượng thâu vào qua sáu căn, là chủng tử dữ liệu trì níu khiến những kiếp sau ta khó thể thăng lên được. Thập thiện nghiệp là nấc thang cơ bản xác định một sinh mệnh có thể tiến hay lùi trong hành trình tiến hóa tâm linh. Trong kinh Địa Tạng tả cảnh Thánh Nữ Bà la môn lúc niệm Phật đến nhất tâm bất loạn, xuống “âm” thăm mẹ mình vừa mất, Quỷ vương hỏi mẹ cô trước có bài Phật báng Pháp không liền biết hiện thọ báo ở tầng địa ngục nào. Quả chưa nhỡn tiền chính vì họ còn phước; họ đang vét phước, đang vay phước để sống. Ngân hàng phước đức dường như vô tận, tự nhiên lấy dùng không cần một thế chấp giấy tờ nào ngoài sự phải trả ở Tam ác đạo và hơn thế còn “liên đới” cháu con còng lưng gồng gánh đến bạc tóc. Người hành chánh pháp chẳng dại vay mượn phước đức sống hoài sống phí để rồi thọ khổ muôn đời sau. Ở đời nếu như người thân hoặc bất cứ ai cho mình tài vật (là cho chứ không mượn); cho nghĩa là họ sẽ không lấy lại. Họ không lấy song họ còn nhớ, còn... tiếc; họ còn nhớ tiếc, mình còn nợ, sẽ phải trả cho người khác, hoặc nợ ấy được chuyển hóa thành bệnh tật, nạn nghiệp, trừ phi ta hành thiện bố thí (tài vật, pháp và vô úy). Trong Lục độ, bố thí ba la mật: không có người cho, không có vật cho và không có người được nhận. Ta giúp ai điều gì quên ngay lúc đó, (sẽ không khởi ý niệm khoe), mới trọn phước. Ai mượn gì, trả cũng tốt, không trả cũng hoan hỷ... Soi thêm vào Bát chánh đạo càng rõ mình hơn. Học Phật thấu đáo là người rốt ráo chỉnh lại những gì chưa đúng trong cuộc sống, với cư sĩ nhất là nghề mưu sinh. Quán nhậu (sát nghiệp), nghề phục vụ sự sa đọa...
Con người giàu có thường nghĩ đến hưởng lạc. Tụ điểm ăn chơi càng cao cấp, số chúng sanh bậc thấp khổ nạn càng lớn. Thay vì một con vật bị giết, món gan phải dùng đến rất nhiều sinh mạng. Trên thế giới thật không ngẫu nhiên thiên tai địch họa từng ập vào những nơi thác loạn và nơi gieo rắc bi ai cho nhân loại.
Cuộc sống chúng ta căn bản ngụp lặn trong phiền não. Phiền não như rác rưởi người ta vứt vào nhà; thay vì vất ngược trở ra, ta tận dụng "tái chế" sử dụng. Không gì là vô nghĩa. Phật tánh vĩnh viễn chẳng mất ở bất cứ ai. Lúc chịu hết nghiệp tội, chó cũng sẽ chuyển kiếp và giác ngộ... Các bậc đại sư ví dụ: ti vi có rất nhiều kênh thì trong người ta cũng có chân tâm, tâm quỷ, tâm a tu la, tâm súc sanh. Ta chỉ có thể bật và xem được một kênh mà thôi. Bật kênh Sài Gòn thì các kênh khác đều lặn; cũng như bật kênh Phật thì các kênh khác trong người sẽ chìm. Một kẻ sát nhân tức kênh ác quỷ mà thỉnh thoảng hắn vẫn khởi tâm thương người, ấy là hiện tượng "nhiễu sóng" qua kênh Thiện; đích thị đời hắn vẫn bật kênh tà đạo.
Nhớ một hôm qua thăm ông hàng xóm đã hom hem, ông tâm sự hai năm nay thấy cảnh người chết mà rụng cả tóc. Đang yên đang lành bỗng nằm liệt đến thúi thịt thúi xương mới chết nổi. Người thì suốt ngày than sao từ nhỏ đến lớn không gây nghiệp lại bi đát nỗi này. Tôi bảo đời người kiếp này nối kiếp khác trùng trùng vô tận, có lên được cõi Phật mới hết sinh lão bệnh tử. Chết là sự kiện quan trọng nhất đời người.
Bây giờ ông không lo dặn dò con cháu thì lúc qua bên kia cứ là nhận thêm nghiệp chúng “gửi” xuống. Ông hỏi là sao? Tôi bảo, ví như bây giờ ông dặn con cháu, đám của ba tuyệt đối không sát sanh, nếu như sau này chúng mổ heo gà thì ông ít tội; còn giờ không dặn dò, mai sau chúng sát sanh cúng kiếng giỗ kị lo ráng đỡ. Ông gật gù, nhưng vẫn bảo mấy đứa con cứng đầu lắm. Tôi bảo: Vậy để con viết cho một tờ giấy, ông cứ cất trong túi, lúc biết mình yếu thì lòi ra, bảo đây như là “di chúc”, đứa mô không nghe theo xem như bất hiếu! Ông hoan hỷ, nhờ. Tôi viết: “Lời dặn của ông B. với con cháu. Đời người ai rồi cũng chết. Cha giờ tuổi cao, nghĩ về cái chết rất thoải mái. Cha ngày đêm luôn cầu Phật được ra đi nhẹ nhàng, không đau đớn và mong có chút phước siêu sanh cõi Tịnh. Các con nghe lời cha dặn như sau: Nếu thấy cha yếu thì tắm rửa thay quần áo, để cha nằm yên, con cháu không được vây quanh thương tiếc. Lúc cha đi rồi con cháu không được chạm vào người cha trong vòng ít nhất 9 tiếng đồng hồ; phải giữ yên lặng và tuyệt không than khóc. Trước đó nên mời quý sư đạo hữu về niệm Phật giúp cha, hoặc các con ngồi quanh niệm Phật; cha sẽ cùng niệm “A Di Đà Phật” cầu sanh Cực Lạc. Cha mất rồi con cháu không nên sát sanh trong suốt 49 ngày, kiêng cữ, làm nhiều việc thiện, cúng dường Tam bảo, phóng sanh; động viên nhau niệm Phật hồi hướng...”.
DƯỚI CHÂN NGÀI ĐỊA TẠNG
Một chiều ngang qua vùng Hải Lăng - Quảng Trị, tôi dừng chân viếng tượng Địa Tạng. Địa Tạng - kho tàng Tâm, nơi sinh ra các Pháp. Địa Tạng - cuốn hiếu kinh trong đạo Phật được mười phương chư Phật tới dự thính ghi lại nội dung quan trọng: khi Phật nhập diệt đã phó thác cho Bồ tát Địa Tạng giáo hóa cõi ta bà (gồm tam thiên đại thiên thế giới). Bồ tát nguyện cứu vớt hết thảy chúng sinh nơi địa ngục (Địa ngục vị không thệ bất thành Phật). Bây giờ tôi đang ngồi dưới chân Ngài, nghĩ về cái chết.
Người ta sẽ hỏi: Người trẻ, nghĩ đến cái chết bây giờ có quá sớm? Câu trả lời: Không quá muộn song chẳng còn sớm nữa. Cái chết đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Không ai dám khẳng định người đang hấp hối sẽ chết trước một thanh niên khỏe mạnh. Cái chết sẽ đến thình lình, chóng vánh. Nó khiến chúng ta không kịp trở tay, không kịp nói những điều cần nói và làm những điều cần làm. Tần Thủy Hoàng thời thịnh trị dễ chừng xoay được cả trái đất nhưng việc tìm thuốc trường sinh thất bại. Cuối cùng cái chết thảm thương đến với ông ngoài dự liệu. Không ai sống mãi trừ các vị tu chứng, các vị niệm Phật đạt nhất tâm thành phiến, chư Phật và Bồ tát. Người thường ai chẳng đi đến cái chết. Nhận thức biết mình sẽ chết, sao không chuẩn bị? Đời người, phần lớn có mấy chục năm, người ta lại dùng lượng thời gian đó sống vì dục lạc lợi dưỡng ngược chiều với Đạo. Chuẩn bị cái chết mà chỉ viết tờ di chúc phân chia của cải, lo trước đám tang mình là nghĩ hết sức cạn.
Dượng tôi là giảng viên đại học môn Lý; một người hiền lành, sống giản dị, cần kiệm; dượng không tin thế giới tâm linh. Nghỉ hưu trên chục năm dượng phát hiện ung thư; mổ lần thứ hai, bệnh viện trả về. Thời gian chưa đầy tháng, ông còn tỉnh táo lo việc chung gia đình và lên kế hoạch đám tang. Sợ phiền đến con cháu và mọi người, ông dặn không được để dài ngày...
Nhờ duyên phước, con ông mời các cô ở chùa về niệm A Di Đà Phật
cầu tiếp dẫn. Các cô không phiền gì gia đình, đến cả bữa cơm cũng tự mua lấy,
thay nhau trì niệm từ 7 giờ sáng đến 6 giờ tối. Vài người trong nhà không hiểu
bắt đầu khó chịu, bảo dượng không muốn nghe A Di Đà Phật nên không muốn đi. Tội
nghiệp, các sư cô đến niệm Phật những giờ phút cuối dượng tôi an lòng về bên
kia, ai ngờ dượng vẫn còn... khỏe. Hiểu ý vài người thân của dượng, các cô lặng
lẽ ra về. Sáng hôm sau nữa ông mới mất; nghe tin các sư cô liền tới lại. Ngoài
đời có ai tự nguyện giúp vô tư như vậy? Chỉ có tấm lòng hướng nguyện của người
tu mới làm được thế. Các cô dặn ít nhất để dượng tôi nằm yên, tuyệt đối không
ai chạm vào trong vòng 8 tiếng, và các cô niệm Phật trong suốt thời gian đó.
Thêm một nguyên cớ để số ít người nhà dượng tôi bằng mặt mà không bằng lòng.
Đạo Phật giải thích rất thỏa đáng: khi một người ngừng thở, phải cần từ 8 đến 12 tiếng tạm đủ để thần thức người có duyên lành rời hẳn thân xác. Người vừa ngừng thở như nồi nước sôi nhấc khỏi lửa, khoảng vài phút thì “lặng sóng”; lúc đó ai đụng vào liền đau đớn chẳng khác ta nhúng tay vào nồi nước nóng, (trong kinh ví như rùa sống lột mai). Người cố chấp cứng nhắc cho đạo Phật dành cho những ai tu, mình không tu cớ gì thực hành như trên. Truyền giảng giáo Pháp, Phật Thích Ca không phân biệt đẳng cấp thứ bậc, màu da, Ngài chỉ nói chân tướng nhân sinh vận hành tự nhiên trong vũ trụ. Cái chết cũng là sự chung, chẳng riêng ai.
Trong đám tang của dượng, có một người đến cùng vẫn muốn thấy linh hồn tròn méo thế nào mới tin. Tôi hỏi có phải tất cả kiến thức có trong đầu anh hầu hết do học. Anh gật. Vậy anh đã đọc về sự sống sau cái chết? đã đọc phía bên kia cõi sống? đã “xem” cảnh giới thân trung ấm? cụ thể hơn là thế giới người âm từ các nhà ngoại cảm. Anh lắc. Vậy sao lúc người ta đem ra trước mặt các loại sách quý đó do các vị tu chứng hóa thân, các vị từ cõi âm, từ cõi Phật trở lại viết ra, sao anh không ngó qua.
Vẫn biết không phải cứ thông minh uyên bác là thẩm thấu nhân quả luân hồi, bởi Phật pháp vào mỗi người bằng đường Tâm. Đạt Lai Lạt Ma 14 lần đầu thai hóa độ chúng sanh với đầy đủ minh chứng được cả thế giới thừa nhận. Ngài Karmapa Pagshi được chính các đệ tử tuyên nhận tái sinh của Karmapa Dusum Khyenpa, dựa trên chính những chỉ dẫn được để lại cho đệ tử bởi vị tiền nhiệm ấy”. Đại sư Gedun Drub thị thịch vào năm 1474 ở tuổi 84. Hai năm sau, người ta buộc phải tuyên nhận đứa trẻ Sangye Chophel ra đời vào năm 1476 tại Tanak ở vùng Tsang bởi những gì đứa trẻ đó nói ra không chút sai trật về cuộc đời trong quá khứ”. Tại Việt Nam: có dạo đứa bé khoảng mươi tuổi giảng pháp không thua một vị tu học suốt nửa đời người. Hay một trường hợp thật khác: người mẹ trên mình có hình xăm, con vừa lọt lòng cũng có hình xăm y chang; khoa học sao có thể giải thích. Đạo Phật thừa nhận việc người đã mất vẫn nhận được ý nguyện của người sống; điều này cũng áp dụng được giữa người sống với nhau nếu có nội lực tâm linh. Ai đó căm thù ta nhưng ta luôn luôn cảm thương, một lòng nguyện cho họ tốt hơn, lúc gặp tự dưng sự ghét và căm thù đó phần nhiều được hóa giải. Sóng tâm ấy không hạn định thời không. Dượng tôi may phước vừa được các cô niệm A Di Đà Phật suốt 8 tiếng, lại có con cháu nguyện sinh. Riêng tôi luôn luôn “nhắn nhủ” ông hãy buông mọi bám luyến chuyên niệm Phật; duyên quá sâu sẽ được tiếp dẫn, theo các Ngài chứ không theo bất cứ ai, kể cả người thân. Kinh Địa Tạng viết, lúc lâm chung oan gia trái chủ sẽ biến hiện làm quyến thuộc “rủ” họ vào ác đạo báo thù xưa. Nam mô A Di Đà Phật hướng về vùng sáng. Vừa qua núi, linh hồn trở thành... mê hồn - hoang mang, đức lại mỏng nên thường sợ hãi chạy qua vùng đen - dễ nghiệp sinh, lâm vào tam đồ. Cho dù không tu, con người hấp hối và suốt nhiều giờ các thức rời khỏi, A Di Đà Phật cứ dội vào tâm não; cầm duy nhất câu đó qua bên kia đã thật nhiều hy vọng sanh cõi lành. Người sắp chết với vô vàn ý nghĩ về con cháu, vợ chồng, bè bạn, của cải, danh vọng; ý nghĩ nào quá mạnh trong thời khắc tắt thở sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tái sanh. Người sắp chết nhập tâm A Di Đà Phật, sác xuất tạp niệm len vào những giây cận tử càng ít, cơ hội Phật độ hoặc sanh vào thiện đạo càng lớn. Chẳng rõ dượng tôi đã tới đâu, song ít ra ông ít đau trong khoảng thời gian các thức chưa rời hẳn. Đó là niềm an ủi lớn khiến tôi đỡ ân hận khi dượng đau yếu lại không có bên an ủi.
Ai cũng sẽ hao hụt người thân. Hiểu đúng về phía bên kia cõi chết, chúng ta sẽ bớt đau khổ. Chính sự khóc lóc thương xót người sắp về nơi vĩnh hằng là mang tội bởi họ sẽ luyến níu không bước nổi về vùng sáng mà chui vào màn tối hoặc bị ngạ quỷ, bị âm binh sai khiến hoặc đơn giản ở lại “sống” bên mồ mả của chính họ. Đa phần những linh hồn (còn ngoài mộ) là những “người” đánh mất nhiều cơ hội giải thoát trước hết trong 49 ngày. Các nhà ngoại cảm từng trò chuyện với nhiều trường hợp chết đã mấy trăm năm. Không dứt được cái tình, họ ở lại quanh quẩn bên người thân, chẳng ngờ trượt đà chứng kiến cảnh con cháu chít chắt nối nhau về trời, mình vẫn còn đứng đó. Chuẩn bị cái chết đúng nghĩa, là sống đời thanh đạm không tham ái, không để tám ngọn gió thế gian (lợi dưỡng - không lợi dưỡng, danh vọng - không danh vọng, vui - buồn, khen - chê) cuốn theo dòng uế nhiễm xã hội; là bào mòn tham sân si mạn, thanh lọc thân tâm, phá chấp bản ngã. Chuẩn bị cho cái chết, chúng ta sẽ không còn sợ hãi cái chết nữa. “Nếu bạn thương yêu những cái cây, mặt trời hoàng hôn, những con chim, chiếc lá rơi; nếu bạn nhận biết được những người đàn ông và phụ nữ đang rơi nước mắt, những người nghèo khổ, và thực sự cảm thấy tình yêu trong quả tim của bạn, liệu bạn sẽ sợ hãi chết? (Cuộc đời trước mặt - Krishnamurti). Dải ngân hà có hàng trăm tỉ vì sao. Trái đất thậm chí còn nhỏ hơn cả chấm sáng dày đặc trên bầu trời? Con người trên trái đất, bé xíu biết bao! Khoa học đã tìm ra sự sống trên sao hỏa. Điều đó cho ta mường tượng về cuộc sống của lớp người nào đó từng tồn tại cho tới lúc sao hỏa khô kiệt bởi văn minh công nghiệp, họ đã di trú tới một hành tinh khác (như trái đất chẳng hạn). Sau bao nhiêu thời gian, (vùng đất hoang hóa) sao hỏa hồi sinh, trong lúc trái đất đang già cỗi... Cuộc sống trần ai chỉ là lát cắt đồng đại trong thăm thẳm chiều thời gian vũ trụ. Nếu ta chỉ tính “cái chớp mắt” này mà không muốn hiểu con người còn phải trằn qua hàng tỉ kiếp trước và hàng trăm nghìn kiếp kế tiếp nếu không hành Đạo, sẽ thấy rất nhiều bất công oan trái. Chưa thể nhìn xa, cũng nên sáng suốt nghĩ về sự chết; xem đây như một môn học rất bình đẳng với các loại kiến thức khác chúng ta đã học. Giác, là việc giữ tâm thanh tịnh trước mọi cảnh trần. Nương vào "A Di Đà Phật" như ta đi trong đêm tối nương vào ngọn đuốc sáng. Nhuần nhuyễn rồi Phật hiệu thành máu huyết căn mạng, thành kim chỉ nam dắt ta thoát khỏi rừng người chằng chịt nhân duyên đổ bóng về miền cực lạc.
Phần III
THƯ GỬI BẠN
Nơi hoang vu phận người
Thuyền trôi trên sa mạc
Ngó trời phiếm luận khôn cùng.
NƠI HOANG VU PHẬN NGƯỜI
Mình không biết bắt đầu cuộc chuyện với bạn từ đâu lại không phảng phất hình bóng của K. K - tên nhân vật bạn đặt cho vợ trong một truyện ngắn gần đây, người con gái tưởng đã chết lặng từ lâu trong ký ức mình. Nhưng mình nhầm. Hẳn bạn sẽ rất giận bởi mình từng nghĩ, bạn không bảo đảm cho K một cuộc sống tốt. Và để trả đũa cho sự hiểu nhầm đáng tiếc về mình và K, cộng với sự kiêu mạn của một người sung mãn tiền tài, bạn đã buộc K rời công sở. Cho đến một sớm, vẫn góc quán cà phê ấy, mình thấy chiếc ô tô mới toanh đậu trước nhà bạn, K bước xuống với một con người khác hẳn những gì mình lưu giữ; lối sống vương giả khiến tâm hồn trong trắng kia gợn đục, mình thoáng nghĩ đã mất K rồi. Và tin K bị ung thư lượn lờ trên mạng, càng khiến mình tin bạn chẳng những không đưa lại cho K những gì tốt đẹp nhất mà đang buông K trôi vào cõi khác.
Mình đã đọc hết những cuốn sách của bạn. Đó thực sự là một cố gắng, có lẽ cốt nhặt nhạnh thông tin về K trong không gian sống bạn dựng lên thành tác phẩm. K gần như bị nhốt giữa một đời sống thượng lưu không nhận ra những đám mây gợn đục trong đôi mắt trong veo mây trời. Nhớ lần mình bắt con ve sầu, K không nhận và bảo: “Tha cho nó đi anh”. Mình đã nhìn rất sâu vào đôi mắt ấy, mê dụ đến bàng hoàng. Mình đọc được ẩn ngữ từ trái tim của K và dường như muốn quỵ xuống bởi hình ảnh thoáng qua: trong một ngôi nhà cao sang K đứng trên sân thượng u sầu nhìn về hun hút đồng quê xanh mát này. Lại nhớ mấy năm trước mình tặng bạn cuốn Hiểu về trái tim, cuốn sách được những học giả tiếng tăm ấn chứng, đạt kỷ lục về lượng phát hành ở Việt Nam 100 ngàn bản trong năm đầu tiên; tưởng đến cảnh bạn đọc bài đầu sách “Đau khổ” liền mừng vui đưa K xem để băng qua số phận ngặt nghèo. Rồi hơn năm sau mình chuyển đến bạn đường link file diễn đọc cuốn sách này, nhưng bạn đã làm lơ. Bởi bạn nghĩ cái hiểu của bản thân vượt lên những thứ đó rồi. Bạn nghĩ tác phẩm của bạn in ra sẽ vượt con số 100 ngàn bản trong năm phát hành đầu tiên, và bạn nghĩ mình sẽ háo hức ra mua cuốn sách mới ra lò ấy về lăn lê đọc rồi trang trọng đặt lên giá như một vật thờ? Thú thực mấy năm nay mình không sờ tới một tác phẩm văn học, dẫu nó thuộc về giải Nobel. Mình đã có một kênh khác để “sạc pin”. Hồi xưa mình nghĩ đọc nhiều ông lớn mới viết tốt, bây giờ khác. Bạn biết chăng, đôi khi ngồi xuống tịch mặc thanh lọc nội tâm cũng là nguồn năng lượng hơn cả ngàn trang sách. Nói vậy không hẳn mình ngưng việc đọc. Cái sự đọc của mình giờ cũng lạ. Dạo K tặng cuốn Chuông nguyện hồn ai, mình mang về chưa kịp đọc thì vướng việc gia đình. Lần gặp sau K hỏi đọc chưa? Như một phản ứng tức thời mình bảo, rồi. Bạn biết không, mình mới chỉ đọc cái tên sách. Chuông nguyện hồn ai, mấy chữ đó thôi, như mình đọc được cả thế giới nội tâm Hemingway, mình đọc được tầm vóc của Hemingway trên căn nền của thứ triết học nhuần nhị. Bạn tôn sùng Henry Miller nhưng bạn chỉ hiểu một phần nhỏ trong sự nghiệp của nhà văn này mà ở đấy sự tung hô đã khiến ông ta thấy cần cúi mặt (trước những chân lý siêu nhiên đang rọi vào góc khuất cuộc đời ông). Đứng ngoài miền tâm linh, bạn lại lấy Phạm Công Thiện làm thần tượng và đắm vào mấy cuốn triết gia viết thời nông nổi, và dĩ nhiên bạn bỏ qua những tác phẩm tinh túy sau này cùng rất nhiều bài thuyết giảng Phật pháp của ông trên hành trình giải thoát (tri kiến) mà ở đấy quá khứ về một Ý thức hệ chết hẳn.
Đôi lúc mình nghĩ bạn đã hiểu chính bạn chưa? Bạn đã hiểu K? Cảm nghĩ những gì mình đọc trong tác phẩm của bạn là một con người đeo mặt nạ thu lu trong góc tối trước màn hình vi tính lường gạt ngay từ những con chữ vô tội. Bạn có biết K buồn tủi lắm trước vô số mặt nạ bạn thay đổi thường xuyên trong cuộc nhập lưu vào một xã hội lắm sự đãi bôi phờ phỉnh. Bạn hiểu gì về cỗ máy cơ thể bạn, chưa nói đến tâm hồn K và con bạn nữa. Bạn luận thế sự nhiều trong lúc chưa biết cội gốc nguyên nhân. Đã bao giờ bạn ngẫm câu hỏi rất cũ: Tại sao đời sống vật chất càng nâng cao bệnh tật càng bùng phát và nhiều thêm những bệnh nan y? Có biết vì sao bệnh viện mọc lên ngày một nhiều (?), bạn lại tung hê thái quá sự tụt hậu đó trong tiến trình phát triển của loài người. Có thể bạn đã trang bị cho mình nền tảng thông qua giá sách triết học, nhưng mình nghĩ chắc bạn còn lờ mờ về triết lý nhân sinh. Con người được cấu thành bởi hai phần vật chất và tinh thần; mới chiếu theo khoa học lượng tử thôi, đã thấy phần tinh thần chiếm quá nửa, còn hiểu theo khoa học huyền bí đôi khi phần tinh thần chiếm trọn, thế nên rất nhiều hành giả Phật giáo tiêu bệnh nan y mà không dùng đến thuốc. Mình lại tự hỏi: Với trách nhiệm của một người cầm bút trước vấn nạn xã hội, Bạn hiểu gì về Ung Thư? Căn bệnh bị hiểu lệch là án chung đang từng ngày bóp nghẹt tuổi xuân của K? Bạn xoãi tay truyền thông tin rồi đây người dân sẽ đại trà được máy siêu phát hiện ung thư rà soát. Bởi bạn chưa thực hiểu về ung thư, và một khi không chữa gốc mà chữa ngọn sẽ sinh ra vô vàn cành lá. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy hầu hết mỗi người trong đời đều từng xuất hiện tế bào ung thư, nhưng nó phát triển hay không trọng yếu phụ thuộc vào ăn uống. Hôm nay bạn không có tế bào ung thư, ngày mai phát hiện có là sự thường, và những tế bào không được mã hóa này sẽ không dễ phát thành u nếu bạn ăn thuần chay kết hợp thực hành tâm linh hay ít nhất bỏ ra ngoài sự ấu trĩ về đạm từ thịt, trứng và đường sữa. Chỉ những người nội lực thâm hậu mới không hề lo lắng lúc mắc bệnh nan y. Tế bào ung thư có trong K là điều bình thường; bởi không hiểu nó bình thường, nhầm với một khối ung, rồi âu sầu như đang chạm vào cái chết. Chính sự lo ấy là nhiên liệu để tế bào xấu phát triển thành u theo quy luật cảm xúc “tâm sở hiện” đã được minh tường trong những báo cáo khoa học.
Mình đang nghĩ đến K, như với những bệnh nhân khác từng ngày nuôi lớn tế bào ung thư bằng nguồn thức ăn bẩn. Bạn đừng đổ lỗi cho môi trường như trong tùy bút đăng báo vừa qua. Bạn có biết loại thức ăn nào là bẩn, chứa mầm bệnh nan y và loại thức ăn nào sạch chẳng những thanh tẩy thể xác đến sự phát tuệ? Thức ăn vốn quyết định vận mạng con người. Thức ăn thuần khiết xét ở hai mặt vật chất và đạo đức trong mối tương quan sinh tồn của muôn loài sẽ khiến Trí sáng. Các nhà dinh dưỡng Âu Mỹ cũng thích đeo kính màu, chưa thấy rõ con người ăn sai thực phẩm xét trên nguyên lý cơ thể học, nên những gì thêm bớt về sau càng khiến cho vấn đề thêm lệch lạc. Bạn tin họ, tin đám đông và tin quảng cáo. Mình cũng từng bị các nhà sản xuất nhuộm não từ lúc biết xem truyền hình. Ngay đây mình muốn bỏ trang viết lao tới đưa K khỏi ngôi nhà cao sang ấy. Hãy nghĩ về tương lai những đứa con của bạn (?) với ai phôn ai pát nối mạng. Bạn có biết sự nhiễm độc tâm hồn từ thông tin xấu và sóng sẽ khiến chúng dễ mắc bệnh hiểm. Nếu miệng bạn chọn lựa thức ăn tốt thì mắt tai cũng có quyền như vậy; còn hơn thế bởi tinh thần chiếm phần lớn tạo nên một chỉnh thể người và chiếm phần lớn sự gây ra bệnh. Nguồn dữ liệu bẩn nhập qua tai mắt sẽ tạo nên Trường Sóng làm nhiễm ô trầm trọng bầu trời; và chiếu theo nghiệp ý, nó góp phần tạo nên những thiên tai mà trước hết dội về ngay chính người gieo rắc. Nhớ năm ngoái mình chuyển đến bạn những thông tin như là niềm ân huệ dành cho bệnh nan y; bởi mình luôn nghĩ về K đang tuyệt vọng, với khôn nguôi hy vọng K tiếp xúc với những khám phá về cách chữa những căn bệnh xuyên thế kỷ nhờ nguồn thực phẩm xanh. Như ông tổ của ngành Y học phương Tây Hipprocrates (một người ăn trường chay) từng nêu chân lý: “Thức ăn là thuốc”. Rồi hôm kia mình gửi link bộ phim khoa học NĨA thay vì DAO, nhưng bạn phẩy đi. Bạn vẫn tiếp tục nạp thêm hóa chất vào thân hình mong manh của K, vẫn cho K uống sữa và bồi bổ bằng thức ăn đắt tiền. Mấy năm trước, bệnh viện danh tiếng Johns Hopkins chuyên về bệnh ung thư đã công bố gây chấn động: thức ăn chính của ung thư là đường, sữa, thịt đỏ và thịt động vật nói chung. Văn bản này may thay có sẵn trên google để ai cũng dễ tiếp cận, còn K thì không! Giá K có vài ngày nghiên cứu Thực Dưỡng thôi, sẽ tự chữa ung thư; K dùng số tiền dư hành thiện, làm một ân huệ trong đời? Phước đối với mạng người như ngọn đèn cần dầu. K dốc sức hành thiện và tiếp cận tâm linh, tiếp cận thực dưỡng lẽ nào không cảm động thần minh. Hàng ngày bạn đang cố thúc lớn con ung thư trong người K. Bạn đánh tế bào ung thư nhưng cung cấp tuyệt đối thức ăn cho chúng, ngược lại còn tự làm suy kiệt K bằng hóa chất; trong lúc khoa học hiện đại tha thiết kêu gọi phải “bỏ đói tế bào ung thư”.
Còn dùng đường, sữa và thịt động vật, việc chữa lành ung thư là khá ảo tưởng. Đường - hiểm họa của nhân loại, hàng trăm năm trước ngành Thực Dưỡng cảnh báo, và hàng nghìn triệu năm trước tổ tiên chúng ta ít bệnh nhờ không có đường. Còn sữa? Ngay đến một loại sữa hàng đầu được WTO chứng nhận, được các bác sĩ khuyên bệnh nhân uống, cũng là sự tổng hợp của nhiều loại hóa chất độc hại và dĩ nhiên cũng như nhiều loại nước ngọt khác, luôn có chất gây nghiện để thu nhiều lợi nhuận một cách thông minh. Bạn có muốn biết về những con bò luôn bị tiêm thuốc thụ tinh nhân tạo (để tiết sữa) và nhiều loại thuốc độc hại nhằm bảo đảm bầu sữa bự; bê con sinh ra chưa hề nhận giọt sữa nào đã bị vứt vào lò mổ, còn mẹ nó phải đứng suốt ngày cung cấp sữa cho K và con bạn uống? Hãy tưởng đến K thay vì đủ sữa cho con bú, nay bầu sữa phình gấp chục lần, thì đó chẳng phải là một loại nước quái đản? Một ngày mấy chục lít từ bò mẹ, là một dạng nước nhờn nhợt trộn máu mủ cùng độ dư của tân dược và với độc tố được tiết ra từ chính sự điên của con bò luôn phải đứng và bị hành hạ, sau nốt là quá trình khử trùng (bằng hóa chất), và cũng chỉ hóa chất để khỏa lấp các dinh dưỡng tự nhiên của sữa, rồi bịp bạn bằng sự nhảy múa vui tươi của đàn bò sạch sẽ trên những thảo nguyên xanh mướt. Cơ thể người là một bộ máy điều hòa hoàn hảo, một khi đưa sữa hoặc đường (hoặc thịt) vào, nó phải huy động kháng thể điều hòa, với sữa thì tiết can xi trong xương ra gây loãng xương. Những quốc gia dùng đường sữa đứng đầu thế giới người dân luôn mắc bệnh loãng xương nhiều nhất và kéo theo nhiều bệnh cấp thời; các nước dùng sữa xếp sau danh sách bệnh luôn tỉ lệ thuận - là những kết quả khoa học không chối cãi, nhưng bạn vẫn không chịu nhìn nhận giúp K vượt bể khổ.
Bạn nghĩ người ta tinh luyện mười củ sâm thành một viên thuốc, thì viên thuốc ấy tốt hơn củ sâm? Con người bạn vắng bặt xúc cảm? Gạo lứt tốt nên các nhà dinh dưỡng sẽ tinh chất để chữa lành ung thư như hàng ngàn người đã kiên nhẫn ngồi nhai gạo lứt với muối mè để hạ một lúc rất nhiều bệnh? Bạn chưa hiểu nguyên lý của cơ thể trong sự tương tác với thiên nhiên, với ánh nắng với không khí và thậm chí với hư không huyền diệu nữa. Bạn thử cho K ăn theo một chế độ tiến bộ nhất của phương Tây, rồi nhốt K trong căn phòng không ánh sáng không mặt trời trăng sao, chuyện gì sẽ xảy ra? Tại sao cũng một miếng gạo lứt với muối mè nếu K không nhai ra nước mới nuốt thì chẳng có hiệu quả chữa bệnh ngoài sự bổ dưỡng? Bạn có thể không theo Thực Dưỡng để chữa bệnh, rằng Khó, như bao người khác, điều này dễ hiểu và rất bình thường, nhưng bạn không thể tự rào đường đến Chân Lý. Hay bạn sợ Chân Lý sẽ đánh sập sự Sai Lầm bạn sở hữu như một thứ trang sức thượng lưu?!
Mình luôn thán phục Tây y, mình luôn cúi đầu tri ân mọi bác sĩ, y tá và điều dưỡng bởi mình không tuyệt đường đến bệnh viện; người thân của mình và rất nhiều người cần bệnh viện và đã được bệnh viện cứu. Nhưng với K, bệnh viện hứa sống bao lâu? Trong lúc bạn có tính hết số người lành bệnh nan y đơn giản nhờ ăn uống? Mình đang đưa đến K những nghiên cứu thuyết phục nhất của Y học hiện đại; thật ngạc nhiên, nó tương hợp kỳ lạ với ngành Thực Dưỡng của tổ tiên chúng ta, vậy thôi. Cuộc đời không hề có ngõ cụt, và đó chính là nguyên nhân thôi thúc mình đưa phương pháp này đến với K để dựng dậy sức sống. Nhưng bạn xem những thứ mình giới thiệu là cổ hủ, là phương pháp lang băm không chút minh triết. Một thí nghiệm khoa học của BBC cho thấy, tâm thức xử lý và hoàn thành một quyết định rồi phát lên não bộ con người trước 6 giây, nghĩa là qua máy thí nghiệm người ta biết bạn sẽ nhấn cái nút màu xanh hay đỏ trước 6 giây; quá rõ Tâm mới là nguồn phát lên não rồi não sai khiến thân thực thi. Để muốn nói, lá thư này gửi tới bạn không phải của mình; đây chỉ là việc Tâm xử lý nguồn dữ liệu tiến bộ theo một sự thôi thúc của nghiệp dĩ. Nhưng mình vẫn ký tên phía dưới, không dám cầu lời khen mà để chịu trách nhiệm nếu lỡ bị ném đá thôi. Bạn chưa hiểu về Sóng Tâm nên thản nhiên truyền rộng rãi K mắc ung thư. Các nhà lượng tử giải thích, nếu Tâm không đủ Lực, thêm một người phát ý niệm “K hết chữa rồi, K tận số rồi”, là K như tấm bia chịu thêm một ý niệm xấu như mũi tên xuyên vào tâm thể, thêm một mối lo. Nỗi lo dễ dàng hạ gục người khỏe mạnh chỉ sau một đêm. Lại hỏi bạn Ung Thư sợ gì? Bằng chứng khoa học hiển nhiên: Nó sợ nhất chữ Ái. Là yêu thương, hòa ái, không hờn giận, không ích kỷ tự lợi và luôn hướng về tha nhân phụng sự; Ái là lòng từ tràn ra muôn loài. Với chữ Ái này thôi đã đủ khiến những tế bào xấu nhất dần dà chuyển hóa trở lại thành tế bào tốt. Mình đọc được chữ Ái trong K ngày ấy khi K bảo mình tha cho con ve tội nghiệp. Mình đọc được chữ Ái trong K vào một chiều ở cửa Tư Hiền K chắp tay cảm ơn hoàng hôn đang dần xuống và mặt biển chói lòa sắc đỏ... Mình bỗng nhớ Thông điệp từ Nước. Rằng nước hiểu ý nghĩ mọi người, hiểu mọi ngôn ngữ và chữ Ái luôn cho ra kết tinh đẹp nhất như một bông tuyết lóng lánh. Ngành vật lý tiên phong hướng ánh nhìn ra vũ trụ khẳng định mỗi cá nhân đều đang nối mạng với vũ trụ bằng sóng tâm, sóng tư tưởng. Thế giới này sẽ không thể trở lại được thời Phục Hưng khổng lồ với những nghệ sĩ khổng lồ. Bởi thời đại ấy, sao nhỉ: không có tivi và internet. Tia sáng (laser) có thể xuyên sắt thép (?), bởi nó hội tụ. Tâm bạn muốn hướng về mục đích viết một tiểu thuyết đỉnh, thì bạn phải học nhà văn Marcel Proust tuyệt dứt với thế giới bên ngoài để tìm lại những thời gian đã mất. Bây giờ với dụng cụ nối mạng trên tay bạn chuyển kênh liên tục như một cái tủ đông mươi phút lại bị ngắt điện khiến đá không thể đông. Năng lượng tâm loãng với đủ nguồn tin khiến tác phẩm luôn thiếu chiều sâu và vắng hoàn toàn chân lý tối thượng. Những thứ bạn viết dẫu văn nuột nà rốt cục cũng bị cơn lốc của thông tin cuốn phăng. Thử hỏi, sao kinh điển Phật giáo sau gần ba ngàn năm vẫn lấp lánh và càng chói sáng khi khoa học soi chiếu. Các nhà lượng tử tính từ Albert Einstein và Niels Bhor cho đến nay với những phát hiện đột phá về thời không đều “cũ”, bởi Đức Phật đã thuyết từ xa xưa rồi. Sóng hấp dẫn cách trái đất hàng tỉ năm ánh sáng nhưng ai đã tin Sóng Tâm phủ trùm vũ trụ ngay trong một phần tỉ giây. Sự liên mạng tư tưởng này khiến mình hễ phát xuất ý niệm xấu là góp phần nhiễm ô từ trường trái đất, chưa bàn đến chuyện hàng giờ ai đó đưa lên Facebook toàn những thứ khiến người người sân giận, tị hiềm và bế tắc trong sự thỏa thuê Bản Ngã. Xét ở mức độ nghiêm xác nhất của lượng tử lực học đối với sự tồn vong của địa cầu, mình nghiện game, nghiện lướt web mức nguy hại còn hơn cả nghiện ma túy. Một cơn giận nhẹ, đã khiến cơ thể tiết ra lượng độc tố phải mất từ 8 tiếng đến 3 ngày mới tiêu hết. Nhờ đâu? Là cơ thể rút nguồn năng lượng quý báu ra để điều hòa. Bạn đã biết chuyện một người vợ cho con bú lúc sân nộ với chồng, để rồi đứa con ấy chết. Do cơn giận tiết độc và đứa con uống độc trong dòng sữa mẹ. Oan không? Những con vật bị giết, hận thù dâng lên đôi mắt rần máu, nghĩa là độc tố tăng muôn lần so với cơn giận khiến đứa trẻ trên phải chết. Con người cũng là động vật; loài động vật thông minh nhất hành tinh. Thực tế chưa hẳn. Bạn cũng biết mình vẫn thường ăn xác chết động vật. Rồi một ngày mình tự hỏi, nếu thông minh, thay vì xây bệnh viện cho bản thân, trước hết mình phải vận động xây bệnh viện cho loài vật. Những con vật phải được ăn sạch uống sạch, phải được khám thường xuyên để xem có bị tiểu đường, tim mạch, có bị nhiễm dịch và đặc biệt có ung thư hay không rồi mình và bạn và K dùng thịt chúng. Ngay cả khi con vật được săn sóc để cho ra loại thịt sạch (như cách các đại gia tự sản xuất rau sạch), thì nguồn thức ăn từ động vật nói chung theo những thống kê công phu kéo từ lịch sử thế chiến đến thời nay đều kết luận chứa mầm bệnh quá nguy hiểm, bởi nó tạo nên môi trường a xít trong cơ thể cho tế bào “ác” sinh sôi. Hơn 80 năm trước nhà bác học Otto Heinrich Warburg đã dày công nghiên cứu về ung thư và nhận giải Nobel Y học khi đưa ra nguyên lý: “Ung thư không thể sống nổi trong môi trường kiềm và giàu ô xi nhưng lại thăng hoa và phát triển như nấm trong môi trường a xít và ít ô xi”.
Bạn còn hạnh phúc khi những đứa con xa dần vòng tay của mẹ? Bạn còn hạnh phúc khi hình dáng của K với cái đầu trọc vì hóa chất và khuôn mặt xanh xao? Bạn vẫn nghĩ nguồn vật chất ùa về để có một cuộc sống cao sang nhưng duyên nghĩa vợ chồng đang mong manh, là hạnh phúc? Bạn từng nghĩ K ngồi trong bữa tiệc đủ món sẽ hạnh phúc hơn người ăn rau luộc chấm tương? Bạn đang biến K thành một con ve sầu, khản kêu vô vọng!
Hẳn bạn sẽ đờ ra khi biết ở Mỹ nhiều giai đoạn mức lợi nhuận từ vũ khí không nhằm nhò so với Thuốc Tây. Nhà văn minh lớn Hoa Kỳ, người dân tin tưởng số một Viện Dinh dưỡng, nhưng họ không ngờ phía sau những cơ quan đáng kính ấy là các tập đoàn lợi nhuận phủ bóng lên quá nửa địa cầu; để rồi hầu hết người dân bị thừa cân, và từ đó mang đủ thứ bệnh hiểm như ung thư, tim mạch, huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, loãng xương. Trẻ em châu Phi thiếu đói đến chết, là một nỗi đau lớn; còn xu hướng những nước được cho văn minh đang phát bệnh bởi thừa mứa cá thịt trong mọi bữa ăn - ấy là tội lỗi. Chớ phũ phàng với chân lý, với chính mình và nhất là với căn bệnh của K. Việc lựa chọn thức ăn chính là đẳng cấp sống của con người. Thức ăn thuần khiết từ thảo mộc sẽ dựng lập hòa bình thế giới. Điều này không phải mình nói mà từ thiện khẩu những bậc thức giả lỗi lạc nhất hành tinh. Bạn sẽ không thể so sánh nổi niềm hạnh phúc của một người chay tịnh hân hoan thức dậy lúc mờ sương với một người ăn uống nặng nề lúc nào cũng uể oải sau giấc ngủ chìm trong mê loạn và bất an bởi cái bóng nghiệp thức luôn ẩn sau gáy.
Bạn có biết trong quá khứ K bao dung mạnh mẽ nhường nào không? Còn nay K đang héo dần với sự bất lực của những người xem thường y lý tồn tại trăm nghìn năm vững chãi. Mình từng đọc được trong mắt K sự nhiệm màu, nhưng nó đang mờ dần bởi lòng ghen tị và ganh tị của bạn, bởi sự tôn sùng nền văn minh kỹ trị lại quá xem thường sức mạnh tinh thần vi diệu ở mỗi người. Chuông đang nguyện hồn bạn đấy. Bạn sẽ nghĩ mình bỗng dưng đến quậy, cái thằng này đang đứng ra gây hấn với bạn? Ừ, tùy thôi. Nhưng bạn nên nhớ, không bàn đến K, chỉ riêng bạn thôi mãi là một hình bóng linh thiêng trong cõi mình, dẫu cho một ngày K nhận ra khuôn mặt thật của bạn và khước từ chung sống với bạn để trở về miền xa xăm chăng nữa.
THUYỀN TRÔI TRÊN SA MẠC
Bạn ơi…
Người nào lại viết một bức thư tay thời @ nhỉ? Lật xem tên ai ở trang cuối; không có đâu. Bạn hãy bình tâm ngồi xuống buông vọng tưởng, hãy vùi bức thư này lại cho đến lúc bạn thảnh thơi hẵng đọc. Rất nhiều lần mình muốn tâm sự với bạn, chỉ đơn giản ngồi vào bàn phím gõ chữ rồi thêm cái nhấn chuột… Viết rồi lại xóa. Nói chuyện với bạn rất dễ, ngặt nỗi mình chẳng biết bắt đầu từ đâu. Sáng nay ngồi vào bàn chép kinh, mình thảo luôn bức thư này.
Mình đã tu. Bạn ạ. Bất ngờ lắm? Giật mình phải không. Tu rồi mới hiểu. Lâu nay chấp thủ dựng lô cốt tự nhốt mình lại. Học Phật nghe pháp rồi bỗng sinh “nghi”. Đời người trăm tuổi là bao so với hàng tỉ năm tồn tại của trái đất; còn dõi thêm ra các dải ngân hà chẳng khác ta nhìn vòng đời của một chú kiến. Bạn hãy đặt con kiến lên quả địa cầu nhựa rồi thử quay một vòng xem. Con kiến nhỏ đến mức nó không cảm nhận được sự quay của trái đất ấy kia mà. Sao chúng ta nhỏ bé đến tội nghiệp, lại có bản ngã lớn vậy nhỉ. Không ai nhanh hơn ai tính tại thời điểm nhắm bờ giác ngộ lướt biển vô minh.
Niệm gì khởi lên trong tâm bạn lúc này? Có phải bạn nghĩ mình chưa già đã lẩm cẩm. Sống mới một phần ba cuộc đời đã lo tu. Mình biết, bạn sẽ không xua đuổi mình đâu, nhưng bạn sẽ… tránh. Bạn nghĩ nếu gặp mình nhẽ ra hàn huyên chuyện cũ, dự phóng tương lai lại bàn về nghiệp thức nhân quả… nghe rất chối phải không. Giống như ngày xưa cha mẹ hay nhắc nhở đủ thứ. Đến như ăn xong liền nằm xuống mẹ đã “ngồi dậy kẻo đau dạ dày đó”. Mình thề mẹ không hề biết đến thứ kiến thức đó, mẹ chỉ linh cảm và răn con cái. Bây giờ mình bỗng nhớ những thuận ngôn nghịch nhĩ. Phật cũng dạy trong kinh Cú pháp: “Được sinh làm người là khó, được sống trọn đời còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó”. Khó ở đây cũng là khó nghe bạn ạ. “Tín huệ văn pháp nan trung nan”. Nói vậy nghĩa là đang tự nhắc nhở. Đến mình chưa dạy được mình mà. Nếu mình dạy được mình, mình nghe theo mình, hàng phục mình không thuận với xan tham, thì mình đã an lạc trước mọi nghịch cảnh! Chưa chiến thắng thuần hóa được tâm nên mình chưa thể dứt dục lạc. Bạn cảm thấy “ngán” chứ gì. Chưa bao giờ bạn đọc một bức thư kiểu như thế này mà. Ừ. Mình… khác rồi. Nhưng đừng bỏ mình bạn nhé. Mình luôn nhớ đến bạn, kiểu như trước đây mình từng gây lỗi với bạn; mình muốn sám hối, xin bạn hãy đừng xa lánh. Mình đang “luyện” trở thành một người vô hại với mọi loài. Tâm bạn dịu hơn rồi thì phải. Bạn đã xích lại bên mình thêm một tí, song nom mặt còn khó chịu. “Mà tu để làm gì”. Cứ cho là có kiếp sau. Thì đã sao. Ừ, chẳng sao cả. Chỉ là mình không muốn chết phải đầu thai làm động vật bậc thấp thôi. Có tham lam gì cho cam. Mình đọc kinh, nghe Phật hứa nếu xả bỏ uế trược, chú tâm niệm Phật sẽ được tiếp dẫn lên cõi Tịnh độ; ở đó có thể “mặc áo giáp” trở lại trần gian trợ duyên cho thân nhân… Không đùa đâu bạn. Nhiều khoa học gia hàng đầu thừa nhận: Những khám phá vĩ đại của chúng ta chỉ minh định kinh điển Phật giáo. Mà kinh không chép sai câu nào. Ai vào tu tức có ngộ. Sự ngộ đó tự khắc kiểm định đúng sai lời Phật. Nếu bạn gom hết bể học nhân loại, bạn vẫn thiếu một môn là Phật pháp. Đạo Phật không phải chứa hết thảy tri thức khác song nếu bạn chỉ học và hành theo Phật pháp mà chưa cần học thêm bất cứ điều gì, vẫn đủ. Cho đến nay Kinh Dịch là món chưa một nhóm học giả nào chinh phục được. Có bậc chứng thánh phát biểu Kinh Dịch do tiền thân của một Hòa thượng bên Trung Hoa viết ra. Thế nên giả như có ai phá được hết các quẻ Dịch thì vẫn… bế tắc, vẫn không giải được bản thể. Vẫn là một sinh mệnh ngơ ngác giữa trần gian chẳng rõ sẽ về đâu.
Bạn biết không, đêm qua mình mơ thấy đang chen lấn giữa đám đông, nghẹt thở. Rất nhiều người từ già đến trẻ nhỏ trong thành phố đều tập trung tại sân vận động nghe “lời phán xử”. Trên cao. Trong sự tĩnh lặng hiếm hoi, Ngài nhẹ nhàng nói, “Con người sinh ra từ bào thai, nhưng kẻ ác thì đọa vào địa ngục”. Bạn ạ, trong số phàm nhân chúng ta, nếu chiểu theo nhân quả, may ra chỉ có mấy người (chết đi) sẽ được về cõi Tịnh độ trang nghiêm. 3% trong số người còn lại lên được cõi Trời. 60% trong số người còn lại đầu thai vào ác đạo. 50% trong số người còn lại tiếp tục được nhận thân người. Số còn lại xuống địa ngục. Cõi nhân gian khó cưỡng phù hoa giả tạm, khó cưỡng danh sắc huống hồ lên cõi trời nữ nhân đẹp vạn lần… nên mê mờ hưởng hết phước chắc chắn thẳng xuống tầng thấp lãnh nghiệp báo. Bạn có biết so với chục năm trước, trước nữa, bây giờ mực nước biển dâng lên bao nhiêu không? Ấy là do hiệu ứng nhà kính, tầng ô dôn bị chọc thủng, nên lửa mặt trời rọi trực tiếp khiến băng tan, địa cầu nóng lên. Đạo đức nhân loại ngày nay cũng dần tan chảy giống băng vậy đó. Hiệu ứng nhà kính biểu hiện cho tiện nghi vật chất, tầng ô dôn biểu thị cho phước đức bị lòng tham tàn hoại. Bạn biết khi công an thẩm vấn một đứa trẻ giết người, nó trả lời sao? “Cháu thích rứa”. Chẳng cần theo dõi truyền hình báo chí bạn cũng hay chuyện người ta dùng cả thai nhi làm món lẩu, tẩm bổ cho sự si ám. Thú hoang trong rừng giết nhau theo bản năng của cái đói, nhiều người thì có thêm trí tính toán và thanh toán, quét sơn lên tội ác.
Ừ, mình đã tu bạn à. Tu đơn giản trước nhất là sửa từ thập ác thành thập thiện, chẳng biết đến bao giờ viên mãn. Bắt đầu là một bữa ăn chay. Từ đó đến giờ… (Mình xa nhau mấy năm rồi nhỉ?). Chắc nhờ ai đó trợ duyên, chứ mình biết tập ăn chay khó lắm. Nói điều này chắc tổn phước quá. Gia đình mình vẫn còn người ăn mặn, nhưng mừng là không còn mua đồ sống nữa. Những người chưa thể ăn chay đều cần tôn trọng… Mình đang tập hòa đồng ở mức có thể. Bạn biết không, có một ông sư ở chùa Từ Hiếu, mẹ đau nên sư ra chợ mua cá về nấu cháo; dọc đường nhận tiếng oan “sư mà cũng ăn cá à!”
Cùng là động vật cơ mà. Công nghệ chăn nuôi bây giờ, bạn thấy, các trang trại nuôi hàng triệu con mỗi lứa vẫn hết vèo. Chúng sống tự nhiên với chu trình sinh diệt, sẽ chẳng ảnh hưởng đến con người mà còn lợi nhiều lắm cho sinh thái môi trường… Nhân loại bước đến thời điểm này không thể quay lại được nữa bạn ơi. Có người dấm dẳn, nếu ai cũng ăn chay niệm Phật thì xã hội “chết tại chỗ” à? Vậy là nói bừa. Thêm một người vào tu, thêm một người thôi bắt con này giết con nọ, thôi hành hạ dã man động vật là chuyện hiếm rồi, lấy đâu ra chuyện “ai cũng…”. Mới vừa báo đưa tin một ngư dân bắt được con cá lạ: vây rắn, hình thù kỳ quái, lâu lâu lại khẹc khẹc như người. Bạn sẽ không tin ai đó do chẳng tin nhân quả, vung tay nên luân hồi thành hải sản. Hễ cứ nhắm mắt định tâm, mình lại nhớ trước đây từng róc vảy cá cắt cổ gà, từng bắn chim giết thú, từng chặt đầu lũ chàng hương ếch nhái… mà rùng mình toát lạnh mồ hôi. Thì chỉ biết hy vọng thôi, chỉ biết ngày ngày cúi đầu sám hối mong được an trú dưới ánh hào quang của Phật suốt phần đời còn lại.
Đạo Phật giải thích rất thỏa đáng: khi một người ngừng thở, phải cần từ 8 đến 12 tiếng tạm đủ để thần thức người có duyên lành rời hẳn thân xác. Người vừa ngừng thở như nồi nước sôi nhấc khỏi lửa, khoảng vài phút thì “lặng sóng”; lúc đó ai đụng vào liền đau đớn chẳng khác ta nhúng tay vào nồi nước nóng, (trong kinh ví như rùa sống lột mai). Người cố chấp cứng nhắc cho đạo Phật dành cho những ai tu, mình không tu cớ gì thực hành như trên. Truyền giảng giáo Pháp, Phật Thích Ca không phân biệt đẳng cấp thứ bậc, màu da, Ngài chỉ nói chân tướng nhân sinh vận hành tự nhiên trong vũ trụ. Cái chết cũng là sự chung, chẳng riêng ai.
Trong đám tang của dượng, có một người đến cùng vẫn muốn thấy linh hồn tròn méo thế nào mới tin. Tôi hỏi có phải tất cả kiến thức có trong đầu anh hầu hết do học. Anh gật. Vậy anh đã đọc về sự sống sau cái chết? đã đọc phía bên kia cõi sống? đã “xem” cảnh giới thân trung ấm? cụ thể hơn là thế giới người âm từ các nhà ngoại cảm. Anh lắc. Vậy sao lúc người ta đem ra trước mặt các loại sách quý đó do các vị tu chứng hóa thân, các vị từ cõi âm, từ cõi Phật trở lại viết ra, sao anh không ngó qua.
Vẫn biết không phải cứ thông minh uyên bác là thẩm thấu nhân quả luân hồi, bởi Phật pháp vào mỗi người bằng đường Tâm. Đạt Lai Lạt Ma 14 lần đầu thai hóa độ chúng sanh với đầy đủ minh chứng được cả thế giới thừa nhận. Ngài Karmapa Pagshi được chính các đệ tử tuyên nhận tái sinh của Karmapa Dusum Khyenpa, dựa trên chính những chỉ dẫn được để lại cho đệ tử bởi vị tiền nhiệm ấy”. Đại sư Gedun Drub thị thịch vào năm 1474 ở tuổi 84. Hai năm sau, người ta buộc phải tuyên nhận đứa trẻ Sangye Chophel ra đời vào năm 1476 tại Tanak ở vùng Tsang bởi những gì đứa trẻ đó nói ra không chút sai trật về cuộc đời trong quá khứ”. Tại Việt Nam: có dạo đứa bé khoảng mươi tuổi giảng pháp không thua một vị tu học suốt nửa đời người. Hay một trường hợp thật khác: người mẹ trên mình có hình xăm, con vừa lọt lòng cũng có hình xăm y chang; khoa học sao có thể giải thích. Đạo Phật thừa nhận việc người đã mất vẫn nhận được ý nguyện của người sống; điều này cũng áp dụng được giữa người sống với nhau nếu có nội lực tâm linh. Ai đó căm thù ta nhưng ta luôn luôn cảm thương, một lòng nguyện cho họ tốt hơn, lúc gặp tự dưng sự ghét và căm thù đó phần nhiều được hóa giải. Sóng tâm ấy không hạn định thời không. Dượng tôi may phước vừa được các cô niệm A Di Đà Phật suốt 8 tiếng, lại có con cháu nguyện sinh. Riêng tôi luôn luôn “nhắn nhủ” ông hãy buông mọi bám luyến chuyên niệm Phật; duyên quá sâu sẽ được tiếp dẫn, theo các Ngài chứ không theo bất cứ ai, kể cả người thân. Kinh Địa Tạng viết, lúc lâm chung oan gia trái chủ sẽ biến hiện làm quyến thuộc “rủ” họ vào ác đạo báo thù xưa. Nam mô A Di Đà Phật hướng về vùng sáng. Vừa qua núi, linh hồn trở thành... mê hồn - hoang mang, đức lại mỏng nên thường sợ hãi chạy qua vùng đen - dễ nghiệp sinh, lâm vào tam đồ. Cho dù không tu, con người hấp hối và suốt nhiều giờ các thức rời khỏi, A Di Đà Phật cứ dội vào tâm não; cầm duy nhất câu đó qua bên kia đã thật nhiều hy vọng sanh cõi lành. Người sắp chết với vô vàn ý nghĩ về con cháu, vợ chồng, bè bạn, của cải, danh vọng; ý nghĩ nào quá mạnh trong thời khắc tắt thở sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc tái sanh. Người sắp chết nhập tâm A Di Đà Phật, sác xuất tạp niệm len vào những giây cận tử càng ít, cơ hội Phật độ hoặc sanh vào thiện đạo càng lớn. Chẳng rõ dượng tôi đã tới đâu, song ít ra ông ít đau trong khoảng thời gian các thức chưa rời hẳn. Đó là niềm an ủi lớn khiến tôi đỡ ân hận khi dượng đau yếu lại không có bên an ủi.
Ai cũng sẽ hao hụt người thân. Hiểu đúng về phía bên kia cõi chết, chúng ta sẽ bớt đau khổ. Chính sự khóc lóc thương xót người sắp về nơi vĩnh hằng là mang tội bởi họ sẽ luyến níu không bước nổi về vùng sáng mà chui vào màn tối hoặc bị ngạ quỷ, bị âm binh sai khiến hoặc đơn giản ở lại “sống” bên mồ mả của chính họ. Đa phần những linh hồn (còn ngoài mộ) là những “người” đánh mất nhiều cơ hội giải thoát trước hết trong 49 ngày. Các nhà ngoại cảm từng trò chuyện với nhiều trường hợp chết đã mấy trăm năm. Không dứt được cái tình, họ ở lại quanh quẩn bên người thân, chẳng ngờ trượt đà chứng kiến cảnh con cháu chít chắt nối nhau về trời, mình vẫn còn đứng đó. Chuẩn bị cái chết đúng nghĩa, là sống đời thanh đạm không tham ái, không để tám ngọn gió thế gian (lợi dưỡng - không lợi dưỡng, danh vọng - không danh vọng, vui - buồn, khen - chê) cuốn theo dòng uế nhiễm xã hội; là bào mòn tham sân si mạn, thanh lọc thân tâm, phá chấp bản ngã. Chuẩn bị cho cái chết, chúng ta sẽ không còn sợ hãi cái chết nữa. “Nếu bạn thương yêu những cái cây, mặt trời hoàng hôn, những con chim, chiếc lá rơi; nếu bạn nhận biết được những người đàn ông và phụ nữ đang rơi nước mắt, những người nghèo khổ, và thực sự cảm thấy tình yêu trong quả tim của bạn, liệu bạn sẽ sợ hãi chết? (Cuộc đời trước mặt - Krishnamurti). Dải ngân hà có hàng trăm tỉ vì sao. Trái đất thậm chí còn nhỏ hơn cả chấm sáng dày đặc trên bầu trời? Con người trên trái đất, bé xíu biết bao! Khoa học đã tìm ra sự sống trên sao hỏa. Điều đó cho ta mường tượng về cuộc sống của lớp người nào đó từng tồn tại cho tới lúc sao hỏa khô kiệt bởi văn minh công nghiệp, họ đã di trú tới một hành tinh khác (như trái đất chẳng hạn). Sau bao nhiêu thời gian, (vùng đất hoang hóa) sao hỏa hồi sinh, trong lúc trái đất đang già cỗi... Cuộc sống trần ai chỉ là lát cắt đồng đại trong thăm thẳm chiều thời gian vũ trụ. Nếu ta chỉ tính “cái chớp mắt” này mà không muốn hiểu con người còn phải trằn qua hàng tỉ kiếp trước và hàng trăm nghìn kiếp kế tiếp nếu không hành Đạo, sẽ thấy rất nhiều bất công oan trái. Chưa thể nhìn xa, cũng nên sáng suốt nghĩ về sự chết; xem đây như một môn học rất bình đẳng với các loại kiến thức khác chúng ta đã học. Giác, là việc giữ tâm thanh tịnh trước mọi cảnh trần. Nương vào "A Di Đà Phật" như ta đi trong đêm tối nương vào ngọn đuốc sáng. Nhuần nhuyễn rồi Phật hiệu thành máu huyết căn mạng, thành kim chỉ nam dắt ta thoát khỏi rừng người chằng chịt nhân duyên đổ bóng về miền cực lạc.
Phần III
THƯ GỬI BẠN
Nơi hoang vu phận người
Thuyền trôi trên sa mạc
Ngó trời phiếm luận khôn cùng.
NƠI HOANG VU PHẬN NGƯỜI
Mình không biết bắt đầu cuộc chuyện với bạn từ đâu lại không phảng phất hình bóng của K. K - tên nhân vật bạn đặt cho vợ trong một truyện ngắn gần đây, người con gái tưởng đã chết lặng từ lâu trong ký ức mình. Nhưng mình nhầm. Hẳn bạn sẽ rất giận bởi mình từng nghĩ, bạn không bảo đảm cho K một cuộc sống tốt. Và để trả đũa cho sự hiểu nhầm đáng tiếc về mình và K, cộng với sự kiêu mạn của một người sung mãn tiền tài, bạn đã buộc K rời công sở. Cho đến một sớm, vẫn góc quán cà phê ấy, mình thấy chiếc ô tô mới toanh đậu trước nhà bạn, K bước xuống với một con người khác hẳn những gì mình lưu giữ; lối sống vương giả khiến tâm hồn trong trắng kia gợn đục, mình thoáng nghĩ đã mất K rồi. Và tin K bị ung thư lượn lờ trên mạng, càng khiến mình tin bạn chẳng những không đưa lại cho K những gì tốt đẹp nhất mà đang buông K trôi vào cõi khác.
Mình đã đọc hết những cuốn sách của bạn. Đó thực sự là một cố gắng, có lẽ cốt nhặt nhạnh thông tin về K trong không gian sống bạn dựng lên thành tác phẩm. K gần như bị nhốt giữa một đời sống thượng lưu không nhận ra những đám mây gợn đục trong đôi mắt trong veo mây trời. Nhớ lần mình bắt con ve sầu, K không nhận và bảo: “Tha cho nó đi anh”. Mình đã nhìn rất sâu vào đôi mắt ấy, mê dụ đến bàng hoàng. Mình đọc được ẩn ngữ từ trái tim của K và dường như muốn quỵ xuống bởi hình ảnh thoáng qua: trong một ngôi nhà cao sang K đứng trên sân thượng u sầu nhìn về hun hút đồng quê xanh mát này. Lại nhớ mấy năm trước mình tặng bạn cuốn Hiểu về trái tim, cuốn sách được những học giả tiếng tăm ấn chứng, đạt kỷ lục về lượng phát hành ở Việt Nam 100 ngàn bản trong năm đầu tiên; tưởng đến cảnh bạn đọc bài đầu sách “Đau khổ” liền mừng vui đưa K xem để băng qua số phận ngặt nghèo. Rồi hơn năm sau mình chuyển đến bạn đường link file diễn đọc cuốn sách này, nhưng bạn đã làm lơ. Bởi bạn nghĩ cái hiểu của bản thân vượt lên những thứ đó rồi. Bạn nghĩ tác phẩm của bạn in ra sẽ vượt con số 100 ngàn bản trong năm phát hành đầu tiên, và bạn nghĩ mình sẽ háo hức ra mua cuốn sách mới ra lò ấy về lăn lê đọc rồi trang trọng đặt lên giá như một vật thờ? Thú thực mấy năm nay mình không sờ tới một tác phẩm văn học, dẫu nó thuộc về giải Nobel. Mình đã có một kênh khác để “sạc pin”. Hồi xưa mình nghĩ đọc nhiều ông lớn mới viết tốt, bây giờ khác. Bạn biết chăng, đôi khi ngồi xuống tịch mặc thanh lọc nội tâm cũng là nguồn năng lượng hơn cả ngàn trang sách. Nói vậy không hẳn mình ngưng việc đọc. Cái sự đọc của mình giờ cũng lạ. Dạo K tặng cuốn Chuông nguyện hồn ai, mình mang về chưa kịp đọc thì vướng việc gia đình. Lần gặp sau K hỏi đọc chưa? Như một phản ứng tức thời mình bảo, rồi. Bạn biết không, mình mới chỉ đọc cái tên sách. Chuông nguyện hồn ai, mấy chữ đó thôi, như mình đọc được cả thế giới nội tâm Hemingway, mình đọc được tầm vóc của Hemingway trên căn nền của thứ triết học nhuần nhị. Bạn tôn sùng Henry Miller nhưng bạn chỉ hiểu một phần nhỏ trong sự nghiệp của nhà văn này mà ở đấy sự tung hô đã khiến ông ta thấy cần cúi mặt (trước những chân lý siêu nhiên đang rọi vào góc khuất cuộc đời ông). Đứng ngoài miền tâm linh, bạn lại lấy Phạm Công Thiện làm thần tượng và đắm vào mấy cuốn triết gia viết thời nông nổi, và dĩ nhiên bạn bỏ qua những tác phẩm tinh túy sau này cùng rất nhiều bài thuyết giảng Phật pháp của ông trên hành trình giải thoát (tri kiến) mà ở đấy quá khứ về một Ý thức hệ chết hẳn.
Đôi lúc mình nghĩ bạn đã hiểu chính bạn chưa? Bạn đã hiểu K? Cảm nghĩ những gì mình đọc trong tác phẩm của bạn là một con người đeo mặt nạ thu lu trong góc tối trước màn hình vi tính lường gạt ngay từ những con chữ vô tội. Bạn có biết K buồn tủi lắm trước vô số mặt nạ bạn thay đổi thường xuyên trong cuộc nhập lưu vào một xã hội lắm sự đãi bôi phờ phỉnh. Bạn hiểu gì về cỗ máy cơ thể bạn, chưa nói đến tâm hồn K và con bạn nữa. Bạn luận thế sự nhiều trong lúc chưa biết cội gốc nguyên nhân. Đã bao giờ bạn ngẫm câu hỏi rất cũ: Tại sao đời sống vật chất càng nâng cao bệnh tật càng bùng phát và nhiều thêm những bệnh nan y? Có biết vì sao bệnh viện mọc lên ngày một nhiều (?), bạn lại tung hê thái quá sự tụt hậu đó trong tiến trình phát triển của loài người. Có thể bạn đã trang bị cho mình nền tảng thông qua giá sách triết học, nhưng mình nghĩ chắc bạn còn lờ mờ về triết lý nhân sinh. Con người được cấu thành bởi hai phần vật chất và tinh thần; mới chiếu theo khoa học lượng tử thôi, đã thấy phần tinh thần chiếm quá nửa, còn hiểu theo khoa học huyền bí đôi khi phần tinh thần chiếm trọn, thế nên rất nhiều hành giả Phật giáo tiêu bệnh nan y mà không dùng đến thuốc. Mình lại tự hỏi: Với trách nhiệm của một người cầm bút trước vấn nạn xã hội, Bạn hiểu gì về Ung Thư? Căn bệnh bị hiểu lệch là án chung đang từng ngày bóp nghẹt tuổi xuân của K? Bạn xoãi tay truyền thông tin rồi đây người dân sẽ đại trà được máy siêu phát hiện ung thư rà soát. Bởi bạn chưa thực hiểu về ung thư, và một khi không chữa gốc mà chữa ngọn sẽ sinh ra vô vàn cành lá. Những nghiên cứu mới nhất cho thấy hầu hết mỗi người trong đời đều từng xuất hiện tế bào ung thư, nhưng nó phát triển hay không trọng yếu phụ thuộc vào ăn uống. Hôm nay bạn không có tế bào ung thư, ngày mai phát hiện có là sự thường, và những tế bào không được mã hóa này sẽ không dễ phát thành u nếu bạn ăn thuần chay kết hợp thực hành tâm linh hay ít nhất bỏ ra ngoài sự ấu trĩ về đạm từ thịt, trứng và đường sữa. Chỉ những người nội lực thâm hậu mới không hề lo lắng lúc mắc bệnh nan y. Tế bào ung thư có trong K là điều bình thường; bởi không hiểu nó bình thường, nhầm với một khối ung, rồi âu sầu như đang chạm vào cái chết. Chính sự lo ấy là nhiên liệu để tế bào xấu phát triển thành u theo quy luật cảm xúc “tâm sở hiện” đã được minh tường trong những báo cáo khoa học.
Mình đang nghĩ đến K, như với những bệnh nhân khác từng ngày nuôi lớn tế bào ung thư bằng nguồn thức ăn bẩn. Bạn đừng đổ lỗi cho môi trường như trong tùy bút đăng báo vừa qua. Bạn có biết loại thức ăn nào là bẩn, chứa mầm bệnh nan y và loại thức ăn nào sạch chẳng những thanh tẩy thể xác đến sự phát tuệ? Thức ăn vốn quyết định vận mạng con người. Thức ăn thuần khiết xét ở hai mặt vật chất và đạo đức trong mối tương quan sinh tồn của muôn loài sẽ khiến Trí sáng. Các nhà dinh dưỡng Âu Mỹ cũng thích đeo kính màu, chưa thấy rõ con người ăn sai thực phẩm xét trên nguyên lý cơ thể học, nên những gì thêm bớt về sau càng khiến cho vấn đề thêm lệch lạc. Bạn tin họ, tin đám đông và tin quảng cáo. Mình cũng từng bị các nhà sản xuất nhuộm não từ lúc biết xem truyền hình. Ngay đây mình muốn bỏ trang viết lao tới đưa K khỏi ngôi nhà cao sang ấy. Hãy nghĩ về tương lai những đứa con của bạn (?) với ai phôn ai pát nối mạng. Bạn có biết sự nhiễm độc tâm hồn từ thông tin xấu và sóng sẽ khiến chúng dễ mắc bệnh hiểm. Nếu miệng bạn chọn lựa thức ăn tốt thì mắt tai cũng có quyền như vậy; còn hơn thế bởi tinh thần chiếm phần lớn tạo nên một chỉnh thể người và chiếm phần lớn sự gây ra bệnh. Nguồn dữ liệu bẩn nhập qua tai mắt sẽ tạo nên Trường Sóng làm nhiễm ô trầm trọng bầu trời; và chiếu theo nghiệp ý, nó góp phần tạo nên những thiên tai mà trước hết dội về ngay chính người gieo rắc. Nhớ năm ngoái mình chuyển đến bạn những thông tin như là niềm ân huệ dành cho bệnh nan y; bởi mình luôn nghĩ về K đang tuyệt vọng, với khôn nguôi hy vọng K tiếp xúc với những khám phá về cách chữa những căn bệnh xuyên thế kỷ nhờ nguồn thực phẩm xanh. Như ông tổ của ngành Y học phương Tây Hipprocrates (một người ăn trường chay) từng nêu chân lý: “Thức ăn là thuốc”. Rồi hôm kia mình gửi link bộ phim khoa học NĨA thay vì DAO, nhưng bạn phẩy đi. Bạn vẫn tiếp tục nạp thêm hóa chất vào thân hình mong manh của K, vẫn cho K uống sữa và bồi bổ bằng thức ăn đắt tiền. Mấy năm trước, bệnh viện danh tiếng Johns Hopkins chuyên về bệnh ung thư đã công bố gây chấn động: thức ăn chính của ung thư là đường, sữa, thịt đỏ và thịt động vật nói chung. Văn bản này may thay có sẵn trên google để ai cũng dễ tiếp cận, còn K thì không! Giá K có vài ngày nghiên cứu Thực Dưỡng thôi, sẽ tự chữa ung thư; K dùng số tiền dư hành thiện, làm một ân huệ trong đời? Phước đối với mạng người như ngọn đèn cần dầu. K dốc sức hành thiện và tiếp cận tâm linh, tiếp cận thực dưỡng lẽ nào không cảm động thần minh. Hàng ngày bạn đang cố thúc lớn con ung thư trong người K. Bạn đánh tế bào ung thư nhưng cung cấp tuyệt đối thức ăn cho chúng, ngược lại còn tự làm suy kiệt K bằng hóa chất; trong lúc khoa học hiện đại tha thiết kêu gọi phải “bỏ đói tế bào ung thư”.
Còn dùng đường, sữa và thịt động vật, việc chữa lành ung thư là khá ảo tưởng. Đường - hiểm họa của nhân loại, hàng trăm năm trước ngành Thực Dưỡng cảnh báo, và hàng nghìn triệu năm trước tổ tiên chúng ta ít bệnh nhờ không có đường. Còn sữa? Ngay đến một loại sữa hàng đầu được WTO chứng nhận, được các bác sĩ khuyên bệnh nhân uống, cũng là sự tổng hợp của nhiều loại hóa chất độc hại và dĩ nhiên cũng như nhiều loại nước ngọt khác, luôn có chất gây nghiện để thu nhiều lợi nhuận một cách thông minh. Bạn có muốn biết về những con bò luôn bị tiêm thuốc thụ tinh nhân tạo (để tiết sữa) và nhiều loại thuốc độc hại nhằm bảo đảm bầu sữa bự; bê con sinh ra chưa hề nhận giọt sữa nào đã bị vứt vào lò mổ, còn mẹ nó phải đứng suốt ngày cung cấp sữa cho K và con bạn uống? Hãy tưởng đến K thay vì đủ sữa cho con bú, nay bầu sữa phình gấp chục lần, thì đó chẳng phải là một loại nước quái đản? Một ngày mấy chục lít từ bò mẹ, là một dạng nước nhờn nhợt trộn máu mủ cùng độ dư của tân dược và với độc tố được tiết ra từ chính sự điên của con bò luôn phải đứng và bị hành hạ, sau nốt là quá trình khử trùng (bằng hóa chất), và cũng chỉ hóa chất để khỏa lấp các dinh dưỡng tự nhiên của sữa, rồi bịp bạn bằng sự nhảy múa vui tươi của đàn bò sạch sẽ trên những thảo nguyên xanh mướt. Cơ thể người là một bộ máy điều hòa hoàn hảo, một khi đưa sữa hoặc đường (hoặc thịt) vào, nó phải huy động kháng thể điều hòa, với sữa thì tiết can xi trong xương ra gây loãng xương. Những quốc gia dùng đường sữa đứng đầu thế giới người dân luôn mắc bệnh loãng xương nhiều nhất và kéo theo nhiều bệnh cấp thời; các nước dùng sữa xếp sau danh sách bệnh luôn tỉ lệ thuận - là những kết quả khoa học không chối cãi, nhưng bạn vẫn không chịu nhìn nhận giúp K vượt bể khổ.
Bạn nghĩ người ta tinh luyện mười củ sâm thành một viên thuốc, thì viên thuốc ấy tốt hơn củ sâm? Con người bạn vắng bặt xúc cảm? Gạo lứt tốt nên các nhà dinh dưỡng sẽ tinh chất để chữa lành ung thư như hàng ngàn người đã kiên nhẫn ngồi nhai gạo lứt với muối mè để hạ một lúc rất nhiều bệnh? Bạn chưa hiểu nguyên lý của cơ thể trong sự tương tác với thiên nhiên, với ánh nắng với không khí và thậm chí với hư không huyền diệu nữa. Bạn thử cho K ăn theo một chế độ tiến bộ nhất của phương Tây, rồi nhốt K trong căn phòng không ánh sáng không mặt trời trăng sao, chuyện gì sẽ xảy ra? Tại sao cũng một miếng gạo lứt với muối mè nếu K không nhai ra nước mới nuốt thì chẳng có hiệu quả chữa bệnh ngoài sự bổ dưỡng? Bạn có thể không theo Thực Dưỡng để chữa bệnh, rằng Khó, như bao người khác, điều này dễ hiểu và rất bình thường, nhưng bạn không thể tự rào đường đến Chân Lý. Hay bạn sợ Chân Lý sẽ đánh sập sự Sai Lầm bạn sở hữu như một thứ trang sức thượng lưu?!
Mình luôn thán phục Tây y, mình luôn cúi đầu tri ân mọi bác sĩ, y tá và điều dưỡng bởi mình không tuyệt đường đến bệnh viện; người thân của mình và rất nhiều người cần bệnh viện và đã được bệnh viện cứu. Nhưng với K, bệnh viện hứa sống bao lâu? Trong lúc bạn có tính hết số người lành bệnh nan y đơn giản nhờ ăn uống? Mình đang đưa đến K những nghiên cứu thuyết phục nhất của Y học hiện đại; thật ngạc nhiên, nó tương hợp kỳ lạ với ngành Thực Dưỡng của tổ tiên chúng ta, vậy thôi. Cuộc đời không hề có ngõ cụt, và đó chính là nguyên nhân thôi thúc mình đưa phương pháp này đến với K để dựng dậy sức sống. Nhưng bạn xem những thứ mình giới thiệu là cổ hủ, là phương pháp lang băm không chút minh triết. Một thí nghiệm khoa học của BBC cho thấy, tâm thức xử lý và hoàn thành một quyết định rồi phát lên não bộ con người trước 6 giây, nghĩa là qua máy thí nghiệm người ta biết bạn sẽ nhấn cái nút màu xanh hay đỏ trước 6 giây; quá rõ Tâm mới là nguồn phát lên não rồi não sai khiến thân thực thi. Để muốn nói, lá thư này gửi tới bạn không phải của mình; đây chỉ là việc Tâm xử lý nguồn dữ liệu tiến bộ theo một sự thôi thúc của nghiệp dĩ. Nhưng mình vẫn ký tên phía dưới, không dám cầu lời khen mà để chịu trách nhiệm nếu lỡ bị ném đá thôi. Bạn chưa hiểu về Sóng Tâm nên thản nhiên truyền rộng rãi K mắc ung thư. Các nhà lượng tử giải thích, nếu Tâm không đủ Lực, thêm một người phát ý niệm “K hết chữa rồi, K tận số rồi”, là K như tấm bia chịu thêm một ý niệm xấu như mũi tên xuyên vào tâm thể, thêm một mối lo. Nỗi lo dễ dàng hạ gục người khỏe mạnh chỉ sau một đêm. Lại hỏi bạn Ung Thư sợ gì? Bằng chứng khoa học hiển nhiên: Nó sợ nhất chữ Ái. Là yêu thương, hòa ái, không hờn giận, không ích kỷ tự lợi và luôn hướng về tha nhân phụng sự; Ái là lòng từ tràn ra muôn loài. Với chữ Ái này thôi đã đủ khiến những tế bào xấu nhất dần dà chuyển hóa trở lại thành tế bào tốt. Mình đọc được chữ Ái trong K ngày ấy khi K bảo mình tha cho con ve tội nghiệp. Mình đọc được chữ Ái trong K vào một chiều ở cửa Tư Hiền K chắp tay cảm ơn hoàng hôn đang dần xuống và mặt biển chói lòa sắc đỏ... Mình bỗng nhớ Thông điệp từ Nước. Rằng nước hiểu ý nghĩ mọi người, hiểu mọi ngôn ngữ và chữ Ái luôn cho ra kết tinh đẹp nhất như một bông tuyết lóng lánh. Ngành vật lý tiên phong hướng ánh nhìn ra vũ trụ khẳng định mỗi cá nhân đều đang nối mạng với vũ trụ bằng sóng tâm, sóng tư tưởng. Thế giới này sẽ không thể trở lại được thời Phục Hưng khổng lồ với những nghệ sĩ khổng lồ. Bởi thời đại ấy, sao nhỉ: không có tivi và internet. Tia sáng (laser) có thể xuyên sắt thép (?), bởi nó hội tụ. Tâm bạn muốn hướng về mục đích viết một tiểu thuyết đỉnh, thì bạn phải học nhà văn Marcel Proust tuyệt dứt với thế giới bên ngoài để tìm lại những thời gian đã mất. Bây giờ với dụng cụ nối mạng trên tay bạn chuyển kênh liên tục như một cái tủ đông mươi phút lại bị ngắt điện khiến đá không thể đông. Năng lượng tâm loãng với đủ nguồn tin khiến tác phẩm luôn thiếu chiều sâu và vắng hoàn toàn chân lý tối thượng. Những thứ bạn viết dẫu văn nuột nà rốt cục cũng bị cơn lốc của thông tin cuốn phăng. Thử hỏi, sao kinh điển Phật giáo sau gần ba ngàn năm vẫn lấp lánh và càng chói sáng khi khoa học soi chiếu. Các nhà lượng tử tính từ Albert Einstein và Niels Bhor cho đến nay với những phát hiện đột phá về thời không đều “cũ”, bởi Đức Phật đã thuyết từ xa xưa rồi. Sóng hấp dẫn cách trái đất hàng tỉ năm ánh sáng nhưng ai đã tin Sóng Tâm phủ trùm vũ trụ ngay trong một phần tỉ giây. Sự liên mạng tư tưởng này khiến mình hễ phát xuất ý niệm xấu là góp phần nhiễm ô từ trường trái đất, chưa bàn đến chuyện hàng giờ ai đó đưa lên Facebook toàn những thứ khiến người người sân giận, tị hiềm và bế tắc trong sự thỏa thuê Bản Ngã. Xét ở mức độ nghiêm xác nhất của lượng tử lực học đối với sự tồn vong của địa cầu, mình nghiện game, nghiện lướt web mức nguy hại còn hơn cả nghiện ma túy. Một cơn giận nhẹ, đã khiến cơ thể tiết ra lượng độc tố phải mất từ 8 tiếng đến 3 ngày mới tiêu hết. Nhờ đâu? Là cơ thể rút nguồn năng lượng quý báu ra để điều hòa. Bạn đã biết chuyện một người vợ cho con bú lúc sân nộ với chồng, để rồi đứa con ấy chết. Do cơn giận tiết độc và đứa con uống độc trong dòng sữa mẹ. Oan không? Những con vật bị giết, hận thù dâng lên đôi mắt rần máu, nghĩa là độc tố tăng muôn lần so với cơn giận khiến đứa trẻ trên phải chết. Con người cũng là động vật; loài động vật thông minh nhất hành tinh. Thực tế chưa hẳn. Bạn cũng biết mình vẫn thường ăn xác chết động vật. Rồi một ngày mình tự hỏi, nếu thông minh, thay vì xây bệnh viện cho bản thân, trước hết mình phải vận động xây bệnh viện cho loài vật. Những con vật phải được ăn sạch uống sạch, phải được khám thường xuyên để xem có bị tiểu đường, tim mạch, có bị nhiễm dịch và đặc biệt có ung thư hay không rồi mình và bạn và K dùng thịt chúng. Ngay cả khi con vật được săn sóc để cho ra loại thịt sạch (như cách các đại gia tự sản xuất rau sạch), thì nguồn thức ăn từ động vật nói chung theo những thống kê công phu kéo từ lịch sử thế chiến đến thời nay đều kết luận chứa mầm bệnh quá nguy hiểm, bởi nó tạo nên môi trường a xít trong cơ thể cho tế bào “ác” sinh sôi. Hơn 80 năm trước nhà bác học Otto Heinrich Warburg đã dày công nghiên cứu về ung thư và nhận giải Nobel Y học khi đưa ra nguyên lý: “Ung thư không thể sống nổi trong môi trường kiềm và giàu ô xi nhưng lại thăng hoa và phát triển như nấm trong môi trường a xít và ít ô xi”.
Bạn còn hạnh phúc khi những đứa con xa dần vòng tay của mẹ? Bạn còn hạnh phúc khi hình dáng của K với cái đầu trọc vì hóa chất và khuôn mặt xanh xao? Bạn vẫn nghĩ nguồn vật chất ùa về để có một cuộc sống cao sang nhưng duyên nghĩa vợ chồng đang mong manh, là hạnh phúc? Bạn từng nghĩ K ngồi trong bữa tiệc đủ món sẽ hạnh phúc hơn người ăn rau luộc chấm tương? Bạn đang biến K thành một con ve sầu, khản kêu vô vọng!
Hẳn bạn sẽ đờ ra khi biết ở Mỹ nhiều giai đoạn mức lợi nhuận từ vũ khí không nhằm nhò so với Thuốc Tây. Nhà văn minh lớn Hoa Kỳ, người dân tin tưởng số một Viện Dinh dưỡng, nhưng họ không ngờ phía sau những cơ quan đáng kính ấy là các tập đoàn lợi nhuận phủ bóng lên quá nửa địa cầu; để rồi hầu hết người dân bị thừa cân, và từ đó mang đủ thứ bệnh hiểm như ung thư, tim mạch, huyết áp, đột quỵ, tiểu đường, loãng xương. Trẻ em châu Phi thiếu đói đến chết, là một nỗi đau lớn; còn xu hướng những nước được cho văn minh đang phát bệnh bởi thừa mứa cá thịt trong mọi bữa ăn - ấy là tội lỗi. Chớ phũ phàng với chân lý, với chính mình và nhất là với căn bệnh của K. Việc lựa chọn thức ăn chính là đẳng cấp sống của con người. Thức ăn thuần khiết từ thảo mộc sẽ dựng lập hòa bình thế giới. Điều này không phải mình nói mà từ thiện khẩu những bậc thức giả lỗi lạc nhất hành tinh. Bạn sẽ không thể so sánh nổi niềm hạnh phúc của một người chay tịnh hân hoan thức dậy lúc mờ sương với một người ăn uống nặng nề lúc nào cũng uể oải sau giấc ngủ chìm trong mê loạn và bất an bởi cái bóng nghiệp thức luôn ẩn sau gáy.
Bạn có biết trong quá khứ K bao dung mạnh mẽ nhường nào không? Còn nay K đang héo dần với sự bất lực của những người xem thường y lý tồn tại trăm nghìn năm vững chãi. Mình từng đọc được trong mắt K sự nhiệm màu, nhưng nó đang mờ dần bởi lòng ghen tị và ganh tị của bạn, bởi sự tôn sùng nền văn minh kỹ trị lại quá xem thường sức mạnh tinh thần vi diệu ở mỗi người. Chuông đang nguyện hồn bạn đấy. Bạn sẽ nghĩ mình bỗng dưng đến quậy, cái thằng này đang đứng ra gây hấn với bạn? Ừ, tùy thôi. Nhưng bạn nên nhớ, không bàn đến K, chỉ riêng bạn thôi mãi là một hình bóng linh thiêng trong cõi mình, dẫu cho một ngày K nhận ra khuôn mặt thật của bạn và khước từ chung sống với bạn để trở về miền xa xăm chăng nữa.
THUYỀN TRÔI TRÊN SA MẠC
Bạn ơi…
Người nào lại viết một bức thư tay thời @ nhỉ? Lật xem tên ai ở trang cuối; không có đâu. Bạn hãy bình tâm ngồi xuống buông vọng tưởng, hãy vùi bức thư này lại cho đến lúc bạn thảnh thơi hẵng đọc. Rất nhiều lần mình muốn tâm sự với bạn, chỉ đơn giản ngồi vào bàn phím gõ chữ rồi thêm cái nhấn chuột… Viết rồi lại xóa. Nói chuyện với bạn rất dễ, ngặt nỗi mình chẳng biết bắt đầu từ đâu. Sáng nay ngồi vào bàn chép kinh, mình thảo luôn bức thư này.
Mình đã tu. Bạn ạ. Bất ngờ lắm? Giật mình phải không. Tu rồi mới hiểu. Lâu nay chấp thủ dựng lô cốt tự nhốt mình lại. Học Phật nghe pháp rồi bỗng sinh “nghi”. Đời người trăm tuổi là bao so với hàng tỉ năm tồn tại của trái đất; còn dõi thêm ra các dải ngân hà chẳng khác ta nhìn vòng đời của một chú kiến. Bạn hãy đặt con kiến lên quả địa cầu nhựa rồi thử quay một vòng xem. Con kiến nhỏ đến mức nó không cảm nhận được sự quay của trái đất ấy kia mà. Sao chúng ta nhỏ bé đến tội nghiệp, lại có bản ngã lớn vậy nhỉ. Không ai nhanh hơn ai tính tại thời điểm nhắm bờ giác ngộ lướt biển vô minh.
Niệm gì khởi lên trong tâm bạn lúc này? Có phải bạn nghĩ mình chưa già đã lẩm cẩm. Sống mới một phần ba cuộc đời đã lo tu. Mình biết, bạn sẽ không xua đuổi mình đâu, nhưng bạn sẽ… tránh. Bạn nghĩ nếu gặp mình nhẽ ra hàn huyên chuyện cũ, dự phóng tương lai lại bàn về nghiệp thức nhân quả… nghe rất chối phải không. Giống như ngày xưa cha mẹ hay nhắc nhở đủ thứ. Đến như ăn xong liền nằm xuống mẹ đã “ngồi dậy kẻo đau dạ dày đó”. Mình thề mẹ không hề biết đến thứ kiến thức đó, mẹ chỉ linh cảm và răn con cái. Bây giờ mình bỗng nhớ những thuận ngôn nghịch nhĩ. Phật cũng dạy trong kinh Cú pháp: “Được sinh làm người là khó, được sống trọn đời còn khó hơn, được nghe Chánh pháp là khó”. Khó ở đây cũng là khó nghe bạn ạ. “Tín huệ văn pháp nan trung nan”. Nói vậy nghĩa là đang tự nhắc nhở. Đến mình chưa dạy được mình mà. Nếu mình dạy được mình, mình nghe theo mình, hàng phục mình không thuận với xan tham, thì mình đã an lạc trước mọi nghịch cảnh! Chưa chiến thắng thuần hóa được tâm nên mình chưa thể dứt dục lạc. Bạn cảm thấy “ngán” chứ gì. Chưa bao giờ bạn đọc một bức thư kiểu như thế này mà. Ừ. Mình… khác rồi. Nhưng đừng bỏ mình bạn nhé. Mình luôn nhớ đến bạn, kiểu như trước đây mình từng gây lỗi với bạn; mình muốn sám hối, xin bạn hãy đừng xa lánh. Mình đang “luyện” trở thành một người vô hại với mọi loài. Tâm bạn dịu hơn rồi thì phải. Bạn đã xích lại bên mình thêm một tí, song nom mặt còn khó chịu. “Mà tu để làm gì”. Cứ cho là có kiếp sau. Thì đã sao. Ừ, chẳng sao cả. Chỉ là mình không muốn chết phải đầu thai làm động vật bậc thấp thôi. Có tham lam gì cho cam. Mình đọc kinh, nghe Phật hứa nếu xả bỏ uế trược, chú tâm niệm Phật sẽ được tiếp dẫn lên cõi Tịnh độ; ở đó có thể “mặc áo giáp” trở lại trần gian trợ duyên cho thân nhân… Không đùa đâu bạn. Nhiều khoa học gia hàng đầu thừa nhận: Những khám phá vĩ đại của chúng ta chỉ minh định kinh điển Phật giáo. Mà kinh không chép sai câu nào. Ai vào tu tức có ngộ. Sự ngộ đó tự khắc kiểm định đúng sai lời Phật. Nếu bạn gom hết bể học nhân loại, bạn vẫn thiếu một môn là Phật pháp. Đạo Phật không phải chứa hết thảy tri thức khác song nếu bạn chỉ học và hành theo Phật pháp mà chưa cần học thêm bất cứ điều gì, vẫn đủ. Cho đến nay Kinh Dịch là món chưa một nhóm học giả nào chinh phục được. Có bậc chứng thánh phát biểu Kinh Dịch do tiền thân của một Hòa thượng bên Trung Hoa viết ra. Thế nên giả như có ai phá được hết các quẻ Dịch thì vẫn… bế tắc, vẫn không giải được bản thể. Vẫn là một sinh mệnh ngơ ngác giữa trần gian chẳng rõ sẽ về đâu.
Bạn biết không, đêm qua mình mơ thấy đang chen lấn giữa đám đông, nghẹt thở. Rất nhiều người từ già đến trẻ nhỏ trong thành phố đều tập trung tại sân vận động nghe “lời phán xử”. Trên cao. Trong sự tĩnh lặng hiếm hoi, Ngài nhẹ nhàng nói, “Con người sinh ra từ bào thai, nhưng kẻ ác thì đọa vào địa ngục”. Bạn ạ, trong số phàm nhân chúng ta, nếu chiểu theo nhân quả, may ra chỉ có mấy người (chết đi) sẽ được về cõi Tịnh độ trang nghiêm. 3% trong số người còn lại lên được cõi Trời. 60% trong số người còn lại đầu thai vào ác đạo. 50% trong số người còn lại tiếp tục được nhận thân người. Số còn lại xuống địa ngục. Cõi nhân gian khó cưỡng phù hoa giả tạm, khó cưỡng danh sắc huống hồ lên cõi trời nữ nhân đẹp vạn lần… nên mê mờ hưởng hết phước chắc chắn thẳng xuống tầng thấp lãnh nghiệp báo. Bạn có biết so với chục năm trước, trước nữa, bây giờ mực nước biển dâng lên bao nhiêu không? Ấy là do hiệu ứng nhà kính, tầng ô dôn bị chọc thủng, nên lửa mặt trời rọi trực tiếp khiến băng tan, địa cầu nóng lên. Đạo đức nhân loại ngày nay cũng dần tan chảy giống băng vậy đó. Hiệu ứng nhà kính biểu hiện cho tiện nghi vật chất, tầng ô dôn biểu thị cho phước đức bị lòng tham tàn hoại. Bạn biết khi công an thẩm vấn một đứa trẻ giết người, nó trả lời sao? “Cháu thích rứa”. Chẳng cần theo dõi truyền hình báo chí bạn cũng hay chuyện người ta dùng cả thai nhi làm món lẩu, tẩm bổ cho sự si ám. Thú hoang trong rừng giết nhau theo bản năng của cái đói, nhiều người thì có thêm trí tính toán và thanh toán, quét sơn lên tội ác.
Ừ, mình đã tu bạn à. Tu đơn giản trước nhất là sửa từ thập ác thành thập thiện, chẳng biết đến bao giờ viên mãn. Bắt đầu là một bữa ăn chay. Từ đó đến giờ… (Mình xa nhau mấy năm rồi nhỉ?). Chắc nhờ ai đó trợ duyên, chứ mình biết tập ăn chay khó lắm. Nói điều này chắc tổn phước quá. Gia đình mình vẫn còn người ăn mặn, nhưng mừng là không còn mua đồ sống nữa. Những người chưa thể ăn chay đều cần tôn trọng… Mình đang tập hòa đồng ở mức có thể. Bạn biết không, có một ông sư ở chùa Từ Hiếu, mẹ đau nên sư ra chợ mua cá về nấu cháo; dọc đường nhận tiếng oan “sư mà cũng ăn cá à!”
Cùng là động vật cơ mà. Công nghệ chăn nuôi bây giờ, bạn thấy, các trang trại nuôi hàng triệu con mỗi lứa vẫn hết vèo. Chúng sống tự nhiên với chu trình sinh diệt, sẽ chẳng ảnh hưởng đến con người mà còn lợi nhiều lắm cho sinh thái môi trường… Nhân loại bước đến thời điểm này không thể quay lại được nữa bạn ơi. Có người dấm dẳn, nếu ai cũng ăn chay niệm Phật thì xã hội “chết tại chỗ” à? Vậy là nói bừa. Thêm một người vào tu, thêm một người thôi bắt con này giết con nọ, thôi hành hạ dã man động vật là chuyện hiếm rồi, lấy đâu ra chuyện “ai cũng…”. Mới vừa báo đưa tin một ngư dân bắt được con cá lạ: vây rắn, hình thù kỳ quái, lâu lâu lại khẹc khẹc như người. Bạn sẽ không tin ai đó do chẳng tin nhân quả, vung tay nên luân hồi thành hải sản. Hễ cứ nhắm mắt định tâm, mình lại nhớ trước đây từng róc vảy cá cắt cổ gà, từng bắn chim giết thú, từng chặt đầu lũ chàng hương ếch nhái… mà rùng mình toát lạnh mồ hôi. Thì chỉ biết hy vọng thôi, chỉ biết ngày ngày cúi đầu sám hối mong được an trú dưới ánh hào quang của Phật suốt phần đời còn lại.
Bạn vẫn chưa biết mình là ai đúng không? Lục trong trí nhớ, bạn
sẽ chẳng tìm ra ai ngày trước có “Phật tính”. Mình bây giờ cũng chẳng tin mình
theo Phật nữa là. Nhắc chuyện này chắc bạn nhớ. Thời đại @ đang tiến đến 100%
người biết sử dụng điện thoại di động đều sở hữu ít nhất một. Thật bất tiện khi
bạn mang trong mình đến hai ba điện thoại, vậy nên nhà sản xuất mới cho ra đời
loại có nhiềm sim và nhiều tính năng tiện ích. Tương tự, bây giờ bạn hãy (phải)
xem nghiệp là một cục đá. Vì sao lại cục đá, vì nghiệp là thứ vô dụng, lại nặng
nề, nó khiến người ta bực dọc muốn quẳng đi mà không thể trừ phi chúng ta thành
tâm cúng dường, pháp thí, phóng sanh… (Bạn và mình chưa cần tính đến phần cực
trọng nghiệp, tích lũy nghiệp tồn lưu từ quá khứ, hãy tính ngay khi bạn đọc
dòng chữ này). Sáng ấy trước lúc tới công sở, chúng ta tạt vào quán cà phê;
mình gọi một ly chanh nóng, đứa chạy bàn nghe lộn nên mang ra chanh đá, tức thì
mình nhăn nhó. Bạn nhớ ra chưa? biết mình là ai rồi chứ. Ừ. Nhưng bạn đừng cố hồi
tưởng lại khuôn mặt dạo ấy và nó bây giờ tròn méo ra sao. Chỉ nên biết, hành vi
của mình vừa đó khiến phải nhận ngay một cục đá. Mình lại còn nhằn đứa chạy bàn
là “đồ lảng tai” trước mặt nhiều người, liền nhận
thêm những cục đá nữa. Nó bưng ly nước chanh vào, chủ chặn lại dọa nếu chốc nữa
không ai gọi chanh nóng sẽ trừ vào tiền lương của nó (mình nhận thêm cục đá nữa;
tất nhiên chủ quán cũng bị nghiệp nhét vào những cục đá). Uống cà phê thấy
không ngon. Chúng ta đứng dậy sau đó không lâu, vào phòng làm việc. Hôm đó trời
rất mát, mình vẫn bật điều hòa (để nhận lấy những cục đá), rồi mình để mặc điều
hòa và quạt tỏa hơi lạnh ngắt, cả màn hình máy tính không ở chế độ tiết kiệm điện;
ta chuyện phiếm đủ thứ trên đời… Chưa tính khẩu nghiệp qua đề tài phiếm luận. Bạn
còn nhớ không, mình khoe tuần trước “bồ” cho mấy tờ đô… Đồng tiền chúng ta có
được cũng nhờ duyên phước. Làm giàu từ nghề chánh mạng không có tội. Ví dụ bạn
mở quán chay, bán với mức giá vừa phải; đông khách là biểu hiện của “may mắn”.
Nhưng bỗng đâu có người lạ vào ăn một bát lại vui lòng biếu thêm tiền. Người ta
cho dĩ nhiên không phải trả, có điều bạn ạ, tiền ấy sử dụng không khéo sẽ quy
ra những “cục đá”… Ấy là mình đang hoàn toàn được xem người tốt. Chứ chưa bàn đến
người xấu kẻ ác. Hôm nay thứ bảy bạn ạ, mình không đi làm nên chợt nhớ lại
khung cảnh này, sẵn thời gian nhẩm xem tích khoảng bao nhiêu cục đá trong nửa
buổi sáng đẹp trời ấy. Rồi trưa tan tầm mình ghé chợ, cố mua bằng được những
con còn tươi giãy. Nghĩ mình không mua thì người khác cũng mua, chúng cũng chết;
mà không hay chúng bị bắt, còn sống là việc của chúng, mình mua và giết nó khắc
nhận nghiệp! Chừng ấy cục đá cho vào bao, liệu bạn có vác nổi về
nhà? Thật may, cũng thật nghiệt ngã là nghiệp ấy vô hình. Vô hình mà hữu hình
và nó ở lại với chúng ta. Thế đấy, nghiệp sao giống “chuyện vặt” vậy? Phải,
chúng ta chỉ cần gom chuyện vặt mà không nhất thiết phải ôm “chuyện lớn”, đến
lúc bao trắc trở tụ về, hoặc sẽ từ vô vàn những cục đá hóa thành chướng nạn bệnh
tật, là lúc chúng ta đang ghé lưng vào ngọn núi khổng lồ!
Bạn với mình, về cuộc sống gia đình không hơn thua nhau nhiều. Mình cũng có công việc khá ổn, cứ đến tháng nhà nước trả lương. Đời sống tùng tiệm xem như xuôi. Vậy tu làm gì? Phải. Mình tu cho kiếp sau bạn ạ. Kiếp này vậy tạm đủ rồi. Mình không có ý nghĩ phấn đấu làm nhà hay sắm sửa tiện nghi này nọ. Không tích trữ. Người ta có thể chửi nhưng mình vẫn sẽ nói những gì Phật dạy. Bạn vẫn nghĩ chết rồi cũng sẽ được đầu thai làm người phải không? Thật không dễ vậy. Nếu suối đời bạn giúp người hành thiện chăng nữa mà không nương Phật, không thiền định hay chẳng niệm “A Di Đà Phật” thì phước báu lắm chỉ lên được cõi Trời. Sau kiếp sống ở thiên giới sẽ về đâu? Cái gì không nhìn thấy và không sờ thấy người ta thường phủ nhận. Mình sẽ không giải minh giữa mình với một người hành nghề sát sanh, ai đúng ai sai. Họ có “triết lý” sống của họ. Họ tuyên bố giết một con vật là “hóa kiếp” giùm nó. Thôi cứ vậy. Hoàn toàn do ngộ tính thôi. Mình đồng nghĩa với loài vật. Mong rằng họ sẽ hóa kiếp giùm “đồng loại” của mình bằng cách cho nó uống một loại thuốc làm tê liệt mọi đau đớn trước lúc nó thọ quả báo đời trước lỡ gieo. Nếu người ta hành hạ một con vật đến chết rồi ăn mà vỗ ngực xưng đại nhân anh hùng thì mình nghi ngờ hết những con người đó. Phật nói "còn sát hại chúng sanh, đâu được xưng là Thánh hiền". Và nhiều bậc thánh nữa, những người xưa nay ta rạp mình nể phục, nhưng nếu dẫn ra một câu họ nói về phương diện con người tự chạy theo lối sống của loài vật, thật tội lỗi, không chừng bạn và mình sẽ nhìn họ với ánh mắt hờn giận.
Bạn là một nhan sắc hồng trần. Lật Kinh mình hiểu đẹp nhường ấy phải phước báu nhiều lắm ở đời trước, hoặc là rớt xuống từ cõi trời. Danh và Sắc nhiều lúc dễ khiến người ta kiêu mạn. Từ kiêu mạn sẽ khởi ý mình xứng đáng được chiều chuộng hưởng thụ, xứng đáng người đời hầu hạ. Đó là lý do khiến hậu vận của người đẹp, kiếp sau thua thiệt ngàn lần so với người bình thường. Những trường hợp “sao” tương tự chắc bạn cũng dễ liên tưởng…
Thôi nhé, chắc bạn mệt mỏi lắm rồi. Mấy trang thư có khi khiến bạn ngán đến độ tối nay không ngủ được cũng nên. Nhưng mà nếu bạn thao thức trằn trọc, thì mình đội ơn trời Phật… Mong bạn nghe mình: hãy chuyên niệm “A Di Đà Phật”. Hãy thôi nghĩ mông lung bằng thói quen chú tâm niệm Phật trong suốt ngày đêm. Bạn thân mến ơi, chính đó là con thuyền chở ta qua sa mạc xuôi dòng tâm linh miên viễn.
NGÓ TRỜI PHIẾM LUẬN KHÔN CÙNG
1. Ngồi cà phê nhìn mưa rỏ xuống mái hiên, tôi hỏi bạn đẹp chăng? Bạn rằng, “tuyệt”. Tôi nhớ đến những kinh điển về mưa trong tranh, thơ, nhạc… Rồi nhớ đến một chiều nắng xiên mặt sông lấp lóa, những đêm trăng vàng chái trên biển rực lên cả một vùng trời. Hỏi bạn cảnh ấy đẹp chăng? Bạn gật, “không tả xiết”. Là bởi thiên nhiên vốn dĩ hoàn hảo. Cái đẹp tự nhiên khiến ngôn ngữ bị phá sản. Mọi ngôn ngữ và tài năng không đủ bao dung vẻ đẹp ấy. Là bởi chúng ta muốn trang hoàng cái hoàn hảo, vượt lên khỏi mọi sự sáng tạo bằng tâm thức để vun bồi tự ngã. Hồi nhỏ đọc tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris tôi liền ước sao có thể qua Paris ngắm nhà thờ. Rồi ước sẽ viết một tác phẩm hay hơn, bạn sẽ cúi đầu như trước tháp ngà. Ừ, thì cứ cho ảo tưởng đó thành sự thật, hẳn nhiên bạn đọc được tác phẩm của tôi, thán phục, và cũng như tôi, sẽ ước được thăm Nhà thờ Đức Bà cho thỏa nguyện. Tại sao thế? Bởi không gian tác phẩm dẫu lãng mạn tới đâu cũng chỉ là bản sao của vẻ đẹp không thể diễn tả hết. Mọi tác phẩm về ngôi nhà thờ trầm mặc trước thời gian đều là sự trang hoàng trước hết cho tiếng tăm lợi dưỡng của tác giả, thực tế khó thể khiến thức giả thỏa mãn trọn vẹn so với sự hiện hữu của bóng dáng vô thường. Một ngôi đền cổ kính với nhiều chứng tích đã được thời gian phủ lên sự tịch tĩnh mang phong vị thiền, xem là tuyệt phẩm của thiên nhiên không gì thay thế. Tôi vẫn thích nhìn những tháp rêu phong đang từng khắc tàn rụi. Nó đẹp ngay ở sự biến hoại theo ngọn gió vô thường, buông theo vô thường nên trung trinh lừng lẫy. Chợt thoáng hiện bóng những vị chân tu an nhiên trên những đỉnh núi mờ xa tùy duyên tuyệt tĩnh với trần ai huyễn ảo…
2. Ly cà phê có chút mà uống mãi chưa hết. Lá vẫn rơi từ bên kia đường. Cây có ghi tên đánh số. Tôi hỏi nếu bạn chưa từng biết đến tên cây này, ta có gì về nó? Tôi nghe điện thoại, một nơi gọi bài; liền nhờ bạn viết tản văn về cây Vô Ưu. Bạn bảo chưa từng biết đến loài cây ấy, hoàn toàn không có chút khái niệm gì. Ngay lúc đó có người tật nguyền bán vé số đang bước tới, tôi hỏi “bạn biết người này chứ, không nhớ à?” Bạn đang lớ ngớ lắc đầu; tôi mua một vé; rồi họ đi. Tôi hỏi bạn ngày mai gặp lại bạn biết người này chưa? Bạn ừ. Bởi bạn đã có tri thức về người này. Chỉ ba phút, nếu camera ghi lại hình ảnh. Chừng đó đủ để bạn viết bài văn ngắn, người nhiều chữ hơn thêm tả cảnh có thể lên mười trang. Bạn đọc xong rồi chứ, hay chứ; giờ tôi lại hỏi bạn, ngoài kiến thức là mười trang văn đó, bạn biết gì về người bán vé số kia? Bạn im lặng, vẻ trầm tư. Sống cùng bạn gái chục năm, bạn có thể viết bộ tiểu thuyết tình. Ngoài cái tri thức là bộ trường tình ấy, bạn biết gì về nàng? Hãy nói giùm tôi biết về nàng một câu ngoài tri thức về nàng? “Nhưng đâu phải ai cũng viết được, và còn viết hay nữa?” Phải, nhưng bạn nên tự vấn cái sự viết hay viết giỏi đó có phải nhờ tri thức khuôn mẫu, nó từ đâu ra? Bạn vừa hỏi đường, trong đầu tớ tức khắc hiện bản đồ chỉ dẫn, nhưng tớ chau mày nhăn trán lắp bắp mãi không nhớ ra ngay cái tên đường đã hiện rõ. Cái gì trong tớ hoàn thiện sẵn gần như mọi chuyện? Bạn cũng có kinh nghiệm từ đâu phóng ra câu từ những ý tưởng ta chưa hề biết đến rồi chứ; hà, điều này thì một đứa trẻ cũng có đấy nha, chúng còn thốt lên những câu “tưng tửng” mang nghĩa thâm sâu ngang với công án thiền nữa đó.
Ô, lá rơi đẹp chưa kìa. Cô nhân viên chêm thêm trà, tôi nhìn, chợt trong đầu hiện lên một người con gái giông giống cô; ấy là tri thức cũng là tất cả những gì tôi biết về cô, và từ nãy giờ ngồi nhấp cà phê có liếc nàng nữa. Này, nếu bạn sống ở rừng từ nhỏ, lần đầu tiên về phố gặp nhau tớ bảo ta làm ly cà phê hè? Bạn sẽ hỏi cà phê là gì đúng không? Tớ nói mùi vị tuyệt lắm; bạn lại hỏi có giống mùi trái cây này mùi hoa nọ bạn gặp trong rừng. Còn giờ mới thoảng mùi cà phê rang xay bạn đã biết, đúng không? Vì bạn có tri thức về nó mà… Rồi, giả như một đứa trẻ lần đầu tiên nếm vị đường, trong lúc khuôn mặt nó tươi lên thì tớ hỏi, chua không con? Chua hí. Nó sẽ gật. Và cứ thế nó lớn lên lưu cửu vị ngọt với “giả danh” chua ấy, và nó sẽ cãi đến cùng để bảo vệ một khái niệm mơ hồ thực chất là bảo vệ cho cái Ngã cũng hư huyễn nốt.
Lá, vẫn rơi, như muốn nhắc lại một thông điệp nào đó. Tôi kể bạn nghe về cây đào trước nhà, năm kia tự nhiên nở rực lạ lùng. Hoa nở như chưa từng được nở, nở như chỉ còn một xuân nữa trên đời. Tự nhiên tôi linh cảm điều bất ổn. Nhưng rồi cố xua. Để chi chuyện buồn nơi tâm, phải hôn. Rồi tôi cũng bẵng quên mấy tháng cho đến ngày nhận cuộc gọi ba nhập viện, khối u trong đầu. Ba tớ đi!
Bạn nhìn ra đường vắng. Có chút nắng giữa không gian se lạnh. Bạn đã đọc bản thảo tiểu thuyết của tôi rồi chứ, nhân vật T là thật đó. Một lần tôi qua uống trà, chuyện này không có trong tiểu thuyết đâu, vì thời điểm này tôi đã viết xong rồi. Ông T từ dưới bếp lên với khuôn mặt lo lắng, chìa ra một quả trứng. “Chú mi coi gà răng đẻ quả trứng to như vịt ri hè”. Ông cứ nhắc tới nhắc lui. Tôi có kiến thức về điềm này từ trong dân gian, vẫn cố lờ để người bạn vong niên yên tâm. “Ông cho nó ăn dữ quá sướng quá thì đẻ quả trứng to thôi. Mắc chi bận tâm cho mệt. Cất đó mai mốt cho nó ấp không chừng ra con gà đặc biệt con xin chụp ảnh viết bài đăng trang nhất báo tết năm Dậu”. Nói vậy chứ tôi vẫn ngờ ngợ bởi tri thức về điềm này cứ hiện lên như một vọng tưởng. Hơn tuần sau ông lên phố hát hò, về ngã, bị dập tủy cột sống cổ; tim yếu không mổ được. Ông nằm nhà, liệt dần, chết dần và chết khá nhanh. Thời gian ông dặt dẹo sống tôi còn chứng kiến trong vườn ông, bụi chuối từ cây nhỏ đến cây to tất tật đều đua nhau trổ buồng. Không hiểu. Tớ không biết. (Chỉ cái không biết là tớ hãnh diện mà). Lúc sự ấy hiện lên tớ dú mình trong cái không biết như khoảng không trước mặt vậy. Ngoài những vật hiện hữu, khoảng không trước mặt tôi hoàn toàn không biết nên tốt nhất buông mình vào đó cảm nhận “ta” và hư không đồng thể. Bạn thì sao, có giống tớ không? “Đã không biết thì có gì tự hào?” Ừm, nghe câu này tớ rất vui. Đúng là cái không biết chẳng có gì tự hào. Có gì đâu. Mà nói có cũng đúng thôi bạn. Chẳng như hồi nãy tớ đang chụp phôn nghe giảng kinh, bạn vô thấy nói liền: Báo vừa ra lò có việc gì nữa mà làm, ra cà phê thư giãn đi. Mình đã nói gì bạn còn nhớ chứ. Câu trả lời của mình phát tức thời không dựa vào bất cứ tri thức nào: “Thì đây, mình cũng đang thư giãn đây”. Bạn tưởng phải cà phê mới là thư giãn à. Bạn tưởng bên ngoài mới có nắng mưa mới có bão bùng, còn nội giới không có bình an à. Bạn tưởng nỗi sợ trong mơ khác nỗi đau ngoài đời à? Khác sao người ta phải uống thuốc an thần để mong vừa nhắm mắt là… mở mắt thấy trời sáng? Bạn tưởng bạn vui buồn qua mắt tai mũi lưỡi và ý nghĩa trong mơ khác ngoài đời sao? Giả như bạn không gặp ác mộng mà gặp thiên đường trong mộng, bạn có muốn mơ lại giấc ấy để thụ hưởng? Có người phải chạy rồi thở hồng hộc mới là thư giãn. Có người họ biết đứng lại để thư giãn. Có người cho sự phát triển là thụt lùi; có người đi ngược với đời cho là tiến hóa vận mạng. Mà lạ nhỉ, chúng ta mỗi bước mỗi già mỗi bệnh mỗi gần hố tử; trái đất mỗi vòng quay là dấn về phía hoại không; vậy ra phát triển hay thụt lùi bạn nhỉ? Hi hi. Nào, ra cà phê. Thế đấy, thế nên giờ bạn và tớ mới ngồi nhâm nhi ngắm lá rơi đây. Mà thôi, cũng tiêu chán thời gian rồi”.
3. “Chúng ta ngồi đốt thời gian đừng phiếm luận nữa, thực tế chút đi”. Bạn nhắc đến nơi chuyên mổ trâu bò, ở đó chó trong xóm đến ăn huyết bầm tươi khiến mờ mắt hết thảy. Có vị nào nghiên cứu giùm cái luận án báo cáo rộng rãi giúp bà con tỏ tường. Nhắc đến chó, lại nhớ những lời rao “Ai bánh mì đặc ruột thơm bơ”, “Ai võng xếp”, “Ai bánh bao nóng nào”, dẫu ồn bất ngờ song lũ chó chẳng bận tâm. Nhưng đầu làng mới cất tiếng “Chó bán không” lập tức bản hợp xướng sủa rầm làng, chúng ùa ra đuổi riết người mua chó. Ai cho một lời giải thích nằm ngoài cái gọi tri thức. Bạn còn kể nhà có con mèo hay lắm. Tầm bốn năm giờ sáng bạn thường dậy rửa mặt vào ngồi tĩnh tâm (nhưng vì buồn ngủ quá liền vào ngủ). Con mèo nằm trên mái. Bạn để ý mấy bận chợt thấy, bạn vào giường nằm đợi không thấy con mèo theo vô, nhưng hễ (rửa mặt xong) vào ngồi tĩnh tâm vài phút đã thấy nó cà cọ dưới chân rồi nằm xuống bên. Lạ? Bạn hỏi. Tôi cười bảo làm sao biết được chuyện trời đất. Ngoài kiến thức nghe nhìn đọc học kể cả hình ảnh khoa học minh họa hẳn hòi, tôi có gì để nói với bạn một câu ngoài thứ không phải của mình đó. Tớ chỉ có cái không biết là tài sản vô ngần quý giá thôi. Nhiều lúc từ đó phóng ra những câu ngớ ngẩn lắm, chỉ biết giữ lại ở ý chứ phát ra âm thanh khéo bạn lại cho khùng mất. Này nha, bạn tớ kể có lần cô đồng nghiệp vừa vào phòng liền báo tin đặc biệt (tin này mới riêng mình cô biết). Vừa nghe bạn tớ trong chớp nhoáng, mặt lạnh lùng bảo “Biết rồi”. Cô đồng nghiệp ngớ người bởi tin này chưa thể ai biết; liền hỏi: “Ủa, sao biết?” “Đấy, thì bạn vừa nói đấy”. Hì. Mình nhớ chuyện sư cô kể về con mèo tại khoa cận tử một bệnh viện lớn ở nước ngoài. Lên báo đàng hoàng nha. Hễ con mèo tới ngồi bên bệnh nhân nào thì dẫu người đó được bác sĩ chẩn đoán “yên tâm”, ít ngày sau cũng chết! Người ta phong nó như là thần hóa hiện tiếp dẫn hương linh... “Ý ông muốn nói vạn vật hữu linh? Hư không cũng có trí?” Ủa, tớ bỏ chỗ ấy đi lâu rồi nãy giờ bạn còn đứng khúc đó trầm tư à. “Người ta bảo ai cũng có linh giác?, vấn đề là có sử dụng hay không”. Không biết. “Hay gọi là tánh giác bổn nhiên ngay cả với loài vật?” Đã bảo nâu biết. À, tớ cũng biết chút chút, là thế giới đã chứng minh Nước biết mọi ý niệm thiện ác khởi sinh trong tâm con người đó. Ngoài tin này ra, tớ nâu biết. Loại trừ cái-biết-tri-thức ra thì thân này rỗng không à. Thôi, tớ biến đây.
TẠM KẾT MỘT PHẦN ĐỜI.
HUYỄN GIÁC VỀ TÁNH GIÁC
Tôi không dành được nhiều thời gian cho sự tỉnh giác, bởi tôi vẫn sợ sự tĩnh giác như sợ phải buông một thứ gì đó tưởng là quý giá trên trần gian. Ngẫm lại mình luôn thấy ngượng ngùng khi soi gương. Trong mỗi ta đều có cái tự biết, như gương. Như cách hành của bạn tu “của tôi”, chuyên trì niệm một câu kinh và lấy đó làm thực tại duy nhất. Câu kinh duy nhất ấy như một siêu nhiên tự lau gương mà không mảy may cần để ý đến vọng trần, khiến gương ngày một sáng, nên vọng hiện ngày càng rõ. Ban đầu vọng hiện trong gương là cành lá, dần dà hiện thân rồi đến gốc, rồi hiện đến rễ; và một khi vọng hiện đến gốc rễ, vọng ấy mất chỗ nương bám do đó nó tự “chết”.
Thật xót, tôi tu lâu nay vẫn là một vọng trong đại viên kính trí của Tánh Giác. Trong ta bà thế giới, sự hưởng thụ tôi và bạn tự phong, ấy là sự quay về với loài vật. Đau không?! Bạn và tôi phải hạ mình xuống với “tầm vóc” của loài vật để xưng danh hai từ hưởng thụ! Đau nhỉ. Thầy tôi nhắc lời một vị đại đức, rằng vạn người tu chỉ vài ba người thành tựu. Nguyên do ở đâu? Bởi hổng nền tảng Nguyên Thủy, sa hố tình chấp, tham dục. Dục chính là sợi dây thừng trói cột chúng sanh vào quả địa cầu. Nên nguyện dẫu lớn song bị tưởng ấm chi phối chứ thực ra chúng ta chưa [muốn] chặt sợi dây thừng mê chấp cõi dục. Nhưng có một nỗi đau, là thời nay chẳng mấy ai [và tôi] còn hứng khởi hành pháp quán Tứ niệm xứ, đặc biệt quán thân vô thường - bất tịnh; và do không lấy đây làm căn nền, thân kiến luôn được bọc êm ái trong nhung lụa của thần Chết bằng nỗi sợ thường trực do vậy bị nghiệp tam đồ nắm giữ vận mạng, nên tu theo pháp môn nào cũng khó giải thoát. Đọc sách về thánh tăng mới hay họ buông được thứ dục lạc chúng ta đang nắm giữ, đó mới là sự hưởng thụ tối cao đích thực. Ân sư của tôi suốt đời chỉ dạy mỗi chữ Buông. Buông xuống là trí tuệ chân thật. Buông xuống phân biệt chấp trước với mọi trần cảnh, bởi mỗi pháp đều đang viên dung với nhân duyên quả chính nó đang “sở hữu” từ tiền kiếp và từ khắc khắc ý niệm khởi sinh. Buông là thấy pháp. Trong chân tâm không có tham sân si mạn, chúng ta mang nó từ luân kiếp và tưởng con cái của mình.
Chấp những thứ giả hợp làm mình và dựng lập thành kiến quy chụp vạn pháp để thỏa mãn cuộc chơi bất tận của tâm thức. Buông cái Giả - ngay đó Thấy cái Thật. Đây là vòng trôn ốc lên mãi, như mũi khoan xoáy vào Lâu đài Luân hồi Ảo ảnh, đột phá nghiệp dĩ.
Thế gian huyễn mộng. Kinh điển dạy giấc mơ và đời thực trong ta bà đều do tâm biến hiện. Nhiều khi tôi vẫn cảm nghiệm sự tương đồng tuyệt đối giữa cảnh mộng và thực, bởi sự đau buồn hay hạnh phúc giữa hai cảnh hoàn toàn như nhau. Có lần tôi bị người thân đánh không thương tiếc trong mộng. Những ngày sau gặp họ, tôi lại không thấy giận. Giả như họ đánh tôi ngoài đời, ít nhất tôi cũng tránh mặt dài dài… Bên trong ảo, bên ngoài cũng ảo, mà tôi lại chấp một đằng, buồn quá! Buồn bởi tôi còn lù lù cái “tôi” to tướng, bởi tôi luôn nhốt mình trong chiếc lồng son của ngũ ấm rồi tự huyễn thêm ảo danh vượt thoát. Bậc chánh giác thấy mọi tướng đều hư vọng. Cái tôi đây hư vọng, dĩ nhiên bạn cũng hư vọng. Tôi đã hư vọng lấy gì để “thấy” các tướng như thật nữa. Còn khi tôi muốn thấy theo nghiệp, dĩ nhiên phải quán/ thấy cho ra các tướng vốn thanh tịnh. Mỗi mỗi đều thanh tịnh với chính nó, cho nên nó thanh tịnh với toàn thể. Bởi cái gương tôi bám vọng trần nên mới phản chiếu tướng của các pháp ô nhiễm. Một lần có người tự dưng nhắn tin gây rối, rất lâu tôi mới hạ hỏa thấy ra, ừ, người này đâu gây rối với bạn và bao người khác, họ chỉ gây rối với tôi mà. Âu là nghiệp chiêu cảm. Nếu nghiệp tôi thanh tịnh trở về chân tâm sáng trong, thì sự gây rối đó đơn giản là đang soi vào trong chiếc tâm gương, nào có tội tình chi. Bởi tôi không thấy được ngoài tánh giác ra, cái tôi này là hư vọng, nghĩa là không nhận tánh giác nên mê. Khi mê liền bị nhốt trong ngục tù của ảo. Tôi và bạn đều thấm, ảo ảnh là cái không, như sân, như ngã; khốn nỗi chúng ta có thể tàn rụi và chết bởi cái không hề có ấy, cái tự ảo hóa ấy. Nếu cái sân là thật, không ảo; lúc tôi nổi giận, là tôi đang giận, vậy lúc hết giận rồi tôi ở đâu? Cơn giận nếu là tôi thì cơn giận mất tôi cũng mất chứ. Thế mới biết giận là ảo ảnh có cội nguồn từ si. Cũng như ngã vốn tập tánh chứ không phải tự tánh, vậy mà nó hiển hiện như một lâu đài với năm bức tường ngũ ấm và chúng ta cứ thế mang theo cho đến trước hố tử thần vẫn chưa nghĩ đến chuyện bước ra.
Khi bạn và tôi quen thói dựng lập những khuôn thước ảo từ sáu căn, nó sẽ chống trái tiêu diệt những thứ không vừa với khuôn nghiệp ấy, và đó chính là chúng ta tự mâu thuẫn, tự phiền não do bẫy rập của Ngã. Bạn và tôi không thâm nhập được vào hang ổ của ngã chấp thông qua hàng rào khuôn nghiệp, song nhận diện thấu rõ nó chúng như những tiểu ngục tù ảo, để tìm đường cho ánh sáng của trí tuệ Phật pháp soi vào, mà điều thiết yếu phải bắt đầu từ Giới. Tôi và bạn là phàm phu chính hiệu, lại không chịu nghe lời thánh trí, Phật trí. Không chịu tin kinh nào cũng đều là chìa khóa mở kho tàng phước trí sẵn có. Ngay lúc khởi tu giới, giới cũng chính là tu định và cũng đồng thời phát tuệ, nếu ta khéo tu và đi đúng lộ trình buông bỏ tham-chấp. Xét ở Giới thôi đã nhận diện được phần nào lối thoát chật hay hẹp của một hành giả. Dụng ngũ giới thực hành đạo đức là Nhân thừa; Thiên thừa thọ trì Thập thiện và từ bi hỷ xả. Tu Tứ đế, bát chánh đạo trên đường tiến đến vô ngã cầu chứng từ sơ quả Tu đà hoàn trở lên thì thuộc Thanh văn thừa. Thuần giới luật, dụng linh hoạt trong "khai giá trì phạm" làm căn nền cho lục độ ba la mật là hướng Bồ tát đạo. Những hành giả giữ giới Đại thừa đến nhuyễn nhừ sẽ tự biết chỉ riêng mình giữ giới và giữ từ sâu trong ý niệm. Họ không chụp khuôn đắc giới lên những người phá giới, bởi một khi dấy phiền não thì có vin vào lời kinh cũng là đang ô nhiễm "nội Phật". Giả như ta giữ giới tinh khiết, đó là sự đang trở về bổn tánh vốn tinh khiết muôn lần. Giới chính là một pháp tu để trở về, và trong giới của những người thuộc Bồ tát thừa luôn là sự hòa quyện của định và tuệ; Giới là nhân, định tuệ là quả. Giới trì giữ khô cứng tự lợi sẽ không theo được lộ trình này. Ân sư tôi dạy đừng nói hành vi, ngay đến mọi ý niệm cũng là lợi tha, thậm chí hại mình lợi người mới là đang học hạnh siêu thoát. Trong chân tâm không có niệm ác, nên giới chính là gạn niệm ác để trở về chân thiện; mà chân thiện là dụng tự nhiên của chân tâm nên nó vốn thuần thiện lợi tha không mảy may tự lợi, nó không phải cái thiện đối lập với ác. Xem thường tu giới, cũng như xây lâu đài bằng nguyên liệu ảo ảnh. Xét ở giới Nói dối mà trong Thập giới chia thành 4: ỷ ngữ, lưỡng thiệt, vọng ngữ, ác khẩu; như vậy từ giới thân đã chuyển vào giới Tâm. Tỉnh giác tu giới này ta sẽ thấy hễ chuẩn bị nói, bao giờ cũng bắt đầu từ tâm ý. Ý vừa khởi, cái tự biết đã biết, chưa kịp chuyển lên não để sai sử miệng phát thì ý niệm giữ giới đã bắt lại, bảo ngưng; hoặc hành giả sẽ tự gọi, giới đâu rồi?, lập tức giới xuất hiện như thần đèn. Thù thắng hơn là như bạn tu của tôi, hễ bất giác tức bất cứ vọng nào khởi lên đều lấy đó như sự nhắc nhở trở ngay lại đề khởi câu kinh duy nhất cũng là thực tại duy nhất. Thế là miệng ít có cơ hội. Tập dần thành nếp, mọi giới đều chuyển vào tâm ý. Cái tự biết biết ý khởi sinh và cái tự biết cũng tự nhắc đừng theo ý bởi nó đơn giản là vọng. Nếu ta để ý đến nó, nó càng làm dáng, càng trở nên hấp dẫn và ta bị hút theo rồi bị lôi vào những thiên đường mù mịt. Thật ra giữ giới nhuyễn hơn sẽ nhận ra cái gương sáng suốt của tánh giác. Bạn tôi nói lúc này tựa như mặt ao trong, vọng niệm như những sinh vật chỉ búng mình lên rồi lặn, không diễu hành để rồi kéo tâm đi mãi. Có lần đang ngồi quán cà chợt thấy chị công nhân vệ sinh đường phố ngang qua, tức thì tâm ý hiện bài thơ về “chị lao công đêm đông quét rác”; tôi trố mắt nhìn ngược vào. Bài thơ này học hồi nhỏ, từ đó đến nay vài chục năm chưa một lần gợi lại, xem như mất hẳn, đột nhiên phóng hiện chớp nhoáng, nó lưu ở đâu trong tôi và sao lại nhanh đến vậy. Quan trọng hơn, nó vừa phóng hiện “tôi” đã biết; thực tế là cái tự biết biết. Vọng mới hiện cái tự biết biết liền. Không phải một vọng mà thậm chí nhiều vọng và bất cứ lúc nào, chúng hiện đều bị cái tự biết phát giác ngay, và nó sẽ mất năng lượng nếu ta không còn theo. Tại sao không theo, như với bạn tu của tôi lý giải, bởi mình đang chuyên niệm một câu kinh, nhờ năng lực “lau chùi” của câu kinh duy nhất luôn trì niệm. Việc Phật giao cho mình là chuyên niệm một câu kinh, mình thật thà chăm chỉ niệm mọi lúc mọi nơi. Mình không có việc gì khác ngoài chuyên niệm và thầm niệm một câu kinh. Câu kinh thầm niệm nhanh thì như gió song vẫn hiện từng chữ như trên màn hình siêu nét. Niệm chậm thì từng âm nổi như tiếng chuông và “tánh nghe” nghe trọn vẹn [từng chữ] rõ đến mảy lông tơ. Trừ những lúc buộc trí não phải hoạt dụng lo việc đời, còn lại mình chuyên niệm câu kinh đó. Chuyên niệm thì không còn thời gian đón tiếp vọng niệm dẫu niệm thiện hay ác vui hay buồn đến chơi. Việc vọng đến, mình không tiếp mà chúng vẫn muốn ngồi đó xem mình niệm một câu kinh thì cứ việc. Mà chắc xem một chặp vọng sẽ chán cái việc tâm mình chuyên vào một câu kinh; còn mình thì không chán, ngược lại càng niệm càng an lạc, càng ngọt. Đó là cách nhạt dần thọ lạc do sáu căn mang lại; trong lúc nhĩ căn (nhờ chuyên nghe một câu kinh) trở thành con đường dẫn khởi vào chân tâm. Cách tu này dường như đi thẳng tìm bổn tánh, trực tiếp nhanh gọn hơn cách tu từ việc điều phục sáu căn để có định; có định dễ chấp vào định bởi đó là một tầng tâm linh vi diệu nằm trong thọ ấm, nên tuệ giải thoát bị chướng ngại. Chỉ tuệ mới khiến ta giải thoát! Vạn pháp duy tâm. Tâm như ti vi, nếu ta chỉ thuần chiếu một kênh duy nhất, cảnh giới sẽ không bị nhiễu và đó là cách mà bạn tôi chuyên một hướng niệm một câu kinh theo lý “vạn pháp duy tâm”. Tâm chuyên nhất về “nghiệp Phật” ắt hiện cảnh giới Phật. Niệm cho đến một ngày tâm không còn nhu cầu suy nghĩ kể cả trong giấc ngủ và cơn mộng, đó là hướng đúng của giải thoát một khi hành giả không còn sử dụng thức. Tôi chợt nghĩ, vọng hiện đã bị cái tự biết phát hiện; nhưng vọng nương vào đâu mà khởi. Vọng ấy nhờ vào đâu mà hiện hình? Tôi tưởng đến một hồ nước trong, dẫu chỉ trong bề trên, và lâu lâu trên mặt nước trong ấy có con cá con tôm búng lên, chúng vừa hiện là họ thấy liền. Vậy tâm ta cũng như mặt hồ. Có trong mới thấy vọng xuất hiện. Càng trong vọng vừa móng khởi cái tự biết đã thấy, “tôi” cứ đứng đó chiêm ngưỡng, chẳng phải lo bận gì. Như vậy vọng được hiện trên một tấm gương, có lẽ đây là chân tâm chúng ta cần giữ lấy. Mà để giữ, phải quay lại từ giới. Bởi đơn giản trong bổn tánh không hề có niệm ác, không hề có một niệm tự lợi (mà chỉ thuần lợi tha) nên phải thọ giới để có cái tương ưng, rồi sau nốt phá đi cái “ta” đang sở hữu cái thiện tương ưng ấy… Có giới sẽ khiến mặt nước trong dần từ phía trên xuống đáy theo mức độ công phu. Nước trong dần xem như định. Có định sẽ tự thấy biết vọng niệm khởi (tự sinh tự diệt).
Nhờ định liền sanh tuệ, dẫu là tuệ cạn cợt và còn vẩn đục. Tuệ sẽ dần nhận ra mình có chân tâm [như gương] (để thấy biết vọng mà không hề nhăn nhó, vì gương mà nhăn gương sẽ vỡ!).
Tu là bớt chứ không thêm vào. Bớt đi mọi chấp trước và phân biệt để trở về với sự bình đẳng của chân tâm trong sự tương ưng với vạn pháp [vốn bình đẳng]. Thầy tôi bảo phải bớt đến tận cùng. Học pháp học cũng để nhận ra mình phải buông những gì. Bởi chân tánh vốn rỗng rang và chính trong cái rỗng rang đó đầy đủ phước trí. Giáo pháp của Đức Phật thiết yếu dạy chúng ta: Biết và Buông. Biết để buông, biết buông. Sau đó thì Biết và Buông nhập làm một. Biết chính là Buông mà Buông cũng chính là Biết. Có những điều đơn giản song không dễ vào. Phật tử hầu như ai cũng biết chúng ta nặng Ái mới luân hồi trong cõi Dục. Bạn tu của tôi tâm sự: chúng ta đến Ta bà bằng con thuyền Ái, và cần nương vào con thuyền đó thông qua chánh trí buông/ phá tham chấp để rời cõi Dục. Gốc rễ luân hồi này muốn gỡ khỏi tâm chúng ta không dễ. Bởi ta Ái nên Thủ. Ban đầu học Phật thấy hay hay, sau động chạm đến chữ Ái thì tôi bắt đầu rụt tay. Rõ ràng có bàn tay vô hình đang sờ vào lợi dưỡng. Tôi không dám buông con dao sắc của tham chấp (từ tham chấp thế gian đến tham chấp Phật pháp, bởi nằm trong thức (với tâm suy nghĩ và óc phán đoán) thì thứ gì cũng có vị ngọt). Tôi không biết con dao tham-chấp ái dục cùng với sân si mạn, ngũ dục lục trần không hề có cán, mà chỉ toàn lưỡi sắc bén. Tôi sợ bị tước đi trò chơi dao tuổi nhỏ, tôi sợ bị tước những thủ đắc lợi dưỡng. Tôi bắt đầu cảnh giác. Tôi tiếp tục học Phật và song hành tiếp tục bồi đắp dày thêm hàng rào ngũ ấm để che chắn dục lạc. Đó là căn bệnh trầm kha khiến chư Phật nhiều lúc phải chờ ta một cơ duyên khác ở kiếp khác. Nói vậy không có nghĩa Phật không luôn ở bên chúng sanh. Sự thực thì Phật tánh có ở khắp vạn sự vạn vật, phần thô sơ là tánh giác. Chẳng hạn tôi phàm phu, song vẫn biết nếu không có tánh giác thì những tri thức học được sẽ không thể tự sắp xếp thành một bài viết như thế này. Tôi khâm phục tánh giác tuôn ra những thứ ngoài tri thức, nhào trộn tri thức để kiến tạo nên cái gọi tác phẩm. Nhiều lúc ký tên mình lên một bài viết thấy hổ thẹn làm sao. Đâu phải tôi. Với chút tri thức nếu không có sự vận hành của tánh giác, hoàn toàn là tri thức chết. Lại nghĩ bất cứ ai cũng từng nhận sự gia trì từ bổn giác trong mình, chỉ là không để ý đó thôi. Lờ mờ hiểu điều này, tôi chợt nhận mình chẳng hơn ai. Thậm chí có lần tôi chỉ muốn sụp xuống khi thấy một con chó nằm ở hiên; tôi người lạ đi ngang, nó chỉ đảo tròng mắt ơ hờ, tôi lượn lại nó cũng vậy. Tôi làm rối, nó cũng không nhúc nhích, tuồng như tôi là con rối thật, tuồng như nó linh cảm mọi cái trước mắt thảy đều hư vọng. Tôi hơn ai chứ? Ai chẳng có tánh giác như tôi và như con chó kia? Lại nghĩ một người hành nghề hốt phân, họ có tự hào chăng? Trong lúc tôi lại cho cái sự ngồi tĩnh tâm của mình là cao sang và hơn cả một niềm tự mãn. Một bài báo do tôi viết, hoàn thành và được đăng trang trọng, dĩ nhiên ký tên tôi; song có thực nó là của tôi? Cũng như: Một người thầu nhận từ “ông chủ” đang muốn xây nhà số tiền lớn. Anh ta mua đầy đủ các loại vật liệu cát sạn, xi măng, sắt thép, gỗ, sơn v.v, và thuê tốp thợ xây lành nghề. Ngôi nhà hoàn thiện, anh ta với tư cách chủ thầu liệu có khác tôi viết bài báo. Bạn sẽ bảo nhưng tiền là của ông chủ. Lại hỏi tiền có thực của ông chủ nhà. Giả như ông mua vé số và trúng, tiền ấy có phải nhờ ngàn nhà góp lại? Còn nếu xét ở duyên may do ông có làm phước từ đời trước hoặc trong kiếp này nên gặt quả lành, thì ông xét đến cùng chỉ là "trạm/ bến" trung chuyển (Duyên) của Nhân - Quả. Nhân quả đồng thời. Chắc chắc kiếp trước hay kiếp này ông đã tích nhân lành nên giờ nhận quả (trúng số). Tấm vé là quả ấy, nhưng ông khởi ý dùng vào việc gì, ngay lập tức thành nhân (xấu hay tốt). Tôi từng biết một người trúng số, liền đốt ngôi nhà cũ để xây lên ngôi nhà ngạo nghễ, và lúc ngôi nhà bốc lửa mới hay tấm vé số trong túi áo móc trong nhà. Trắng tay. Nhân là tấm vé số độc đắc, lập tức thành quả đắng! Nhân với Quả là một. Trở lại với người chủ thầu mải mê làm xong ngôi nhà, họ “hiểu” lý này nên mới phủi tay; thâm tín hơn về nhân quả anh ta sẽ trích phần lãi tiếp tục quay vòng phước đức. (Cái sự biết xả này cũng chính là Trí tuệ). Còn với chủ nhân của những bài báo. Nếu tôi nhờ bạn viết một bài về mẹ hay vợ tôi, bạn viết được chăng? Bạn đã biết gì về họ đâu mà viết! (Việc này dạng như đưa một công án khiến hành giả bặt đường biện giải). Bạn bắt đầu lần đến những mối quan hệ kết nối với hàng xóm hay bè bạn của tôi để tìm hiểu về mẹ/ vợ tôi), và bắt đầu có những thông tin đầu tiên. Đến lúc bạn tạm đủ tư liệu viết (tổng hợp) lại thành bài âu cũng là cái biết của tảng băng nổi về họ. Song chừng ấy để thấy nếu không có những tư liệu từ ai đó đâu đó, bạn hoàn toàn mù tịt. Cũng như ta không thể tưởng tượng ra cõi Phật và cung cách sinh hoạt của "chúng sanh" tại đó. Còn nếu ta tính công do mình cạy cục viết nên, cũng nên nghĩ tới những người công nhân vệ sinh họ cũng như chúng ta vậy, trong lúc họ không đứng tên mình cho những con đường sạch hàng đêm. Còn nếu bảo tôi viết hay hơn người khác, càng hiểu không gì nằm ngoài sức gia trì tùy vào duyên nghiệp từng người tạo dựng trong cuộc sống có gần với chân tánh vũ trụ hay không; không ngoại trừ chúng ta là kẻ "ăn may" kiếp trước. Tôi bởi khoanh vùng nghiệp thức; bởi có bí mật và âm mưu nên kiểu như không dám nối mạng máy tính của mình với toàn cầu, mỗi lúc làm việc gì đều thấy cái tôi đứng đó nặn óc suy tính; còn trên diệu lý tánh đức, trí tuệ vốn sẵn và mọi thông tin vốn sẵn trong đó, ai cũng vô biên sử dụng. Bạn tu của tôi có lần cảm nhận ngồi viết bài pháp, do nhẹ chấp ngã nên não-thức gần như mở toang cửa khiến tánh giác có cơ hội tự hoạt dụng; cảm giác lâng lâng và không nghĩ mình đang viết, chỉ nghe tiếng rào rào của bàn phím như mưa tuôn thác đổ.
Bạn với mình, về cuộc sống gia đình không hơn thua nhau nhiều. Mình cũng có công việc khá ổn, cứ đến tháng nhà nước trả lương. Đời sống tùng tiệm xem như xuôi. Vậy tu làm gì? Phải. Mình tu cho kiếp sau bạn ạ. Kiếp này vậy tạm đủ rồi. Mình không có ý nghĩ phấn đấu làm nhà hay sắm sửa tiện nghi này nọ. Không tích trữ. Người ta có thể chửi nhưng mình vẫn sẽ nói những gì Phật dạy. Bạn vẫn nghĩ chết rồi cũng sẽ được đầu thai làm người phải không? Thật không dễ vậy. Nếu suối đời bạn giúp người hành thiện chăng nữa mà không nương Phật, không thiền định hay chẳng niệm “A Di Đà Phật” thì phước báu lắm chỉ lên được cõi Trời. Sau kiếp sống ở thiên giới sẽ về đâu? Cái gì không nhìn thấy và không sờ thấy người ta thường phủ nhận. Mình sẽ không giải minh giữa mình với một người hành nghề sát sanh, ai đúng ai sai. Họ có “triết lý” sống của họ. Họ tuyên bố giết một con vật là “hóa kiếp” giùm nó. Thôi cứ vậy. Hoàn toàn do ngộ tính thôi. Mình đồng nghĩa với loài vật. Mong rằng họ sẽ hóa kiếp giùm “đồng loại” của mình bằng cách cho nó uống một loại thuốc làm tê liệt mọi đau đớn trước lúc nó thọ quả báo đời trước lỡ gieo. Nếu người ta hành hạ một con vật đến chết rồi ăn mà vỗ ngực xưng đại nhân anh hùng thì mình nghi ngờ hết những con người đó. Phật nói "còn sát hại chúng sanh, đâu được xưng là Thánh hiền". Và nhiều bậc thánh nữa, những người xưa nay ta rạp mình nể phục, nhưng nếu dẫn ra một câu họ nói về phương diện con người tự chạy theo lối sống của loài vật, thật tội lỗi, không chừng bạn và mình sẽ nhìn họ với ánh mắt hờn giận.
Bạn là một nhan sắc hồng trần. Lật Kinh mình hiểu đẹp nhường ấy phải phước báu nhiều lắm ở đời trước, hoặc là rớt xuống từ cõi trời. Danh và Sắc nhiều lúc dễ khiến người ta kiêu mạn. Từ kiêu mạn sẽ khởi ý mình xứng đáng được chiều chuộng hưởng thụ, xứng đáng người đời hầu hạ. Đó là lý do khiến hậu vận của người đẹp, kiếp sau thua thiệt ngàn lần so với người bình thường. Những trường hợp “sao” tương tự chắc bạn cũng dễ liên tưởng…
Thôi nhé, chắc bạn mệt mỏi lắm rồi. Mấy trang thư có khi khiến bạn ngán đến độ tối nay không ngủ được cũng nên. Nhưng mà nếu bạn thao thức trằn trọc, thì mình đội ơn trời Phật… Mong bạn nghe mình: hãy chuyên niệm “A Di Đà Phật”. Hãy thôi nghĩ mông lung bằng thói quen chú tâm niệm Phật trong suốt ngày đêm. Bạn thân mến ơi, chính đó là con thuyền chở ta qua sa mạc xuôi dòng tâm linh miên viễn.
NGÓ TRỜI PHIẾM LUẬN KHÔN CÙNG
1. Ngồi cà phê nhìn mưa rỏ xuống mái hiên, tôi hỏi bạn đẹp chăng? Bạn rằng, “tuyệt”. Tôi nhớ đến những kinh điển về mưa trong tranh, thơ, nhạc… Rồi nhớ đến một chiều nắng xiên mặt sông lấp lóa, những đêm trăng vàng chái trên biển rực lên cả một vùng trời. Hỏi bạn cảnh ấy đẹp chăng? Bạn gật, “không tả xiết”. Là bởi thiên nhiên vốn dĩ hoàn hảo. Cái đẹp tự nhiên khiến ngôn ngữ bị phá sản. Mọi ngôn ngữ và tài năng không đủ bao dung vẻ đẹp ấy. Là bởi chúng ta muốn trang hoàng cái hoàn hảo, vượt lên khỏi mọi sự sáng tạo bằng tâm thức để vun bồi tự ngã. Hồi nhỏ đọc tác phẩm Nhà thờ Đức Bà Paris tôi liền ước sao có thể qua Paris ngắm nhà thờ. Rồi ước sẽ viết một tác phẩm hay hơn, bạn sẽ cúi đầu như trước tháp ngà. Ừ, thì cứ cho ảo tưởng đó thành sự thật, hẳn nhiên bạn đọc được tác phẩm của tôi, thán phục, và cũng như tôi, sẽ ước được thăm Nhà thờ Đức Bà cho thỏa nguyện. Tại sao thế? Bởi không gian tác phẩm dẫu lãng mạn tới đâu cũng chỉ là bản sao của vẻ đẹp không thể diễn tả hết. Mọi tác phẩm về ngôi nhà thờ trầm mặc trước thời gian đều là sự trang hoàng trước hết cho tiếng tăm lợi dưỡng của tác giả, thực tế khó thể khiến thức giả thỏa mãn trọn vẹn so với sự hiện hữu của bóng dáng vô thường. Một ngôi đền cổ kính với nhiều chứng tích đã được thời gian phủ lên sự tịch tĩnh mang phong vị thiền, xem là tuyệt phẩm của thiên nhiên không gì thay thế. Tôi vẫn thích nhìn những tháp rêu phong đang từng khắc tàn rụi. Nó đẹp ngay ở sự biến hoại theo ngọn gió vô thường, buông theo vô thường nên trung trinh lừng lẫy. Chợt thoáng hiện bóng những vị chân tu an nhiên trên những đỉnh núi mờ xa tùy duyên tuyệt tĩnh với trần ai huyễn ảo…
2. Ly cà phê có chút mà uống mãi chưa hết. Lá vẫn rơi từ bên kia đường. Cây có ghi tên đánh số. Tôi hỏi nếu bạn chưa từng biết đến tên cây này, ta có gì về nó? Tôi nghe điện thoại, một nơi gọi bài; liền nhờ bạn viết tản văn về cây Vô Ưu. Bạn bảo chưa từng biết đến loài cây ấy, hoàn toàn không có chút khái niệm gì. Ngay lúc đó có người tật nguyền bán vé số đang bước tới, tôi hỏi “bạn biết người này chứ, không nhớ à?” Bạn đang lớ ngớ lắc đầu; tôi mua một vé; rồi họ đi. Tôi hỏi bạn ngày mai gặp lại bạn biết người này chưa? Bạn ừ. Bởi bạn đã có tri thức về người này. Chỉ ba phút, nếu camera ghi lại hình ảnh. Chừng đó đủ để bạn viết bài văn ngắn, người nhiều chữ hơn thêm tả cảnh có thể lên mười trang. Bạn đọc xong rồi chứ, hay chứ; giờ tôi lại hỏi bạn, ngoài kiến thức là mười trang văn đó, bạn biết gì về người bán vé số kia? Bạn im lặng, vẻ trầm tư. Sống cùng bạn gái chục năm, bạn có thể viết bộ tiểu thuyết tình. Ngoài cái tri thức là bộ trường tình ấy, bạn biết gì về nàng? Hãy nói giùm tôi biết về nàng một câu ngoài tri thức về nàng? “Nhưng đâu phải ai cũng viết được, và còn viết hay nữa?” Phải, nhưng bạn nên tự vấn cái sự viết hay viết giỏi đó có phải nhờ tri thức khuôn mẫu, nó từ đâu ra? Bạn vừa hỏi đường, trong đầu tớ tức khắc hiện bản đồ chỉ dẫn, nhưng tớ chau mày nhăn trán lắp bắp mãi không nhớ ra ngay cái tên đường đã hiện rõ. Cái gì trong tớ hoàn thiện sẵn gần như mọi chuyện? Bạn cũng có kinh nghiệm từ đâu phóng ra câu từ những ý tưởng ta chưa hề biết đến rồi chứ; hà, điều này thì một đứa trẻ cũng có đấy nha, chúng còn thốt lên những câu “tưng tửng” mang nghĩa thâm sâu ngang với công án thiền nữa đó.
Ô, lá rơi đẹp chưa kìa. Cô nhân viên chêm thêm trà, tôi nhìn, chợt trong đầu hiện lên một người con gái giông giống cô; ấy là tri thức cũng là tất cả những gì tôi biết về cô, và từ nãy giờ ngồi nhấp cà phê có liếc nàng nữa. Này, nếu bạn sống ở rừng từ nhỏ, lần đầu tiên về phố gặp nhau tớ bảo ta làm ly cà phê hè? Bạn sẽ hỏi cà phê là gì đúng không? Tớ nói mùi vị tuyệt lắm; bạn lại hỏi có giống mùi trái cây này mùi hoa nọ bạn gặp trong rừng. Còn giờ mới thoảng mùi cà phê rang xay bạn đã biết, đúng không? Vì bạn có tri thức về nó mà… Rồi, giả như một đứa trẻ lần đầu tiên nếm vị đường, trong lúc khuôn mặt nó tươi lên thì tớ hỏi, chua không con? Chua hí. Nó sẽ gật. Và cứ thế nó lớn lên lưu cửu vị ngọt với “giả danh” chua ấy, và nó sẽ cãi đến cùng để bảo vệ một khái niệm mơ hồ thực chất là bảo vệ cho cái Ngã cũng hư huyễn nốt.
Lá, vẫn rơi, như muốn nhắc lại một thông điệp nào đó. Tôi kể bạn nghe về cây đào trước nhà, năm kia tự nhiên nở rực lạ lùng. Hoa nở như chưa từng được nở, nở như chỉ còn một xuân nữa trên đời. Tự nhiên tôi linh cảm điều bất ổn. Nhưng rồi cố xua. Để chi chuyện buồn nơi tâm, phải hôn. Rồi tôi cũng bẵng quên mấy tháng cho đến ngày nhận cuộc gọi ba nhập viện, khối u trong đầu. Ba tớ đi!
Bạn nhìn ra đường vắng. Có chút nắng giữa không gian se lạnh. Bạn đã đọc bản thảo tiểu thuyết của tôi rồi chứ, nhân vật T là thật đó. Một lần tôi qua uống trà, chuyện này không có trong tiểu thuyết đâu, vì thời điểm này tôi đã viết xong rồi. Ông T từ dưới bếp lên với khuôn mặt lo lắng, chìa ra một quả trứng. “Chú mi coi gà răng đẻ quả trứng to như vịt ri hè”. Ông cứ nhắc tới nhắc lui. Tôi có kiến thức về điềm này từ trong dân gian, vẫn cố lờ để người bạn vong niên yên tâm. “Ông cho nó ăn dữ quá sướng quá thì đẻ quả trứng to thôi. Mắc chi bận tâm cho mệt. Cất đó mai mốt cho nó ấp không chừng ra con gà đặc biệt con xin chụp ảnh viết bài đăng trang nhất báo tết năm Dậu”. Nói vậy chứ tôi vẫn ngờ ngợ bởi tri thức về điềm này cứ hiện lên như một vọng tưởng. Hơn tuần sau ông lên phố hát hò, về ngã, bị dập tủy cột sống cổ; tim yếu không mổ được. Ông nằm nhà, liệt dần, chết dần và chết khá nhanh. Thời gian ông dặt dẹo sống tôi còn chứng kiến trong vườn ông, bụi chuối từ cây nhỏ đến cây to tất tật đều đua nhau trổ buồng. Không hiểu. Tớ không biết. (Chỉ cái không biết là tớ hãnh diện mà). Lúc sự ấy hiện lên tớ dú mình trong cái không biết như khoảng không trước mặt vậy. Ngoài những vật hiện hữu, khoảng không trước mặt tôi hoàn toàn không biết nên tốt nhất buông mình vào đó cảm nhận “ta” và hư không đồng thể. Bạn thì sao, có giống tớ không? “Đã không biết thì có gì tự hào?” Ừm, nghe câu này tớ rất vui. Đúng là cái không biết chẳng có gì tự hào. Có gì đâu. Mà nói có cũng đúng thôi bạn. Chẳng như hồi nãy tớ đang chụp phôn nghe giảng kinh, bạn vô thấy nói liền: Báo vừa ra lò có việc gì nữa mà làm, ra cà phê thư giãn đi. Mình đã nói gì bạn còn nhớ chứ. Câu trả lời của mình phát tức thời không dựa vào bất cứ tri thức nào: “Thì đây, mình cũng đang thư giãn đây”. Bạn tưởng phải cà phê mới là thư giãn à. Bạn tưởng bên ngoài mới có nắng mưa mới có bão bùng, còn nội giới không có bình an à. Bạn tưởng nỗi sợ trong mơ khác nỗi đau ngoài đời à? Khác sao người ta phải uống thuốc an thần để mong vừa nhắm mắt là… mở mắt thấy trời sáng? Bạn tưởng bạn vui buồn qua mắt tai mũi lưỡi và ý nghĩa trong mơ khác ngoài đời sao? Giả như bạn không gặp ác mộng mà gặp thiên đường trong mộng, bạn có muốn mơ lại giấc ấy để thụ hưởng? Có người phải chạy rồi thở hồng hộc mới là thư giãn. Có người họ biết đứng lại để thư giãn. Có người cho sự phát triển là thụt lùi; có người đi ngược với đời cho là tiến hóa vận mạng. Mà lạ nhỉ, chúng ta mỗi bước mỗi già mỗi bệnh mỗi gần hố tử; trái đất mỗi vòng quay là dấn về phía hoại không; vậy ra phát triển hay thụt lùi bạn nhỉ? Hi hi. Nào, ra cà phê. Thế đấy, thế nên giờ bạn và tớ mới ngồi nhâm nhi ngắm lá rơi đây. Mà thôi, cũng tiêu chán thời gian rồi”.
3. “Chúng ta ngồi đốt thời gian đừng phiếm luận nữa, thực tế chút đi”. Bạn nhắc đến nơi chuyên mổ trâu bò, ở đó chó trong xóm đến ăn huyết bầm tươi khiến mờ mắt hết thảy. Có vị nào nghiên cứu giùm cái luận án báo cáo rộng rãi giúp bà con tỏ tường. Nhắc đến chó, lại nhớ những lời rao “Ai bánh mì đặc ruột thơm bơ”, “Ai võng xếp”, “Ai bánh bao nóng nào”, dẫu ồn bất ngờ song lũ chó chẳng bận tâm. Nhưng đầu làng mới cất tiếng “Chó bán không” lập tức bản hợp xướng sủa rầm làng, chúng ùa ra đuổi riết người mua chó. Ai cho một lời giải thích nằm ngoài cái gọi tri thức. Bạn còn kể nhà có con mèo hay lắm. Tầm bốn năm giờ sáng bạn thường dậy rửa mặt vào ngồi tĩnh tâm (nhưng vì buồn ngủ quá liền vào ngủ). Con mèo nằm trên mái. Bạn để ý mấy bận chợt thấy, bạn vào giường nằm đợi không thấy con mèo theo vô, nhưng hễ (rửa mặt xong) vào ngồi tĩnh tâm vài phút đã thấy nó cà cọ dưới chân rồi nằm xuống bên. Lạ? Bạn hỏi. Tôi cười bảo làm sao biết được chuyện trời đất. Ngoài kiến thức nghe nhìn đọc học kể cả hình ảnh khoa học minh họa hẳn hòi, tôi có gì để nói với bạn một câu ngoài thứ không phải của mình đó. Tớ chỉ có cái không biết là tài sản vô ngần quý giá thôi. Nhiều lúc từ đó phóng ra những câu ngớ ngẩn lắm, chỉ biết giữ lại ở ý chứ phát ra âm thanh khéo bạn lại cho khùng mất. Này nha, bạn tớ kể có lần cô đồng nghiệp vừa vào phòng liền báo tin đặc biệt (tin này mới riêng mình cô biết). Vừa nghe bạn tớ trong chớp nhoáng, mặt lạnh lùng bảo “Biết rồi”. Cô đồng nghiệp ngớ người bởi tin này chưa thể ai biết; liền hỏi: “Ủa, sao biết?” “Đấy, thì bạn vừa nói đấy”. Hì. Mình nhớ chuyện sư cô kể về con mèo tại khoa cận tử một bệnh viện lớn ở nước ngoài. Lên báo đàng hoàng nha. Hễ con mèo tới ngồi bên bệnh nhân nào thì dẫu người đó được bác sĩ chẩn đoán “yên tâm”, ít ngày sau cũng chết! Người ta phong nó như là thần hóa hiện tiếp dẫn hương linh... “Ý ông muốn nói vạn vật hữu linh? Hư không cũng có trí?” Ủa, tớ bỏ chỗ ấy đi lâu rồi nãy giờ bạn còn đứng khúc đó trầm tư à. “Người ta bảo ai cũng có linh giác?, vấn đề là có sử dụng hay không”. Không biết. “Hay gọi là tánh giác bổn nhiên ngay cả với loài vật?” Đã bảo nâu biết. À, tớ cũng biết chút chút, là thế giới đã chứng minh Nước biết mọi ý niệm thiện ác khởi sinh trong tâm con người đó. Ngoài tin này ra, tớ nâu biết. Loại trừ cái-biết-tri-thức ra thì thân này rỗng không à. Thôi, tớ biến đây.
TẠM KẾT MỘT PHẦN ĐỜI.
HUYỄN GIÁC VỀ TÁNH GIÁC
Tôi không dành được nhiều thời gian cho sự tỉnh giác, bởi tôi vẫn sợ sự tĩnh giác như sợ phải buông một thứ gì đó tưởng là quý giá trên trần gian. Ngẫm lại mình luôn thấy ngượng ngùng khi soi gương. Trong mỗi ta đều có cái tự biết, như gương. Như cách hành của bạn tu “của tôi”, chuyên trì niệm một câu kinh và lấy đó làm thực tại duy nhất. Câu kinh duy nhất ấy như một siêu nhiên tự lau gương mà không mảy may cần để ý đến vọng trần, khiến gương ngày một sáng, nên vọng hiện ngày càng rõ. Ban đầu vọng hiện trong gương là cành lá, dần dà hiện thân rồi đến gốc, rồi hiện đến rễ; và một khi vọng hiện đến gốc rễ, vọng ấy mất chỗ nương bám do đó nó tự “chết”.
Thật xót, tôi tu lâu nay vẫn là một vọng trong đại viên kính trí của Tánh Giác. Trong ta bà thế giới, sự hưởng thụ tôi và bạn tự phong, ấy là sự quay về với loài vật. Đau không?! Bạn và tôi phải hạ mình xuống với “tầm vóc” của loài vật để xưng danh hai từ hưởng thụ! Đau nhỉ. Thầy tôi nhắc lời một vị đại đức, rằng vạn người tu chỉ vài ba người thành tựu. Nguyên do ở đâu? Bởi hổng nền tảng Nguyên Thủy, sa hố tình chấp, tham dục. Dục chính là sợi dây thừng trói cột chúng sanh vào quả địa cầu. Nên nguyện dẫu lớn song bị tưởng ấm chi phối chứ thực ra chúng ta chưa [muốn] chặt sợi dây thừng mê chấp cõi dục. Nhưng có một nỗi đau, là thời nay chẳng mấy ai [và tôi] còn hứng khởi hành pháp quán Tứ niệm xứ, đặc biệt quán thân vô thường - bất tịnh; và do không lấy đây làm căn nền, thân kiến luôn được bọc êm ái trong nhung lụa của thần Chết bằng nỗi sợ thường trực do vậy bị nghiệp tam đồ nắm giữ vận mạng, nên tu theo pháp môn nào cũng khó giải thoát. Đọc sách về thánh tăng mới hay họ buông được thứ dục lạc chúng ta đang nắm giữ, đó mới là sự hưởng thụ tối cao đích thực. Ân sư của tôi suốt đời chỉ dạy mỗi chữ Buông. Buông xuống là trí tuệ chân thật. Buông xuống phân biệt chấp trước với mọi trần cảnh, bởi mỗi pháp đều đang viên dung với nhân duyên quả chính nó đang “sở hữu” từ tiền kiếp và từ khắc khắc ý niệm khởi sinh. Buông là thấy pháp. Trong chân tâm không có tham sân si mạn, chúng ta mang nó từ luân kiếp và tưởng con cái của mình.
Chấp những thứ giả hợp làm mình và dựng lập thành kiến quy chụp vạn pháp để thỏa mãn cuộc chơi bất tận của tâm thức. Buông cái Giả - ngay đó Thấy cái Thật. Đây là vòng trôn ốc lên mãi, như mũi khoan xoáy vào Lâu đài Luân hồi Ảo ảnh, đột phá nghiệp dĩ.
Thế gian huyễn mộng. Kinh điển dạy giấc mơ và đời thực trong ta bà đều do tâm biến hiện. Nhiều khi tôi vẫn cảm nghiệm sự tương đồng tuyệt đối giữa cảnh mộng và thực, bởi sự đau buồn hay hạnh phúc giữa hai cảnh hoàn toàn như nhau. Có lần tôi bị người thân đánh không thương tiếc trong mộng. Những ngày sau gặp họ, tôi lại không thấy giận. Giả như họ đánh tôi ngoài đời, ít nhất tôi cũng tránh mặt dài dài… Bên trong ảo, bên ngoài cũng ảo, mà tôi lại chấp một đằng, buồn quá! Buồn bởi tôi còn lù lù cái “tôi” to tướng, bởi tôi luôn nhốt mình trong chiếc lồng son của ngũ ấm rồi tự huyễn thêm ảo danh vượt thoát. Bậc chánh giác thấy mọi tướng đều hư vọng. Cái tôi đây hư vọng, dĩ nhiên bạn cũng hư vọng. Tôi đã hư vọng lấy gì để “thấy” các tướng như thật nữa. Còn khi tôi muốn thấy theo nghiệp, dĩ nhiên phải quán/ thấy cho ra các tướng vốn thanh tịnh. Mỗi mỗi đều thanh tịnh với chính nó, cho nên nó thanh tịnh với toàn thể. Bởi cái gương tôi bám vọng trần nên mới phản chiếu tướng của các pháp ô nhiễm. Một lần có người tự dưng nhắn tin gây rối, rất lâu tôi mới hạ hỏa thấy ra, ừ, người này đâu gây rối với bạn và bao người khác, họ chỉ gây rối với tôi mà. Âu là nghiệp chiêu cảm. Nếu nghiệp tôi thanh tịnh trở về chân tâm sáng trong, thì sự gây rối đó đơn giản là đang soi vào trong chiếc tâm gương, nào có tội tình chi. Bởi tôi không thấy được ngoài tánh giác ra, cái tôi này là hư vọng, nghĩa là không nhận tánh giác nên mê. Khi mê liền bị nhốt trong ngục tù của ảo. Tôi và bạn đều thấm, ảo ảnh là cái không, như sân, như ngã; khốn nỗi chúng ta có thể tàn rụi và chết bởi cái không hề có ấy, cái tự ảo hóa ấy. Nếu cái sân là thật, không ảo; lúc tôi nổi giận, là tôi đang giận, vậy lúc hết giận rồi tôi ở đâu? Cơn giận nếu là tôi thì cơn giận mất tôi cũng mất chứ. Thế mới biết giận là ảo ảnh có cội nguồn từ si. Cũng như ngã vốn tập tánh chứ không phải tự tánh, vậy mà nó hiển hiện như một lâu đài với năm bức tường ngũ ấm và chúng ta cứ thế mang theo cho đến trước hố tử thần vẫn chưa nghĩ đến chuyện bước ra.
Khi bạn và tôi quen thói dựng lập những khuôn thước ảo từ sáu căn, nó sẽ chống trái tiêu diệt những thứ không vừa với khuôn nghiệp ấy, và đó chính là chúng ta tự mâu thuẫn, tự phiền não do bẫy rập của Ngã. Bạn và tôi không thâm nhập được vào hang ổ của ngã chấp thông qua hàng rào khuôn nghiệp, song nhận diện thấu rõ nó chúng như những tiểu ngục tù ảo, để tìm đường cho ánh sáng của trí tuệ Phật pháp soi vào, mà điều thiết yếu phải bắt đầu từ Giới. Tôi và bạn là phàm phu chính hiệu, lại không chịu nghe lời thánh trí, Phật trí. Không chịu tin kinh nào cũng đều là chìa khóa mở kho tàng phước trí sẵn có. Ngay lúc khởi tu giới, giới cũng chính là tu định và cũng đồng thời phát tuệ, nếu ta khéo tu và đi đúng lộ trình buông bỏ tham-chấp. Xét ở Giới thôi đã nhận diện được phần nào lối thoát chật hay hẹp của một hành giả. Dụng ngũ giới thực hành đạo đức là Nhân thừa; Thiên thừa thọ trì Thập thiện và từ bi hỷ xả. Tu Tứ đế, bát chánh đạo trên đường tiến đến vô ngã cầu chứng từ sơ quả Tu đà hoàn trở lên thì thuộc Thanh văn thừa. Thuần giới luật, dụng linh hoạt trong "khai giá trì phạm" làm căn nền cho lục độ ba la mật là hướng Bồ tát đạo. Những hành giả giữ giới Đại thừa đến nhuyễn nhừ sẽ tự biết chỉ riêng mình giữ giới và giữ từ sâu trong ý niệm. Họ không chụp khuôn đắc giới lên những người phá giới, bởi một khi dấy phiền não thì có vin vào lời kinh cũng là đang ô nhiễm "nội Phật". Giả như ta giữ giới tinh khiết, đó là sự đang trở về bổn tánh vốn tinh khiết muôn lần. Giới chính là một pháp tu để trở về, và trong giới của những người thuộc Bồ tát thừa luôn là sự hòa quyện của định và tuệ; Giới là nhân, định tuệ là quả. Giới trì giữ khô cứng tự lợi sẽ không theo được lộ trình này. Ân sư tôi dạy đừng nói hành vi, ngay đến mọi ý niệm cũng là lợi tha, thậm chí hại mình lợi người mới là đang học hạnh siêu thoát. Trong chân tâm không có niệm ác, nên giới chính là gạn niệm ác để trở về chân thiện; mà chân thiện là dụng tự nhiên của chân tâm nên nó vốn thuần thiện lợi tha không mảy may tự lợi, nó không phải cái thiện đối lập với ác. Xem thường tu giới, cũng như xây lâu đài bằng nguyên liệu ảo ảnh. Xét ở giới Nói dối mà trong Thập giới chia thành 4: ỷ ngữ, lưỡng thiệt, vọng ngữ, ác khẩu; như vậy từ giới thân đã chuyển vào giới Tâm. Tỉnh giác tu giới này ta sẽ thấy hễ chuẩn bị nói, bao giờ cũng bắt đầu từ tâm ý. Ý vừa khởi, cái tự biết đã biết, chưa kịp chuyển lên não để sai sử miệng phát thì ý niệm giữ giới đã bắt lại, bảo ngưng; hoặc hành giả sẽ tự gọi, giới đâu rồi?, lập tức giới xuất hiện như thần đèn. Thù thắng hơn là như bạn tu của tôi, hễ bất giác tức bất cứ vọng nào khởi lên đều lấy đó như sự nhắc nhở trở ngay lại đề khởi câu kinh duy nhất cũng là thực tại duy nhất. Thế là miệng ít có cơ hội. Tập dần thành nếp, mọi giới đều chuyển vào tâm ý. Cái tự biết biết ý khởi sinh và cái tự biết cũng tự nhắc đừng theo ý bởi nó đơn giản là vọng. Nếu ta để ý đến nó, nó càng làm dáng, càng trở nên hấp dẫn và ta bị hút theo rồi bị lôi vào những thiên đường mù mịt. Thật ra giữ giới nhuyễn hơn sẽ nhận ra cái gương sáng suốt của tánh giác. Bạn tôi nói lúc này tựa như mặt ao trong, vọng niệm như những sinh vật chỉ búng mình lên rồi lặn, không diễu hành để rồi kéo tâm đi mãi. Có lần đang ngồi quán cà chợt thấy chị công nhân vệ sinh đường phố ngang qua, tức thì tâm ý hiện bài thơ về “chị lao công đêm đông quét rác”; tôi trố mắt nhìn ngược vào. Bài thơ này học hồi nhỏ, từ đó đến nay vài chục năm chưa một lần gợi lại, xem như mất hẳn, đột nhiên phóng hiện chớp nhoáng, nó lưu ở đâu trong tôi và sao lại nhanh đến vậy. Quan trọng hơn, nó vừa phóng hiện “tôi” đã biết; thực tế là cái tự biết biết. Vọng mới hiện cái tự biết biết liền. Không phải một vọng mà thậm chí nhiều vọng và bất cứ lúc nào, chúng hiện đều bị cái tự biết phát giác ngay, và nó sẽ mất năng lượng nếu ta không còn theo. Tại sao không theo, như với bạn tu của tôi lý giải, bởi mình đang chuyên niệm một câu kinh, nhờ năng lực “lau chùi” của câu kinh duy nhất luôn trì niệm. Việc Phật giao cho mình là chuyên niệm một câu kinh, mình thật thà chăm chỉ niệm mọi lúc mọi nơi. Mình không có việc gì khác ngoài chuyên niệm và thầm niệm một câu kinh. Câu kinh thầm niệm nhanh thì như gió song vẫn hiện từng chữ như trên màn hình siêu nét. Niệm chậm thì từng âm nổi như tiếng chuông và “tánh nghe” nghe trọn vẹn [từng chữ] rõ đến mảy lông tơ. Trừ những lúc buộc trí não phải hoạt dụng lo việc đời, còn lại mình chuyên niệm câu kinh đó. Chuyên niệm thì không còn thời gian đón tiếp vọng niệm dẫu niệm thiện hay ác vui hay buồn đến chơi. Việc vọng đến, mình không tiếp mà chúng vẫn muốn ngồi đó xem mình niệm một câu kinh thì cứ việc. Mà chắc xem một chặp vọng sẽ chán cái việc tâm mình chuyên vào một câu kinh; còn mình thì không chán, ngược lại càng niệm càng an lạc, càng ngọt. Đó là cách nhạt dần thọ lạc do sáu căn mang lại; trong lúc nhĩ căn (nhờ chuyên nghe một câu kinh) trở thành con đường dẫn khởi vào chân tâm. Cách tu này dường như đi thẳng tìm bổn tánh, trực tiếp nhanh gọn hơn cách tu từ việc điều phục sáu căn để có định; có định dễ chấp vào định bởi đó là một tầng tâm linh vi diệu nằm trong thọ ấm, nên tuệ giải thoát bị chướng ngại. Chỉ tuệ mới khiến ta giải thoát! Vạn pháp duy tâm. Tâm như ti vi, nếu ta chỉ thuần chiếu một kênh duy nhất, cảnh giới sẽ không bị nhiễu và đó là cách mà bạn tôi chuyên một hướng niệm một câu kinh theo lý “vạn pháp duy tâm”. Tâm chuyên nhất về “nghiệp Phật” ắt hiện cảnh giới Phật. Niệm cho đến một ngày tâm không còn nhu cầu suy nghĩ kể cả trong giấc ngủ và cơn mộng, đó là hướng đúng của giải thoát một khi hành giả không còn sử dụng thức. Tôi chợt nghĩ, vọng hiện đã bị cái tự biết phát hiện; nhưng vọng nương vào đâu mà khởi. Vọng ấy nhờ vào đâu mà hiện hình? Tôi tưởng đến một hồ nước trong, dẫu chỉ trong bề trên, và lâu lâu trên mặt nước trong ấy có con cá con tôm búng lên, chúng vừa hiện là họ thấy liền. Vậy tâm ta cũng như mặt hồ. Có trong mới thấy vọng xuất hiện. Càng trong vọng vừa móng khởi cái tự biết đã thấy, “tôi” cứ đứng đó chiêm ngưỡng, chẳng phải lo bận gì. Như vậy vọng được hiện trên một tấm gương, có lẽ đây là chân tâm chúng ta cần giữ lấy. Mà để giữ, phải quay lại từ giới. Bởi đơn giản trong bổn tánh không hề có niệm ác, không hề có một niệm tự lợi (mà chỉ thuần lợi tha) nên phải thọ giới để có cái tương ưng, rồi sau nốt phá đi cái “ta” đang sở hữu cái thiện tương ưng ấy… Có giới sẽ khiến mặt nước trong dần từ phía trên xuống đáy theo mức độ công phu. Nước trong dần xem như định. Có định sẽ tự thấy biết vọng niệm khởi (tự sinh tự diệt).
Nhờ định liền sanh tuệ, dẫu là tuệ cạn cợt và còn vẩn đục. Tuệ sẽ dần nhận ra mình có chân tâm [như gương] (để thấy biết vọng mà không hề nhăn nhó, vì gương mà nhăn gương sẽ vỡ!).
Tu là bớt chứ không thêm vào. Bớt đi mọi chấp trước và phân biệt để trở về với sự bình đẳng của chân tâm trong sự tương ưng với vạn pháp [vốn bình đẳng]. Thầy tôi bảo phải bớt đến tận cùng. Học pháp học cũng để nhận ra mình phải buông những gì. Bởi chân tánh vốn rỗng rang và chính trong cái rỗng rang đó đầy đủ phước trí. Giáo pháp của Đức Phật thiết yếu dạy chúng ta: Biết và Buông. Biết để buông, biết buông. Sau đó thì Biết và Buông nhập làm một. Biết chính là Buông mà Buông cũng chính là Biết. Có những điều đơn giản song không dễ vào. Phật tử hầu như ai cũng biết chúng ta nặng Ái mới luân hồi trong cõi Dục. Bạn tu của tôi tâm sự: chúng ta đến Ta bà bằng con thuyền Ái, và cần nương vào con thuyền đó thông qua chánh trí buông/ phá tham chấp để rời cõi Dục. Gốc rễ luân hồi này muốn gỡ khỏi tâm chúng ta không dễ. Bởi ta Ái nên Thủ. Ban đầu học Phật thấy hay hay, sau động chạm đến chữ Ái thì tôi bắt đầu rụt tay. Rõ ràng có bàn tay vô hình đang sờ vào lợi dưỡng. Tôi không dám buông con dao sắc của tham chấp (từ tham chấp thế gian đến tham chấp Phật pháp, bởi nằm trong thức (với tâm suy nghĩ và óc phán đoán) thì thứ gì cũng có vị ngọt). Tôi không biết con dao tham-chấp ái dục cùng với sân si mạn, ngũ dục lục trần không hề có cán, mà chỉ toàn lưỡi sắc bén. Tôi sợ bị tước đi trò chơi dao tuổi nhỏ, tôi sợ bị tước những thủ đắc lợi dưỡng. Tôi bắt đầu cảnh giác. Tôi tiếp tục học Phật và song hành tiếp tục bồi đắp dày thêm hàng rào ngũ ấm để che chắn dục lạc. Đó là căn bệnh trầm kha khiến chư Phật nhiều lúc phải chờ ta một cơ duyên khác ở kiếp khác. Nói vậy không có nghĩa Phật không luôn ở bên chúng sanh. Sự thực thì Phật tánh có ở khắp vạn sự vạn vật, phần thô sơ là tánh giác. Chẳng hạn tôi phàm phu, song vẫn biết nếu không có tánh giác thì những tri thức học được sẽ không thể tự sắp xếp thành một bài viết như thế này. Tôi khâm phục tánh giác tuôn ra những thứ ngoài tri thức, nhào trộn tri thức để kiến tạo nên cái gọi tác phẩm. Nhiều lúc ký tên mình lên một bài viết thấy hổ thẹn làm sao. Đâu phải tôi. Với chút tri thức nếu không có sự vận hành của tánh giác, hoàn toàn là tri thức chết. Lại nghĩ bất cứ ai cũng từng nhận sự gia trì từ bổn giác trong mình, chỉ là không để ý đó thôi. Lờ mờ hiểu điều này, tôi chợt nhận mình chẳng hơn ai. Thậm chí có lần tôi chỉ muốn sụp xuống khi thấy một con chó nằm ở hiên; tôi người lạ đi ngang, nó chỉ đảo tròng mắt ơ hờ, tôi lượn lại nó cũng vậy. Tôi làm rối, nó cũng không nhúc nhích, tuồng như tôi là con rối thật, tuồng như nó linh cảm mọi cái trước mắt thảy đều hư vọng. Tôi hơn ai chứ? Ai chẳng có tánh giác như tôi và như con chó kia? Lại nghĩ một người hành nghề hốt phân, họ có tự hào chăng? Trong lúc tôi lại cho cái sự ngồi tĩnh tâm của mình là cao sang và hơn cả một niềm tự mãn. Một bài báo do tôi viết, hoàn thành và được đăng trang trọng, dĩ nhiên ký tên tôi; song có thực nó là của tôi? Cũng như: Một người thầu nhận từ “ông chủ” đang muốn xây nhà số tiền lớn. Anh ta mua đầy đủ các loại vật liệu cát sạn, xi măng, sắt thép, gỗ, sơn v.v, và thuê tốp thợ xây lành nghề. Ngôi nhà hoàn thiện, anh ta với tư cách chủ thầu liệu có khác tôi viết bài báo. Bạn sẽ bảo nhưng tiền là của ông chủ. Lại hỏi tiền có thực của ông chủ nhà. Giả như ông mua vé số và trúng, tiền ấy có phải nhờ ngàn nhà góp lại? Còn nếu xét ở duyên may do ông có làm phước từ đời trước hoặc trong kiếp này nên gặt quả lành, thì ông xét đến cùng chỉ là "trạm/ bến" trung chuyển (Duyên) của Nhân - Quả. Nhân quả đồng thời. Chắc chắc kiếp trước hay kiếp này ông đã tích nhân lành nên giờ nhận quả (trúng số). Tấm vé là quả ấy, nhưng ông khởi ý dùng vào việc gì, ngay lập tức thành nhân (xấu hay tốt). Tôi từng biết một người trúng số, liền đốt ngôi nhà cũ để xây lên ngôi nhà ngạo nghễ, và lúc ngôi nhà bốc lửa mới hay tấm vé số trong túi áo móc trong nhà. Trắng tay. Nhân là tấm vé số độc đắc, lập tức thành quả đắng! Nhân với Quả là một. Trở lại với người chủ thầu mải mê làm xong ngôi nhà, họ “hiểu” lý này nên mới phủi tay; thâm tín hơn về nhân quả anh ta sẽ trích phần lãi tiếp tục quay vòng phước đức. (Cái sự biết xả này cũng chính là Trí tuệ). Còn với chủ nhân của những bài báo. Nếu tôi nhờ bạn viết một bài về mẹ hay vợ tôi, bạn viết được chăng? Bạn đã biết gì về họ đâu mà viết! (Việc này dạng như đưa một công án khiến hành giả bặt đường biện giải). Bạn bắt đầu lần đến những mối quan hệ kết nối với hàng xóm hay bè bạn của tôi để tìm hiểu về mẹ/ vợ tôi), và bắt đầu có những thông tin đầu tiên. Đến lúc bạn tạm đủ tư liệu viết (tổng hợp) lại thành bài âu cũng là cái biết của tảng băng nổi về họ. Song chừng ấy để thấy nếu không có những tư liệu từ ai đó đâu đó, bạn hoàn toàn mù tịt. Cũng như ta không thể tưởng tượng ra cõi Phật và cung cách sinh hoạt của "chúng sanh" tại đó. Còn nếu ta tính công do mình cạy cục viết nên, cũng nên nghĩ tới những người công nhân vệ sinh họ cũng như chúng ta vậy, trong lúc họ không đứng tên mình cho những con đường sạch hàng đêm. Còn nếu bảo tôi viết hay hơn người khác, càng hiểu không gì nằm ngoài sức gia trì tùy vào duyên nghiệp từng người tạo dựng trong cuộc sống có gần với chân tánh vũ trụ hay không; không ngoại trừ chúng ta là kẻ "ăn may" kiếp trước. Tôi bởi khoanh vùng nghiệp thức; bởi có bí mật và âm mưu nên kiểu như không dám nối mạng máy tính của mình với toàn cầu, mỗi lúc làm việc gì đều thấy cái tôi đứng đó nặn óc suy tính; còn trên diệu lý tánh đức, trí tuệ vốn sẵn và mọi thông tin vốn sẵn trong đó, ai cũng vô biên sử dụng. Bạn tu của tôi có lần cảm nhận ngồi viết bài pháp, do nhẹ chấp ngã nên não-thức gần như mở toang cửa khiến tánh giác có cơ hội tự hoạt dụng; cảm giác lâng lâng và không nghĩ mình đang viết, chỉ nghe tiếng rào rào của bàn phím như mưa tuôn thác đổ.
Bạn tu của tôi bảo trong chúng ta có cái không biết. Khi nhận
ra nó chính là lúc ta hình dung về một tấm gương soi chiếu cái biết, phân loại
cái biết. Chúng ta sẽ thấy rõ một miếng ăn đặt vào miệng hay mùi vị xốc lên
mũi, chính là lúc tấm gương làm hiển lộ cái biết đã lưu đâu đó trong ta. Nếu ta
biết chừng lặng để nhận cảm xúc, sẽ thấy mọi thứ hiển lộ qua sáu căn chỉ là những
thông tin. Thông tin đau, thông tin buồn, thông tin chua cay mặn chát, thông
tin ngọt ngào, thông tin âm thanh trầm bổng, thông tin vọng… Những thông tin
báo lên não liền được so sánh với những thứ lưu trong tàng thức rồi chiếu ngược
trở ra khiến ta khởi chấp trước - đây cũng là một thông tin nốt. Bạn nhiều lúc
lặng trong cái không, cảm giác như vọng niệm đang lặng
lẽ soi gương; cảm giác giữa cái không biết bên trong và hư không trước mặt đồng
thể. Quán chiếu về những thông tin sẽ thấy thân của chúng ta nhạt bớt, chỉ còn
những thông tin vụt hiện như sao băng giữa đêm đen mà chính ta đang tan vào nó.
Để thấy bạn và tôi sống trọn trong ảo ảnh. Nói đúng hơn, chúng ta chỉ là một
hình nộm tự nhận là mình trong lâu đài ảo ảnh. Rõ ràng ai chửi ta dẫu đau mấy nặng
nề mấy thì thoáng đã tan, nhưng ta vẫn tưởng lại để hờn giận buồn đau; có người
để bụng một câu thành thù cho đến chết mắt còn trợn ngược. Chúng ta sập bẫy ảo
giác. Chúng ta không chịu để cơn đau buồn trôi đi mà luôn níu lại vời gọi để gặm
nhấm tự hủy diệt mình trong một thực tại miên viễn. Những ảo tưởng có sức mạnh
hơn cả gông cùm. Tôi có thói quen nhấp cà phê sáng. Đến một ngày vắng, tôi nhớ
cái khung cảnh ấy, ảo tưởng về con đường đó góc nhìn đó; ảo tưởng về hương vị
cà phê lưu trong trí não trói buộc mình. Là ảo. Ảo ảnh có sức hút phi thường,
tôi không dùng tri thức hay bất cứ quyền lực nào gỡ bỏ. Ảo ảnh dĩ nhiên không
có công năng trói cột. Nhưng ta tưởng nó thật nên kết tụ thành bản tánh, rồi biện
hộ bằng mọi lý lẽ chấp giữ. Đấy là nguyên do Phật giảng ngũ ấm ma. Là nguyên do
chúng ta rất khó thể nhập vào không gian nhiệm mầu của Pháp. Bởi trong sự lộng
lẫy xa hoa của lâu đài ảo tưởng, bản thân tôi luôn muốn kiếm tìm một thứ gì hơn
nó, mà đâu hay ngay từ bước đầu tiên đã lầm đường lạc lối. Phật dạy hãy dừng mọi
chấp trước, để thế giới trôi qua. Hãy buông xuôi mọi sự; tôi lại ghì chặt. Chúng ta đang cầm những chiếc kẹo, bậc chánh giác thấy liền thốt
lên: Con ơi độc đó, buông nó ra. Một đứa trẻ lúc biết đến những món đồ chơi dục
lạc sẽ buông tay khỏi mẹ nó. Dẫu những thứ đồ chơi kia có lúc khiến nó hoảng sợ,
khiến nó đau thấu tim can song chưa dễ gì buông bỏ, chưa dễ gì chạy ngược trở lại
òa vào vòng tay chờ đón của Mẹ Bổn Tánh. Nghĩ mà buồn cái buồn của thọ ấm, như
lời thầy tôi thường bảo chúng sanh thích chọn con đường gai góc lầy lội, thích
liếm dục như mật ngọt trên lưỡi dao bén của sự thật.
Tôi nhớ một vị Hòa thượng giảng, chúng ta mê sắc dục chẳng khác con chó đói gặm xương khô. Gặm mãi cho đến lúc máu miệng chảy, nó lại tưởng máu từ cục xương nên cứ gặm và liếp láp mãi cho đến kiệt sức. Các vị tổ sư luôn đứng trên cao nhìn xuống, chỗ nào có hầm hố đều biết; lũ trẻ ranh như tôi và bạn thì ham chơi, bịt tai trước thánh huấn. Không tin. Tôi cần ở Phật một trí tuệ nào ghê gớm hơn sự buông. Tôi cần nắm giữ dục lạc thế gian và học Phật. Tôi cầm nắm ngũ dục lại cầu Phật ban cho ngọn đèn để soi con đường xa thẳm phía trước. Ai hay ngay khi bước đi chính là gạt chân lý qua một bên rồi; bởi trong ta đã sẵn tánh giác. Tôi thường liên tưởng đến kho báu đức năng trí tuệ của Phật, chúng ta ai cũng có thể thò tay lấy ra bất cứ thứ gì. Điều thiết yếu là phải đến với kho báu đó bằng hai bàn tay trắng.
Tay trắng không có nghĩa hoàn toàn trắng tay. Cũng như ai cũng nghĩ tâm thanh tịnh là tuyệt nhiên không có vọng niệm. Điều này chỉ đúng với những hành giả chuyên tâm trong mấy năm đầu, dĩ nhiên đây là tầng công phu căn bản trọng yếu. Khởi tu định thường tại là thấy mọi việc như nó vốn vậy, nó diễn ra như thế nào thì cứ nhìn nó như vậy, không thêm bớt, chẳng đẩy ra cũng không ôm vào nặng bụng. Bạn tu của tôi dụng pháp này và chuyên niệm một câu kinh, đến một ngày những vọng niệm tự chán chường với chính nó, chúng thấy vô nghĩa, yếu đuối và tự tan ngay khi gặp niệm lực của câu kinh được chuyên niệm. Chúng ta cần học cách bao dung, bao dung hàm nghĩa sâu xa gồm cả cái xấu, cái dở và bao dung luôn cái ác; bao dung cái thiện dễ làm, bao dung cái ác mới là Từ Bi chân thật. Sự bao dung khi chúng ta đã quá rõ nghiệp quả của cái ác. Âm thầm từ bi với điều xấu ác để tìm phương tiện giúp họ đi ra, là ta đang rọi những tia sáng đến những tâm thức tối tăm lầm lỡ có một hy vọng quay về. Tâm thức vốn là một bộ máy tinh vi chuyên lừa đảo tôi và bạn. Chúng ta thích bị lừa bởi sự lừa luôn bọc một lớp ngọt ngào man trá. Số đông chỉ cần đến vậy, lúc chạm chút đắng cay họ liền chuyển qua một trò chơi khác, cứ thế luân chuyển từ trò chơi này đến cuộc chơi trọn đời nếm hưởng sự giả tạo dịu dàng của ma.
Phật pháp là con đường đưa đến hạnh phúc an lạc tối hậu, vĩnh viễn thoát khổ. Song người ta bỏ qua con đường từ nhà đến Tam bảo, nó nhiều gian nan thử thách. Chân lý bao giờ cũng có sức nóng. Nếu ví von chân lý như mặt trời, thì ta càng tiếp cận càng nóng bức và trước hết không chân thành cung kính dễ chừng bị thiêu cháy. Có những hành động vĩ đại, chẳng như lúc tôi đang ngồi trầm tư bên ly cà phê, thì có hai bàn tay chai sần gầy guộc chìa trước mặt lúc nào không hay; con người già nua ấy thốt lên với đứa trẻ nít là tôi rằng: Cho con xin vài ngàn! - Với riêng tôi lúc đó, tôi gọi ấy là hành động vĩ đại.
Phật dĩ nhiên không mảy may chấp tướng, các Ngài chẳng may may khởi tâm động niệm trước mọi hành vi của chúng sanh đối với các Ngài. Chúng ta chưa cung kính Phật đã tự “miễn lễ” cho mình, là một bước ảo tưởng vượt thoát. Chúng ta chưa thật thấy cung kính Phật như một ân nhân vừa cứu mạng mình cũng như cứu mạng hết thảy người thân của mình, sao mong nhìn cho ra chân tánh, bởi trong chân tánh chẳng những đương nhiên có cung kính Phật, mà còn là cung kính hết thảy chúng sanh. Tôi vẫn thường lễ Phật trước thời công phu tĩnh tọa, rồi một lần bỗng giật mình: Tôi lễ Phật cung kính lắm, nhưng không lễ nổi hành vi nhặt rác của một người tầm thường từng gặp, không lễ nổi những người gây hại tôi và những người từng dẫm đạp lên niềm tin tối hậu của tôi. Tôi lễ Phật rất dẻo song khi thấy người ta tới xin uống chỗ nước thừa của mình, tôi chỉ biết co rúm cứng đờ không dám chắp tay trước bao con mắt trong quán, nói gì cúi đầu và sụp lạy sự “vô ngã” kia dẫu trong tưởng tượng. Rất nhiều người họ vượt qua được ngã chấp nhẹ nhàng, còn tôi học Phật mãi vẫn thấy mình cao sang để rồi xem thường luôn cả những bậc đang tìm mọi cách vớt mình khỏi đầm ác trược. Đến đây tôi đã biết mình đang đứng ở rất xa chân lý. Tôi lờ mờ thấy chân lý song đang thoái chí. Tôi run gối chùng chân trong từng bước và đôi khi đã bỏ chạy. Rồi tiếc ngẩn ngơ, rồi bao phen gượng dậy, bao phen được bạn tu và thầy dìu dắt tiến thêm, rốt cục vẫn ở đây quyết chí làm một phàm phu. Thẹn với lòng chưa thể Buông những thứ ràng buộc vào mình tưởng hữu ích, rốt cuộc chỉ là biện hộ cho chấp thủ. Bao lần thầy dạy hãy tri túc. Nơi con sẵn đủ, hãy buông và đừng làm thêm nữa. Hãy tận dụng cái sẵn đủ và ở đó. Đừng ảo tưởng phải nhìn cho xuyên tường hay thâm nhập cảnh giới nào khác để rồi thành ma. Tôi ừ dạ, rồi lại lén lút vun trồng ngã ái rong chơi bên bờ vực sâu không đáy.
Có những lúc hổ thẹn khôn cùng. Trong bóng tối đêm đen, rõ ràng yêu quỷ vẫn đứng đó cỗ vũ cho tham đắm si mê của mình, rồi tha hồ diễu cợt. Tôi đòi dở trò gì qua mặt ai. Rồi chợt linh cảm chư Phật Bồ tát vẫn đứng đó lặng lẽ nhìn mình, nhìn và nhìn. Bỗng nhiên tôi nghĩ, chư Phật - Bồ tát đó chính là chân tâm của mình; có một chân tâm luôn đứng đó nhìn cái vọng trong tôi. Tâm soi tâm. Chân tâm luôn đứng đó nhìn và chỉ nhìn, một sự quan sát đơn thuần nhưng sâu sắc cùng tột. Những vọng trong tôi bị lộ và cúi mặt. Những vọng trong tôi yếu đuối dần trước ánh nhìn đầy bi mẫn và “bất động” của chân tâm, dẫu những vọng ngày càng sắc nét và sống động. Trong khung cảnh ấy bỗng vang lên một âm thanh trong khiết: Giả như con nhìn thấy ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa chạm đến ngọn núi ấy đúng không? Mà dẫu con tu đến ngày bạc tóc, trèo lên được ngọn núi hay đứng trên ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa phải là ngọn núi ấy trừ phi con tan loãng vào hư không, tan loãng vào những thứ tầm thường nhất trong cõi ác trược và dĩ nhiên không còn thấy ngọn núi nào trong con.
Tôi như đang mơ giấc mơ đẹp và có ai muốn đánh thức dậy; tôi không chịu rời giấc mơ đẹp.
Bạn tu của tôi thì tỉnh, luôn biết tập sống với tánh giác, sống với một câu kinh duy nhất, và câu kinh đó chính là bạn tu. Bạn kể hồi mới tập nhận và tập sống với tánh giác, có lần nằm trên xe tốc hành qua đoạn đường xấu, xe cứ rùng rùng, trong thoáng chốc, chỉ thoáng chốc thôi, bạn cảm nghiệm, ngoài cái cảm giác rùng rùng (trên thân ra), thật chẳng có ai đang nằm trên ghế xe cả, dĩ nhiên là ngoại trừ câu kinh duy nhất đang khởi và “tự nó” đang nghe lấy. Bạn tu của tôi, vọng niệm vừa sinh liền biết giác để khởi niệm câu kinh, chính cái biết đó mới là mình. Mọi việc chẳng đưa trí não suy xét; tập lìa tâm ý thức để trần cảnh ta bà không méo mó khi soi vào tấm gương tánh giác. Trong mọi công việc thường ngày, thảy đều giao cho tánh giác. Tánh giác thông minh gấp vạn lần thể trí; chả là chúng ta quen thấy có mình nên luôn sử dụng cái trí và tự cho thông minh. Bạn tu kể lần đang ăn sực nhớ có hũ bầu khô cất đã lâu, bèn nói với người nhà mai đem ra xào ăn kẻo mốc. Ngày mai người nhà xào lên món bầu khô và tự thú, thực tế đã đưa ra ngâm trước lúc bạn tu của tôi nhắc. Như vậy trường hợp này tánh giác khởi tác dụng; mới hay giữa hai người với ta hình thể và tâm tính khác nhau song tánh giác thì thông, chỉ là do vọng nên ngăn trở, lâu lâu mới khởi tác dụng. Mới hay tất cả chúng sanh đều chung một bổn tánh. Mới hay bất cứ chúng sanh nào khởi tâm động niệm đều hiện trong tấm gương thấy biết của Phật. Tập sống với tánh giác sẽ khiến thân kiến nhạt đi. Tánh giác ở đây, là tính giác; một cái tự nhiên “có tính chất tự biết giác”. Tôi dùng ngôn từ tánh giác âu là lạm dụng bởi trong ấy có chữ “tánh” mà chỉ những bậc chứng ngộ mới chạm vào. Sống với tánh giác đã khó; mà dẫu từ thân chuyển dần thành tánh giác rồi thì vẫn còn cái tánh giác đó để dụng công xóa đi. Thầy tôi diễn ý kinh Lăng Nghiêm: Hãy tu cho đặng thuần một tánh giác, là không có cái đau và cái biết đau nữa, không còn tướng sở văn rồi đến tướng năng văn cũng dứt; năng giác sở giác đều không. Là bởi “tánh giác là chơn không”. Thầy còn nhắc lời Hòa thượng Duy Lực: “Hầm sâu giải thoát”. Tôi nghe bỗng lạnh người. Vẫn ghì nắm giấc mơ. Một giấc mơ lưu luyến một giấc mơ. Một ảo ảnh chồng lên ảo ảnh. Vẫn như lời thầy còn vang: Buông nó ra con à. Tôi mơ hồ chợt nhớ khoảnh khắc mơ thấy mình rơi tự do giữa không trung, nhưng rồi lại giãy giụa vươn tay bám níu sợ hãi cú rơi làm tan nát lâu đài ảo ảnh đã dày công muôn kiếp tạo dựng. Tôi và bạn, chúng ta vẫn đem tâm kết thân với ngoại đạo bày trò nhảy múa trong lâu đài ảo ảnh; mặc cho tánh giác vẫn từng sát na thâu lại làm tư liệu gửi vào hư không bổ sung vào hồ sơ ra ngoài tam giới, như là một ảo tưởng mới.
Tôi nhớ một vị Hòa thượng giảng, chúng ta mê sắc dục chẳng khác con chó đói gặm xương khô. Gặm mãi cho đến lúc máu miệng chảy, nó lại tưởng máu từ cục xương nên cứ gặm và liếp láp mãi cho đến kiệt sức. Các vị tổ sư luôn đứng trên cao nhìn xuống, chỗ nào có hầm hố đều biết; lũ trẻ ranh như tôi và bạn thì ham chơi, bịt tai trước thánh huấn. Không tin. Tôi cần ở Phật một trí tuệ nào ghê gớm hơn sự buông. Tôi cần nắm giữ dục lạc thế gian và học Phật. Tôi cầm nắm ngũ dục lại cầu Phật ban cho ngọn đèn để soi con đường xa thẳm phía trước. Ai hay ngay khi bước đi chính là gạt chân lý qua một bên rồi; bởi trong ta đã sẵn tánh giác. Tôi thường liên tưởng đến kho báu đức năng trí tuệ của Phật, chúng ta ai cũng có thể thò tay lấy ra bất cứ thứ gì. Điều thiết yếu là phải đến với kho báu đó bằng hai bàn tay trắng.
Tay trắng không có nghĩa hoàn toàn trắng tay. Cũng như ai cũng nghĩ tâm thanh tịnh là tuyệt nhiên không có vọng niệm. Điều này chỉ đúng với những hành giả chuyên tâm trong mấy năm đầu, dĩ nhiên đây là tầng công phu căn bản trọng yếu. Khởi tu định thường tại là thấy mọi việc như nó vốn vậy, nó diễn ra như thế nào thì cứ nhìn nó như vậy, không thêm bớt, chẳng đẩy ra cũng không ôm vào nặng bụng. Bạn tu của tôi dụng pháp này và chuyên niệm một câu kinh, đến một ngày những vọng niệm tự chán chường với chính nó, chúng thấy vô nghĩa, yếu đuối và tự tan ngay khi gặp niệm lực của câu kinh được chuyên niệm. Chúng ta cần học cách bao dung, bao dung hàm nghĩa sâu xa gồm cả cái xấu, cái dở và bao dung luôn cái ác; bao dung cái thiện dễ làm, bao dung cái ác mới là Từ Bi chân thật. Sự bao dung khi chúng ta đã quá rõ nghiệp quả của cái ác. Âm thầm từ bi với điều xấu ác để tìm phương tiện giúp họ đi ra, là ta đang rọi những tia sáng đến những tâm thức tối tăm lầm lỡ có một hy vọng quay về. Tâm thức vốn là một bộ máy tinh vi chuyên lừa đảo tôi và bạn. Chúng ta thích bị lừa bởi sự lừa luôn bọc một lớp ngọt ngào man trá. Số đông chỉ cần đến vậy, lúc chạm chút đắng cay họ liền chuyển qua một trò chơi khác, cứ thế luân chuyển từ trò chơi này đến cuộc chơi trọn đời nếm hưởng sự giả tạo dịu dàng của ma.
Phật pháp là con đường đưa đến hạnh phúc an lạc tối hậu, vĩnh viễn thoát khổ. Song người ta bỏ qua con đường từ nhà đến Tam bảo, nó nhiều gian nan thử thách. Chân lý bao giờ cũng có sức nóng. Nếu ví von chân lý như mặt trời, thì ta càng tiếp cận càng nóng bức và trước hết không chân thành cung kính dễ chừng bị thiêu cháy. Có những hành động vĩ đại, chẳng như lúc tôi đang ngồi trầm tư bên ly cà phê, thì có hai bàn tay chai sần gầy guộc chìa trước mặt lúc nào không hay; con người già nua ấy thốt lên với đứa trẻ nít là tôi rằng: Cho con xin vài ngàn! - Với riêng tôi lúc đó, tôi gọi ấy là hành động vĩ đại.
Phật dĩ nhiên không mảy may chấp tướng, các Ngài chẳng may may khởi tâm động niệm trước mọi hành vi của chúng sanh đối với các Ngài. Chúng ta chưa cung kính Phật đã tự “miễn lễ” cho mình, là một bước ảo tưởng vượt thoát. Chúng ta chưa thật thấy cung kính Phật như một ân nhân vừa cứu mạng mình cũng như cứu mạng hết thảy người thân của mình, sao mong nhìn cho ra chân tánh, bởi trong chân tánh chẳng những đương nhiên có cung kính Phật, mà còn là cung kính hết thảy chúng sanh. Tôi vẫn thường lễ Phật trước thời công phu tĩnh tọa, rồi một lần bỗng giật mình: Tôi lễ Phật cung kính lắm, nhưng không lễ nổi hành vi nhặt rác của một người tầm thường từng gặp, không lễ nổi những người gây hại tôi và những người từng dẫm đạp lên niềm tin tối hậu của tôi. Tôi lễ Phật rất dẻo song khi thấy người ta tới xin uống chỗ nước thừa của mình, tôi chỉ biết co rúm cứng đờ không dám chắp tay trước bao con mắt trong quán, nói gì cúi đầu và sụp lạy sự “vô ngã” kia dẫu trong tưởng tượng. Rất nhiều người họ vượt qua được ngã chấp nhẹ nhàng, còn tôi học Phật mãi vẫn thấy mình cao sang để rồi xem thường luôn cả những bậc đang tìm mọi cách vớt mình khỏi đầm ác trược. Đến đây tôi đã biết mình đang đứng ở rất xa chân lý. Tôi lờ mờ thấy chân lý song đang thoái chí. Tôi run gối chùng chân trong từng bước và đôi khi đã bỏ chạy. Rồi tiếc ngẩn ngơ, rồi bao phen gượng dậy, bao phen được bạn tu và thầy dìu dắt tiến thêm, rốt cục vẫn ở đây quyết chí làm một phàm phu. Thẹn với lòng chưa thể Buông những thứ ràng buộc vào mình tưởng hữu ích, rốt cuộc chỉ là biện hộ cho chấp thủ. Bao lần thầy dạy hãy tri túc. Nơi con sẵn đủ, hãy buông và đừng làm thêm nữa. Hãy tận dụng cái sẵn đủ và ở đó. Đừng ảo tưởng phải nhìn cho xuyên tường hay thâm nhập cảnh giới nào khác để rồi thành ma. Tôi ừ dạ, rồi lại lén lút vun trồng ngã ái rong chơi bên bờ vực sâu không đáy.
Có những lúc hổ thẹn khôn cùng. Trong bóng tối đêm đen, rõ ràng yêu quỷ vẫn đứng đó cỗ vũ cho tham đắm si mê của mình, rồi tha hồ diễu cợt. Tôi đòi dở trò gì qua mặt ai. Rồi chợt linh cảm chư Phật Bồ tát vẫn đứng đó lặng lẽ nhìn mình, nhìn và nhìn. Bỗng nhiên tôi nghĩ, chư Phật - Bồ tát đó chính là chân tâm của mình; có một chân tâm luôn đứng đó nhìn cái vọng trong tôi. Tâm soi tâm. Chân tâm luôn đứng đó nhìn và chỉ nhìn, một sự quan sát đơn thuần nhưng sâu sắc cùng tột. Những vọng trong tôi bị lộ và cúi mặt. Những vọng trong tôi yếu đuối dần trước ánh nhìn đầy bi mẫn và “bất động” của chân tâm, dẫu những vọng ngày càng sắc nét và sống động. Trong khung cảnh ấy bỗng vang lên một âm thanh trong khiết: Giả như con nhìn thấy ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa chạm đến ngọn núi ấy đúng không? Mà dẫu con tu đến ngày bạc tóc, trèo lên được ngọn núi hay đứng trên ngọn núi chăng nữa, con cũng chưa phải là ngọn núi ấy trừ phi con tan loãng vào hư không, tan loãng vào những thứ tầm thường nhất trong cõi ác trược và dĩ nhiên không còn thấy ngọn núi nào trong con.
Tôi như đang mơ giấc mơ đẹp và có ai muốn đánh thức dậy; tôi không chịu rời giấc mơ đẹp.
Bạn tu của tôi thì tỉnh, luôn biết tập sống với tánh giác, sống với một câu kinh duy nhất, và câu kinh đó chính là bạn tu. Bạn kể hồi mới tập nhận và tập sống với tánh giác, có lần nằm trên xe tốc hành qua đoạn đường xấu, xe cứ rùng rùng, trong thoáng chốc, chỉ thoáng chốc thôi, bạn cảm nghiệm, ngoài cái cảm giác rùng rùng (trên thân ra), thật chẳng có ai đang nằm trên ghế xe cả, dĩ nhiên là ngoại trừ câu kinh duy nhất đang khởi và “tự nó” đang nghe lấy. Bạn tu của tôi, vọng niệm vừa sinh liền biết giác để khởi niệm câu kinh, chính cái biết đó mới là mình. Mọi việc chẳng đưa trí não suy xét; tập lìa tâm ý thức để trần cảnh ta bà không méo mó khi soi vào tấm gương tánh giác. Trong mọi công việc thường ngày, thảy đều giao cho tánh giác. Tánh giác thông minh gấp vạn lần thể trí; chả là chúng ta quen thấy có mình nên luôn sử dụng cái trí và tự cho thông minh. Bạn tu kể lần đang ăn sực nhớ có hũ bầu khô cất đã lâu, bèn nói với người nhà mai đem ra xào ăn kẻo mốc. Ngày mai người nhà xào lên món bầu khô và tự thú, thực tế đã đưa ra ngâm trước lúc bạn tu của tôi nhắc. Như vậy trường hợp này tánh giác khởi tác dụng; mới hay giữa hai người với ta hình thể và tâm tính khác nhau song tánh giác thì thông, chỉ là do vọng nên ngăn trở, lâu lâu mới khởi tác dụng. Mới hay tất cả chúng sanh đều chung một bổn tánh. Mới hay bất cứ chúng sanh nào khởi tâm động niệm đều hiện trong tấm gương thấy biết của Phật. Tập sống với tánh giác sẽ khiến thân kiến nhạt đi. Tánh giác ở đây, là tính giác; một cái tự nhiên “có tính chất tự biết giác”. Tôi dùng ngôn từ tánh giác âu là lạm dụng bởi trong ấy có chữ “tánh” mà chỉ những bậc chứng ngộ mới chạm vào. Sống với tánh giác đã khó; mà dẫu từ thân chuyển dần thành tánh giác rồi thì vẫn còn cái tánh giác đó để dụng công xóa đi. Thầy tôi diễn ý kinh Lăng Nghiêm: Hãy tu cho đặng thuần một tánh giác, là không có cái đau và cái biết đau nữa, không còn tướng sở văn rồi đến tướng năng văn cũng dứt; năng giác sở giác đều không. Là bởi “tánh giác là chơn không”. Thầy còn nhắc lời Hòa thượng Duy Lực: “Hầm sâu giải thoát”. Tôi nghe bỗng lạnh người. Vẫn ghì nắm giấc mơ. Một giấc mơ lưu luyến một giấc mơ. Một ảo ảnh chồng lên ảo ảnh. Vẫn như lời thầy còn vang: Buông nó ra con à. Tôi mơ hồ chợt nhớ khoảnh khắc mơ thấy mình rơi tự do giữa không trung, nhưng rồi lại giãy giụa vươn tay bám níu sợ hãi cú rơi làm tan nát lâu đài ảo ảnh đã dày công muôn kiếp tạo dựng. Tôi và bạn, chúng ta vẫn đem tâm kết thân với ngoại đạo bày trò nhảy múa trong lâu đài ảo ảnh; mặc cho tánh giác vẫn từng sát na thâu lại làm tư liệu gửi vào hư không bổ sung vào hồ sơ ra ngoài tam giới, như là một ảo tưởng mới.
Nhụy Nguyên














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét