Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2020

Sương khói phận người 1

Sương khói phận người 1
THAY LỜI NÓI ĐẦU 
Cuộc đời trôi như chiếc bóng, cái được mất tưởng của ta song xét cho cùng đều nằm giữa mênh mông biển người. Vẫn biết cuộc đời luôn biến hoại theo tạo hóa nào đâu dễ cưỡng. Vẫn biết con người mỗi bước đi là gần hơn với hố thẳm. Vẫn biết cuộc đời vô thường như chiếc lá, từ lúc nhú mầm là như chích vết đau vào hư không. Nhưng mấy ai chẳng nuối tiếc cuộc vui mà bình an buông xuống những lụy phiền nhân thế… 
Một lần chợt thấy bóng mình thoáng trên trần gian bị “con chíp suy nghĩ - phán đoán” lừa bịp. Trong nỗ lực phụng hành bát nhã hướng về miền tịnh lại thêm lần đau khổ bởi cái biết ấy huyễn giác. Sự thật vẫn là một thân đầy tội nghiệp với căn cơ hạ liệt bắt đầu chập chững những bước đầu tiên trên đường Đạo thênh thang. Mỏi mong một ngày trở về với cuộc thế bình thường trong sự rỗng sáng của gương tâm dẫu bản thân chưa hay gì chăng nữa… 
Sương khói phận người, quý bạn đọc lướt qua Mục lục hẳn sẽ cảm nhận phần nào dụng ý nhận chân kiếp người trong sự lôi dẫn của nghiệp và hành trình “tiến hóa” của hành giả mà tác giả trước hết là người quan sát, sám hối lỗi lầm và lạm dụng vọng tâm luận bàn… Chân thành cảm ơn những ai hữu duyên đến với cuốn sách nhỏ này. 
Phần I 
CÁI ĐUÔI VÔ MINH 
Ai đi trong cõi ta bà 
Con người giấu cái đuôi ở đâu? 
Hướng về Tam bảo 
Học Phật từ trong thai tạng. 
AI ĐI TRONG CÕI TA BÀ 
Trước nền văn minh chưa đạt tới viên mãn của trái đất, có những nền văn minh khác đạt đến “cực thịnh” và đã tàn lụy. Ngành khảo cổ học tìm thấy nhiều hiện vật minh chứng cho một trình độ siêu việt, có niên đại trước lúc trái đất hình thành. Theo chu trình phát triển (hay thụt lùi theo quy luật thành - trụ - hoại - không), điều đó thường hằng diễn ra trong tam giới. 
Nhiều nữa nền văn minh đã là sự nuối tiếc khôn nguôi của nhân loại. Văn minh do con người trong tiến trình can dự vào thiên nhiên mà tạo nên. Một thế giới muốn yên bình và trường tồn chỉ có thể nương dựa vào thiên nhiên. Thiên nhiên luôn cần được tôn trọng và gìn giữ như chính những loài cây cỏ trang trí trong ngôi nhà của mỗi chúng ta. Nhưng sự phát triển của khoa học kỹ thuật vẫn thường hành xử ngược lại, thực sự rút ngắn tuổi thọ của hành tinh xanh. 
Đa phần những người tu họ biết dựa vào tất cả những gì tạo hóa ban, biết tập đi trên con đường hàng ngàn năm trước đức Phật đã vạch (mà nay ít nhiều bị xâm hại bởi công nghiệp kể cả rác do người máy thải ra). Họ xem như ngược chiều với dòng đời cuồn cuộn như một cơn lốc mang bộ mặt giận dữ của nước. Họ không nuối tiếc những thành phố cực thịnh bão cát vùi lấp, không tiếc nuối những con thuyền đầy lụa là châu báu chìm dưới đại dương nay vẫn chưa dấu vết. Người tu không muốn gặp tứ đại mỹ nhân đã hóa thành cát bụi, thành một dạng vật chất vi quan vô xứ. Người tu cảm phục những ai từng vạch đường cho nhân loại trở về với bản chất thật của mình, không còn bám vào vòng quay luân hồi trước lúc bị hất xuống tầng sâu tăm tối. 
Địa ngục trên mặt đất, là lúc người nô lệ bị ruồng rẩy hơn loài súc vật bệnh hoạn; địa ngục tồn tại trong xã hội thời Trung cổ; địa ngục vẫn còn tồi tại đâu đó lúc chúng ta đang ca hát nhảy múa, sung sướng đến điên rồ mà cạnh bên vẫn có người tột cùng đau đớn! Niềm hạnh phúc và nỗi thống khổ là hai mặt khác biệt đối với người thường. Với những ai ngộ đạo, nó là một. Một đại đức, sự cho là niềm ân phước dành cho bản thân, gã keo kiệt phải chia phần của cải thì dằn vặt khổ sở. Đau khổ là tấm gương phản chiếu sự sung sướng. Chúng ta đào xới niềm vui sâu bao nhiêu, hố đau khổ phản chiếu sâu hơn thế ấy. Đau khổ dẫu chưa xuất hiện đồng thời với cái gọi hạnh phúc song lúc hội đủ duyên sẽ trỗi lên dìm con người từng khoét sâu sự hưởng thụ dục lạc xuống như là cú đảo ngược cái phản chiếu trong gương tâm vọng động. Bởi chúng ta trong cõi mê, bị vọng tâm điều khiển. Một bộ óc uyên bác cũng có thể sinh ra hành động thấp hèn, nhưng tuyệt không niệm độc nào sai khiến được Tâm đã chứng ngộ. Thay vì sử dụng tánh giác bổn nhiên sẵn trí tuệ và đức năng, càng sử dụng bộ não vốn chấp trước và phân biệt nặng nề ta càng lệch tần số thế giới tâm linh mầu diệu. 
Sự vô minh là lớp màng che mờ tầm nhận diện chân tướng sự thật. Khoa học thời nay thừa nhận trái đất chỉ là một hạt cát trong vũ trụ, nhiều bộ óc vĩ đại vẫn lấy con người làm trung tâm. Sự ngạo mạn khiến họ dùng kính thiên văn khuếch đại nhìn bốn phương rồi kết luận: Không hề thấy thần thánh! Ở Tây Tạng, nhà tu hành chân chính không hề dám vung tay quá trán theo nghĩa đen, vì họ biết trên đầu mình là ai. Đoàn các nhà khoa học hàng đầu của Hoàng gia Anh từng thị sát miền đất thánh trong chuyến Hành trình về phương Đông. Những gì họ tai nghe mắt thấy làm chấn động châu Âu một thời. Nhưng dường như ai từng thấm nhuần pháp nhũ vẫn thật mau quên những gì khoa học chưa và không thực nghiệm được. Một số cao tăng giảng giải tận cùng lý lẽ: chúng ta bật kênh Hà Nội thì kênh Huế “biến mất” (và còn hàng trăm kênh khác nữa), vậy không có nghĩa kênh Huế không tồn lại. Cũng vậy, chúng ta hiện chỉ bật “kênh cõi dương”; những kênh khác thì chập chờn nhiễu sóng, có chăng chúng ta sẽ tiếp nhập những cảnh giới ấy ở kiếp sau! 
Một ngày nào đó, có thể, khoa học sẽ chế tạo ra loại kính đeo vào liền nhìn thấy linh hồn, thấy được thế giới bên kia đang tồn tại trong không gian này cùng chúng ta; dĩ nhiên những cảnh giới thâm sâu vi diệu khác luôn nằm ngoài khả năng của loài người. Nhiều vị đắc đạo có thần thông song họ chẳng sử dụng, bởi ma cũng có chút xíu thần thông, sẽ khiến con người lẫn lộn ma và thánh. Mục Kiền Liên - đệ tử thần thông số một của Phật Thích Ca chịu bị đánh đến chết; Đạt Ma sơ tổ mấy lần bị đầu độc; Chúa Giêsu dang tay nhận đóng đinh trên cây Thập tự; Đức Phật thì “hòa mình” vào quy luật sinh tử dạy bài học cuối cùng: ngay cả xác thân cũng chẳng nghĩa lý để mang theo. 
Người phàn hết thảy đều là những con nợ. Ai sống dài lắm chỉ hơn trăm năm, bằng cái nháy mắt nơi thượng giới. Ngắn vậy mà nhiều người khất món nợ mình chưa trả, trong lúc lại muốn chắp cánh bay vào cõi thuần tịnh. Những lỗi lầm từ quá khứ riêng kiếp này đã chất chồng, nói gì đến kiếp trước, hàng ức kiếp người trần mắt thịt không thể minh giải. Tôi từng tâm niệm kiếp này đội lốt người đã quá may mắn. “Thượng đế” và nghiệp dĩ cấp cho thân người để tịnh hóa, trở về với uyên nguyên tánh giác. Trần ai cõi tạm. Ngộ ra điều này chắc đã muốn tu?; Tu, hỏi mấy ai xuống núi. 
Sống là nháp, tu là viết lại đời mình. Tu là chỗ dựa duy nhất của đời người. Ngôi nhà cao sang đến mấy cũng chỉ che mưa nắng; quan trọng ở chỗ có nơi thanh tịnh để học Phật và đọc sách thánh hiền giá rẻ nằm lăn lóc ở những quầy sách cũ. Tu là một quá trình rũ bỏ. Loài người chỉ cao phước hơn loài vật thôi. Tổ chức Peta có lần bày 4 chiếc khay lớn đựng 4 người trần truồng nằm gọn, bọc ni lông như món ăn trong tủ lạnh siêu thị, đề “human meat”. Đấy là hình ảnh gây sốc bởi dám nhắc nhở: con người cũng là động vật! Giết chóc sẽ chiêu cảm nghiệp lực, chiêu mộ thêm oan gia trái chủ theo mình. Giữ mạng cho loài vật là góp phần giữ trọn bổn phận người, giữ phước để có một cái kết an lành cuối đời, để có được chút tư lương bước qua thế giới khác với sự chào đón của trăm vạn khó khăn không nơi nương dựa. Lời Đức Phật lúc được chép lại có 500 vị A la hán làm chứng. Kinh Không gì chuyển hướng, Kinh Trung Bộ số 60: “Vì rằng có đời sau, nếu có quan điểm nào nói không có đời sau, thời đó là một cái thấy sai lầm. Vì rằng có đời sau, nếu ai có suy tư rằng không có đời sau, thời đó là suy nghĩ sai lầm. Vì rằng có đời sau, nếu có ai nói không có đời sau thì tự mâu thuẫn đối nghịch với các vị Alahán đã biết được có đời sau”. 
Bỗng nhớ văn hào F. Kafka với tác phẩm Hóa thân, tư tưởng trong đấy còn tươi nguyên, và có thể xem là lõi thép tâm linh trong tâm thức thời đại. Sự phi lý ngày xưa nghiễm nhiên chánh lý trong xã hội ngày nay. Đấy là nền tảng, là cái móng quá vững khiến lâu đài văn chương của Kafka khó bão tố nào quật ngã.
Hóa thân cho thấy một nhà văn có tầm vóc “quá khổ”. Kafka đã khai thác quặng kim cương ở kênh thiên tài, tức ông đã mở được cảm quan nghệ thuật bằng trực giác tâm linh. Có thể tóm tắt Hóa thân bằng câu mở đầu: “Một sáng tỉnh giấc băn khoăn, Gregor Samsa nằm trên giường thấy mình biến thành một côn trùng khổng lồ”. Độc giả đủ tưởng tượng ra được “con người” này sẽ gặp muôn vàn khó khăn và phiền phức gì. Song chung quy, thân phận của Gregor phải đối mặt với 3 điểm mà hầu như con vật nào cũng gặp: (1) - Bị xem thường: Bà giúp việc “thậm chí còn gọi anh đến gần với những lời lẽ mà hẳn nhiên bà cho là thân thiện, chẳng hạn như: “Nào, lại đây nào, con bọ hung kia!”, hay “Nhìn cái con bọ hung này mà xem!”; (2) - Phải nhận đồ ăn dơ: Em gái thân yêu của Gregor sau một thời gian ngắn đã “không còn nghĩ đến việc mang vào cho anh những gì có thể làm anh hài lòng nhất, mà thay vào đó, mỗi sáng mỗi trưa, hai lần trước giờ đi làm, cô hấp tập dùng chân đẩy vào phòng anh bất cứ thức ăn nào vớ được”; (3) - Có nguy cơ bị giết: “Gregor sững sờ khi nhìn thấy kích thước vĩ đại của hai đế giày ông bố”, nếu không có sự can thiệp kịp thời của mẹ, anh đã bẹp dí. 
Gregor nghiễm nhiên bị xem là loài vật gớm guốc, bẩn thỉu. Nhưng con vật đó vẫn nhìn thấy người thân ruột rà của mình, vẫn nghe và hiểu sâu sắc lời nói của người. Loài vật nằm ở tầng mà con người nếu không sống thật tốt sẽ phải trôi lăn vào đó. (Thuyết đầu thai chuyển kiếp đã được khoa học hiện đại chứng minh thuyết phục; có luận án tiến sĩ gom thâu lên tới 3 ngàn trường hợp xác thực thuộc nhiều nước trên thế giới). Sau một đêm Gregor bị hóa thân thành con bọ hung; cũng khác gì một người tạo nghiệp ác, (sau đêm ngủ ngon) chết thì lập tức (tỉnh dậy) thấy mình đã là con vật mới mở mắt trong chính gia đình mình. Con vật thấy, nghe, hiểu; hiểu con người đối xử thậm tệ với “đồng loại của nó” như thế nào. Thử đặt vấn đề có thể rất chủ quan: Kafka không hề nghĩ tới, nếu viết theo kiểu người chết - bị đầu thai làm vật nuôi - bị ngược đãi, bị chính con cháu làm thịt, hẳn nhiên người đọc sẽ không phục, sẽ cho nhà văn sùng tín, mượn văn chương truyền đạo gượng ép. Nhưng khi Kafka sử dụng thủ pháp phi lý, thì ông đã dựng nên một tháp ngà văn chương. Rồi đến Vụ án dự đoán về sự phi lý, cũng là suy đồi của xã hội; nhưng khi sự suy đồi đó trở nên hiển nhiên, trở lên chai sần, thì những quan tòa sẽ nghĩ ra một “vụ án” khác để tiêu khiển. Rất nhiều nhà văn nhận sự ảnh hưởng từ Kafka. Vùng vẫy để thoát khỏi cái bóng dềnh dàng này luôn cần thiết, bức thiết và dũng cảm trước những phi lý đang ngày một phình to của xã hội loài người. 
Không ai muốn kéo dài đời mình trong sự khổ não, cũng chẳng ai rút ngắn cuộc đời trong giàu sang. 
Nhưng, ví như tôi muốn tiêu hủy sự sống thông qua chu trình tận hưởng và gọi đó là Thiên Đường, thì tạm hiểu mình đã chết lâu lắm rồi. Tôi cũng từng sống trong cảnh địa ngục do chính mình dựng lên không hay biết. Địa ngục hiển nhiên tồn tại trên trái đất này, thiên đường cũng vậy. Thiên đường của người trần tục là một cuộc sống tràn đầy hoa thơm cỏ lạ, mỗi bước chân đều có bàn tay nâng đỡ, là cuộc phiêu du trên cánh đồng dục vọng vô biên, là niềm khát khao những nấc thang danh vọng tưởng sẽ thấu trời nếu tuổi thọ nối thêm vài kiếp. Đó là một thiên đường ảo tích trữ nghiệp khổng lồ vô hình tướng song đau khổ là sự thật. Với người tu thiên đường vụt hiện khi đài nước tự tâm phun trào trong thời nhập định. Thiên đường bung nở trong mỗi hình hài bất động với khuôn mặt thuần khiết. Thiên đường theo bước chân hành thiền và lúc người tu cúi xuống hòa vào bể khổ. Xưa kia xứ Ấn có một hoàng tử đã che mắt không nhìn ngai vàng chói lóa, lần theo đường đạo rồi chứng Vô thượng Bồ đề. Ở Việt Nam hơn ngàn năm sau cũng có vị vua nhường lại cuộc sống không thiếu thứ gì, lên núi nương mình dưới ánh hào quang Đức Phật. Hiếm ai từng bước qua hai thiên đường như vậy và nhận ra thiên đường nào thật thiên đường nào là ảo. 
Mỗi thời mỗi khác, nhân loại đang biến chuyển theo hướng ly viễn với chân lý của vũ trụ. Cục vàng nằm ở đâu cũng bị moi móc, đôi khi người ta còn xới tung mồ mả tìm cho ra; Phật pháp ở trước mắt là châu ngọc lại không nhiều người để mắt. Thấy pháp là người có duyên, tại những kiếp trước từng huân tu. Tu là một khái niệm chung cho tất cả người muốn trở lại nơi tự mình lưu đày rồi lạc lối. Ngay những người tu, ai bảo không lẫn lộn lối về? Nếu năm mươi người cùng hướng về cõi Tịnh thì con đường đó vẫn là sự độc hành của một trăm dấu chân không trùng khớp. Và nếu ai đó vén được bức màn vô minh, cũng xem như đã nhìn thấy Miền Cực Lạc dẫu còn xa vời giữa mây khói mong manh.
CON NGƯỜI GIẤU CÁI ĐUÔI Ở ĐÂU? 
Có thể, khi minh định được loài người thoát thai từ đâu, hẳn đó là giai đoạn đầu của sự hủy diệt, bởi chúng ta chậm tiếp cận chân lý mầu diệu. Nhân loại bằng tiến bộ vượt bậc của khoa học, những bí mật lớn về tâm linh đã rọi ra tia hy vọng cứu rỗi giống loài. Nỗ lực vén bức màn vô minh thấu cảm chân tướng vũ trụ sẽ vô vọng nếu không dựa vào khoa học huyền bí. 
Chúng ta biết, trái đất từng trải qua thảm họa Đại hồng thủy cuốn sạch người Át-lan; riêng đỉnh Himalaya và Tây Tạng nước không vươn tới, nên hiển nhiên nó được đoán định là nơi cất giấu hạt giống loài người. Ngành khảo cổ học cũng tìm thấy trong các hang động cổ xưa hình vẽ mô tả các loại máy móc về Y học, hiện đại hơn cả bây giờ; xem là nền văn minh tiền sử bị lấp vùi. Việc phát hiện ra các bích họa tuyệt mỹ ở dãy núi Alps; những dấu chân hóa thạch có niên đại cách nay mấy trăm triệu năm đã cho thấy người tiền sử từng sinh sôi, rực rỡ vượt xa nền văn minh chúng ta. Rồi giới khảo cổ còn tìm thấy các di vật cách hàng tỉ năm, khi mà vỏ trái đất chưa thật hoàn thiện... Nên biến cố “trùng tang” giữa các hành tinh, có nguy cơ gây nên bão từ không gì lạ. Nhiều năm trước có một hội nghị khoa học khám phá ở Sydney, trọng tâm bàn về tương lai ảm đạm của trái đất. Bản tổng kết không báo động cũng không đảm bảo sự an toàn cho loài người. Tuy điều đáng lưu ý, họ hy vọng cư dân trên địa cầu từ nay "bỏ ác dương thiện, cải tà quy chánh, đoan chánh tâm niệm” để cứu rỗi đại họa. Bởi tư tưởng và ý niệm bất thiện của loài người (chưa bàn tới hành động) có thể “kết tinh” thành sóng thần và bão lụt và nhiều tai ương khác. 
Nền văn minh càng phát triển, người người chạy theo lối sống vật chất, nhân tâm khô cằn hoang hóa. Một số cường quốc tự hào về việc chế tạo các loại vũ khí tối tân, tự hào việc tìm ra các hành tinh mới mà không mấy để ý đến những khám phá tâm linh mang tính quyết định cho tương lai hoàn cầu. Mundasep - Gs Y học, Giám đốc Trung tâm phẫu thuật mắt Liên bang Nga, ông đã hành trình qua Tây Tạng chụp những “con mắt thứ ba” trên các đền đài cổ, dùng kỹ thuật hiện đại dựng lại hình dáng của một loại người có tên Xô ma chi. Người Xô ma chi đã rời thế gian hoặc vẫn ngụ trong lòng các ngọn núi, như là sự di truyền hạt giống cho nền văn minh hậu trái đất; trong đó Himalaya, Tây Tạng được xác định là trung tâm quỹ gen của nhân loại. Qua tiếp xúc với các Lạt ma, Gu ru, khám phá của Mundasep là kho tư liệu quý giá về phương Đông khó có so với khoa học nghiên cứu tâm linh trước ông. 
Bây giờ khái niệm linh hồn không còn xa lạ tại Việt Nam. Viện Tiềm năng con người hiển nhiên là cầu nối thông tin giữa cõi sống và cõi chết, dẫu cho sự biết đó rất hạn hẹp ở bề thấp trong cõi Trung giới và giai đoạn Thân trung ấm của đời người. Linh hồn là cách gọi dân gian thô tục, thực tế trong kinh, Phật giải ở một tầng rất thâm sâu, gọi là thần thức, là tàng thức (alaya) lưu chủng tử và chủng tử nào mạnh nhất sẽ cơ bản quyết định cho sự đầu thai tái sanh của một người. Khoa học gia Mundasep, lúc qua Tây Tạng mới làm quen được khái niệm Từ Bi, rồi trong thời gian ngắn ông khám phá thêm các thức sau kiếp người. Ai cũng có cơ hội đến bờ giải thoát trầm luân, có thể trong chúng ta “đang là” đây sẽ cán đích trong kiếp này hoặc nhiều kiếp nữa, cũng có thể trôi trong lục đạo cả A Tăng Kỳ kiếp. Một người nông dân ngộ Đạo, nếu tính trên mặt bằng cõi nhân sinh, họ tiến bộ hơn nhiều một trí thức xem thường đạo pháp. Danh giá bây giờ, song họ phải nhận thêm nhiều kiếp nữa để tiến hóa vận mạng như người nông dân kia. 
Không nhất thiết lật lại vụ nổ Big Bang, cũng không cần soi lại thuyết Tiến hóa.
Mundasep bước đầu cảm nhận chủ nhân của các Kim tự tháp là người Átlan có tuổi thọ 78.000 năm (trong lúc nếu là của người Ai Cập mới chỉ khoảng 4 - 5000 năm). Vậy các Pharaông từng được xem là xác ướp, có thật? Giả thuyết: đó có thể là những Xô ma chi tạm thời gửi xác trong các “tháp mộ”; thời điểm loài người hủy diệt, (hồn) họ sẽ quay lại nhập vào xác duy trì giống người. “Học thuyết bí ẩn” của học giả người Nga E.P. Bờ-lavát-cai-a xuất bản năm 1937, xin phép dẫn lại từ sách Con người thoát thai từ đâu: “Tại nơi bây giờ là hồ nước mặn và những sa mạc cằn cỗi hoang vu, đã từng có một biển cả nội địa rộng lớn, trải dài từ dãy núi Himalaya hiên ngang và các nhánh phía tây qua Trung Á đến phương Bắc. Trên đó có một hòn đảo đẹp vô song là nơi cư trú của những người còn lại cuối cùng của Chủng tộc trước chúng ta”. Xô ma chi cũng gần với trạng thái “nhập định viên mãn” trong Thiền Nguyên thủy. Người tu đắc quả, tế bào của họ sẽ được thay bằng năng lượng thanh cao, có thể đưa xác lên cõi khác hoặc xác ấy để lại trần gian mãi mãi không hư hoại (một dạng như 2 vị chân tu để lại nhục thân xá lợi ở chùa Đậu). Trường hợp Xô ma chi tạm thời gửi xác trong hang đá, trong lòng đất hoặc cũng có thể dưới đại dương; họ sẽ trở lại lấy xác hoặc không, bởi chính (thể tánh) họ, bằng năng lực siêu nhiên hoàn toàn tạo được một thân hình vừa ý khác. Ở Tây Tạng có người Xô ma chi mật tu trong các hang động; người đời không được phép vào trừ những ai thực sự tịnh hóa thân tâm hoặc người xin vào với sứ mệnh lớn lao dành cho nhân loại. Điều này lô gích với số người thiệt mạng tại hầm mộ Pharaông trong các Kim tự tháp. Hiểu cách khác, xác ướp ấy được gửi lại trần gian theo kiểu Xô ma chi. Đó có thể là một phần trong quy luật vũ trụ, vĩnh viễn bất khả tri với “người thường” dẫu có sáng chế ra kính thiên văn nhìn thấu thiên hà. 
Người đạt trạng thái Xô ma chi xuất hồn gửi xác hàng triệu năm, thì họ hoàn toàn chủ động kiếm phần xác thích hợp khác hay tự tạo ra phần xác cho mình để sinh ra một giống người mới trên trái đất sau thảm họa... Chúng ta cần suy ngẫm khái niệm Nghiệp. Nghiệp là “bộ máy” tinh vi phân tích nhân tạo quả chi phối xuyên không gian và thời gian. Trong giới động vật, mỗi loài đều do quy định của nghiệp quả. Vũ trụ có vô số cảnh giới khác nhau được tạo ra để phân loại cho giới loài sinh sống. Danh sư Di Pama chui được xuống đất song khi lên người ướt rượt, để thấy ở cảnh giới bà thâm nhập, mặt đất không phải đất mà là nước. Trong kinh Hoa Nghiêm mô tả: “Ở bờ sông Hằng, có trăm ngàn ức vô lượng ngạ quỷ lõa lồ đói khát, khắp mình lửa cháy. Những quạ, kên kên, chó sói đua nhau rượt bắt. Các ngạ quỷ này vì quá khát muốn tìm nước uống, nhưng dầu ở bên sông mà chẳng thấy nước. Cũng có kẻ thấy sông nhưng lại thấy khô cạn. Tại sao vậy? Vì các ngạ quỷ này bị nghiệp chướng sâu nặng che mờ”. Cũng như trong ngôi nhà rỗng của chúng ta, nhìn thì trống không, thực tế có cảnh giới cõi âm, “người” vẫn tồn tại (trong cảnh giới của họ). Thấp hơn là cõi ngạ quỷ, địa ngục... và nhiều cảnh giới nữa vẫn “tận dụng” không gian của loài người mà xem ra chẳng ảnh hưởng đến nhau. Loài tinh tinh thông minh, khoa học giải mã bộ gen của nó gần trùng khớp với người. Cũng yêu ghét giận hờn, sẻ chia vui buồn, cũng tham sân như ai, nhưng tí chút khác biệt chính là cái nghiệp khiến nó phải là con tinh tinh trọn kiếp! 
Để phá Mê khai Ngộ, con người phải đánh đổi mọi tục lụy tầm thường trải qua sự huân tu mới mong hưởng pháp lạc. Kinh Phật vẫn từng nhắc đến rất nhiều vị La Hán, Bồ Tát thần thông quảng đại, dời chuyển không gian. Ngài Mục Kiền Liên xuống địa ngục thăm mẹ, xem Đề Bà Đạt Đa bị đọa như thế nào; Chân sư Di Pama có thể quay về nhiều ngàn năm trước ngồi chung với các tỳ kheo nghe Phật giảng Tứ thánh đế; Thiên Thai Trí Giả đại sư trong định ngồi nghe Phật Thích Ca giảng kinh Pháp Hoa ở núi Linh Thứu; ấy là “thế gian tướng thường trụ”… Người chứng Đạo hầu như có thần thông. Vậy tại sao tất thảy họ không tiêu trừ hết khổ đau cho nhân loại? Đâu dễ. Nghiệp ai tạo nấy mang. Như tên giết người đêm nào cũng nằm mơ bị rượt đuổi báo oán, sống trong ác mộng, điều này là tự chuốc lấy như chính lúc họ bước qua kiếp khác mà hậu quả còn khủng khiếp trăm vạn lần. Nghiệp tự chiêu tự cảm. Con người rớt xuống cõi này đều do lãnh nghiệp từ tiền kiếp, đòi hỏi phải hóa giải, tự tháo gỡ; Phật chỉ cho lối thoát và ai nấy tự thắp đuốc mà đi; cũng như lương y bốc thuốc, người bệnh không tin không uống đành chịu! Nếu khả năng kỳ diệu (do đắc Pháp mà có) phơi lộ trước mặt, chúng ta sẽ nổi tham; đã nổi tham liền gặp chướng ngại, nói chi đến ngộ đạo. Nếu ai đem huyền năng khoe khoang trục lợi, phô bày bản ngã, chắc chắn sẽ bị rút phép thông công. 
Thật nghiêm trọng nếu nghĩ đạo Phật chỉ dành cho một bộ phận người, ai không theo không cần giữ giới. Thực tế Phật pháp dành chung cho nhân loại. Cõi người là tầng rất thấp trong Tam giới. Chúng ta “rớt” xuống đây xem như cõng nghiệp, duy trì thân mạng cốt tạo phước hầu trả nghiệp tiêu nghiệp, nhẹ gánh mà bay lên. Muốn tìm lại đúng con đường về cõi Cực lạc, không ngọn đèn nào soi tỏ ngoài ánh hào quang của Phật. Chúng ta không nên học Phật qua “tảng băng nổi” mà phải học bằng Tâm ở phía sau văn bản, tức chặt đứt “ngón trăng”. Cho dù “triết học Kinh Phật là nền triết học cao nhất của triết học thế giới” (như nhận định của Giáo thọ Phương Đông Mỹ) thì sau sở học là hành. Là tẩy nghiệp, thắp lên những ngọn đèn trong tâm thức mờ mịt. Cao nhân Phật pháp, họ cũng chỉ nhận mình là hành giả chứ không gắn mác học giả bao giờ. Nếu cảm Phật bằng Tâm, chúng ta sẽ không mất quá nhiều thời gian chờ đợi ngành vật lý lượng tử chứng minh bí mật của vũ trụ mà Đức Phật đã nói gần ba ngàn năm trước. 
Giữa một xã hội ngày càng thực dụng, động loạn, Phật pháp cũng mềm dẻo hòa vòng dòng sống để thanh lọc tâm người, càng tối thắng khi chúng ta được chư Bồ tát hóa hiện “làm người thường” len lỏi vào nhân gian hóa độ như trong kinh Hoa Nghiêm dự báo. Từ Phật giáo Tiểu thừa (Nguyên thủy) đến Phật giáo Đại thừa (Phát triển) là một quá trình biến đổi lớn về tư duy hành đạo. Ta vẫn có thể “trà trộn” vào dòng đời, lấy đời làm trường tu, nhiếp phục tâm làm hiển lộ tánh giác. Khi miếng ăn bị xâm hại, nếu ta biết đặt sự nhường nhịn lên trên hẹp hòi thì xem như đã vượt qua một trong số cửa ải tử sinh. Khi biết chịu thiệt về mình để ban phát tình thương lên vạn vật thì nỗi sợ hãi và nghiệp nạn sẽ khó chạm được vào cánh cửa tử sinh kế tiếp. Nếu trái đất bị đảo chiều suy biến, khi đó tâm từ mà ta luyện thành sẽ là nơi an trú viên mãn. Có thể chưa nhiều người tin, (trừ các nhà khoa học lượng tử tiến bộ), tương lai nếu ai cũng chọn cho mình một câu chú (như bên Mật tông), một đoạn kinh hay thường nhớ niệm hồng danh “A Di Đà Phật”, là đang góp phần thanh lọc từ trường trái đất, góp phần thiết yếu đẩy lùi nạn nghiệp của nhân loại. 
Nếu trái đất không lâm đại nạn như nhiều “tiên đoán”, hoặc cộng nghiệp sai số hàng chục, hàng trăm nghìn năm thì tương lai gần của loài người cũng không sáng sủa cho lắm. Đạn nạn và tận thế chính là khi chúng ta bị đời sống vật chất che đi chân lý vĩnh hằng. Đại nạn chính là lúc con người không còn màng đến giáo thuyết về chân tướng của vũ trụ từng giờ phút tác động lên cuộc sống của chúng ta. Ngày tận thế chính là lúc cái chết đang sờ gáy mà chúng ta hoàn toàn mù tịt về một đời sống bên kia núi trong lúc khoa học hiện đại đã chứng minh xong chuyện chết không phải hết. Còn nhìn ở sự tướng trong tương lai, đại thế chiến tiền ẩn. Bom nguyên tử chờ kích hoạt… Sự lệch quỹ đạo trái đất sẽ tạo nên địa chấn, đại dương trồi lên và phần đồng bằng đồi núi lún xuống. Điều này lý giải nguyên do chúng ta tìm thấy những thành phố chìm dưới đáy đại dương. Thời điểm nền văn minh vật chất “lên đỉnh”, thời điểm các cường quốc “chơi cờ người” phục vụ cơn ngông cuồng của nhóm người băng hoại đạo đức, biết đâu sẽ có bàn tay thiên tượng (vốn là nghiệp quả chung từ ý niệm xấu ác của nhân loại kết tinh mà thành) xóa bàn cờ thế sự tạo nên một nền văn minh mới. Sẽ chẳng có bất công khi tất cả cùng lâm nạn song người xấu xuống địa ngục còn người tốt lên cõi thiên; người bị đầu thai loài bàng sanh còn lớp người thuần thiện hưởng phước tại các cõi vô sắc, và hơn hết là các bậc chân tu luôn bình tâm trước những đảo điên. 
Nếu chúng ta gạn khỏi “bể khổ” lớp váng vô minh và không nhìn Phật pháp qua lăng kính màu của mê tín, của chính trị và quyền lực thì miền huyền nhiệm trong mỗi người sẽ tự thắp sáng sau những bể dâu. 
HƯỚNG VỀ TAM BẢO 
Đầu năm lộc non nhú trên những cành cây tưởng đã khô mục, như là biểu tượng cho sức nhẫn nhục tuyệt vời lấp lánh dưới bầu trời Phật pháp. Chan hòa sự sống với vạn vật để lắng tâm nghe sơn hà đại địa cỏ cây hoa lá cất tiếng chào mừng giữa không gian tràn đầy ánh sáng. Chánh điện sáng trưng, mai bung hoa rực rỡ, bên ngoài cây cối đâm chồi biêng biếc. 
Không gian chùa nền nã thanh thoát. Phật tọa trên bục cao với ánh nhìn từ mẫn. Phật tử và người dân cố xứ đến chùa tạ ơn Tam bảo gieo duyên lành. Sự khởi đầu cho một vòng quay của trái đất, là sự khởi đầu cho một vòng đời. Không phương hại một con vật nhỏ nhất, không làm gãy một nhành cây. Cùng chan hòa sự sống vạn vật. Cùng lắng tâm nghe sơn hà cỏ cây hoa lá cất tiếng chào mừng giữa không gian tràn đầy ánh sáng. 
Tôi vẫn thường dẫn các cháu lên chùa vào những ngày Tết thay vì đến các điểm vui chơi rầm rộ. Chúng ta thường bỏ qua giai đoạn quan trọng trong đời người là “Thai giáo”. Thật diệu kỳ khi thai nhi ngày đêm được nghe hồng danh đức Phật, được nghe kinh Địa Tạng tẩy bớt nghiệp chướng từ đời quá khứ. Một đứa trẻ vừa lớn lên được mẹ cha thường dẫn lên chùa sẽ là vốn quý vô ngần. Đứa trẻ không được giáo dục tinh thần của đạo Nho và hơn nữa là Phật pháp sẽ khó hoàn thiện mình trong tương lai. Câu “A Di Đà Phật” gieo vào tâm là mầm giống quan trọng nhất đời người. Hạt giống ấy sẽ có một ngày tách vỏ hướng về ánh hào quang của Phật như một mầm xuân mụ mẫn giữa đất trời. 
Chùa chính là mái hiên vĩnh cửu che chắn mỗi phận đời trong thăm thẳm. Đầu năm được gặp Phật lễ Phật, được gặp quý Thầy nghe giảng pháp thì không phước nào lớn hơn. Nhiều gia đình ở ngay bên chùa song Phật pháp vẫn là một điều rất xa lạ. Duyên của họ trong tiền kiếp quá mỏng, cũng do nghiệp che mờ. Con thỏ nếu phải đeo kính râm thì củ cải nào cũng là cà rốt. Tin hay không tin có thế giới Cực lạc đang chào đón bất cứ ai thiết nguyện sanh về, chính là thể hiện người ấy đời trước gieo thiện căn sâu cạn. 
Lễ Phật ở chùa hay lễ Phật tại gia là nét văn hóa tâm linh viên mãn. Lạy Phật để xả bớt cái ngã chất ngất. Lạy Phật và chỉ xoay vòng câu “A Di Đà Phật” từng chuỗi, thật khó cách tu nào thắng diệu hơn. Lên chùa không phải cầu xin. Phật sẽ không cho chúng ta thứ gì ngoài phương tiện cứu cánh. Cầu xin Phật mà không rốt ráo làm theo lời Phật cũng chẳng khác tín đồ ngoại đạo. Khi một ai dơ tay lên cầu xin thì Ngài sẽ cười và cầm bàn tay của người đó quay về phía họ: “Phật là con sao còn cầu”. Trong mỗi người đều có Phật tánh. Trong chúng ta cũng có ma tánh, quỷ tánh. Dùng câu Phật hiệu kết lại thành phiến để phủ lên, lâu ngày giặc phiền não sẽ héo, tâm hiện trí tuệ chói ngời. 
Lạy Phật - Niệm Phật, bởi từ lâu ta cứ tưởng mình thông minh tài giỏi; từ lâu tưởng mình hơn người, nắm trọn tri thức nhân loại, mà thực ra toàn vọng. Lạy Phật để thấy mình sao quá u mê. Nay từ trong lầm lạc được Phật chỉ ra con đường sáng, thật muôn lần đội ơn sâu dày. Ở Vạn Phật Thánh Thành, ai muốn trở thành đệ tử của Hòa thượng Tuyên Hóa, trước hết phải lễ Phật đủ một vạn. Tâm còn sân hận, vẫn ganh ghét hơn thua, vẫn gồng mình lên trước những trái khoáy, chạy theo ta bà thị phi, dẫu tu đến đầu bạc răng long Phật cũng không thể ban cho ta Vô Lượng Thọ tự tại phiêu du trong dòng thời gian bất tuyệt. Và mỗi mùa xuân đến, khác gì ta bước gần hơn cái hố sâu thăm thẳm mong chi được cứu rỗi. 
Mùa xuân, hoa cỏ đua nhau khoe sắc. Con người cũng khoác lên mình những bộ cánh tinh tươm, góp phần tô điểm cuộc đời tươi đẹp. Các lão hòa thượng khuyên nhủ: Chúng ta có thể dùng thành quả chân chính dâng lên chư Phật. Nhưng quý giá nhất vẫn là cúng dường Tam bảo công phu tu tập của mình. Những khám phá của khoa học đã khiến nhân loại kinh ngạc. Càng kinh ngạc hơn khi phần lớn trong số đó vô tình chứng minh lời Phật. Con người sẽ thực sự lớn khi nâng tầm nhận thức về vũ trụ và nhân sinh, trong đó liễu thoát sanh tử là trọng yếu. Con người thật nhỏ bé, và sẽ biến mất nếu không nương mình dưới ánh hào quang vô lượng. 
Quên năm cũ với bao phiền muộn. Chúng ta dẫu đứng cao nhất trong loài người thì một ngày không xa quả địa cầu này cũng tàn hoại. Những bước chân đầu tiên của năm hướng về Tam bảo, là rút ngắn con đường hướng về nước Phật. Tiếng chuông chùa vẫy gọi, Tâm Kinh đang vẫy gọi những ai mở kho tàng tâm dung chứa tất thảy những gì vũ trụ. Hướng về Tam bảo chính là nhận diện đúng giá trị kiếp người giữa hư không tận pháp giới. 
Có một vị sư từng đưa ý tưởng mở khóa tu “ngày ba mươi tết”, để xem Phật tử có thật tu trong bận rộn. Đó cũng là thông điệp “ba mươi tết của cuộc đời”, chúng ta sẽ phải bỏ lại mọi thứ dẫu quý giá vô ngần lật qua một trang đời khác. Lý tột cùng trong Tịnh tông là chúng sanh có đủ nguyện lực và niệm lực cầu sanh về Cực Lạc? Có trăm ngàn lý do khiến ta lấy khổ làm vui; có Phật tử còn bảo: mong Phật thư thư để con ở lại Ta bà làm Phật sự, hàng năm tổ chức lễ tết cho Phật; dẫu sao đây cũng là lý do dễ thương. Tâm còn bám chấp bể khổ, biết yêu thương mọi người, khuyến người hướng về nẻo thiện âu là duyên lành. 
Tôi từng may mắn dự pháp ở một ngôi chùa làng ấm cúng, đêm đêm cùng đạo tràng niệm Phật thanh lọc ưu phiền. Có lẽ không nhất thiết phải nêu tên chùa; cái tên chỉ để gọi chứ không phải danh vị cao sang. Đạo tràng nơi đây thật đặc biệt. Mấy chục năm ròng tháng ba mươi ngày tối nào cũng niệm Phật với đủ giai tầng xã hội. Riêng điều này đã rất hiếm so với hàng trăm ngôi chùa khác ở chốn Thiền kinh. 
Ước mong gieo thiện duyên với người dân mỗi lần ngang qua chùa và nhất là đón quý Phật tử gần xa, cả đạo tràng lên kế hoạch dựng lễ đài từ trước tết hàng chục ngày. Ai đều vất vả kiếm sống; người làm ra nhiều tiền nghỉ ngày nào tiếc ngày đó song đều phát tâm năng nổ phụng sự. Từ gã thợ mộc, tay thợ điện, anh thợ vi tính, người cắm hoa cho đến lao công, tất thảy đều hướng thượng với tấm lòng thành kính. Chợt nhớ câu chuyện trong Kinh: Thời đức Phật ở tinh xá Kỳ hoàn, vua A Xà Thế theo lời khuyên của quần thần đã đem rất nhiều đèn cúng dường, nhưng không bằng công đức của một bà lão ăn xin cúng năm tiền dầu. Là sự cúng dường với tâm thuần thành gần như cả gia sản của bà lão; còn vua A Xà Thế cúng vô vàn đèn song tính ra chỉ một phần nhỏ xíu trong gia sản, và quan trọng là tâm chưa thuần thiện. Việc cúng dường phải từ sự rung động trước ân sâu của chư Phật, việc bố thí phải từ tâm thương yêu kẻ nghèo và chúng sanh trong các đường khổ mới viên mãn phước đức. Đã người tu ai chẳng hành thiện, song hành thiện chưa hẳn là người tu. Rất nhiều người đến chùa cúng dường bằng đồng tiền không sạch lại với mục đích cầu lợi trong lúc không chịu nghe và hành theo lời dạy về thập thiện, ngũ giới, xem Phật như thần thánh quan tham... 
Ngôi chùa làng qua thời gian ngắn mới thấm thía nguyện lực từ bi của Phật. Kể cả tà ma ngoại đạo cũng là đối tượng cứu độ của Ngài. Ý của Hòa thượng Tuyên Hóa: phần lớn tâm Phật chính là từ tâm ma quỷ mà tu thành. Anh em Phật tử trong chùa vẫn đùa nhau, rằng chỉ ở đây mới tiếp đãi những cá nhân quá đặc biệt. Một người được xác định “vướng âm” khiến gia đình đau đầu nhức óc. Lần ấy tạt vào chùa uống trà, thế là dính luôn, không đêm nào vắng, lặng lẽ đến, xong thời công phu lại lặng lẽ về. Ít nhất có 4 trường hợp bệnh viện xác định “K”, họ kiên trì đến chùa niệm Phật cùng đạo tràng, một thời gian bệnh thuyên giảm và có người lành được hai mươi năm tính cho đến nay. Lại có trường hợp “ma men” quậy từ nhà ra chợ, công an cũng bó tay. Lần mần sao một hôm “đi lạc” vào chùa. Thời gian đầu chẳng ai dám ngồi gần, mà có phải ngồi gần cũng không thể nhiếp tâm niệm Phật bởi gã quá hôi… Giờ con người ấy khác nhiều. Sân chùa sạch sẽ một phần nhờ anh quét dọn, lúc chùa đụng sự luôn xắn tay năng nổ. 
Mỗi đêm cứ đúng 7 giờ, tiếng chuông và mõ vang lên, sau bài sám hối là câu Phật hiệu nối nhau nhấp nhô dội sóng. Thời nay ngành vật lý đo được sóng âm dao động trong vũ trụ; thí nghiệm cho thấy câu Nam mô A Di Đà Phật mỗi lần được niệm (niệm thầm hay ra tiếng đều phải lắng tâm nghe rõ), sóng âm loang xa vô tận khiến không gian trở nên nhuần nhị, thanh lọc thân và tâm. Nếu ai chuyên chú niệm Phật ít năm sẽ trở thành một con người hoàn toàn khác, tương ưng với tánh đức bởi chúng sanh vốn dĩ có Phật tánh. 
Ngày đầu tiên bắt tay vào trang trí chùa thật ý nghĩa. Sáng đó một đạo tràng viên chiêu đãi cà phê. Bên hiên chùa, mọi người thưởng thức hương vị thơm ngát của loại cà phê rang xay thứ thiệt không pha trộn; sau đó nhấp ly trà đậm. Việc đầu là làm sạch chánh điện. Bụi bám ở các tấm kính đặt tượng, mạng nhện; các đồ thờ, lọ hoa được phía nữ nhẹ nhàng đưa xuống lau rửa. Những tượng Phật, Bồ Tát sẽ được phái nam lau riêng bằng những chiếc khăn mới, tay làm miệng niệm Phật giữ tâm thanh tịnh.
Thứ đến là bệ đặt tượng Phật trước sân. Mấy năm trước có một người dỡ nhà thay kèo cột, anh em Phật tử ngỏ lời xin và họ vui vẻ cúng dường; đạo tràng nhờ thợ mộc làm bệ đánh dấu kỹ từng bộ phận. Trong hoàn cảnh khó khăn, một thanh niên đề xuất ý tưởng mua rá nhựa úp hai cái lại một, thêm hai viền rua rồi luồn đèn quả ớt vào trong, giảm chi phí đáng kể so với đèn lồng mà vẫn sinh động. 
Cây mùa xuân là điểm nhấn. Một cây kiểng đẹp được cắt tỉa nghệ thuật, sau đó gắn lên những phong bì chúc tết có hình Phật Di Lặc cười, bên trong là tờ bạc mới kèm theo câu kinh/ kệ hay lời khai thị ngắn ngọn nhẹ nhàng. “Niệm Phật một câu phước sanh vô lượng/ Lạy Phật một lạy tội diệt hằng sa”. Đức Phật từng dạy, tội lỗi của chúng sinh tích từ vô thỉ, nếu có hình tướng sẽ đầy cả hư không. Lạy Phật, niệm Phật, phóng sanh, bỏ ác tích thiện là phương pháp tối ưu tiêu bớt nghiệp chướng, sớm nhẹ gót phiêu du. Đầu năm hướng về Tam bảo, quang cảnh ở chùa dẫu quá khiêm tốn so với Cực Lạc, song cũng khiến lòng người thanh thoát… 
Kết thúc công việc trang hoàng, cũng là buổi tất niên. Những chiếc chiếu sạch sẽ trải ra. Trà, bánh và hoa quả. Ông trưởng Ban Hộ tự lễ tạ ân đức chư Phật rồi chung vui cùng đạo hữu, ôn lại những ngày đầu gian khổ đến nhận chùa từ ban quản lý của làng. Hồi đó cỏ dày đặc tốt ngang người. Rồi bao rắc rối chưa giải quyết, kinh tế chùa eo hẹp. Nhưng rồi trời ngày một sáng. Những đêm cuối năm nhiều Phật tử đến ngủ lại chùa, ngồi với nhau bên chén trà khuya. Giao thừa anh em còn được các o chiêu đãi bữa chay thịnh soạn. Bếp chùa ở hậu liêu đủ mươi người cùng phục vụ những hôm đại lễ vài trăm suất. Nhìn cảnh Phật tử từ trẻ đến già quây quần bên bếp lửa củi làm lụng chuyện trò ngỡ mình được trở lại quê nhà trong một buổi gặp đặc biệt của đại gia đình. 
Từ chiều ba mươi, bàn thờ Phật ở mỗi nhà đã sạch sẽ, nhiều hoa tươi, trái cây; người nghèo chỉ cần thành kính dâng lên ly nước trong. Người rỗi tới chùa dự khóa thường lệ, người bận việc thì đến vào tầm mười một giờ hơn. Ai nấy áo tràng trang nghiêm, chắp tay hướng về chánh điện, lễ bắt đầu bằng hồi trống chuông Bát nhã. Chuông vang, trống dồn hòa theo tiếng mõ trầm ấm, nhắm mắt bỗng thấy lâng lâng huyền nhiệm. Vào phút giao thời, cả đạo tràng nguyện đem công đức hồi hướng về khắp tất cả chúng sanh và đệ tử an lạc, âm siêu dương thái. Mọi người cùng lễ Phật và an tọa niệm hồng danh Đức Từ Phụ. Tiếng niệm kết thành sóng âm loang xa xô dạt chướng khí, dọn đường cho một ngày mới tinh khôi.
Tết năm ngoái tôi về thăm ba mẹ. Quê đã vắng nhiều những mái nhà tranh. Về vội đi vội, không biết rằng quê đang dần hình thành một mái ấm viên mãn. Hôm nay có người bạn gọi điện, bảo tớ đang ở quê, về chơi cho vui, ta viếng chùa. Một ngôi chùa. Niềm vui dâng ngập. Cái tin khiến con tim tắc nghẹn, muốn ứa nước mắt. Nơi quê xa có ba mẹ, họ hàng, bà con lối xóm... những người ngày đêm tôi chỉ mong một điều duy nhất là ai cũng sẽ đến với Phật, sớm nhận ra Bể Khổ. 
Quê nhà đang có một vườn hoa Phật pháp. Hoa nở rộ quanh năm không héo tàn như chính trong khu vườn ở Cực Lạc thế giới. Những bông hoa từ bi trí tuệ khiến tâm trở nên bình lặng trước dòng đời cuộn chảy. Bỗng nhớ quê. Nhớ cái vùng chiêm trũng nghèo khó nay được khoác tấm áo mới. Quê đã bớt bao gia đình lầm lũi “ăn nước đái muối” vẫn không đủ tiền chu cấp cho con đến trường. Anh đầu tôi ngày xưa cũng nghỉ học đi buôn cùng ba mẹ chèo chống qua cơn bĩ cực. Nhiều bạn tôi nay thành đạt ngoài sức tưởng tượng. Có đứa sắm cả ô tô chạy quanh đường làng chật hẹp, cha mẹ nở mày nở mặt. Nào hay cuộc đời không gặp Phật pháp thảy đều phù vân. Thời xưa mắc bệnh đậu mùa là hết chữa. Người ta trầm trồ nhờ nền Y học phương Tây phát triển hóa giải nhiều căn bệnh nan y, mà không tự hỏi thời nay loài người đã khống chế được nhiều bệnh quái gở khác? Bao người từng đứng bên bờ vực chết, Y học loại khỏi danh sách chữa trị, họ chuyên tâm một lòng tin Phật niệm Phật chẳng những trở về từ cõi chết mà còn sống lâu sống khỏe. Tịnh tông khuyên người niệm “Nam mô A Di Đà Phật”, thực hành suốt ngày đêm. Nếu lúc nào cũng nhớ niệm Phật thành tâm, người ấy dần tiêu tai miễn nạn. Phật luôn nhắc phải tin ở mình. Phải tin, chính mình là Phật chưa thành và sẽ thành. “Tâm tác tâm thị A Di Đà Phật” (Tâm này làm Phật, tâm này là Phật). Tin Phật trong mình là sự thật. Nhẹ nhàng với mọi thứ, không tham đắm dính mắc, bớt nóng giận chấp trước phiền não, tập yêu thương mọi người và loài vật, Phật tánh sẽ cơ duyên hé lộ. 
Tin trong ta có Phật tánh, là tin Phật trên cao. Chưa tin trong ta có Phật mà hướng lên cao lạy lục cầu xin ấy là mù quáng, là ảo tưởng hướng ngoại tìm cầu. Đạo Phật phải mang danh tôn giáo cũng chính bởi những người còn thiếu duyên như vậy. Cần phá bức tường kiếp trước kiếp sau. Khư khư giữ mỗi kiếp này, chúng ta nhìn đời dường như bất công. Nhân quả ba đời (không hẳn từ ông đến cháu, mà có khi ta gieo phước đời này mãi đến ba kiếp, có khi hằng chục hàng trăm kiếp sau mới nhận được ơn báo). Phật đưa ra những định giới đo lường một người tốt thật sự như Ngũ giới, Thập thiện. Ta lại thường nuông chiều bản năng nhảy khỏi khuôn vàng đó. Bậc cao tăng Chinkung; người được nhiều đại học danh tiếng như Griffith, Queensland tặng 4 bằng Tiến sĩ Danh dự, lúc giảng kinh Địa Tạng có nêu tiêu chuẩn được thân người kiếp sau trước hết phải dựa vào phước thứ nhất trong Tam Phước trong Quán Kinh: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”. Không cố làm thì phước lớn đến mấy có ở đời này chỉ hưởng trong tam đồ ở kiếp sau. Trong một buổi giảng kinh Vô Lượng Thọ, Hòa thượng còn nhắc lại: Tu theo Thập thiện ít nhất đạt 80%, kiếp sau mới có được thân người. So với tiêu chuẩn Phật ví trong kinh, cánh cửa này hãy còn rộng. Thập ác đối nghịch với Thập thiện, gồm: sát sanh, trộm cắp, tà dâm (thân nghiệp), vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ (khẩu nghiệp), tham, sân, si (ý nghiệp). Trừ một giới không uống rượu, còn lại Thập thiện đã bao hàm Ngũ giới. Trong Tịnh tu tiệp yếu, cư sĩ Hạ Liên Cư (được xem là Bồ tát tái lai) soạn trên tinh thần kinh Vô Lượng Thọ, có đoạn dành cho người tu tụng đọc hàng ngày: “Vạn đức hồng danh năng diệt chúng tội. Quả năng nhất hướng chuyên niệm, tự nhiên cấu chướng tiêu trừ, bất đản đạo tâm thuần thục, thả khả phước huệ tăng trưởng, lâm mạng chung thời thánh chúng hiện tiền, từ bi gia hựu, linh tâm bất loạn, tiếp dẫn vãng sanh Tây phương Cực lạc thế giới”. 
Trong Tam giới có Tam thiện đạo và Tam ác đạo. Chúng sanh trong Tam thiện đạo có ba dạng: thiên nhân, người và loài phi thiên nhân. Trong đời ai phước báu lớn lắm mới lên được cõi trời. Đứng ngoài khuôn khổ Thập thiện, dẫu phước lớn, chết rồi dễ đầu thai trong ác đạo chịu khổ luân phiên dễ hơn trở bàn tay. Kinh Pháp Cú viết Phật pháp bao giờ cũng khó nghe. Nên Lão Tử mới thấy "kẻ hạ sĩ nghe nói đến Đạo thì cả cười". Đạo, đứa lên tám cũng nhớ cũng hiểu mà đến ông già tám mươi chưa chắc làm nổi. Phật luôn dạy hãy biết đứng về phía thiện giúp đời, một lòng cống hiến. Nhiều cuộc đời chỉ là một canh bạc đỏ đen bất tận. Đến lúc nợ nần chồng chất, ái biệt ly khổ, tuyệt đường máu mủ tìm đến cái chết hòng tránh nghiệp quả, không hay hành động ấy tội lãnh tương đương giết một sinh mạng. Qua bên kia mới sáng mắt, nhưng đã muộn! Người biết niệm Phật lạy Phật nghiệp đã không nặng đến vậy, ít ra nghiệp sẽ được chia thành từng gói nhỏ. Nhân duyên nghiệp báo quay vòng. 
Là Bồ tát “đầu thai” xuống trần gian hóa độ, thì họ cũng với nghị lực phi thường nhẫn đến những điều người đời không thể nhẫn, khổ đến những điều khó ai vượt qua. Đó là “niềm cảm hứng” cho đời sau soi mình tinh tấn hành Pháp, gỡ khỏi xác thân thô uế danh văn lợi dưỡng. Cái tồn tại vĩnh viễn hết đời này qua đời khác ta không trân trọng lại chăm sóc cái tạm bợ. Thập ác làm tâm ô nhiễm; tâm bệnh thì thân bệnh. Phật lúc rời nhân gian có để lại Kinh điển - chính là dược liệu. Tôi đọc kinh không hiểu liền nghe giảng, nghe rồi tập buông bỏ; ai từ bi hơn thì tự giác giác tha, xả kỷ vị nhân. Lời vị đại sư Tây Tạng Tsongkhapa: "Tinh thần lợi tha là thái độ thông minh nhất chúng ta có thể có được để đáp ứng toàn bộ nhu cầu của chính mình". Bớt chạy theo Ta bà, tâm dần bình lặng, còn lo gì thân bệnh? Ra ngoài Thập thiện tức ta không chịu uống thuốc đắng giã tật, ai uống thay ta cũng đâu lành bệnh. Phật muốn ta học, rồi hành, tự khám phá linh tâm, tất cả đức tướng trí tuệ sẵn có trong ấy. Ngài Huệ Năng lúc chứng ngộ đã reo lên: "Nào ngờ tự tánh vốn trọn đủ"; khế hợp với kinh điển: “Phật do tâm sanh, tâm tùy Phật hiện, tâm ngoại vô cảnh, toàn Phật thị tâm”. Hướng ngoại tìm cầu chẳng khác khom lưng sửa bóng mình. "Con người không cần phải bận tâm lo lắng đến vận mệnh thế giới, vì đó không phải là vấn đề của hắn, mà chỉ lo giải quyết vấn đề riêng tư của chính mình, tức là vấn đề giải phóng, giải thoát”. (Henry Miller, Phạm Công Thiện dịch).
Lục tổ Thiền tông nhắc nhở: “Bậc chân tu không thấy lỗi người”. Hành Thập thiện đến tâm sáng trưng mới có thể sửa người. Sửa mình, người tự khắc sẽ tốt. Sửa tâm đến cả những con sóng ngầm ý nghiệp cũng biết gục đầu sám hối. 
Đạo Phật dùng hoa sen làm biểu pháp: sống trong bùn nhơ vẫn thanh sạch và nở những đóa tinh khôi. Hoa sen là “quốc hoa” ở Tây phương Cực lạc. Kinh thuộc Tịnh độ tông đặc biệt miêu tả khung cảnh trang nghiêm tịnh khiết cõi này. Phật A Di Đà đưa ra đại nguyện, ai tinh ròng niệm danh hiệu của Ngài tương lai sẽ được sanh về nước đó. Hễ ai phát tâm niệm Phật, trong ao sen báu ở Cực lạc quốc sẽ nở một bông hoa. Nhất hướng chuyên niệm nương vào lực của Thập thiện nghiệp, hoa sen càng lớn và rực rỡ; lúc lâm chung, chí hướng “mười niệm” sau rốt liền được hóa sanh từ hoa sen, vĩnh viễn thoát khổ hưởng lạc, thoát luân hồi sáu cõi trừ phi người ấy phát nguyện trở lại Ta bà rộng độ quần sanh. Kinh Pháp Hoa chép câu chuyện về người tiều phu gieo nhân lành chỉ với một câu “Nam mô Phật”, mãi hơn năm trăm kiếp sau hạt giống này mới nẩy mầm và ông đã vượt thoát sanh tử. Câu hồng danh A Di Đà Phật được niệm bởi tín tâm và với sự thấu hiểu sâu sắc chánh pháp, nó mãi là chủng tử dẫu người ấy trôi qua vô số kiếp. Cũng vậy, sen một khi vắng bặt hương và sắc màu sự sống, cội rễ tưởng tan trong bùn đất một ngày đẹp trời bỗng lại vươn lên những mầm xanh tươi bất diệt tại hồng trần. 
Ta cõng nghiệp từ muôn kiếp, muốn tiêu trừ không gì hơn niệm Phật lạy Phật. Một người hy sinh lợi ích của mình cho kẻ khác, có đáng cúi lạy?; còn Phật cứu khổ muôn loài trong Tam giới lẽ nào không xứng lễ lạy suốt đời. Cúi mình lễ Phật, cái ngã, cái tham sân và si mạn ắt nhẹ bớt. Thanh sạch lạy Phật niệm Phật; đêm nằm dứt hẳn mọi sự, quyết nắm câu “A Di Đà Phật” trôi vào giấc ngủ kỳ thôi. Từ đêm qua ngày từ ngày sang đêm ta quên tịnh niệm, lúc gặp ma chướng sẽ không còn nhớ Phật là ai. Tu để có được một cái chết thảnh thơi an lạc, cao hơn là được chúng thánh và Phật hiện thân tiếp dẫn chính là bảo vệ thành công mỹ mãn Luận án Cuộc đời. Chỉ từ một đến mười niệm lúc lâm chung, song có được phước báu vô lượng đó đòi hỏi phải trì niệm hồng danh và hành thiện giới suốt đời không buông lung. Hành đến mức tự niệm, không khởi ý mà trong tâm cứ vang vang “A Di Đà Phật”, là thời khắc của cực lạc bắt đầu. Chợt nhớ Thái tử Tất Đạt Đa từ trong nhung lụa vương quyền nhận ra cái hữu hạn đời người liền buông trọn thế sự tu hành quyết ra khỏi Tam giới, chứng Vô thượng Bồ đề. Đi qua những ao sen cuối hạ, nhìn những đóa sen rụi tàn mới thấm “nỗi đau” của chư Phật Bồ tát nguyện vì chúng sanh mà trở lại bể khổ trầm luân... 
HỌC PHẬT TỪ TRONG THAI TẠNG 
Đức Phật xem thể tánh của mình đồng đẳng như bao chúng sinh. Phật không cho lời mình là khuôn vàng thước ngọc mà đòi hỏi người nghe phải tự chứng kinh điển. 
Thiền sư Hắc Thủy Thừa Cảnh bên Trung Hoa có hai câu thơ tuyệt cú: “Rổng rinh vô hạn trùm trời đất/ Ẩn hiện sương mù nắng Phật lên” (Quách nhiên thản đấng châu sa giới/ Trước vụ tiềm dung Phật nhật huy). Thi nhãn nằm ở “nắng Phật”; ý của ngài: “Đất lớn che không hết, mặt trời ấy lồ lộ khắp mọi nơi”. Phật pháp vô biên trùm khắp các cõi, không gì không bao hàm song không phải khẳng định sự cao vời mà thấm nhuần ánh sáng đến mọi ngách tối thế gian. Đạo Phật chính là phụng sự. Thế nên bảo đạo Phật chối bỏ, xa lánh, phủ nhận nhân gian là sai lạc! Lời đúc kết vàng ròng của giáo sư lỗi lạc Phương Đông Mỹ: “Học Phật là sự thọ hưởng tối cao của đời người”. 
Đạo Phật, và cả khoa học ngày nay cũng thừa nhận: con người được cấu thành từ vật chất (thân xác, sự dung hợp của tứ đại) và phi vật chất (tâm, ý/thức...). Một hành động của thân bao giờ cũng xuất phát từ tâm (ý) rồi mới dẫn lên trí, trí sẽ phát lệnh chân tay miệng tạo tác. Một câu trong Đại học: “Bậc quân tử nhất định phải khiến cho ý niệm của bản thân mình được chân thành”. Con người, nhất là những người đắc quả bây giờ là chu trình tiếp nối các đời trước, mọi “dữ liệu” được tồn lưu ở thức thứ tám alaya. Và, chỉ tính trong hiền kiếp này, trước Phật đã có 3 vị Phật xuất thế… Sau Thích Ca Mâu Ni Phật, theo kinh Thủ Lăng Nghiêm: hiện nay tuổi thọ của loài người ở trong kiếp giảm, khi giảm xuống còn 10 năm rồi lên đến 84000 tuổi, thì Phật Di Lặc sẽ xuất hiện tiếp tục khẳng định và hoằng truyền Kinh điển. 
Đạo Phật nhằm tu Thân. Tu để sống tốt hơn trong kiếp này và cứu cánh hướng tới Niết bàn. Đạo Phật là con đường giác ngộ đưa chúng sanh ra khỏi lục đạo, vĩnh viễn thoát khổ. Hễ chừng nào còn luân hồi, nguy cơ vào ba đường ác thường nhiều hơn ba nẻo thiện; phần Phật thuyết về đạo hạnh làm người có thể gọi là Triết lý Nhân sinh. Con người trang bị các triết lý khác rồi mới quay trở lại trang bị triết lý nhân sinh là vòng vèo, nhiều khi lạc mất đường về rồi biết đâu chẳng còn thời gian? Phật nói “Biển khổ mênh mông quay đầu là bến”; đời biến thành câu thông dụng "Quay đầu là bờ" để chỉ người sai lầm, sớm tỉnh ngộ viết lại cuộc đời.
Đạo làm người ai không trọng chữ Hiếu. Nàng Kiều trọng hiếu mới bán mình vào lầu xanh chuộc cha. Cổ nhân dạy: “Vạn ác dâm làm đầu, trăm thiện hiếu trước tiên”. Từ Nho đến đạo làm người ngày nay chữ Hiếu vẫn luôn được tính điểm cao nhất. Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật dạy Hoàng hậu Vi Đề Hy (mẹ vua A Xà Thế) chánh nhân vãn sanh là Tịnh nghiệp tam phước, còn là chánh nhân của mười phương ba đời tất cả chư Phật Như Lai; câu đầu tiên: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng”; chữ hiếu làm đầu. Trong nhiều kinh Phật khác đều tôn hiếu đạo; Địa Tạng kinh còn gọi với một tên khác là Hiếu kinh. Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, một trong ba người được xếp hàng thánh nhân của thế kỷ thứ 20 (cùng với thi hào Tagore và Mahatma Gandhi) - "bậc thầy tâm linh vĩ đại của nhân loại" đã nói: "Chúng ta sanh ra và tái sanh trong vô số kiếp. Có thể mỗi chúng sanh đã từng là cha mẹ của chúng ta trong một đời này hay đời khác". Kinh Đại báo phụ mẫu trọng ân: Một lần Đức Phật dừng lại bên đống xương khô và lạy, đệ tử hỏi nguyên do, Ngài nói đây là cha mẹ ta các đời trước; rồi giảng, xương to và trắng là của người cha, xương nhỏ và thâm là đàn bà bởi mẹ vắt kiệt sữa và máu cho con... Đọc kinh này ai không nước mắt thấm vào trong! 
Ở đời thấy người tu rời đại gia đình, rời cha mẹ lên chùa hay nương tịnh thất riêng cho là... bất hiếu. Người tu họ hiểu nếu không thành tựu nghiệp đạo, sẽ không thể giúp ai có thân người ở kiếp sau nói chi về nước Phật. Phần lớn cha mẹ đều để lại gia sản (khổng lồ), nhưng khi qua cõi Thân trung ấm (bardo) chịu nghiệp quả từ việc kiếm số tiền đó cho con, mong con trích ra một phần trăm làm thiện hồi hướng cho mình - là điều khá hoang tưởng. Bởi, con đâu có học Phật, đâu biết cha mẹ cần con tạo công đức chứ không phải là đồ hàng mã! Đạo Nho được đề cao xưa nay cũng nhờ một chữ Hiếu to đùng treo nơi trịnh trọng mỗi gia thất. Tinh thần hiếu đễ ấy nếu soi vào Đạo Phật khiêm tốn hơn nhiều. Ca dao từng đúc kết: “Thờ cha kính mẹ ấy là chân tu”. Chẳng những thờ, kính, đạo Phật còn có hẳn mùa Vu lan báo hiếu. Thờ, kính mới chỉ ở đời này, mà chưa chắc đã trọn. Đạo Phật còn thôi thúc mỗi người tu tinh tấn; nếu mình chưa có nổi tâm cầu giải thoát thì mong chi báo hiếu mẹ cha nơi cõi khác. Hiếu trần ai mới là hiếu ở cấp độ thấp. Hiếu trần ai với thứ vật chất thô lậu thảy gần như vô nghĩa ở bên kia núi. Nhiều người bây giờ lớn lên trôi tuột theo dòng đời kiếm tiền dung dưỡng thân; tưởng về xây cho cha mẹ ngôi nhà lớn, thuê người cung phụng hàng ngày của ngon vật lạ - là hiếu. Thử nhìn nhận, một người mang danh đạo đức song tới đâu cũng bị người ta chửi mắng (tất nhiên là chửi mắng có lý do), ấy chẳng phải Bất Hiếu? Thậm chí còn bất nghĩa với tổ tông dòng tộc. Ngược lại, một người sống chân thành, luôn giúp đỡ động viên mọi người không phân biệt thân sơ..., chẳng phải cha mẹ nở mày nở mặt, chẳng phải là Đại Hiếu. Mục Kiền Liên - người đệ tử đắc quả, thần thông bậc nhất của Phật nhờ nương vào mười phương chư tăng nhất tâm chú nguyện mới cứu mẹ thoát cảnh bưng chậu máu đứng trên bàn chông dưới địa ngục. Nên mới có câu niệm: “Nam mô Đại Hiếu Mục Kiền Liên Bồ tát ma ha tát”. 
Để có Hiếu và Đạo, ngoài “nhân chi sơ tánh bổn thiện”, đòi hỏi mỗi người phải tu, tức thanh tẩy vọng tâm. Trước hết lạm bàn đến câu nói của Mạnh Tử ở phương diện Đạo Phật. Tam tự kinh: “Nhân chi sơ tánh bổn thiện”. Pháp ngữ của Thiền sư Sùng Sơn đời thứ 78 từ Đức Phật Thích Ca (01.08.1927 - 30.11.2004): “Thân các bạn khác nhau, nhưng tâm các bạn giống nhau.” Kinh Phật thuyết: “Viên mãn bồ đề vi vô sở đắc”, nghĩa là tất cả có trong tự tánh; tu là khôi phục (nới rộng) lượng tâm. Hay: “Chúng sanh và Phật vốn không hai”; “Tất cả chúng sanh vốn là Phật” (Kinh Hoa Nghiêm).
Bộ kinh quan trọn nhất trong vườn kinh điển Đại Thừa là Pháp Hoa cũng viết: “Nhất thiết chúng sinh giai hữu Phật tánh, giai kham tác Phật” (Chúng sinh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật). Một đứa trẻ sinh ra tâm như tờ giấy trắng. Lúc tích lũy nghiệp chưa thức giấc, nếu gặp môi trường tốt (lớn lên ở chùa từ nhỏ hoặc trong gia đình mộ đạo, Phật tính sẽ nẩy mầm. Còn gặp môi trường không tốt, các chủng tử sẽ bám rễ vào vỏ bọc vô minh. Trẻ em đương thời mấy tuổi đầu đã không thể rời máy tính và thích chơi di động, tâm vọng loạn với muôn trò gồm cả vũ khí hiện đại tối tân. Mười đứa trẻ đang ăn thứ gì, ta thử ngửa tay xin chúng miếng nhỏ, bao đứa sẽ cho, bao đứa khư khư giữ chặt và hét lên? Có thể những kiểu như vậy rất bình thường, nhưng nếu so với bàn cân của Đạo thì thật nghiêm trọng. Nếu cha mẹ từ nhỏ dạy trẻ cho thì lớn lên, trừ hao chí ít chúng cũng không lấy của ai. Khoa học ngày nay cùng lý với Phật pháp, rằng thông minh trí tuệ được sinh ra từ nền tảng Hiếu kính, Đạo đức, Từ bi. Ngày xưa cha mẹ thường thuần thục rồi làm mẫu mực cho con học theo Đệ Tử Quy, nên con lợi lạc cả 3 nền tảng ấy. Phương pháp giáo dục này cũng khá đơn giản, mà hiệu quả không ngờ! Cứ vài ngày cha mẹ lại cùng con học một điều, thuộc rồi hành, hành nhuyễn mới học tiếp câu khác. Lúc cha mẹ vừa thấy con đang không nghe lời chẳng hạn, liền nhẹ nhàng hỏi "cha mẹ gọi... thì sao con nhỉ?"; và nó sẽ đọc ra "Cha mẹ gọi, lập tức vâng/ Cha mẹ sai, phải làm ngay". Lúc đã thực hành nhuyễn, câu đầu tiên trong Đệ Tử Quy này trở thành đức tính, rất hiệu quả mà cha mẹ chẳng nhọc công gì với con cả; bởi chính lúc đứa trẻ đọc ra là tự câu đó đã giáo huấn nó, cộng với niệm lực thánh nhân này sẽ tự có sức nhiếp phục đứa trẻ. Hay những câu khác trong Đệ Tử Quy: “Cha mẹ dạy, cung kính nghe/ Cha mẹ trách, phải thừa nhận; Thân bị thương, cha mẹ lo/ Đức hạnh kém, cha mẹ tủi; Cha mẹ bịnh, nếm thuốc trước/ Thường chăm sóc, không lìa khỏi; Khi nói năng, trước tín nhiệm/ Không lừa gạt, không nói dối; Phàm là người, đều phải thương/ Chung một cõi, một địa cầu”, v.v. Các bậc Thánh là những người thấy đến ý nghĩ của ta vừa khởi sinh trong tâm, các Ngài thông minh gấp triệu triệu lần người phàm nên tuân theo lời họ mà dạy con dĩ nhiên lợi vô biên. Song cha mẹ nào kiên trì dạy con như vậy khi chính họ không làm được, thế nên sự dạy con cũng ngang bằng tội lừa dối, đứa trẻ sớm muộn cũng thấy nên sự tuân phục của nó chỉ bằng mặt mà không bằng lòng; những thói hư của cha mẹ lớn lên nó sẽ học theo cho đúng như vậy, thậm chí còn vượt xa. Thật ra “dạy con từ thuở lên ba” đã là muộn. Thánh nhân xưa khuyên dạy từ trong thai nhi - thai giáo. Điều này người đời nay khó tin, may có khoa học chứng minh mới vớt vát được phần nào. Dạy con từ trong thai là trọng yếu. Bởi thai nhi biết ghi nhận, sự ghi nhận sâu sắc nhất, ấn tượng nhất và gần như nó tạo nên lực làm nền, thôi thúc nó trọn đời. Thai nhi được nghe thiện, tánh thiện vốn sẵn trong nó sẽ được khai dẫn. Quý nhất là thường nghe nhạc đạo, nghe pháp, nghe niệm Phật, nghe giảng kinh; đây là chủng tử khai tuệ giác và từ bi, sẽ khiến đứa trẻ từ trong thai học được chân lý nhiệm mầu, rất khó lầm lạc và khổ não về sau. Do chậm lụt sở kiến mà đứa con khởi ý học Phật hay hơn thế là muốn lên chùa, cha mẹ nghĩ mất con bèn giằng lại bằng được. Thật muôn trùng lầm lẫn! Bởi họ không biết Phật là thầy, thầy của ba cõi khắp trời người; là Đức bổn sư mà đến những nhà khoa học và triết gia vĩ đại nhất cũng bái làm thầy. 
Kinh Hoa Nghiêm: “Tất cả chúng sanh đều có trí huệ, đức tướng Như Lai”; “Như tâm, Phật cũng vậy - Như Phật, chúng sanh đồng - Tâm, Phật, và chúng sanh - Cả ba không sai khác”. Điều cốt yếu là mạch ngầm ấy có được khơi dòng. Một đứa trẻ lên ba đã thấy chúng bắt đầu nhiễm ô, huống hồ ba chục tuổi. Người tu tẩy vết nhơ ăn sâu cho đến khi tâm nguyên sơ trong trắng như… đứa trẻ mới hầu mong thấy tánh. Trong Đạo Đức kinh Lão Tử luận: “Trở về ngây thơ, đức vĩnh viễn không sai lạc”. Nước luôn được lấy để minh thị về Phật và chúng sanh không hai khác. Chân tâm tự tánh là Phật (nước trong), phàm là mê lầm chấp trước (nước đục). Nước nào cũng có thể lọc nên trong. Điều quan trọng là người ta có muốn/chịu lọc, bằng cách hành theo trước nhất là mười điều thiện. 
Thời đại bây giờ để sống tốt phải vùng vẫy, phải thiệt thòi, khổ và khiêm ái. Ấy là tu thân. “Tự thiên tử dĩ chí ư thứ nhân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bổn”. (Từ vua đến dân đều phải lấy việc tu thân làm gốc). Phật giảng: “Thắng một vạn quân không bằng chiến thắng bản thân”. Ai ai đều tự tu để cứu mình. Em trai của Phật là A Nan cũng như bao đồ môn khác, việc tu tập phải tự nương ở chính mình. Trên dòng cuồng lưu của nghiệp thức, nếu con người không biết đời thọ khổ, không tin tâm vô thường, pháp vô ngã, sẽ bị cuốn trôi đến tận cuối nguồn dâu bể. Cuộc đời - dòng chảy không ngừng của nghiệp thức ấy hòa vào máu huyết căn mạng. Đức Phật nói: “Dòng nước sông Hằng phút trước và phút sau đã khác nhau. Ta của ngày hôm qua đã khác với ta của ngày hôm nay”; thật gần với một câu được xếp hàng biện chứng kinh điển của Héraclitos: "Không ai tắm hai lần trên một dòng sông". Tu thân là bơi ngược dòng nghiệp thức, chỉ cần lơ đãng buông lơi tỉnh thức, phước sẽ sụt giảm. Ngạn ngữ Pháp: “Đừng ngủ quên trên chiến thắng”. Trong giấc thiền có từ “hôn trầm”; cần phải “mở to mắt ra”. Đạt được chút đạo quả nhỏ xíu đã tưởng mình bậc giác ngộ. Hư Vân thiền sư từng căn dặn lúc tham thiền: “Ngay cả thấy Phật Thích Ca đến dùng tay xoa đầu thọ ký, quý vị cũng chớ để ý đến, hay khởi tâm vui mừng”. “Không khởi tâm thánh, tức gọi là cảnh giới lành” (Kinh Lăng Nghiêm).
Nhân sinh triết học của Lão Tử khuyên người nên “đem thân vì thiên hạ”. Người tu chân chính trong cõi Phật không ai tu cho mình cả. Ước nguyện của họ chính là Đắc Đạo - Tái Sinh - Giảng Pháp; vòng tròn ấy liên tục từ kiếp này đến kiếp khác, như Đạt Lai Lạt Ma với 14 lần tái sinh và thật nhiều Bồ tát hóa hiện phàm nhân âm thầm giáo hóa. Phật Thích Ca thành Phật từ vô thỉ. Từ Bồ tát lên Phật không xa, song họ vẫn muốn là Bồ tát để trở lại cõi nhân hóa độ. Phật Địa Tạng giương cao tấm bảng: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật” (Địa ngục chưa trống, tôi thề không thành Phật). Hiểu thô nhất là chúng sanh chưa hết đau khổ, Bồ tát chưa hưởng niềm vui. 
Để thấy người tu nếu chưa giúp được gì ít ra cũng không đụng chạm đến quyền lợi của ai, không phiền nhiễu. Phật dặn các Thiện nam tử trong lúc giảng Kinh Vô Tự Bảo Khiếp: “Ðiều gì mà Bồ tát không muốn đến với mình chớ nên bảo người khác làm”. Khổng Tử: “Việc gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhơn). Những điều mình không muốn ở đây là sự chán ghét, khó chịu hiển nhiên và có tính phổ quát. Một bữa tiệc thịnh soạn thì khoai, sắn, cháo trắng là những món mình và người khác không ưa. Gần hơn, trong bữa cơm có vài món (dẫu ngon) song đã ngán, ta mới nảy ý bưng qua cho hàng xóm nghèo để lấy lòng. Hành động này tạo nghiệp. Miếng ăn ấy đến chiều sẽ phải đổ cho vật; còn không cho vật, nhà giàu sẽ đổ vào hố rác - vô tình gây nghiệp… Lý ra nhà giàu phải cảm ơn người nghèo thay vì tự đắc mình người tốt. Bởi nhờ có nhà nghèo, nhà giàu mới khởi được lòng thương hại, mới phát tâm bố thí, nhờ đó nhà giàu tăng phước, góp phần tăng thọ mạng và tẩy trừ chướng nạn. Phật dặn: “Các vị nên biết điều không muốn đến với mình, chớ nên cho người khác”. Là con của Phật sao có thể đẩy khó khăn về người khác; ngược lại nhận về mình cái dở, cái khó, cái nặng nề ô uế. Phật Thích Ca Mâu Ni độ người đầu tiên là Kiều Trần Như vốn đời trước đã “lăng trì” mình, để trả ơn. 
Ra đường gặp người dưng giúp đỡ ta còn hơn cả anh em ruột rà, không hay ấy là ân nhân đời trước. Biết khiêm nhu, chớ khoe khoang việc thiện (ngoại trừ lấy để làm gương), phước của họ sẽ cấp số nhân. Quá coi trọng phần vật chất ắt bỏ quên phần tinh thần. Cõi trần được tạo dựng trên nền vật chất, con người bởi thế chỉ tin những gì hiện hữu. Gửi một trăm ngàn vào ngân hàng sẽ còn đó, cũng số tiền ấy “gửi” vào việc thiện chúng ta ngỡ mất. Việc khoa học sáng chế ra máy thu âm và hình ảnh quá khứ đã phần nào cho thấy không gì biến mất khỏi không gian. Nghiệp thức là chiếc camera ghi lại tất cả ý nghĩ và hành động của mỗi người để từ đó tạo nên phước họa trong đời, tạo nên thân gì ở kiếp khác. Sự khoe khoang hãnh diện sẽ trừ phần trăm số đức ta làm được. Người đời thường sợ thiên hạ không biết đến thiện nghiệp của mình nên mới vậy, đó là lối suy nghĩ khủng hoảng thừa, thiểu trí. Kinh Hoa Nghiêm chép, đại ý, nếu các quốc độ đều nghiền ra bụi thì Bồ tát cũng đếm được. Chính vậy trong Kinh Dịch, quẻ Khiêm được xếp tốt nhất, và bao giờ cũng thuộc hàng đầu đối với người muốn nghiên cứu.
Nhẫn được đề cao trong nghiệp tu. Người có sẵn Khiêm nhu từ nhỏ khá hiếm; người sơ cơ tu Khiêm, thì phải bước qua Nhẫn. Chữ Nhẫn ở trên có bộ Đao, dưới là Tâm; động niệm (ác) thì dao rơi xuống xuyên tim! Nhẫn trong Đạo Phật có thể ví như hạnh của Đất (hiền như đất), người dội nước sạch và cũng có kẻ hắt nước bẩn vào. 
Học trò có lần hỏi chết là gì, Khổng Tử dạy: “Chưa hiểu cuộc sống làm sao hiểu được cái chết”. Câu này bàn sâu, là một hạn chế. Bàn nghĩa gần là ưu việt. Kinh Phật thường nói về luân hồi kiếp và các cõi thánh cao thanh, tuy điều trọng yếu tu tập phải luôn an trú trong hiện tại. Tu lại tưởng về quá khứ vọng về vị lai dễ lạc vào ma đạo. Người tu Thiền hay Tịnh độ, đích vẫn là giữ tâm tịch tịnh, không phóng tạp niệm. Tạp niệm quá dày quá đậm sẽ tạo nên cảnh giới khiến ta thọ nhận. Chỉ ý niệm thôi, chưa nói biến thành hành động, ý niệm thiện hay bất thiện sẽ hướng cuộc đời về phía đó. 
Tận kiếp này ai rồi cũng phải qua con sông rộng, ở đấy không một con đò nào, cũng không ai đủ sức bơi, vấn đề là phải chuẩn bị cái phao. Chọn trong những pháp môn được Phật truyền giảng, xem điều kiện và duyên mình hợp với Mật, Thiền hay Tịnh độ, hiển giáo hay mật giáo, viên giáo hay thượng thừa; từng ngày một bơm khí vào phao; phao căng thì cái chết trở nên nhẹ tựa lông hồng. Đức như “tiền”, nếu luôn sẵn tiền trong túi chẳng ai còn lo dạt về đâu; dĩ nhiên buộc phải rời kiếp này, tiền là rác, Đức mới là giấy thông hành. Tôi và bạn sinh ra được gọi con người. Nhưng nền tảng làm người nhiều lúc chúng ta chưa hẳn có, nên cái thân nhiều lúc đứng trên sự ảo tưởng không hay. Đạo Phật rốt ráo và đầy biện chứng giúp mỗi người có thể tạo chỗ đứng vững vàng cho mình trong đời này và đời sau. Đạo Phật đối với đời này không một tông phái nào đầy đủ và cặn kẽ hơn, đã chỉnh lại toàn bộ thân tâm kiếp người mà bất cứ đạo học nào cũng chỉ là nội hàm. Trí là thuyền để vượt sông ô trược cập bờ tâm nhiên. Kinh Thủ Lăng Nghiêm có nhắc đến quả vị Vô Học tức đoạn trừ vô minh đạt tối thượng Bát nhã trí huệ. Thiểu trí dĩ nhiên khó tiếp cận tri thức; nhưng bát nhã vốn “vô đắc”, “vô tri” song “vô sở bất tri” - chẳng gì không thấu triệt.
Phần II
CÕNG NGHIỆP BÊN BỜ VỰC THẲM 
Nghĩ về nghiệp khi thân còn nặng nghiệp 
Những bước chân quá khổ 
Ẩn nghĩa loài vật trong ta 
Vũ trụ nghiệp theo mình 
Phía trước là hố thẳm 
NGHĨ VỀ NGHIỆP KHI THÂN CÒN NẶNG NGHIỆP 
Thế gian bao người gặp Phật pháp, để hiểu cuộc đời vốn tràn ngập những đau khổ nào dễ tránh. Thân người quá hiếm hoi có lại, đời người mong manh nay sống mai chết và chết rồi có nguy cơ rơi vào cõi khổ vạn lần. Đời người là sự chi phối của nhân quả nghiệp báo và chết không phải hết trong nghĩa luân hồi vốn dĩ thường hằng dẫu chúng ta có tin hay không. Ta ăn uống đúng, nói đúng, trải tình cảm đến mọi người đó mới là cách hưởng thụ chân chính. Ta gặp được chân lý, là hưởng thụ chân chính. Phật luôn dạy thọ mạng và danh vị tiền tài ta có hôm nay đều từ phước phần nhiều gieo từ kiếp trước. Phước như dầu trong đèn; một khi phước vơi ắt thọ mạng lâm nguy. Những người vướng bệnh hiểm mà cứu được chính nhờ họ bất chợt tin điều này; trước án luật vô tình, họ nỗ lực tích phước, nỗ lực sám hối những bất thiện, trong ý nghĩ từng vướng mắc, ác cảm với người; cho đến lúc tự thấy yêu thương và loài vật vốn yếu đuối nhỏ bé sẽ phước tăng, dầu được chêm và đèn tiếp tục sáng. Những trường hợp chữa lành ung thư nhờ chuyển đổi ý niệm, nhờ tích phước, niệm kinh, thế giới tính không xuể. Nhưng chúng ta không mấy ai biết phước trong mạng mình nhiều hay ít, dầu trong đèn còn bao nhiêu. Lời ân sư, cuộc sống hưởng thụ chính là tiêu phước (mà người đời thường hiểu nhầm thành hưởng phước). Thế nên đứng vào khuôn khổ của giới luật vốn là bờ rào an toàn để mỗi người không sa xuống hố thẳm của nghiệp. Tôi và bạn cũng như đứa trẻ lên ba chập chững, hoàn toàn không biết phía trước có hầm hố, nên người Mẹ phải giăng một hàng rào trước hết giữ mạng cho con. Chúng ta lại ngỡ Phật pháp trói buộc tự do, và khi văn hóa phương Tây tràn vào, nhiều người bị ma lực của ảo giác hưởng thụ cuốn hút thôi thúc đã tìm mọi cách gở bỏ làm nảy sinh tai chướng khôn lường. Đương nhiên không phải ai đụng nghiệp cũng là thoái đọa, không phải già bệnh và cái chết sờ gáy mới là thoái đọa, mà thực tế nhiều người nhốt trong thứ hạnh phúc ảo là đang sống trong cảnh giới của tam đồ rồi lại chẳng hay. Nhờ còn tấm thân dật giờ nên chưa thật sự nhập không gian (mình đã thọ nhận) ở kiếp sau. Tôi và bạn chưa chạm tới công phu chuyên môn, chỉ là từ cái hiểu tri thức mà lạm bàn, cũng tự thương chính mình thay! 
Con người chết song không phải thực chết; chết chỉ bỏ lại cái thân, còn hồn/ thức còn quanh quẩn trong cõi thân trung ấm nhận chịu khổ đau từ nghiệp quả. Cái thời khắc này khiến hành giả dễ nổi sân và không còn tin Phật pháp, bởi từ lâu họ ảo tưởng mang cái tâm tham sân vượt khỏi biển vô biên nghiệp chướng. Ý niệm cho Phật không ứng linh đối với nghiệp tu, hành giả dễ liền rơi vào ác đạo! Vẫn có tín tâm và nhận ra những lầm lỗi khiến ta vẫn âm u trong thân trung ấm, là may mắn lắm vậy. Lúc sống ta có tiền đổi được cái ăn uống. Chết đi vả chăng được ăn uống là nhờ lúc sống tích phước; không có phước dĩ nhiên qua bên họ hoàn toàn trắng tay, còn khổ sở hơn một người ăn xin. Nói điều này hơi đau xót. Nhiều người tu lâu năm cũng không màng tới những chuyện “cỏn con” trong gia đình lúc có hậu/họa sự, do đó họ xem thường luôn việc dành phước (nhờ tâm thanh tịnh trong đời sống) cho giờ phút lâm chung, bởi điều này thể hiện rất rõ công phu hành chánh pháp của một chúng sanh. Ngoài công đức và phước, nghiệp dữ là điều thứ hai người ta mang theo. Có phước và nghiệp hay không chúng ta dễ biết về một người mà lúc sống họ biết bố thí tài sản, bố thí lòng từ ái, nhiệt huyết giúp người, bố thí sự yêu thương đến cả loài vật; phước đức lớn nhất là học và hành theo Phật, chuyên niệm Phật, tụng kinh hành thiền (trước hết tạo từ trường/sóng tư tưởng siêu thiện góp phần thanh lọc thời không ô nhiễm), cúng dường Tam bảo, kính Tăng, thật tâm buông chấp ta bà). Phước được tạo từ việc bất cứ người nào có giữ giới (không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm tà hạnh với ai ngoài vợ kể cả trong suy tưởng, không rượu bia say sưa và các chất kích thích gây nghiện, không nói dối, không tham sân si, ngã mạn, không hoài nghi kinh điển và lời tổ sư, thánh hiền). 
Nghiệp là sự tích hợp những hành vi, lời nói, ý nghĩ của chúng ta làm ảnh hưởng đến người khác và vạn vật kể cả ở thế giới vô hình; là lộ trình tương duyên từ nhân tới quả và ngược lại. 
Hành động, lời nói thì quá rõ. Nhưng còn ý nghĩ, xét đến cùng, nó gây nghiệp nặng, “vô tư” nhất. Bởi ta không “nghe”, không sờ thấy, không nhìn thấy nên nghiệp ý an nhiên tung hoành, cũng không mấy ai nhận ra sự tai hại của ý nghiệp mà kiểm soát, chưa nói tới liệu kiểm soát được không. Một vị thiền sư từng ví, nếu não bộ chúng ta trổ một cửa sổ bằng kính trong suốt, để ai cũng nhìn thấy vô vàn những ý nghĩ của ta... sẽ hổ thẹn nhường nào. Nhưng nghiệp bí ẩn. Đời người từ khi sinh thành cho tới ngày hoại diệt đều có sẵn một file trong vũ trụ, tất thảy mọi hành động lời nói ý nghĩ sẽ được save lại. Đức trong đó và nghiệp cũng tại đó. Khỏi bàn nếu chúng ta bước qua thế giới khác. Tên tội phạm có thể chối bay máy thăm dò nói dối hiện đại song hành động của hắn lọt vào một thước phim lập tức cúi đầu nhận tội. Người tu chân chính, họ không cần camera cũng dừng bước lúc đèn đỏ bật. Người chân tu, camera theo dõi họ là sự tỉnh thức. Ta thông dự vào cuộc sống trần tục, nếu không thật vững tâm thì đụng vào đâu cũng dễ gây nghiệp. Không ít lần tôi bị oan. Cũng tức. Nhưng cố giấu, rồi tìm lời khuyên. Bạn đồng tu bảo nên tác động sự cảm thông, niềm hòa ái đến người đó qua ý nghĩ. 
Lời nói là biểu hiện rõ thứ hai của sự nghiệp. Hằng ngày miệng chúng ta luôn gây nghiệp. Vậy mới có tu khẩu, tịnh khẩu. Nhiều bậc trí thức, nguồn của khẩu nghiệp do tâm tật đố ganh tị. Nói xấu. Ai giàu hơn, tài hơn, đẹp hơn, quyền chức hơn... nói xấu, thậm chí muốn nhổ người ta khỏi mặt đất này. Tiếp xúc một người trong nhiều năm, nhận thấy hễ ngồi với ai ở đâu, không nói xấu thì không chịu nổi và rốt cục người đó tìm đến chỗ khác để nói xấu (một ai đó). Nghĩa là (trường hợp phổ biến) nếu muốn hơn một người, thay vì mình cao đối thủ cũng cao, anh ta phải moi móc đối thủ, hạ đối thủ, phải ghìm đối thủ xuống để được cao. Do tích tập từ nhỏ, tâm lý chung thích gom chuyện xấu ác.
Chuyện xấu ác luôn là nhiên liệu trong các cuộc trò chuyện, đàm đạo. Chuyện xấu ác còn có tên gọi khác là rác rưởi. Một khi chuyện xấu được ta hứng khởi thuật lại nhiều lần trước đám đông, hãy xem chừng, bởi rác ấy đang lưu cửu vào tâm thức. Theo đà này, theo thời gian tâm thành một thùng rác khổng lồ. Tu trước hết cần biết tẩy/ xóa lỗi người ngay khi thông tin ấy xâm nhập. Lỗi thế gian, nghe mà như không nghe, thấy như không thấy. Một người vẫn thường nhận phong bì bất chính lại quyết liệt chống tham nhũng, xét về mặt đạo lý, là dối, vọng ngữ. Phật từng khuyên chúng sanh trong kinh Vô Lượng Thọ: “Thiện hộ khẩu nghiệp, bất cơ tha quá (khéo giữ gìn khẩu nghiệp, chẳng chê bai lỗi người). Đạo lý sâu xa quá đỗi. Trong một xã hội động loạn, người ta sẽ gay gắt phản biện trước thảm kịch cái ác ngày càng lên ngôi, mà không đặt ngược câu hỏi: Nếu tất cả người trên hành tinh đều không ngó lỗi nhau mà chỉ xiển dương điều thiện, thế giới sẽ ra sao? Trong bàn nhậu, nói xấu người vắng mặt đã trở thành niềm hứng khởi vô tận cho những bàn tay cùng dơ ly cụng. Sự tiếp tay của tràng cười rú lên tựa hồi cị chói óc của con tàu nghiệp lực nặng nề chuyển bánh trong cuộc hành tŕnh đến miền tối. Hẳn sẽ nghịch lý khi nói hành động gây nghiệp ít nhất so với ý nghĩ và lời nói. Tức giận một người, ta không dám đánh, trong lúc lại sau lưng nói xấu người ấy bao lần và sản sinh nhiều ý nghĩ độc, nguyền rủa người ta bị thế này thế nọ. Lời nói xấu từ A đến tai B, B truyền lại với C, D… Ở đây dĩ nhiên B và C sẽ nhận nghiệp dẫu ít hơn A, còn A lãnh nghiệp phần trăm theo số người truyền lại điều xấu đó. Đôi lúc cùng một hành động song mức độ gây nghiệp hoàn toàn khác nhau. Giả dụ tôi tới cơ quan bật điện hành pháp, mức độ gây nghiệp sẽ nhẹ hơn nhiều so với: một sớm tôi thấy điện ở phòng đồng nghiệp sáng, nghĩ chiều qua họ quên tắt; gặp hỏi, hết sức ngỡ ngàng khi họ tỉnh bơ: "Tối qua tới cơ quan lấy cuốn sách, tắt điện đi ra thì tối quá…". Chưa đầy một phút ngợp bóng tối mà họ vô tư để điện đỏ suốt đêm. Nhiều thì vài ngàn chứ mấy. Vấn đề không phải chỗ đó. Hành vi ấy nếu quy ra nghiệp, ta chưa hẳn đủ khả năng trả. Bây giờ chùa nhiều, việc cúng dường của đại gia phần lớn bỏ tiền cầu sự bình an, mua thêm giàu có. Chúng ta ra đường rồi trở về thường nhẩm xem mình tiêu hết bao tiền mà quên soát sau một ngày tích điều thiện gì; lời đức hay lỗ nghiệp lòi ra ngay. Buông xuôi, thì câu nói này của một học giả tôi quên tên là chính xác: Mỗi người ra khỏi nhà mỗi sớm và trở về mỗi tối như những con côn trùng sặc sỡ trở về vùng đầm lầy. Rồi đến việc cúng dường thời nay cũng mang nhiều sự tướng, nặng hữu lậu. Có lần tôi tới Phú Thọ, ghé vào ngôi chùa mới được trùng tu. Trước sân có hồ rộng, bên phải từ ngoài vào trồng cây bồ đề nhỏ. Dưới gốc ai đó cúng dường hòn non bộ đá tổ ong trắng rất đẹp. Đẹp mà không đẹp. Những chỗ trơn tru nhẵn thín của hòn non bộ cao khoảng mét đó tên vợ tên chồng, cả tên con đều được khắc lên. Sẽ chẳng sao nếu hòn non bộ thật cao lớn, để cho mấy dòng họ và tên kia khách viếng thăm phải vòng quanh mới vô tình thấy. Sát tường bao của ngôi chùa này, bên trái là mái che dài chừng 10m, nơi đặt các bia công đức. Tấm bia lớn nhất, kích cỡ khoảng 7m x 1,2m, họ tên và số tiền được khắc đầy đủ, người ít nhất hai trăm ngàn, người nhiều vài ba triệu. Thử làm một phép tính, tổng số tiền, thật bất ngờ, nó khoảng 15 triệu, đủ mua tấm bia và trả công thợ chạm. Tức họ cúng dường chỉ đủ dựng tấm bia đó ghi tên vào… lịch sử! Giữa năm 2011 có Đại lễ cầu siêu anh hùng liệt sĩ ở Quảng Trị được rất nhiều vị sư và quan chức tham dự; nhiều doanh nghiệp lớn chung tay tài trợ. Một việc tri ân ý nghĩa như vậy nhưng đến giờ chót nghe tin Ban tổ chức dẫu tìm nhiều cách vẫn không có truyền hình trực tiếp theo như kịch bản, một vài Mạnh thường quân nổi cồ yêu cầu rút lại tiền tài trợ. Vậy ra cái sự cúng dường kia là kinh doanh thương hiệu chứ tâm nguyện gì đâu! Thu nhỏ lại, không ít cá nhân tung tiền làm từ thiện với mục đích đẹp mặt mình trên tivi, chưa tính chuyện tiền của họ có trong sạch? Nếu là tiền mồ hôi nước mắt, việc từ thiện ấy do trừ đi khoản mua danh, họ vẫn được phần trăm đức; nếu tiền không chánh mạng, không ngoại trừ họ còn tích thêm nghiệp. Tinh thần Phật pháp nêu rõ: làm Phật sự mà tâm không thanh tịnh dễ thành ma sự. Chúa Giêsu từng phán trong Bài giảng trên núi (Kinh Tân Ước): “Khi con làm phúc của gì, chớ cho tay trái biết việc tay phải làm”. 
Trong buổi giảng pháp tại Thiền viện Vạn Hạnh, Đà Lạt (29-31/3/2010), Đức Gyalwang Drukpa có nói: “Cúng dường giúp bạn tích lũy công đức. Chúng ta nghèo đói bởi vì chúng ta không cúng dường; chúng ta chỉ không ngừng khư khư giữ cho mình, bởi vậy chúng ta nghèo khó”. Nghe qua có vẻ không hợp lý, nó đồng nghĩa với việc những người tích cóp thật nhiều tiền phòng bệnh tật nhưng nếu vô tư cho đi phần lớn số tiền đó, bệnh tật sẽ không gõ cửa thân thể vật lý của họ nữa. Hay cũng như một người chỉ lo chế biến bữa ăn hàng ngày nào thịt cá nào rau sao cho đủ dinh dưỡng, trong lúc họ không dám ăn chay, ăn dưỡng sinh đạm bạc và không cần biết đến menu khoa học vẫn khỏe mạnh. Đức Gyalwang Drukpa cũng phân chia ra những hình thức cúng dường: “Cúng dường cũng không chỉ nhất thiết là những phẩm vật mà bạn cúng dường lên Thượng sư, chư Phật, chư đại Bồ tát hay lên Tăng già, có thể thậm chí cúng dường lên cả chúng sinh”. Tôi xin mạn phép nói rộng thêm nữa: Ngoài sự cúng dường tốt thắng thuộc về Tam bảo, nếu có thể nới rộng hơn nữa, hãy thành tâm bá thí cho súc vật. Sau khi đã cúng dường Tam bảo; giữa một người nghèo chưa đói và con chó hàng xóm bị gia chủ thường niên bỏ đói, đêm đông phải nằm ngoài thềm lạnh, tôi sẽ chọn cúng dường cho con chó tội nghiệp kia. Một kênh truyền hình tỉnh nọ có chương trình “Nối nhịp nghĩa tình”, những gia cảnh được phát quả bi đát. Ai chưa giúp được, hãy nên hạ khẩu phần ăn của mình xuống. Bình dân. Đó có thể hiểu là cúng dường vi tế. Tôi nhớ hồi còn nhỏ, thời mới ra loại mì tôm Tân Bình vỏ bằng giấy. Nhà bảy thành viên, anh trai tôi đi buôn góp nhóp trong mười ngày mới mua nổi 6 gói để chia ăn cùng một lúc. Bây giờ không ít người đoạn tuyệt với mì tôm để chuyển qua bún cháo cho buổi sáng. Người biết cúng dường không nên chê bát mì tôm suông trong lúc có được mì tôm ăn sáng vẫn là mơ ước của rất nhiều con người phải nhịn đói hoặc ăn khoai sắn, cơm nguội để đến trường và lao động. Bởi vậy không phải ngẫu nhiên mà đức Chúa “rất lấy làm tiếc” cho người giàu muốn lên Thiên đàng. 
Không nên nghĩ việc nhỏ thì nghiệp nhỏ. Hả hê với việc mình cúng dường bạc triệu, mà xem ra mỏng đức hơn xới một chén cơm trân trọng dâng người ăn mày đói khát. Ở thành phố, cảnh thương tâm gặp nhiều là tại nạn giao thông. Một người nằm sấp sát lề đường, trước chiếc xe tải… Mấy chục người vây quanh ồn ả: “Chở họ đi viện cái”; “Còn thở kìa”; “Để nguyên hiện trường!”; “Sắp chết rồi còn chở đi đâu nữa”. Rất nhiều ta-xi cách hiện trường vài trăm mét liền quay đầu bỏ chạy. Cái chết càng tiến gần người bị nạn. Trường hợp khác. Cặp tình nhân lúc người ta năn nỉ chở nạn nhân tới bệnh viện, cô gái đã thúc tay lia lịa vào chàng trai - chiếc xe máy rù ga. Bỏ qua cơ hội tích đức. Tình yêu của họ mang theo sự vô tâm vô cảm! Giả thử người yêu lâm vào hoàn cảnh đó, cô nàng không lạy lục người ta đưa tới viện thật nhanh, quả nhiên đó là chuyện lạ. Lại thí dụ: người sắp chết đuối, không ai dám nhảy xuống cứu vì sợ Long vương bắt thế mạng. Nhớ trong cơn lũ năm 2004, một thanh niên người huyện Phú Lộc nhảy xuống dòng nước xiết cứu cùng lúc hai cô gái. Bệnh là nghiệp. Nạn nghiệp tự chiêu, nhưng khoanh tay đứng nhìn người hoạn nạn cũng đồng tích ác nghiệp. 
Bản thân từng than van đang phải sống trong một môi trường bất an, thực chất do chính tôi bất an. Một khi cá nhân bất an thì không thể có xã hội bình an. Có một “bộ tộc thiểu số tên là Kogi, nguồn gốc từ nền văn minh Tairona. Bộ tộc này trú ngụ trên dãy núi Sierra Nevada, Colombia, nơi quanh năm mây mờ bao phủ”. Không tích trữ, họ sống tự tại ngày ba bữa và không xích mích tị hiềm với ai. Chỉ ăn chay mà họ không bệnh tật và tuổi thọ trung bình hơn 100. Không dính dáng đến khoa học kỹ thuật, họ lại “biết tuốt” về những khám phá vĩ đại. Điều đáng lưu ý: họ không có tôn giáo. Đạo Phật nguồn gốc vốn cũng không phải tôn giáo, người Kogi sống theo với quy luật tự nhiên/vũ trụ, thì chính là sống đúng với đạo Pháp. Đó là biết “mệnh trời”. Không gian bộ tộc Kogi sinh sống tuyệt đối an ổn. Nhưng, nếu ta đặt một phàm phu vào đó chung sống, hẳn họ lại thấy thiết chế nơi đây bất ổn. Vậy mới thấm câu thơ của cụ Nguyễn: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Tâm tùy cảnh chuyển. Tâm tịnh thời cõi Phật tịnh. 
Tâm nhiễm là tâm bất định. Tâm bất định thì thân bất định.
Người ấy sẽ khó sập mọi giác quan bình yên cho được. Ngược lại bậc chân tu, ngũ căn thông suốt song trần cảnh không khiến tâm dao động nên họ ngồi thiền hàng giờ hàng ngày. Những tiện nghi tưởng sẽ đưa con người tới an lạc, sau một thời gian nó lại khuấy đảo tâm. Có những người xây WC rất tiện nghi và phát ngôn là nơi đưa lại cho họ sự an tĩnh. Nếu vậy, thì thiết tưởng lên núi sống một mình còn... bình an bội phần. Con người với tâm không định thì có chui vào lô cốt cũng khác chi ở chợ trời. Tâm định, công phu có được này cơ bản bắt nguồn từ việc “không nhìn lỗi thế gian”. Giới khoa học đưa ra một kết luận vô cùng quan trọng: không nên chống chiến tranh mà hãy ủng hộ hòa bình. Từ đây triển khai ra ở mọi hoạt động trong cuộc sống sẽ chuyển được cả vận mạng. Ai đó từng chống chiến tranh, không có nghĩa bây giờ phủi tay, mà dành thời gian và tâm sức ủng hộ hòa bình. Tại sao? Bởi quy luật vận hành của vũ trụ là như vậy. Sống trái với quy luật ấy đồng nghĩa vi phạm “pháp luật” vũ trụ, vận mạng cá nhân dĩ nhiên méo mó. 
Nhớ lời của một ông bạn: “Anh cảm thấy em mang cái nghiệp hơi nặng. Có người có xu hướng tìm sự giản đơn để được bình an; có người lại vô tình hoặc cố ý làm cho đời sống mình rối ren hơn, xáo trộn và bất ổn...”. Bây giờ chợt ngẫm: Người ta chỉ có thể xoay được mệnh khi sống tốt hơn, có ích hơn, gần hơn với Phật pháp. Tôi mơ hồ cảm thấy mình đang cố vùng vẫy sống tốt hơn. Còn nghiệp không đơn giản ở kiếp này mà còn tích lại từ những kiếp trước. Nghiệp bất khả tư nghì, có tránh cũng không dễ ngoại trừ thật thà niệm Phật và giao phó vận mạng cho nguyện lực độ tận chúng sanh của chư Phật. 
Tạo nghĩa cử đẹp mà mong được đáp đền, đã là tiền trao cháo múc; nghiệp lành trả xứng đáng, đồng nghĩa người ấy "trắng tay". Là con người, hiển nhiên chúng ta đang mang nghiệp. Nói cách khác, trừ một số bậc xuống đầu thai hóa độ, đã mang thân người là mang nghiệp. Không nguyện thoát vòng luân hồi hắc ám, nghiệp đôi khi chúng ta phải trả ở kiếp sau nữa, và đức tích hằng ngày đôi khi cũng không được hưởng tại kiếp này. Đó chính là sự "bất công" mà con người trong đó có tôi, thật tội nghiệp lại chưa thật tin vào cán cân diệu kỳ của vũ trụ. 
NHỮNG BƯỚC CHÂN QUÁ KHỔ 
Đầy ắp những câu hỏi vì sao đời sống ngày được nâng lên, lại quá nhiều vấn nạn xã hội nảy sinh. Y học phát triển tột bậc, con người vẫn mắc rất nhiều bệnh quái gở và bệnh viện mọc lên càng nhiều. Dường như con người đang đánh mất nền tảng vật chất lẫn tinh thần. Mà lẽ ra nền tảng đạo đức phải được gây dựng từ nhỏ, thậm chí cần giáo dục từ lúc còn thai nhi như cái nhìn sáng suốt của bậc thánh hiền. Khoa học hiện đại phần nào đồng cảm điều này, cho thấy mỗi ngày trong bào thai bằng hàng chục triệu năm tiến hóa sinh vật và trọng lượng cơ thể biến đổi tăng lên hàng tỉ lần; để thấy một ngày giáo dục thai nhi bằng rất nhiều năm trời đứa bé lúc sinh thành. Nền đạo đức có từ thai nhi sẽ giúp sinh mệnh đó giữ phẩm chất cốt tủy của đời người, luôn hướng đến hai chữ Hòa Bình từ nghĩa hẹp cho đến nghĩa rộng là đối lập với Chiến Tranh. Đức Đạt Lai Lạt Ma, bậc Thánh thời nay, người học trò thuần thiện của Đức Phật từng ngày khuyên mọi người bỏ ác hành thiện, hướng đến một thế giới bình đẳng bao dung: “Chúng ta cùng là con người, không phân quốc gia, chủng tộc, tôn giáo, đều phải bình đẳng thương yêu lẫn nhau”. Ngài cũng nhắc nhở: "Những gì ông cha (tức cổ đại đức, trong đó có Đức Phật) nói với chúng ta là hoàn toàn sự thật". 
Một đứa trẻ, nền tảng dĩ nhiên phải hiếu đễ. Chữ hiếu trong nhà Nho đã lớn, chữ Hiếu trong nhà Phật còn trang trọng sáng chói hơn. Kinh Địa Tạng là Hiếu kinh, kể về một thánh nữ nhất tâm niệm Phật nhờ đó xuống được Địa ngục cứu mẹ; Kinh Vu Lan thuật chuyện đại đệ tử của Phật là Mục Kiền Liên nương vào Pháp Hội chư tăng để cứu mẹ thoát cảnh hỏa đồ. Khi đứa con ra đời, toàn bộ tinh túy máu huyết của người mẹ tiết ra sữa nuôi lớn nó từng ngày; chừng đó thôi suốt đời ta đã không trả hết. Phật có lần thấy một vị Tỳ kheo đến cúng dường mình bát cơm bèn hỏi: Mẹ ngươi ăn chưa?, vị Tỳ kheo lắc đầu. Ngài bèn nói, hãy đưa bát cơm này về, vì mẹ ngươi xứng đáng ăn hơn ta. Trong Quán kinh Phật cũng dạy câu thiết yếu đầu tiên: “Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm bất sát, tu Thập thiện nghiệp”. Người Việt ta có thành ngữ: “Mồng một tết cha, mồng hai tết mẹ, mồng ba tết thầy” là trên ý nghĩa này. Tiêu chuẩn làm người trước hết là Hiếu (với cha mẹ); sau đó là Nghĩa (với thầy tổ). Ngày xưa trò cung kính thầy hết mực, con với phụ mẫu nghĩa nặng ân sâu; anh em họ hàng bè bạn lấy chữ tín làm đầu, xã hội nhờ đây an ổn. Trong triều đình bộ Học bao giờ cũng được xem trọng. Thế nên khi mọi người đặt Kinh tế lên trên, hậu quả về một sự đổ vỡ trong gia đình kéo theo hệ lụy đến cộng đồng sẽ khó tránh khỏi. Trẻ em bây giờ từ nhỏ đã được hầu hạ, chỉ lo việc học. Nhưng chúng không được học đạo lý, nhân quả, tôn giáo vốn là nền tảng đời người. Càng lớn, có chút tài danh tâm kiêu mạn sẽ nổi, khinh khi ngay cha mẹ thầy tổ; từ đây xuất phát một tương lai u ám, làm hại đến người thân và xã hội. Ngay chữ giàu chúng ta đã hiểu sai. Giàu tình cảm, giàu sức khỏe, giàu bè bạn, giàu tinh thần…; tiền tài chỉ là một phần nhỏ trong sự giàu. Hễ nhìn thấy ai có nhà lầu xe hơi liền phán họ giàu; cái nhìn ấy lệch lạc. Thật dễ hiểu khi vấn nạn người người đội cả mâm heo gà lên chùa, dúi tiền vào tay Phật “hối lộ” cầu may trong lúc không hiểu về giáo lý thâm sâu; đó là sự biến tướng, sự bóp méo lời Phật, dẫn đến “Thời Mạt Pháp”, mà thực chất Pháp Bảo vẫn tinh ròng. 
Mất nền tảng đạo lý hiếu kính cha mẹ thầy tổ sẽ khiến mỗi người như khối nam châm hút về bao tai chướng nghiệp bệnh. Chỉ một món nghiện ghêm thôi đã đủ bật mầm ác trong mỗi đứa trẻ. Sát nghiệp luôn nung nấu và chúng sẵn sàng cãi, thậm chí đánh ngay cha mẹ mình rất tự nhiên. Sự lạnh lùng ngay trong tình người, khiến chúng càng đào sâu hố thẳm tình người, càng đào sâu tình thương giữa con người và vật. Chính nghiệp lực là nguyên nhân của sự phân chia các loài, các loại người và loại vật. Không nên so sánh người và vật. Tuy nhiên một điều dễ nhận thấy: rất nhiều con vật được sống sạch sẽ tươm tất hơn nhiều người, lại cũng có người sống không bằng kiếp vật. Tình thương của Đức Phật như dòng nước tràn về miền sa mạc; chỗ thấp ví như con người nước thấm trước hết, sau đó nước từ bi tràn lên thấm nhuần hết thảy cõi vật và các loài. Quý mạng sống của vật, cũng là một cách tích đức, khiến tâm an trí sáng. Hoặc giả chúng ta có thể kết thúc mạng con vật bằng thuốc ngủ thay vì chọc tiết dí điện. Hãy một lần chứng kiến cảnh con vật bị lôi vào lò mổ đủ biết chúng không hề có ý cúng dường thân cho người. Sống ngoài Đạo lý dễ chìm vào thú tính. Khó thể tin có kẻ sát nhân rồi còn móc ruột lôi gan, chặt khúc; người chết rồi còn quật mồ phơi xác. Trong sự quay vòng của muôn trùng kiếp, con người hẳn ít nhiều “lai” dung mạo và tâm tính. Thương yêu loài vật (sau khi đã thương yêu con người), sống bao dung người đó nhiều cơ hội tiếp tục nhận thân người ở kiếp sau. Người không hành chánh pháp, để chống lại sự cô đơn thử cùng số người thân như vợ con chẳng hạn, kéo nhau vào rừng sống khoảng một tháng không mang theo kem đánh răng, son phấn, xà phòng, giấy vệ sinh… sẽ nhận ra con thú trong mình. Vô vàn sản phẩm công nghiệp người ta sử dụng hàng ngày đó, chính là bình phong che đậy ngã chấp, che đậy thiện căn; cũng là những thứ con người “giấu giếm” phiền não, “gia hạn” khổ đau. Bậc chánh giác đã mở thiên nhãn, huệ nhãn, dĩ nhiên họ nhìn thấy “con thú” ẩn sau lớp màn vô minh nơi mỗi chân tâm. Thử chụp lại những khuôn mặt người trong cơn giận giữ, lúc say máu hay trong cơn ăn ngấu nghiến cồn cào cái đói sẽ nhận ra những méo mó đáng sợ của nét người. Một cô gái đẹp với tâm địa đen tối, sống trong nhung lụa lại coi khinh kẻ khác, coi khinh động vật bậc thấp và luôn muốn thỏa mãn khẩu vị bằng nỗi đau của loài vật, khuôn mặt đẹp ấy theo thời gian hao sinh khí, vô hồn, bệu bạo. Một tên sát nhân, lần đầu tiên vô tình bắt gặp sao rợn cả mình! Một đạo sư, người sống với tâm từ vô lượng, khuôn mặt dẫu không đẹp sao vẫn hòa ái gần gũi biết bao ở lần đầu tiếp kiến. Quanh mỗi người đều có trường năng lượng sạch-nhơ; những gì khoa học chưa sáng chế ra loại kính nhìn thấy đức và nghiệp ấy, chẳng nên phủ nhận. 
Không nên hiểu sinh lão bệnh tử một cách thô thiển. Giai đoạn bệnh đến tử là một hố thẳm không đáy. Rất nhiều người không thể chết, kể cả việc muốn tự tử. Một ông già đang khỏe mạnh, cú ngã khiến bệnh viện bó tay, chỉ nhúc nhích được cái đầu nằm đến thối thịt. Thương con thương cháu ứa nước mắt, muốn dứt mệnh khỏi phiền hà cũng chịu nốt bởi đến răng cũng chẳng còn để cắn lưỡi. Vung tay quá trán ắt chạm đến thánh thần. Có trường hợp khác bị xơ gan nằm gần một năm, yếu dần. Lúc đau quá anh kêu trời, hỏi sao từ nhỏ tới lớn không làm hại đến ai giờ nghiệp nặng như vầy.
Người em vợ bèn lựa lời nói pháp rồi mua tặng đầu đĩa VCD giảng kinh. Anh nghe hai ngày liền gật đầu thanh thản, bảo giờ mới hiểu mức độ tinh vi nguy hiểm của nghiệp. Từ hôm đó anh bắt đầu lắng nghe để làm hành trang cho cuộc hành trình dài sau cái chết. 
Ấy, dẫu sao cũng là trường hợp muộn quay đầu về bờ. Liệu chúng ta có thể gia hạn cái chết. Có thể. Có người hơn một năm trước đã linh cảm vận mệnh của mình. Đầu năm nay một hôm đau dữ dội, anh gọi cả nhà lên ngồi quanh trăn trối. Người nhà tính đưa cấp cứu, anh khăng khăng đi, đây là nghiệp đòi, phải trả. Nói được vậy chứng tỏ người này căn tính sâu. Gọi điện một người tu quen biết, rồi đưa điện thoại cho anh nghe. Người tu khuyên, bạn hiểu đạo, nên từ nay thành tâm niệm “A Di Đà Phật”, thân này xin giữ lại để trả nghiệp. Nếu có niềm tin tuyệt đối về đường đạo phía trước, bạn cứ để gia đình đưa lên viện, rồi dùng thân đó hành thiện hoàn bồi nghiệp lực. Giờ anh thường ăn chay, học đạo, tâm thế an vui. Hiện tượng này không hi hữu, ai cũng có thể làm được nếu hướng tâm về ngõ sáng. Nghiệp đến đòi, là nợ từ lúc nào không hay; nợ nhỏ nạn nhỏ, nợ lớn nạn lớn. Người ta đến đòi mạng, ta xin trước chư Phật được giữ lại thân này tu tập. Là thiện hạnh, ắt được cảm ứng, gia hộ. Nhưng giữ mạng rồi, khỏe mạnh rồi lại dùng thân hưởng thụ, tạo nghiệp, hậu họa khôn lường! 
Gặp nạn ai chả vác chân lên đầu mà chạy, ai kêu chi dạ nấy. Phổ biến vẫn là cúng sao giải hạn. Nhiều người nông quê ít học cũng nhận thức được điều vô lý: sao có thể cắt cổ gà chọc tiết lợn để cầu xin cho sự bình an của bản thân?! Cũng như trong một đám tang cúng đồ mặn, giết mổ ngay tại nhà lại mời Thầy về siêu độ; bất đắc dĩ ở lại, thiết nghĩ các Thầy chỉ an ủi, siêu độ cho những con vật bị khổ chủ giết, chứ chắc gì đã đến lượt vong linh. Cúng bông ba hoa quả, ấy là tấm lòng thành. Còn giết chóc cúng giải hạn, tương đương với tích thêm lượng nghiệp. Cậy nhiều tiền bạc thả cửa giết mổ cúng quảy xỏ xin quá lắm chỉ vời được các thần và yêu ma. Chúng vẫn có thể dời nghiệp, nhưng nạn ấy sẽ nặng hơn những lần sau. “Lúc bệnh mà tin theo những thuyết họa phước vu vơ của bọn tà ma ngoại đạo, yêu nghiệt trong đời, sanh lòng rúng sợ không còn tự chủ đối với sự chơn chánh, đi bói khoa để tìm hiểu mối họa rồi giết hại loài vật để tấu với thần minh, vái van cùng vọng lượng để cầu xin ban phước, mong được sống lâu, nhưng rốt cuộc không thể nào được. Bởi si mê lầm lạc, tin theo tà kiến điên đảo nên bị hoạnh tử, đọa vào địa ngục đời đời không ra khỏi” (Kinh Dược Sư). Bất cứ lúc nào ta tiêu xài, hễ ý nghĩ tiết kiệm khởi lên nên trích ra làm thiện. Nghiệp nạn, thay vì dồn một cục lớn, bằng thành tâm sám hối, phát tâm phóng sanh và tác thiện ráo riết, dễ chia ra tiêu trừ. Thường một lễ cúng tốn khá nhiều tiền. Thiết nghĩ chỉ nên trích ra khoảng 10% phần trăm lễ lượt đó mua hương hoa cúng thánh. 90% còn lại, trích ra một phần cúng dường Tam bảo, giúp đỡ người nghèo, phóng sanh. Như vậy ai cũng tiết kiệm được ít nhất phân nửa trong lúc còn tích nhiều đức. Tu thiện đồng thời nên tu tuệ, nếu không thiện nghiệp đời này sẽ tạo ác nghiệp ở đời sau không chừng. Đã con người luôn phải dành tâm sức và trí tuệ lao động cống hiến cho lợi ích chung. Ngẫu nhiên họ trở thành giàu có. Giàu cả về vật chất lẫn tâm hồn. Thì cứ tích lũy. Nhưng, nếu làm ăn lương thiện, người người cứ làm giàu, dự trữ phòng tuổi già bệnh tật; khi con cái đã có công ăn việc làm, nên viết di chúc để lại cho chúng một phần nhỏ gia sản, số còn lại dành cho từ thiện. Như vậy người giàu đã chuyển hóa tiền vào ngân hàng đức, và hẳn nhiên đây là cách họ dùng thẻ đa năng rút được đức ấy ngay lúc thoát xác và ở kiếp sau. 
Đạo Phật vốn là nền giáo dục uyên sâu, uyên sâu ở những hoạt dụng đời sống bình phàm nhất. Phật là người chỉ ra chân tướng của vũ trụ nhân sinh (chư pháp thật tướng); trượt trên đà thực dụng, những gì khoa học chưa chạm đến người đời liền xem đó mê tín. Nhưng quá nhiều người trong ngành khoa học vẫn tụt hậu; trong lúc Lượng tử lực học mở ánh nhìn ra ngoài thế giới đã thật sự ngạc nhiên bởi những khám phá vĩ đại thực ra vô tình minh chứng lời Phật thuyết ba ngàn năm trước. Ở đây không dám bàn đến những triết lý siêu việt trong Kinh điển, chỉ nói đến giáo dục nhân tâm thôi Đức Phật đã xứng danh Thầy Giáo vượt lên mọi thời đại. Có vị cao tăng kiệt xuất thời nay xem Đạo Nho là một trong những nền tảng của Phật học; đối sánh Ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín với Ngũ giới Đức Phật chế: Không sát sanh (là Nhân), không tà dâm (là Lễ), không trộm cắp (là Nghĩa), không uống rượu (là Trí), không nói dối (là Tín). Cha mẹ không sát sanh và dạy con không làm hại bất cứ con vật nào kể cả muỗi kiến, dạy chúng yêu thương, lớn lên đứa trẻ sẽ khiến người thân và môi trường chung quanh lợi lạc. Tôi từng được xem bộ phim “Thiên hạ phụ tử” 7 tập, về đứa trẻ lên năm tuổi đã biết làm mọi việc trong nhà trên nền tảng hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng theo Đệ Tử Quy của bậc Thánh nhân soạn. Cũng thật đáng khen người mẹ đã tạm rời căn nhà cao sang tìm thuê căn phòng nhỏ ba chục mét vuông, bỏ hết công việc, ở nhà dạy con làm mọi việc nhỏ, đứa trẻ thuần thục như một người đầu bếp. Đặc biệt nhất sáng nào hai mẹ con cũng đi nhặt rác làm sạch chung cư, rồi ra chợ nhặt rau củ thừa về nấu ăn, bữa ăn không tốn xu nào, dành tiền làm việc thiện. Đứa trẻ hiểu có được miếng ăn không hề đơn giản. Đây là cách tu Giới trong nhà Phật; đứa trẻ cộng với việc chuyên nghe một vị thầy giảng Đệ Tử Quy hàng ngày, niệm Phật cùng mẹ hàng ngày nên tâm được an định, từ đây học thuộc liền hàng chục bộ kinh. Nó giải quyết mọi việc nhanh chóng, ngăn nắp, chính xác, hoạt bát, vui vẻ, khỏe mạnh, từ ái, yêu thương cha mẹ hết mực. Nền tảng làm người sau một năm rưỡi đã được vun bồi. Tu Giới có diệu dụng như vậy, vì có giới sẽ phát trí tuệ. Cao thêm bậc nữa, Thập thiện là tiêu chuẩn của người con Phật. Bàn riêng cái miệng thôi (không vọng ngữ, không ác khẩu, không nói lời thêu dệt (ỷ ngữ) dụ dỗ nịnh bợ, không nói đôi chiều hai lưỡi), sẽ thấy chúng ta hễ rỗi rảnh ngồi với nhau là “phạm giới”, tạp thoại. Một người lấy tiêu chuẩn của ngũ thường, ngũ giới, thập thiện làm khuôn khổ sống, thật đáng quý sao! Thời nay, chưa bàn đến giúp đỡ kẻ khác, ai không tranh giành, ganh tị, đoạt lợi, tự tư, nghĩa là không “tham, sân, si, mạn”, đã là người quá tốt rồi, góp phần cho sự an định của xã hội rồi. 
Chợt nhớ có người dịch bài viết của một học giả người Việt từ tiếng Pháp qua tiếng Việt đã làm lệch ý tối quan trọng ban đầu: “ý thức phong kiến” dịch thành “chế độ phong kiến”. Vài nhân vật được lấy làm điển hình cho xã hội, khi họ bại hoại, liền truy gốc rồi phán Đạo Nho làm mục ruỗng xã hội, cần bài trừ tận gốc. Khi luồng tư tưởng Tây âu tràn vào với bao mới lạ, như một người nông quê lần đầu lên phố, không có căn nền sẽ đặt sự hưởng thụ lên đầu, sớm chạy theo tài danh sắc dục. Lễ giáo gia đình là nấc cuối cùng trong hệ tư tưởng Nho gia; lúc Đạo bị “phá rào” bởi cái gọi là văn minh, “cương vực” của nó bị thu hẹp, bị “cững bức”, nhà Nho mới dùng Lễ làm “cương” để gìm lại dục vọng người đời. Cũng như nguyên xưa Đạo Phật khá “tự do trong khuôn khổ”, nhưng lúc hành giả lung lay trước “ngũ dục lục trần”, Phật mới chế định giới luật. Thời nay giới cũng không nhất thiết đòi hỏi người tu chấp chặt. Chẳn hạn nếu phải tham dự một bữa tiệc, cư sĩ cũng có thể khai giới uống ly bia hòa đồng, không say sưa, không ảnh hưởng đến người khác, không vọng động tâm thức; ngược lại giới “không uống rượu” cũng được mở rộng ngăn ngừa bất cứ thứ gì liên quan đến nghiện ngập như thuốc lá, cần sa ma túy… Thật ra giới là phạm vi giáo hóa của thánh nhân xưa, không theo tôn giáo mà âm thầm khiến bá tánh được tu hành mà tự họ không biết, chỉ có thế phiền não, vọng tưởng đảo điên mới được kềm phục; nhân dân giữ Lễ thì trời đất "kết tinh" tốt đẹp, thiên hạ thái bình, nào có phải ràng buộc ai. Nếu có chính là do mình tự mua xiềng neo vào quả địa cầu mà thôi. Học Nho học Phật nhiều học giả thực chất không bám được nền tảng, ấy là Đệ tử quy. Quy tắc của một người con, một người trò rành rẻ từng điều tưởng đơn giản một đứa trẻ lên ba cũng thuộc nhưng đến tóc bạc chưa chắc làm xong. Cha say sưa rượu chè, mê game mê gái, ăn nói thô lỗ nóng giận, làm ở công sở mà tiếng xấu dội về đến nhà, làm sao dạy con? Đệ Tử Quy thời nay mỗi người lớn nên học, và nếu chúng ta xem bộ phim kể trên sẽ thực sự thấy xấu hổ với mình, xấu hổ với sự sai lệch trong nhận thức giáo dục nền tảng làm người tối yếu. 
Lý thuyết không thời gian, không suy niệm, không chủ đích của một thiền sư lỗi lạc xứ Ấn được kẻ trí cậy vào tài năng lại mờ về quy luật vũ trụ đòi phá bỏ mọi thứ để sáng tạo ra con đường riêng.
Trong sự phá hủy họ hiểu bao gồm lời thánh hiền, và đương nhiên cả kinh điển Phật giáo. Chuyện chàng khỉ có 72 phép thần thông biến hóa cũng không ra khỏi bàn tay Phật, phàm nhân lại muốn nhắm mắt bịt tai chế ra thế giới cho riêng mình! Lý Tánh Không vi diệu tột cùng trôi qua tâm thì sáng chói, trôi qua trí thì lem nhem. 
Con người là sự kết hợp hoàn hảo giữa vật chất/ thân xác và vật lý/ tinh thần. Phần Vật Chất do ăn uống sai lầm tức không tuân theo quy luật vận hành của đạo trời đất vốn thống nhất trong sự tương hỗ hai mặt Âm - Dương. Đừng nghĩ ăn uống là tầm thường. Ăn uống chay tịnh theo nguyên lý triết học viễn đông có thể chuyển nghiệp lực vận mạng. Bệnh tật chính yếu là do dư Âm (đường, sữa, trái cây, các thức ăn nhân tạo như mì tinh, bia rượu...), một phần khác do lệch Dương và nghịch Âm, Dương. Mặt khác, con người ngày bị bủa vây bởi thông tin, hiện tượng nghiền lướt web đã khiến Tinh Thần bị nhiễm độc, trí phán đoán sụt kém; biến mình thành một dạng đài thu phát sóng những thông tin đa phần trái với Thập thiện, khiến thời không nhiễu loạn, xã hội thêm loạn. Là điều mà các nhà khoa học lượng tử phát hiện và kêu gọi nhân loại hãy nghĩ thiện hành thiện để tránh thiên tai; đây là điều chưa phổ cập vì ngay nhiều trí giả thời thượng cũng chưa tin, rằng sóng tư tưởng còn mạnh mẽ và lợi hại vạn lần những thứ sóng kiểu như internet, điện thoại kết nối toàn cầu. 
Phật pháp là nền giáo dục toàn vẹn hướng con người quy nẻo thiện. Mức giáo hóa thấp nhất có thể chỉnh lại những bất ổn trầm trọng trong xã hội. Một gia đình biết giáo dục con ngay trong bào thai, biết tìm hiểu quy luật Âm Dương để đảm bảo cho một cơ thể khỏe mạnh minh mẫn; đứa trẻ biết nói thì áp dụng Đệ tử quy; lớn thêm chút thì dạy Ngũ giới Thập thiện; tránh tối đa tiếp xúc với thông tin mạng, rồi nếu có thể thì niệm Phật tĩnh tâm để phát huy trí tuệ, khơi nguồn linh giác vốn sẵn trong mạng. Ấy có thể xem là “công thức” căn bản cho ra những thần đồng, những công dân mẫu mực mà cơn lốc tha hóa không thể cuốn họ đi được! Người suốt đời không phương hại đến ai song bỏ qua Phật pháp, vẫn giết chóc, vẫn một cuộc sống vun vén hưởng thụ trong gia đình của mình; nếu đa phần những người như vậy chết đi đều được tái sinh làm người, những tưởng không cần phải Tu. Giá ai cũng biết có được thân người vô cùng khó như con rùa mù dưới đáy đại dương hàng trăm năm trồi lên một lần mà vô tình tròng vào bộng cây trôi trên mặt biển; nếu ai cũng tin rằng con người cũng phải “khoác áo” bàng sanh nếu không tránh việc ác; nếu ai cũng nghe lời Phật, thì trái đất này đã không tổn thọ ghê gớm khiến nguy hại đến sự tồn vong của loài người. 
ẨN NGHĨA LOÀI VẬT TRONG TA 
Mùa an cư được gây dựng trên tinh thần “sống chung hòa hợp của chúng tăng tại một trú xứ”, “giúp tu sĩ trưởng thưởng về mặt tâm linh”, “tạo cơ hội để truyền chánh pháp”, “tránh giẫm đạp lên cây cỏ non, côn trùng”… Ngẫm về ý nghĩa mùa an cư cũng là ngẫm về lòng từ bi của Đức Phật trải rộng đến muôn loài. 
Nhà tôi có một căn gác nhỏ, lợp bia-rô rất nóng, dành đựng đồ vật không thường dùng. Lần tôi lên tìm cuốn sách cũ, ngạc nhiên tột độ. Một cái ổ nhỏ xinh ngay thành cửa sổ, và hai chú chuột nằm gọn trong đó ngủ ngon lành. Tôi không nhúc nhích, sợ chúng sẽ thức giấc vụt chạy. Lũ chuột thính tai thế mà không hay tôi đang đứng bên và có thể dùng thứ gì đó phương hại chúng. Tôi xuống kể lại câu chuyện này với người nhà, gọi chúng là đôi vợ chồng. Bẵng đi thời gian lâu, tôi quên luôn chuyện này, lên lại căn gác thấy cái ổ cũng biến đâu mất. Tôi không hề làm ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng, thật lạ là trong nhà chuột không sinh sôi thêm, không phá phách gì. Vẫn có đêm chúng chạy loạng soạng đuổi nhau trên trần tạm, tôi sắp khởi bực, bỗng nghĩ, ờ, nhà này là “nhà ổ chuột” tức là “nhà của chuột”, mình chỉ ngủ nhờ nhà chúng, còn khởi tâm gì đây? Thế rồi vui vẻ ngủ ngon. 
Một chuyện khác, từ người hàng xóm. Cô kể. Sáng ấy đi thể dục (đúng hơn là hành thiền niệm Phật), về đến nhà cô liền múc nước tưới vạt rau trước hiên chỉ vài mét vuông. Lạ. Sao thấy cụm đất cứ trồi lên hụp xuống như con gì đang thở. Lấy cái que khơi, giật mình, một con ba ba lớn bằng hai bàn tay. Điều đầu tiên là cô nhìn quanh, nhìn ra đường xem có ai không. Nhanh chóng, cô cho chú ba ba vào chậu bỏ trong nhà tắm. Rất hồi hộp. Cô đứng đường nghe ngóng. Thường mỗi sáng hai gia đình hàng xóm trước mặt nhà đều dậy quét dọn; cô ra nói chuyện nhằm dò xét có ai kêu mất con ba ba. Không. Đến trưa cô cũng dạo qua nhà họ uống nước, hỏi tình hình chợ búa thế nào, trưa nay có mua gì ngon? Không thấy ai nhắc đến con ba ba trị giá. Về, cô chững lại nhận định. Nhà cô nằm giữa mấy ngôi nhà liền kề đều tường cao, chỉ có hai nhà trước mặt là không; còn những nhà khác thì xa. Vậy con ba ba này từ đâu tới? Hay nó thoát ra khỏi quán nhậu ngoài quốc lộ, đã bò cật lực suốt đêm để làm một cuộc giải thoát ngoạn mục. Nhưng tại sao nó không tạt vào nhà nào, lại rẽ ngang vào nhà cô - vốn là một Phật tử thuần thành duy nhất ở xóm. Hay ngẫu nhiên nó bò vào đây; và đã được cô chủ âm thầm mang đi phóng sanh.
Dĩ nhiên con người không cần phải hiểu ngôn ngữ của loài vật mới hiểu chúng. Bồ tát thương loài vật như mẹ thương con. Phật xem hết thảy chúng sanh đều là quyến thuộc từ vô thỉ. Hại vật chính là hại quyến thuộc, là chưa hiểu chính mình cũng có Phật tánh đồng đẳng. Đức Phật luôn khuyên mọi người không hại vật và nếu có thể thì ăn chay để mở lượng từ bi vốn sẵn trong chân tâm bổn tánh. Lạm bàn vào vấn đề ăn chay, thiết nghĩ chúng ta cần giải quyết mối tương quan giữa Con Người và Con Vật. Người là động vật bậc cao, vật là động vật bậc thấp. Giữa hai loài này khác trước hết ở chữ “cao” và “thấp” song đều là động vật, không nên tàn hại nhau. Con vật do trí óc kém phát triển, sống theo bản năng tăm tối là điều dễ hiểu. Con người với trí thông minh vượt trội, lại có quá nhiều người sống dựa vào bản năng nên tâm tánh dễ nổi sân tham và kiêu mạn. Đức Phật không bảo người tu tại gia phải tuyệt đối ăn chay, mà trước hết khuyên ăn theo Tam tịnh nhục: ăn thịt của con vật khi không giết nó, không thấy nó bị giết và không nghe tiếng nó kêu cứu khi bị giết. Tuy nếu một lòng hướng về Phật, một lòng nguyện được về cõi thuần Tịnh thân cận cùng mười phương chư Phật thì việc ăn chay rất cần thiết. Trường trai sức khỏe có đảm bảo? Khoa học chứng minh ăn mặn sức khỏe tăng nhanh so với ăn chay, song mầm bệnh nhiều hơn ăn chay gấp bội; ăn chay dẻo giai và ít bệnh. Xét về nghiệp lực: ăn mặn trái với đạo, ăn chay ngược lại. Ấy là chưa bàn đến vấn đề ý niệm: ăn chay đạm bạc với tâm vui vẻ thì thức ăn ấy là thuốc dưỡng sinh. Trước mặt đủ sơn hào hải vị, ta ăn với tâm tham sân chúng sẽ tiết độc tố. Dễ hiểu hơn, ai thực hành viên mãn Thập thiện, chỉ vài cọng rau cũng khỏe. Những người vừa nhai cơm vừa thầm niệm Phật, thức ăn sẽ thành bổ dưỡng, mọi tế bào trên thân nhận sóng âm từ bi sẽ tự chuyển hóa. Thường niệm “A Di Đà Phật” sẽ đẩy lùi vọng tưởng. Chấp trước lớn nhất là xem thân này đồng với ta (thật ra chỉ là “của ta” như áo quần), từ đó không tin nhân quả. Phân biệt lớn nhất là cho con người thuộc hàng tối cao trong trời đất. Từ đó xem thường, đối xử tàn tệ với loài vật mà không hay trong các đời quá khứ chúng ta cũng từng khoác vô số thân các loài khác nhau. 
Con người hơn loài vật nhưng không thể tự thân sống dưới nước và bay trên bầu trời. Thừa nhận người cao hơn người cốt nơi trái tim chứ không ở cái đầu, nhưng người lại phủ nhận tình thương vô hạn của vật.
Bởi chúng cũng trào nước mắt lúc bị lôi vào các lò mổ; chúng cũng xả thân cứu người; chúng cũng đứt ruột mà chết khi nhìn con bị sát hại... Việc các nhà ngoại cảm nhìn thấy người chết sau bao nhiêu năm vẫn còn ở ngoài mồ, đã khiến nhiều người hoài nghi luân hồi. Các vị Bồ tát ứng thân từng dạy: Con người không tu tập, lúc mất đều theo nghiệp lực kéo vào lục đạo; việc họ còn ngoài mồ chỉ là tác dụng của “cái bóng” thần thức, không phản ánh đúng cảnh giới xấu họ đang phải chịu nhận. Công phu tu tập của hành giả thể hiện ở lượng từ bi rộng hẹp. Theo tinh thần kinh điển: vạn vật đều cùng một tự tánh câu thông khắp hư không trọn pháp giới. Tổn người hại vật chính là hại mình. Bàn về ăn chay, là cũ lắm. Bàn thêm là bởi từ sát sinh (dẫu là bất khả kháng) đi tới ăn chay, “sự kiện” đó, theo cách nói của văn hào David Thoreau, can dự một cách quan trọng vào vấn đề vận số của con người. Quá nhiều công trình khoa học chứng minh sự khác nhau giữa loài người và loài vật. Và để thật sự phân chia đẳng cấp vượt trội của mình, họ phán loài vật không có tư duy, không có ngôn ngữ. Suy nghĩ đơn giản: loài người ở nhiều nơi trên thế giới, khi mới xuất hiện cũng “không có” ngôn ngữ, chưa hoàn thiện ngôn ngữ mà phải dùng ký hiệu hoặc nút thắt ghi sự kiện, tháng ngày. Loài cá hồi cứ 5 năm một lần, bất kể đang ở nơi đâu trên đại dương, đã dùng tín hiệu lũ lượt hành hương về nơi chúng sinh ra, bất chấp chặng đường dài và khi đến nơi số lượng sống sót quá ít ỏi. Lũ chó nghe được động đất rồi nháo nhào sủa trước cả máy dò tín hiệu, trước những phát minh ưu việt của con người. Có loài tinh tinh, phân tích cho thấy giống đến 99% so với con người. 1% đó có cách lý giải nào khác do “quy định” của nghiệp nhân quả báo? Trong một tác phẩm xuất sắc về chiến tranh ở Việt Nam, tác giả mô tả cảnh con vật khi bị cạo lông, bầu vú hiện ra y hệt phụ nữ. Trên mặt báo cũng từng đưa tin về người thợ săn bóp cò, điều bất ngờ xảy ra: con khỉ mẹ quay mình che chở cho con. Khỉ, loài chúng ta vẫn thường gọi tổ tiên của người (đến nay sau bao nhiêu quá trình tiến hóa vẫn chưa rụng đuôi), hễ chủ quán cầm dao làm thịt liền quỳ xuống lạy xin tha mạng. Nhiều con trâu mới chỉ được dắt đến buộc ngoài lò mổ, mắt chúng đỏ ngầu nước mắt. Những con ếch và chàng hương ở các quán nhậu bị đè lên thớt đã cố dùng hai chân trước trì lại, trụt cổ vì chúng biết lưỡi dao đang lia xuống. Những con chó lạc chủ, sau mười năm gặp lại vẫy đuôi rối rít vui mừng khôn xiết. Con chó khác lúc chủ mất, liền tuyệt thực lên mộ nằm đến chết! Lại có con nghe sắp bị bán liền vào “khóc” trước chủ ngầm xin giữ lại. Nhiều con mèo nằm trên mái nghe chủ bàn với khách mai làm món nhậu, liền biến mất tăm. Ngược lại, là con người, anh em ruột thịt vẫn xách dao chém nhau. Con ngược đãi bố mẹ như với tù nhân. Thêm một chuyện thật một trăm phần trăm: cha đẻ ép quan hệ con gái trong thời gian dài mới bị vợ phát giác. Rồi những con người đường bệ ăn mặc gọn gàng, miệng dùng toàn mỹ từ đạo đức song luôn có những hành động “bậc thầy” của loài vật, những chiêu thức mà loài vật (do chưa được công nhận là có ngôn ngữ) chưa nghĩ ra. Loài vật ăn thịt theo bản năng của cái đói. Còn động vật bậc cao, lịch sử còn ghi vết nhơ của toán quân mổ người làm thức ăn kiểu như đoạn được mô tả ở truyện Thủy Hử, Tam Quốc. Ở một góc nào đó của thế giới chúng ta không cần biết địa chỉ rõ ràng, từng có nhà hàng phục vụ món lẩu bào thai trẻ em. Thánh Mohanda Gandhi dạy: “Chúng ta không nên sai lầm chạy theo lối sống của các loài thú nếu tự coi mình cao thượng hơn chúng”. 
Và thật nhiều những di ngôn thánh thiện, như của văn hào Nobel năm 1978 Isaac Bashivis Singer, Léon Toltoi, thi hào Percy Bysshe Shelley; kịch tác gia Bernard Shaw Nobel văn học năm 1925, trước cơn thập tử nhất sinh vẫn quyết ăn chay. Bài thơ "Những ngôi mộ sống" của ông lan truyền khắp thế giới: “Trước Trời Phật, trên nấm mộ sinh sát/ Của muôn loài vô tội ta cầu xin/ Ban ơn lành, khi Luật Đạo Đức kia/ Ta xé nát mà không hề thương tiếc/ Và như thế ta gieo nhân tội ác/ Của Chiến Tranh cho nhân loại toàn cầu”. Rất nhiều lời khuyên từ những công trình khoa học uy tín nằm trong chương trình phát triển của xã hội người trên thế giới, rằng ăn thịt là một sai lầm nghiêm trọng. Theo sách Zen và dưỡng sinh: “Ăn thịt cá nhiều quá tánh tình trở thành ồn ào, tâm trạng rất tầm thường”. Có một công trình so sánh giữa ly sữa động vật với ly sữa đậu nành, hàm lượng dinh dưỡng của ly sữa đậu nành (mà nhu cầu cơ thể cần) gấp ba lần ly sữa động vật. Mặt khác lúc con vật bị giết, nỗi sợ hãi tột cùng khiến chúng tiết ra một loại độc. Hơn thế hầu hết thịt đến tay người tiêu dùng có khi lên tới 6 tháng, chưa kể tẩm hóa chất duy trì sự tươi. Ở nhà thương, người người quằn quại kêu van, chúng ta chỉ xót xa trên bề mặt cảm xúc, chứ đâu có đau như họ; chỉ những bậc đắc đạo mới cảm nhận nguyên vẹn nỗi đau của người bệnh. Người Việt đa phần nuôi chó. Có chú chó được tắm rửa hàng ngày bằng xà bông thơm, được ngủ giường nệm với chủ, được ăn uống sung sướng hơn một công chức trung lưu, ốm đau có thú y. Chó ta một ngày bị bắt, người chủ khóc sưng húp mắt. Thương tận đáy lòng. Trong xã hội còn rất nhiều con chó được chủ thương như vậy. Chó chết, chủ khóc lóc rồi chôn cất. Nhưng rồi họ vẫn đến quán “Cờ Tây”. Dẫu, họ sẽ không ăn thịt con chó cưng của mình nếu nó vô tình bị ai đó giết thịt. Nhưng họ sẽ ăn những con chó (cưng) khác của những người chủ thương chó khác. Chưa bàn đến chuyện, những con chó bị phanh thây trong các quán cầy hầu hết đói khổ, ghẻ lở bên thềm lạnh. Chúng nhẽ ra đáng thương hơn những con chó cưng, cần được cứu vớt hơn. Chó là loài vật gần gũi nhất với người; lúc đánh nó lẽ ra ta phải đặt câu hỏi: A, chó cũng biết đau? Nó cũng đau như người. Vậy, khi chúng ta nện búa vào đầu chó hoặc treo lên chọc tiết, chó giãy giụa chết từ từ, liệu nó có đau đớn từ từ không? Câu trả lời rất khó, phải cần một công trình khoa học để chứng minh sự đau ấy (!). Rồi cắt tiết gà, lột da rắn, đánh toát mồ hôi loài dê, cột trâu đâm đến chết... tất thảy cần phải được khoa học chứng minh sự đau?? Phật từng khuyên: “Hết thảy chúng sinh đều sợ hình phạt, sợ tử vong và đều yêu quý mạng sống; hãy lấy mình làm ví dụ để không giết hại hay khiến người khác giết hại”. 
Nhiều người còn lấy nỗi đau của vật làm thú vui. Khỉ, bịt miệng cạo trọc đầu, trói dưới một cái bàn, chỉ lồi cái “đầu hói” lên trên. Lưỡi dao sắc bén lia ngang, “éo!” Khỉ nhắm mắt, và nhắm mắt vĩnh viễn dưới bàn, còn trên bàn nhậu hả hê tay muỗn tay nĩa múc óc còn nóng ăn trong niềm phấn khích. Con khỉ sắp bị giết quỳ lạy, đồ tể cầm dao chỉ chỏ: xem kìa, mọi người đến xem con khỉ lạy hay chưa kìa... Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 thổ lộ trong Ngày Từ Bi Thế giới năm 2013: “Tôi không phải là người ăn chay cho đến khoảng năm thập kỷ trước, nhưng khi tôi nhìn thấy con gà mái bị hành hạ trong một trại nuôi động vật, tôi quyết định trở thành người ăn chay". Một người trong tổ chức bảo vệ ngược đãi thú vật đưa ra sáng kiến, mọi lò mổ giết gia súc nên che kính, để mọi người ngang qua thấy cảnh giết rùng rợn đó, khởi bi thương mà bớt hại vật. Nghĩ ngược lại, không khéo người kéo tới vòng trong vòng ngoài xem cảnh máu me. Tệ nhất là trẻ em chưa nhận thức đầy đủ sẽ hân hoan trước những cú giật điện hàng loạt trâu bò lợn đổ nhào xuống như loài không xương, hay cảnh một người lực lưỡng giơ cao búa tạ nện xuống đầu trâu, nó gục, đầu lắc lư, quài hai chân trước đứng dậy lưng chừng thì, nhát búa thứ hai giáng xuống, mắt tóe ra...
Riêng về trường hợp như nhà vô địch quần vợt Peter Burwash là hiếm: “Khi tôi rời khỏi lò sát sanh, sự tội nghiệp đã giày vò lương tâm. Tôi thầm nhủ sẽ không bao giờ có đủ can đảm đi sát hại một con vật dù lớn dù nhỏ. Tôi hiểu rằng có những nhân vật lỗi lạc trên thế giới họp nhau để bàn cãi về các vấn đề vật lý, kinh tế và môi trường. Cũng có một số người tán đồng với chủ thuyết ăn chay. Song điều làm cho tôi chọn lấy con đường chay lạt không phải chạy theo chủ thuyết này hay chạy theo chủ thuyết nọ mà chính vì những cảnh dã man mà con người đã đối xử một cách tồi tệ với các loài vật không phương tự vệ”. Việc thi thoảng truyền hình tìm ra một vài trường hợp không cần ăn uống vẫn sống khỏe mạnh, đấy chẳng có gì lạ. Những người không ăn vẫn sống rất nhiều trên dãy Himalaya, ở trong các hang động mà họ tự bịt cửa tu luyện. Năng lượng tâm linh còn có thể hiểu là “thức ăn”, những người tu đạt tầng cao cảnh giới đều sử dụng được loại năng lượng sạch ấy. Khoa học thường đưa ra một menu thức ăn, trong mỗi bữa phải thịt này cá này đầy đủ dinh dưỡng. Nếu vậy chỉ cần đưa ra vài trường hợp trường chay đạm bạc rau cỏ cũng đủ bỏ qua công trình dinh dưỡng trên. Nhà Nobel vật lý năm 1921 Albert Einstein nhắn gửi: “Không gì có lợi cho sức khỏe của con người để có cơ hội sống lâu trên quả địa cầu này bằng cách ăn chay”. Với người tu, chỉ vì sức khỏe mà ăn chay, chưa phải chân tu. Nhân vật chương trình Phật Pháp Nhiệm Mầu kỳ 31 tại chùa Hoằng Pháp là Phật tử Nhật Trung, người vô cùng sáng tạo trong việc kinh doanh các món nhậu tươi sống cho những vị khách thích khoái lạc được tận mắt chứng kiến con vật bị giết trước khi ăn. Vốn chưa từng biết ghê tay, bản thân cũng là một kẻ “khát” cảm giác tra tấn, hành hạ các con vật để thỏa mãn hiếu kỳ, Nhật Trung tạo rất nhiều cách giết: trói khỉ vạt đầu lấy óc tại chỗ; rưới từng gáo nước sôi lên mèo để lông tự bung mà không cần nhổ; trói bò chặt đuôi (ăn thân thể con vật khi còn sống), v.v. Quả báo hiện tiền: trong 2 năm, 6 người thân trong gia đình chết bất đắc kỳ tử; bản thân anh đau đầu dữ dội, luôn phải đập vào tường cho đỡ, người nổi ngứa mọc từng vảy sừng có hình con vật lạ; con gái ốm yếu, vàng vọt, mọc lông ở lưng. Cũng may, nhờ căn lành nhiều đời, Nhật Trung đã gặp nhiều thiện tri thức, đặc biệt được đại đức Thích Thiện Thanh khai ngộ. Chuyện tương tự vô vàn, kể xuyên đêm thấu sáng chẳng hết. Người trực tiếp giết hại động vật gánh nghiệp nặng đến nhường ấy, người ăn thịt sao không chịu phần trăm cho được. Quy luật vũ trụ vốn phân minh. Có tòa nhà sụp đổ lúc hàng trăm ngàn người đang làm việc, vẫn có người được Nghiệp “lập trình” cho sống. Một người giàu có lịch thiệp, buổi chợ nọ dẫn đầu bếp theo, chỉ mua con này con kia còn giẫy, xong trả tiền phủi tay. Về giao đầu bếp làm thịt rồi lên giũa móng, nghĩ mình không sát? Nghiệp lãnh từ con vật bị giết, phần lớn người chủ gánh. Người ăn thịt thường mang trong mình nghiệp nặng, nhất là về cuối đời khi phước hao tổn, cạn kiệt. Nghiệp ấy sẽ “cản trở” những điều may mắn lẽ ra đáng được hưởng, sẽ “điều khiển” họ nhảy vào những cuộc chơi vô bổ, những cuộc “thăng hoa” mà hậu họa rõ nét nhất là bệnh, tâm lạnh lùng vô cảm trước nỗi đau của loài vật và của loài người. 
Đạo Jainism được thành lập hơn 2000 năm do Mahavira, một vị hoàng tử từ bỏ cung vàng điện ngọc vào rừng tu hành và đắc đạo; giáo lý: mở rộng lòng thương (Ahimsa). Ahimsa dạy các tín đồ phái này không được sát sinh, không ăn thịt cá và ngay trong nhà cũng không được chứa một thứ gì do sự giết chóc. Các giáo sĩ đạo Jain mặc toàn đồ trắng trên mặt bịt một miếng vải thưa chừa đôi mắt, để tránh loài ruồi, muỗi khỏi bay lọt vào mũi, miệng. Không những thế, các giáo sĩ đạo Jain mỗi năm phải nhập nhất một lần trong suốt ba tháng hè vì thời gian đó côn trùng sinh sản nhiều sợ giẫm lên chúng. Đạo Phật nguyên sơ không cấm ăn mặn. Nhưng việc đó tiếp tay cho sự giết hại sinh linh, nên ăn chay đã sớm trở thành ước nguyện trọn đời của người tu. Người trần có ý hướng đến cõi thuần tịnh ngoài việc tự nguyện ăn chay tùy thời điểm, còn lại chủ yếu ăn chay ngày mồng một và ngày rằm. Chỉ hai ngày trong tháng song là việc khó. Nhiều gia đình tang gia húy kỵ dọn chay, đến giờ mời cơm thì vắng tanh, người ngồi lại vung đũa sơ sài sợ mất lòng khổ chủ. Ăn chay là nghĩa cử, là thực hành một việc tốt; ăn trong trạng thái bực bội coi rẻ đồ chay, tâm vọng động thịt cá là mắc tội. Nếu hiểu lâu lâu “đổi món” là ăn chay, thì những người nông dân nghèo khổ ở các vùng quê hẻo lánh, là “trường chay” đáng nể. Một người bạn ở Hà Nội, bảo ở ngoài này quán chay hiếm. Chay là đặc sản. Người ta ăn chay như một thú vui, lạ miệng. Để biết ăn chay, việc tốt này không dễ hành. Đức Gôtama một lần ngang qua khu rừng, thấy mẹ con nhà hổ đói quá, nảy sinh ý nghĩ hiến thân để chúng qua bữa. Có những việc nguyên gốc đúng, thì nay, do sự “phát triển” của xã hội nên thành sai. Ăn chay nay người đời cho là thiếu khoa học. Trong Kinh Lăng già, Đức Phật “quan sát thấy tất cả thịt mà chúng sanh ăn đều là thịt người thân của họ”. Với tôi tập ăn chay là đang tự nhắc nhở: Tôi, đồng nghĩa với loài vật.
Nhụy Nguyên
Theo https://thuvienhoasen.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm

Tô Hoài - Vẽ lên hoài niệm Những chuyện đời tư sôi nổi, cảm động, thiết tha và gần gũi phần nào cho thấy sự chuyển đổi theo chiều hướng nh...