Sợi tơ nhện
Akutagawa Ryunosuke sinh năm 1892 (Meiji/ Minh Trị năm thứ 25)
ở Irifune-cho, Kyobashi-ku, Tokyo bây giờ đổi thành Chuo-ku. Cha có nông trại
nuôi bò để lấy sữa. Lúc mới đầy bảy tháng thì mẹ phát cuồng, nên được thân
quyến bên ngoại, gia đình người Anh của mẹ nhận về nuôi. Năm lên
10 thì mẹ ruột mất trong bệnh viện người điên. Năm 12 tuổi mới chính thức lấy họ
ngoại là Akutagawa. Ông mất năm 1927.
Vào được Đông Kinh Đế Quốc Đại học nay là Đông
Kinh Đại học (Tokyo Daigaku), Ông cùng với bạn học là Kikuchi Kan,
Kumei Masao những cây bút nổi tiếng đương thời tích cực hợp
tác lập văn đàn và sáng tác. Năm 1916 Ông viết truyện ngắn
Hana (Cái Mũi), được đại văn hào Natsume Soseki khen không tiếc lời,
tháng 9 cùng năm sáng tác truyện Imogayu (Cháo khoai). Năm sau đó
1917, Ông cho in tập Rashomon (La Sinh Môn) gom góp một số truyện ngắn nổi
tiếng, tự đó tạo được một chỗ đứng riêng trong văn đàn Nhật bản. Ông
là một trong những cây bút đại diện cho văn học Nhật thời
đại Taisho (Đại Chính). Ngày nay một giải thưởng văn chương rất
có uy tín mang tên Ông, phát hàng năm cho cây bút nào với sáng
tác có giá trị văn học cao.
Tác phẩm Sợi tơ nhện được sáng tác vào năm
1918 cho tạp chí Văn Nghệ Thanh thiếu niên Akai Tori (Con
Chim đỏ). Trong những năm tiếp theo Ông rất tích cực sáng
tác truyện ngắn cho Thanh thiếu niên chẳng hạn như Majutsu (Ảo
thuật 1919), Toshishun (Đỗ tử Xuân 1920)., Torokko (Chiếc xe goòng 1922),
Sennin (Ông tiên 1922) v.v...
1. Xin kể, đây là câu chuyện xảy ra trên Cực Lạc.
Một bữa nọ, Đức Thích Ca một mình lững thững đi dạo bên hồ
sen. Những đóa sen trong hồ nở trắng toát, đẹp như ngọc. Từ giữa nhụy vàng một
hương thơm ngào ngạt khó tả, ngan ngát tỏa ra khắp miền.
Xin thưa, trên Cực Lạc lúc đó đúng vào buổi sáng.
Đức Thích Ca dừng lại bên cạnh hồ sen. Xuyên
qua giữa những lá sen phủ khắp mặt hồ, Đức Phật chợt đưa
mắt nhìn xuống dưới.
Xin thưa, bên dưới hồ sen lại chính là đáy của địa ngục.
Nước hồ trong vắt như thủy tinh. Đây là sông Tam Đồ, đấy là
những hòn núi đầy kim. Cảnh tượng ở dưới trông rõ mồn một như
được soi gương.
Dưới địa ngục, cảnh gã Kandata cùng với các tội
nhân khác đang quằn quại rên siết, lọt vào mắt Phật.
Tên Kandata này là một tên trùm trộm cướp. Cả đời, y làm
đủ chuyện độc ác, cướp của, đốt nhà, giết người không gớm tay. Duy chỉ một
lần, y cũng làm được một việc thiện. Vâng, đó là chuyện vào một buổi nọ,
tên ác ôn này đang đi trong rừng sâu, bỗng y thấy một con nhện bò bên vệ đường.
Y liền giở chân lên định dẫm chết con nhện, nhưng y
nghĩ "Không, không, nó tuy chỉ là một con vật nhỏ bé, nhưng nó cũng
có một sinh mệnh, nỡ nào ta lại giết đi, như thế thì tội nghiệp cho
nó quá". Nghĩ vậy y bèn thôi, không giết con nhện.
Đức Thích Ca nhìn cảnh địa ngục, nhớ lại
chuyện tha không dậm chết con nhện của tên Kandata. Để ứng báo cho
cái việc thiện ấy của y, Đức Phật nghĩ nếu đuợc thì cũng muốn
cứu vớt tên này ra khỏi cảnh địa ngục. May thay lúc ấy, Đức
Phật nhìn bên cạnh, thấy trên một lá sen xanh như cẩm thạch, một
con nhện trên Cực Lạc đang giăng tơ, những đường tơ óng ánh, đẹp như
bạc.
Đức Phật bèn vươn tay nhẹ vớt một sợi tơ nhện và xuyên
qua giữa những đóa hoa sen trắng như ngọc, buông thẳng tuốt xuống địa
ngục.
2. Xin thưa, dưới địa ngục, tên Kandata cùng với những tội
nhân khác đang lặn hụp trong ao máu, lúc nổi lúc chìm.
Mà tứ bề thì tối mịt. Trong cái cõi âm u ấy, nếu đâu
đó có cái gì hiện ra, thì đó lại chính là những mũi kim nhọn hoắt của
các hòn núi đầy kim dưới địa ngục, lóe ánh sáng trông thật là khủng khiếp, ghê
rợn. Hơn thế, cả vùng lặng ngắt như nằm trong huyệt mộ, chốc chốc chỉ
nghe thấy vọng tiếng thở dài khe khẽ của các tội nhân.
Xin thưa, ai mà đã sa xuống dưới địa ngục này,
thì phải chịu đủ thứ cực hình đau đớn, còn sức đâu nữa để mà khóc
thành tiếng.
Cho nên dù lúc sinh tiền Kandata là tên cường đạo, thì
nay giỏi lắm cũng chỉ giãy giụa, sặc sụa trong ao máu không khác gì một
con ếch sắp chết mà thôi.
Nhưng xin thưa, trong lúc lặn hụp ấy, Kandata bất giác ngước
mặt nhìn trời. Ô kìa trong cái cõi u minh tối mịt, xa tít từ trên
trời cao, một sợi tơ nhện màu bạc như một tia sáng, lóng lánh thật
mỏng, len lén buông xuống nhè nhẹ như không muốn cho ai hay, ngay
trên đầu của mình.
Khi Kandata nhận ra điều này thì trong bụng mở cờ.
Nếu bám được sợi tơ nhện này mà leo miết lên thì chắc có lẽ sẽ thoát được địa
ngục.
Ơ này, không biết chừng có thể vào được cả chốn Cực Lạc.
Như vậy thì từ nay khỏi bị đuổi trèo lên núi đầy kim nhọn, hết phải bị
bắt lặn hụp trong ao máu nữa.
Nghĩ vậy, Kandata liền đưa hai tay níu chặt lấy sợi tơ nhện
và cố hết sức mà leo lên, lên cao hơn.
Xin thưa, y vốn là tên cường đạo, nên chuyện như vầy thì xưa
nay y đã từng quen thuộc.
Nhưng xin thưa, khoảng cách giữa địa ngục và Cực
Lạc thì xa đến hàng ngàn vạn dậm, dù có muốn gấp cũng chẵng dễ gì mà có thể
thoát ngay được. Kandata ra sức leo một mạch thì thấm mệt, kiệt
sức, không tài nào leo nổi nữa, dù chỉ một gang.
Không cách nào hơn, Kandata đành đeo cứng sợi tơ ở giữa chừng,
định nghỉ một lát để lấy lại sức. Y đưa mắt nhìn xuống phía
dưới xa lắc.
Thì ra, đã không hoài công leo, cái ao máu mới hồi nào đây,
y đã lặn hụp trong đó thì nay, không biết tự hồi nào đã chìm mất
trong bóng tối phía bên dưới. Cả những ngọn núi đầy kim sáng lờ mờ khủng
khiếp kia, cũng đã khuất ở phía dưới chân của y rồi. Cứ như thế này mà leo miết
lên thì không biết chừng chuyện ra khỏi được địa ngục không phải là
không được
Kandata quấn sợi tơ nhện vào cả hai tay, đã mấy năm rồi từ
ngày sa xuống địa ngục, y không hề thốt ra nổi một lời, nay bỗng to
tiếng cười "Được rồi, chắc được rồi".
Nhưng bất đồ y nhận ra, ơ kìa phía dưới sợi tơ nhện,
không biết bao nhiêu là tội nhân cứ nối nhau, hết lòng cố
leo lên theo y, đông như kiến.
Thấy vậy Kandata vừa hoảng vừa lo. Y đờ người ra,
miệng há hốc, mắt đảo quanh.
Y nghĩ thầm, sợi tơ nhện này mong manh như thế, một
mình y đeo không thôi cũng không biết chừng bị đứt, thế thì làm sao mà chịu
cho nổi sức nặng của cả chừng ấy người.
Nếu lỡ mà sợi tơ này bị đứt giữa chừng, thì toi hết công đã
leo được đến đây, và chính y cũng sẽ rớt trở lại địa ngục.
Không thể được.
Nhưng ngay cả trong khoảnh khắc ấy, từ dưới ao máu tối mịt,
hàng trăm, hàng ngàn tội nhân khác, lúc nhúc nối tiếp nhau bò lên, cố
bám lấy sợi tơ nhện mong manh sáng, leo lên trên thành một hàng dài.
Kandata liền hét to.
- Ê bọn bây, sợi tơ nhện này của tao. Bọn bây đã xin phép ai
mà dám leo lên đây. Xuống hết! Xuống hết!
Chính ngay lúc đó.
Sợi tơ nhện cho đến giây phút ấy chẳng sao cả, bỗng đột
nhiên đứt phựt một tiếng, ngang từ trên chỗ tên Kandata đang đeo.
Và như thế, tên Kandata chẳng còn bám víu vào đâu
được. Trong chớp mắt y rớt lộn ngược, người y cắt gió quay vòng như một con vụ,
rớt tuột xuống trong bóng tối.
Xin thưa sau đó, giữa bầu trời không trăng không sao, chỉ còn
lại một sợi tơ cụt ngủn của con nhện trên Cực Lạc, lòng thòng óng ánh
sáng, rất mong manh.
3. Đức Thích Ca ngự bên hồ sen trên Cực Lạc, nhìn
rõ mọi chuyện, mãi cho đến lúc tên Kandata chìm nghỉm trong ao máu
như một tảng đá. Đức Phật như có vẻ buồn, lại lững thững cất
bước đi.
Vì cái tâm không có một chút từ bi, chỉ muốn một
mình thoát khỏi địa ngục, mà Kandata đã bị quả báo rớt trở
lại địa ngục, dưới mắt Đức Phật, là cả một điều bi đát thảm
thương.
Thế nhưng, trên Cực Lạc sen trong hồ vẫn nở như
không có chuyện gì xảy ra.
Những đóa hoa sen trắng như ngọc, đài hoa lay nhẹ
bên chân Phật. Từ giữa nhụy vàng ngào ngạt một hương thơm khó tả, ngan
ngát tỏa ra khắp miền.
Xin thưa, lúc đó trên Cực Lạc đã gần đến đúng Ngọ.
Tokyo, Hino 1-2003
AKUTAGAWA DỰA VÀO ĐÂU ĐỂ VIẾT SỢI TƠ NHỆN
Lạc vào rừng hoa văn hóa
Lạc vào rừng hoa văn hóa
Sau đây là những ghi chép từ tài liệu đã tìm đọc được,
do tính tò mò muốn biết Akutagawa Ryunosuke đã lấy chất liệu từ đâu để viết tác
phẩm Sợi tơ nhện.
Akutagawa (1892-1927) xuất hiện trên văn đàn Nhật
Bản như một hiện tượng hiếm có. Ông bắt đầu nổi tiếng trong
làng văn với tài năng khai thác, triển khai các đề tài
đã xuất hiện trong các tác phẩm cổ điển (1) của Nhật
Bản và của cả các nước khác. Điều này gây ngộ nhận cho một số
người là ông chỉ làm việc vay mượn. Ông vay mượn nhưng ông cũng sáng tạo.
Sự vay mượn không chỉ dừng lại ở các câu chuyện cổ mà ông còn dùng
ngay cả những sáng tác đương thời. Ông không chỉ vay mượn một chuyện
để viết một chuyện, mà trong lắm trường hợp tham khảo nhiều chuyện
để viết một chuyện (2). Ông đã tài tình gạn lọc nội dung cho
đến chỗ tinh khiết nhất, thay đổi cấu trúc, bố cục của các câu
chuyện cũ và với bút pháp thật độc đáo ông đã gây cho độc giả những ấn
tượng mới, tạo dựng những giá trị vượt thời gian, không
gian. Nếu lấy năm 1916 làm gốc, năm ông viết tác phẩm Cái Mũi (Hana)
được đại văn hào Natsume Soseki khen ngợi, thì cuộc đời sáng
tác của ông chỉ vỏn vẹn có 10 năm. Thế mà ông đã để lại cho hậu thế một gia
tài khá đồ sộ với khoảng 300 tác phẩm, trong đó phân nửa là truyện ngắn vô
cùng phong phú về đề tài, về nội dung, và rất đa dạng về cách viết
(3). Đó cũng là cơ sở để người ta tôn ông lên bậc thầy của truyện ngắn.
Akutagawa viết Sợi tơ nhện cho số khai trương của tạp chí
Akai Tori (Con Chim Đỏ), tháng 7 năm 1918, thể theo lời yêu cầu của
nhà văn bậc đàn anh Suzuki Miekichi. Suzuki Miekichi, người chủ trương tạp chí,
kêu gọi các cây bút đương thời sáng tác, cung cấp món ăn tinh
thần cho thanh thiếu niên, vì lúc bấy giờ ở Nhật bản, các truyện
dành cho tuổi trẻ phần lớn là truyện thần tiên, truyện cổ
tích.
Phong trào duy tân của Nhật Bản bắt đầu từ
năm 1867, năm Vua Minh Trị lên ngôi, nhắm tới việc thực hiện phương
châm "Phú quốc Cường binh" để bảo vệ đất nước của họ
khỏi hiểm họa xâm lăng của các nước Tây phương đang chạy đua săn thuộc
địa. Phong trào duy tân, xuyên qua cao trào "Thoát Á
Nhập Âu", không chỉ dừng lại ở việc du nhập kỹ thuật để công
nghiệp hóa, mà còn đòi hỏi người Nhật Bản phải thay đổi tận gốc
rễ - thay đổi toàn diện, từ cách suy nghĩ đến cách sống.
Người Nhật đã tích cực mô phỏng và đã thành công trong sự
nghiệp mô phỏng mọi khía cạnh của văn minh tây phương, từ tổ
chức chính trị, quân đội, giáo dục, nghệ thuật... cho đến cách
ăn, cách mặc, cách ăn chơi v.v... triết học và văn học tây
phương cũng được tích cực dịch ra tiếng Nhật. Chỉ trong
vòng 25 năm, nước Nhật đã trở nên hùng mạnh cả về kinh tế lẫn quân sự,
sánh vai đựợc với liệt cường. Qua chiến tranh Nhật-Trung (1894-1895) Nhật
Bản xâu xé Trung Quốc, thôn tính Đài Loan, mười năm sau đánh đắm
hạm đội Baltic của Nga trong chiến tranh Nhật-Nga (1904-1905) ở eo biển
Tsushima giữa Kyushu và bán đảo Triều tiên và tiếp theo đó
thôn tính cả Triều Tiên (1910) (4). Xã hội Nhật Bản vào
thời của Akutagawa không còn là buổi giao thời khi cái cũ trì trệ cái
mới, nhưng đã nghiêng hẵn về phía thắng thế của văn minh tây phương.
Những giá trị đạo đức đông phương dựa
trên sự hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng không còn
là trọng tâm của sinh hoạt hàng ngày, ngược lại lợi
ích cá nhân được đề cao. Và một khi toàn xã hội chuyển mình
nghiêng về hướng khuyến khích, cổ võ, tạo điều kiện thuận tiện cho cá
nhân phát triển tài năng riêng, đề cao mục đích sống
là đạt cho được giàu sang, danh vọng, địa vị cá nhân,
thì yếu tố ích kỷ trong đời sống mới càng ngày càng đậm
màu.
Là một nhà văn, đồng thời là một thành phần trí
thức ưu tú của Nhật bản (tốt nghiệp Đông Kinh Đế quốc Đại
học (nay là Đại Học Đông Kinh), đại học tiêu biểu cho
đỉnh cao tột bực của học vấn thời bấy giờ), Akutagawa không khỏi
không cảm nhận những mâu thuẫn tinh thần, đạo đức trong xã
hội, do đó khi viết câu chuyện ngắn này cho thanh thiếu niên, chắc
chắn ông đã cố ý gói ghém một lời răn.
Sợi tơ nhện tuy viết cho thanh thiếu niên, nhưng cũng là
một tác phẩm được mọi lứa tuổi yêu chuộng, tìm đọc. Giá trị văn
chương và nội dung triết lý của nó đã thăng hoa, trở thành một tuyệt
tác không những của Akutagawa, của văn học Nhật bản, mà là của cả
kho tàng văn học thế giới.
Xuất xứ của Sợi tơ nhện
Nội dung câu chuyện Sợi tơ nhện tuy chỉ gói ghém một
lời răn rất đơn giản về tính ích kỷ, nhưng cấu kết câu
chuyện được xây dựng trên cơ sở triết lý Nhân Quả của Phật
giáo, những gì đang diễn ra trước mắt vừa là quả của nghiệp chướng trước
đó, vừa là nhân của những gì sẽ xảy ra trong tương lai, hay cực đoan hơn,
sắp xảy ra ngay sau đó. Thiện dẫn ta đến thiện, ác chuốc lấy ác. Một việc
thiện dù nhỏ, tự nó là mầm mống, là hạt nhân dẫn đến cứu độ, dẫn đến siêu
thoát. Nghiệp ác đưa con người đến khổ ải, đọa đày, hủy diệt.
Rõ ràng đây là một câu chuyện Phật giáo, thế
mà không một nhà nghiên cứu hay bình luận văn học nào
có thể tìm ra điển tích tương tự trong kho tàng sách vở của Nhật
bản. Người ta cũng không tìm ra nó trong thư tịch của Trung Hoa
hay Ấn độ.
Người ta quay sang lùng kiếm kho tàng văn học tây
phương. Và chính ở đây người ta tìm ra được hai tác phẩm có
thể trở thành lời giải cho xuất xứ của Sợi tơ nhện.
Giả thuyết thứ nhất là câu chuyện Cây hành
tây, một câu chuyện được truyền tụng trong dân gian của nước
Nga có bố cục và nội dung rất giống Sợi tơ nhện. Ông Yoshida Seiichi (5) trong
bài bình giảng phụ chú cuối tập truyện Sợi tơ nhện, đã dẫn chứng câu
chuyện Cây hành tây này từ tác phẩm Anh em Nhà Karamazov (1881)
của Dostoevski (1821-1881) qua bản dịch tiếng Nhật của Yonekawa Masao như sau:
"Ngày xửa ngày xưa, có một bà già xấu bụng.
Hồi còn sống bà không làm một điều tốt nào cả. Khi chết, bà ta rớt xuống địa
ngục, bị Sa tăng túm, liệng ngay vào ao lửa. Lúc ấy thiên thần phù
hộ cho bà, lặng lẽ cố tìm kiểm xem trong suốt cuộc đời,
bà có làm điều gì tốt không, để bạch cùng Thượng Đế. Một lúc sau thiên
thần mới nhớ ra được một chuyện, bèn ngước lên bạch ngay với Thượng Đế rằng, ngày
xưa có lần bà ta đã nhổ một cây hành tây, thí cho một người đàn bà ăn
mày nghèo đói.
Thượng đế phán, hãy đi nhổ một cây hành tây, thòng xuống dưới ao, đưa cho bà ta nắm lấy mà cứu bà ta lên, nếu đầu đuôi thông suốt, kéo bà ta ra khỏi được ao lửa thì cho bà ta lên Thiên đàng, nếu cây hành tây nửa chừng bị đứt, thì phải bỏ bà ta ở đấy. Thiên thần liền chạy đến chỗ bà lão, chìa cây hành tây cho bà và bảo bà hãy nắm chặt lấy nó, xong cẩn thận kéo cây hành tây lên từ từ. Và, đúng vào lúc thiên thần gần như kéo bà lão lên khỏi mặt ao thì những cô hồn khác dưới ao cũng vừa nhận ra là bà lão đang được kéo lên, bèn hùa nhau chụp lấy cây hành tây, mong được kéo lên theo. Bà già vốn là một người xấu bụng, liền co cằng đạp mọi người xung quanh vừa la ó, chỉ có mình tao mới được lên thôi, chứ bọn bây đâu được. Ngay lúc bà ta vừa nói xong thì cây hành tây bỗng bị gẫy ngang. Và bà già rớt xuống ao lửa trở lại, mãi tới bây giờ vẫn còn bị lửa thiêu, thiên thần đành gạt nước mắt, bỏ đi."
Thượng đế phán, hãy đi nhổ một cây hành tây, thòng xuống dưới ao, đưa cho bà ta nắm lấy mà cứu bà ta lên, nếu đầu đuôi thông suốt, kéo bà ta ra khỏi được ao lửa thì cho bà ta lên Thiên đàng, nếu cây hành tây nửa chừng bị đứt, thì phải bỏ bà ta ở đấy. Thiên thần liền chạy đến chỗ bà lão, chìa cây hành tây cho bà và bảo bà hãy nắm chặt lấy nó, xong cẩn thận kéo cây hành tây lên từ từ. Và, đúng vào lúc thiên thần gần như kéo bà lão lên khỏi mặt ao thì những cô hồn khác dưới ao cũng vừa nhận ra là bà lão đang được kéo lên, bèn hùa nhau chụp lấy cây hành tây, mong được kéo lên theo. Bà già vốn là một người xấu bụng, liền co cằng đạp mọi người xung quanh vừa la ó, chỉ có mình tao mới được lên thôi, chứ bọn bây đâu được. Ngay lúc bà ta vừa nói xong thì cây hành tây bỗng bị gẫy ngang. Và bà già rớt xuống ao lửa trở lại, mãi tới bây giờ vẫn còn bị lửa thiêu, thiên thần đành gạt nước mắt, bỏ đi."
Quả thật câu chuyện này có bố cục và chi tiết giống
hệt câu chuyện Sợi tơ nhện, một đối một. Cây hành tây có nhân vật
chính là bà già xấu bụng thì Sợi tơ nhện có tên cướp độc ác.
Cây hành tây có ao lửa thì Sợi tơ nhện có ao máu, Cây hành tây có Thượng đế,
Sợi tơ nhện có Phật Thích Ca. Thiên thần chìa Cây hành tây
cho bà già, Đức Phật thòng sợi tơ nhện xuống cho Kandata. Cô
hồn trong Cây hành tây hùa nhau níu cây hành tây thì cô hồn trong
Sợi tơ nhện đeo theo sợi tơ nhện. Cả hai phương tiện cứu độ ấy đều
đứt phựt viø hành động ích kỷ muốn chiếm đoạt sự cứu độ cho
riêng mình, ruồng rẫy những người cùng cảnh ngộ. Một sự trùng
hợp ghê rợn là cả hai có kết thúc hoàn toàn giống
nhau: bà già xấu bụng và tên cường đạo cùng rớt trở
lại địa ngục, vì hành động bất nhân xuất phát từ tâm địa ích
kỷ của miønh.
Một lý do khác khiến người ta nghĩ Akutagawa đã vay
mượn câu chuyện Cây hành tây để viết Sợi tơ nhện có lẽ là vì ông giỏi
tiếng Anh, rất sành sỏi văn học tây phương (ở đại học,
ông theo học ban Văn chương Anh và sau khi tốt nghiệp làm giáo sư dạy
Anh văn). Người ta suy diễn là tất nhiên ông đã đọc tác phẩm Anh
em Nhà Karamazov.
Nhưng chỉ với chứng ấy nội dung mà kết luận rằng
Cây hành tây là xuất xứ của Sợi tơ nhện thì chưa đủ tính thuyết
phục.
Yoshida Seiichi (5) Miyoshi Yukio (6) Donald Keene (7) cùng đề
cập đến một giải đáp thứ hai. Riêng ông Yoshida đã cho biết ông
Yamaguchi Seiichi mới là người đã trưng bằng cớ xác định được xuất xứ thực
thụ của Sợi tơ nhện. Yamaguchi đã dẫn chứng tác phẩm Karma (Nghiệp
chướng) (8 & 9) do Paul Carus viết vào năm 1894 và được đăng thành nhiều kỳ
trên Tạp chí The Open Court phát hành ở Chicago, tạp chí này do chính Paul
Carus làm chủ nhiệm. Karma là tập hợp 8 câu chuyện chung quanh chuyến
đi của một người phú thương buôn bán vàng ngọc. Trọng tâm tác
phẩm là chuyện thứ 5, The Spider Web.
Nhà xuất bản The Open Court đã đặt cho nhà sách Hasegawa ở
Tokyo in nguyên bản tiếng Anh cộng thêm một số tranh màu, đóng thành
sách, vỏn vẹn chỉ có 24 trang vào tháng 12 năm 1895. Cuốn sách này bán chạy đến
nổi nó được tái bản đến ba lần. Và ba năm sau, vào tháng 9 năm 1898 thì cũng
nhà sách ấy in thêm bản tiếng Nhật do ông Suzuki Daisetsu (1870-1966) dịch. Ông
Suzuki trước đó một năm đã được một tổ chức Phật giáo ở Nhật biệt
phái sang Mỹ giúp việc cho Paul Carus (10). Ông Suzuki Daisetsu đã dịch
thoát cái tựa Karma (Nghiệp Chướng) ra tiếng Nhật thành Inga no oguruma
(Bánh xe Nhân Quả) và dịch thoát cả cái tựa của The Spider Web
(Mạng nhện) thành Kumo no ito hay Sợi tơ nhện (11).
Câu chuyện The Spider Web (Mạng nhện) bắt đầu với cảnh
tên tướng cướp Mahâduta đang hấp hối trong vòng tay của nhà Sư,
hắn lo sợ sẽ rớt xuống âm ty, vĩnh viễn không được cứu độ. Nghe
lời than của tên cướp, nhà Sư từ tốn kể câu chuyện của
Kandata dưới âm phủ, và qua câu chuyện đó đã cải huấn được tên
cướp trước lúc hắn nhắm mắt.
Như thế rõ ràng là Akutagawa không những đã lấy
nguyên văn cái tựa Sợi tơ nhện của bản dịch mà còn dùng nguyên cả tên của tên
cướp Kandata trong nguyên tác. Ngay cái tên Kandata, khi viết dưới dạng chữ
Hán, Akutagawa dùng nguyên văn chữ Hán trong bản dịch của ông Suzuki Daisetsu.
Ba chữ Hán này khi đọc ra âm Việt Nam sẽ là Kiền Đà Đa.
Xem như thế, ở đây chỉ còn lại một nghi vấn là, vậy
thì Akutagawa đã lấy Sợi tơ nhện qua việc đọc thẳng nguyên tác tiếng Anh của
Paul Carus hay qua việc đọc bản dịch tiếng Nhật của Suzuki Daisetsu? Không ai
có thể thay thế Akutagawa để trả lời nghi vấn này một cách dứt
khoát, nhưng dựa trên tên tác phẩm là Sợi tơ nhện (tựa do
Suzuki đã dịch thoát) và tên nhân vật chính Kandata (viết bằng chữ Hán
là Kiền Đà Đa), đúng y tên chữ Hán do Suzuki sử dụng trong
bản dịch, chúng ta có thể đi đến kết luận mà không sợ sai
lầm là Akutagawa đã lấy câu chuyện này từ bản dịch của ông
Suzuki. Và thêm vào đấy rất có thể Akutagawa đã đọc câu chuyện Cây
hành tây trong tác phẩm Anh em nhà Karamazov và tham khảo nó
để xây dựng cấu trúc tác phẩm Sợi tơ nhện của mình.
Tính sáng tạo của Akutagawa xuyên qua việc
vay mượn
Mặc dù Akutagawa đã vay mượn hầu như toàn bộ nội
dung bàn dịch của ông Suzuki Daisetsu, cả cái tựa lẫn cái tên của nhân vật
chính, nhưng Akutagawa đã lồng vào đó những sáng tạo của riêng ông.
Như đã trình bày ở trên, The Spider Web chỉ là một phần của tác
phẩm Karma, là câu chuyện thứ 5 trong 8 câu chuyện xoay xung
quanh chuyến đi của một người phú thương buôn bán vàng ngọc.
Trong đó tên cướp Mahâduta thật ra ban đầu chỉ là tên hộ vệ lực
lưỡng, sẵn sàng thi hành tất cả những gì người chủ ra lệnh. Thế
mà cuối cùng hắn bị người chủ nghi oan là đã ăn cắp túi tiền,
bị chủ giao cho lính, và bị đánh đập tra tấn. Hắn trốn vô núi đi theo một
đám cướp, và trở thành thủ lãnh. Về sau hắn chận đánh chuyến đi giao
hàng của người phú thương rồi cướp hết vàng ngọc của người chủ cũ,
nhưng hắn lại không chia cho bọn em út mà đem đi giấu. Viø thế hắn bị bọn em út
làm phản, một lần nữa lại bị đánh đập tàn nhẫn... may được nhà
Sư phát giác và săn sóc. Để cải huấn hắn, nhà Sư kể câu
chuyện của Kandata, một tên đạo tặc suốt đời chỉ chuyên
đi ăn cướp, giết người không gớm tay, duy nhờ làm được một điều thiện là
không nỡ giậm chết con nhện bò bên vệ đường, nên được Đức Phật phát
hiện, nhủ lòng từ bi sai con nhện trên Niết bàn xuống cứu,
và chính Đức Phật dặn Kandata rằng hắn chỉ có thể thật sự được cứu
độ nếu bỏ được cái bản ngã ích kỷ... Nhưng khi Kandata nắm sợi
tơ nhện leo lên, ra khỏi được âm ty thì hắn lại chiếm đoạt sợi tơ cho riêng hắn, ruồng
rẫy không cho những tội nhân cùng cảnh ngộ, cũng muốn thoát
khỏi âm ty, hàng hàng lớp lớp đang cố đeo lấy sợi tơ, leo lên theo với hắn.
Và ngay khi hắn mở miệng xua đuổi, ruồng rẫy kẻ khác, sợi tơ đứt
phựt và hắn lộn đầu trở xuống âm ty.
Xem như thế, câu chuyện The Spider Web là một câu
chuyện nhuốm đầy màu sắc tôn giáo, trong đó có đoạn tả cảnh hào
quang Đức Phật rọi xuống âm ty, cảnh Đức Phật trực tiếp răn
Kandata phải thật lòng diệt dục mới có thể thực sự được cứu độ. Có cả lời giải
thích về sợi tơ nhện tuy mong manh, nhưng là sợi dây cứu độ chúng
sinh, càng nhiều người bám vào, nó càng chắc ra. Rõ ràng đây là một câu
chuyện tôn giáo mang chủ đích muốn chứng minh luận
thuyết của tôn giáo ấy. Đọc tác phẩm The Spider Web,
người đọc không khỏi không mang ấn tượng là đang đọc một bài thuyết
pháp, hay nhẹ hơn, một câu chuyện ngụ ngôn của tôn giáo.
Trong khi đó độc giả đọc Sợi tơ nhện mang cảm
tưởng đang thưởng thức một sáng tác văn chương và
tự mình khám phá ra bài học ẩn dụ trong áng văn. Akutagawa
đã táo bạo nhưng cũng rất tài tình dám lấy thẳng mắt Phật để kể chuyện.
Và cái độc đáo của ông là ông đã kể một câu chuyện đọa đày dưới
Âm ty trong cảnh tinh khiết của Niết Bàn.
Ta hãy nghe ông bắt đầu:
"Đây là câu chuyện xảy ra trên Cực Lạc. Một
bữa nọ, Đức Phật lững thững đi dạo bên hồ sen. Những đóa sen
trong hồ nở trắng toát, đẹp như ngọc. Từ giữa nhụy vàng một hương thơm ngào ngạt
khó tả, ngan ngát tỏa ra khắp miền. Xin thưa trên Cực Lạc lúc
đó đúng vào buổi sáng".
Và ta nghe ông chấm dứt câu chuyện:
"Thế nhưng, trên Cực Lạc sen trong hồ vẫn nở như
không có chuyện gì xảy ra. Những đóa sen trắng như ngọc đài hoa lay nhẹ
bên chân Phật. Từ giữa nhụy vàng ngào ngạt một hương thơm khó tả, ngan
ngát tỏa ra khắp miền. Xin thưa, lúc đó trên Cực Lạc đã gần
đến đúng ngọ".
Câu chuyện bắt đầu trên Cực Lạc và chấm dứt cũng
trên Cực Lạc. Ông đã dựng hai cảnh có thứ nguyên hoàn toàn đối
nghịch nhau, hai thái cực Cực Lạc và Âm ty ngay trong cùng một
màn, diễn ra ngay trước mắt người đọc. Ông dàn cảnh Đức Phật xuất
hiện lững thững đi dạo bên hồ sen trong hương thơm ngan ngát
trên Cực Lạc và xác định "dưới hồ sen là đáy địa ngục" để hợp
lý hóa tất cả những diễn biến sau đó dưới âm ty qua mắt Phật. Nhưng ông đã
dừng lại ở vai người kể truyện, không thêm thắt các chi tiết mầu
nhiệm, hoang đường tôn giáo như ta thấy trong tác phẩm Karma.
Chỉ vào đoạn chót ông mới cho một lời giải về cái buồn của Đức Phật:
"Vì cái tâm không có một chút từ bi, chỉ
muốn một mình thoát khỏi địa ngục mà Kandata đã bị quả
báo rớt trở lại địa ngục, dưới mắt Phật, là cả một điều bi
đát thảm thương".
Toàn bộ áng văn tuy ngắn ngủn, nhưng nó đã làm cho người
đọc rộn ràng với nhiều đoạn tả cảnh vô cùng linh động. Ông đã dồn dập
vẽ những chi tiết đối nghịch nhau, những cái xáo động dưới âm ty diễn
ra trong bối cảnh thanh tĩnh của Niết Bàn. Cực Lạc trong sáng,
tươi mát, thanh tịnh, tinh khiết. Âm phủ u tối, đọa
đày, huyên náo, ghê rợn.
Akutagawa đã sắp xếp những diễn biến một cách rất tinh tế,
tạo căng thẳng cho người đọc trong suốt câu chuyện. Câu
chuyện kết thúc với cảnh Kandata lộn đầu rơi như một con vụ, trở
lại âm ty, và người ta chỉ thấy còn lại một sợi tơ cụt ngủn óng ánh. Nhưng
lúc đó cũng lại là lúc Niết Bàn đang ở trong vùng ánh sáng giữa trưa,
sen trong hồ vẫn nở, hương sen vẫn ngào ngạt. Niết Bàn không dao
động.
Tác giả đã lược bỏ các chi tiết thuyết pháp tôn
giáo của nguyên tác, không lồng vào tác phẩm của mình một ý
kiến, một lời răn nào, nhường quyền phán xét cho độc giả, dù đó là
thanh thiếu niên. Điều này càng làm tăng giá trị cho áng văn.
Lạc bước vào rừng hoa văn hóa
Khi đọc phần bình giảng của ông Yoshida Seiichi viết về xuất
xứ của tác phẩm, tôi tò mò muốn kiểm chứng chi tiết về tác
phẩm Karma của hơn một thế kỷ trước, và tôi lạc bước vào rừng
hoa văn hóa. Sau đây là những chi tiết chung quanh tác phẩm Karma
và hai nhân vật Paul Carus, Suzuki Daisetsu.
Paul Carus (1852-1919), là một triết gia người Đức
sinh sống ở Chicago. Ông là người đi tiền phong trong việc giới
thiệu triết học Phật giáo vào nước Mỹ. Suốt từ năm 1887 cho
đến lúc tạ thế, ông làm chủ biên hai tạp chí The Open Court và The
Monist, cả hai đều do nhà xuất bản The Open Court phát hành.
Ngay sau khi tác phẩm Karma được đăng lần đầu tiên
trên tạp chí The Open Court, nhà xuất bản đã nhận được thư của một số dịch giả
từ nhiều quốc gia, Nhật, Đức, Pháp và Nga gửi đến xin phép dịch.
Trong đó bản tiếng Nga là do đại văn hào (Bá tước) Lev N. Tolstoi
(1828-1910) dịch. Cũng như nguyên tác ở Mỹ, các bản dịch ở các nước khác cũng
chỉ được đăng trên tạp chí chia thành nhiều kỳ. Duy chỉ có bản tiếng Anh in ở
Nhật, và bản dịch ra tiếng Nhật của ông Suzuki, do nhà sách Hasegawa ấn
hành ở Nhật là 2 bản được in thành sách trước nhất.
Sau đó ở Pháp có người dịch bản tiếng Nga của Tolstoi ra tiếng
Pháp. Bản dịch này do nhà xuất bản Société d? éditions littéraires et
artistiques phát hành và tự tiện ghi Tolstoi là tác giả. Bản tiếng Pháp
này lại được dịch sang tiếng Đức. Từ đó Âu châu chỉ biết đó như là một tác
phẩm do chính Tolstoi sáng tác. Trớ trêu thay, tác phẩm này
được dịch trở lại tiếng Anh, và được đăng trong The International
Magazine cũng ở Chicago. Một ngẫu nhiên rất lý thú, trụ sở của Tạp chí này
lại nằm ngay trong cùng một khu phố với nhà xuất bản The Open Court. Chính
vì lý do địa lý này, nhà xuất bản The Open Court khám phá ra dữ
kiện mạo nhận kia. Paul Carus viết thư khiếu nại Tolstoi và sau đó
Tolstoi phải viết thư thanh minh, nay được sử dụng làm Lời tựa
cho quyển sách Karma/Nirvana do nhà xuất bản The Open Court phát hành.
Xin trích dịch một phần của lời tựa này (9) như sau:
°Một chân lý mà ngày nay đã bị lu mờ là mỗi chúng
ta chỉ tránh được điều ác và làm được điều thiện là do nỗ lực riêng
của từng cá nhân, ngoài ra không có cách nào khác, tác phẩm này
đã nói lên dược điều đó một cách vô cùng rõ rệt. Lời dẫn giải trong tác
phẩm thật ý nhị vì nó chứng minh rằng cá nhân chỉ
thực sự có hạnh phúc khi những người chung quanh cũng được hạnh
phúc. Ngay khi tên cường đạo trốn khỏi được địa ngục, chỉ nghĩ đến hạnh
phúc vị kỷ, lập tức hạnh phúc của hắn chấm dứt ở
đó và hắn đã rơi trở lại bể trầm luân như cũ...
Tôi đã đọc câu chuyện này cho trẻ em nghe và chúng
nó rất thích. Và trong hàng người lớn, câu chuyện này sẽ giúp ta
trực diện với những vấn đề quan trọng nhất trong cuộc sống. Và theo
tôi đây là một câu chuyện tuyệt diệu mà tôi muốn giới thiệu với mọi
người...
Chỉ đến khi nhận được thư (của Paul Carus) tôi mới biết tác
phẩm Karma đang lưu hành mang tên tôi là tác giả, và tôi rất
lấy làm tiếc - không phải chỉ ở chỗ một chuyện sai lầm như thế mà cứ
để tràn lan không có ai lên tiếng cải chính, nhưng còn ở chỗ
tại sao lại có thể có một chuyện sai trái như thế, vì tôi sẽ vô
cùng hân hạnh nếu được diễm phúc là tác giả của sáng
tác này. Đây là tinh hoa trí tuệ của cả một quốc gia và
cần được truyền bá cho toàn thể nhân loại như
các tác phẩm Odyssey, Cuộc đời của Joseph, và Thích Ca
Mâu Ni.
Lev N. Tolstoi
Suzuki Daisetsu là một nhà Phật học nổi tiếng của Nhật
Bản, nhất là về Thiền. Ông tên thật là Suzuki Teitaro làm việc ở văn
phòng của P. Carus trong mười năm ròng, là người cộng sự đắc lực của
P. Carus trong việc giới thiệu Phật giáo ở Mỹ. Tên ông cũng rất quen
thuộc trong giới nghiên cứu Phật giáo của Việt Nam và
của Trung quốc.
Những suy nghĩ thay lời kết
Hơn một trăm năm trước Paul Carus đã sưu tầm từ đâu đó trong
kho tàng văn hóa Ấn độ để viết tác phẩm Karma. Lev N.
Tolstoi đã đánh giá nó như là tinh hoa, là kết tinh trí tuệ của
cả một dân tộc, đặt nó đứng ngang hàng với tác phẩm Odyssey
v.v...
Chúng ta thử đọc lại lời nhận xét của Tolstoi:
"... Cá nhân chỉ thực sự có hạnh phúc khi
những người chung quanh cũng được hạnh phúc... "
Chúng ta thử đổi chữ "cá nhân" thành chữ
"quốc gia" chữ "người" thành chữ "nước" rồi thử đọc
lại nó một lần nữa:
"... Quốc gia chỉ thực sự có hạnh phúc khi
những nước chung quanh cũng được hạnh phúc... "
chúng ta càng thấy thấm thía lời nhận xét của
Tolstoi về tính bất biến của bài học ẩn dụ trong tác
phẩm Sợi tơ nhện, một bài học vượt biên giới cá nhân, thời
gian và không gian, nghiệm đúng cả cho liên hệ giữa các dân
tộc.
Ngoài ra, còn có bản dịch Kiện Đạt Đa ích kỷ của Diệu
Hạnh Giao Trinh. Đây là một bản dịch từ tiếng Trung Hoa ra tiếng Việt,
nhưng không thấy bản dịch chua xuất xứ và năm tháng của sáng tác.
Nội dung và diễn tiến câu chuyện hoàn toàn giống tác
phẩm Sợi tơ nhện của Akutagawa.
Đáng tiếc là công việc tìm nguồn chưa đến đích của nó. Paul
Carus lấy câu chuyện này từ đâu? không thấy ông nói đến. Tôi sẽ tiếp
tục đi tim câu trả lời cho câu hỏi này và rất mong bạn đọc tham
gia việc tìm kiếm này để làm giàu cho trí tuệ của người
Việt nói riêng và của thế giới nói chung.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các Anh Đinh Văn Thạnh,
Trần Đình Tưởng và Nguyễn Nam Trân đã cung cấp tài liệu tham khảo,
và nhất là các Anh Việt Châu, Tôn Thất Phương, Nguyễn Nam Trân đã góp
nhiều ý kiến giúp hoàn thiện bài viết này.
Tài liệu tham khảo:
Bình giảng về Akutagawa Ryunosuke, Inoue Yasushi.
Akutagawa Ryunosuke từ A đến R, Nguyễn Nam Trân, e-Văn.
History of Japanese Literature, Kato Shuichi, Vol.3.
Lịch sử Nhật bản, Vĩnh Sính.
Bình giảng về Akutagawa Ryunosuke, Yoshida Seichi.
Bình giảng về Akutagawa Ryunosuke, Miyoshi Yukio.
A History of Japanese Literature, Donald Keene, Vol.3
Karma, The Story of Buddhist Ethics, Paul Carus.
Karma/Nirvana, Two Buddhist Tales, Paul Carus.
10. Watakushi no rirekisho, Suzuki Daisetsu
11. Suzuki Daisetsu Toàn Tập, Vol. 26.
Tokyo, Hino 12-2004
Akutagawa Ryunosuke
Người dịch: Đinh Văn Phước
Người dịch: Đinh Văn Phước
Nguồn: Việt Nam Thư Quán








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét