Biết gửi cho ai? xuất bản cuối năm 2018, là tập thơ thứ 25
(trong số 47 tác phẩm gồm nhiều thể loại đã ra mắt bạn đọc) của Trần Nhuận
Minh. Hơn mười năm qua, Trần Nhuận Minh vẫn như một con ong thợ cần mẫn, cắm
cúi suốt ngày, ngẩng lên đã chạm cái mốc tuổi 75, mới chợt nhận ra “Sức người
có hạn/ Trời cao khôn cùng”. Cho hay, thơ vẫn là một thách đố “khôn cùng” với bất
kỳ ai.
Với thơ, rộng ra là với cuộc đời, từ lâu, hình như vào thời
điểm sau Đổi mới đâu dăm ba năm với tập Nhà thơ và hoa cỏ (1993),
Trần Nhuận Minh vốn là một cây bút đầy ắp trăn trở, vốn là một dòng suối chưa
bao giờ đứng yên, một mặt hồ chưa bao giờ lặng sóng. Là một cây bút của thế hệ
“nhà thơ chống Mỹ”, Trần Nhuận Minh quả quyết thay đổi lối nghĩ, lối viết, để rồi
“tôi là người làm thơ ở vùng mỏ” (Ghi lại một kỷ niệm) một mình độc chiếm một
góc, cứ thế lục đào mãi và như đã tìm được vỉa quặng quý giá của riêng mình.
Thơ Trần Nhuận Minh từ đó sâu nặng lẽ đời, như chưng cất từ cuộc đời những suy
nghĩ lấm lem bụi đất, như ẩn chứa trong hồn chữ những vui buồn của một thi sĩ muốn bày tỏ những chiêm nghiệm của riêng mình. Một sự lựa chọn quả quyết thì
đúng rồi, và có lẽ hợp với ngòi bút của ông.
Những điều vừa nói trên đây bạn đọc có thể tìm được trong tập
thơ mới Biết gửi cho ai? gồm 50 bài được viết hơn mười năm gần đây. Với ai
không biết, với Trần Nhuận Minh sống không hề là dễ dàng. Tập thơ mang tựa đề
là một câu hỏi: Biết gửi cho ai?, và ngổn ngang trong tập là những câu thơ
mang sắc thái câu hỏi: Mình già rồi, biết nghĩ thế nào đây? (Tâm sự với
người bạn năm bước vào tuổi 70), Chao ôi… những vẻ đẹp/ Vỡ dễ dàng vậy sao?
(Vẻ đẹp), Hình như trời muốn rửa sạch/ Máu oan chảy suốt Sáu trăm năm?
(Nguyễn Trãi), Em có còn em thời thơ ngây? (Hoa xoan đã rụng), Sống
lương thiện bây giờ sao khó thế?, Sao con người vẫn cứ bơ vơ (Giật
mình), Ngày tôi sống sao mà lạ vậy? (Ngày tôi sống sao mà lạ vậy?), Lòng
mình sao cũng không yên? (Đêm thu), Người dưng ở đâu, người dưng ơi
có nhớ? (Hình như ngày ấy), Trong chùa, Bụt ngẫm nghĩ/ Biết đâu miền chân
tông? (Chùa vắng), Làm sao biết được kiếp sau, em sẽ là gì/ Là giọt mưa
mong manh bay ngang trời kia chăng/ Là con chim nhỏ hót ríu ran trên cành cây
kia chăng/ Là bông hoa dại nở vu vơ cuối góc vườn kia chăng…/ Làm sao biết được
kiếp sau anh sẽ là gì/ Là tảng đá tím đứng lẻ loi bên đường kia chăng/ Là dòng
sông đục, chảy không nguôi sau cơn mưa kia chăng/ Là dáng núi xa giấu vẻ mặt buồn
trong khăn mây kia chăng…
Làm sao biết được ta còn kiếp sau/ Làm sao biết được ta còn thấy nhau/ Làm sao biết được nỗi buồn qua mau/ Làm sao biết được tim mình không đau (Làm sao biết được)… Điệp trùng những câu hỏi cho thấy cuộc sống không hề dễ dàng, cho thấy tâm hồn nhà thơ không hề yên tĩnh. Bất luận ở thời buổi nào, chừng nào cái ác, cái phi lý còn ngang nhiên tồn tại, chừng nào cái đẹp, cái thiện còn bị lấn át, chà đạp… thì vẫn còn sự trăn trở, cật vấn không thôi trong tâm khảm nhà thơ. Với Trần Nhuận Minh, những điều này có khi là những câu hỏi không lời đáp của những khoảnh khắc buồn rất thi sĩ: Biết gửi nỗi buồn cho ai khi chiều thu tắt rồi? (Biết gửi cho ai?), có khi là cảm giác bị thừa ra trên cõi đời mênh mông của những gì vừa hiện hữu rồi mất hút, để lại nỗi cô đơn muôn thuở với những gì sắp đi qua:
Làm sao biết được ta còn kiếp sau/ Làm sao biết được ta còn thấy nhau/ Làm sao biết được nỗi buồn qua mau/ Làm sao biết được tim mình không đau (Làm sao biết được)… Điệp trùng những câu hỏi cho thấy cuộc sống không hề dễ dàng, cho thấy tâm hồn nhà thơ không hề yên tĩnh. Bất luận ở thời buổi nào, chừng nào cái ác, cái phi lý còn ngang nhiên tồn tại, chừng nào cái đẹp, cái thiện còn bị lấn át, chà đạp… thì vẫn còn sự trăn trở, cật vấn không thôi trong tâm khảm nhà thơ. Với Trần Nhuận Minh, những điều này có khi là những câu hỏi không lời đáp của những khoảnh khắc buồn rất thi sĩ: Biết gửi nỗi buồn cho ai khi chiều thu tắt rồi? (Biết gửi cho ai?), có khi là cảm giác bị thừa ra trên cõi đời mênh mông của những gì vừa hiện hữu rồi mất hút, để lại nỗi cô đơn muôn thuở với những gì sắp đi qua:
Ta
là vị khách không mời của tiếng sếu kêu khuya
Tiếng sếu đã mất hút trong thinh không
Còn ta chỉ ngồi đây một mình với vầng trăng tà
(Ngẫu nhiên mà thành)
Chỉ ngồi đây một mình với vầng trăng tà, làm tôi nhớ cái đêm
mưa trong thơ của Nguyễn Khoa Điềm: Ta ngồi như cội trúc/ Gội mưa thu bốn
bề (Mưa thu - Nguyễn Khoa Điềm). Đây chỉ có thể là giọng thơ của người cao
tuổi, đã xa ồn ào, đã ưa tĩnh lặng, đã thích một mình, đã hạ chiều cao để hướng
vào bề sâu, đã thu hẹp không gian vũ trụ lại, hướng đến cái sâu thẳm của không
gian tôi… để ngẫm ngợi cái trong tôi và ngoài tôi. Xưa kia Mạnh Tử từng viết: “Vạn
vật giai bị ư ngã” (Vạn vật đầy đủ trong ta). Nhận ra được như thế, nghĩa là đã
đến lúc “ngộ”. Ấy vậy mà vẫn là những câu hỏi trần thế:
Mình
già rồi biết nghĩ thế nào đây
Sống lương thiện bây giờ sao khó thế
(Tâm sự với người bạn…)
Chưa
bao giờ số phận con người
Lại day dứt lòng ta đến thế
(Chưa bao giờ)
Chân
lý thời nay và đạo lý cha ông
Tất cả đều đo bằng giá trị đồng tiền
(Ngày tôi sống sao mà lạ vậy)
Thế
giới cần sạch hơn, con người cần trong hơn
Chỉ yêu nhau thôi sao mà khó thế
Bộn bề những cật vấn không dễ tìm ra lời đáp. Ai nói làm thơ
là để ngâm ngợi, e chỉ đúng một phần. Ai nói người làm thơ là người mơ mộng, lối
nghĩ như vậy e đã không còn phù hợp. Làm thơ còn là sự lên tiếng khi cái đẹp bị
xúc phạm: Trên môi tôi vị nước mắt mặn chát/ Chao ôi, cõi nhân sinh khắc
khoải những đau buồn (Istanbul mưa). Cũng chẳng phải đến thời Trần Nhuận
Minh thơ mới đẫm nước mắt sự đời như vậy. Đỗ Phủ bên kia rồi Nguyễn Du, Nguyễn
Trãi ở Việt Nam cũng đã từng đem đến trong thơ những nhân tình thế thái xót xa.
Thế sự thời nào, cõi nhân gian bé tí hay rộng lớn (?) nào, thì bấy nhiêu,
nếu gắn với số phận con người, cơ hồ cũng chỉ thu lại trong đôi ba chữ, không
ngoài chữ đau buồn, và không ngớt tiếng kêu khắc khoải trong tâm can thi
nhân. Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên (Nguyễn Du) là tâm thế của một
lớp người, những người sống không dễ dàng giữa cõi trần thế với những “điều
trông thấy” nơi cõi tạm. Ta hiểu vì sao Trần Nhuận Minh quả quyết thay đổi lối
nghĩ, lối viết từ khá sớm trong thơ. Với ông, hình như đấy mới là những câu chữ
thiết thực, để kéo thơ về cõi thực, với tâm nguyện của một tín đồ trước loại
hình nghệ thuật thơ, mà ông gần như suốt đời dốc sức phụng sự. Và chính điều
này đã làm nên một Trần Nhuận Minh khác hẳn với trước đó, trước tập Nhà
thơ và hoa cỏ.
Cũng như các tập thơ trước, Biết gửi cho ai, ngoài
cái khắc khoải ngổn ngang trên kia, Trần Nhuận Minh rất ưa cái cụ thể. Bên
ấy hình như có một người đang thức/ Lòng mình sao cũng không
yên (Đêm thu). Xin lưu ý bạn đọc, câu thơ này cũng trong dạng thức một câu
hỏi: Lòng mình sao cũng không yên? Cái cụ thể ở đây ẩn chứa ở trong
câu: Bên ấy hình như có một người đang thức, nằm ở trong chữ một. Thoạt
nghe tưởng như thừa chữ này. Nhưng đây có thể chính là chủ ý cụ thể hóa của
bút pháp thường thấy của Trần Nhuận Minh. Là nhà thơ hiện thực, ông cần cụ thể
như vậy, ông ưa cụ thể như vậy. Để làm gì ư? Để tăng độ chân xác của điều ông
muốn nói. Bởi vì trước đó ông đã dùng một hình dung từ hình như chưa
mang ý nghĩa khẳng định, những nơi mà Trần Đăng Khoa nói ông đã bay dưới đất.
Rất nhiều lần Trần Nhuận Minh cụ thể hóa như vậy trong thơ: Dưới chân, hòm
công đức/ Khóa đến ba khóa đồng (Chùa vắng). Bạn thấy đấy, hòm công đức đã
khóa đến ba chiếc khóa, mà lại là ba chiếc khóa đồng thì ý
nghĩa định vị hiện thực quả là đến độ. Ở một khung cảnh khác, trong bài Có
một ông già, tác giả làm thay công việc của một họa sỹ theo trường phái tả thực,
dựng lên một bức tranh đời sống không lẫn vào đâu được:
Có
một ông già đứng bên sông Seine
Ai đi qua cũng mỉm cười chào
Như ông đã đứng đây không biết tự thuở nào…
Cụ bà đi qua lom khom… dắt con chó trắng
Anh sinh viên kính cận, sách cầm tay
Cô tóc vàng ôm chàng tóc xanh
bỗng ưỡn ngực, hôn chàng một cái
Bất ngờ gió thổi, váy tung bay…
(Có một ông già)
Trong đoạn thơ khá ám ảnh trên, có một câu vẫn là thực nhưng
đã nhuốm màu tâm trạng, đã nghe nhịp đập run rẩy của trái tim, đã ẩn một nụ cười
rất kín của người viết. Đó là câu cuối: Bất ngờ gió thổi, váy tung bay .
Câu thơ nghe có vẻ như đang muốn thoát ra khỏi cái điệp trùng từ ngữ gây
áp lực của cả đoạn thơ. Tôi đồ rằng có thể đấy là những nơi mà trong
bài Gửi bác Trần Nhuận Minh vừa dẫn trên kia, Trần Đăng Khoa thường để
ý khi đọc thơ ông anh, và muốn “thưa thốt” góp lời: Bác đã bay dưới
đất. Một sự bay rất cần thiết để thay đổi trạng thái tiếp nhận,
cũng dường như để có thể biến chú chim cánh cụt nam cực thành nàng thiên nga lộng
lẫy của một đêm bale nào đó trong sân khấu nhạc kịch phương Tây chăng?
Nói vậy thôi, ngòi bút của Trần Nhuận Minh thừa kinh nghiệm để
biết đâu là khẩu vị “ưa của ngọt” của người đọc. Thơ ông, đến tập này vẫn đủ chỗ
cho những “trữ tình ngoại đề” vừa đủ độ ảo, vừa đủ độ bay, vừa là nơi lắng lại
để chúng ta chậm rãi cảm nhận hết những xao xuyến mà ngôn ngữ đang gợi ra:
Ngày
nào em đi dưới vòm cây thưa
Tà áo trắng tinh mơ màng bay trong hơi mưa
(Hoa xoan đã rụng)
Vẫn là dạng thức một câu hỏi (Ngày nào…), vẫn là một khung cảnh trần thế, nhưng
đã thấy “mờ mờ nhân ảnh” trong một câu thơ đầy ắp vần bằng, đi từ chủ ý, chủ
tâm của người viết dẫn đến chủ động của ngòi bút, dẫn đến sự lay động trong tiếp
nhận của người đọc. Một lần bên Hồ Tây thơ mộng nổi tiếng, Trần Nhuận Minh bày
tỏ tâm trạng của mình bằng sự “quên”. Nhưng câu thơ đọc lên cảm giác “quên”
không đủ sức thiết lập trong tiếp nhận của người đọc. Vì sao vậy, vì cái đẹp của
ngôn từ và nhịp điệu câu thơ muốn nói điều ngược lại:
Quên
đi nghe em, bóng cây xanh đường Hồ Tây
Nơi ta bên nhau nhìn làn sương bay
(Quên đi em nhé)
Lấy thêm một ví dụ khác. Trong bài Mai Châu, với hai
câu:
Con
cái nhà ai mà xinh thế
Em ăn xôi nếp thơm mười ngón tay
(Mai Châu)
Câu trên vẫn là một câu hỏi có hơi hướng khẩu ngữ sinh hoạt hàng ngày. Câu dưới
đã thấy “thăng hoa” của không chỉ của thị giác, mà là sự xáo trộn của cảm giác
đầy sức gợi. Nhưng tại đây cũng cho thấy “dấu vết” hiện thực như một nét quen
thuộc thường trực trong bút pháp của tác giả, ngay cả khi anh muốn “siêu”. Nó nằm
ở chữ ăn trong câu thơ. Người khác có thể viết: Em đơm xôi
nếp, Em bưng xôi nếp… Nhưng ở trường hợp này Trần Nhuận Minh muốn
tăng độ nặng của chữ (ăn) chăng? Đúng là có hơi tiếc, nhưng biết làm sao, đủ mặt
này thì khuyết mặt kia, phần này nặng thì phần kia nhẹ, âu cũng là chuyện thường
tình!
Trở lên, có thể nhận thấy Trần Nhuận Minh dù có “thế sự” đến đâu cũng không
thoát nổi chất trữ tình muôn thuở của thơ, cái phẩm chất đầu tiên hấp dẫn và
quyến rũ mỗi nhà thơ. Trộm nghĩ, nếu chỉ để “thế sự”, nếu chỉ để miêu tả hà tất
phải viện đến thơ. Trần Nhuận Minh đã từng viết văn xuôi, viết khảo cứu, chuyên
luận. Các thể loại này ưu thế hơn thơ nhiều nếu muốn “thế sự”, miêu tả. May sao
ông vẫn nhớ rằng, thơ là một thể loại mà mọi điều nhìn thấy, mọi điều nghĩ được,
đều phải đi qua “bộ lọc” của trái tim. Tiếng đập cần mẫn và rất khẽ của trái
tim, nhiều khi có thể khẽ đến nỗi ta không kịp nhận ra, ấy vậy mà vẫn thường
đóng vai trò kiểm soát, trước khi mọi điều được đưa đến đầu ngọn bút.
Tôi thật sự xúc động khi được đọc những lời giải bày (Lời tác giả) đầu tập thơ
này của nhà thơ Trần Nhuận Minh: “Sau ngày 20 tháng 8 năm 2018, tôi đã bước vào
tuổi 75, thời gian còn lại chắc là không nhiều. Vẫn còn khá nhiều bài thơ khác,
trong đó có những bài tôi tâm đắc… sau này có in nữa hay không, in đến mức nào,
có thể không phải là việc của tôi…”. Một tâm trạng chắc chắn không chỉ riêng
ông đang trải qua. Tích lũy nghiêm túc một đời, cặm cụi viết lách một đời, đến
“ga cuối” vẫn không thôi những day dứt với những gì đã viết: Cả một đời
cay cực long đong/ Liệu trang viết sau này còn đọc được? Vẫn là một câu hỏi rất
trần thế, như câu hỏi mà Cụ Nguyễn Tiên Điền đã từng day dứt! Thi nhân muôn đời
vẫn thế, khó có ai dám bằng lòng, toại nguyện với thực tại, thực tại ngoài ta
và trong ta. Trần Nhuận Minh cũng không ngoại lệ.
5/3/2019
Lê Thành Nghị
Nguồn: Văn nghệ số 9/2019






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét