Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Địa chí Hà Nam 1

Địa chí Hà Nam 1
Hà Nam là một tỉnh nằm ở phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội hơn 50km về phía nam. Phía bắc giáp tỉnh Hà Tây; phía đông giáp tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình; phía đông nam giáp tỉnh Nam Định; phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình.
Chương I: Địa lý hành chính
I. Vị trí địa lý
Hà Nam là một tỉnh nằm ở phía tây nam đồng bằng Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội hơn 50km về phía nam. Phía bắc giáp tỉnh Hà Tây; phía đông giáp tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình; phía đông nam giáp tỉnh Nam Định; phía nam giáp tỉnh Ninh Bình và phía tây giáp tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên: 851,5km2; dân số: 817.557 người (năm 2004), trong đó 48,4% dân số (395.656 người) là nam, 51,6% (421.901 người) là nữ; dân số thành thị chiếm 10,6%, dân số nông thôn chiếm 89,4% tổng số dân.
Bản đồ hành chính tỉnh Hà Nam.
Trên địa bàn của tỉnh có quốc lộ 1A và đường sắt Bắc - Nam chạy qua với đoạn dài khoảng hơn 30 km. Quốc lộ 1A chạy qua tỉnh với đoạn chiều dài gần 50 km từ dưới cầu Giẽ (tỉnh Hà Tây) đến cầu Đoan Vĩ (giáp tỉnh Ninh Bình), quốc lộ 21A Phủ Lý - Nam Định dài 30km. Điểm nút giao thông là thị xã Phủ Lý.
Từ Phủ Lý có thể đi Nam Định theo đường tỉnh lộ 971, qua Vĩnh Trụ xuống Hữu Bị rồi đến thành phố Nam Định. Về phía tây và tây bắc, từ Phủ Lý đi theo quốc lộ 21A qua Ba Sao đến Chi Nê (tỉnh Hòa Bình) chỉ có 28 km; có thể đi theo quốc lộ 21B qua thị trấn Quế đến Tân Sơn (huyện Kim Bảng) đi Vân Đình và đến thị xã Hà Đông (tỉnh Hà Tây). Từ thị xã Phủ Lý có thể ngược Đồng Văn, theo đường 38 Đồng Văn - Hòa Mạc, qua cầu Yên Lệnh, sang thị xã Hưng Yên, và đường 39 nối với quốc lộ 5 đi Hải Phòng. Trên địa bàn tỉnh có một số sông lớn chảy qua như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ... thuận lợi cho việc giao lưu nội tỉnh và với các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng.
Vị trí địa lý và điều kiện giao thông đó tạo lợi thế cho Hà Nam trong giao lưu kinh tế, văn hóa, du lịch với các tỉnh trong vùng và cả nước, đặc biệt là với thủ đô Hà Nội và các trọng điểm phát triển kinh tế Bắc Bộ để khai thác có hiệu quả các nguồn lực bên trong và thu hút các nguồn lực bên ngoài đầu tư cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
Về mặt quản lý hành chính lãnh thổ, Hà Nam có thị xã Phủ Lý (trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh) và 5 huyện là Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm (gồm 116 xã, phường, thị trấn).
II. Địa giới hành chính Hà Nam qua các thời kỳ lịch sử
Tỉnh Hà Nam được thành lập năm Thành Thái thứ I (1890). Nghĩa ban đầu của từ Hà Nam được nhiều người giải thích là một vùng đất ở phía nam Hà Nội.
Hà Nam là vùng đất cổ. Nước Việt ta từ sau cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã bị nhà Hán thôn tính, trở thành quận, huyện của nước Trung Hoa cổ đại. Thời Hán, vùng đất Hà Nam thuộc huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ (1).
Thời kỳ thuộc Ngô, Tấn, Tông, Tề, Lương, quận Giao Chỉ thời Hán bị cắt một phần để lập quận mới. Theo sách Sử học bị khảo, nhà Ngô đặt quận Vũ Bình, quận này nằm giữa sông Hồng và sông Đáy,. Theo các nhà khảo cứu, Hà Nam thời đó thuộc quận Vũ Bình (2).
Thời kỳ thuộc Tùy, Đường, nhà Tùy bỏ quận đặt huyện, quận Vũ Bình được đổi thành huyện Vũ Bình; năm Khai Hoàng 18 (598) lại đổi thành huyện Long Bình. Vùng đất Hà Nam thuộc huyện Long Bình (3).
Bắt đầu từ thời Đinh, Lê dựng nước, một số địa danh của Hà Nam như núi Đọi đã được ghi chép trong sử sách (4).
Thời Lý (1010 – 1225)
Lý Công Uẩn lên ngôi vua, chia cả nước làm 24 lộ. Hà Nam thuộc lộ Đại La thành (5).
Tấm bia Đại Việt quốc Lý gia đệ tứ đế Sùng thiện diên linh tháp bi dựng trên đỉnh núi Đọi năm 1121 còn ghi lại những địa danh của Hà Nam, như: Mạc thủy (sông Mạc), Long Lĩnh (ngọn Long), Long Đọi (núi Đọi), Kinh Giang (sông Kinh), Điệp tụ (núi Điệp), Sùng thiện diên linh bảo tháp (Tháp báu Sùng thiện diên linh).
Thời Trần (1225 – 1400)
Nhà Trần đổi 24 lộ (có từ đời Lý) thành 12 lộ. Hà Nam thuộc châu Lỵ Nhân, thuộc lộ Đại La thành. Châu Lỵ Nhân gồm có các huyện: Bình Lục, Cổ Bảng, Cổ Giả, Cổ Lễ, Lỵ Nhân và Thanh Liêm (6).
Căn cứ vào tấm bia Ngô gia thị bi ở chùa Dầu (nay thuộc xã Đinh Xá, huyện Bình Lục) được dựng vào khoảng những năm 1364 – 1396, Hà Nam thời đó thuộc lộ Lợi Nhân (7).
Trên tấm bia này còn ghi các địa danh:
Mai thôn (thôn Mai), Đinh Xá xã (xã Đinh Xá), Mai Xá động (động Mai Xá).
Thời Lê sơ (1428 – 1527)
Sau kháng chiến chống giặc Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua đã tiến hành cải cách hành chính, chia cả nước thành 5 đạo. Hà Nam thuộc Nam đạo. Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 đạo. Năm Quang Thuận thứ 10 (1469), nhà vua bỏ đơn vị hành chính lộ, châu, lập đơn vị hành chính phủ, đổi đơn vị hành chính đạo thành thừa tuyên. Vùng đất Hà Nam là phủ Lỵ Nhân thuộc thừa tuyên Sơn Nam. Năm Hồng Đức thứ 21 (1490), bỏ thừa tuyên đặt đơn vị hành chính xứ. Phủ Lỵ Nhân thuộc xứ Sơn Nam, đến năm Hồng Thuận (1509 - 1516), bỏ xứ, đặt trấn. Phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam. Thời Lê Trung hưng, năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741), triều đình chia trấn Sơn Nam thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ, phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam Thượng.
Thời Tây Sơn (1788 – 1802), Hà Nam vẫn là phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam Thượng gồm 5 huyện là Duy Tiên, Kim Bảng, Nam Xương, Ninh Lục, Thanh Liêm. Văn khắc trên bia, chuông, khánh mang niên đại Lê - Tây Sơn hiện lưu giữ tại các di tích của tỉnh Hà Nam đã ghi lại một số địa danh xã, thôn của 5 huyện thời Lê - tây Sơn như sau:
1. Huyện Ninh Lục (Bình Lục)
Xã Vũ Bản, xã Ngô Xá, xã An Cước, xã Đồng Du, xã Đồn Xá, xã Hương Cái, xã Thứ Nhất, xã An Lão, thôn Hạ, xã An Đổ, xã Trung Lương, thôn Ô Lữ, xã Ô Mễ, xã Trịnh Xá.
2. Huyện Duy Tiên
Xã Mỹ Duệ, xã Điệp Sơn, xã Đình Ngọ, xã An Lão, xã Đồng Bào, thôn Thượng, xã Ngô Xá, xã Đại Cầu, thôn Giáp Hai, xã Đọi Sơn, xã Phượng Vĩ, xã Mỹ Xá, xã Động Đình, xã Đinh Xá, xã Lam Cầu, xã Phú Thứ, xã Dưỡng Hòa, xã Lưu Xá, thôn Kinh, xã Văn Xá.
3. Huyện Kim Bảng
Thôn Thị, xã Châu Cầu, xã Dương Cương, xã Thịnh Đại, xã An Lạc, trại Bút, xã Đức Mộ, xã Thụy Lôi, xã Động Xá, xã Điền Xá, xã Châu Xá.
4. Huyện Nam Xương
Xá Phú Ích, xã Lương Trụ, xã Mạnh Khê, xã Tiên Châu, xã Sơn Trường, xã Quang Ốc, xã Mai Xá, xã Khoan Hòa, xã Dũng Kim, xã Trạm Khê, xã Nga Khê, xã Ngô Xá, xã Ngu Nhuế, xã Thọ Ích, xã Đồng Lư, xã Hào Châu, xã Trần Xá, xã Văn Lan, xã Phương Trà, xã Khoan Vĩ, xã Vũ Xá, xã Phù Sa, xã Vu Khê, xã Đội Xá, xã Chỉ Trụ, xã Hội Động, xã Trác Bút.
5. Huyện Thanh Liêm
Thôn Đỗ Xá, xã Ngoại Khê, xã An Xá, xã Cát Lại, xã Lạc Tràng, xã Vô Hốt, thôn Nhiễu, xã Bích Trì, xã Lư Xá, xã Bình Khê, xã Triệu Xá, xã Văn Xá, xã Ngọc Trì, xã Đôn Thư, xã Ninh Cảo, xã Cát Trì, xã Vĩnh Duệ, thôn Nội, xã Mễ Tràng, thôn Thượng, xã Đường Ấm, xã Kệ Châu, xã Động Xá, xã Kỷ Cầu, xã Trung Lương, xã Chân Ninh, xã Dương Xá, thôn Châu Sơn, xã Kiện Khê, xã Liễu Đôi, xã Mạo Chử.
Thời Nguyễn (1802 – 1945)
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lập ra nhà Nguyễn. Nhà Nguyễn định đô ở Phú Xuân tiến hành cải cách hành chính. Hà Nam đầu thời Nguyễn vẫn là phủ Lỵ Nhân thuộc trấn Sơn Nam Thượng. Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), đổi cách viết chữ Lỵ thành chữ Lý. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), bỏ đơn vị hành chính trấn, thành lập đơn vị hành chính tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã, thôn. Hà Nam vẫn là một phủ thuộc tỉnh Hà Nội, có tên gọi là phủ Lý Nhân, gồm 5 huyện với 33 tổng (gồm 286 xã, thôn, trang, phường, trại, sở).
Trước khi nói đến tổ chức hành chính và cư dân Hà Nam cần đề cập đến vấn đề địa danh của Hà Nam. Như đã nói, nhiều người cho rằng Hà Nam có ý nghĩa là miền đất phía Nam của tỉnh Hà Nội, vì đất này vốn thuộc tỉnh Hà Nội. Nhưng cũng có ý kiến khác cho rằng: Hà Nam là tên kết hợp hai chữ đầu của Hà Nội và Nam Định, Hà Nam hình thành bởi nhiều hạt tách ra từ các tỉnh Hà Nội và Nam Định.
Cấp đơn vị hành chính tỉnh ở nước ta, như trên đã đề cập, chỉ ra đời dưới thời Minh Mệnh, từ năm 1831. Khi ấy chưa có tỉnh Hà Nam. Toàn bộ vùng đất sau này là Hà Nam hồi đó thuộc phủ Lý Nhân nằm trong đơn vị hành chính tỉnh hà Nội. Cũng dưới thời Nguyễn, phủ là đơn vị hành chính lớn hơn huyện. Phủ Lý Nhân là một trong bốn phủ của Hà Nội (cùng với các phủ Hoài Đức, Thường Tín, Ứng Hòa) gồm 5 huyện là Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Nam Xang và Thanh Liêm, với số lượng các tổng xã như sau:
Huyện Bình Lục: 4 tổng; 37 xã, thôn.
Huyện Duy Tiên: 6 tổng; 60 xã, thôn.
Huyện Kim Bảng: 6 tổng; 57 xã, thôn.
Huyện Nam Xang: (không có số liệu)
Huyện Thanh Liêm: 8 tổng, 63 xã, thôn.
Tổng cộng: 24 tổng; 217 xã, thôn (chưa kể huyện Nam Xang)
Sau khi toàn bộ Bắc Kỳ và Trung Kỳ trở thành đất bảo hộ của thực dân Pháp theo Hiệp ước ngày 6 tháng 6 năm 1884, ký giữa triều đình Huế và Pháp thì địa bàn phủ Lý nhân bắt đầu có sự thay đổi về mặt hành chính. Ngày 21/3/1890, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định cắt một phần đất phủ Lý Nhân để lập thêm phủ Liêm Bình sáp nhập vào tỉnh Nam Định. Phần bị cắt này là 3 huyện Nam Xang, Bình Lục và Thanh Liêm. Nhưng rồi chỉ mấy tháng sau, ngày 20/10/1890, Toàn quyền Đông Dương lại ra nghị định về việc thành lập tỉnh Hà Nam – một tỉnh mới trên cơ sở phủ Lý Nhân được mở rộng thêm. Tỉnh Hà Nam khi mới ra đời gồm toàn bộ phủ Lý Nhân cũ (vẫn bao gồm 5 huyện, kể cả các huyện đã hình thành phủ Liêm Bình), ngoài ra còn cộng thêm:
- 2 tổng Mộc Hoàn và Chuyên Nghiệp thuộc huyện Phú Xuyên (phủ Thường Tín, tỉnh Hà Nội), sáp nhập vào huyện Duy Tiên thuộc tỉnh Hà Nam.
- 17 xã thuộc huyện Vụ Bản (phủ Nghĩa Hưng và thuộc huyện Thượng Nguyên), phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định, sáp nhập vào phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nam.
Như vậy, tỉnh Hà Nam khi mới thành lập (20/10/1890), là đất của phủ Lý Nhân mở rộng về phía Hà Nội và Nam Định. Số lượng các tổng xã lúc này đã tăng lên nhiều hơn vì sự mở rộng địa giới hành chính của Hà Nam. Sau đó, theo Nghị định ngày 24/10/1908 của Toàn quyền Đông Dương, tỉnh Hà Nam có thêm châu Lạc Thủy chuyển từ tỉnh Hòa Bình sáp nhập vào. Ngoài ra, cùng trong thời gian này, địa danh Nam Xang không còn tồn tại nữa mà đổi gọi thành phủ Lý Nhân.
Tỉnh Hà Nam ra đời và tồn tại được 23 năm thì lại tiếp tục bị thay đổi. Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 7/3/1913, tỉnh Hà Nam đổi gọi là Đại lý Hà Nam. Đại lý (Délégation) là một cấp hành chính nhỏ hơn tỉnh, nằm trong một tỉnh lớn hơn. Đại lý Hà Nam từ đó trực thuộc tỉnh Nam Định.
Đại lý Hà Nam thuộc tỉnh Nam Định tồn tại được chẵn 10 năm thì ngày 31/3/1923, Toàn quyền Đông Dương lại ra Nghị định tái lập tỉnh Hà Nam. thế là tỉnh Hà Nam lại là một tỉnh độc lập từ đó cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Do vị trí của mình mà Hà Nam nhiều năm sau còn trải qua nhiều lần sáp nhập và tách riêng trong các thời kỳ khác nhau.
Sau khi châu Lạc Thủy của Hòa Bình được cắt về tỉnh Hà Nam, tỉnh Hà Nam gồm 6 huyện và châu - đó là các huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Nam Xang, Thanh Liêm và châu Lạc Thủy. Đầu những năm 20 của thế kỷ XX, châu Lạc Thủy lại tách ra nhập về với tỉnh Hòa Bình, tỉnh Hà Nam còn 5 huyện.
Trong thời kỳ ổn định (tính tới trước 1930, tỉnh Hà Nam bao gồm các huyện, tổng, xã dưới đây:
* Vào thời điểm 1924 khi mới trở lại tỉnh, Hà Nam bao gồm (8):
1. Phủ Lý Nhân: 9 tổng và thị xã Phủ Lý  93 xã.
2. Huyện Bình Lục:      8                  -               70 –
3. Huyện Thanh Liêm: 8                  -               66 –
4. Huyện Duy Tiên:      9                  -               88 –
5. Huyện Kim Bảng:     8                  -               61 –
6. Châu Lạc Thủy:        2                 -                7 –
Cộng:                       45 tổng                              385 xã
* Vào thời điểm 1928, Hà Nam bao gồm (9):
1. Phủ Lý Nhân:             9 tổng và thị xã Phủ Lý  93 xã.
2. Huyện Bình Lục:         8                   -                   70 –
3. Huyện Thanh Liêm:    9                -                      69 –
4. Huyện Duy Tiên:         9                -                     88 –
5. Huyện Kim Bảng:        8                -                     61 –
6. Châu Lạc Thủy:           2                  -                    7 –
Cộng:                         45 tổng                                388 xã
Như vậy, chỉ trong một thời kỳ rất ngắn là 4 năm, Hà Nam đã có sự tăng lên dù nhỏ về số lượng các tổng, xã. Sự thay đổi này chỉ xảy ra ở phạm vi huyện Thanh Liêm. Có thể đây là một thống kê chưa đầy đủ. Nhưng số liệu của năm 1928 là số liệu từ cuộc tổng điều tra dân số Bắc Kỳ, đáng tin cậy.
Trong khoảng thời gian 10 năm từ 1913 đến 1923, khi Hà Nam là một Đại lý (Délégation), Hà Nam trực thuộc tỉnh Nam Định (Công sứ Nam Định chỉ đạo cả Đại lý Hà Nam). Đại lý giống như một trung tâm hành chính đặt dưới quyền cai trị của một viên sĩ quan Pháp có toàn quyền về mọi mặt.
Hà Nam sau 1945 đến nay
Đến thời kỳ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, qua kinh nghiệm cuộc kháng chiến ở Nam Bộ và để chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, vào tháng 11/1946, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã chia cả nước thành 12 khu. Cấp khu được coi là một cấp chính quyền chịu trách nhiệm về mọi mặt trước chính phủ trong địa hạt khu mình phụ trách. Cấp tỉnh trực thuộc cấp khu. Tỉnh Hòa Bình thuộc khu II, gồm các tỉnh Sơn Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Đông, Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu. Năm 1947, địa bàn khu II được quy định lại gồm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình và phần đất Hòa Bình ở phía nam sông Đà.
Đến đầu năm 1948, nhà nước bãi bỏ cấp khu, thành lập cấp Liên khu.  Hợp nhất khu II, III và khu XI thành Liên khu III. Tỉnh Hà Nam thuộc Liên khu III.
Để đảm bảo thuận lợi cho công tác chỉ đạo kháng chiến của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, tháng 3/1953, Hội đồng chính phủ đã quyết định cắt ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, nằm ở phía bắc sông Đào (tỉnh Nam Định) sáp nhập vào tỉnh Hà Nam, làm tăng thêm nguồn nhân lực, vật lực cho Hà Nam. Đến tháng 5/1953, Liên khu III quyết định cắt châu Lạc Thủy thuộc tỉnh Hà Nam trả lại cho Hòa Bình.
Khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn cách mạng mới, tháng 4/1956, các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc sau ba năm sáp nhập với Hà Nam, đã được nhập trở lại tỉnh Nam Định. Từ đấy tỉnh Hà Nam có thị xã Phủ Lý và 5 huyện là Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm.
Ngày 21/4/1965, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa III, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết số 103 – NQ – TVQH phê chuẩn việc lập tỉnh mới Nam Hà trên cơ sở sáp nhập tỉnh Nam Định và tỉnh Hà Nam.
Ngày 4/5/1965, Ban Chấp hành Đảng bộ hai tỉnh Hà Nam và Nam Định đã họp phiên đầu tiên bàn và ra Nghị quyết về việc tiến hành kiện toàn, hợp nhất tổ chức bộ máy của tỉnh mới Nam Hà.
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất của Tỉnh ủy Nam Hà, ngày 28/5/1965. Tỉnh ủy và Ủy ban hành chính tỉnh Nam Hà đã chính thức làm việc kể từ ngày 1/6/1965.
Như vậy, từ tháng 6/1965, sau khi tỉnh Hà Nam và tỉnh Nam Định sáp nhập thành tỉnh Nam hà, tỉnh gồm 14 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã.
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, cùng với việc sắp xếp lại tổ chức hành chính các địa phương, ngày 27/12/1975, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa khóa V, đã ra Nghị quyết hợp nhất tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình thành tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hà Nam Ninh.
Ngày 26/12/1991, kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII đã ra Nghị quyết phê chuẩn tách tỉnh Hà Nam Ninh thành hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình. Sau 16 năm sáp nhập đến ngày 1/4/1992, tỉnh Nam Hà bao gồm Hà Nam và Nam Định lại trở về như trước năm 1976.
Ngày 6/11/1996, kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết phê chuẩn tách tỉnh Nam Hà thành 2 tỉnh Nam ĐỊnh và Hà Nam. Ngày 1/1/1997, sau hơn 32 năm hợp nhất với tỉnh Nam Định thành tỉnh Nam Hà, tỉnh Hà Nam được tái lập, mở ra một trang mới trong lịch sử tỉnh Hà Nam. Đây là sự kiện quan trọng gắn liền với thời kỳ phát triển mới của tỉnh, với nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn.
Chú thích:
(1): Đất nước Việt Nam qua các đời. Đào Duy Anh. NXB. KHXH. H. 1964. tr. 27.
(2): Sđd. tr. 59
(3): Sđd. tr. 65
(4): Đinh Hợi năm thứ 8 (987). Mùa xuân, cày ruộng tịch điền. trước đây vua cày ruộng tịch điền ở Đọi Sơn (Đọi Sơn tức là núi Đọi). Đại Việt sử kí tiền biên. NXB. KHXH. H. 1997.
(5): Thơ văn Đời Trần, NXB. KHXH. H. 1977. tr. 253.
(6): Đất nước Việt Nam qua các đời. Sđd. tr. 100
(7): Phạm Văn Thắm. Tạp chí nghiên cứu Hán Nôm, số 4. 1998
(8): Lịch sử Hà Nam Ninh, tập I. Phòng NCLS Hà Nam Ninh 1988, tr 258.
(9): Ngô Vi Liễn, Nomenelature des conmunes du Tonkin. Lê Văn Tân, Hà Nội – 1928, tr. 21 – 24.
Chương II: ĐỊA HÌNH
I. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH
1. Hà Nam là một tỉnh đồng bằng giáp núi. Địa hình Hà Nam có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng và địa hình đồi núi
Tính chất tương phản này thể hiện ở mấy yếu tố sau:
1.1. Độ cao địa hình
Ở vùng đồng bằng (thuộc các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục, thị xã Phủ Lý và phần phía đông hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm), độ cao trung bình là 2 - 3m. Nơi thấp nhất là cánh đồng xã An Lão (huyện Bình Lục) độ cao chỉ có 1m.
Ở vùng đồi núi phía tây (thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm), độ cao phổ biến hơn 100m. Tại huyện Thanh Liêm, độ cao đồi núi biến động từ 159m (núi Ơn gần nhà máy xi măng Việt - Trung) đến 386m là núi cao nhất (thuộc xã Thanh Thuỷ). Tại phía nam huyện Kim Bảng, độ cao đồi núi biến động từ 117m đến 459,4m (đây cũng là núi cao nhất tỉnh Hà Nam).
Sự tương phản về độ cao, địa hình thể hiện không những giữa vùng đồng bằng rộng lớn của tỉnh với vùng đồi núi phía tây, mà còn ở ngay trong vùng đồi núi: các đồi cao 184m tới hơn 200m đứng ngay cạnh vùng đồng ruộng phía nam thôn Vồng (xã Khả Phong) chỉ cao 4m và ngay cả trong vùng đồng bằng: núi An Lão (thực chất chỉ là đồi) cao 90m đứng giữa vùng đồng ruộng chỉ cao 1- 2m, hoặc dãy đồi cao 113 - 129m làm địa giới hành chính giữa các xã Thanh Lưu, Thanh Hương, Thanh Tân và xã Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm) chạy giữa vùng đồng ruộng chỉ cao 2 - 3m.
Một góc Khu du lịch Tam Chúc, thị trấn Ba Sao (Kim Bàng).
1.2. Mật độ chia cắt địa hình
Ở vùng đồng bằng, không kể các địa hình nhân tạo như đê, đập, đường sá, bờ vùng, bờ thửa,… mật độ chia cắt hầu như không đáng kể. Như ở vùng đồi núi phía tây của tỉnh Hà Nam, mật độ chia cắt địa hình trung bình là 3-5km/km2. Mật độ chia cắt đó so với các vùng núi khác trong nước là không lớn lắm, nhưng so với địa hình vùng đồng bằng lại là rất lớn.
1.3. Độ sâu chia cắt địa hình
Ở vùng đồng bằng tỉnh Hà Nam, mật độ chia cắt tự nhiên của địa hình hầu như không đáng kể, nên độ sâu chia cắt địa hình cũng không đáng kể. Độ sâu chia cắt lớn nhất là đáy thung lũng sông Đáy so với độ cao trung bình của mặt ruộng là: 3 - 3,5m. Đối với địa hình nhân tạo thì độ sâu chia cắt thể hiện ở chênh lệch độ cao giữa các con đê với vùng đồng ruộng kề liền không vượt quá 7 - 8m. Còn ở miền núi phía tây tỉnh Hà Nam, độ sâu chia cắt địa hình phổ biến ở mức trên 100m. Tại vùng núi đá phía nam huyện Kim Bảng thuộc các xã Liên Sơn, Thanh Sơn, độ sâu chia cắt của địa hình có thể tới 200 - 250m.
Như vậy, xét qua các yếu tố độ cao địa hình, mật độ chia cắt và độ sâu chia cắt của địa hình, ta thấy rõ địa hình ở tỉnh Hà Nam có sự tương phản giữa địa hình đồng bằng thấp, mật độ chia cắt và độ sâu chia cắt không đáng kể với địa hình đồi núi cao hơn hẳn, mật độ chia cắt và độ sâu chia cắt cũng lớn hơn rất nhiều so với vùng đồng bằng. Đây là đặc điểm nổi bật của địa hình tỉnh Hà Nam.
2. Hướng địa hình đơn giản: duy nhất chỉ có hướng tây bắc – đông nam, phù hợp với hướng phổ biến nhất của núi, sông Việt Nam
Hướng của địa hình tỉnh Hà Nam như hướng sông Hồng, sông Đáy, hướng núi của vùng núi phía tây đều là hướng tây bắc - đông nam. Hướng của các đoạn sông Hồng, sông Đáy chảy qua tỉnh Hà Nam thể hiện hướng nhất quán của hai con sông này, trên suốt chiều dài thung lũng sông là hướng tây bắc- đông nam; còn hướng núi của vùng đồi núi phía tây cũng thể hiện hướng nhất quán của miền núi Tây Bắc Việt Nam.
Hướng địa hình đó được quyết định bởi hướng của các đứt gãy theo hướng tây bắc-đông nam đã hồi sinh và hoạt động rất tích cực vào giai đoạn Tân kiến tạo. Về mặt kiến tạo, các đứt gãy này đã hình thành nên các thung lũng sông Hồng, sông Đáy và chính các đứt gãy đó đã chia đồng bằng sụt võng Hà Nội thành những đới kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam.
2.1. Hướng dốc của địa hình là hướng tây bắc - đông nam theo thung lũng sông Hồng, sông Đáy và dãy núi đá vôi Hoà Bình - Ninh Bình, phản ánh tính chất đơn giản của cấu trúc địa chất
Đoạn thung lũng của sông Hồng và sông Đáy chảy qua tỉnh Hà Nam là những đoạn thung lũng sông đồng bằng, nên độ dốc không lớn như như thung lũng sông miền núi. Tuy vậy, độ dốc này vẫn có thể giúp cho dòng chảy tiêu thoát nước của các sông ra vịnh Bắc Bộ.
Bề mặt đồng bằng có độ dốc trung bình 4 - 5cm/1km. Cụ thể là bề mặt đồng bằng tại hai huyện Duy Tiên, Kim Bảng (phía tây bắc tỉnh Hà Nam) cao trung bình 3 - 4m, tại huyện Lý Nhân cao 2 - 3m và cuối cùng về phía đông nam là hai huyện Thanh Liêm và Bình Lục chỉ còn 1 - 2m. Nơi thấp nhất là cánh đồng xã An Lão (huyện Bình Lục) ở cực đông nam của tỉnh Hà Nam chỉ cao 1m.
Ở vùng đồi núi phía tây tỉnh Hà Nam, dãy núi thấp xen lẫn đồi chạy dọc theo thung lũng sông Đáy cũng có độ cao giảm dần theo hướng tây bắc-đông nam với các đỉnh cao 386m và 378,5m thuộc xã Thanh Thủy xuống độ cao 336m và 360m là các đỉnh cao nhất thuộc xã Thanh Tân và xuống 241m là đỉnh cao nhất thuộc xã Thanh Nghị và cuối cùng xuống 212m thuộc xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm).
Dọc theo địa giới tỉnh Hà Nam với các tỉnh Hoà Bình và Ninh Bình, hướng dốc của địa hình đồi núi cũng theo hướng nêu trên với điểm cao 340m ở phía nam Bệnh viện Phong thuộc xã Ba Sao (huyện Kim Bảng), xuống 332m là điểm cao nhất trên địa giới giữa xã Thanh Sơn (huyện Kim Bảng) với tỉnh Hòa Bình, xuống 248m là điểm cao nhất trên địa giới giữa xã Thanh Tân (huyện Thanh Liêm) với tỉnh Hòa Bình, xuống 186m là điểm cao nhất trên địa giới giữa xã Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm) với tỉnh Ninh Bình, cuối cùng là 159m-núi Ơn (nên gọi là đồi) thuộc xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm) với tỉnh Ninh Bình.
2.2. Địa hình thể hiện khá rõ rệt tính chất phân bậc
Xét theo độ cao của các dạng địa hình, có thể thấy ở tỉnh Hà Nam có 4 bậc địa hình cơ bản sau:
- Bậc thứ nhất: độ cao trung bình 350-400m (trong đó có đỉnh cao nhất là 459,5m) là bậc địa hình của vùng núi đá vôi phía nam huyện Kim Bảng.
- Bậc thứ hai: độ cao trung bình 300 - 350m (trong đó có đỉnh cao nhất là 386m) là bậc địa hình của dãy núi thấp xen lẫn đồi ở phía tây huyện Thanh Liêm.
- Bậc thứ ba: độ cao trung bình 120 - 200m (trong đó có đỉnh cao nhất là 225m) là bậc địa hình của các dãy đồi thấp nằm ven rìa đồng bằng như dãy đồi thuộc xã Thanh Sơn (huyện Kim Bảng) và Châu Sơn (thị xã Phủ Lý), hoặc nằm giữa đồng bằng như dãy đồi phía đông nam huyện Thanh Liêm thuộc các xã Thanh Lưu, Thanh Hương, Thanh Tâm và Liêm Sơn.
- Bậc thứ tư: độ cao rất thấp, trung bình chỉ cao 2 - 3m là bậc địa hình đồng bằng bồi tụ thuộc châu thổ sông Hồng, chiếm đại bộ phận diện tích lãnh thổ tỉnh Hà Nam.
2.3. Địa hình thể hiện rõ rệt tác động của khí hậu và con người
Khí hậu tỉnh Hà Nam với nhiệt độ và độ ẩm cao, lượng mưa lớn đã tác động mạnh mẽ tới địa hình vùng đồi núi phía tây tỉnh Hà Nam. Tại đây, các quá trình xâm thực, chia cắt địa hình diễn ra mạnh mẽ. Đối với vùng đồi núi phiến thạch thì sự hình thành các khe rãnh, mương xói là rất phổ biến. Đối với vùng núi đá vôi thì quá trình cacxtơ hoá diễn ra mạnh, tạo nên các dạng địa hình cacxtơ độc đáo rất phổ biến.
Tại tỉnh Hà Nam hoạt động của con người cũng để lại dấu ấn không nhỏ trên địa hình với các dạng địa hình nhân tạo trên đồng bằng như đường sá, đê đập, kênh mương… Ở các vùng khai thác đá, con người đã phá hủy nhiều khối đá vôi.
Để hiểu rõ những đặc điểm trên đây của địa hình tỉnh Hà Nam, cần nghiên cứu những nhân tố hình thành và phát triển địa hình.
II. các nhân tố hình thành và phát triển địa hình
1. Nhóm các nhân tố nội sinh
Các nhân tố nội sinh có vai trò quan trọng, tạo nên cơ sở ban đầu những đường nét cơ bản của địa hình. Nhóm này gồm ba nhân tố chính là: Vận động kiến tạo, kiến trúc địa chất và cấu tạo nham thạch. Chúng tạo nên các yếu tố “kiến trúc hình thái”.
1.1. Vận động kiến tạo
Đại bộ phận tỉnh Hà Nam thuộc vùng đồng bằng thấp nằm trong miền đồng bằng sụt võng Hà Nội. Mặc dù đồng bằng được thiết lập trên móng uốn nếp với nền đá kết tinh nhưng bị sụt xuống vào cuối Cổ sinh (cách đây chừng 200 triệu năm). Các chuyển động sụt lún mạnh nhất vào Miôxen, lấp đầy bởi các trầm tích dày 40 - 60m với thành phần cát, bột, sét, sét bột thuộc tướng bãi bồi hoặc hỗn hợp sông biển hình thành trong điều kiện sóng yếu và dư thừa vật liệu hạt mịn. Trong trầm tích đôi nơi có chứa than.
Hoạt động sụt lún đột biến diễn ra vào khoảng 4.200 năm trước với biên độ 4 - 4,5m khiến cho mọi nơi trong đồng bằng có độ cao thấp hơn + 3m đều bị chìm ngập trong nước biển, tạo nên một lớp trầm tích mới. Các dấu tích gậm mòn của nước biển còn để lại dưới chân các khối núi đá vôi. Các núi đá vôi thuộc địa phận tỉnh Hà Nam có tuổi Triát trung thuộc hệ tầng Đồng Giao và các đồi thấp cấu tạo bởi đá trầm tích có tuổi Cổ sinh và Trung sinh đều là núi đồi nằm ở vùng rìa của các vận động kiến tạo, nơi miền núi tiếp cận với đồng bằng, nên biên độ nâng lên ít, do vậy đồi núi thường thấp.
Sự xuất hiện các dạng địa hình khác nhau trong phạm vi tỉnh Hà Nam là do nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất và trước hết phải kể đến vai trò của các vận động kiến tạo trước đây còn để lại thông qua sơ đồ cấu trúc cổ, sau đó là vai trò của các vận động mới, một mặt phát triển theo khuynh hướng kế thừa; mặt khác, quan trọng hơn phát triển theo khuynh hướng mới đã phá vỡ và ngày càng làm biến đổi sâu sắc bình đồ cấu trúc cổ, thiết lập các yếu tố mới trong bộ mặt hiện đại của địa hình.
1.2. Kiến trúc địa chất
Hướng địa hình của tỉnh Hà Nam là hướng tây bắc - đông nam được quyết định bởi hướng các đứt gãy theo hướng tây bắc - đông nam và vào giai đoạn Tân kiến tạo đã hồi sinh và hoạt động rất tích cực. Các đứt gãy này tạo nên thung lũng sông Hồng, sông Đáy và chia đồng bằng sụt võng Hà Nội thành những đới kéo dài theo hướng tây bắc - đông nam. Như vậy, các yếu tố địa hình âm (thung lũng các sông, vùng trũng giữa núi), dương (núi, đồi) không phân bố ngẫu nhiên mà thể hiện rõ ràng quy luật mang tính đường (lineamant-danh từ của Haubs).
1.3. Cấu tạo nham thạch
Nham thạch có vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển các dạng địa hình bởi mỗi loại nham thạch khác nhau đó phản ánh sự khác nhau trước tác động của các nhân tố ngoại sinh.
Tại Hà Nam, đá vôi chiếm 3,43% diện tích toàn tỉnh, tập trung ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Đá vôi ở đây gồm chủ yếu là đá vôi có màu xám sáng, phân lớp tương đối dày, thuộc hệ tầng Đồng Giao, tuổi Triát giữa. Quá trình cacxtơ hoá diễn ra trong điều kiện khí hậu rất thuận lợi của tỉnh Hà Nam đã tạo ra nhiều dạng địa hình cacxtơ mà phổ biến nhất là địa hình đá tai mèo (carư) và các hang động với nhiều thành tạo thạch nhũ độc đáo. Khác với đá vôi tuổi Cổ sinh ở đới Thanh Hoá - sông Mã, đá vôi ở Hà Nam do có tuổi trẻ hơn nên còn tồn tại dưới dạng các dãy đồ sộ, trong đó quá trình cacxtơ hoá còn đang tiếp diễn mạnh, ít thấy các dạng địa hình cacxtơ sót đứng riêng lẻ.
Các đá trầm tích phiến sét, sa thạch tuổi Cổ sinh và Trung sinh ở tỉnh Hà Nam chiếm diện tích không đáng kể. Chúng tạo nên các đồi và núi thấp với sườn thoải dịu dàng và đỉnh tròn dạng vòm, độ cao không lớn (thường dưới 350m). Chúng có thể đứng riêng rẽ trên bề mặt đồng bằng hoặc tạo thành dãy liên tục. Các đồi và núi thấp cấu tạo bằng nhiều loại đá khác nhau trên các cấu trúc khác nhau và bị phủ một lớp phong hoá có bề dày không đồng nhất tùy theo cấu tạo nham thạch và lớp phủ thực vật trên mặt.
2. Nhóm các nhân tố ngoại sinh
Các nhân tố này có vai trò chạm trổ lại các dạng địa hình mà các nhân tố nội sinh đã tạo ra. Trong các nhân tố ngoại sinh, quan trọng nhất là khí hậu, ngoài ra là các hoạt động của con người.
2.1. Tác động của khí hậu
Tỉnh Hà Nam có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm ướt với nhiệt độ trung bình năm cao (23,40C), lượng mưa lớn (1.900mm), độ ẩm cao (85%). Điều kiện khí hậu như vậy khiến cho các quá trình phong hoá vật lý và hoá học tại Hà Nam diễn ra mạnh mẽ, tạo tiền đề cho sự xói mòn, rửa trôi của nước chảy theo dòng tạm thời (mương xói, khe rãnh) và nước chảy thường xuyên (sông, suối) bào mòn và cuốn trôi đất đá, cắt xẻ địa hình. Ở các vùng đồi phiến thạch, trong điều kiện lớp phủ thực vật đã bị phá trụi (rất phổ biến ở miền đồi núi phía Tây) có thể thấy rõ tác động của nước chảy trên sườn với hệ thống khe rãnh, mương xói nhiều chỗ rất sâu và dày đặc làm cho lớp vỏ phong hoá bị bóc trụi, trơ sỏi đá. Trong điều kiện như vậy, các vùng đồi, núi thấp không còn canh tác được nữa.
Trong vùng núi đá vôi phía tây của tỉnh, tác động của khí hậu đến địa hình thông qua quá trình cacxtơ hoá đã tạo nên nhiều dạng địa hình độc đáo như địa hình đá tai mèo với các sống đá nhọn và các khe rãnh sâu rất phổ biến trên bề mặt các núi đá vôi. Các hang động nguyên là các dòng sông ngầm trong các khối đá vôi, nay được nâng lên ở những độ cao khác nhau, tạo nên các hang khô hoặc hang ướt, trong đó có nhiều thành tạo thạch nhũ độc đáo sẽ được mô tả ở phần sau. Đôi nơi thấy xuất hiện những khối đá vôi sót đứng trơ trọi giữa vùng đồng ruộng (tiêu biểu là núi Thi Sơn gần thị trấn Quế thuộc huyện Kim Bảng) chứng cứ về sự “rút lui” của những khối núi đá vôi trước sự tấn công của nước, sau đó được trầm tích Đệ Tứ phủ trên mặt tạo nên đồng ruộng hiện tại mà dân cư sinh sống và canh tác.
Theo tính toán của các nhà khoa học, trong điều kiện khí hậu nhiệt đới như tỉnh Hà Nam, thể tích khối đá vôi có thể bị hòa tan và rửa trôi tới 50%.
2.2. Hoạt động của con người cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển của địa hình trong điều kiện trình độ kỹ thuật ngày càng phát triển, khối lượng vật chất hàng năm do con người di chuyển từ nơi khai thác đến nơi sử dụng lớn hơn nhiều so với số lượng vật chất di chuyển do tự nhiên. Tỉnh Hà Nam không nằm ngoài quy luật đó. Với hoạt động khai thác đá làm vật liệu xây dựng và sản xuất xi măng, con người đã phá dần các khối núi đá vôi. Với các hoạt động khai khoáng khác, con người làm xáo trộn, cày xới địa hình, tạo tiền đề cho hiện tượng xâm thực của nước chảy, dẫn tới thay đổi địa hình không nhỏ. Điều này thể hiện ở các công trường khai thác than bùn, đất sét, đá vôi, đôlômít...
Ở vùng đồng bằng với sự tập trung đông đúc dân cư và hoạt động nông nghiệp phát triển, con người đã làm thay đổi mạnh mẽ địa hình đồng bằng, khiến cho rất khó nhận ra các địa hình tự nhiên ban đầu. Phần lớn địa hình trên đồng bằng hiện tại là các dạng địa hình nhân tạo do con người tạo ra trong quá trình sinh sống và hoạt động kinh tế như đê điều, đường sá, kênh mương, bờ vùng, bờ thửa... đã tạo nên cho đồng bằng một diện mạo mới mẻ mang tính nhân loại hoá.
Nói tóm lại, sự hình thành và phát triển địa hình là kết quả phối hợp của các nhân tố nội sinh và ngoại sinh. Chúng đã tạo nên diện mạo hiện đại của địa hình tỉnh Hà Nam.
III. CÁC KIỂU ĐỊA HÌNH
Hà Nam có một số kiểu địa hình cơ bản sau đây.
1. Kiểu địa hình đồng bằng bồi tụ trên vịnh biển nông, cấu tạo bởi trầm tích Đệ Tứ, sau đó con người đắp đê chống lụt, khiến cho bề mặt đồng bằng không còn được bồi đắp phù sa thường xuyên hàng năm và tạo thành các ô trũng.
Đồng bằng tỉnh Hà Nam là một bộ phận cấu thành của đồng bằng sụt võng Hà Nội. Mặc dù đồng bằng được thiết lập trên móng uốn nếp với nền đá kết tinh nhưng đã bị sụt xuống từ cuối Cổ sinh. Nơi mà ngày nay là đồng bằng thì vào thời kỳ đó còn là vịnh biển. Chế độ biển kéo dài trên 170 triệu năm. Đáy vịnh chịu vận động sụt lún từ từ làm cho trầm tích lắng đọng trong đó có chiều dầy tới vài nghìn mét, sau đó vịnh biển trở thành vũng hồ chứa trầm tích mà ta gọi là trầm tích Nêôgen.
Ở trung tâm đồng bằng, lớp phù sa Đệ Tứ ở trên cùng, nơi con người đang sống và cày cấy, có chiều dày 80 -120m. Càng ra ven rìa thì độ dày lớp phù sa càng giảm chỉ còn vài mét, thậm chí vùng chân đồi núi, đá gốc có thể lộ ra. Thành phần trầm tích rất đa dạng với cát, sét, bột, tướng bãi bồi hoặc hỗn hợp sông biển. Lớp phù sa trên mặt đồng bằng có thành phần cơ giới nhẹ, độ phì cao. Khi con người chưa đắp đê, nước lũ hàng năm thường tràn qua bờ sông, một phần vật liệu đọng lại ven sông tạo thành các gờ sông, phần còn lại gồm các vật liệu nhỏ hơn (chủ yếu là sét) theo nước loang ra khắp đồng bằng châu thổ với quy luật là càng xa sông thì vật liệu bồi tụ càng ít, mà do đó bề mặt đồng bằng càng thấp, tạo nên nhiều đầm lầy (có lẽ mỏ than bùn Ba Sao và các mỏ than bùn khác ở Hà Nam được hình thành do thực vật trong điều kiện đầm lầy này).
Về sau, con người đắp đê trên nền của các gờ sông để chống lụt, bảo vệ nhà cửa, mùa màng, nên từ đó châu thổ được tách ra khỏi quá trình phát triển của tự nhiên, bề mặt của nó không còn được cung cấp lớp phù sa hằng năm để san bằng các vùng trũng. Vì vậy, các ô trũng đã hình thành trước khi có đê càng trở nên rõ ràng hơn sau khi có đê. Xét trên phạm vi toàn bộ đồng bằng sông Hồng thì cả tỉnh Hà Nam được gọi chung là một ô trũng lớn, còn xét trong phạm vi tỉnh Hà Nam thì ô trũng điển hình nhất là các huyện Thanh Liêm, Bình Lục với cao độ thấp nhất tỉnh.
Trên bề mặt đồng bằng, phổ biến nhất là kiểu địa hình nhân tạo, tiêu biểu là hệ thống đê ven sông Hồng, sông Đáy; ngoài ra là các dạng kênh mương, bờ vùng, bờ thửa, đường sá... do con người xây dựng trong quá trình sống và hoạt động kinh tế. Có thể nói, mặc dù địa hình bề mặt đồng bằng là rất đơn điệu, nhưng với sự tác động mạnh mẽ của con người tạo nên ngày càng nhiều các địa hình nhân tạo, đã làm cho bề mặt đồng bằng bị biến đổi sâu sắc đến mức người ta không còn nhận ra được các dạng địa hình tự nhiên của nó nữa.
Với đất đai màu mỡ (dù hiện nay không còn được bồi đắp phù sa thường  xuyên hàng năm do sự ngăn trở của hệ thống đê điều) và địa hình bằng phẳng, nên vùng đồng bằng trở thành nơi quần cư đông đúc và có ý nghĩa rất quan trọng đối với nền kinh tế của tỉnh Hà Nam.
2. Kiểu địa hình cacxtơ phát triển trên đá vôi tuổi Trung sinh, hệ tầng Đồng Giao
Kiểu địa hình này phát triển trong vùng núi đá vôi phía tây tỉnh Hà Nam (thuộc các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm). Đây là loại đá vôi màu xám sáng, phân lớp khá dày. Đá vôi là loại đá dễ bị nước hoà tan nên dễ bị xâm thực bởi nước trên mặt và nước ngầm. Trong lòng các khối đá vôi có nhiều khe nứt, nước theo các khe nứt này xâm nhập vào các khối đá vôi và hoà tan chúng để tạo ra các dạng địa hình rất độc đáo. Các dạng địa hình này chia thành hai nhóm là: nhóm địa hình dương và nhóm địa hình âm. Nhóm địa hình dương bao gồm các khối cacxtơ dạng vòm với sườn khá thoải và đỉnh không nhọn, dạng nón với đỉnh nhọn và sườn dốc, dạng tháp với sườn dốc đứng như vách vại. Có thể quan sát thấy các khối đá vôi sót ở Hà Nam nằm trên vùng đồng ruộng như khối núi Thi Sơn (huyện Kim Bảng) và một vài khối núi đá vôi khác. Nhóm các địa hình âm bao gồm địa hình đá tai mèo (carư), phễu cacxtơ và thung cacxtơ, giếng cacxtơ, cánh đồng cacxtơ, hang động cacxtơ… Đá tai mèo là dạng địa hình phổ biến nhất trong vùng núi đá vôi của tỉnh Hà Nam.
Cảnh quan đá tai mèo với những sống đá nhọn lởm chởm bị chia cắt bởi một mạng lưới khe rãnh chằng chịt đôi khi sâu tới một vài mét. Hang động cacxtơ là dạng địa hình độc đáo nhất ở vùng núi đá vôi tỉnh Hà Nam. Chúng nguyên là những con sông ngầm chảy trong lòng các khối núi đá vôi sau đó do mức độ nâng lên trong quá trình Tân kiến tạo khiến chúng có thể ở những độ cao khác nhau. Trong các hang động có các thành tạo thạch nhũ kỳ thú như măng đá, vú đá, chuông đá, rèm đá.... và tuỳ theo quá trình thành tạo thạch nhũ đã chấm dứt (động Thi Sơn) hay còn đang tiếp diễn (động Vồng) mà thạch nhũ có màu sắc khác nhau.
Cũng có thể chia địa hình cacxtơ ra hai nhóm là: địa hình cacxtơ trên mặt và địa hình cacxtơ ngầm.
Do có tuổi trẻ hơn vùng núi đá vôi thuộc đới Thanh Hoá – sông Mã, nên đá vôi tỉnh Hà Nam tạo thành dải khá liên tục, mặc dù đây là vùng rìa của dãy núi đá vôi Hoà Bình - Ninh Bình. Tại đây, quá trình cacxtơ hoá còn đang trong giai đoạn phát triển mạnh nên ít thấy các khối đá vôi sót dạng vòm, dạng tháp, dạng nón đứng rời rạc, biểu thị giai đoạn già nua của quá trình cacxtơ mà phổ biến nhất là dạng địa hình đá tai mèo và hang động cacxtơ. Các phễu, thung cacxtơ rất ít gặp.
3. Kiểu địa hình đồi và núi thấp cấu tạo bởi đá trầm tích tuổi Cổ sinh và Trung sinh, nâng Tân kiến tạo yếu
Địa hình thấp (có độ cao 120 - 200m đối với những dải đồi và đồi đứng độc lập; 300 - 350m đối với vùng núi thấp xen lẫn đồi. Núi đồi có dạng vòm với sườn thoải đến rất thoải. Độ sâu chia cắt địa hình không lớn nhưng mật độ chia cắt ngang lại lớn do tác động của nước chảy trên mặt sườn. Sự hình thành các núi đồi kiểu này là do sự bóc mòn trên những nơi có hoạt động nâng Tân kiến tạo yếu. Đa số núi đồi tạo thành dải kéo dài theo hướng chung của địa hình Hà Nam là hướng tây bắc - đông nam, nhưng một số nơi lại dưới dạng đồi sót như núi Ơn (huyện Thanh Liêm), núi An Lão (huyện Bình Lục)....
IV. CÁC KHU VỰC ĐỊA HÌNH
Do địa hình tỉnh Hà Nam khá đơn giản với ít kiểu địa hình khác nhau, nên sự phân chia các khu vực địa hình ở Hà Nam cũng khá đơn giản.
1. Vùng đồng bằng sông Hồng, sông Đáy ở phía đông
Vùng này (chiếm khoảng 85 - 90% lãnh thổ của tỉnh Hà Nam) là đồng bằng bồi tụ với trầm tích Đệ Tứ phủ trên bề mặt có độ dày từ vài chục mét ở trung tâm đồng bằng đến một vài mét và ít hơn nữa ở ven rìa đồng bằng. Hướng dốc tây bắc - đông nam theo hướng dốc chung của địa hình núi, sông của tỉnh Hà Nam. Địa hình đơn điệu - bằng phẳng (mật độ chia cắt và độ sâu chia cắt địa hình không đáng kể), vật liệu bồi tụ có thành phần cơ giới nhẹ với độ phì cao thích hợp cho cây trồng. Trên bề mặt đồng bằng, địa hình nhân tạo lấn át và phá vỡ địa hình tự nhiên là nét đặc trưng của địa hình đồng bằng sông Hồng nói chung cũng như đồng bằng Hà Nam nói riêng.
Căn cứ theo độ cao địa hình, có thể chia vùng đồng bằng thuộc tỉnh Hà  Nam thành 2 tiểu vùng với ranh giới ước lệ như sau:
1.1. Tiểu vùng đồng bằng đất cao phía Bắc
Độ cao trung bình của tiểu vùng này từ 3 - 4m. Những vùng ven đê sông Hồng và sông Đáy, độ cao có thể 5 - 6m. Đê sông Hồng do con người đắp có độ cao trung bình 8 - 9m. Tiểu vùng này thuộc lãnh thổ huyện Duy Tiên, huyện Kim Bảng và phần phía bắc của huyện Lý Nhân (có thể lấy tỉnh lộ 971 thị trấn Vĩnh Trụ làm giới hạn). Đôi nơi trên bề mặt đồng bằng có những đồi sót như núi Đọi cao 76m (huyện Duy Tiên) hoặc những khối đá vôi sót như núi Thi Sơn (huyện Kim Bảng).
1.2. Tiểu vùng đồng bằng đất thấp phía nam
Tiểu vùng này có độ cao trung bình 1 - 2m. Đây thực sự là ô trũng điển hình của tỉnh Hà Nam, thuộc địa giới hành chính các huyện Thanh Liêm, Bình Lục và phần phía nam của huyện Lý Nhân. Nơi đây có nhiều vùng đồng trũng ngập nước và đầm lầy. Trên bề mặt đồng ruộng tồn tại một dải đồi chạy dọc quốc lộ 1A với độ cao trung bình 100-120m là địa giới hành chính các xã Thanh Lưu, Thanh Hương, Thanh Tâm và Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm). Cá biệt có đồi xóng đứng độc lập giữa cánh đồng mênh mông là núi An Lão cao 90m (huyện Bình Lục).
Hai tiểu vùng trên đây có độ cao chênh lệch không đáng kể, với độ dốc trung bình 4-5cm/1km2, thành phần cơ giới của đất cũng có phần khác nhau. Sự phân chia hai tiểu vùng này chỉ mang tính ước lệ với đường ranh giới không rõ ràng.
2. Vùng đồi núi phía tây
Vùng này chiếm khoảng 10 - 15% diện tích lãnh thổ tỉnh Hà Nam. Đây là  vùng núi đá vôi (một bộ phận của dãy núi đá vôi Hoà Bình - Ninh Bình) xen lẫn núi thấp và đồi đá phiến. Độ cao trung bình của vùng núi đá vôi là 350 – 400m với mật độ chia cắt rất lớn, tạo nên dạng địa hình đá tai mèo rất phổ biến. Các hang động nhiều dạng thạch nhũ kỳ thú khá phổ biến như một vài  hang động điển hình thuộc huyện Kim Bảng:
2.1. Ngũ động Thi Sơn gồm 5 động khô (xã Thi Sơn, huyện Kim Bảng)
Động 1 dài 12m, rộng 10m, cao 4,5m.
Động 2 dài 19m, rộng 12m, cao 10 - 15m, hình vòm.
Động 3 dài 20m, rộng 10m, cao 5m.
Động 4 dài 37m, rộng 28m, cao 15m, hình tháp.
Động 5 dài 18m, rộng 12m, cao 12 - 15m.
Các động thông với nhau bởi các eo hẹp. Trong các động có các thành tạo thạch nhũ khá đẹp như măng đá, cột đá, rèm đá. Hết động là một hệ thống hang hốc chằng chịt và xuyên sâu.
2.2. Động Hang Dơi (xã Khả Phong, huyện Kim Bảng) là động rất lớn và khô. Trần động chỗ cao nhất tới 60m, rộng 50m, dài 85m. Ngoài động chính còn có các nhánh động phụ dài 82m, rộng 10 - 20m, cao 3 - 15m. Toàn bộ diện tích sàn rộng 5.400m2. Đây là một toà kiến trúc vĩ đại của tự nhiên trong lòng núi đá vôi. Động hoàn toàn khô ráo và sáng.
2.3. Động Chùa (thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm) trên lưng chừng núi là động hẹp có nhiều ngách, nhiều nhũ đá đẹp.
2.4. Động Thủy (xã Liên Sơn, huyện Kim Bảng) là một sông ngầm chảy qua các núi đá vôi với độ dài trên 400m. Trần hang cao trên mặt nước từ 1m đến 4 - 5m với nhiều nhũ đá đẹp rủ xuống. Lòng sông trong hang rộng 5 - 15m. Đáy có trầm tích bùn, ven hang còn để lại mực thềm cổ cao 1m trên mực nước trong hang.
2.5. Động Vồng (xã Khả Phong, huyện Kim Bảng) cũng là một sông ngầm trong lòng núi đá vôi. Tuy chỉ dài trên 100m, nhưng trong động có nhiều nhũ đá đẹp với nhiều màu sắc sặc sỡ. Lòng sông trong hang rộng 10 -15m, trần hang cao 1,5 - 3m, nước trong hang sâu 2 - 4m và có nhiều cá.
2.6. Hang Tối (thuộc khu vực Bút Sơn, huyện Kim Bảng) cũng là một sông ngầm trong núi đá vôi, rộng 10 - 20m, trần cao trên mặt nước 2 - 3m. Hang dài 300m, càng vào sâu hang càng rộng và tối đen. Dưới ánh đèn có thể thấy nhiều nhũ đá đẹp. Nước trong và lạnh, độ sâu có chỗ tới 3m. Các hang động trên đều nằm cạnh các đền, chùa, thắng cảnh và di tích lịch sử nên rất có triển vọng cho phát triển du lịch.
Ngoài núi đá vôi, trong vùng còn có các núi thấp và đồi đá phiến nằm xen kẽ hoặc đứng độc lập với đá vôi, tạo thành các dải đồi, núi thấp với địa hình đơn điệu, đỉnh có dạng vòm, sườn thoải đến rất thoải (độ dốc không vượt quá 350), độ sâu chia cắt không lớn nhưng mật độ chia cắt dày bởi hệ thống khe rãnh, mương xói khá dày đặc trong điều kiện mưa nhiều và lớp phủ thực vật một phần bị phá hủy bởi con người.
Chương III
Địa chất và khoáng sản
I. Địa chất
1. Lịch sử phát triển
Lịch sử phát triển địa chất lãnh thổ tỉnh Hà Nam gắn liền với lịch sử phát triển địa chất của vùng Ninh Bình và vùng đồng bằng sụt võng Hà Nội. Lịch sử đó có thể tóm tắt như sau:
1.1 Giai đoạn Proterozoi. Xảy ra một loạt quá trình kiến tạo độc đáo tạo thành tầng kiến trúc Proterozoi hay còn gọi là móng kết tinh của đồng bằng Hà Nội, mà ngày nay còn để dấu tích lộ ra ở một vài nơi ven rìa đồng bằng hoặc dạng “núi đảo” đơn độc như núi An Lão (huyện Bình Lục). Hầu hết các nhà nghiên cứu đều coi đây là quá trình phát triển một địa máng nguyên thủy nào đó, bao gồm một vùng rộng lớn ở Đông Nam Á.
1.2 Giai đoạn Paleozoi. Các tài liệu hiện có xác nhận, vào giai đoạn này xảy ra sự phát triển vật chất phân dị ở dưới sâu với khuynh hướng granit hóa vỏ trái đất tại vùng này, nghĩa là có sự gia tăng bề dày vỏ làm cho nó có cấu trúc kiểu vỏ lục địa điển hình với sự có mặt đầy đủ các lớp bazan, granit và lớp trầm tích.
1.3 Giai đoạn Paleozoi-Triat. Đây là giai đoạn phát triển địa máng Caledoni, Hecxini và Indoxini. Chúng phát triển kế thừa nhau nhưng chỉ có chu kỳ cuối là phát triển đầy đủ hơn. Vì vậy, Pusarovski coi lãnh thổ miền Bắc Việt Nam là một ví dụ về tính phát triển kéo dài của miền địa võng phát triển trên vỏ lục địa, còn Trần Đức Lương (1977) đề nghị gọi quá trình kiến tạo Paleozoi-Triat là quá trình địa máng tái sinh.
1.4. Giai đoạn Mezo-Kainozoi. Trong giai đoạn này xảy ra biến cải mạnh mẽ vỏ trái đất đã hình thành trước đó.
Vào Triat giữa, hiện tượng biển tiến mạnh mẽ, tạo ra điệp Đồng Giao với chủ yếu là đá vôi (các núi đá vôi ở tỉnh Hà Nam đều là đá vôi điệp Đồng Giao và có tuổi Triat giữa). Biển rút và trở thành lục địa vào cuối kỉ Triat do vận động nâng cao và uốn nếp. Nét đặc trưng của giai đoạn này là sụt lún đóng vai trò cơ bản và diễn ra trên cơ sở uốn nếp đã được cố kết cứng rắn hóa, vì thế tính chất di chuyển khối đã có và càng biểu hiện rõ nét hơn ở các thời kỳ sau.
Trong suốt giai đoạn Triat muộn- Paleogen, khuynh hướng nâng cao phân dị là căn bản. Cùng với vùng núi Ninh Bình, vùng núi Hà Nam cũng được thiết lập và do đó hiện tượng bóc mòn xảy ra mạnh mẽ. Vào cuối giai đoạn, chuyển động căng thẳng đã yếu dần. Sự yên tĩnh tương đối ấy tạo điều kiện hình thành các bề mặt san bằng mang tính chất khu vực, nhưng ngày nay, vết tích các bề mặt san bằng này chỉ còn lại rất ít ở đới Ninh Bình do bị phá hủy và biến dạng dữ dội gây nên bởi vận động Tân kiến tạo.
Trong giai đoạn Kainozoi, vùng đồng bằng sụt võng Hà Nội là nơi xảy ra những hoạt động kiến tạo sụt lún lớn nhất và mạnh mẽ nhất ở miền Bắc Việt Nam.
Hoạt động sụt lún này đã phá vỡ cấu trúc cổ tồn tại suốt cả thời gian dài sau Proterozoi trong vùng trũng Hà Nội. Vào giai đoạn Tân kiến tạo, đứt gãy sông Hồng đã hồi sinh cùng với các đứt gãy sông Chảy, sông Lô. Chúng hoạt động rất tích cực.
Về mặt kiến tạo, các đứt gãy này chia đồng bằng sụt võng Hà Nội thành những đới kéo dài theo hướng tây bắc-đông nam. Hoạt động của các đứt gãy này cũng mang tính kế thừa các giai đoạn trước. Chúng xác định phương các cấu trúc lớn và xu hướng các chuyển động trong toàn bộ vùng trũng. Ngoài đứt gãy chính còn xuất hiện hàng loạt các đứt gãy phụ theo hướng đông bắc-tây nam. Hoạt động của các hệ thống đứt gãy kể trên đã chia đồng bằng sụt võng Hà Nội thành nhiều đới, mỗi đới có những khối khác nhau. Các chuyển động sụt lún mạnh nhất vào Mioxen, lấp đầy bởi trầm tích vướng lục địa chứa than và biển của hệ tầng Phong Châu, hệ tầng Phù Cừ và điệp Tiên Hưng có chiều dày khoảng 5.000-6.000 mét.
Cuối Mioxen có xu thế nâng lên ít gây ra gián đoạn địa phương giữa trầm tích Mioxen và Plioxen. Đến Plioxen, đồng bằng bắt đầu giai đoạn sụt yếu ở vùng trung tâm. Trầm tích hạt mịn (cát, bột kết), nguồn gốc biển nông và tam giác châu của điệp Vĩnh Bảo được hình thành. Cuối Plioxen, các chuyển động nâng đã đưa các trầm tích này lên khỏi mặt nước và ở đó xảy ra quá trình bóc mòn.
Bước sang kỷ Đệ tứ, bắt đầu pha chuyển động Tân kiến tạo. Ở miền núi xung quanh đồng bằng sụt võng Hà Nội chỉ thấy có hiện tượng nâng lên. Quá trình nâng cao đã để lại hàng loạt bậc thềm ở vùng ven rìa đồng bằng ngày nay. Trên các bậc thềm này, độ dày trầm tích không quá 2m, còn ở trung tâm đồng bằng, trầm tích cùng tuổi có độ dày 40-60m. Các chuyển động nâng yếu dần, hoạt động kiến tạo trong vùng đồng bằng có phần yên tĩnh hơn. Khi đó, trong phạm vi đồng bằng tạo ra các lớp trầm tích cát bột tướng bãi bồi hoặc hỗn hợp sông biển. Bề dày trầm tích có nơi đạt 40-44m. Đây chính là trầm tích của hệ tầng Hà Nội.
Vào cuối Pleixtoxen muộn, một đợt biển tiến đã tràn ngập vào đồng bằng với mực nước dâng cao đến +15m so với ngày nay. Trên vách đá vôi ở nhiều nơi còn giữ lại dấu vết gặm mòn của mực biển kể trên. Đồng thời, chúng đã tạo ra lớp trầm tích hạt mịn chủ yếu là sét, bột nguồn gốc vũng, vịnh hoặc biển nông. Các trầm tích này hình thành trong điều kiện khá yên tĩnh. Chiều dày trầm tích không đồng nhất: Ở ven rìa đồng bằng chỉ dày một vài mét, trong khi đó ở trung tâm và ven biển có thể đạt tới 20m.
Vào đầu Holoxen, vùng đồng bằng Hà Nội nổi lên khỏi mặt nước. Dưới tác động của các nhân tố ngoại sinh, các quá trình phong hóa và bóc mòn xảy ra mạnh mẽ. Khi đó, trên bề mặt đồng bằng, mạng lưới sông ngòi chi chít cùng với khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, tạo điều kiện thuận lợi cho các dòng sông xâm thực sâu và xâm thực ngang mạnh mẽ, làm cho bề mặt trầm tích bị bào mòn không đều, đồng thời quá trình phong hóa laterit đã tạo cho phần trên của trầm tích có màu sắc loang lổ.
Điều kiện của lục địa tồn tại không lâu thì vào Holoxen giữa (khoảng 4.200 năm cách ngày nay), một đợt biển tiến đột biến với biên độ 4-4,5m đã xảy ra. Mọi nơi trong phạm vi đồng bằng sụt võng Hà Nội và có thể trên cả miền Bắc Việt Nam, Những nơi có độ cao thấp hơn +3m, đều bị nước biển phủ kín. Các thành tạo hạt mịn trong giai đoạn này, hoặc vết gặm mòm của nước biển trên vách đá vôi đã chứng minh điều đó.
Sau đợt biển tiến Holoxen giữa, đồng bằng được nâng lên nhanh với biên độ 1-1,5m, sau đó nâng dần lên trên mặt nước biển và ổn định cho đến ngày nay.
Dây chuyền khai thác đá của Công ty cổ phần 
Nam Hà ở huyện Thanh Liêm. Ảnh: Trần Thoan
2. Kiến tạo
2.1. Vị trí kiến tạo
Hà Nam nằm về phía đông nam miền kiến tạo Đông Bắc Bộ, chiếm một phần diện tích của vùng trũng Hà Nội mà từ lâu vẫn được coi là đới sụt lún sông Hồng. Các thành tạo của khu vực gối lên trên khâu tiếp giáp của hai miền kiến tạo Đông Bắc Bộ và Tây Bắc Bộ. Khâu tiếp giáp này được coi là móng của vùng trũng, có thành phần không đồng nhất, dày khoảng 8.000m. Đặc điểm của móng chưa được hiểu biết cặn kẽ.
2.2. Các đơn vị cấu trúc
Do vị trí nằm ở phần rìa của vùng trũng Hà Nội nên lãnh thổ Hà Nam có cấu trúc địa chất khá đơn giản, bao gồm hai đơn vị cấu trúc là vùng trũng Hà Nội và đới Ninh Bình.
2.2.1. Vùng trũng Hà Nội (hay đới võng chồng Kainozoi Hà Nội)
- Phức hệ cấu trúc móng uốn nếp, gồm các thành tạo có các thành phần không đồng nhất hình thành móng uốn nếp của vùng trũng Hà Nội. Chúng lộ rải rác ở ven rìa vùng trũng dưới dạng các núi sót nhỏ, bao gồm những thành hệ đá phiến kết tinh và cacbonat thuộc phần kéo dài về phía đông nam của đới sông Hồng và Ninh Bình.
- Phức hệ cấu trúc lớp phủ chồng; sự tái hoạt động của hệ đứt gãy sông Hồng trong giai đoạn Tân kiến tạo đã làm cho đới này có chuyển động âm trong suốt giai đoạn này do vậy đã lấp đầy trầm tích Neogen và hiện đại, phủ chồng lên trên các thành tạo cổ hơn. Phức hệ cấu trúc lớp phủ chồng gồm hai tầng cấu trúc:
+ Tầng cấu trúc Neogen bị che phủ bởi trầm tích Đệ Tứ và nằm bất chỉnh hợp trên những thành tạo cổ hơn, đặc trưng bởi thành tạo lục nguyên và molas chứa than nâu, tướng ven bờ là lục địa. Tầng cấu trúc Neogen được giới hạn từ núi Gôi thuộc huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định). Như vậy, trên lãnh thổ Hà Nam sẽ không có mặt tầng cấu trúc này.
+ Tầng cấu trúc Đệ Tứ phân bố rộng rãi trong những vùng trũng Hà Nội, phủ bất chỉnh hợp trên các tầng cấu trúc cổ hơn. Đặc trưng của tầng cấu trúc này là các thành tạo bởi rời có nguồn gốc khác nhau. Chiều dày chung 50-198m.
2.2.2. Đới Ninh Bình
Nằm dọc theo rìa tây nam của võng chồng Kainozoi Hà Nội. Nhìn chung đới có phương kéo dài tây bắc-đông nam, nhưng những hoạt động kiến tạo phức tạp trong và nhất là sau Inđôxini đã làm cho từng phần của đới có những đặc điểm khác nhau. Chẳng hạn ở phía tây huyện Kim Bôi (tỉnh Hòa Bình) do khối xâm nhập cùng tên xuyên lên và những đứt gãy phương tây nam-đông bắc cắt xén, nên đặc điểm cấu tạo của khu vực này tách biệt khỏi quang cảnh chung của đới, hoặc ở phía đông huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định) lại có cấu tạo gần với phương vĩ tuyến.
Trong đới lộ đầy đủ các phân tầng cấu tạo Inđôxini dưới và trên, các nếp uốn của chúng tuy kéo dài nhưng không hẹp như ở đới Sơn La. Cũng như đới Sơn La và đới Thanh Hóa, trong suốt Palêôzôi, đới này nằm trong chế độ địa võng chìm, nhưng khác với hai đới trên nó đóng vai trò kết thúc chế độ địa máng Inđôxini vào cuối Cacni đầu Nori và chuyển sang chế độ tạo núi với thành hệ molas chứa than của điệp Suối Bàng.
Ở Hà Nam, đới này chỉ quan sát thấy tại phần phía tây và tây nam của đới Ninh Bình, trong đó có các trầm tích hệ tầng Đồng Giao (T2 đg), hệ tầng Tân Lạc (T1.o.tl). Phương cấu trúc chung là tây bắc-đông nam.
3. Địa tầng
Về địa chất, tỉnh Hà Nam nằm ở rìa phía tây vùng trũng Hà Nội, không có mặt đầy đủ các trầm tích từ cổ đến trẻ. Các trầm tích cổ nhất là giới Paleoproterozoi lộ ra trong diện tích hẹp tại núi An Lão, đông nam huyện Thanh Liêm. Trầm tích Paleozoi vắng mặt hoàn toàn, các trầm tích Mezozoi nằm trọn phía tây nam của tỉnh thuộc hai huyện của Kim Bảng và Thanh Liêm, chiếm trên 80% diện tích, còn lại là các trầm tích Kainozoi, bao gồm các tích tụ Đệ Tứ thuộc hai hệ tầng Thái Bình và Hưng Yên.
3.1. Giới Paleoproterozoi
Loạt sông Hồng, hệ tầng Thái Ninh (PR1 tn)
Trên bản đồ địa chất Hà Nam, các trầm tích thuộc hệ tầng Thái Ninh phân bố ở diện hẹp thành một chỏm đồi nhỏ vùng giáp ranh giữa huyện Thanh Liêm (tỉnh Hà Nam) và huyện Vụ Bản (tỉnh Nam Định), giống với diện lộ của phức hệ sông Hồng trên bản đồ địa chất Hà Nội 1/200.000 (Hoàng Ngọc Kỷ và n.n.k, 1978), hoặc hệ tầng Nậm Cồ trên bản đồ địa chất miền Bắc Việt Nam (A.E. Đovjikov và n.n.k, 1965).
Các đá của hệ tầng này lộ ra rải rác, không có mặt cắt đầy đủ. Thành phần gồm: đá phiến thạch anh-mica, migmatit, đá phiến mica, gneis biotit dạng mắt, đá phiến kết tinh hai mica chứa silimanit. Chúng bị các trầm tích Kainozoi phủ bất chỉnh hợp lên trên, bề dày khoảng 500m (Phạm Đình Long, 1968).
3.2. Giới Mezozoi triat sớm
Hệ tầng Tân Lạc (T1.o.tl)
Mặt cắt chuẩn được xác lập đầu tiên ở vùng Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình), định tuổi Triat sớm. Các trầm tích của hệ tầng Tân Lạc phân bố chủ yếu ở khu vực phía tây nam, thuộc địa phận các xã Thanh Bồng, Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm). Chúng lộ ra dưới dạng nhân của nếp lồi hoặc tạo thành dải kéo dài theo phương tây bắc-đông nam. Mặt cắt điển hình được chia làm ba phần (Phan Cự Tiến và n.n.k,1977).
- Phần dưới dày khoảng 200-300m, chủ yếu là cát kết, cát kết tuf (tuf màu xám đỏ, tím đỏ) xen một vài lớp mỏng cát kết, tuf chứa cuội và thấu kính cuội kết. Cuội kết có thành phần chủ yếu là phun trào mafic, silic, độ mài tròn tốt, xi măng và vật liệu núi lửa.
- Phần giữa dày khoảng 400m, xen lẫn giữa bột kết, cát kết màu tím đỏ, xám nâu đỏ phân lớp mỏng đến vừa, đôi nơi có các lớp mỏng các kết tuf, sét vôi màu xám tím.
- Phần trên dày khoảng 100m, thành phần chủ yếu là đá sét vôi, vôi sét phân lớp mỏng, màu xám lục, xám xanh. Đôi chỗ đá vôi sét có dạng giun bò, vón cục hoặc một vài lớp mỏng phun trào mafic.
3.3. Triat, Anisi
Hệ tầng Đồng Giao (T2a.dg)
Trong phạm vi tỉnh Hà Nam, hệ tầng Đồng Giao lộ ra một diện rộng nằm ở góc tây nam và là đầu mút đông nam của dãy đá vôi Cúc Phương-Đồng Giao, được mệnh danh là “Hạ Long trên cạn”. Mặt cắt của hệ tầng chủ yếu lộ ra là đá vôi dưới dạng những dãy núi kéo dài theo phương tây bắc-đông nam, hoặc dạng khối khá đẳng thước. Hệ tầng được chia thành hai phần (Đovjikov A.E và n.n.k,1965):
- Phần dưới (T2.a.đg1) phân bố chủ yếu ở khu vực xã Thanh Nghị và một ít ở xã Liêm Sơn (huyện Thanh Liêm), chiếm khoảng 35-40% diện tích của hệ tầng. Các đá được đặc trưng bằng đá vôi chứa nhiều sét và vật chất hữu cơ màu xám đen, phân lớp mỏng, độ dày 250m.
- Phần trên (T2.a.đg2) các trầm tích của phụ hệ tầng trên này chiếm khoảng 60-65% tổng diện tích phân bố của hệ tầng và là đối tượng nghiên cứu chính cho công nghiệp xi măng và công nghiệp hóa chất. Chúng tập trung ở khu vực Thung Trứng, Liêm Sơn, Đồng Ao phía bắc Thanh Tân-Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm). Tham gia vào mặt cắt của phụ hệ tầng trên chủ yếu là đá vôi xám sáng, xám tro. Ở những lớp trên cùng có xen đá vôi phân lớp mỏng, cát kết vôi xám sáng, dày từ 300-350m.
Bề dày chung của hệ tầng trong vùng nghiên cứu là 550-600m
3.4. Giới Kainozoi-Đệ Tứ
Trầm tích hệ Đê Tứ, thống Holoxen chiếm trên 2/3 diện tích của tỉnh Hà Nam. Các trầm tích này liên quan đến quá trình biến đổi của mực nước biển mà một phần do hoạt động kiến tạo khu vực, một phần chịu ảnh hưởng sau thời kỳ băng hà trên phạm vi toàn thế giới.
Dựa vào tài liệu thực tế quan sát được cũng như các lỗ khoan sâu khảo sát, thăm dò dầu khí ở đồng bằng sông Hồng- sông Thái Bình, trầm tích ở tỉnh Hà Nam có hai hệ tầng: Hệ tầng Hưng Yên, hệ tầng Thái Bình đều thuộc Holoxen do ông Hoàng Ngọc Kỷ (1978) mô tả và xác định.
3.5. Holoxen sớm-giữa
Hệ tầng Hải Hưng (QIV1-2hh)
Mặt cắt tiêu biểu của hệ tầng này được quan sát ở các lỗ khoan thuộc tỉnh Hải Hưng (cũ). Tại Hà Nam, hệ tầng Hải Hưng phân bố ở phía tây bắc Nam Định (đông nam Ninh Bình). Tại đây, trầm tích hệ tầng Hải Hưng cả hai kiểu nguồn gốc (Hoàng Ngọc Kỷ, 1978):
3.5.1.Trầm tích nguồn gốc biển (mQIV1-2hh)
Chúng lộ ra trên diện hẹp phía tây bắc tỉnh Hà Nam với thành phần chủ yếu là sét màu xám xanh, xám đen, giầu hóa thạch biển trùng lỗ và thân mềm.
Thành phần thạch học bao gồm: sét mônmôrilonhit chiếm chủ yếu, độ lựa chọn cao, có chứa khoảng 6% vật chất hữu cơ. Bằng nhiều kết quả nghiên cứu, phân tích khác nhau (thạch học, Rơnghen, nhiệt và cổ sinh học…) đã xác định những trầm tích này có nguồn gốc biển với bột, sét mịn dẻo, dày 2-5m. Đây là nguồn nhiên liệu để sản xuất gạch ngói, đồ gốm dung dịch khoan và nguyên liệu sản xuất xi măng.
3.5.2. Trầm tích biển-đầm lầy (mbQIV1-2hh)
Trầm tích biển-đầm lầy chiếm một diện tích nhỏ ở phía tây huyện Kim Bảng. Thành phần thạch học gồm bột, cát, sét, là chủ yếu. Thành phần hữu cơ 15-20% là những thực vật bảo tồn khá tốt. Toàn tầng có màu đen là đặc điểm nổi bật của nguồn gốc biển-đầm lầy. Các di tích thực vật nhặt được đều xác nhận là các loài sống ở đầm lầy ven biển hiện nay. Ngoài ra, trong thành phần cát, bột xám đen có lẫn nhiều vỏ sò, hến. Điều này chứng tỏ rằng, môi trường tạo thành trầm tích là đầm lầy ven biển.
Trong trầm tích biển-đầm lầy này, sét đen chiếm tỷ lệ cao cùng các thực vật chôn vùi. Vì vậy, tại khu vực này có than bùn (xã Ba Sao) có thể khai thác làm phân bón hữu cơ. Độ dày chung từ 5-25m.
3.6. Holoxen Muộn
Hệ tầng Thái Bình (QIV3tb)
Hệ tầng này phân bố rộng rãi trên địa bàn tỉnh Hà Nam, hầu như chiếm toàn bộ các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục và gần 2/3 huyện Thanh Liêm. Đây là hệ tầng được tạo thành trẻ nhất, khoảng từ 3.000 năm đến nay, chiếm đến 90% diện tích phân bố của hệ Đệ Tứ trong toàn tỉnh. Mặt cắt địa chất đặc trưng của hệ tầng được quan sát, mô tả ở tỉnh Thái Bình. Trong phạm vi của tỉnh Hà Nam chỉ gặp các loại hình nguồn gốc thành tạo sau (Hoàng Ngọc Kỷ, 1978).
3.6.1. Trầm tích nguồn gốc sông-biển (amQIV3tb)
Diện phân bố chiếm toàn bộ huyện Bình Lục và phần đông nam huyện Thanh Liêm. Mặt cắt được mô tả gồm hai tập:
- Tập 1 (18,3-23,8m) bao gồm bột sét lẫn cát màu vàng, xám vàng, xám nâu, chứa ít vỏ sò, hến vụn nát, dày khoảng 4,5m.
- Tập 2 (23,8-0m) bao gồm sét bột màu nâu, xám sẫm, chứa phong phú các hóa thạch thân mềm và bào tử phấn hoa tuổi Holoxen muộn.
3.6.2. Trầm tích nguồn gốc sông (aQIV3tb)
Phân bố dọc ven sông Hồng, sông Đáy. Trầm tích sông được chia ra làm hai tướng: lòng sông và bãi bồi.
- Tướng lòng sông bao gồm chủ yếu là cuội, sỏi, cát. Thành phần kích thước hạt hoàn toàn dựa vào nguồn cung cấp vật liệu của từng con sông nên có sự khác biệt nhau rất nhiều. Cát của sông trong tỉnh Hà Nam thường có kích thước nhỏ, lẫn nhiều bột sét, thành phần đa khoáng có màu xám đen.
- Tướng bãi bồi bao gồm chủ yếu là sét, sét bột màu nâu, màu gụ, phân bố dọc theo hai bờ sông và các nhánh của chúng với chiều ngang vài trăm mét đến hàng chục kilômét, dày 5-10m (gần bờ sông) và 0,5-1m (xa lòng sông) hình thành dạng địa hình thấp, thoải dần theo chiều ngang xa lòng sông. Thành phần thạch học chủ yếu là bột sét tướng bãi bồi và cát bột tướng lòng sông.
3.6.3. Trầm tích nguồn gốc sông-đầm lầy (abQIV3tb)
Thành tạo sông-đầm lầy chiếm một diện tích đáng kể ở tây nam sông Hồng thuộc huyện Lý Nhân. Thành phần gồm sét màu nâu xen lớp sét đen, than bùn mỏng chứa tàn tích thực vật và bảo tử phân hóa tuổi Holoxen muộn, dày khoảng 1-3m.
II. Khoáng sản
Do vị trí nằm ở phần rìa của vùng trũng Hà Nội nên lãnh thổ tỉnh Hà Nam có cấu trúc địa chất khá đơn giản như trên đã trình bày. Điều đó khiến cho Hà Nam ít các loại khoáng sản có giá trị công nghiệp. Nổi bật nhất và có nghĩa kinh tế hơn cả là đá vôi, sét và thêm nữa là than bùn. Bảng tổng hợp dưới đây cho thấy sự phân bố các mỏ khoáng sản theo các huyện ở tỉnh Hà Nam.
STT Nhóm, phân nhóm khoáng sản Số lượng mỏ Nhóm phi kim loại Nhóm
nhiên liệu (than bùn)
Đơn vị hành chính Hóa chất Vật liệu xây dựng
1 Huyện Duy Tiên 2 2
2 Huyện Kim Bảng 10 1 7 2
3 Huyện Lý Nhân 1 1
4 Huyện Thanh Liêm 9 2 7
Cộng 22 3 17 2
1. Khoáng sản nhiên liệu (Than bùn)
Trong phạm vi tỉnh Hà nam, khoáng sản nhiên liệu có hai mỏ than bùn là than bùn Ba Sao và than bùn Hồ Liên Sơn (huyện Kim Bảng) nằm trong trầm tích Kainozoi, tuổi Holoxen sớm - giữa, nguồn gốc hồ - đầm lầy. Mỏ than bùn Ba Sao được khảo sát năm 1967 và có những đặc điểm cấu trúc, tính chất hoá lý đặc trưng cho cả hai mỏ.
1.1. Thung lũng than bùn Ba Sao dài 2 km, rộng 1 - 2km, nằm trên địa hình cacxtơ, bề mặt lồi lõm, chỗ dày nhất là 1,5m, chỗ mỏng nhất chỉ đạt 0,05m. Than bùn chỉ tập trung ở vùng trũng ngập nước. Mặt cắt điển hình (qua các công trình khai đào) gồm ba lớp từ dưới lên:
- Sét màu xám, xám đen lẫn nhiều thực vật hoá than, đôi chỗ lẫn cát, không mịn dẻo.
- Sét xám trắng, đôi chỗ lẫn ít cát và tạp chất sét mịn dẻo khá tốt, chiều dày 0,2 - 1,4m.
- Lớp than bùn màu xám đen, xám nâu, độ dày không ổn định (0,05 - 1,5m) lẫn nhiều thực vật chưa được phân huỷ hoàn toàn, bở, xốp nhẹ. Do ảnh hưởng của nước nên than bùn có chỗ sền sệt giống bùn nhão.
Lớp than bùn hầu như nằm ngang trên bề mặt thung lũng có chiều dày lớn dần từ đông bắc sang tây nam.
Mỏ than bùn Ba Sao được phân bố trên hai khu vực:
+ Khu tây nam Tam Chúc: than bùn tập trung thành những ổ thấu kính nhỏ, phân bố không đều và có trữ lượng khoảng 172,058m3.
+ Khu đông nam Tam Chúc (Ba Sao): theo cột địa tầng chung thì lớp than bùn thối nằm dưới lớp đất sét dày 1,5 - 3,5m, chiều dày lớp than bùn khoảng 1 - 12m.
Các kết quả phân tích cho thấy thành phần NPK trong than bùn Ba Sao có giá trị trung bình như sau: P2O5: 0,814%; N: 1,29%; K20; 1,48%; axit humic: 1,96%. Mỏ Ba Sao có trữ lượng 0,262 triệu tấn.
1.2. Mỏ than bùn hồ Liên Sơn được khảo sát năm 1999, phân bố dọc ven hồ Liên Sơn theo hướng bắc - nam, song tập trung chủ yếu ở phần phía nam của hồ. Khu vực tập trung khá hơn cả có chiều dài 800 - 900m, rộng 200 - 300m. Trên và dưới lớp than là sét bột màu đen, xám đen. Lớp than bùn màu nâu, xám nâu đen, dày gần 2m. còn chứa nhiều thực vật chưa phân huỷ hết. Mỏ than bùn hồ Liên Sơn có trữ lượng: 7,296 triệu tấn.
So với than bùn nhiều khu vực khác như Chương Mỹ, Xuân Mai thuộc tỉnh Hà Tây thì than bùn Ba Sao có chất lượng tốt hơn. Than bùn Ba Sao và hồ Liên Sơn có thể làm chất đốt hoặc làm phân bón vi sinh.
2. Khoáng sản làm vật liệu xây dựng, nguyên liệu công nghiệp hoá chất
Đây là nhóm khoáng sản quan trọng nhất của tỉnh Hà Nam, bao gồm đá vôi, đá sét, đôlômit và cát kết. Tuy vậy, các khoáng sản cát kết có quy mô nhỏ, đôlômit kém quan trọng, không có ý nghĩa quyết định tới sự phát triển công nghiệp khai khoáng của tỉnh mà chỉ có đá vôi và sét (đặc biệt là đá vôi) là có ý nghĩa quan trọng nhất.
2.1. Đá và Đá Đôlômit  chủ yếu ở 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng. Tổng trữ lượng của 8 khu mỏ chính là 537,044 triệu tấn. Nếu tính cả tiềm năng dự báo thì tổng trữ lượng là 2.044,629 triệu tấn; trong đó:
- Đá vôi có thể sử dụng cho công nghiệp sản xuất xi măng là 685,432 triệu tấn.
- Đá vôi cho công nghiệp hoá chất là 320,636 triệu tấn.
- Đá vôi và đôlômít có thể sử dụng làm vật liệu xây dựng thông thường là 1.074,703 triệu tấn, trong đó đá vôi xây dựng là 1.038,561 triệu tấn và đá đôlômít là 36,142 triệu tấn.
Về chất lượng đá vôi của Hà Nam
Các số liệu có được cho thấy chất lượng đá vôi Hà Nam nói chung không cao hơn các mỏ đá vôi trong các vùng lân cận như Hà Tây, Ninh Bình. Tuy nhiên, các mỏ đá vôi dùng để sản xuất xi măng của Hà Nam có thể đáp ứng yêu cầu phát triển của ngành công nghiệp này. Nếu loại trừ khả năng sai sót trong lấy mẫu, ranh giới giữa đá vôi hóa chất và đá vôi xi măng thật khó xác định rõ ràng, nhưng ranh giới giữa đôlômít với đá vôi thì đơn giản hơn nhiều, Do vậy, trong hầu hết các khu mỏ đá vôi ở tỉnh Hà Nam đều có mặt các tập đôlômít, làm cho độ tập trung trữ lượng đá vôi trong thân khoáng là không cao, phương hại tới các chỉ tiêu kinh tế - kĩ thuật của mỏ.
Dưới đây là một số mỏ đá vôi và đôlômit chính:
- Đá vôi xi măng Bút Phong ở huyện Kim Bảng với đặc điểm địa chất là: đá vôi phân lớp dày 0,7 - 1,2 m chứa các ổ, dải đá vôi đôlômít dày 700m. Chiều dày đá vôi công nghiệp là 300 m. Thành phần: CaO 52,62%, SiO2 2,55%... Trữ lượng tiềm năng: 130,751 triệu tấn (thuộc loại mỏ lớn).
- Đá vôi xi măng Hồng Sơn ở huyện Kim Bảng với đặc điểm địa chất là:
mỏ đá vôi xi măng này là một phần của dải đá vôi hệ tầng Đồng Giao dài 600m, rộng 400 mét. Từ dưới lên gồm 5 lớp:
1. Đá vôi đen, chưa rõ chiều dày.
2. Đá vôi xám đen, xám trắng lộ thành 2 khối, dày 500 mét.
3. Đá vôi chứa đôlômít, dày 5 mét.
4. Đá vôi chứa nhiều đôlômít, dày 10 mét.
5. Đá vôi đôlômít.
Thành phần: CaO 53,96%, MgO 0,42%... Trữ lượng tiềm năng: 61,706 triệu tấn (mỏ vừa).
- Đá vôi xi măng Đồng Ao ở huyện Thanh Liêm với đặc điểm địa chất là: phân bố thành dải dài 1.200 m, rộng 50 - 500m. Phần đá vôi công nghiệp phân bố ở sườn tây bắc của dảy dài trên 600 m, rộng nhất 300m. Ở phía đông nam, đá vôi công nghiệp ở dạng thấu kính xen trong đôlômít. Đá có màu trắng, xám sẫm. Thành phần: CaO 52,69%, MgO 2,39%, SiO2 0,41%... Trữ lượng tiềm năng: 12,433 triệu tấn (mỏ nhỏ).
- Đá vôi xi măng Thanh Tân ở huyện Thanh Liêm với đặc điểm địa chất: mỏ là một phần dải đá vôi phân bố ở hai khu núi Mốc và núi Đá Giãi. Tại núi Đá Giãi diện phân bố đá vôi dài 570m, rộng 100 - 370m. Đá vôi màu trắng xám, rắn chắc, có khi có những thấu kính đôlômít. Thành phần: CaO 53,30%; MgO 2,05%... Trữ lượng tiềm năng 5,388 triệu tấn (mỏ nhỏ).
- Đá vôi hoá chất Kiện Khê ở huyện Thanh Liêm với đặc điểm địa chất: đá vôi lộ trong vùng đồng bằng. Diện tích đã thăm dò: dài 500m, rộng 100m. Đá vôi công nghiệp (đá vôi sạch) màu xám, xám xanh, xám trắng có hàm lượng  Calcit >95%. Thành phần: CaO 54,23 - 54,25%; MgO 0,61 - 0,55%. Trữ lượng tiềm năng 2,222 triệu tấn (mỏ nhỏ).
- Đá vôi hóa chất Thanh Sơn ở huyện Kim Bảng với đặc điểm địa chất khu mỏ nằm gần rìa tây Công ty Xi măng Bút Sơn, với tổng diện tích 3km2, mỏ là dải núi đá cacbonat kéo dài theo phương bắc- nam, phân bố ở độ cao 75- 326m, nằm trong hệ tầng Đồng Giao. Thành phần: CaO 54,30 - 55,19%; MgO 0,57 - 0,85%; SiO2 0,13 - 0,71%. Trữ lượng tiềm năng: 163,804 triệu tấn (công nghiệp hoá chất); 415,428 triệu tấn (công nghiệp xi măng); 12,463 triệu tấn (đá xây dựng).
- Đá vôi hoá chất Thanh Nghị ở huyện Thanh Liêm với đặc điểm địa chất: khu mỏ nằm sát bờ phải sông Đáy, cách quốc lộ 1A gần 1,5km. Đá vôi lộ ra từ độ cao 7,5 - trên 180m tạo ra những núi vách dốc, kéo dài theo phương á kinh tuyến. Đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao, xét theo thành phần vật chất được chia thành 3 tầng đá vôi công nghiệp:
+ Đá vôi hoá chất (đá vôi sạch) Calcit 90 - 98%; đôlômít 0 - 3%; CaO 55,04- 55,33%; MgO 0,41 - 0,80%; Si02 0,05 - 0,16%...
+ Đá vôi xi măng Calcit 90 - 95%; đôlômit 3 - 5%; các khoáng vật khác nhỏ hơn 5%, CaO 53,89 - 54,94%; MgO 1,16 - 1,43%; Si02 0,09 – 0,20%...
+ Đá vôi xây dựng chiếm một tỷ lệ nhỏ, gồm các đá đôlômit; đôlômít - vôi màu xám tro, xám đen; kiến trúc hạt mịn nhỏ; cấu tạo phân lớp hoặc dạng thấu kính. Trữ lượng; tiềm năng 154,610 triệu tấn (công nghiệp hoá chất); 59,725 triệu tấn (công nghiệp xi măng); 0,337 triệu tấn (đá xây dựng) (mỏ lớn).
+ Đá vôi xây dựng Thanh Nghị ở huyện Thanh Liêm với đặc điểm địa chất khu mỏ là một phần trong hệ tầng Đồng Giao. Thành phần gồm đá vôi phân lớp dày, đôlômit bị cà nát mạnh, đá vôi bị đôlômit hoá. Thân quặng đá vôi có độ hạt nhỏ 0,1 - 0,3mm. Thành phần CaO 52,55%, MgO 2,3%; HO =1,15%. Trữ lượng tiềm năng 1,004 triệu tấn (mỏ nhỏ).
+ Đôlômit Bút Sơn ở huyện Kim Bảng với đặc điểm địa chất: đôlômit phân bố trong đá vôi hệ tầng Đồng Giao, tạo thành chỏm đồi thấp sườn thoải. Đôlômit thành tạo dưới dạng thấu kính gồm nhiều lớp. Mỏ gồm 3 khu vực: Hạnh Lâm, Bút Sơn, Tân Sơn. Trữ lượng tập trung chủ yếu ở Bút Sơn 51%, rồi đến Tân Sơn 33% và Hạnh Lâm chỉ có 16%.
Có hai loại đôlômit:
- Đôlômit rắn chắc, hạt trung đến mịn, màu xám đen.
- Đôlômit phong hoá phân bố ở trên mặt.
Đôlômit có thể sử dụng trong công nghiệp thuỷ tinh. Thành phần MgO 19,3- 22,68%, CaO 28,81 - 33,31%, HO 0,21 - 1,16%. Trữ lượng tiềm năng 36,142 triệu tấn (mỏ lớn).
2.2. Đất sét
Sét Hà Nam phân bố thành một dải không liên tục dọc theo phía tây quốc lộ 1A. Các mỏ sét thường nằm trên thung lũng trước núi đá vôi hoặc các phễu cacxtơ, tạo thành một mối quan hệ về không gian giữa đá vôi và sét đan xen, cài răng lược với nhau và đều có giá trị công nghiệp. Các mỏ sét ở phía đông quốc lộ 1A thường có quy mô nhỏ hơn, thường kém chất lượng công nghiệp và không ổn định.
Nhìn chung, sét ở Hà Nam đều phân bố trong trầm tích Đệ Tứ với đặc trưng chung là màu trắng phớt vàng, xám nâu, nâu gụ, màu sặc sỡ, dẻo, mịn. Nếu xét theo các đơn vị hành chính thì sét Hà Nam tập trung chủ yếu ở ba huyện theo mức độ ưu tiên nghiên cứu sử dụng là: Kim Bảng, Thanh Liêm và Duy Tiên. Các mỏ sét phân bố ở những nơi đều có điều kiện thuận lợi cho khai thác chế biến. Tuy nhiên, cần lưu ý tới mối quan hệ sản xuất công nghiệp, nông và lâm nghiệp, đặc biệt là sét gạch ngói ở vùng đồng bằng sản xuất nông nghiệp. Trữ lượng sét cho công nghiệp xi măng là 47,3 triệu tấn, vật liệu xây dựng khác là 33,8 triệu tấn.
Sét có thành phần hóa học cơ bản như dưới đây:
Thành phần Hàm lượng (%)
Nhỏ nhất Lớn nhất Trung bình
Al2O3 10 23,03 17,30
SiO2 51,12 68,90 67,74
Fe2O3 3,00 7,11 5,50
Một số mỏ sét và cát kết chính có thể kể ra như sau:
- Sét xi măng Thanh Tân ở huyện Thanh Liêm có đặc điểm là được phân bố trong lớp aluvi sông Đáy, mặt cắt chứa sét từ dưới lên gồm ba lớp:
* Lớp sét tạp sắc màu nâu xám, xám đen lẫn mùn thực vật.
* Lớp sét màu tạp sắc vàng xám hoặc vàng tươi, dày 0,7 - 3,3m, ngấm ít  hydrôxyt sắt, mịn, dẻo, đạt yêu cầu sản xuất xi măng.
* Lớp sét màu nâu nhạt, dưới chuyển sang vàng, dày 0,7 - 2,5m, tương đối dẻo, hạt nhỏ đến trung bình, có giá trị công nghiệp, chất lượng sét kém hơn lớp 2. Thành phần Si02 59,49%, Al203 17,78%, Fe203 7,27%... Trữ lượng tiềm năng 2,224 triệu tấn.
- Sét xi măng Khả Phong ở huyện Kim Bảng được phân bố trong trầm tích biển thuộc hệ tầng Hải Hưng thành dải dài 2.600m, rộng trung bình 250m. Mỏ gồm hai khu. Sét kết màu xám đen, xám tro, đôi khi phớt xanh. Trên mặt màu vàng và nâu sẫm do phong hoá. Khoáng vật sét chiếm 70%. Thành phần hoá học: CaO 0,63 - 4%; MgO 3%... Trữ lượng tiềm năng 21,453 triệu tấn.
- Sét xi măng Đồng Ao ở huyện Thanh Liêm được phân bố trong trầm tích  aluvi sông Đáy. Từ trên xuống gồm 3 lớp:
* Sét đen, xám đen, lẫn nhiều vụn thực vật có các ổ cát, dày 0,2 - 1,8m.
* Sét tạp sắc (nâu xám, xám xanh, xám tro, xám trắng), hạt mịn, dẻo, ít tạp chất, dày 0,3 - 1,3m, nằm ngang. Đây là lớp sét công nghiệp.
* Sét màu nâu, có kết hạch silic, dày 0,2 - 2m có giá trị công nghiệp. Mỏ sét phân bố ở hai khu:
- Khu Trung Đồng: lớp sét dài 975m, rộng 225m-600m, dày 2,6m.
- Khu Trung Thứ: lớp sét dài 1.950m, rộng 800-1.300m, dày 0,5-1,7m.
Thành phần Si02 60,24 - 60,35%; Al203 17,39 - 17,52%; Fe2O3 5,09- 5,94%... Trữ lượng tiềm năng: 4,406 triệu tấn.
- Sét gạch ngói Ba Sao ở huyện Kim Bảng có nguồn gốc đầm lầy ven biển được phân bố ở vùng đồi (Ba Sao) theo phương tây bắc - đông nam, dài 4,5km, rộng 1,5km. Có 4 lớp sét, trong đó có hai lớp công nghiệp (lớp 2 và 4) với tổng chiều dày hơn 10m. Khoáng vật sét 59,64%, thành phần lớp 2: SiO2 37,98 - 59%, Al203 17 - 18,02%; Fe2O3 9,35%... Trữ lượng tiềm năng 20,843 triệu tấn.
- Sét gạch ngói Yên Kinh (xã Xuân Khê - huyện Lý Nhân) nằm trong trầm tích hệ tầng Thái Bình có dạng lớp mỏng, nằm ngang, phân bố trong diện rộng, dày 0,5 - 10m, sét màu nâu gụ lẫn cát hạt nhỏ, độ dẻo và độ mịn chưa cao nhưng sản xuất ngói được. Hiện đã được khai thác để sản xuất gạch ngói với sản lượng 6 triệu viên/năm, trữ lượng tiềm năng 1 triệu m3.
- Sét gạch ngói Phủ Lý (lớp sét được khai thác để sản xuất gạch ngói) lộ trên mặt với diện tích vài km2 trong các trầm tích bở rời thuộc hệ tầng Thái Bình. Mỏ nhỏ.
- Sét gốm Đồng Văn ở huyện Duy Tiên lộ ngay trên mặt, dày 1,5m, phủ trên tầng sét là cát màu xám đen chứa tàn tích thực vật. Có thể dùng để sản xuất gạch ngói và gốm thô. Mỏ nhỏ.
- Sét gạch Duy Hải ở huyện Duy Tiên nằm trong trầm tích sông thuộc hệ tầng Thái Bình. Sét dạng lớp mỏng, nằm ngang, phân bố trên diện rộng 4,5km2, dày 1,2 - 3m. Sét màu nhũ gụ lẫn cát hạt nhỏ. Độ dẻo và mịn của sét chưa cao nhưng có thể sản xuất ngói được. Trữ lượng tiềm năng 7 triệu m3.
- Sét gạch ngói Thụy Lôi ở huyện Kim Bảng được phân bố trong trầm tích hệ tầng Hải Hưng thành dãy dài 2.100m, rộng 1.100 – 1.530m, dày 1,4m. Sét có màu xám xanh, xám tro, đôi khi phớt xanh. Trên mặt màu vàng và nâu sẫm do phong hóa, trữ lượng tiềm năng 5 triệu m3.
Cát kết Khe Non ở huyện Thanh Liêm nằm trong trầm tích lục nguyên cát bột kết, sét kết của hệ tầng Tân Lạc. Thành phần hoá học SiO2 66,48 - 87,72%, AI2O3 5,3 - 13,46%; Fe2O3 2,31 - 7,09%, trữ lượng tiềm năng 19,220 triệu tấn.
CHƯƠNG IV: ĐỊA LÝ
I. KHÍ HẬU
Khí hậu tỉnh Hà Nam phản ánh rõ rệt tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt. Số liệu khí hậu đo đạc được trong 13 năm gần đây nhất (1990 - 2001) mà Trung tâm Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam cung cấp như sau:
1. Nhiệt độ:
- Nhiệt độ trung bình năm là 23,4oC
- Tổng nhiệt độ hoạt động: 8500 - 8600oC/năm.
- Trong năm thường có 8 - 9 tháng có nhiệt độ trung bình trên 20oC (trong đó 5 tháng có nhiệt độ trung bình trên 25oC) và chỉ có 3 tháng nhiệt độ trung bình dưới 20oC, không có tháng nào nhiệt độ trung bình dưới 16oc.
Nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất có thể lên tới 37oC (tháng 6/1993, tháng 7 các năm 1996, 2001, 2002). Nhiệt độ cao nhất lên tới 39,6oC (tháng 6/1997). Trong mùa đông, nhiệt độ cao nhất cũng có thể lên trên 30oc (tháng 11 các năm 2001, 2002 là 31oC, tháng 11/2002 là 32oC).
2. Gió
Hai mùa chính trong năm (hạ, đông) với các hướng gió thịnh hành như sau:
- Mùa hạ: Gió Nam, Tây Nam và Đông Nam.
- Mùa đông: Gió Bắc, Đông và Đông Bắc.
3. Lượng mưa:
- Lượng mưa trung bình năm là 1.900mm.
- Năm có lượng mưa cao nhất lên tới 3.176mm (năm 1994).
- Năm có lượng mưa ít nhất cũng là 1265,3mm (năm 1998).
4. Độ ẩm trung bình năm
- Độ ẩm trung bình năm là 85%, không có tháng nào độ ẩm trung bình dưới 77%.
- Tháng có độ ẩm trung bình cao nhất trong năm là tháng 3 với 90,5%.
- Tháng có độ ẩm thấp nhất trong năm là tháng 11 cũng tới 82,5%.
Do nằm trong miền khí hậu phía Bắc, nên khí hậu tỉnh Hà Nam cũng thể hiện rõ rệt tính chất của miền khí hậu này, dó là: khí hậu có sự phân hoá theo chế độ nhiệt với hai mùa tương phản nhau là mùa hạ và mùa đông, cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp tương đối ngắn là mùa xuân và mùa thu.
- Mùa hạ thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9.
- Mùa đông thường kéo dài từ giữa tháng 11 đến giữa tháng 3 năm sau.
- Mùa xuân thường kéo dài từ giữa tháng 3 đến hết tháng 4.
- Mùa thu thường kéo dài từ tháng 10 đến giữa tháng 11.
Tuy nhiên, thời gian của các mùa không ổn định, có thể dài hay ngắn tuỳ từng năm do ảnh hưởng có tính quyết định của hoàn lưu khí quyển.
II. CÁC NHÂN TỐ HÌNH THÀNH KHÍ HẬU
Khí hậu tỉnh Hà Nam đuợc quyết định bởi 3 nhân tố, thể hiện cụ thể như sau:
1. Bức xạ mặt trời:
Tại mỗi nơi trên bề mặt trái đất, bức xạ mặt trời là nhân tố cực kỳ quan trọng đối với khí hậu, bởi bức xạ mặt trời cung cấp nguồn nhiệt cho lớp không khí gần mặt đất. Nhiệt độ của lớp không khí này cao hay thấp là do lượng bức xạ nhận được của mặt trời nhiều hay ít quyết định. Lượng bức xạ mặt trời nhận được phụ thuộc chặt chẽ vào vĩ độ địa lý của mỗi nơi trên trái đất. Vị trí này quyết định tính chất địa đới được thể hiện qua bức xạ mặt trời.
Tỉnh Hà Nam với điểm cực Bắc ở xã Mộc Bắc (20,42oB) của huyện Duy Tiên và điểm cực Nam ở cầu Đoan Vĩ (20,42oB) huyện Thanh Liêm. Các điểm cực này đã xác định vị trí nội chí tuyến của tỉnh Hà Nam trong suốt năm có góc nhập xạ lớn, thời điểm góc nhập xạ thấp nhất vào ngày đông chí cũng xấp xỉ 47o. Trong thời gian từ tháng 5 - 8 góc nhập xạ lớn hơn 80o. Hai lần mặt trời lên thiên đỉnh là thời điểm góc nhập xạ lớn nhất (90o) vào ngày 12/6 và ngày 2/7 hàng năm.
Trong suốt năm, thời gian chiếu sáng của mặt trời trong ngày rất dài và không có sự chênh lệch nhiều giữa mùa hạ và mùa đông. Thời gian chiếu sáng dài và góc nhập xạ lớn quanh năm khiến Hà Nam giàu năng lượng mặt trời, ánh sáng và nhiệt lượng.
Bảng 1: Bức xạ tổng cộng hàng tháng tại Hà Nam
              (Thời kỳ 1990-2002)
 Tháng
 1
 3
 7
9 
 Bức xạ tổng cộng (kcal/cm2)
5,2
5
6,1
8,7 
14,2 
14,3 
15,4 
14,1 
12,5 
 10
 11
TB tháng
Tổng năm 
10,8 
8,7
7,8
10,23 
122,8 
(Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam)
Số liệu thống kê cho thấy tổng bức xạ ở Hà Nam là 122,8 Kcal/cm2/năm, trong đó tháng thấp nhất là 5 Kcal/cm2 (tháng 2) và tháng cao nhất là 15,4 kcal/cm2 (tháng 7). Cùng với bức xạ tổng cộng, cán cân bức xạ tại Hà Nam quanh năm cũng cao, trung bình 70 - 80 Kcal/cm2/năm.
Bức xạ mặt trời ảnh hưởng trực tiếp chế độ nhiệt. Lượng bức xạ tổng cộng lớn và cán cân bức xạ quanh năm dương đã quyết định một đặc điểm nổi bật của khí hậu Hà Nam là tính chất nhiệt độ với nền nhiệt độ cao (nhiệt độ trung bình cả năm 23,4oC, trong đó có 5 tháng nhiệt độ trung bình trên 25oC).
Tuy nhiên, do vị trí địa lý của Hà Nam (mặc dù nằm trong vùng nội chí tuyến nhưng gần chí tuyến Bắc hơn là gần xích đạo) nên theo thời gian trong năm, chuyển động biểu kiến của mặt trời cũng tạo ra sự thay đổi tương đối rõ rệt theo mùa của bức xạ tổng cộng và cán cân bức xạ, góp phần cùng hoàn lưu khí quyển tạo nên hai mùa nóng và lạnh đối lập nhau.
2. Hoàn lưu khí quyển
Hoàn lưu khí quyển đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự hình thành khí hậu, đem lại những biến dạng sâu sắc trong quy luật địa đới phụ thuộc vào mặt trời. Ở khu vực nhiệt đới gió mùa như ở nước ta nói chung và Hà Nam nói riêng, hoàn lưu gió mùa là yếu tố chủ yếu chi phối các đặc điểm biến động khí hậu theo thời gian và không gian, đồng thời cũng quy định đặc điểm và chế độ thời tiết cụ thể ở từng địa phương. Thông qua sự tải nhiệt hoàn lưu mà chế độ nhiệt bức xạ ở từng địa phương vào từng thời điểm có thể bị xáo động tăng hay giảm một cách đáng kể. Những hiệu quả về sự tăng giảm độ ẩm, lượng mây và lượng mưa do hoàn lưu đem lại cũng dẫn tới những thay đổi điều kiện bức xạ mà kết quả lại tác động đến chế độ nhiệt bức xạ một cách gián tiếp. Hoàn lưu còn ảnh hưởng tới chế độ gió, đặc điểm chiếu sáng và các yếu tố hoặc các hiện tượng thời tiết khác. Tác động kết hợp của chế độ bức xạ nội chí tuyến và hoàn lưu gió mùa châu Á là nguyên nhân tạo thành một kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa độc đáo ở nước ta nói chung và ở Hà Nam nói riêng.
Hoàn lưu khí quyển ở Hà Nam là một bộ phận của hoàn lưu gió mùa miền Bắc nước ta, được hình thành do sự tác động kết hợp của ba cơ chế gió mùa châu Á: Đông Bắc Á, Đông Nam Á và Tây Nam Á, trong đó gió mùa Đông Nam Á chi phối mạnh mẽ nhất. Trong suốt cả mùa đông lẫn mùa hạ, miền Bắc nước ta chịu ảnh hưởng của nhiều trung tâm tác động khí quyển. Ngoài 2 trung tâm khí áp thường xuyên là áp thấp xích đạo và áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương, cơ chế hoàn lưu gió mùa ở miền Bắc nước ta còn chịu tác động mạnh mẽ của các trung tâm khí áp khác hoạt động theo mùa: mùa đông là áp cao Xibia và áp thấp Alêuchiên và mùa hạ là áp thấp Ân Độ - Miến Điện.
Đặc điểm nổi bật của cơ chế hoàn lưu gió mùa ở Hà Nam nói riêng và miền Bắc nói chung là sự tương phản sâu sắc giữa mùa đông và mùa hạ về tính chất, phạm vi và cường độ hoạt động của các trung tâm khí áp, các khối khí thịnh hành và hệ thống thời tiết.
2.1. Hoàn lưu mùa hạ và các hình thế thời tiết tương ứng
Trong mùa hạ, miền Nam châu Á hình thành áp thấp rộng lớn có tâm ở Ấn Độ và Pakixtan với trị số khí áp 995 mb. Dải áp thấp xích đạo lúc đó tiến về phía Bắc bán cầu và gần như liên kết với áp thấp Nam Á. Áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương được tăng cường mạnh và tiến về phía Tây Thái Bình Dương với trị số khí áp là 1.040 mb.
Sự đảo ngược điều kiện khí áp ở châu Á và giữa hai bán cầu vào mùa hạ dẫn đến sự đổi ngược hướng của các dòng không khí thổi tới châu Á so với mùa đông. Trong mùa hạ, các luồng không khí từ các vùng áp cao ngoài biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương và từ Nam bán cầu bị hút vào vùng áp thấp Nam Á một cách mạnh mẽ, tạo nên gió mùa mùa hạ ở châu Á.
Từ tháng 5 đến tháng 9, miền Bắc nước ta nằm trong vùng ảnh hưởng chung của cơ chế hoàn lưu mùa hạ này. Nhưng thực ra, gió mùa mùa hạ được tạo ra từ nhiều luồng không khí khác nhau. Đầu mùa hạ, vào tháng 5 và đầu tháng 6, khi rãnh nội chí tuyến còn chưa tiến xa lên phía bắc, không khí nhiệt đới biển Bắc Ấn Độ Dương thịnh hành tạo nên gió mùa mùa hạ ở nước ta theo hướng Tây. Luồng không khí này có bản chất nóng ẩm (nhiệt độ - 25 - 27oC và độ ẩm tuyệt đối 20 mb) và có tầng dày tới 4 - 5 km. Trước khi tới lãnh thổ miền Bắc nước ta, khối không khí này vượt qua dãy Trường Sơn, do đó trở nên rất nóng và khô, tạo nên trạng thái thời tiết khô nóng đặc trưng ở Bắc Bộ nước ta. Do tác động của áp thấp Bắc Bộ, luồng gió Tây này phải đi vòng qua vịnh Bắc Bộ và đổi hướng thành gió Đông Nam nên tính chất khô nóng đã có phần giảm bớt.
Từ tháng 7, khi giải áp thấp nội chí tuyến tiến dần lên phía Bắc và hoà nhập với áp thấp châu Á thì không khí từ xích đạo ở áp cao Nam Thái Bình Dương vượt xích đạo thổi lên, lấn át không khí nhiệt đới biển Ấn Độ Dương. Thời kỳ này thịnh hành gió hướng Nam và Đông Nam. Do hình thành và đi qua biển nên khối khí xích đạo này rất ẩm và mát hơn khối khí biển Ấn Độ Dương, ở miền Bắc nước ta, khối khí này có nhiệt độ trung bình 27 - 29oC, không bao giờ vượt quá 35 - 37oC, độ ẩm tuyệt đối thường trên 20mb và độ ẩm tương đối đạt tới 85 - 90%. Khối khí này tạo nên các trận mưa lớn mùa hạ và các đợt mưa kéo dài ở miền Bắc nước ta do thường kèm theo dải hội tụ nhiệt đới hoặc nhiễu động của bão gây nên. Khối khí xích đạo này lan rộng khắp nước ta và Nam Trung Quốc trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9 hàng năm. Suốt mùa hạ, xen giữa các đợt gió mùa Tây Nam, Nam và Đông Nam là gió tín phong từ lưỡi cao áp Tây Thái Bình Dương.
Không khí nhiệt đới biển từ Thái Bình Dương thổi vào cũng rất nóng và ẩm (nhiệt độ trung bình 27 - 29oC, độ ẩm tuyệt đối 20 mb và độ ẩm tương đối 85 - 90%). Do hoạt động trong cơ chế rìa cao áp nên khối khí này thường đem tới trạng thái thời tiết quang đãng và ổn định. Tuy nhiên, trong thời kỳ đầu khi mới xâm nhập vào đất liền hoặc khi kết hợp với các nhiễu động kiểu hội tụ, nó vẫn có thể gây ra các trận mưa lớn trên miền Bắc nước ta. Khối khí này chiếm ưu thế vào đầu và cuối mùa hạ với tần suất 35 - 40%. Vào mùa hạ, miền Bắc nói chung và Hà Nam nói riêng còn chịu ảnh hưởng của bão nhiệt đới từ biển Đông và Thái Bình Dương. Thời kỳ bão hoạt động mạnh nhất vào các tháng 7, 8 và 9. Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng thấp nên cũng bị ảnh hưởng bởi các trận bão này (chủ yếu là mưa lớn).
2.2. Hoàn lưu mùa đông và các hình thế thời tiết tương ứng
Trong mùa đông, lục địa châu Á rộng lớn bị lạnh nên tạo ra áp cao nhiệt tính Xibia. Áp cao này phát triển mạnh nhất vào tháng giêng khi trị số ở tâm đạt tới 1.040 mb bao trùm khu vực hồ Bai-can và chi phối phần lớn lục địa châu Á. Thời kỳ này áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương thu hẹp phạm vi và lùi xa về phía đông đến quần đảo Ha-oai. Trị số khí áp khoảng 1.020 mb. Tại vùng Bắc Thái Bình Dương, giữa hai áp cao đó hình thành một áp thấp A-lêu-chiên với trị số khí áp 1.000 mb. Dải áp thấp nội chí tuyến di chuyển về phía nam theo chuyển động biểu kiến của mặt trời. Vào tháng giêng, áp thấp này nằm ở Nam bán cầu. Sự chênh lệch khí áp đã tạo nên các dòng không khí chuyển động từ các áp cao đến áp thấp. Theo đó, không khí lạnh từ gần địa cực xâm nhập vào vùng nhiệt đới, tràn vào nước ta tạo nên gió mùa mùa đông ở các tỉnh phía Bắc. Ngoài ra, miền Bắc nước ta còn chịu ảnh hưởng bởi gió tín phong Bắc bán cầu đưa các khối khí nhiệt đới từ biển Thái Bình Dương vào. Loại gió này thường hoạt động mạnh vào các thời kỳ suy yếu của gió mùa Đông Bắc. Như vậy, hoàn lưu mùa đông ở nước ta là sự kết hợp xen kẽ giữa gió tín phong Bắc bán cầu và gió mùa mùa đông.
Gió mùa Đông Bắc chi phối mạnh mẽ thời tiết miền Bắc nói chung và Hà Nam nói riêng trong thời gian từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau (mạnh nhất là các tháng 12, 1 và 2). Trong mùa đông, không khí từ cao áp Xibia tràn vào nước ta qua lục địa Trung Quốc hoặc vòng qua biển Tây Thái Bình Dương. Tuỳ theo điều kiện cụ thể và tính chất của không khí cực đới này biến đổi nhiều hay ít: vào nửa đầu mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau) miền Bác nói chung và Hà Nam nói riêng chịu ảnh hưởng của không khí cực đới khô vì đi qua lục địa Trung Quốc. Đây là khối khí lạnh nhất và khô nhất ở miền Bắc nước ta trong mùa đông. Tính chất nhiệt ẩm của khối khí này thay đổi đáng kể theo thời gian. Tháng giêng là thời kỳ nhiệt độ và độ ẩm đều xuống thấp nhất.
Thời kỳ thịnh hành của khối không khí cực đới biến tính qua lục địa cũng là mùa khô ở tỉnh Hà Nam. Khi những đợt không khí lạnh cực đới biến tính khô tràn về, nhiệt độ không khí ở Hà Nam có thể giảm nhanh hàng chục độ trong vòng 24 giờ khiến cho biên độ nhiệt trong ngày có thể lên đến 15 - 20oC. Ban ngày trời quang đãng và nắng hanh, ban đêm lạnh giá do mặt đất bức xạ nhiệt mạnh. Vào nửa cuối mùa đông, tâm của áp cao Xibia lùi về phía đông, vì vậy để tới được phương nam, khối khí cực đới này phải đi vòng qua biển, tiếp xúc với bề mặt nước lạnh trong thời gian khá dài. So với không khí cực đới biến tính khô thì khối không khí biến tính qua biển ẩm hơn và độ ẩm tăng lên rõ rệt. Khi tràn vào lãnh thổ nước ta, không khí thường bão hoà (độ ẩm tuyệt đối thường là 9 - 11g/kg). Vào cuối mùa đông nhiệt độ trung bình của các khối không khí này có thể tăng thêm lên 3 - 5oC và độ ẩm tăng thêm lên 3 - 4 mb. Không khí cực đới biến tính ẩm tạo nên một kiểu thời tiết ẩm ướt, trời đầy mây, thường có mưa phùn và biên độ nhiệt trong ngày ít. Thời gian thịnh hành của khối khí này thường trùng với mùa mưa phùn đặc trưng vào nửa cuối mùa đông ở miền Bắc nói chung và Hà Nam nói riêng.
Trong thời kỳ gió mùa cực đới ngừng hoạt động, gió tín phong hoạt động mạnh từ rìa tây nam và nam của Thái Bình Dương hoặc từ áp cao phụ nhiệt đới biển Đông đem lại không khí nhiệt đới biển thực thụ, hoặc không khí cực đới đã bị nhiệt đới hoá trên biên Đông. Các khối khí này ấm và ẩm hơn nhiều so với các khối khí cực đới. Khi gió tín phong thịnh hành tạo nên trạng thái thời tiết ấm, trời quang mây và nắng giữa mùa đông. Không khí nhiệt đới biển tuy có mặt trong suốt mùa đông, nhưng chỉ chiếm ưu thế trong những tháng đầu mùa và cuối mùa. Do chứa lượng ẩm cao và bắt nguồn từ biển, nên không khí nhiệt đới biển là nguồn cung cấp lượng mưa chủ yếu trong mùa đông ở miền Bắc nước ta. Nửa cuối mùa đông, không khí nhiệt đới biển rất ẩm khi tràn vào miền Bắc nước ta gặp phải miền đất lạnh nên dễ dàng ngưng kết, gây nên mưa phùn rả rích kéo dài, trời ấm và đầy mây. Ở Hà Nam, trạng thái thời tiết này thường diễn ra vào tháng 2 và tháng 3 hàng năm.
2.3. Tính chất mặt đệm
Đây là một trong ba nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến khí hậu. Khác nhau rõ rệt nhất là mặt đệm đất liền và mặt đệm nước. Theo lý thuyết, nếu lấy bức xạ mặt đất hấp thu là 100% thì có 43% đi thẳng vào không khí để làm nóng không khí, còn 5 - 7% truyền sâu xuống đất. Cũng trong số lượng 100% đó ở mặt nước thì chỉ có 0,4% truyền cho không khí, còn 99,6% truyền sâu xuống nước. Như vậy, mặt đệm rắn có thể nhường cho không khí ngay một lúc một lượng nhiệt lớn còn nước thì toả xuống các nước lớp sâu phần lớn nhiệt của nó và chỉ nhường cho không khí một lượng nhiệt rất nhỏ mà thôi. Cho nên trong thời kỳ nhật chiếu chiếm ưu thế, nghĩa là trong mùa hạ và trong mùa khác thì về ban ngày, không khí trên mặt đất thường nóng hơn rất nhiều so với không khí trên mặt nước. Ngược lại, trong thời kỳ phát xạ ban đêm và mùa đông, khi mặt đệm lạnh đi do phát xạ, bề mặt đất không còn lượng nhiệt dự trữ lớn nữa sẽ lạnh đi rất nhiều và làm cho không khí ở các lớp lân cận cũng lạnh đi. Mặt nước khi lạnh đi sẽ lấy nhiệt từ các lớp nước sâu hơn. Cho nên không khí trên mặt đất thường lạnh hơn không khí trên mặt nước. Sự chênh lệch đó đặc biệt lớn trong biến trình năm của nhiệt độ.
Ngoài ra, còn làm tăng lượng mưa và độ ẩm không khí. Trung bình biên độ ngày của nhiệt độ trong rừng thấp hơn ngoài đồng là 2oC.
Ảnh hưởng của mặt đệm đối với nhiệt độ không khí biểu hiện đặc biệt rõ rệt trong lớp không khí gần mặt đệm, dày độ 1 - 1,5m. Lên cao ảnh hưởng này giảm dần.
Ở tỉnh Hà Nam, diện tích có rừng bao phủ chiếm 4.661 ha / 84.171 ha diện tích toàn tỉnh tức là chiếm 5,53% diện tích lãnh thổ; đất trống đồi trọc chiếm 6.645 ha tức là 7,89% diện tích lãnh thổ; núi đá chiếm 2.890 ha tương đương 3,43% diện tích lãnh thổ. Do tác dụng của rừng và cộng với địa hình đồi núi mà nơi đây có loại tiểu khí hậu khác với vùng đồng ruộng, có nhiệt độ trung bình năm là 23oC và lượng mưa 2000mm/năm.
Nói tóm lại, tính chất mặt đệm ở Hà Nam góp phần tạo nên sự phân hoá khí hậu theo không gian và thời gian, làm cho khí hậu Hà Nam mang tính đa dạng mặc dù nó vẫn phản ánh rõ rệt đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa của miền khí hậu phía Bắc.
III. CẤU TRÚC MÙA KHÍ HẬU
Như trên đã nói, hoàn lưu khí quyển với hai mùa gió khác nhau chi phối mạnh mẽ khí hậu của miền Bắc và tỉnh Hà Nam. Nhân tố phi địa đới này đã phá vỡ tính chất địa đới của khí hậu do bức xạ mặt trời tạo ra. Nếu bức xạ mặt trời của vùng nội chí tuyến tạo nên nền nhiệt độ cao quanh năm, thì hoàn lưu gió mùa mùa đông thông qua sự tải nhiệt hoàn lưu lại gây ra sự suy giảm nhiệt độ một cách khác thường ở miền Bắc (trong đó có tỉnh Hà Nam) so với các nơi khác cùng vĩ độ trên trái đất. Điều này tạo ra một mùa có nhiệt độ thấp rõ rệt mà ta gọi là mùa đông. Nó khiến cho hệ thống tự nhiên phức tạp và tác động không nhỏ tới đời sống và hoạt động của con người theo nhịp điệu hoạt động của hoàn lưu gió mùa. Hoàn lưu gió mùa còn làm cho chế độ ẩm trong năm bị phân hoá thành một mùa ẩm và một mùa khô tương ứng với độ ẩm của các khối khí đặc trưng theo mùa.
Như vậy, sự phân hóa mùa khí hậu ở Hà Nam được đặc trưng bởi sự phân hóa chế độ nhiệt. Đây là nhân tố quan trọng nhất, cơ bản nhất, quyết định đến tính nhịp điệu của các hiện tượng tự nhiên cũng như đời sống và sản xuất của con người tại Hà Nam. Sự phân hoá nhiệt độ tạo ra hai mùa nóng và lạnh tương phản nhau là đặc điểm rõ rệt của khí hậu miền Bắc nói chung và Hà Nam nói riêng. Giữa hai mùa nóng và lạnh là thời kỳ chuyển tiếp tương đối ngắn mà ta vẫn thường gọi là mùa xuân và mùa thu.
1. Mùa hạ. Mùa hạ ở Hà Nam thường kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9. Đây cũng là mùa mưa trong năm. Trạng thái đặc trưng của mùa này là nóng và ẩm (nhiệt độ trung bình là 28 - 29oC, độ ẩm tương đối 88%). Thỉnh thoảng trong mùa hạ lại có những đợt nắng nóng gay gắt. Tuỳ từng năm, mùa hạ có thể có số đợt nắng nóng nhiều hay ít (mùa hạ năm 2000 hầu như không có đợt nắng nóng kéo dài nào, nhưng năm 1998 có tới 3, 4 đợt). Tháng 6 đã có lần nóng tới 38oC, chưa từng có trong 40 năm trở lại đây.
Trong những ngày nắng nóng gay gắt, nhiệt độ có thể tới 35 - 36oC và cao hơn. Những đợt nắng nóng gay gắt này do hoạt động của hoàn lưu gió Tây khô nóng gây ra. Thông thường trong toàn mùa có 2/3 số ngày nóng và rất nóng (trong đó số ngày rất nóng chiếm khoảng 15 - 20%, còn lại 1/3 số ngày dịu mát hơn). Số ngày có mưa chiếm khoảng 50%, còn số ngày khô chiếm khoảng 20%, số ngày ẩm không mưa chiếm khoảng 30%.
Biến trình mùa của các loại hình thời tiết trong mùa hạ theo xu hướng tăng dần nhiệt độ và lượng mưa vào giữa mùa (tháng 7) sau đó ngược lại, nhiệt độ và lượng mưa giảm dần. Vào tháng 5, thời tiết nóng đã thể hiện rõ rệt qua nhiệt độ trung bình nhiều năm đo được là 26,7oC (so với tháng 4 chỉ 23,8oC). Tuy vậy, trong tháng 5 ít khi xuất hiện thời tiết nắng nóng gay gắt. Lượng mưa trong tháng 5 đã tăng lên rõ rệt so với tháng 4 (trung bình là 250mm so với 69,3mm). Số ngày nóng và rất nóng tăng dần từ tháng 5 đến tháng 6 và tháng 7 (60% rồi đến 70% và 80%), còn số ngày dịu mát ngày càng giảm đi. Trong tháng 7, số ngày rất nóng thường chiếm 25 - 30%. Số ngày có mưa và lượng mưa cũng tăng dần: Trung bình là 250mm (tháng 5), 265mm (tháng 6) và 297mm (tháng 7). Nếu vào đầu mùa hạ, số ngày khô thường chiếm 30 - 40% thì đến tháng 7 chỉ còn khoảng 15 - 20%; Nếu vào đầu mùa, thời tiết khô do ảnh hưởng của hoàn lưu gió Tây, thì vào giữa mùa, thời tiết khô do ảnh hưởng của đới tín phong; Bắc bán cầu. Sang tháng 8, nhiệt độ có phần giảm đi so với tháng 7 (trung bình là 28,3oC so với 29,1oC), nhưng số ngày mưa và lượng mưa lại tăng lên (trung bình là 319,5mm) do đây là thời kỳ mưa bão nhiều nhất trong năm. Sang tháng 9 nhiệt độ giảm đi càng rõ rệt hơn nữa (trung bình chỉ còn 26,9oC), số ngày nắng nóng chỉ còn 6 - 7% và thời tiết dịu mát đã có phần chiếm ưu thế rõ rệt. Số ngày mưa và lượng mưa giảm đáng kể (còn 270mm).
2. Mùa đông. Mùa đông ở Hà Nam kéo dài khoảng 3-4 tháng tùy từng năm và thường chỉ thể hiện rõ rệt trong 3 tháng (từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau), nhưng có năm, mùa đông có thể đến sớm từ tháng 11 và có thể kéo dài đến tháng 3 năm sau. Đó là những năm mà áp cao Xibia hoạt động rất mạnh, đưa khối khí cực đới về phía nước ta dưới hình thức các đợt gió mùa mùa đông với tần suất cao và cường độ mạnh. Trạng thái thời tiết đặc trưng của mùa này là kiểu thời tiết nóng lạnh bất thường xen kẽ nhau khiến cho biên độ nhiệt giữa những ngày lạnh và nắng ấm có thể lên tới 15 - 20oC.
Biến trình mùa của các loại hình thời tiết mùa đông theo xu hướng lạnh dần và lượng mưa cũng giảm dần từ đầu mùa đến giữa mùa (tháng giêng năm sau), sau đó ngược lại thời tiết ấm dần và lượng mưa tăng dần.
Đầu mùa đông, số ngày nắng ấm chiếm phần chủ yếu (3/4), thỉnh thoảng mới có những đợt lạnh bất thường với cường độ yếu, chưa đủ để lấn át các khối khí nóng, số ngày lạnh không nhiều và hầu như rất hiếm có ngày rất lạnh. Nhưng đến giữa mùa, số ngày lạnh và rất lạnh tăng lên nhiều (chiếm khoảng 70 - 75%), trong đó số ngày rất lạnh chiếm khoảng 20 - 25%. Số liệu quan trắc nhiều năm cho thấy, nhiệt độ trung bình các tháng nửa đầu mùa đông được thể hiện như sau: Tháng 11 là 21,3oC, tháng 12 là 18,1oC và tháng giêng năm sau là 17,2oC. Nửa đầu mùa đông cũng là thời kỳ khô nhất trong năm với số ngày mưa rất ít, lượng mưa ít và có chiều hướng ngày càng giảm (tháng 11: 789,7mm; tháng 12: 26,95mm; tháng giêng: 29mm). Những ngày không có mưa là những ngày thời tiết lạnh và rất lạnh khi khối khí lạnh cận cực biến tính đi qua lục địa Trung Quốc tràn xuống miền Bắc nước ta. Đây là thời kỳ hanh khô nên rất dễ gây hạn hán và hỏa hoạn.
Đến nửa cuối mùa đông, thời tiết ấm dần lên (nhiệt độ trung bình tháng 2 là 17,6oC, tháng 3 là 20,1oC) do góc nhập xạ tăng lên khi mặt trời chuyển động dần về phía Bắc bán cầu. Cùng lúc đó, số ngày có mưa tăng lên, số ngày khô giảm đi chỉ còn khoảng 20 - 25% và lượng mưa tăng rõ rệt với lượng mưa trung bình tháng 3 là 87,5mm so với tháng 1 là 29mm. Hình thái thời tiết ấm và có mưa phùn là khá phổ biến vào cuối mùa đông, phù hợp với thời kì khối khí cận cực biến tính đi qua vịnh Bắc Bộ xâm nhập vào vùng đồng bằng. Thời tiết này rất thuận lợi cho nông nghiệp, nhưng cũng tạo ra nguy cơ dịch bệnh phá hoại mùa màng.
3. Giai đoạn chuyển tiếp (mùa xuân và mùa thu)
Đây là giai đoạn giao tranh giữa hai hệ thống hoàn lưu mùa hạ và mùa đông. Tâm điểm của các giai đoạn chuyển tiếp này là tháng 4 và tháng 10. Đặc trưng của các giai đoạn này là sự biến động mạnh của thời tiết và độ biến thiên cao của các yếu tố khí hậu trung bình tháng. Trong giai đoạn chuyển mùa này, xuất hiện đủ loại hình thời tiết trong năm. Đây cũng là giai đoạn hoạt động mạnh nhất của đới tín phong xâm nhập vào lãnh thổ miền Bắc nước ta, khiến cho trạng thái thời tiết ấm (mùa xuân) và mát (mùa thu) rất phổ biến.
Trong mùa xuân, thời tiết có xu hướng ấm dần lên và lượng mưa cũng tăng lên, chuyển dần từ mùa khô sang mùa mưa. Ngược lại, trong mùa thu, thời tiết diễn biến theo xu hướng từ mùa nóng sang mùa lạnh với nhiệt độ giảm và lượng mưa cũng giảm, chuyển dần từ trạng thái thời tiết nóng ẩm sang trạng thái thời tiết lạnh và khô.
Tuỳ theo tình hình cụ thể về sự hoạt động và thời gian diễn ra sự tranh chấp của các hệ thống hoàn lưu khí quyển mà giai đoạn chuyển tiếp (mùa xuân và mùa thu) giữa hai mùa chính trong năm (mùa hạ và mùa đông) có thể dài hay ngắn. Tuy nhiên, những giai đoạn chuyển tiếp này thường không kéo dài quá 2 tháng, mà trung bình chỉ khoảng 1 tháng rưỡi.  
Như phần địa hình đã trình bày, tỉnh Hà Nam có địa thế thấp với đại bộ phận lãnh thổ là đồng bằng, chỉ ở rìa phía tây nam thuộc địa phận 2 huyện Thanh Liêm và Kim Bảng mới có núi, đồi nhưng là núi, đồi thấp với độ cao không đáng kể nên chưa đủ khả năng là nhân tố chi phối khí hậu toàn tỉnh mà chỉ có thể tạo nên một tiểu vùng khí hậu có phần khác biệt với vùng đồng bằng rộng lớn kế cận. Vì vậy nhân tố địa hình không tạo nên sự thay đổi về bán chất và nhịp điệu chung của các mùa khí hậu ở tỉnh Hà Nam.
IV.CÁC YẾU TỐ KHÍ HẬU
Khí hậu Hà Nam thể hiện tính chất chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt ở Việt Nam; mặt khác, nó cũng thể hiện tính chất của miền khí hậu phía Bắc với hai mùa nhiệt tương phản nhau rõ rệt; kèm theo là chế độ gió, mưa, độ ẩm, độ bốc hơi... cũng có sự phân hoá rõ rệt theo mùa. Dưới đây là sự thể hiện các yếu tố khí hậu của tỉnh Hà Nam.
1. Chế độ nhiệt
Như trên đã trình bày, do vị trí nội chí tuyến của tỉnh Hà Nam nên có bức xạ tổng cộng lớn và cân bằng bức xạ cao, khiến cho tỉnh Hà Nam có nền nhiệt độ cao với nhiệt độ trung bình mùa hạ 27oC và nhiệt độ trung bình mùa đông 18oC (xem số liệu trong phần đặc điểm khí hậu tỉnh Hà Nam và Bảng 2, Bảng 3 dưới đây).
Bảng 2. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm tại Hà Nam
(Thời kỳ 1990 - 2002)
  Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 Nhiệt độ TB (oC)
 17,2
17,6 
20,1 
23,8 
26,7  
28,8 
29,1  
 8
 9
 10
 11
 12
 28,3 
26,9  
24,7  
21,3  
18,1  
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Nhiệt độ trung bình năm tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Năm
 1990
 1991
1992
1993
 1994
 1995
1996 
 Nhiệt độ TB (oC)
23,6 
23,9 
23,1  
23,4  
23,7 
23,3 
23,0  
 1997
 1998
 1999
 2000
 2001
 2002
 TB
 23,8 
24,3  
23,5  
 23,4 
23,4  
 23,8
23,4  
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Vị trí nội chí tuyến quyết định nền nhiệt độ cao của tỉnh Hà Nam, làm cho gió mùa Đông Bắc trong mùa đông bị biến tính nhanh chóng, khiến cho các đợt lạnh trong mùa đông chỉ kéo dài vài ngày nếu không có sự bổ sung liên tục của gió mùa Đông Bắc.
Về lý thuyết, điều kiện địa đới của tỉnh Hà Nam trong mùa đông khi góc nhập xạ nhỏ nhất trong năm vẫn có thể duy trì nền nhiệt độ 18oC - 24oC, vượt ngưỡng gây cảm giác lạnh cho con người (17oC) và đó là nhiệt độ của thời tiết mát mẻ dễ chịu.
Chế độ nhiệt ở Hà Nam có sự phân hoá theo thời gian trong năm giữa mùa hạ và mùa đông. Mùa hạ với tháng nóng nhất thường là tháng 7 có nhiệt độ trung bình 29,1oC, xảy ra sau khi mặt trời lên thiên đỉnh lần thứ hai. Nhiệt độ cao tuyệt đối đo được là 39,6oC (tháng 7 năm 1997). Tháng lạnh nhất trong mùa đông thường là tháng 1 có nhiệt độ trung bình 17,2oC, xảy ra sau khi mặt trời lên thiên đỉnh ở chí tuyến Nam. Nhiệt độ thấp tuyệt đối đo được là 5oC. Biên độ nhiệt giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất trong năm tới 11,9oC. Biên độ nhiệt giữa nhiệt độ cao nhất và nhiệt độ thấp nhất tới 34,6oC.
Sự phân hóa về chế độ nhiệt giữa hai mùa nóng và lạnh ở Hà Nam được giải thích là do sự kết hợp của hai nguyên nhân sau.
- Thứ nhất, khối khí cận cực phương Bắc từ cao áp Xibia với gió mùa mùa đông đã phá vỡ tính chất địa đới của khí hậu Hà Nam, tạo ra các đợt lạnh lẽ ra không có ở vùng nội chí tuyến như Hà Nam. Tùy theo cường độ của gió mùa mùa đông mà nhiệt độ có thể xuống thấp nhiều hay ít (biên độ nhiệt trước và sau khi có gió mùa thường trung bình từ 10 - 15oC, có khi trên 15oC đối với các đợt lạnh giữa mùa đông). Tuỳ theo tần suất xuất hiện của gió mùa mùa đông mà các đợt lạnh có thể chỉ kéo dài trung bình 4 - 5 ngày mỗi đợt, nhưng cũng có khi kéo dài hơn 10 ngày, thậm chí hơn 15 ngày nếu tần suất xuất hiện liên tục.
- Thứ hai, vị trí địa lý của tỉnh Hà Nam như trên đã trình bày là vị trí gần chí tuyến Bắc hơn là gần xích đạo, nên có chênh lệch khá lớn về góc nhập xạ (nhỏ nhất vào ngày đông chí với 47o và lớn nhất là hai lần mặt trời lên thiên đỉnh với 90oC). Điều này dẫn tới lượng bức xạ nhận được từ mặt trời cũng có sự chênh lệch đáng kể mà hệ quả là sự chênh lệch giữa mùa đông và mùa hạ. Hơn nữa, do có vị trí khá gần lục địa Trung Quốc nên Hà Nam chịu ảnh hưởng của gió mùa mùa đông rất rõ rệt, góp phần tạo ra sự suy giảm nhiệt độ một cách mạnh mẽ.
Sự phân hóa về chế độ nhiệt theo thời gian cũng thể hiện giữa nhiệt độ ban ngày và ban đêm, rõ rệt nhất vào những tháng trời hanh khô (biên độ nhiệt có thể tới 12 - 14oC). Trong thời kỳ hanh khô, trời quang mây, ban đêm mặt đất bức xạ nhiệt rất mạnh khiến nhiệt độ không khí giảm nhanh, tạo nên biên độ nhiệt rất lớn giữa ngày và đêm. Ngược lại, vào thời kỳ có mưa phùn trời âm u, ít nắng thì biên độ nhiệt ngày đêm là không đáng kể.
Sự phân hóa về chế độ nhiệt ở Hà Nam còn thể hiện về không gian lãnh thổ. Ở vùng đồng bằng, nhiệt độ trong mùa hạ thường thấp hơn và nhiệt độ trong mùa đông thường cao hơn vùng núi thuộc các huyện Thanh Liêm và Kim Bảng. Trong các thung đá vôi, ban ngày mùa hạ có thể nóng trên 43 - 45oC. Lý giải điều này là do địa hình mang lại, đặc biệt với địa hình núi đá vôi hầu như rất ít cây cối thì sự hấp thu nhiệt và sự tỏa nhiệt đều diễn ra rất mạnh, khiến cho mùa hạ rất nóng và mùa đông lại rất lạnh so với vùng đồng bằng không có núi.
Biến trình năm của nhiệt độ ở Hà Nam cho thấy, vào mùa hạ, nhiệt độ trung bình các tháng chênh lệch nhau không đáng kể hoặc thường dưới 2oC. Ngược lại vào mùa đông, giữa các tháng đầu và cuối mùa so với tháng lạnh nhất vào giữa mùa thì nhiệt độ trung bình có thể chênh lệch trên 4oC.
2. Chế độ gió
Chế độ gió ở Hà Nam phân hoá rõ rệt giữa mùa hạ và mùa đông, phản ảnh rõ rệt nhân tố hoàn lưu khí quyển là căn bản, còn nhân tố địa hình là không đáng kể (vì núi, đồi thấp). Có thể thấy ở Hà Nam có một số hướng gió chủ yếu sau đây.
- Gió Nam thịnh hành nhất vào đầu mùa hạ (chiếm 21,8%) và đứng đầu trong các hướng gió thổi trong tháng 5), tốc độ gió trung bình 3m/s phổ biến gần suốt năm. Nửa đầu mùa đông, tốc độ gió có phần giảm cùng với tần suất xuất hiện ít dần (thấp nhất trong năm là 0,8% vào tháng 12).
- Gió Đông thịnh hành gần như suốt năm, tần suất xuất hiện cao nhất vào những tháng cuối mùa đông (tối đa là 31,7% vào tháng 2). Sang mùa hạ, tần suất giảm dần đến cuối năm. Tốc độ gió trung bình 2 - 3 m/s phổ biến suốt năm.
- Gió Tây Nam thịnh hành vào giữa mùa hạ với đặc điểm khô, nóng. Tần suất cao nhất là 16,7% vào tháng 6, hầu như ít xuất hiện vào thời kỳ còn lại trong năm. Tốc độ gió trung bình đến 2 - 3m/s vào mùa hạ và 1- 2m/s vào thời kỳ còn lại trong năm.
- Gió Tây Bắc thịnh hành vào nửa cuối mùa hạ và nửa đầu mùa đông. Tần suất cao nhất là 12,4% vào tháng 9. Tốc độ gió trung bình phổ biến suốt năm là 3m/s.
- Gió Bắc - Tây Bắc giống như gió Tây Bắc, thịnh hành nhiều vào nửa cuối mùa hạ (tần suất cao nhất là 13,6% vào tháng 9) cũng là lúc tốc độ gió có thể lên tới 4m/s. Ngoài ra, còn xuất hiện vào mùa thu và đầu đông.
- Gió Nam - Đông Nam thịnh hành nhất vào mùa xuân và đầu mùa hạ với tần suất cao nhất là 12,1% vào tháng 5, tốc độ gió cao nhất thường xảy ra vào nửa cuối mùa đông (4m/s) mặc dù tần suất xuất hiện thấp (2,4% - 2,8% trong các tháng 1 và 3).
- Gió Đông Nam thịnh hành suốt năm, tần suất cao nhất với 15% là vào tháng 4. Tốc độ trung bình đến 2 - 3m/s phổ biến suốt năm.
- Gió Bắc xuất hiện suốt năm, thịnh hành nhất vào nửa đầu mùa đông với tần suất cao nhất là 33,1% trong tháng 12. Tốc độ gió trung bình đến 2 - 3m/s. Vào giữa mùa hạ, tốc độ gió yếu nhất (1m/s vào tháng 6).
- Gió Tây thịnh hành vào giữa mùa hạ với tần suất cao nhất là 10% trong tháng 7.
- Tần suất lặng gió ở Hà Nam cũng khá cao. Mùa thu và nửa đầu mùa đông, tần suất lặng gió cao nhất trong năm (tối đa là 31,7% vào tháng 12). Tần suất lặng gió thấp nhất là 7,3% vào nửa đầu mùa hạ khi có nhiều hướng gió khác nhau (Nam, Đông Nam, Đông và Đông - Đông; Nam).
Như vậy, tuỳ theo từng mùa mà có những hướng gió thịnh hành sau:
- Mùa hạ: Gió Nam với tần suất trung bình cả mùa là 12%, gió Tây Nam 9,8%, gió Bắc 9,6%, gió Đông Nam 8%, gió Đông 6,6% và gió Tây 5,3%.
- Mùa đông: Gió Bắc với tần suất trung bình cả mùa là 19,2%, gió Đông 16,7%, gió Tây Bắc 6,05% và gió Đông - Đông Bắc 4,06%.
- Mùa xuân (chỉ xét trong tháng 4): Gió Đông với tần suất 21,2%, gió Nam 20,4%, gió Đông Nam 15% và gió Nam - Đông Nam 10,8%.
- Mùa thu (chỉ xét trong tháng 10): Gió Bắc với tần suất 28,2%, gió Đông và Bắc - Tây Bắc đều 9,7%, gió Bắc - Đông Bắc 8%.
3. Chế độ mưa
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng và chịu ảnh hưởng của hệ thống hoàn lưu gió mùa nên lượng mưa ở Hà Nam nhiều, trung bình là 1.500 - 2.000mm (tính trung bình trong thời gian 1990 - 2002 là 1.834,7mm/năm).
Bảng số liệu lượng mưa trung bình hàng năm và các tháng trong năm dưới đây cho thấy rõ lượng mưa lớn ở Hà Nam (Bảng 4 và Bảng 5).
Bảng 4: Lượng mưa trung bình các tháng tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
  Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 7
 Lượng mưa TB (mm)
 29,03
25,16 
87,55 
67,27 
249,24  
264,21 
297,38  
 8
 9
 10
 11
 12
 319,49
270,35 
184,02
78,96
36,95 
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Bảng 5: Lượng mưa các năm tại Hà Nam
 Năm
 1990
 1991
 1992
 1993
 1994
 1995
 Lượng mưa TB (mm)
1949,2 
 1455,8 
 1721,3 
 1775,1 
 3175,5 
 1546,0 
 1996
 1997
 1998
 1999
 2000
 2001
 2002
2192,2  
 2354,3 
1265,0  
 1888,8 
 1503,4 
2259,1  
1758,6  
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Cũng chính vì chịu ảnh hưởng của hoàn lưu gió mùa nên chế độ mưa hàng năm ở Hà Nam phân hoá thành hai mùa rõ rệt.
Mùa mưa. Nếu theo quy định chung, mùa mưa bao gồm những tháng có lượng mưa trung bình trên 100mm thì mùa mưa ở Hà Nam thường kéo dài tới 6 tháng (từ tháng 5 - tháng 10) và chiếm khoảng 80 - 85% tổng lượng mưa cả năm. Đây là thời kỳ thịnh hành của khối khí xích đạo và nhiệt đới có độ ẩm cao, mang lại lượng mưa phong phú, các trị số lượng mưa ngày, số ngày mưa đạt cực trị thường vào tháng 7, tháng 8 và tháng 9, tương ứng với thời kỳ thịnh hành của khối khí xích đạo và hoạt động của dải hội tụ nhiệt đới cùng với bão. Lượng mưa trung bình tháng trong các tháng này thường đạt 300 - 400mm, cá biệt có thể tới 709,9 mm (tháng 7/1997), 765,4mm (tháng 9/1973). Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh của dông nhiệt (nhất là vùng núi thuộc huyện Kim Bảng và Thanh Liêm) do nhiệt độ và độ ẩm rất cao kích thích sự phát triển của các dòng đối lưu.
Mùa ít mưa. về mùa này, mưa ở Hà Nam thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau và chỉ chiếm 15 - 20% tổng lượng mưa cả năm. Thời kỳ này tương ứng với mùa đông (khi khối khí cận cực biến tính phương Bắc tràn vào nước ta) cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp là mùa xuân và mùa thu (khi có sự giao tranh giữa các hệ thống hoàn lưu mùa hạ và mùa đông, đồng thời là thời kỳ gió tín phong chiếm ưu thế).
Mùa ít mưa có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn mưa ít nhất trong năm ứng với giai đoạn thịnh hành của khối khí cận cực khô khan, diễn ra vào nửa đầu mùa đông từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau. Lượng mưa trung bình của các tháng trong giai đoạn này ít hơn 50mm/tháng, cá biệt có những trị số rất nhỏ (2,1mm-tháng 12/1996, 1,5mm- tháng 12/2000). Mưa trong giai đoạn này thường là mưa nhỏ và không kéo dài.
- Giai đoạn mưa phùn diễn ra vào nửa cuối mùa đông (tháng 2 - 3), khi khối khí cận cực biến tính đi qua vịnh Bắc Bộ nên rất ẩm. Tuy nhiên, do nhiệt độ thấp nên không có khả năng ngưng kết mạnh để tạo ra các trận mưa rào như mùa hạ mà chỉ ở dạng mưa phùn với lượng mưa không lớn nhưng lại kéo dài (vì độ ẩm không khí luôn trong tình trạng bão hoà), khiến cho số ngày có mưa và lượng mưa tăng lên rõ rệt so với giai đoạn đầu mùa đông. Số ngày mưa trong các tháng này có thể tới 10 - 12 ngày/tháng và lượng mưa có trường hợp tới hơn 100mm/tháng: 135,1mm (tháng 3/2001), 154,8mm (tháng 3/1994), thậm chí tới 239,3 mm (tháng 3/1990).
- Giai đoạn chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa hạ và ngược lại là giai đoạn chuyển mùa (mùa xuân và mùa thu) với đặc điểm là mùa xuân thì lượng mưa tăng lên để chuyển dần sang mùa hạ (mưa nhiều), còn mùa thu thì lượng mưa giảm rõ rệt đó chuyển dần sang mùa đông (ít mưa).
Tuy chế độ mưa ở Hà Nam chia ra hai mùa rõ rệt, nhưng lại rất phức tạp và thất thường do sự hoạt động của hoàn lưu gió mùa mạnh hay yếu tuỳ từng năm và do những nhân tố đột xuất như bão... gây ra. Đã có năm lượng mưa rất lớn (3.176mm - năm 1994) nhưng có năm lượng mưa lại ít hơn mức trung bình khá nhiều (1265,3mm - năm 1998). Ngay trong các tháng của mùa mưa có thể có tháng mưa rất lớn (765,4mm - tháng 9/1973), nhưng cũng có khi rất nhỏ (65,3mm - tháng 7/1998). Trong mùa mưa khi đột xuất có bão thì lượng mưa rất lớn tập trung chỉ trong vài ngày (455,3mm trong 3 ngày liên tục của tháng 9/1978), thậm chí riêng ngày 22/9/1978 lượng mưa tới 333,2mm.
Thời điểm bắt đầu và kết thúc mùa mưa cũng thay đổi tuỳ theo từng năm. Theo số liệu của Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thuỷ văn tỉnh Hà Nam cung cấp thì trong giai đoạn 1990 - 2002, có những năm mùa mưa đến sớm từ tháng 4 như năm 1997 (lượng mưa 187,9mm), năm 1999 (lượng mưa 121,6mm) và năm 2002 (lượng mưa 101,6mm). Những năm 1997, 2002, mùa mưa kéo dài tới 7 tháng (tháng 4 - tháng 10). Thậm chí có những năm ngay tháng 3 đã có lượng mưa trên 100mm như năm 1990 (lượng mưa 239,3mm), năm 1994 (lượng mưa 154,8mm), năm 1996 (lượng mưa 132,1mm) và năm 2001 (lượng mưa 135,1mm). Có năm, mùa mưa kéo dài tới 8 tháng như năm 1999 (từ tháng 4 đến tháng 11). Những năm mùa mưa kết thúc muộn thì có thể đến tháng 11 mà lượng mưa vẫn trên 100mm như năm 1990 (lượng mưa 100,2mm), năm 1996 (466,0mm) và năm 1999 (163,5mm). Tuy nhiên, cũng có những năm mùa mưa chỉ kéo dài 5 tháng (tháng 5 - tháng 9) như các năm 1991, 1992, 1993, 1995, 1996. Có những năm chế độ mưa rất đặc biệt như các năm 1990, 1994, 1996, 2001. Ngay trong tháng 3 các năm này như trên đã trình bày đã có lượng mưa lớn, nhưng đến tháng 4 lượng mưa lại rất ít (42,6mm - tháng 4/1990; 49,5mm - tháng 4/1994; 79mm- tháng 4/1996 và thậm chí chỉ 24,5mm - tháng 4/2001), thậm chí đến tháng 5/1990 lượng mưa mới chỉ có 76,3mm và mùa mưa năm đó chỉ thật sự bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào cuối tháng 11.
Trong điều kiện dồi dào ánh sáng và nhiệt độ, cân bằng nhiệt ẩm cao rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và sự phát triển của thực vật tự nhiên. Tuy nhiên, chế độ mưa ở Hà Nam chia ra hai mùa rõ rệt (mùa mưa lớn và mùa ít mưa) đồng thời có sự phức tạp và thất thường về thời gian bắt đầu và kết thúc mùa mưa, về sự phân bố lượng mưa theo thời gian và tổng lượng mưa hàng năm là hậu quả của sự phức tạp và thất thường của hệ thống hoàn lưu khí quyển và cơ chế nhiễu động gây mưa kèm theo. Điều đó gây nên những khó khăn không tránh khỏi trong đời sống và sản xuất.
4. Chế độ bốc hơi
Do Hà Nam nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng với địa thế thấp, gió nhiều suốt năm và nhiệt độ nhìn chung là cao nên lượng bốc hơi ở Hà Nam là khá cao: trung bình là 845,6mm/năm, chiếm khoảng 40 - 45% tổng lượng mưa cả năm. (Xem số liệu bốc hơi ở Bảng 6).
Lượng bốc hơi trung bình các tháng tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 Lượng bốc hơi (mm)
 59,1
44,0 
 43,2
52,8 
84,3 
90,3 

 7
 8
 9
 10
 11
 12
 Cả năm
 102,0
 74,2
68,5 
 78,3 
 76,0 
 72,9 
 845,6 
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Bảng 6 cho thấy chế độ bốc hơi có hai cực trị như sau:
- Thời kỳ nóng nhất vào giữa mùa hạ (tháng 7) cũng là lúc trị số bốc hơi cực đại (trung bình là 102mm tính trong thời kỳ 1990 - 2002, thậm chí lên tới 122,7mm vào tháng 7/1998).
Trong suốt mùa hạ, lượng bốc hơi trung bình là 450 - 500mm, xấp xỉ 30% lượng mưa cả năm.
- Thời kỳ cuối mùa đông có mưa phùn nhiều (tháng 2 hoặc tháng 3) cũng là lúc trị số bốc hơi cực tiểu (trung bình là 43,2mm trong thời kỳ 1990 - 2002, thậm chí xuống tới 32,6mm vào tháng 3/2000).
Trong suốt mùa đông, lượng bốc hơi trung bình khoảng 350mm, xấp xỉ 20% lượng mưa cả năm.
Như vậy, biến trình năm của chế độ bốc hơi diễn ra như sau:
Từ tháng 1 - tháng 3, trị số bốc hơi có chiều hướng giảm dần do hiện tượng mưa phùn tăng lên vào nửa cuối mùa đông, sau đó trị số bốc hơi tăng liên tục và cực đại vào tháng 7, sang tháng 8 và tháng 9 trị số bốc hơi giảm nhanh vì có mưa và bão nhiều, sau đó tăng lên chút ít vào thời kỳ hanh khô có tính chất chuyển mùa (vào tháng 10) rồi lại từ từ giảm dần đến năm sau.
5. Chế độ ẩm
Độ ẩm tuyệt đối của không khí ở Hà Nam có biến trình tương ứng với biến trình nhiệt độ không khí theo thời gian trong năm. Vào giữa mùa đông, là thời kỳ độ ẩm không khí tuyệt đối xuống thấp nhất (10 - 13mb). Từ nửa sau mùa đông, độ ẩm tuyệt đối tăng dần và cực đại vào giữa mùa hạ (30 - 40 mb), gấp ba - bốn lần độ ẩm tuyệt đối của không khí vào mùa khô. Sau đó, độ ẩm tuyệt đối của không khí lại giảm dần đến giữa mùa đông. Độ ẩm tương đối của không khí ở Hà Nam có trị số trung bình năm khoảng 85%. Trị số trung bình độ ẩm tương đối các tháng trong thời kỳ 1990 - 2002 cho thấy không có tháng nào trị số nhỏ hơn 77% (xem số liệu ở Bảng 7 và Bảng 8).
Độ ẩm trung bình các tháng tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Tháng 
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 Độ ẩm tương đối (%)
 86,1
 87,5
 90,5
 89,9
 87,2
 83,8
 7
 8
 9
 10
 11
 12
 83,9
 88,4
 87,9
 83,7
 82,5
 82,9
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Độ ẩm trung bình các năm tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Năm
 1990
 1991
 1992
 1993
 1994
 1995
 1996
 Độ ẩm tương đối (%)
 86,5
86,5 

 84,6
88,1 
86,1 
85,1 
 1997
 1998
 1999
 2000
 2001
  2002
  TB
86,2 
84,7 
 86,1
86,5 
87,3 
86,7 
 85,0
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Biến trình năm của độ ẩm tương đối ở Hà Nam tương tự như các vùng khác ở đồng bằng sông Hồng với hai cực đại và hai cực tiểu.
Hai cực đại là:
- Cực đại 1. Vào cuối mùa đông khi có mưa phùn nhiều là thời gian độ ẩm tương đối của không khí thường đạt trị số > 90%. Mặc dù độ ẩm tuyệt đối không lớn nhưng do nhiệt độ thấp nên không khí luôn trong tình trạng bão hòa hơi nước, gây mưa phùn kéo dài.
- Cực đại 2. Rơi vào tháng 8 hoặc tháng 9 với trị số trung bình nhiều năm đạt xấp xỉ 90% là thời kỳ hay chịu ảnh hưởng của bão.
Hai cực tiểu là:
- Cực tiểu 1. Thường rơi vào các tháng đầu mùa đông là thời kỳ lạnh và khô. Trị số trung bình nhiều năm khoảng 83%. Trị số thấp nhất những năm gần đây là 31% vào tháng 11 năm 2000.
- Cực tiểu 2. Thường rơi vào thời kỳ đầu mùa hạ khi hoàn lưu gió Tây biến tính trở nên khô nóng (gió Lào hoạt động mạnh). Trị số trung bình nhiều năm là 83,5%, trị số thấp nhất những năm gần đây là 51% vào tháng 5/2001. Tuy phân biệt hai cực đại và hai cực tiểu của độ ẩm tương đối nhưng theo số liệu quan trắc, sự chênh lệch giữa các trị số cực đại và cực tiểu giữa các tháng trong năm là không nhiều: 90,5% tháng 3 và 82,9% tháng 12, chênh lệch chỉ 7,6% nên cũng có thể nói rằng độ ẩm tương đối của không khí tại Hà Nam là cao quanh năm và khá ổn định. Điều này bảo đảm cho sự phát triển tốt của thực vật tự nhiên và cây trồng trong suốt năm.
6. Chế độ nắng
Chế độ nắng liên quan mật thiết với chế độ bức xạ mặt trời và lượng mây (xem số liệu giờ nắng ở Bảng 9 và Bảng 10).
Số giờ nắng trung bình các tháng tại Hà Nam
 Tháng
 1
 2
 4
 Số giờ nắng (giờ)
70,7 
51,7
42,6 
79,1 
148,1 
161,4 
130,1
 8
 9
 10
 11
 12
165,1 
140,1
156,0  
 131,7
100,8
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Biến trình năm của chế độ nắng diễn ra như sau:
Từ tháng 1 đến tháng 3, số giờ nắng giảm do bức xạ mặt trời còn thấp, trời u ám, có mưa phùn và nhiều mây nên đó là thời kỳ có số giờ nắng ít nhất trong năm (trị số thấp nhất là 6,9 giờ vào tháng 3/1996). Đến tháng 4, mặt trời đã chuyển về Bắc bán cầu nên bức xạ đã tăng lên rõ rệt khiến trời ấm lên, tình trạng mưa phùn và trời u ám hầu như đã chấm dứt nên số giờ nắng tăng mạnh (trung bình tháng 3: 42,6 giờ thì tháng 4 tăng lên tới: 79,1 giờ). Sang tháng 5, số giờ nắng tăng mạnh khi mặt trời lên thiên đỉnh tại Hà Nam (148,1 giờ). Từ đây, số giờ nắng tăng liên tục đến tháng 8 (165,1 giờ). Sang tháng 10 số giờ nắng vẫn cao (156,0 giờ). Đến tháng 11, số giờ nắng giảm đi rõ rệt do có gió mùa Đông Bắc và sang tháng 12 tiếp tục giảm mạnh cho đến tháng 3 năm sau.
Tổng số giờ nắng các năm tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Năm
 1990
 1991
 1992
 1993
 1994
 1995
 1996
 Số giờ nắng
 1497
 1631
 1342
 1758
 1721
 1228
 1367 
 1997
 1998
 1999
 2000
 2001
  2002
  TB
 1314 
 1619
  1372
 1459
 1421
 1300 
 1463
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Bảng số liệu cho thấy số giờ nắng trung bình cả năm tại Hà Nam 1463 giờ. Năm có trị số cao nhất là 1758 giờ (năm 1993) và năm có trị số thấp nhất là 1228 giờ (năm 1995).
7. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt
Do những đặc điểm về hoàn cảnh địa lý (vị trí địa lý nằm trong đồng bằng sông Hồng, địa thế thấp, cách biển không xa, ngoài đồng bằng là chính còn có vùng đồi núi phía Tây...) nên tỉnh Hà Nam có một số hiện tượng thời tiết đặc biệt đáng chú ý sau:
7.1. Dông
Hiện tượng dông ở Hà Nam không hiếm, trung bình mỗi năm có khoảng 46,5 ngày có dông (xem số liệu ở Bảng 11).
Các hiện tượng thời tiết đặc biệt tại Hà Nam 
(Thời kỳ 1990 - 2002)
 Tháng
 1
 2
 3
 4
 5
 6
 Mưa phùn (ngày)
 5
9,2 
11,1 
5,4 
0,2 
 Sương mù (ngày)
3,3 
2,6 
1
0,5 
0,1 
 Dông (ngày)
1,8 
4,5 
6,9 
6,5 
 7
 8
 9
 10
 11
 12
 Cả năm
 0
 0
 0
0,1  
0,4 
1,4 
31,8 
 0
 0
0,1 
0,6 
 2
3,5 
15,7 
7,2 
9,1 
 6,5
2,5 
0,5 
0,03 
51,53 
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Vào mùa hạ, dông rất phổ biến: từ tháng 5 - tháng 9, trung bình mỗi tháng có 7,2 ngày có dông. Những tháng còn lại trong năm, hiện tượng dông ít hẳn rõ rệt: trung bình chỉ còn 1,47 ngày có dông. Bảng số liệu cho thấy biến trình năm của hiện tượng dông như sau:
Từ tháng 1 đến tháng 3, dông ít xảy ra vì thời tiết còn lạnh. Sang tháng 4, hiện tượng này tăng lên rõ rệt (4,5 ngày) vì trời hầu như hết lạnh. Từ đây, hiện tượng này tăng mạnh và rất phổ biến trong những tháng mùa hạ (trị số cực đại xảy ra vào tháng 8: trung bình là 9,1 ngày có dông). Sang tháng 9, hiện tượng này giảm đi nhưng vẫn còn khá phổ biến (6,5 ngày). Từ tháng 10 đến cuối năm, hiện tượng này giảm mạnh vì gió mùa mùa đông ảnh hưởng mạnh khiến trời lạnh, hiện tượng dông hiếm xảy ra (Trị số cực tiểu là tháng 12: trung bình chỉ có 0.03 ngày có dông).
Trong cơn dông, nhiều trường hợp tốc độ gió có thể mạnh hơn tốc độ gió trong bão, gây đổ nhà cửa, cây cối, phá hoại mùa màng mặc dù chỉ xảy ra trong thời gian rất ngắn.
7.2. Bão
Nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng và cách biển không xa, nên trong mùa bão, Hà Nam chịu ảnh hưởng đáng kể. Hàng năm các cơn bão đổ bộ vào miền Bắc nước ta chủ yếu tập trung vào các tháng mùa hạ (7, 8 , 9) (xem số liệu về bão ở Bảng 12).
Số cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến miền Bắc Việt Nam
Năm
 1990
 1991
1992
1993
1994
1995
Số cơn
2
2
 3
2
4 
2
 1996
 1997
1998
 1999
2000
 2001
 2002
3
1
2
 1
0 
 1
 2
Nguồn: Trung tâm Dự báo Khí tượng - Thủy văn tỉnh Hà Nam
Theo bảng số liệu trên, tính trung bình trong thời kỳ 1990 - 2002, mỗi năm miền Bắc chịu ảnh hưởng trực tiếp của 2 cơn bão, năm nhiều nhất là năm 1994 có 4 cơn bão, năm ít nhất là năm 2000 không có một cơn bão nào. Bão là sự kết hợp của gió xoáy thổi với tốc độ cao (có thể đạt tới 28 - 30m/s) kèm theo lượng mưa rất lớn nên gây ra rất nhiều tác hại cho đời sống và sản xuất. Tại Hà Nam, lượng mưa trong trận bão tháng 9/1978 như sau: trong 7 ngày lượng mưa tới 512 mm, riêng ngày 22/9/1978, lượng mưa tới 333,2 mm. Do mưa lớn nên gây ngập úng, làm thiệt hại mùa màng nhiều khi rất nghiêm trọng; chẳng hạn, trong đợt bão 1997, toàn tỉnh Hà Nam mất trắng 1.195ha lúa, 975 ha rau màu (huyện có diện tích mất trắng nhiều nhất là Thanh Liêm với 483 ha). Số tiền điện chi phí cho tiêu úng rất lớn (ước khoảng 2.825.412.000 đồng).
7.3. Mưa phùn
Hiện tượng này thường diễn ra mạnh vào cuối mùa đông (tháng 2 - 3). Khi gió mùa thổi qua vịnh Bắc Bộ rồi xâm nhập vào vùng đồng bằng sông Hồng (trong đó có Hà Nam - xem số liệu mưa phùn ở Bảng 11).
Bảng số liệu cho thấy: Tính trung bình mỗi năm ở Hà Nam có 31,8 ngày có mưa phùn. Con số này lớn hơn rất nhiều so với các tỉnh miền núi phía Bắc (trừ vùng ven biển Quảng Ninh).
Biến trình năm của hiện tượng mưa phùn tại Hà Nam diễn ra như sau:
Từ tháng 1 - 3, hiện tượng mưa phùn ngày càng tăng. Đó là thời kỳ mưa phùn phổ biến nhất trong năm. Tháng 3 là tháng có trị số tối cao (11,1 ngày). Đến tháng 4, hiện tượng này đã giảm hẳn, chỉ còn 5,4 ngày) và tháng 5 rất ít xảy ra (chỉ còn 0,2 ngày). Mưa phùn chấm dứt trong thời kỳ từ tháng 6 đến tháng 9 rồi lại bắt đầu xuất hiện vào tháng 10 và tăng dần đến tháng 12.
7.4. Sương mù
Sương mù là hiện tượng ngưng kết hơi nước diễn ra ở lớp không khí gần mặt đất vào mùa đông và thời kỳ chuyển mùa (xuân, thu), gây giảm tầm nhìn nên ảnh hưởng đến các hoạt động giao thông và quân sự (xem số liệu sương mù ở Bảng 11).
Bảng số liệu cho thấy, trung bình mỗi năm ở Hà Nam có 15,7 ngày có sương mù. Con số này còn thấp hơn nhiều so với các tỉnh miền núi (thị xã Lạng Sơn 30 ngày, các huyện Thất Khê, Đình Lập 55 ngày).
Biến trình năm của hiện tượng sương mù ở Hà Nam diễn ra như sau:
- Từ tháng 1 đến tháng 8, số ngày có sương mù theo chiều hướng giảm dần, riêng tháng 7 và 8 không xảy ra. Tháng 9 sương mù bắt đầu xuất hiện và theo chiều hướng tăng dần và đến tháng 12 thì cực đại (3,5 ngày có sương mù). Như vậy, thời gian giữa mùa đông là lúc sương mù diễn ra mạnh nhất. Hiện tượng sương mù ở Hà Nam thường là sương mù bức xạ, xuất hiện vào ban đêm khi bức xạ mặt đất mạnh khiến cho lớp không khí gần mặt đất bị mấ nhiệt và sinh ra hiện tượng này. Buổi sáng, khi mặt trời lên thì sương mù cũng tan dần rồi mất hẳn. Trong các vùng trũng giữa núi thuộc các huyện Thanh Liêm và Kim Bảng, hiện tượng sương mù có thể kéo dài đến gần trưa mới mất hẳn.
V. PHÂN VÙNG KHÍ HẬU
Căn cứ vào sự phân hoá theo không gian của các yếu tố khí hậu cơ bản (nhiệt độ, lượng mưa), có thể chia Hà Nam ra hai tiểu vùng khí hậu với những đặc điểm có phần khác nhau, đó là:
1. Tiểu vùng khí hậu đồng bằng chiếm 85 - 90% diện tích lãnh thổ tỉnh Hà Nam và nằm về phía đông của tỉnh, với đặc điểm là: nhiệt độ trung bình năm không quá 23oC và lượng mưa không quá 2000mm.
2. Tiểu vùng khí hậu miền núi chiếm 10 - 15% diện tích lãnh thổ tỉnh Hà Nam và nằm ở phía tây của tỉnh, với đặc điểm khí hậu là: nhiệt độ trung bình năm trên 20oC và lượng mưa trên 2000mm.
Ranh giới của hai tiểu vùng khí hậu này gần như trùng với ranh giới của vùng đồi núi phía tây với vùng đồng bằng phía đông tỉnh Hà Nam.
Chương V THỦY VĂN
I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH VỀ THỦY VĂN Ở HÀ NAM
1. Hà Nam có nguồn tài nguyên nước rơi trung bình
Tài nguyên nước của Hà Nam được tạo nên bởi nguồn nước rơi từ mưa, nước từ các dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm chuyển vào lãnh thổ Hà Nam.
Hà Nam có lượng mưa trung bình năm dao động từ 1.630mm đến 1.930 mm cung cấp cho bề mặt hứng nước 845 km2 một khối lượng tài nguyên nước rơi vào khoảng 1,602 tỷ m3. Dòng chảy mặt từ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ hàng năm đưa vào lãnh thổ tối thiểu khoảng 14,050 tỷ m3. Dòng chảy ngầm chuyển qua lãnh thổ có hướng tây bắc - đông nam cũng bổ sung nước ngầm thường xuyên cho Hà Nam từ các lãnh thổ khác như Hà Tây, Hoà Bình. Nếu như tài nguyên nước ngầm khai thác chưa nhiều không cần bổ sung bằng các nguồn ngoài lãnh thổ, thì hàng năm tài nguyên nước đi vào lãnh thổ Hà Nam từ các nguồn là 15,652 tỷ m3 nước.
Kết quả tính toán cho thấy tài nguyên nước đổ vào từ dòng chảy mặt lớn gấp 9,36 lượng nước rơi.
Tài nguyên nước rơi bình quân mỗi người dân Hà Nam là 1.950 m3/người, thấp hơn mức bình quân cả nước (bình quân mỗi người của cả nước là 8.513 m3/ người). Sở dĩ như vậy vì một phần mật độ dân số của Hà Nam cao hơn mật độ dân số cả nước 4,1 lần.
Tài nguyên nước mưa tính theo bình quân đầu người không nhiều nhưng Hà Nam ở vào vị trí địa hình tương đối thấp, bề mặt lãnh thổ có nhiều ao, hồ, đầm chứa nước, lại có nhiều nước sông đổ vào, tài nguyên nước ngầm khá phong phú nên nhu cầu về nước cho sự phát triển kinh tế và đời sống là không thiếu.
Thành phố Phủ Lý - nơi giao nhau của 3 con sông 
Đáy - sông Châu - sông Nhuệ. Ảnh: ĐT
2. Hệ thống sông ngòi và kênh mương trên lãnh thổ Hà Nam
Sự cư trú của người Việt và quá trình khai thác đồng bằng sông Hồng để sản xuất nông nghiệp đã để lại dấu ấn sâu đậm là hệ thống sông đào và kênh mương dày đặc. Trừ các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu, thì các sông khác như sông Nhuệ, sông Sắt và các sông Nông Giang đều do con người đào đắp trong quá trình khai thác lãnh thổ để sản xuất nông nghiệp và mở rộng địa bàn cư trú.
Mật độ sông của Hà Nam 0,25 km/km2. Mật độ này thấp hơn so với mật độ của hệ thống sông Hồng (1km/km2) và sông Đáy (3,6 km/km2). Nhưng bên cạnh hệ thống sông, hệ thống kênh mương do con người tạo dựng lại rải khắp trên các cánh đồng và làng mạc, phục vụ nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt. Mật độ kênh mương ở những khu vực tập trung như Tiên Ngoại, phía tây núi Đọi, huyện Duy Tiên lên tới 7,2 km/km2 và còn mật độ trung bình cũng từ 5 đến 6 km/km2 và mật độ kênh mương thấp nhất cũng đạt được 3 km/km2.
3. Hà Nam có tài nguyên nước ngầm khá phong phú
Nước ngầm ở Hà Nam có trong nhiều tầng chứa nước và nhìn chung nước có chất lượng tốt đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của con người.
Lãnh thổ Hà Nam hình thành do sự bồi đắp trầm tích qua nhiều thời kỳ địa chất, từ trầm tích cacbonat dưới dạng đá vôi phân lớp dày đến trầm tích lục nguyên được bồi đắp bởi hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình. Các lớp trầm tích đó phần lớn là cát, cát sỏi, sạn, cát sạn xen với các tầng sét dày ít thấm nước nên bao chứa trong đó những thấu kính nước và những tầng chứa nước. Trầm tích biển là đá vôi tuổi Triat cũng dễ bị nước chảy hoà tan tạo thành các khe chứa nước, mạch chứa nước và động chứa nước ở dưới sâu. Hà Nam nằm ở vị trí hữu ngạn và hạ lưu sông Hồng; ngoại trừ phần đồi núi phía tây lãnh thổ, hầu khắp các khu vực đồng bằng đều có độ cao phổ biến từ 2 - 5 m thấp dần theo hướng đông bắc - tây nam; phần lãnh thổ này lại nằm kẹp giữa hai con sông lớn là sông Hồng và sông Đáy, tất cả đã trở thành điều kiện tốt để thành tạo và bổ sung nguồn nước ngầm cho lãnh thổ Hà Nam.
II. NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH HỆ THỐNG THỦY VĂN
Hệ thống thủy văn Hà Nam được hình thành như ngày nay là do sự tác động chi phối và ảnh hưởng của hàng loạt các yếu tố.
1. Yếu tố khí hậu
Chế độ khí hậu mà cụ thể là chế độ mưa và chế độ bốc hơi đã chi phối trực tiếp đến nguồn nước của hệ thống thuỷ văn. Trên lãnh thổ Hà Nam, lượng mưa hằng năm khá phong phú đã góp phần cung cấp cho bề mặt hơn 1,6 tỷ m3 nước mỗi năm. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 tập trung vào các tháng 6, 7, 8, 9 đã làm cho hệ thống thuỷ văn đạt đến cao độ về dung lượng chứa. Hệ thống sông ngòi, kênh mương vận hành mạnh mẽ với sự trợ lực của các máy bơm nước làm cho lãnh thổ Hà Nam thoát khỏi cảnh úng ngập. Cột nước do mưa tạo nên trong thời kỳ này là từ 0,9 đến 1,2 m (đã trừ đi lượng bốc hơi). Mùa mưa ở Hà Nam nói riêng và vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung là mùa nước lên của sông Hồng vào tháng 6 đến tháng 9 hằng năm.
Trong khi chế độ mưa của khu vực đồng bằng và trung du Bắc Bộ ảnh hưởng rõ rệt đến lũ của sông Hồng thì lượng mưa trên lãnh thổ các tỉnh Hà Tây, Hoà Bình và Hà Nam tác động rõ rệt đến chế độ lũ trên sông Đáy (tại thị xã Phủ Lý). Năm 2001 và 2002 nước sông Hồng bắt đầu lên cao vào tháng 6 thì nước trên sông Đáy tại Phủ Lý lại lên cao vào tháng 5 trùng hợp với lượng mưa tăng cao tại lãnh thổ các tỉnh trên vào tháng 5. Điều này phản ánh rõ rệt chế độ nước của sông bị chi phối bởi chế độ mưa trên lưu vực.
Các yếu tố khí hậu khác như nhiệt độ, độ ẩm, chế độ gió thông qua chế độ bốc hơi để tác động đến hệ thống khí hậu thuỷ văn. Bốc hơi nước hàng năm ở Hà Nam đã lấy đi khỏi lãnh thổ khoảng 714 triệu m3 nước. Những bề mặt chứa nước rộng, thoáng đãng thì nước bị bốc hơi nhiều nhất, sau đó đến thảm cây rừng nhiều tầng, rồi đến thảm thực vật trên đất nông nghiệp. Lượng bốc hơi cũng rất mạnh ở những sườn núi hút gió ở đông bắc hoặc đông nam thuộc vùng đồi núi phía tây lãnh thổ hoặc những dải đồi núi nổi lên trên đồng bằng các huyện Thanh Liêm, Duy Tiên. Nước mặt đất bốc hơi thông qua thực vật tự nhiên hay trồng trọt sẽ đem lại cho cuộc sống nhiều lợi ích hơn so với sự bốc hơi từ mặt đất hay mặt nước.
Như vậy trên một nền nhiệt cao nhưng độ ẩm lớn vào các tháng mùa mưa đã hạn chế phần nào sự bốc hơi từ mặt đất. Trong một năm ngoại trừ lượng nước đã mất đi do bốc hơi, lượng mưa đã cung cấp cho lãnh thổ Hà Nam khoảng 901,6 triệu m3 nước tham gia dòng chảy mặt, lưu giữ trong các ao, hồ, đầm và tham gia dòng chảy ngầm.
2. Yếu tố thổ nhưỡng, nham thạch
Khi nước mưa rơi sẽ dồn tụ xuống các khu vực thấp hay chuyển xuống các tầng sâu, tùy thuộc vào cấu trúc của thổ nhưỡng và nham thạch tầng mặt cũng như cường độ mưa. Khi lượng mưa và cường độ mưa như nhau, nếu tầng đất bề mặt dày và có khả năng thấm tốt thì dòng chảy gần như không phát sinh, khi tầng đất mặt chưa bão hoà nước. Nếu bề mặt cấu tạo bằng những nham thạch ít thấm nước, nước sẽ nhanh chóng bão hoà bề mặt và phát sinh dòng chảy chuyển nước đến nơi có địa thế thấp hơn. Nếu bề mặt là đá vôi mà quá trình caxtơ đã phát triển lâu dài như ở Hà Nam thì nước sẽ đi vào các khe nứt và hút vào các hang động sâu trong lòng đất khiến dòng chảy mặt thưa thớt.
Hà Nam vào những tháng ít mưa (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau), lượng mưa không vượt quá cường độ thấm của mặt đất, nhất là ở những địa điểm đất có thành phần cơ giới chủ yếu là cát pha, thịt nhẹ, nên không tạo thành dòng chảy mặt. Ngược lại vào mùa mưa, lượng mưa lớn và cường độ mưa mạnh lớp thổ nhưỡng bề mặt nhanh chóng bão hòa (nhất là trong điều kiện mực nước ngầm không sâu), thì dòng chảy mặt phát sinh chuyển nước vào các mương, máng, ao, hồ đầm và ra sông. Khi lớp thổ nhưỡng bề mặt đã bão hòa nước, lượng mưa càng lớn thì dòng chảy mặt sẽ càng mạnh.
3. Yếu tố địa hình
Địa hình có tác dụng như một nhân tố phân phối lại các yếu tố khí hậu tạo nên sự đa dạng về nguồn năng lượng trong cảnh quan. Địa hình tác động đến dòng chảy thông qua 2 yếu tố là độ cao địa hình và dạng địa hình. Với cùng lượng mưa và cùng cường độ mưa nhưng diễn ra trên các dạng địa hình khác nhau sẽ có khả năng phát sinh dòng chảy khác nhau.
Nếu mưa trên dạng địa hình cao và dốc, nước sẽ nhanh chóng theo sườn hội tụ về các thung lũng và phát sinh dòng chảy mặt. Ngược lại dạng địa hình bằng và thoải sẽ tạo điều kiện để nước thấm sâu xuống mặt đất bổ sung cho dòng chảy ngầm. Các dạng địa hình lồi như đồi gò và núi, tạo địa thế tiêu thoát nước nhanh. Trái lại những dạng địa hình âm như ao, hồ, thung lũng, lòng chảo sẽ tạo điều kiện để lưu giữ nước hoặc tập trung nước thành dòng lớn hơn để chảy đi.
Các sườn đón gió ẩm mát đông nam từ biển, có điều kiện để mưa rơi nhiều hơn và dòng chảy phong phú hơn các sườn khuất gió đông nam.
Nhiệt độ giảm dần theo độ cao với mức 0,5 đến 0,60C cho 100 mét. Như vậy chiều cao càng cao nhiệt độ thì giảm dần, độ ẩm tăng lên và lượng mưa tăng theo. Độ cao tăng, độ dốc của lưu vực sông cũng tăng, thì cùng với sự gia tăng lượng mưa sẽ dẫn đến mạng lưới sông suối dày thêm. Tương quan đó tiếp diễn đến độ cao 2.000 m.
Vùng đồi núi phía tây tỉnh Hà Nam nằm theo hướng chuyển chung của dãy núi đá vôi Kim Bôi - Ninh Bình theo hướng tây bắc - đông nam tạo điều kiện cho gió đông nam thâm nhập sâu và gây mưa lớn. Mạng lưới dòng chảy ở đây tuy không nhiều do hiện tượng caxtơ tạo ra nhiều hang động đá vôi dẫn nước xuống sâu, song lượng mưa lớn ở khu vực này góp phần làm lấp đầy các ao, hồ và đầm lầy trước núi bằng các dòng chảy mặt tạm thời như ở các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Đồng thời, sông Đáy chảy sát chân núi ở huyện Thanh Liêm cũng nhận được nguồn cấp nước dồi dào.
4. Yếu tố thực vật
Yếu tố thực vật tác động đến dòng chảy mặt, dòng chảy ngầm và mặt nước tĩnh (ao, hồ, đầm) vừa trực tiếp vừa gián tiếp thông qua thổ nhưỡng và địa hình. Với cùng một lượng mưa và thời gian mưa, nếu diễn ra trên thảm thực vật nhiệt đới nhiều tầng, bên dưới có lớp đất rừng dày với nhiều phân giải hữu cơ thì tác động của nó tới nguồn cấp nước và chế độ dòng chảy sẽ rõ rệt. Ở đây nước bốc hơi nhiều hơn do tổng diện tích mặt lá rộng. Lượng nước bốc hơi chiếm đến 20% tổng lượng mưa. Phần nước chuyển xuống các tầng nước sâu chiếm 46% nhờ bộ rễ của cây rừng, một phần nước rơi trên mặt đất rừng sẽ làm cho tầng đất mặt thấm ướt và giữ lại đến mức độ tối đa theo độ xốp đã có. Tầng đất càng dày độ lỗ hổng càng lớn thì sức chứa nước càng lớn. Như vậy thảm cây rừng đã làm tăng khả năng thấm nước và giữ nước, tăng cường lượng nước cho dòng chảy ngầm góp phần điều tiết dòng chảy cho mùa cạn. Thảm thực vật rừng cũng làm chậm quá trình tập trung nước bề mặt, hạn chế mức độ dữ dội của các trận lũ. Do sự tác động này mà xung quanh các hồ chứa nước các đập thuỷ điện người ta giữ gìn những rừng phòng hộ để phát huy tác động tích cực của các hồ chứa trong việc cung cấp nước tưới hoặc phát điện. Các dải rừng còn giữ lại và hạn chế được sự bồi lắng các sản phẩm bào mòn, xói mòn trôi xuống lòng hồ.
Với thảm cây trồng trên đất nông nghiệp, các thành phần phân phối nguồn nước tương tự như với thảm thực vật nêu trên, nhưng khối lượng nước chuyển xuống từng tầng đất sâu giảm nhiều so với thực vật rừng. Mức độ điều tiết của thảm thực vật nông nghiệp tới dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm yếu hơn nhiều so với các thảm cây rừng. Tác động của thảm thực vật trên đất nông nghiệp đến dòng chảy (mặt và ngầm) phụ thuộc vào độ che phủ mà cây trồng tạo ra và như vậy phụ thuộc vào thời gian sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Khi mật độ che phủ đạt đến cao điểm (thường là lúc cây trồng ở giai đoạn đỉnh tăng trưởng), tác động phân phối dòng chảy do mưa cũng mạnh hơn và tầng đất bên dưới sẽ nhận được nhiều nước hơn đưa xuống các tầng đất sâu. Tác động trên làm giảm sự rửa trôi và bào mòn của nước mưa bề mặt. Những trận mưa lớn trên đất nông nghiệp khi không có cây trồng hoặc cây trồng chưa phát triển sẽ làm cho đất bạc màu và chua hơn, (do quá trình rửa trôi và bào mòn diễn ra mạnh). Với thảm cây trồng là lúa mà mặt đất đã có lớp nước che phủ thì nước mưa hầu hết được lưu giữ trên bề mặt để rồi tham gia chảy tràn bề mặt, bốc hơi thực vật, bốc hơi mặt nước và thẩm thấu sâu xuống đất cung cấp cho nước ngầm.
5. Sự tác động của con người
Hà Nam là một vùng đất có lịch sử khai phá và phát triển nông nghiệp diễn ra từ hàng nghìn năm. Trống đồng Ngọc Lũ (huyện Bình Lục) là dấu tích chứng minh cho sự phát triển của nền văn minh lúa nước lâu đời trên lãnh thổ Hà Nam.
Chinh phục mảnh đất chiêm trũng ở phía nam kinh đô để phát triển sản xuất nông nghiệp đi liền với việc cải tạo hệ thống thuỷ văn đã tạo nên sức mạnh và quyền lực của con người đối với vùng đất này. Khác với đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà con người sống chung với lũ, ở đồng bằng Bắc Bộ nói chung và ở Hà Nam nói riêng, con người từng bước khống chế lũ lụt trên phương diện cục bộ (trong từng tỉnh, huyện) và cả trên phạm vi toàn vùng (bằng hệ thống đê điều và các hồ chứa lớn).
Tác động tích cực
Tài nguyên nước ở Hà Nam từng bước được điều tiết ngày càng hoàn thiện để phục vụ sản xuất, đời sống của cư dân. Để ngăn chặn những tác hại do lụt lội gây ra đe dọa các thành quả của lao động sáng tạo từ hàng nghìn năm, ngay từ đầu thiên niên kỷ thứ hai đã hình thành một hệ thống đê vững chắc ở Hà Nam dọc theo các con sông lớn như sông Hồng, sông Đáy và tiếp sau đó là đê sông Châu, sông Nhuệ, sông Sắt. Tổng chiều dài các tuyến đê lên tới 137 km, các tuyến đê bối dài tới 44,2 km góp phần bảo vệ các khu dân cư, các vùng đất bồi để sản xuất. Hệ thống kè đê bảo vệ bờ chống xói lở có chiều dài 3,5km, hệ thống mỏ kè nhằm hướng dòng nước vào trung tâm ngăn xói lở, bảo vệ các công trình dân sinh và đất bãi hai bên bờ sông.
Những tác động tích cực của con người còn thể hiện qua việc điều tiết, phân phối dòng chảy theo thời gian và theo không gian, đáp ứng các nhu cầu sản xuất và sinh hoạt. Đó là việc xây dựng hệ thống các kênh, mương đê tưới và tiêu nước; các đập giữ nước, các trạm bơm tưới, tiêu để thoát nước ra sông. Hệ thống mương tiêu đã làm cho lãnh thổ thoát khỏi cảnh úng ngập do một miền địa hình thấp, tự tiêu rất khó và lại có một mùa mưa tập trung có thể tạo nên cột nước từ 0,9 đến 1,2 m.
Hệ thống kênh dẫn nước còn có tác động tích cực nhằm đưa nước từ sông Hồng, sông Đáy, sông Châu, sông Nhuệ vào phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt trong những tháng mùa khô khi mà lượng mưa còn thấp hơn cả lượng bốc hơi.
Hệ thống kênh, mương để tưới, tiêu đã đưa mật độ dòng chảy mặt ở Hà Nam lên đến 9,5 km/km2. Đây là một giá trị rất tích cực, khó tìm thấy ở lãnh thổ thuộc các tỉnh khác.
Mạng lưới các hồ, ao tự nhiên và nhân tạo đã lưu giữ một lượng nước lớn để cung cấp cho dòng chảy ngầm và cho các hoạt động sản xuất, sinh hoạt trong mùa khô. Diện tích các ao hồ nhỏ, thùng đấu rộng đến 5.916 ha lưu giữ được khoảng 100 triệu m3 nước hàng năm.
Hệ thống kè bảo vệ bờ (tổng diện tích là 3.503 m2), kè mỏ (24 mỏ) đã cản phá tích cực sự đào xói của dòng chảy sông vào bãi bờ; nơi là đất canh tác, và là điểm cư trú của con người.
Diện tích đất có rừng ở Hà Nam tăng trong các năm (đặc biệt từ 396ha năm 1999 lên đến 1.532 ha năm 2003) đã hạn chế tính cực đoan của dòng chảy sông Đáy ở phía tây lãnh thổ của tỉnh. Phương thức canh tác nông - lâm kết hợp trên đất lâm nghiệp (đất dốc trên 200, tầng dày nhỏ hơn 10cm) đã góp phần chống xói mòn cho đất, tăng cường cho dòng chảy ngầm và sự thoát hơi từ đất.
Tác động tiêu cực
Đó là việc đưa các chất thải lỏng, chất thải rắn, chất thải khí chưa được xử lý loại bỏ các chất độc hại làm ô nhiễm môi trường nước; đó là việc làm cạn kiệt tài nguyên nước và để nước gây ra các sự cố môi trường...
Hà Nam hiện có 14.510 cơ sở công nghiệp (bao gồm các cơ sở của nhà nước, liên doanh, tư nhân và các làng nghề). Các cơ sở này đều sử dụng các hoá chất có chứa kim loại nặng như thuốc nhuộm, thuốc tẩy, hóa chất ngâm tẩm. Chất thải do các cơ sở này đưa ra mỗi năm đã làm ô nhiễm nước mặt ở các khu vực xung quanh.
Các làng nghề dệt, nhuộm, mây tre, sừng mỹ nghệ và các lò giết mổ làm cho nguồn nước bị ô nhiễm clo, sunfat, kim loại nặng và ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ thải ra.
Ở Hà Nam hiện có tới 4.226 xí nghiệp chế biến thực phẩm, các hợp chất hữu cơ và một số lượng lớn vi khuẩn do các xí nghiệp này thải ra làm ô nhiễm nguồn nước các khu vực xung quanh.
Các chất thải khí như SO2, NO2, CO, co và bụi từ các nhà máy xi măng sẵn sàng làm ô nhiễm nguồn nước mặt trên một diện rộng và có thể gây mưa axit nếu mưa với cường độ nhỏ và kéo dài.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp làm ô nhiễm nguồn nước do sử dụng các chất bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, thuốc kích thích tăng trưởng quá nồng độ, quá số lần cho phép. Điều này đã xảy ra nhất là đối với khu vực chuyên canh rau màu.
Các hoạt động chăn nuôi tập trung như nuôi lợn, trâu, bò, gà, vịt... không có những bể xử lý chất thải cũng sẽ làm ô nhiễm nguồn nước do các chất thải hữu cơ và đặc biệt do vi khuẩn Ecoli và Phecalcoli.
Sinh hoạt của con người nhất là tại những khu vực dân cư tập trung cũng dễ làm ô nhiễm nguồn nước do thải ra các chất tẩy rửa, nguồn rác hữu cơ và chất thải phân hữu cơ. Số liệu điều tra cho thấy, hiện tại Hà Nam có 48,3% hố xí hợp vệ sinh, số lớn còn lại đang là nguy cơ cao đe dọa ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, nhất là trong điều kiện địa hình thấp dễ xảy ra úng ngập do mưa.
Dân cư tập trung ở các khu vực thị xã Phủ Lý, các thị trấn Kiện Khê, Vĩnh Trụ... do quá trình đô thị mạnh, dẫn đến một bề mặt không thấm nước ngày càng lan rộng, dẫn đến tình trạng dồn nước quá nhanh vào hệ thống mương tiêu và có thể gây nên úng ngập cục bộ hoặc úng ngập theo mương tiêu, gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường đất và nước. Mặt khác sự tập trung đông dân cư trong điều kiện thiếu nguồn cấp nước đạt tiêu chuẩn khiến cho dân phải khai thác nước ngầm quá mạnh ảnh hưởng đến trữ lượng tĩnh của nước ngầm (như đã xảy ra ở thị xã Phủ Lý) và có thể gây nên sự lún dần của nền móng, ảnh hưởng mạnh đến các công trình ngầm kể cả các công trình dẫn nước.
Như vậy, hệ thống thủy văn chịu tác động mạnh mẽ của sự phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá của cư dân. Thành thử cần nhận thức đầy đủ, đánh giá đúng và đủ những tác động của mình tới môi trường nước, nhằm thiết lập một quan hệ hợp lý với tài nguyên nước, đảm bảo cho một sự phát triển bền vững.
III. CÁC HỢP PHẦN CỦA HỆ THỐNG THỦY VĂN
Hệ thống thuỷ văn của Hà Nam được cấu trúc bởi 3 hợp phần chính, đó là sông ngòi (dòng chảy bề mặt), ao, hồ, đầm (bề mặt nước tĩnh) và nước ngầm.
1. Sông ngòi
Có ba con sông lớn chảy vào lãnh thổ Hà Nam. Hai con sông xuất phát từ tỉnh cùng với các sông nhỏ (sông Châu) và hệ thống kênh, mương để tưới, tiêu làm thành một mạng lưới dòng chảy dày đặc, phục vụ sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân trong tỉnh.
1.1. Sông Hồng
Trên địa phận Hà Nam, sông Hồng là ranh giới phía đông của tỉnh với tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình. Sông Hồng đi theo rìa đông tỉnh Hà Tây và đi vào rìa đông bắc của tỉnh Hà Nam ở địa phận thôn Hoàn Dương (xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên). Từ địa phận Mộc Bắc đến Trác Văn (cùng huyện Duy Tiên) sông chảy theo hướng tây bắc - đông nam, sau đó tạo ra một cung lồi ở xã Chân Lý (huyện Lý Nhân) với bán kính khoảng 3km, rồi lại tiếp tục chảy theo hướng tây bắc - đông nam, từ địa phận xã Nhân Thịnh đến xã Hoà Hậu (huyện Lý Nhân). Sông đi ra ở rìa đông - đông nam của lãnh thổ ở địa phận thôn Tảo Môn, xã Hoà Hậu (huyện Lý Nhân) để rồi tiếp tục làm ranh giới giữa tỉnh Nam Định và Thái Bình khi chảy ra đến biển.
Trên lãnh thổ Hà Nam, đoạn sông Hồng có chiều dài 38,6 km. Chiều dài lưu vực sông (đường chim bay từ nơi đổ vào đến nơi sông ra) là 31,7 km. Lưu vực sông trên lãnh thổ Hà Nam chưa được phân chia một cách rõ ràng do hệ thống mương tiêu nội địa xóa nhòa đi; song có thể coi phần lãnh thổ phía đông của Hà Nam giới hạn bởi quốc lộ 1A từ Duy Tiên đến thị xã Phủ Lý ra phía sông Hồng, thuộc lưu vực sông Hồng tại Hà Nam.
Trên lãnh thổ Hà Nam, sông có hệ số uốn khúc (hệ số của chiều dài sông chia cho chiều dài lưu vực) là 1,2 thấp hơn hệ số uốn khúc của toàn bộ dòng sông và thấp hơn nhiều so với sông Châu và sông Đáy (đoạn chảy qua lãnh thổ Hà Nam). Sông có lưu lượng thấp nhất vào mùa kiệt là 440 m3/s và có thể tới 750m3/s vào mùa lũ. Ở Hà Nam sông Hồng không có một chi lưu hay một phụ lưu nào rõ rệt. Phụ lưu sông Châu chỉ đổ nước vào sông Hồng khi trạm bơm tiêu Hữu Bị (xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân) hoạt động. Tuy nhiên, dọc theo đê của sông xuất hiện nhiều cống tiêu nước cho lãnh thổ như các cống Nhân Thịnh, Từ Đài và các trạm bơm đưa nước vào sông Hồng như trạm Hữu Bị và Như Trác... Sông cũng là một nguồn cung cấp nước tưới có nhiều phù sa bồi bổ cho đất trồng của Hà Nam. Nguồn nước tưới được cung cấp qua các cống Yên Lạc (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên), cống Phương Trà, Phú Phúc ở Lý Nhân và đặc biệt là qua trạm bơm tưới tiêu Như Trác. Sông có vai trò tưới nước ở mức trung bình (Ka = 2,95 ).
Chế độ nước sông có hai mùa rõ rệt: mùa lũ thường bắt đầu từ tháng 6, chậm hơn mùa mưa một tháng và kết thúc vào tháng 10, đạt cao điểm vào các tháng 7 hoặc tháng 8. Mực nước cao nhất tại trạm Yên Lệnh - Hưng Yên (đối diện với xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên) trong vòng 13 năm trở lại đây đạt tới mức 7,8 mét (hệ cao độ quốc gia). Mực nước sông Hồng thấp nhất trong tháng mùa cạn (thường là tháng 1 hoặc tháng 2) chỉ còn 1,41 m.
Sông Hồng giữ vai trò tưới tiêu rất quan trọng đối với phần phía đông của lãnh thổ Hà Nam. Sông cũng tạo nên một dải bãi bồi màu mỡ với diện tích gần 10 nghìn ha, nước sông đã bồi đắp cho vùng đồng bằng phía đông của tỉnh qua hệ thống các cống lấy nước và các trạm bơm tưới trên đê sông Hồng.
Suốt theo chiều dài của sông Hồng ở Hà Nam là một tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng. Tầu thuỷ và sà lan có trọng tải trên một nghìn tấn có thể đi lại thuận tiện, chuyên chở hàng hoá trong nội tỉnh và đến các tỉnh lân cận cũng như có thể nối với tuyến đường biển Bắc Nam.
Nước sông Hồng có tính kiềm yếu (pH từ 7,4 - 8,5 ); hàm lượng cặn lắng đạt 61,7 mg/l, ngoài ra trong nước còn chứa một lượng đáng kể các ion NH4+, NO3-2 và NO2- đạt chất lượng về nước tưới khá cao.
Những phân tích cho thấy nước chưa bị nhiễm bẩn các chất hữu cơ, vi khuẩn hoặc những chất độc hại khác.
1.2. Sông Đáy
Là một nhánh của sông Hồng bắt nguồn từ Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây, chảy theo hướng tây bắc - đông nam đi vào lãnh thổ Hà Nam tại thôn Vĩnh Sơn (xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng). Trong địa phận huyện Kim Bảng, sông uốn khúc khá mạnh; nhưng hướng chính vẫn là tây bắc - đông nam. Từ Phủ Lý đến Thanh Liêm, sông chuyển thành hướng bắc - nam chảy về phía nam của tỉnh. Sông Đáy là ranh giới giữa Hà Nam và Ninh Bình bằng một đoạn chừng 2,6 km rồi đi ra khỏi lãnh thổ của tỉnh ở thôn Đoan Vĩ (xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm) gần trạm bơm Kim Thanh.
Trên lãnh thổ Hà Nam, sông Đáy có chiều dài 47,6 km; chiều dài lưu vực 35 km; tạo ra một hệ số uốn khúc là 1,36. Lưu vực sông trên địa phận tỉnh Hà Nam xác định khá phức tạp do hệ thống kênh tưới tiêu dày đặc, do sự đâm xuyên của các cống tưới tiêu qua các trục đường phân cách lớn. Nhìn chung lưu vực sông Đáy trên lãnh thổ Hà Nam bao gồm phần lãnh thổ của huyện Kim Bảng giới hạn bởi đường 21B hắt về phía tây và phần lãnh thổ của huyện Thanh Liêm giới hạn bởi đường 971 (từ thôn Bảo Lộc, xã Thanh Châu, thị xã Phủ Lý đến Đại Vương Hạ, xã Thanh Tuyền, huyện Thanh Liêm) hắt về ranh giới phía tây của tỉnh.
Tại Phủ Lý vào mùa lũ, sông Đáy có lưu lượng 7,98 m3/s và mùa kiệt có lưu lượng 2,59 m3/s. Mực nước cao nhất mà sông Đáy tạo ra ở Phủ Lý là 4,72 m (tháng 9 năm 1985), mực nước thấp nhất của sông là 0,39 m (tháng 4 năm 1963). Như vậy hàng năm sông có thể đem vào lãnh thổ khoảng chừng 0,17 tỷ m3 nước (hay 166,6 triệu m3).
Trên địa bàn Hà Nam, sông Đáy có các phụ lưu lớn là sông Nhuệ (đổ vào sông Đáy ở ngã ba sông gần cầu Hồng Phú, về phía bắc) và sông Châu (đổ vào sông Nhuệ rồi đổ vào sông Đáy ở ngã ba sông). Như vậy, lưu vực cung cấp nước cho sông Đáy ở tả ngạn là chủ yếu. Qua các trạm bơm trên bờ, sông có thể tiêu úng cho 24.196 ha ở phía hữu ngạn sông và 1.696 ha ở phía tả ngạn sông.
Ngoài vai trò tiêu nước, sông Đáy cũng cấp nước để tưới cho đồng ruộng vụ đông xuân và vụ đông qua hệ thống các cống lấy nước hoặc các trạm bơm kết hợp tưới tiêu như trạm bơm Quế, Thịnh Châu (huyện Kim Bảng), Nham Tràng và Kinh Thanh (huyện Thanh Liêm).
Nước sông Đáy có độ kiềm yếu (pH từ 7,2 đến 8,27), bị ô nhiễm nitrit cao (hàm lượng NO2- từ 0,01 đến 0,99 mg/l ), ô nhiễm vi khuẩn cao (tổng số vi khuẩn hiếu khí là 7,7 tỷ con/100ml); mức độ bị ô nhiễm amoniac, ô nhiễm các hợp chất hữu cơ là không đáng kể.
Ngoài chức năng tưới tiêu cho phần lớn lãnh thổ sông Đáy còn có tác dụng phân lũ cho sông Hồng khi mực nước sông Hồng vượt mức báo động số 3 tại Hà Nội (nghĩa là vượt quá 11,5 m).
Sông Đáy cũng tạo ra một tuyến đường thuỷ quan trọng để vận chuyển vật liệu xây dựng và các mặt hàng cồng kềnh khác từ Hà Nam đi các tỉnh lân cận.
1.3. Sông Nhuệ
Là một con sông đào dẫn nước sông Hồng từ Thụy Phương (huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội) đi vào lãnh thổ Hà Nam bằng đường ranh giới 1,7 km giữa xã Duy Hải (huyện Duy Tiên) với xã Đông Lỗ (huyện Ứng Hoà, tỉnh Hà Tây). Sông Nhuệ thuộc địa phận Hà Nam có chiều dài 14,5 km và đổ vào sông Đáy ở thị xã Phủ Lý. Trên lãnh thổ Hà Nam, sông gần như chảy thẳng theo hướng bắc - nam và uốn khúc rất ít (hệ số uốn khúc là 1,2).
Lưu vực sông Nhuệ có diện tích là một dải hẹp giới hạn bởi quốc lộ 1A từ Duy Tiên đến thị xã Phủ Lý hắt ra sông và phần lãnh thổ bên phải giới hạn bởi đường 21B và đường 977 trên địa phận huyện Kim Bảng.
Dọc theo đê bờ đông sông Nhuệ (đê Hoàng Đông) và bờ tây sông Nhuệ (đê Hoàng Tây) có nhiều cống để lấy nước và tiêu nước cho lưu vực sông. Các cống theo đê Hoàng Đông chủ yếu là các cống tiêu nước (8 cống), ngoài ra có 2 cống lấy nước. Ngược lại các cống theo bờ tây sông Nhuệ chủ yếu là lấy nước tưới (10 cống), có 2 cống tiêu nước cho lưu vực phía đông.
Sông Nhuệ có vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu cho 2 huyện Kim Bảng và Duy Tiên.
Chế độ nước sông Nhuệ chịu ảnh hưởng của chế độ nước sông Hồng và chế độ mưa của lưu vực tại Hà Nội, Hà Tây. Nhìn chung mùa lũ trên sông bắt đầu từ tháng 6 và kết thúc vào tháng 10. Mùa cạn của sông bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 4 năm sau.
Nước sông Nhuệ có đặc tính kiềm yếu (pH từ 7,4 đến 8,2) bị ô nhiễm chất hữu cơ, nhiễm bẩn nitơ, nhiễm bẩn sắt cao và nhất là nhiễm khuẩn rất cao (tổng số vi khuẩn kỵ khí 4,8 tỷ con/100 ml), đặc biệt các vi khuẩn có nguồn gốc từ phân hữu cơ cũng gây ô nhiễm ở mức cao (số colifom gấp 24 lần, số Phecalcolifom gấp 9.300 lần tiêu chuẩn cho phép).
Tình trạng ô nhiễm này đã gây thiệt hại nặng nề cho nghề nuôi cá lồng trên sông. Ngoài ra việc sử dụng nước để tưới ruộng cũng cần được xử lý thích hợp (pha loãng với nước đồng, bón thêm các chất khử trùng và trung hoà chất độc), nếu không sẽ gây ô nhiễm liên đới đến các sản phẩm nông nghiệp nhất là rau màu, ngoài ra còn gây ô nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực.
1.4. Sông Châu
Sông Châu khởi nguồn trong lãnh thổ Hà Nam. Sông thu nhận nguồn nước bề mặt của các xã Trác Văn (huyện Duy Tiên), Chính Lý, Hợp Lý (huyện Lý Nhân) đến Văn Bút của xã Trác Văn và Thủy Cơ xã Yên Nam (huyện Duy Tiên). Ở Lệ Thủy (xã Trác Văn), sông nhận được một hợp lưu là sông Nông Giang từ bắc Duy Tiên chảy về. Đến An Mông (xã Tiên Phong, huyện Duy Tiên) sông chia thành 2 nhánh. Một nhánh làm ranh giới giữa huyện Duy Tiên và huyện Bình Lục trên đường chảy theo hướng đông - tây ra thị xã Phủ Lý. Một nhánh làm ranh giới giữa huyện Lý Nhân và huyện Bình Lục theo hướng tây bắc - đông nam rồi giữa huyện Lý Nhân với huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định), sau đó chảy ra trạm bơm tưới tiêu Như Trác gần đê sông Hồng. Trên đường chảy qua, sông phát sinh một chi lưu gần thôn Giếng Bông (xã Đồng Du, huyện Bình Lục), là khởi nguồn của sông Sắt chảy về phía nam. Sông Châu có chiều dài 58,6km chảy quanh co uốn lượn trong phần đông lãnh thổ của tỉnh Hà Nam.
Do sông có 2 cửa thoát là Phủ Lý và Hữu Bị nên độ uốn khúc của sông cũng chia thành 2 phần, đoạn từ Nga Thương đến Hữu Bị, sông có độ uốn khúc là 2; đoạn từ Nga Thương đến Phủ Lý, sông có độ uốn khúc là 1,7. Đây là con sông có độ dài và độ uốn khúc lớn nhất trong tỉnh.
Sông Châu có vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân hai bên bờ sông. Chính vì vậy, chế độ nước của sông được điều tiết một cách chặt chẽ qua hệ thống cống trên đập Phủ Lý, đập Vĩnh Trụ và trạm bơm Hữu Bị.
Trong mùa mưa, sông giữ vai trò tiêu nước là chính, nước của sông qua các cống trên đập Phủ Lý thoát vào sông Nhuệ rồi ra sông Đáy, đồng thời trạm bơm Hữu Bị tiêu nước sông Châu đổ vào sông Hồng, về mùa cạn, sông lại được cấp nước tưới từ sông Hồng qua hệ thống cống Mộc Nam, qua kênh dẫn nước đến sông Nông Giang rồi vào sông Châu cung cấp cho các trạm bơm tưới hai bên bờ sông. Do được điều tiết tốt chế độ nước, sông Châu khá điều hoà, các phương tiện giao thông đường thuỷ có thể đi lại quanh năm.
Những phân tích mẫu nước trên sông Châu cho thấy: nước có độ kiềm yếu, nước bị ô nhiễm amôniac, nitrit; ở khu vực đập Vĩnh Trụ nước còn bị nhiễm khuẩn cao.
1.5. Sông Ninh (Ninh Giang)
Sông Ninh khởi nguồn từ bờ hữu sông Châu, tại địa phận thôn Thanh Trực (xã An Ninh, huyện Bình Lục). Dòng sông làm thành ranh giới ở phía nam và đông nam của huyện Bình Lục với các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên của tỉnh Nam Định. Sông đi ra khỏi huyện Bình Lục ở địa phận thôn Lan, xã An Lão, đi vào huyện Ý Yên và đổ vào sông Đáy tại đây.
Sông Ninh có chiều dài 29,5 km, trên một khoảng cách lưu vực 17,5 km, tạo nên độ uốn khúc 1,65. Đây là con sông uốn khúc mạnh (chỉ sau sông Châu) ở Hà Nam. Trên đường đi ở địa phận huyện Bình Lục, sông Ninh chia nước vào sông Luyện, sông Dương và nhận nước từ sông Sắt đổ vào:
- Sông Sắt khởi nguồn từ sông Châu, chảy hướng bắc - nam, đổ vào sông Ninh tại địa phận thôn Mai Động (xã Trung Lương) đối diện bên kia là thôn Giải Đông (xã An Đổ, huyện Bình Lục).
- Sông Luyện (hay Luyện Giang) dài 6km, lấy nước từ sông Ninh tại địa phận thôn Duy Dương, xã Trung Lương (gần cầu Họ) rồi chảy vào địa phân các xã Trung Lương, An Nội, Bối Cầu, Hưng Công (huyện Bình Lục).
- Sông Dương (hay Dương Giang, sông Gừng) dài 3,5km, lấy nước sông Ninh tại địa phận thôn Tiêu Thượng (xã Tiêu Động) đối diện bên kia là thôn Giải Đông (xã An Đổ, gần chợ Dầm). Sông Dương làm nên ranh giới giữa xã Tiêu Động với xã An Đổ và giữa xã An Đổ với xã La Sơn (huyện Bình Lục).
Mặc dù sông Ninh chia nước vào sông Luyện và sông Dương, nhưng trên đường đi sông cũng nhận được thêm nước từ các mương, ngòi tiêu nước trên địa bàn của phần lớn các xã trong huyện Bình Lục đổ vào. Lưu vực sông Ninh trên lãnh thổ Hà Nam thuộc phạm vi huyện Bình Lục, được giới hạn bởi đường 974 và 976 bắt đầu từ ngã ba An Dân (xã Tràng An) hắt về hữu ngạn sông Ninh, có diện tích vào khoảng 118,4km2.
Chế độ nước sông Ninh phụ thuộc vào chế độ mưa trên lưu vực thuộc huyện Bình Lục và phần phía bắc các huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản và Ý Yên của Nam Định. Do vậy chế độ nước sông Ninh cũng có hai mùa. Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 5 năm sau. Mùa lũ bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 9.
Ở địa phận xã Vũ Bản và An Nội sông không có đê mà chỉ có con bối chạy dài dùng làm đường liên xã. Sau khi nhận được nước từ sông Sắt, trên bờ hữu sông Ninh nhân dân ở đây đã xây dựng hệ thống đê nối với đê sông Sắt, chạy dài tới thôn Dương (xã An Lão), ngăn không cho nước sông chảy vào đồng trong mùa mưa lũ. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, sông Ninh là con đường tiếp tế quan trọng về lương thực, vũ khí và nhân lực đến các vùng tự do phục vụ cho cuộc kháng chiến.
Hiện nay sông Ninh đóng vai trò tiêu nước quan trọng trong mùa mưa lũ, trên dải đồng bằng thấp trũng của huyện Bình Lục. Ngược lại về mùa khô, sông Ninh cũng nhận được nguồn cấp từ sông Hồng qua trạm bơm Như Trác đưa vào sông Châu, sông Sắt (đoạn từ đập Vĩnh Trụ đến trạm bơm Hữu Bị, Hoà Hậu) phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Nước trên sông Ninh cũng bị ô nhiễm bởi lượng vi khuẩn, lượng Amon (NH4+) và lượng nitrit (NO2-) vượt quá tiêu chuẩn nước sinh hoạt.
1.6. Sông Sắt
Là một chi lưu của sông Châu, sông Sắt khởi nguồn ở bờ hữu gần cầu An Bài (xã Đồng Du, huyện Bình Lục). Trên lãnh thổ thuộc huyện Bình Lục sông chảy theo hướng bắc - nam làm thành ranh giới giữa các xã Đồng Du với Hưng Công, An Mỹ với Bối Cầu và Trung Lương, An Đổ với Trung Lương của huyện Bình Lục. Sông Sắt đổ nước vào sông Ninh ở cửa sông gần thôn Giải Đông (xã An Đổ) đối diện bên kia là thôn Mai Động, xã Trung Lương.
Sông Sắt dài 9,75 km chỉ uốn khúc rất nhỏ ở gần cầu Sắt (Hệ số uốn khúc của sông là (9,75/9,25 = 1,05). Theo Địa dư huyện Bình Lục, sông Sắt được đào vào năm 1903. Trước đây sông Sắt còn có tên là sông Mới.
Chế độ nước của sông theo chế độ mưa trên lưu vực. Mùa lũ bắt đầu từ tháng 6, kết thúc vào tháng 10. Mùa cạn bắt đầu từ tháng 11 và kết thúc vào tháng 5 năm sau.
Sông Sắt giữ vai trò tiêu nước cho sông Châu và phần lưu vực trong huyện Bình Lục là chính. Bờ hữu ngạn sông có đê ngăn nước sông tràn vào đồng trong mùa mưa lũ.
Ngược lại mùa cạn sông lại là nguồn cung cấp nước cho phần phía bắc và phía nam của huyện Bình Lục và huyện Thanh Liêm qua một hệ thống kênh đào theo hướng đông tây.
Các phân tích mẫu nước cho thấy: nước sông Sắt trung tính bị nhiễm bẩn cao bởi vi khuẩn, bởi amôniac. Vì thế sông Sắt chỉ dùng cho tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Ngoài các sông chính đã nêu ở trên, trong lãnh thổ Hà Nam còn có các sông khác như sông Nông Giang ở phía bắc huyện Duy Tiên (ranh giới với huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây) dài chừng 12,5 km, sông Nông Giang ở xã Hoà Hậu (huyện Lý Nhân) dài chừng 5,5 km, sông Long Xuyên trên lãnh thổ huyện Lý Nhân, sông Biên Hoà trên lãnh thổ hai huyện Bình Lục và Thanh Liêm dài chừng 15,5 km. Những sông này tạo nên mạng lưới dòng chảy phong phú góp phần tiêu nước và cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt của cư dân.
2. Ao, hồ, đầm
Ao, hồ, đầm là một bộ phận quan trọng trong hệ thống thuỷ văn ở Hà Nam. Tuy chỉ chiếm 7,6% diện tích tự nhiên của tỉnh nhưng chúng lưu giữ một khối lượng nước khá lớn, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người trong sản xuất và đời sống. Lượng nước mặt được lưu giữ này góp phần giảm tốc độ của dòng chảy mặt, đồng thời cải thiện vi khí hậu trong mùa hè oi bức, tăng cường đa dạng sinh học của cảnh quan nông thôn.
Ao, hồ, đầm lớn còn là nguồn cung cấp nước ngầm quan trọng theo nguyên tắc thẩm thấu thẳng đứng và thẩm thấu ngang.
Trên lãnh thổ Hà Nam, mặt nước tĩnh của ao, hồ, đầm có thể phân ra các dạng sau:
2.1. Ao, hồ nhỏ
Các ao, hồ nhỏ hình thành trong quá trình vượt đất làm nền cho công trình đường sá kênh, mương, cầu cống, nhà ở. Do đặc điểm địa hình đồng bằng Hà Nam thấp (ở mức phổ biến từ 1,5 đến 5 mét) cho nên để có được nền đất cao cho các công trình hầu hết phải vượt đất tôn nền, từ đó hình thành nên những ao, hồ, thùng đấu. Theo điều tra, có trên 50% số các hộ nông nghiệp có ao, hồ nhỏ trên đất thổ cư.
Hầu hết các ao này có diện tích nhỏ hơn 0,4 ha (tức là dưới 10 sào Bắc Bộ) với độ sâu từ 1,2 đến 1,5 mét. Chúng lưu giữ nước trong mùa mưa để rồi sử dụng theo các chức năng khác nhau (nuôi cá, thả rau, bèo, tạo nguồn nước tưới cho ruộng, vườn, tạo cảnh quan thuỷ sinh trong các công trình văn hoá). Diện tích ao, hồ loại nhỏ trong toàn tỉnh là 3.248 ha (chiếm 50% tổng diện tích ao, hồ) tập trung nhiều ở các huyện Lý Nhân (832 ha), Duy Tiên (778 ha), Kim Bảng (367 ha) và Phủ Lý (92 ha).
2.2. Hồ, đầm và các thùng đấu lớn
Cũng như các ao, hồ nhỏ các thùng đấu hình thành do con người trong quá trình đắp đê làm bối, làm đường, làm kênh dẫn nước, khai thác đất làm vật liệu xây dựng. Các thùng đấu, hồ, đầm loại này có diện tích dưới 5 ha và lớn hơn 0,4 ha. Các thùng đấu thường sâu hơn, lưu giữ nước hầu như quanh năm để nuôi trồng thuỷ sản hay cung cấp nước cho sản xuất nông nghiệp trong mùa khô.
Loại hình mặt nước tĩnh vừa kể trên có diện tích 2.668 ha chiếm 41% tổng diện tích các ao, hồ, đầm, thùng đấu. Các thùng đấu này tập trung chủ yếu ở huyện Thanh Liêm (868 ha) và huyện Duy Tiên (508 ha); ở huyện Kim Bảng và thị xã Phủ Lý chúng có diện tích nhỏ hơn.
Hầu hết các thùng đấu, thùng đào, đầm và ao hồ nêu trên đều thuộc quyền quản lý của UBND huyện, xã hay hợp tác xã. Chúng được giao cho các hộ xã viên quản lý và sử dụng theo hình thức đấu thầu trong thời hạn 5, 10, 15 năm với các chức năng như nuôi cá, phục vụ nước tưới.
Nguồn nước của các ao, hồ, đầm trên là do mưa hoặc do các công trình thuỷ nông cung cấp.
2.3. Mặt nước có diện tích lớn
Đó là những hồ, đầm loại có diện tích trên 5 ha, hình thành một cách tự nhiên từ các thung lũng dưới chân đồi núi hoặc do sự cố vỡ đê tạo ra (như ở huyện Lý Nhân). Loại hình này bao gồm các hồ, vực có độ sâu hơn 1,7 mét. Huyện Kim Bảng có nhiều hồ chứa nước tự nhiên như hồ Tam Chúc thuộc xã Ba Sao diện tích tới 69 ha; các hồ tự nhiên còn lại nằm rải rác trong các xã như Thanh Sơn, Liên Sơn và Khả Phong. Ở huyện Lý Nhân các hồ lớn phân bố dọc theo hai bên bờ đê sông Hồng. Phần nhiều các hồ chứa lớn tập trung nhiều ở huyện Lý Nhân (396 ha) sau đến huyện Kim Bảng (120 ha).
Nước trong các hồ không bị ô nhiễm nhiều vì quá trình tự làm sạch ở đây đã giảm thiểu những chất độc hại phát sinh từ tự nhiên hoặc từ hoạt động của con người.
3. Nước ngầm
Hà Nam là vùng đồng bằng nằm trước những dãy núi đá vôi chạy theo hướng tây bắc - đông nam từ Mộc Châu (tỉnh Sơn La) đến Tân Lạc (tỉnh Hòa Bình), rồi đến Đồng Giao (tỉnh Ninh Bình). Hà Nam cũng nằm ở vị trí trung chuyển của đồng bằng châu thổ Bắc Bộ theo hướng thấp dần từ tây bắc xuống đông nam, phù hợp với hướng chảy của thung lũng sông Hồng ra biển Đông.
Lãnh thổ Hà Nam gần như là một dải đồng bằng kẹp giữa thung lũng sông Hồng và sông Đáy; chỗ hẹp nhất có khoảng cách 16,5 km. Độ cao phổ biến của dải đồng bằng là khoảng 5 mét so với mực nước biển.
Lãnh thổ Hà Nam nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung trước đây hàng trăm triệu năm vốn là một vùng được phù sa biển, sông bồi đắp cao dần lên để có hình dáng như ngày nay, những lớp trầm tích đá vôi, sét, cát, á cát, cát sạn,... đã minh chứng cho điều này.
Vị trí tương quan với một lịch sử hình thành lãnh thổ như trên đã dẫn đến một cấu trúc nền móng rất thuận lợi cho việc tàng trữ và luân chuyển nước ngầm. Những khảo sát tài nguyên nước ngầm của Đoàn Trọng Cảnh và những cán bộ khác (thuộc trường Mỏ Địa chất) cho thấy: sâu xuống lòng đất tại Hà Nam có tới 5 địa tầng chứa nước; tính từ mặt đất trở xuống là các địa tầng sau:
a) Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích hỗn hợp sông, biển và đầm lầy; hệ tầng Thái Bình hình thành cách ngày nay gần 500 nghìn năm (tuổi Holoxen).
b) Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích hỗn hợp biển, đầm lầy; hệ tầng Hải Hưng hình thành cách ngày nay trên 500 nghìn năm (tuổi Holoxen).
c) Tầng chứa nước lỗ hổng trầm tích lục địa, hệ tầng Hà Nội hình thành cách ngày nay từ 500 nghìn năm đến 750 nghìn năm (tuổi Pleistoxen).
d) Tầng chứa nước lỗ hổng, vỉa - lỗ hổng thuộc trầm tích Pleistoxen dưới, hình thành cách ngày nay khoảng trên dưới một triệu năm.
e) Đới chứa nước khe nứt cacxtơ, hệ triat, điệp Đồng Giao hình thành cách đây từ 185 triệu năm đến 225 triệu năm.
Các tầng, đới chứa nước kể trên hình thành và bảo tồn nhờ những lớp trầm tích không thấm nước, ít thấm nước che chắn bên trên và bên dưới có thành phần là sét, cát bột kết và đá vôi ở dưới đáy.
Trong 5 tầng chứa nước ngầm đã nêu thì có 2 tầng có trữ lượng lớn và có điều kiện khai thác tương đối thuận lợi đó là:
+ Tầng chứa nước lỗ hổng Holoxen, hệ tầng Thái Bình.
Thành phần chính của tầng chứa nước này là cát mịn dưới dạng các thấu kính cát, cát pha có diện tích nhỏ, phân bố trong các lớp sét, sét pha đa nguồn gốc. Thấu kính cát, cát pha nói trên có chiều dày từ 2 đến 9 mét, nằm sâu cách mặt đất từ 8 đến 15 mét. Mực nước tĩnh trong tầng chứa nước này lên cách mặt đất từ 1 đến 3 mét. Modul tiềm năng khai thác là: MKT = 245 m3/ngày - đêm/ km2.
Nguồn bổ cập chính cho nguồn chứa nước này là nước mưa và nước mặt thẩm thấu theo chiều thẳng đứng. Chính vì vậy, mực nước cao nhất của tầng chứa nước này vào tháng 9 (mùa mưa) và thấp nhất vào tháng 1 hoặc tháng 2. Biên độ dao động giữa hai mùa từ 1 đến 1,5 mét.
Tầng chứa nước vừa trình bày phân bố rộng khắp dưới nền đồng bằng tỉnh Hà Nam.
+ Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistoxen, hệ tầng Hà Nội.
Thành phần thạch học chủ yếu của tầng chứa này là cát hạt thô, sạn, sỏi. Chiều dày của tầng chứa trung bình vào khoảng 28,4 mét ở các huyện Bình Lục và Lý Nhân, độ dày của tầng chứa nước từ 10 đến 15 mét.
Mực nước của tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistoxen, luôn thấp hơn mực nước của tầng chứa nước tuổi Holoxen. Modul tiềm năng khai thác của tầng này đạt 426,8 m3/ngày - đêm/km2. Tầng chứa nước lỗ hổng tuổi Pleistoxen phân bố tập trung thành một thấu kính nước nhạt có diện tích 146 km2. Thấu kính này bao chiếm phần lãnh thổ phía bắc của tỉnh, bao gồm các xã Phù Vân, Lam Hạ, Châu Sơn (thị xã Phủ Lý), Tiên Hiệp, Tiên Hải, Đọi Sơn, Châu Giang, Yên Nam, Chuyên Ngoại, Trác Văn (huyện Duy Tiên), các xã Liêm Tuyền, Thanh Tuyền (huyện Thanh Liêm) và các xã Văn Lý, Hợp Lý, Chính Lý (huyện Lý Nhân). Trữ lượng nước của thấu kính này đạt tới 17.902.340 m3/ngày - đêm.
Nguồn gốc của tầng chứa nước này là nước nhạt được chôn vùi và có sự bổ sung của nước trẻ thẩm thấu. Chúng không có mối quan hệ thuỷ lực trong vùng với nước mặt sông Hồng và sông Đáy.
Nhìn chung, nước ngầm trong tầng chứa nước tuổi Pleistoxen có chất lượng tốt, có thể khai thác sử dụng trong sinh hoạt. Nếu khai thác dùng để ăn uống thì phải xử lý loại bỏ các chất cặn lắng (ở vùng Nhật Tân huyện Kim Bảng ở vùng Thanh Hà huyện Thanh Liêm), xử lý loại bỏ amon (ở Hoà Mạc, Đồng Văn huyện Duy Tiên và ở Thanh Hà huyện Thanh Liêm) và xử lý loại bỏ sắt ở tất cả các điểm khai thác.
+ Tầng chứa nước khe nứt cacxtơ trong trầm tích đá vôi tuổi Triat.
Đây là tầng chứa rất giàu nước với chất lượng tốt, tầng chứa nước này có nhiều hệ thống mạch lộ phong phú. Tiềm năng nước hang động rất lớn chứa trong các hang lớn như: hang Động Sơn xã Thanh Sơn, hang Hồ Trứng, hang Cá, hang Tối xã Bút Sơn, hang Vồng xã Khả Phong thuộc huyện Kim Bảng. Các hang này đều chứa nhiều nước, chất lượng nước tốt, đủ khả năng đáp ứng cho các nhu cầu ăn uống và sinh hoạt của cư dân, tuy nhiên điều kiện khai thác còn khó khăn.
4. Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước ở Hà Nam
Nước là một nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, nước tham gia vào nhiều quá trình sản xuất và đời sống của con người. Tài nguyên nước không được quản lý và chế ngự tốt, cũng có thể gây nên hiểm họa khôn lường.
Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước dựa trên đặc tính phân bố trong không gian và theo tính chất thuỷ động lực của tài nguyên nước. Do vậy có các loại hình khai thác, sử dụng cũng như bảo vệ tài nguyên nước sau đây:
a) Sử dụng và bảo vệ dòng chảy và các mặt nước tĩnh: Như đã nêu ra ở trên, tài nguyên nước trong dòng chảy mặt ở Hà Nam là rất phong phú: nguồn đến khoảng 14 tỷ m3 nguồn phát sinh tại địa bàn khoảng 0,88 tỷ m3. Với mật độ sông ngòi khá dày đặc (0,25 km/km2), mật độ kênh mương tưới tiêu là 6,7 km/km2. Như vậy, cả mạng lưới tự nhiên và mạng lưới nhân tạo mật độ dòng chảy bề mặt chiếm từ 7 đến 7,5 km/km2. Đây là điều kiện thuận lợi để cư dân sử dụng tài nguyên nước ở khắp mọi nơi, phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Trên thực tế các dòng chảy này đã được sử dụng để tưới tiêu cho đồng ruộng thông qua các cống tự chảy, qua các trạm bơm trên bờ sông (tưới, tiêu động lực).
Trên một chiều dài 38,621km đê phía hữu sông Hồng có tới 10 cống (trong đó có 8 cống tưới, 2 cống tiêu). Có những cống rất lớn phục vụ tưới tiêu động lực qua các trạm bơm như trạm Hữu Bị, Như Trác.
Nhờ được tưới nước sông Hồng mà đồng ruộng Hà Nam (nhất là các đồng lúa của huyện Duy Tiên) được bồi đắp một lớp phù sa làm tăng thêm hiệu quả sản xuất nông nghiệp cũng như góp phần san lấp dần những khu ruộng trũng.
Trên chiều dài 49,5km đê bờ tả sông Đáy có tới 22 cống dưới đê trong đó có 12 cống tiêu và 10 cống tưới, có những cống lớn phục vụ tưới tiêu động lực qua các trạm bơm như Nham Tràng, Kinh Thanh, Hữu Bình.
Nhờ hệ thống cống, trạm bơm và các đập điều tiết mà toàn bộ phần phía đông lãnh thổ (phía bắc từ quốc lộ 1A đến sông Hồng, phía nam từ sông Đáy đến sông Hồng) được cấp nước và tiêu nước thuận lợi, hỗ trợ đắc lực cho sản xuất nông nghiệp và các hoạt động khác của cư dân.
Các tuyến đê Hoàng Đông (dài 9km trên bờ đông sông Nhuệ) và Hoàng Tây (dài 10,5km trên bờ tây sông Nhuệ) cũng có 23 cống tưới tiêu nước phục vụ cho nội đồng.
Hệ thống dòng chảy mặt ở Hà Nam còn được sử dụng trong giao thông đường sông với tiện ích là siêu trọng và tiết kiệm nhiên liệu. Đường sông ở Hà Nam có mạng lưới phong phú toả khắp các miền trên lãnh thổ của tỉnh với chiều dài trên 200 km. Trên sông Hồng và sông Đáy ở Hà Nam có gần 100 km đường sông. Tuyến sông Hồng có thể đảm bảo cho tàu khoảng 1.000 tấn hoạt động. Tuyến sông Đáy, các xà lan vài trăm tấn có thể hoạt động.
Nước của các dòng chảy mặt còn là nguồn cung cấp cho các nhà máy nước để xử lý, tạo nguồn nước sạch đạt tiêu chuẩn cung cấp cho các khu đô thị lớn như các nhà máy nước ở thị xã Phủ Lý, thị trấn Quế, thị trấn Hoà Mạc.
Nước của dòng chảy mặt còn cung cấp cho các ao, hồ trong mùa khô hạn nhằm lưu trữ nước phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Hệ thống dòng chảy mặt cũng là nơi nuôi dưỡng các sinh vật thuỷ sinh tự nhiên và nuôi trồng rau muống, rau rút, cá giăng lưới, cá lồng, cá quây...
Ngoài ra, còn phải nói đến những tác hại của hệ thống các sông lớn ở Hà Nam như sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu. Vào mùa nước lũ lượng nước lên cao, dòng chảy mạnh từng đe dọa rất nghiêm trọng thành quả lao động và đời sống của cư dân. Để ngăn chặn những tác hại này, các hệ thống đê dọc theo sông đã hình thành và hàng năm phải được quan tâm tôn tạo.
Đê phía hữu sông Hồng cao 10,6 mét (ở xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên) xuôi xuống 9,354 mét (ở xã Đạo Lý, huyện Lý Nhân) và giảm xuống còn 8,09 mét (ở xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân).
Đê sông Đáy cao 8,52m (ở xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng) xuôi xuống còn 6,6 m (xã Kiện Khê huyện Thanh Liêm) và xuống 6,32m (ở xã Thanh Hải huyện Thanh Liêm).
Tuyến đê sông Nhuệ cao từ 6m xuôi xuống 5,3m. Đê bắc sông Châu cao từ 6m xuôi xuống 5m. Đê nam sông Châu cao từ 6 mét xuôi xuống 4,5m. Đê sông Sắt cao từ 4m xuôi xuống 3,2m.
Để bảo vệ khu dân cư và đất canh tác trên bãi bồi ven các con sông còn có các đê bối. Dài nhất là đê bối bờ hữu sông Hồng dài 22,5km, cao 7,5m xuôi xuống 6,2m. Đê bối bờ tả sông Đáy dài 21,7km, cao từ 5m xuôi xuống còn 3m.
Các mái kè, tường kè trên sông cũng góp phần vào bảo vệ bờ đê, bảo vệ các công trình trong đê. Dài nhất là mái kè trên sông Đáy lên tới 3.000m, lớn nhất là tường kè thị xã Phủ Lý dài đến 4.500m, cao trên 5m. Tường kè ở thị trấn Quế cũng dài tới 1.200m.
Các mỏ kè có tác dụng đẩy dòng nước ra giữa sông không cho chúng đào xói bãi bờ và chân đê, bờ hữu sông Hồng thuộc địa phận tỉnh Hà Nam có 27 mỏ kè trong đó có những mỏ kè lớn dài tới 60m, gốc mỏ cao 6m xuôi xuống mũi mỏ là 5m.
Để bảo vệ hệ thống dòng chảy mặt, tạo nên tác dụng nhiều mặt cho sản xuất và đời sống cư dân, các cơ quan và tổ chức hữu trách đã tiến hành nhiều biện pháp bảo vệ như:
- Hạn chế sự xâm lấn tới dòng chảy của sông do các công trình trên bờ lan tới như kè bờ làm ao, kè bờ làm vườn, hoặc giăng lưới quá rộng để thả cá. Để khơi thông dòng chảy trên sông, nhiều cầu lớn đã được xây dựng như cầu Câu Tử, cầu Khả Phong (huyện Kim Bảng).
- Quản lý chặt chẽ việc khai thác cát ở lòng sông dẫn đến sự thay đổi đột ngột hướng của dòng chảy gây xói lở bờ bãi ven sông.
- Tiến hành nạo vét các con sông bao quanh thị xã để hạn chế sự tích tụ rác rưởi, cát bùn gây ách tắc dòng chảy.
- Di dân ra khỏi khu vực thường xuyên sạt lở và có nguy cơ xảy ra sạt lở cao.
- Sử dụng các công nghệ mới nhằm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi đổ vào sông.
Hệ thống dòng chảy mặt nhất là hệ thống sông đã làm đẹp cảnh quan của lãnh thổ Hà Nam mang đến một khung cảnh mềm mại tươi mát, là bộ phận quan trọng điều hoà vi khí hậu cho các khu dân cư ven bờ. Sử dụng hợp lý và bảo vệ hệ thống sông ngòi không những là trách nhiệm của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm của từng thành viên trong cộng đồng dân cư trên lãnh thổ.
+ Sử dụng và bảo vệ các ao, hồ, đầm
Diện tích ao, hồ, đầm ở Hà Nam chiếm 7,6% diện tích tự nhiên.
Các ao, hồ, đầm được sử dụng theo nhiều mục đích khác nhau.
- Lưu giữ nước bề mặt đê phục vụ nông nghiệp và sinh hoạt của cư dân. Đó thường là bề mặt nước lớn do các tổ chức như huyện, xã, thôn quản lý.
- Sử dụng để nuôi trồng thuỷ sản và một số thuỷ cầm (thả cá, nuôi vịt, ngan, thả rau, trồng sen...), các ao, hồ nhỏ do các hộ gia đình quản lý và sử dụng.
- Các ao, hồ giữ nước làm đẹp cảnh quan môi trường cải thiện vi khí hậu của các thôn, xóm, công sở, công trình văn hoá.
- Các đầm ngập nước theo mùa hoặc ngập nước thường xuyên không sâu lắm thường dùng để luân canh lúa, hoặc thả cá hay trồng sen.
Xuất phát từ đặc điểm nguồn cung cấp cho ao, hồ, đầm cũng như mục đích của con người trong việc sử dụng chúng, nên việc bảo vệ cũng khác nhau nhưng tập trung vào một số biện pháp chính sau:
- Cần xử lý nước thải ô nhiễm trước khi đổ vào ao, hồ, đầm bằng các công nghệ có hiệu quả, bằng các bể ga, bằng các biện pháp hoá học, lý học và sinh học.
- Tận dụng triệt để quá trình tự làm sạch của ao, hồ, đầm bằng các cây trồng vật nuôi, các thực vật và động vật sơ cấp. Bên cạnh đó cần có nguồn cấp nước sạch để lưu thông nước trong các ao nhỏ, nhất là những ao có vai trò làm đẹp cảnh quan văn hoá, điều hoà vi khí hậu khu dân cư.
- Sử dụng những công trình, những qui trình, những kỹ thuật sạch và an toàn trong sinh hoạt và trong sản xuất để không thải các chất ô nhiễm ra môi trường nhất là vào mùa nước như các công trình xử lý nước thải, các bể bioga, hố xí hợp vệ sinh. Các truồng trại chăn nuôi được xây dựng trên bờ ao, hồ phải được xử lý phân rác bằng các bể khí bioga, không sử dụng nhiều thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích sinh trưởng, phân bón vô cơ vượt quá liều lượng cho phép. Cần khơi thông, nạo vét cống rãnh và các ao hồ nhỏ trong các khu dân cư nhằm để tăng cường khả năng tự làm sạch và tăng nguồn phân bón vi sinh cho cây trồng.
b) Sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước ngầm
Nhu cầu nước sạch dùng trong sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng, mặt khác do điều kiện đời sống vật chất tinh thần tăng lên, con người nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về môi trường và những nguy cơ tiềm ẩn của nó, trong đó có việc sử dụng nước không đảm bảo độ an toàn cho phép. Xuất phát từ thực tế trên, dân cư nhất là dân cư thuộc khu vực nông thôn kể cả các khu vực thị trấn, thị tứ và các cơ sở kinh tế xã hội khác, sử dụng nước ngầm ngày càng tăng lên.
Những điều tra của Trung tâm Công nghệ xử lý môi trường Bộ Quốc phòng cho thấy: năm 2000 trong 106 xã, thị trấn của Hà Nam đã xây dựng 57.419 giếng khoan, 41.720 giếng đào và hàng nghìn bể chứa nước mưa. Con số trên đã phản ánh nguồn nước để uống và sinh hoạt của dân cư chủ yếu khai thác từ nước ngầm chứa trong các tầng chứa nước tuổi Holoxen và Pleistoxen. Tầng chứa nước thứ nhất thường được khai thác dưới dạng giếng đào sâu 4 đến 5 m hoặc các lỗ khoan sâu 8 đến 15m. Chất lượng nước của tầng chứa này qua phân tích nhiều nơi đã bị ô nhiễm amoni, nitorit, vi sinh vật.
Khi nhu cầu nước sinh hoạt và ăn uống tăng lên, các giếng đào sử dụng lâu năm có thể bị cạn kiệt nước. Để có nước sạch đủ dùng, phần lớn các hộ dân đã sử dụng nước của tầng chứa Pleistoxen qua các lỗ khoan sâu 45 đến 60 m để có nguồn cung cấp từ 3,6 m3/giờ đến 15, hoặc 20 m3/giờ. Những kết quả phân tích nước ở tầng Pleistoxen cho thấy độ pH, hàm lượng ôxi cho các nhu cầu sinh hoá, hàm lượng Na, S04-2, hàm lượng kim loại nặng ở hầu hết các địa điểm đạt tiêu chuẩn nước uống và sinh hoạt khu vực nông thôn. Tuy nhiên nhiều mẫu nước ngầm đã bị nhiễm sắt với hàm lượng gấp từ 2 đến 6 lần tiêu chuẩn cho phép, hàm lượng cặn lắng còn cao, hàm lượng amon và nitrit đã tới mức gây ô nhiễm.
Nước ngầm tầng chứa nước tuổi Holoxen (tầng trên cùng) trong các làng nghề bị ô nhiễm nặng hơn bởi các hợp chất hữu cơ lượng amon, nitrit có nguồn gốc từ phân rác do con người thải ra. Nhiều nơi nước còn bị nhiễm độc thuỷ ngân gấp từ 1 đến 141 lần tiêu chuẩn cho phép.
Hàm lượng clo ô nhiễm cũng vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,8 (ở xã Nhật Tân, huyện Kim Bảng) đến 16,3 (ở Hoà Ngãi, xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm).
Để bảo vệ tài nguyên nước ngầm phục vụ tốt nhất cho việc cung cấp nước tập trung và phân tán của dân cư cần tiến hành những biện pháp sau:
+ Ngăn chặn sự ô nhiễm do thẩm thấu nước mặt, và như vậy, cần loại bỏ những nguyên nhân gây ô nhiễm tầng chứa nước Holoxen có nguồn gốc từ nước thải, khí thải, và chất thải rắn do con người gây ra.
+ Ngăn chặn việc đổ các phế thải, chất thải rắn và chất thải lỏng chưa được xử lý ra môi trường. Xây dựng các bể lọc nước đúng tiêu chuẩn để loại bỏ sắt, các chất cặn lắng, các vi khuẩn gây bệnh và các chất khử có trong nước từ giếng khoan.
+ Xây dựng các công trình sản xuất và dân sinh phù hợp với các tiêu chuẩn công nghệ môi trường, quản lý và xử lý tốt phân, rác thải, chất thải bệnh viện, không để cho các vi khuẩn nguy hiểm gây ô nhiễm nguồn nước.
+ Đối với các giếng khoan khai thác nước ở tầng chứa Pleistoxen nếu không tiếp tục sử dụng (do di chuyển chỗ ở, do cạn kiệt vì thời gian khai thác quá dài, vì cần thay đổi địa điểm thuận lợi), cần được bịt kín bằng đất sét, xi măng hoặc các vật liệu không thấm nước tới các độ sâu an toàn để không gây ô nhiễm cho nguồn nước ngầm từ các lỗ hổng, hốc này.
Chương VI
THỔ NHƯỠNG
Thổ nhưỡng hay là đất là lớp phủ trên mặt của vỏ trái đất được tạo thành từ quá trình phong hoá đá gốc, quá trình bồi lắng phù sa sông, biển (và cả bồi lắng do gió), kết hợp với sự tác động của sinh vật, khí hậu, địa hình và của bản thân con người.
I. CÁC YẾU TỐ HÌNH THÀNH ĐẤT
Đất được tạo thành từ sự tác động của năm yếu tố chính là: Mẫu chất, khí hậu, địa hình, sinh vật và tác động của con người.
1. Các mẫu chất hình thành đất
Quá trình phong hóa và quá trình bồi lắng; đã đưa đến các mẫu chất khác nhau để hình thành đất. Ở Hà Nam, các mẫu chất hình thành đất có các loại sau:
1.1 Mẫu chất từ đá
Đó là lớp bở rời phong hoá trên đá vôi, phiến thạch sét, cát kết và cát bột kết.
Mẫu chất đá vôi ở Hà Nam chiếm một diện tích không lớn. Hiện nay phần lộ trên bề mặt chỉ có 2.890 ha, nhưng những mẫu chất phong hoá từ đá vôi lại có ý nghĩa cực kỳ quan trọng để tạo nên nhóm đất đồi núi thấp phía Tây của tỉnh. Đồng thời các mẫu chất đã tạo nên đất tích tụ ở sườn và chân đồi, núi. Đá vôi ở Hà Nam có màu xám trắng đến xám đen, hàm lượng vôi CaO trên 50%, MgO từ 0,35 đến 0,61%, ngoài ra còn có SiO2, Al2O3, Fe2O3, P2O5, K2O.
Trong mẫu chất phong hoá từ đá vôi thì vôi (CaO) hay canxit (CaCO3) bị hoà tan và mang đi và để lại cát (thạch anh- SiO2) 11,6%, gơ tít (FeOOH) đến 21,9%, và đặc biệt là khoáng sét (nếu phong hoá chưa triệt để là caolinit) chiếm đến 41,6% và các ôxýt: MnO2, AI2O3, P2O5.
Từ mẫu chất trên nên đất hình thành trên đá vôi thường có thành phần cơ giới nặng, thành phần sét chiếm từ 35 đến 71%; hàm lượng lân (P2O5) khá, hàm lượng kali trung bình (từ 0,9 đến 1,6%), độ xốp 49,5%.
Ngoài mẫu chất phong hoá từ đá vôi còn có các mẫu chất phong hoá từ phiến thạch sét, cát bột kết và cát kết như ở núi Đọi, núi Điệp (huyện Duy Tiên), núi An Lão (huvện Bình Lục), dãy núi Cô Tiên - Núi Đùng, một số núi đồi Thanh Tân, Thanh Nghị, Thanh Hải (huyện Thanh Liêm) và ở Ba Sao (huyện Kim Bảng). Trong điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, các đá trên bị phong hoá mạnh tạo nên một lớp đất sâu dày. Các thành phần khoáng từ nghèo nàn (cát kết) đến phong phú (phiến thạch sét và cát bột kết).
1.2. Mẫu chất phù sa
Mẫu chất phù sa là vật liệu cơ bản để bồi đắp nên phần đồng bằng ở Hà Nam (chiếm 83,8% diện tích tự nhiên). Tuỳ theo vị trí trung lưu hay hạ lưu, tuỳ theo tốc độ dòng chảy trên sông mà mẫu chất phù sa để lại trên bãi bồi có thành phần cơ giới và tính chất lý học, hoá học khác nhau, độ phì khác nhau.
Ở Hà Nam trên bãi bồi của sông Hồng, mẫu chất phù sa có thành phần cơ giới chủ yếu là cát mịn có tỷ lệ từ 46 đến 54%, sau đó đến sét 22 - 26%, thành phần cát thô chỉ chiếm 2,6 đến 3,5%. Mặt khác trong mẫu chất phù sa đã có thành phần hữu cơ có nguồn gốc từ sự phân hủy xác sinh vật chiếm 0,83 đến 1,03% và đã có một lượng đáng kể đạm, lân, kali. Như vậy các mẫu chất phù sa đã có đầy đủ điều kiện để cỏ cây phát triển và nó đã là một loại đất trồng quý của các hộ nông nghiệp ven sông.
Từ những phân tích đối chiếu trên, chúng ta thấy mẫu chất (phong hóa từ đá gốc hay từ phù sa bồi lắng) có tác động chi phối đến các đặc tính cơ giới, lý học và hoá học của đất. Nó tạo ra những nền tảng vật chất đầu tiên để từ đó tác động của sinh vật, của địa hình, của khí hậu, của con người làm cho đất luôn phân hoá, luôn biến chuyển để có các đặc tính như ngày nay.
Một cơ sở sản xuất vôi ở thị trấn Kiện Khê, Thanh Liêm. Ảnh: T.L
2. Sự tác động của khí hậu
Khí hậu tác động mạnh đến sự hình thành đất. Vì ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, độ bốc hơi tác động trực tiếp lên đá gốc, phân huỷ đá gốc để tạo thành lớp bở rời trên mặt đá gốc mà chúng ta gọi là mẫu chất như đã nói ở trên.
Các mẫu chất hình thành trên đá là kết quả tác động của các yếu tố khí hậu và chế độ khí hậu với đá gốc.
Trên mẫu chất phù sa do sông bồi tích ở một địa điểm nhất định cũng phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, điều đó được thể hiện qua chế độ thuỷ văn của nước sông. Năm mưa nhiều, lưu vực bị rửa trôi, bào mòn mạnh. Các vật liệu sỏi, sạn, cát, limông, sét và các chất hữu cơ phân huỷ bị mang đi nhiều hơn và sẽ bồi đắp trên lòng sông, bãi bồi, những vật liệu thô hơn và dày hơn so với năm mưa ít, lưu lượng của dòng sông nhỏ.
Khi các mẫu chất đã chuyển thành đất (nghĩa là đã có cây cỏ nảy sinh và phát triển) khí hậu vẫn tiếp tục tác động trực tiếp đến đất và gián tiếp qua sinh vật (chủ yếu là thực vật), thuỷ văn (chế độ nước trong đất) và địa hình.
Sự tác động trực tiếp của ánh sáng nhiệt độ, lượng mưa, lượng bốc hơi làm tầng đất tiếp tục biến đổi về lý tính và hoá tính. Với đất đai hình thành trên đá vôi, phiến thạch sét, cát kết ở khu vực đồi núi thấp phía tây của tỉnh, chế độ khí hậu nhiệt đới nóng ẩm mưa nhiều làm đất tiếp tục bị mất đi các cation, kiềm, kiềm thổ, dẫn đến sự tích luỹ sắt nhôm dưới dạng các ô xít sắt, nhôm như F2O3, AI2O3 và cát thạch anh (SiO2), hình thành nên loại đất đỏ vàng ở khu đồi núi thấp. Sự phong hoá mạnh mẽ các đá phiến thạch sét, cát kết, cát bột kết trên nền đá vôi đã tạo nên tầng đất dày đến 2 hay 3 mét (vết lộ khai thác đất đá san nền ở Ba Sao).
Sự tác động của khí hậu qua một chế độ mưa tập trung như ở Hà Nam (mùa mưa chiếm tới 70 - 80% tổng lượng mưa cả năm) đã làm cho đất vàm cao ở đồng bằng bị rửa trôi mạnh. Đất đồi núi bị bóc mòn lớp đất ở đỉnh và sườn tích tụ về chân đồi, chân núi. Điều đó dẫn đến đất càng cao càng dễ bị chua và thành phần cơ giới là cát dần dần chiếm ưu thế. Các vật liệu như limong, sét, cation kiềm, kiềm thổ thiếu vắng dần do nước mang đi và tích tụ nơi địa hình thấp trũng.
Tác động của một mùa khô dài, trong khi mực nước cách mặt đất không xa dẫn đến sự thẩm thấu lên bề mặt và bay hơi, dung dịch đó chứa các ion sắt, nhôm sẽ được chuyển lên bề mặt làm thành kết von sắt, mangan xung quanh các hạt cát, sét, sỏi sạn. Có khi sự kết von gắn kết với nhau tạo thành những tầng đá ong chặt, hạn chế sự phát triển của rễ cây, hạn chế các quá trình trao đổi dung dịch, nước của tầng đất mặt với các tầng bên dưới. Cây và đất dường như bị chết trong mùa khô nóng.
Sự thoái hóa đất như trên do khí hậu nhiệt đới nóng ẩm có mùa khô rõ rệt đã có ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm với diện tích chừng 6,581 ha (thông báo hiện trạng môi trường Hà Nam 1998, Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nam).
3. Sự tác động của địa hình
Địa hình đóng vai trò như một yếu tố chi phối năng lượng ngoại sinh (các vận động và hiện tượng phát sinh do năng lượng mặt trời). Hầu hết đồi núi thấp ở phía tây và những đồi núi thấp trên đồng bằng của tỉnh chạy theo hướng bắc nam. Vai trò sườn đông, sườn tây ảnh hưởng rõ rệt đến sự hình thành và phát triển của đất.
Ở sườn đông, thực vật đón nhận ánh sáng, lượng mưa và độ ẩm nhiều hơn dẫn đến sự phong hoá đá mạnh hơn; hình thành tầng đất dày với một quần thể sinh vật phong phú. Xác phân huỷ của chúng nhiều hơn đã làm cho đất sườn đông tốt hơn đất ở sườn tây. Sự phong hoá này cũng làm cho bậc thềm dưới 50 mét ở sườn đông mở rộng nhiều so với sườn tây.
Những dạng địa hình trũng của các lòng chảo là nơi đất đai được tích đọng nhiều các sản phẩm của sự rửa trôi, bào mòn. Nơi đây quá trình tích lũy sét, limông, các cation kiềm, kiềm thổ làm cho đất ít chua hơn so với đỉnh và sườn. Những nơi xác thực vật tích đọng nhiều, khi phân hủy đã tạo nên những lớp than mùn dày đến hàng vài mét và lúc này đất trở nên chua như khu vực đầm Tay Ngai, Ba Sao (huyện Kim Bảng)...
Tác động của địa hình đến sự phân hoá của đất đai trên đồng bằng ở Hà Nam cũng rất rõ nét.
Địa hình vàn cao quá trình rửa trôi đã làm cho đất có thành phần cơ giới chủ yếu là cát thô, cát mịn, sét và limông chiếm tỷ lệ nhỏ, do vậy đã hình thành lên loại đất thịt nhẹ hay cát pha. Loại đất trên có diện tích lớn nhất ở huyện Thanh Liêm (1.195 ha).
Ngược lại địa hình trũng là nơi tích đọng nhiều các phần tử sét, limông, bùn, xác thực vật phân hủy dẫn đến tỷ lệ sét trong đất cao, tạo nên loại đất thịt nặng. Đó là đất trên những cánh đồng chiêm trũng của các huyện Duy Tiên, Lý Nhân. Diện tích đất thịt nặng của hai huyện trên là 11.278 ha, chiếm 21,7% trên tổng số 51.820 ha đất nông nghiệp của tỉnh (kể cả diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản, số liệu thống kê).
4. Sự tác động của sinh vật
Sự nảy sinh các loài thực vật trên mẫu chất là dấu hiệu đánh giá mẫu chất phong hoá từ đá vôi, đá phiến, cát kết và mẫu chất phù sa đã chuyển thành đất. Sự phát triển của sinh vật có ý nghĩa rất lớn trong việc hình thành tính chất lý học, hoá học và hàm lượng các chất dinh dưỡng, cả thành phần cơ giới của đất.
Trước hết các vi sinh vật tự dưỡng đã lấy những hợp chất vô cơ trong mẫu chất phong hóa để xây dựng nên tế bào của chúng. Khi chúng chết đi tế bào của chúng bị phân huỷ tạo thành những hợp chất hữu cơ đầu tiên trong đất, từ đó các sinh vật dị dưỡng phát triển. Tiếp sau đến rêu, địa y, các thực vật bậc cao hơn tiếp tục cải tạo các mẫu chất, tiếp tục cải tạo bề mặt đá ẩm để tạo ra lớp vỏ phong hoá dầy thêm. Chúng chết đi lại bồi bổ cho lớp phong hoá các hợp chất hữu cơ lớn hơn để rồi các vi sinh vật dị dưỡng phân huỷ thành mùn, các chất khoáng tạo điều kiện cho các sinh vật bậc cao phát triển và cứ thế đất mới nảy sinh. Ngày nay, trên nền tảng của giới sinh vật đã phát triển phong phú, đa dạng và đạt đến điểm cao, lớp vỏ phong hoá hay các mẫu chất chuyển thành đất nhanh hơn nhờ rễ, lá, quả, hạt... của các thực vật bậc cao đã phân tán, phát tán theo gió, theo nước, theo trọng lực gieo vào các mẫu chất đó những mầm sống thực vật, quá trình ấy đã góp phần cải tạo và chuyển đổi nhanh chóng các mẫu chất trên thành đất.
Hiện tại hệ sinh thái rừng nhiệt đới là nơi diễn ra sự trao đổi chất mạnh mẽ nhất giữa các thành phần sống (cây rừng, động vật, vi sinh vật) và các thành phần vô sinh (chất khoáng, mùn, nước, khí cacbonic, ánh sáng...). Kết quả để lại của vòng chu chuyển vật chất này là đất ngày càng phát triển về tầng chiều dày và tỷ lệ các chất khoáng, chất mùn tồn tại trong đất ngày càng nhiều. Cùng với nó là một hệ sinh thái đất (các chất vô cơ, các vi sinh vật, thực vật bậc thấp, động vật trên mặt đất) hoạt động mạnh mẽ làm nền tảng cho các thực vật và động vật bậc cao phát triển. Đất có thảm cỏ, hàng năm trên 1 ha có thể được cung cấp 100kg đạm, 200kg kali (ở dạng K2O) và 35 kg là (ở dạng P2O5) và nhiều các chất khoáng khác.
Thảm thực vật trên đất che chắn cho đất không bị xói mòn do tác động của mưa, của dòng chảy mặt, giữ cho đất mặt thường xuyên ẩm, tơi xốp là điều kiện tốt để các vi sinh vật đất phân huỷ chất hữu cơ và tạo nên lớp thảm mục dày, góp phần cải tạo đáng kể đất rừng và chế độ thuỷ văn của lưu vực.
Các động vật bậc thấp (như giun, dế, kiến, mối, các côn trùng) đã thúc đẩy nhanh sự chuyển hoá của thảm mục thành mùn và các chất khoáng nhờ quá trình tiêu hoá thân, rễ, lá, thực vật mục nát.
Các động vật bậc cao (như chuột, nhím, thỏ, chim...) làm cho đất bị xáo trộn với nhiều lỗ hổng nhiều vết đào xới khiến đất trở nên tơi xốp hơn, thoáng khí hơn tạo điều kiện cho vi sinh vật đất hoạt động mạnh tăng cường lượng đạm và lượng mùn cho đất.
Trong những năm gần đây với nhiều chương trình dự án nhằm phủ xanh đất trống đồi núi trọc, diện tích rừng của Hà Nam đã tăng lên rõ rệt. Đến năm 2000 độ che phủ rừng trên đất lâm nghiệp đạt 87,6%. Duy trì và phát triển diện tích rừng (bao gồm cả rừng tự nhiên và rừng trồng) chắc chắn đất đồi núi phía tây sẽ được cải thiện rõ rệt, đồng thời dải đất đồng bằng chân núi đất đai ngày càng trở nên màu mỡ thuận lợi để cây trồng phát triển và cho năng suất cao.
Sự tác động của sinh vật đặc biệt là cây trồng, vật nuôi trên đất nông nghiệp ở Hà Nam được thực hiện thông qua các hệ canh tác của con người và đây thực sự là sự tác động của con người lên đất canh tác.
5. Sự tác động của con người
Năm 1990, bình quân đất nông nghiệp của Hà Nam là 7.27m2/1 người dân (2 sào Bắc Bộ/người). Đến năm 2000, bình quân đất nông nghiệp trên đã chỉ còn 1,8 sào/1 người dân; năm 2003 là 1,76 sào/1 người dân. Mức độ giảm bình quân đất nông nghiệp trong vòng 10 năm là 82m2/1 người dân. Tốc độ giảm như vậy là khá nhanh.
Nhưng những nhu cầu về nông sản của dân cư lại tăng nhanh khiến cho diện tích đất gieo trồng từ năm 1990 đến năm 2000 tăng 115% (năm 2000 diện tích gieo trồng đạt 99.887 ha). Điều đó chứng tỏ sự tác động của con người vào thổ nhưỡng ngày càng tăng.
Sự tác động đó thể hiện ở chỗ, mạng lưới tưới tiêu ngày càng hoàn thiện. Tính đến năm 1998, diện tích gieo trồng chủ động tưới, tiêu nước của tỉnh Hà Nam đạt 80%. Trong đó huyện Thanh Liêm diện tích gieo trồng chủ động tưới, tiêu đạt từ 90 đến 93,3%.
Hệ thống tiêu nước đã giúp cho 90% diện tích đất nông nghiệp và đất ở được tiêu nước nhanh khi mưa lũ và chỉ còn 6% tiêu nước chậm. Bằng chế độ tưới, tiêu tốt Hà Nam đã đưa một diện tích lớn ngập úng vào 2 vụ lúa chắc ăn. Mặt nước nuôi trồng thủy sản đem lại hiệu quả cao cho sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống đê được hình thành cách đây hàng nghìn năm và đến nay cũng luôn được quan tâm, tu bổ cải tạo đảm bảo cho sản xuất và sinh hoạt của cư dân nội đồng an toàn hơn.
Đất đồng bằng tuy không còn đón nhận được lớp phù sa trên diện rộng nhưng trong nội đồng, qua hệ thống cống trên đê và các trạm bơm trên bờ sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, đất nội đồng vẫn được cung cấp một nguồn nước tươi mát với nhiều phù sa lắng đọng.
Do đất nông nghiệp bình quân trên mỗi người dân thấp và có xu hướng giảm nên quá trình thâm canh, tăng vụ tiến hành mạnh mẽ ở nhiều địa phương. Qua việc tăng cường lượng phân bón hữu cơ và phân vi sinh cho cây trồng, đất nông nghiệp cũng đã được cải tạo đáng kể về thành phần cơ giới, độ xốp, hàm lượng mùn, hàm lượng đạm, lân, kali. Khả năng hấp thụ của các keo đất tăng lên.
Đất hai vụ lúa ở Hà Nam mỗi năm thường được bón 450 - 500kg phân hữu cơ, 15 - 17 kg đạm Urê, 28 - 40kg supephotphat hay tetmophốtphát, 7,2 - 12kg kaliclorua cho một sào Bắc Bộ.
Đối với đất trồng ba vụ khối lượng phân bón nêu trên tăng gấp 1,2 đến 1,5 lần.
Với lượng phân bón như vậy đất nông nghiệp của Hà Nam đã và đang từng bước tăng độ phì nhiêu, góp phần tăng năng suất và hiệu quả của cây trồng.
Ngoài ra với chế độ luân canh mà con người áp dụng trên đất nông nghiệp đã cải tạo độ tơi xốp, hàm lượng mùn và các khoáng chất trong đất. Đất 3 vụ với công thức luân canh: lúa sớm - lúa mùa sớm - cây vụ đông (ngô, rau đông, khoai tây, khoai lang, dưa chuột, đậu, lạc) sẽ có giá cải tạo đất lúa rõ rệt và làm cho năng suất, chất lượng lúa đông xuân thường cao hơn vụ mùa. Đồng thời các cây trồng như đậu tương, lạc, khoai tây góp phần đáng kể tăng cường lượng đạm cho đất bằng các vi khuẩn cố định đạm từ không khí có trong rễ cây.
Với đất hai vụ lúa vàn trũng, việc cày ải vụ đông cũng góp phần cải tạo đất rất nhiều. Nhờ phơi nắng, phơi gió quá trình thối mục xác sinh vật diễn ra hoàn toàn và chúng bị ôxy hoá thành các khoáng chất cung cấp cho cây trồng vụ sau. Đồng thời cày ải vụ đông còn giải thoát khí độc CH4, H2S, NH3 đối với cây trồng và hệ sinh vật đất. Nó cũng làm giảm độ chua gây nên từ các axit mùn và sự phân huỷ hữu cơ. Đây là một kinh nghiệm quý giá trong canh tác nông nghiệp mà cha ông ta đã từng nói: “Một hòn đất nỏ bằng một giỏ phân”.
Bên cạnh những mặt tích cực nêu trên cũng còn không ít những hoạt động thiếu cơ sở khoa học, chạy theo lợi ích trước mắt đã dẫn đến những hậu quả như đất bị xói mòn, đất bị đá ong, đất bị chua đi và đất tích đọng các hoá chất độc hại.
Trên vùng đồi núi thấp phía tây thuộc huyện Kim Bảng và Thanh Liêm, vào mùa mưa, hiện tượng xói mòn vẫn diễn ra trên đất đồi nương, trên sườn và đỉnh đồi núi, nơi thảm thực vật bị tàn phá. Sự xói mòn cũng còn xảy ra trên các đồi núi thấp ở đồng bằng, nơi lớp phủ thực bị chặt phá. Báo cáo môi trường năm 1996 cho biết diện tích này chiếm gần 8.000 ha.
Đất ở chân đồi núi thấp hình thành trên sự tích tụ những sản phẩm bào mòn và rửa trôi của đỉnh và sườn lại dễ bị kết von, hoặc đá ong hoá do mực nước ngầm dâng cao trong mùa khô và sự thiếu vắng của một lớp phủ thực vật trên đó. Đất bị kết von và đá ong hoá sẽ giảm đáng kể khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật tự nhiên cũng như cây trồng. Loại đất này ở Hà Nam có diện tích lên tới 11.596 ha (Báo cáo về môi trường, Sở Khoa học - Công nghệ Hà Nam).
Sự giảm sút độ che phủ thực vật ở đỉnh, sườn đồi núi thấp và ngay trên các vàn cao vào mùa mưa lũ làm cho lượng mùn ít được tích luỹ, các cation kiềm, kiềm thổ bị rửa trôi nhiều khiến cho đất đỏ, đỏ vàng trên phiến thạch sét, cát kết, cát bột kết chua đi khá nhiều. Độ pH chỉ còn 4,5 đến 5,5. Thậm chí đất đồi thấp trồng chè và sắn ở Thanh Liêm, độ chua ở mức 3,7 - 4,5.
Trên đất vàn thấp, đất trũng thường xuyên ngập nước hoặc chứa nhiều thân xác thực vật phân huỷ đất cũng bị chua đi và bị glây (Fe2O3 đỏ vàng chuyển thành FeO màu lam do tác động của vi khuẩn hiếm khí trong đất). Lối thu hoạch bỏ lại rạ lúa trên cánh đồng hiện nay dẫn đến sự thối rữa, thối nát các chất hữu cơ trong điều kiện hiếm khí (ngậm nước) là nguyên nhân sinh ra CO2, H2S, CH4 làm đất chua đi rõ rệt.
Đất trồng lúa hai vụ cũng bị chua đi do bón phân vô cơ nhiều, không cân đối với lượng phân bón hữu cơ. Những trắc nghiệm cho thấy với tỷ lệ bón phân như hiện nay trong 4 năm canh tác, độ chua của đất sẽ tăng lên gần 1. Các khí thải độc hại như CO2, SO2, NO, NO2 do quá trình sản xuất nông nghiệp, do đốt cháy nhiên liệu thải vào không khí..., khi mưa xuống sẽ gây chua đất nghiêm trọng.
Đất nông nghiệp của Hà Nam có độ chua dưới 4,5 (đất rất chua) là 13.433 ha (chiếm khoảng 28% đất canh tác), trong đó hai huyện Thanh Liêm và Bình Lục có diện tích đất chua lớn hơn cả (5.300 ha và 4.003 ha). Đất nông nghiệp bị chua (từ 4,5 - 5,5 ) là 27.778 ha chiếm 59% đất canh tác. Loại đất này có ở tất cả các huyện trong tỉnh với diện tích từ 3.000 ha đến trên 7.000 ha (Báo cáo hiện trạng môi trường năm 1998).
Sử dụng nhiều phân vô cơ trong canh tác nông nghiệp dẫn đến tình trạng đất càng bị chua và làm nghèo các ion bazơ, tăng lượng nhôm, sắt, mangan di động gây hại cho cây trồng, nhất là ngũ cốc, động vật nước ngọt, ngoài ra đất càng chua hoạt tính của các vi sinh vật trong đất ngày càng giảm. Sử dụng nhiều phân hoá học còn làm giảm sút chất lượng nông sản do sự tích luỹ nitơrat trong củ, quả dễ gây ung thư cho người.
Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Hà Nam, thuốc trừ sâu, trừ bệnh cho cây trồng vật nuôi sử dụng mỗi năm một tăng. Từ năm 1997 đến 1999 lượng thuốc trên đã sử dụng tăng từ 60 đến 80 tấn. Các hộ nông nghiệp còn dùng thuốc diệt cỏ, diệt chuột trong nhiều trường hợp đã gây tử vong cho con người.
Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc diệt cỏ nhiều về số lượng, số lần đã dẫn đến ô nhiễm không khí nhất là môi trường đất. Sự tồn tại của chất hữu cơ chậm phân huỷ (từ 6 tháng đến 2 năm) đã phá huỷ hệ sinh thái đất vốn giữ vai trò quan trọng trong việc tạo nên độ phì của đất. Những tồn đọng về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong nông sản, thực phẩm đã gây nguy hại cho người tiêu dùng. Sản phẩm rất khó được chấp nhận trên thị trường và gây thiệt hại trở lại cho người sản xuất.
II. CÁC LOẠI ĐẤT, TÍNH CHẤT VÀ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG HIỆN NAY
Theo nguồn gốc hình thành đất trên cơ sở các mẫu chất phát triển thành đất, theo tính chất chi phối của địa hình trong quá trình hình thành, đất ở Hà Nam có ba nhóm chính sau:
Nhóm đất phù sa đồng bằng độ cao trung bình < 10m, độ dốc 30
Nhóm đất đồi độ cao 10 -100m dốc > 30
Nhóm đất núi độ cao trên 100m, bề mặt dốc đến rất dốc.
1. Nhóm đất đồng bằng
Nhóm đất này hình thành trên cơ sở phù sa đệ tứ của sông Hồng, thường có độ cao tuyệt đối từ 0,4 - 5m so với mực nước biển. Độ dốc tối đa từ 0 - 30, một số ít có độ dốc từ 3 - 80. Trải qua hàng nghìn năm khai thác sử dụng của con người, cùng với việc hình thành hệ thống đê sông, gây nên sự phân hoá cục bộ trên đồng bằng và đã tạo nên các loại đất khác nhau.
1.1. Đất phù sa được bồi hàng năm ven sông
Chủ yếu nằm ngoài đê sông Hồng, ngoài ra ở ngoài đê sông Đáy, sông Châu, một số ít trên sông Nhuệ. Đây là loại đất thành phần cơ giới từ thịt nhẹ đến trung bình, độ phì cao. Hàm lượng chất hữu cơ từ 0,53 đến 1,03%, đạm tổng số là 0,06%, kali dễ tiêu từ 5 đến 8,25mg/100g, cation trao đổi tổng số là 8,71mg đương lượng/100g. Dung lượng hấp thụ khá 63,1%. Loại đất phù sa được bồi hàng năm hình thành trên đất bãi bồi hàng năm ở ven sông. Do được bồi đắp hàng năm nên các bãi bồi cứ cao dần và hiện nay thường đạt độ cao 5 đến 7 mét (hơn cả độ cao đất nội đồng). Diện tích đất phù sa được bồi hàng năm là 10.292 ha, chiếm 12% diện tích tự nhiên. Trên đất phù sa được bồi hàng năm, các cây công nghiệp (như mía, đay, lạc...), cây nông nghiệp (ngô, khoai, lúa...) cho năng suất cao, chất lượng tốt. Loại đất trên được phân bố tập trung ở các xã ven sông Hồng, sông Châu, sông Đáy.
1.2. Đất phù sa không được bồi, ít chua trong đê
Loại đất này phân bố trên dải đồng bằng dọc theo sông Đáy và sông Châu, chúng bao chiếm một diện tích rộng đến 21.970 ha, chiếm 26,1% diện tích tự nhiên của tỉnh.
Đất có màu nâu, nâu vàng hoặc nâu xẫm, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, hàm lượng mùn từ 1,27 đến 2,34%. Lân dễ tiêu từ 10,08 đến 31,1 mg/100g, kali dễ tiêu từ 7,53 đến 13,56 mg/100g, lượng bazơ hấp thụ trao đổi từ 4,13 đến 6,01 mg đương lượng/100g, độ no bazơ từ 26 đến 41%, độ chua pH từ 5,4 đến 5,9. Có nơi tầng glây xuất hiện ở độ sâu 30 - 50cm. Đất nằm dọc hai bên bờ sông Đáy, sông Châu có khả năng tiêu thoát nước tốt. Trên đất vàn cao và đất vàn tiêu thoát nước tốt thường làm 3 vụ. Trên vàn thấp bố trí 2 vụ, nơi đất trũng thường kết hợp canh tác lúa - cá.
1.3. Đất phù sa không được bồi có glây chua
Loại đất này chiếm diện tích lớn nhất trong số các loại đất. Nó có diện tích 23.740ha, chiếm 28,2% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bổ trong ba khu vực chính của tỉnh như ở các xã phía đông của huyện Duy Tiên và phía tây của Kim Bảng dọc theo quốc lộ 1A đến địa phận Phủ Lý.
+ Khu vực bắc Thanh Liêm và bờ tả sông Đáy.
+ Khu vực Bình Lục từ xã Hưng Công, Bối Cầu đến An Nội, Vũ Bản.
Khu vực này thường có địa hình vàn thấp đến trũng. Đất bị glây từ trung bình đến mạnh.
Đất có màu nâu vàng, cam xỉn đến vàng xám. Thành phần cơ giới thịt nặng (limong và sét chiếm từ 41 đến 54%).
Đất có lượng mùn từ 1,32 đến 2,83%, đạm từ 0,04 đến 0,24%, lân dễ tiêu từ 1 đến 8,8mg/100g, kali từ 5 đến 30mg/100g. Tổng lượng bazơ hấp thụ từ 5 đến 7,23mg đương lượng/100g. Độ no bazơ 42 đến 48%. Đất chua pH từ 4,9 đến 5,5. Nhiều nơi độ sâu 25cm đã gặp tầng glây.
Loại đất này thường gặp trên các địa hình vàn thấp, trũng, tiêu nước kém, mực nước ngầm ở nông. Đất thường dùng để cấy lúa 2 vụ.
1.4. Đất phù sa không được bồi trung tính có glây
Loại đất này có diện tích là 4.970 ha, chiếm 5,9% diện tích tự nhiên (STN) của tỉnh. Đất phân bố ở đông bắc của huyện Duy Tiên trên các xã Mộc Nam, Châu Giang và phần bắc huyện Lý Nhân thuộc địa bàn các xã Đạo Lý, Đức Lý, Bắc Lý... Đất có mầu nâu, thành phần cơ giới lớp đất mặt từ thịt trung bình đến thịt nặng. Lớp glây thường xuất hiện ở độ sâu dưới 30cm, đôi chỗ nông hơn.
Đất ở đây được cấp nước tưới thường xuyên từ sông Hồng qua các cống Mộc Nam, Vũ Điện... chính vì vậy đất khá mầu mỡ, độ chua pH từ 6 - 7. Đất được sử dụng cấy hai vụ cho năng suất cao.
1.5. Đất phù sa không được bồi thường đọng nước
Loại đất này phân bố tập trung ở phía nam của tỉnh thuộc địa bàn huyện Bình Lục (từ Tràng An, Đồng Du đến Tiêu Động, An Lão) và phía đông huyện Thanh Liêm từ xã Thanh Tuyền đến xã Thanh Tân. Đất phù sa không được bồi đọng nước có diện tích 17.170 ha chiếm 20,4% STN của tỉnh.
Đất có mầu nâu vàng, thành phần cơ giới từ thịt đến thịt pha sét. Đất ít mùn, hàm lượng mùn 1 đến 1,21%; đạm tổng số 0,06 đến 0,157 mg/100g; lân dễ tiêu từ 3 đến 14mg/100g; kali dễ tiêu từ 3,2 đến 6mg/100g; tổng lượng bazơ trao đổi từ 4,12 đến 5,09mg đương lượng/100g; đất đói bazơ (tổng lượng bazơ trao đổi từ 36 đến 45%), đất chua (pH = 4,9) đến hơi chua (pH = 5,8). Đất thường bị glây ở tầng thứ hai (độ sâu từ 30 đến 80 cm).
Loại đất này ở địa hình thấp nhất của đồng bằng. Ngày nay, nhờ hệ thống mương tiêu ngày càng hoàn thiện, đất phần lớn đã được thoát nước để cấy lúa hai vụ, hoặc kết hợp một vụ lúa một vụ cá cho hiệu quả cao hơn.
1.6. Đất than bùn
Ở những lòng chảo giữa núi và trước núi (quá trình đầm hoá phát triển tạo nên loại đất than bùn). Nơi đây ứ đọng những sản phẩm bào mòn từ các núi đồi xung quanh. Các lòng chảo được đầy dần lên do các sản phẩm bào mòn tích đọng và xác thực vật đầm lầy như rong rêu, cỏ sậy, sen, súng hàng năm chết đi tích lớp lên. Trong điều kiện ngập nước thường xuyên, sự phân huỷ xác thực vật dẫn đến hình thành loại đất than bùn. Đất than bùn có diện tích 282ha chiếm 0,33% STN của tỉnh phân bố trong các đầm lầy ở Ba Sao, Khả Phong huyện Kim Bảng.
Đất than bùn có mầu đen, ướt thì nhão, thành phần cơ giới là sét hay thịt nặng, hàm lượng mùn rất cao 29,8%, đạm tổng số 1,58 đến 2,22%. Lân dễ tiêu từ 1,92 đến 3,53 mg/100g, kali dễ tiêu từ 7,5 đến 12mg/100g. Tổng lượng bazơ hấp thu đến 16,8 mg đương lượng/100g. Độ no bazơ của đất từ 26 đến 44,4%. Đất chua với độ pH từ 5,2 đến 5,3. Lớp đất than bùn dày từ 0,5 đến 1,5m, nằm trên lớp sét màu xám đến xám trắng.
Đất than bùn trồng lúa năng suất thấp và canh tác khó khăn. Hiện tại đang được cải tạo để nuôi trồng thuỷ sản. Các đầm, hồ trước núi được cải tạo và xây dựng thành khu du lịch sinh thái (như ở Khả Phong). Than bùn có hàm lượng các chất hữu cơ cao đã được khai thác làm phân vi sinh và chất đốt.
2. Nhóm đất đồi, núi thấp trên phiến thạch sét, cát bột kết, cát kết
Đất phân bố ở phía tây các huyện Kim Bảng và Thanh Liêm trên các đồi, núi thấp được bao phủ chủ yếu là phiến thạch sét xen lẫn cát kết, cát bột kết. Đất đồi, núi thấp phân bố ở độ cao phổ biến từ 50 đến dưới 200m, có địa hình bề mặt trơn tru, mềm mại không gồ ghề thành vách như những núi đá vôi. Nhóm đất này có diện tích 2.860 ha chiếm 3,4% diện tích tự nhiên và chia thành 3 loại.
2.1. Đất feralit đỏ vàng trên đá phiến sét, cát bột kết và cát kết
Quá trình phong hoá các đá trên hình thành các loại đất đỏ vàng có tầng dày trên 1m.
Đất đỏ vàng hình thành trên phiến thạch sét chiếm đa số, chúng có tầng đất dày hơn và độ phì cao hơn.
Loại đất này phân bố trên các đồi núi thấp thuộc các xã Ba Sao, Thi Sơn, Liên Sơn (huyện Kim Bảng) và các xã Thanh Tân, Thanh Nghị, Thanh Hải, Thanh Lưu và Thanh Tâm (huyện Thanh Liêm).
Đất feralit đỏ vàng còn phân bố trên núi Đọi, núi Điệp của huyện Duy Tiên, núi An Lão của huyện Bình Lục.
Đất có mầu đỏ vàng đến nâu vàng, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng, tầng đất dày đến 1,2m. Đất có hàm lượng mùn giảm từ trung bình (ở tầng đất mặt) đến nghèo (ở tầng sâu hơn 20cm). Hàm lượng lân dễ tiêu rất nghèo; hàm lượng kali trung bình ở tầng đất mặt và nghèo ở tầng dưới 20cm. Hàm lượng bazơ hấp thụ từ 2,6 đến 4,5mg đương lượng/100g. Đất rất đói bazơ. Đất chua đến hơi chua.
Đất đỏ vàng trên phiến thạch sét, cát bột kết, cát kết ở Hà Nam có tầng đất dầy đến rất dầy. Tuy rằng còn có đá lẫn, đá trồi, song nhìn chung đất khá tốt hầu hết đã được khai phá trồng chè, trồng sắn hay các cây ăn quả. Nơi có địa hình thoải đã được khai phá làm nương trồng ngô, đậu.
2.2. Đất feranit biến đổi do trồng lúa nước
Đất có ở đồng bằng trước dãy núi từ Cô Tiên đến núi Đùng (huyện Thanh Liêm) và khu vực đồng bằng Do Lễ, Liên Sơn (huyện Kim Bảng). Đất có thành phần cơ giới thịt trung bình, bị rửa trôi, xói mòn khá mạnh do nước mưa trên núi trượt xuống. Đất có kết von sắt nhôm, độ phì thấp.
2.3. Đất feranit tầng mỏng bị xói mòn mạnh
Đất được hình thành từ mẫu chất phiến thạch sét, cát kết, cát bột kết nhưng do ở địa hình dốc trên 250, độ che phủ thực vật kém nên bị xói mòn rửa trôi mạnh. Tầng đất mỏng với chiều dày nhỏ hơn 30cm. Đất có diện tích chừng 430,5ha phân bố rải rác trong các xã Liên Sơn, Thanh Nghị, Thanh Tân của huyện Thanh Liêm và ở Ba Sao thuộc huyện Kim Bảng.
Đất feralit tầng mỏng thành phần cơ giới thịt pha cát có mầu nâu đến nâu vàng, thành phần cơ giới là thịt nhẹ. Đất có rất ít mùn, đạm và lân dễ tiêu nghèo (5mg/100g), kali dễ tiêu cũng nghèo (nhỏ hơn 5mg/100g). Đất rất đói bazơ và chua.
Do những đặc tính trên nên đất ít được sử dụng để trồng cây nông nghiệp mà chỉ dùng vào việc trồng cây lâm nghiệp để chống xói mòn, bảo vệ và tăng thêm độ dày của đất.
3. Nhóm đất trên núi đá vôi
Đất có màu nâu nhạt, nâu đỏ đến nâu đen, phân bố ở thung lũng, sườn, rải rác trong các hốc đỉnh núi đá vôi. Chúng có diện tích chừng 7.400ha chiếm 8,8% STN. Phân bố tập trung ở khu vực núi đá vôi thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm cũng có thể chia ra một số loại sau:
3.1. Đất thung lũng dốc tụ của núi đá vôi
Đất có màu nâu nhạt, thành phần cơ giới sét pha có kết cấu cục, có kết von nhỏ. Đất chua, hàm lượng mùn khá và có rất no bazơ (độ no bazơ đến 99%). Đất thường có độ dốc không quá 250. Đây là loại đất mầu mỡ, tuy nhiên rất dễ thiếu nước vào mùa khô. Đất thích hợp cho các loại cây ăn quả chịu khô hạn tốt như dứa, mít...
3.2. Đất đỏ nâu ở sườn và chân núi đá vôi
Đất có màu đỏ nâu do chứa ít nước hơn ở thung lũng. Tầng dầy của đất thay đổi tùy sườn dốc hay dốc mạnh. Đất được hình thành từ các sản phẩm sườn tích và lũ tích. Đất khá nhiều mùn, giầu bazơ (độ no bazơ đạt 90%). Tuy nhiên, đất còn nhiều đá lẫn, đôi chỗ đá gốc nổi lên.
Đất được trồng một số cây ăn quả và cây lâm nghiệp chịu hạn tốt.
3.3. Đất đá vôi nâu đen
Đất phân bố trên sườn và đỉnh các núi đá vôi. Đất không tạo thành tầng mà rải rác trong các hang hốc, khe... Đây là nơi chứa đựng một quần thể thực vật rất phong phú và phát triển mạnh mẽ vào mùa mưa.
Đất khó sử dụng trong canh tác nông - lâm nghiệp, nên bảo vệ lớp phủ thực vật, để khai thác các cây thuốc đặc dụng.
III. SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN ĐẤT
Đất được hiểu dưới giác độ thổ nhưỡng nói riêng hay đất đai nói chung là một tài nguyên quý giá cần được sử dụng có hiệu quả, cần giữ gìn bảo vệ tốt làm cơ sở cho sự phát triển bền vững của lãnh thổ.
Trong những năm gần đây, do sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền với việc phát triển đô thị và các loại hình dịch vụ, một bộ phận quan trọng đất nông nghiệp đã chuyển sang đất ở như đất đô thị, đất ở nông thôn và đất chuyên dùng cho các cơ sở công nghiệp, các khu công nghiệp và cho giao thông.
Sự dịch chuyển trong tài nguyên đất đai ở Hà Nam từ năm 1995 đến năm 2000 như sau:
- Đất nông nghiệp (không tính mặt nước nuôi trồng thủy sản) giảm 899,7 ha;
- Đất lâm nghiệp tăng 9.042 ha; năm 2000 đạt 9.437 ha; 2003 đạt 9.628 ha
- Đất nuôi trồng thủy sản tăng 322,7 ha; năm 2000 đạt 4.507,7 ha; năm 2003 đạt 4.660 ha.
- Đất chuyên dùng tăng 513 ha; năm 2000 đạt 11.615 ha; năm 2003 là 12.043 ha.
- Đất ở tăng 194,3 ha; năm 2000 đạt 4.282,3 ha; năm 2003 là 4.383 ha.
Đối chiếu với quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của Hà Nam đến năm 2010 thì:
- Đất nông nghiệp (bao gồm cả mặt nước nuôi trồng thủy sản) sẽ tiếp tục giảm.
- Đất lâm nghiệp đã vượt so với diện tích quy hoạch là 1.500 ha (một phần do quy đổi cây trồng phân tán).
- Đất ở tiếp tục tăng
- Đất chuyên dùng tiếp tục tăng.
Tình hình sử dụng đất đai nêu trên cho thấy đã có một bộ phận quan trọng đất nông nghiệp chuyển sang đất chuyên dùng, tốc độ bình quân mỗi năm từ 1995 đến năm 2000 là 117,8 ha.
Sử dụng đất để sản xuất nông, lâm nghiệp khác hẳn loại hình sử dụng đất để ở và đất chuyên dùng ở chỗ: một bên thì chú ý tới độ phì của đất là chính, còn một bên thì chú ý tới vị trí của đất đai là chính.
Xuất phát từ đặc điểm bình quân đất nông nghiêp trên đầu người ở Hà Nam (16 người/ha hay 625 m2/người năm 2000) thấp hơn hai lần so với mức bình quân của cả nước và thấp hơn bốn lần so với mức bình quân của thế giới (năm 2000 thế giới 4 người/ha), con đường thâm canh cây trồng vật nuôi trong đó có việc kết hợp nông nghiệp với lâm nghiệp, kết hợp nuôi trồng trên cạn với nuôi trồng dưới nước là chìa khoá giải quyết những nhu cầu về nông sản cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Hà Nam.
Trong nhiều năm qua để sử dụng đất nông nghiệp một cách có hiệu quả, đáp ứng các nhu cầu về nông sản ngày một nâng cao về số lượng và chất lượng, Hà Nam đã chọn con đường thâm canh và mở rộng diện tích ở những nơi đất có khả năng nông nghiệp bằng việc không ngừng hoàn thiện hệ thống tưới tiêu cùng với nhiều biện pháp thâm canh khác.
Hệ thống sông ngòi, kênh, mương, cống, đập... từ các thế hệ trước để lại đến nay vẫn luôn được tôn tạo, bảo vệ và bổ sung. Mật độ hệ thống kênh mương vùng đồng bằng đạt đến 7km/km2. Kết hợp với hệ thống các trạm bơm tưới tiêu bố trí rộng khắp cùng với hệ thống cống lấy nước tưới, tiêu- ra sông, Hà Nam đã thực sự lấy thuỷ lợi là biện pháp hàng đầu để thâm canh nông nghiệp nhằm sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn. Nhờ hệ thống thủy lợi hoàn thiện đó: 80,81% diện tích gieo trồng được chủ động nước tưới, 64% diện tích đất nông nghiệp tiêu thoát nước tốt.
Hệ thống thuỷ lợi hoàn thiện đã giúp người dân Hà Nam tự chủ trong lao động, sản xuất của mình trên mảnh đất đồng bằng phù sa thấp trũng và do vậy tự chủ được cuộc sống của mình trước thiên nhiên.
Hệ số sử dụng đất nông nghiệp ở Hà Nam từ 1995 đến năm 1997 là 2,1 lần, đến năm 2000 đã đạt đến 2,3 lần.
Để sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, người nông dân Hà Nam còn chú trọng đến việc đầu tư phân bón. Trên đất hai vụ lúa một năm 1 sào đất thường được bón 480 đến 500kg phân chuồng, đạm urê từ 15 - 17,5kg, phân lân từ 28
- 40 kg, phân kali từ 7 - 15kg, supephốtphát, técmôphốtphát và nhiều lượng phân bón hoá học khác tăng lên hàng năm. Lượng phân bón trên chưa vượt quá ngưỡng mà những phân tích nông hoá thổ nhưỡng cho phép với lúa 2 vụ.
Cho tới nay nông dân phần nào đã nhận thấy tác hại của việc bón nhiều phân vô cơ nhưng thiếu phân hữu cơ. Tác hại đó là đất trở nên cứng hơn (giảm độ tơi xốp), bị chua đi và cuối cùng là chất lượng nông sản thấp, bảo quản khó khăn nên người tiêu dùng khó chấp nhận.
Chính vì thế mà lượng phân bón vi sinh (dựa trên những vật liệu hữu cơ trong than bùn) đã sử dụng tăng lên đáng kể thông qua các cơ sở chế biến.
Đàn bò tăng 3.650 con, đàn lợn tăng 32.500 con, đàn gia cầm tăng 606.300 con từ năm 1997 đến năm 2000 (đến năm 2003 vẫn theo chiều hướng trên) sẽ là cơ sở để đảm bảo nguồn phân bón hữu cơ cho đất nhằm đáp ứng nhu cầu của cây trồng và tăng năng suất chất lượng sản phẩm.
Hà Nam có 312.995 lao động trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp. Bình quân hàng năm lao động cho 1 ha nông nghiệp, với mức độ thuỷ lợi hoá như hiện nay, mức độ sử dụng cơ giới trong sản xuất nông nghiệp cũng tăng lao động trong nông nghiệp dần dần chuyển vào các lĩnh vực khác của nền kinh tế.
Lao động nông nghiệp còn lại đã được đào tạo về kỹ thuật thâm canh, nuôi trồng các giống cây con mới, đặc biệt đã được đào tạo về phương pháp phòng trừ dịch bệnh tổng hợp (IPM). Những kiến thức đó đã giúp người dân nơi đây có những can thiệp hợp lý vào đất đai nhằm nâng cao năng suất và chất lượng cây trồng.
Các giống cây con mới đưa vào sản xuất nông nghiệp đã phát huy hiệu quả cao qua việc sử dụng đất nông nghiệp. Các giống lúa lai F1, CR 203, DT10, tạp giao, thần nông và các giống gia cầm, gia súc mới được sử dụng ngày càng nhiều (như: vịt siêu trứng, ngan siêu thịt, lợn lai, bò sữa, dê bách thảo, cá chim trắng, trắm Ấn Độ, chép 3 màu) góp phần tăng năng suất của ngành chăn nuôi và trồng trọt.
Chế độ luân canh lúa màu đã được áp dụng đang góp phần đáng kể vào việc nâng cao thu nhập của người dân và cải thiện đất nông nghiệp. Diện tích các cây trồng đó đã tăng nhanh trong vòng 3 năm từ năm 1997 đến năm 2000 như: đậu tương tăng 188%, lạc tăng 139%. khoai tây tăng 240%, ngô đông tăng 147%.
Trên đất trũng mô hình lúa - cá, sen - cá, chuyên cá đã thực sự phát huy tác dụng và hiệu quả trong việc canh tác đất trũng. Mặt khác nhờ có chính sách giao đất lâu dài cho hộ nông dân, cùng với quyền sử dụng, thừa kế, chuyển nhượng là cơ sở tốt để xây dựng các mô hình trang trại nông nghiệp, phát huy được nhiều nguồn lực sẵn có để phát triển.
Đất lâm nghiệp cũng được giao cho các hộ nông dân sử dụng lâu dài qua các hợp đồng giao đất, giao rừng cho chính quyền địa phương. Nhờ được Nhà nước hỗ trợ đầu tư hợp lý cũng như công tác quản lý bảo vệ đất lâm nghiệp và rừng từ cơ sở, trong các năm từ 1998 đến 2000, diện tích rừng trồng của Hà Nam tăng 4,3 đạt tới 1.684,3 ha. Diện tích rừng tự nhiên (có rừng phòng hộ) được khoanh nuôi, bảo vệ và phát triển đạt 7.752,7 ha.
Các cây rừng được trồng nhiều nhất là thông, keo lá tràm, lát hoa đã tỏ ra thích nghi và cho hiệu quả cao. Ngoài ra, mô hình nông - lâm kết hợp như kết hợp cây rừng và cây ăn quả như: vải chua, vải thiều, na dai; kết hợp với chăn nuôi bò, dê, ong, gia cầm, đã phát huy đầy đủ ưu thế của hệ sinh thái nông - lâm nghiệp trên đất đồi rừng.
Nhờ có việc khoanh vùng, bảo vệ và quản lý tốt, chức năng phòng hộ của rừng đối với đất nông nghiệp và các công trình dân sinh càng thể hiện rõ hơn. Ở Hà Nam cũng thành lập nhiều khu du lịch sinh thái gắn với việc tôn tạo các di tích văn hoá, điều đó đã và sẽ đem lại một nguồn thu nhập đáng kể từ hoạt động du lịch.
Chương VII 
SINH VẬT
Là một khu vực thuộc đồng bằng Bắc Bộ, có một phần diện tích là vùng núi tiếp giáp với hệ thống núi ở phía tây, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, vị trí thuận lợi trên con đường di cư của các khu hệ sinh vật nên thế giới sinh vật ở Hà Nam phong phú, da dạng về loài và sinh cảnh. Tài nguyên sinh vật đã và luôn giữ vai trò quan trọng trong cuộc sống của người dân và góp phần phát triển kinh tế trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
I. CÁC HỆ SINH THÁI
1. Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm trên núi đá vôi
Đây là hệ sinh thái chiếm vị trí quan trọng nhất trong vùng nghiên cứu, với diện tích khoảng 1.100 ha. Hầu hết diện tích hệ sinh thái núi đá vôi tập trung ở vùng Thanh Sơn, được che phủ bởi kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm. Rừng được bảo tồn tương đối tốt. Có thể phân ra các tầng như:
1.1. Tầng trên cùng: (còn gọi là tầng A) gồm những cây gỗ lớn, tán không liên tục, chiều cao trung bình từ 15 - 20m. Có một số cây cao tới 25 - 30m, nhưng không đủ nhiều để hình thành tầng vượt tán. Các cây gỗ lớn có họ Đào lộn hột: xuyên cóc; họ Trám: trám; họ Thị: các loài thị; họ Côm: côm có cuống; họ Thầu dầu: tai tượng Kerr; lây dông, lây dông cuống ngắn; họ Dẻ: sồi Helfer, sồi Kingia, họ Long đởm: trai Tích Lan; họ Long não: rè bông; họ Xoan: Sang ngâu; họ Dâu tằm: sung làng Cốc, đa bắp vè, sung bầu; họ Santa: cương lê Wallich; họ Bồ hòn: trường, trường lá rộng; họ Sếu: sếu hôi, sếu đông, du...
1.2. Tầng thứ hai gồm những cây gỗ nhỏ, đường kính trung bình từ 20 - 30cm, chiều cao tối đa không vượt quá 10m. Các loài thường gặp: họ Đào lộn hột: bit tát; họ Na: an phong Bon; họ Đinh lăng: chân chim dạng cọ, chân chim Petelot; họ Thầu dầu: cách Petelot, cách hoa Sumatra, mò, sang trắng Biên Hoà, ruối nâu, ruối thon, me Bình; họ Mùng quân: chà ran sếu, chà ran Nam Bộ; họ Dâu tằm: đa chai, sộp, ruối ô rô, teo nông; họ Đơn nem: xay trước đào; họ Sim: trâm Bắc Bộ, trâm; họ Nhài: tân Trung Quốc; họ Lân vĩ: lân vĩ vảy rộng; họ Hoa hồng: sơn trà An; họ Cà phê: trèn Colline; họ Cam chanh: tiểu quát lá tròn, cơm rượu lá chanh; họ cỏ roi ngựa: mắt cáo, họ Cau dừa: đoát hay búng báng, đùng đình một buồng, đùng đình ngứa, mật cật, cau Hoà Lý...
1.3. Tầng thứ ba là tầng cây bụi gồm một số loài thường gặp họ Quăng: quăng râu; họ Na: cách thư tái, mật hương Việt Nam, mại liễu, tháp bình Bắc Bộ, giả bồ hoa nhỏ; họ Trúc đào: lồng mức tái, lồng mức lông; họ Cà mà: cà mà, cà mà vòi to; họ Cáp: cáp, cáp chân vịt; họ Chân danh: chân danh ngao; họ Bứa: rù rì; họ Nhót: nhót; họ Thầu dầu: cù đèn lá dày, mặt quỷ, diệp hạ châu lưỡi; họ Mua: sầm Scutell; họ Dâu tằm: vàng lô, vú bò, gừa, sung đầu tên; họ Đơn nem: cơm nguội Cămbôt, cơm nguội năm cạnh; họ Dương đầu: hồng trục; họ Nhài: lài đài dài, lài; họ Lân vĩ: lân vĩ rừng; họ Hắc châu: hắc châu; họ Mao lương: Vàng mầu; họ Táo ta: táo Nêpal, táo rừng, táo cong, chanh châu, đồng; họ Cà phê: găng hai hột, khuẩn quả Trung Quốc, xà căn máu, xà căn sậm, găng; họ Cam chanh: giổi lõm, cơm rượu Craib, nguyệt quý nhẵn, hoàng mộc cánh bầu, hoàng mộc leo; họ Trầm hương: gió niệt; họ Đay: cò ke hai phiến, họ cỏ roi ngựa: bội tinh; họ Cau dừa: mây Bắc Sơn, song châu Bắc Bộ, mật cật rẻ; họ Phất dù: phất dù.
1.4. Cuối cùng là tầng cỏ quyết gồm một số loài thuộc họ Hoà thảo (Poaceae) như Đót (Thysanolaena maxima), Lau (Saccharumarundinaceum), Lách (Saccharum spontaneum). Một số thực vật khuyết như Pteris vittata, Cyclosorus baviensis. Ngoài ra, còn có Chuối rừng (Musa coccinea), một số loài thuộc họ Gừng (Zingiberaceae), họ Thu hải đường (Begoniaceae), họ Bóng nước (Balsaminaceae)...
Các loài cỏ: Gai chuông, xuân tiết bò, xuân hoa, kiến cò móc, cỏ xước, ngưu tất, cước đài, sơn địch, đơn buốt, móng tay, móng tay Tàu, móng tay có mụt, thu hải đường Bon, bê ca sét, ri ta Poilanei, song quả Bon, bán bế hoa đầu, tía tô, gié lá tròn dài, hàm ếch rừng, địa háo bò, an điền hai hoa, gai, mán Thorel, mán tím, ông lão, thuốc vòi, cung nữ, chèo bẻo đen, ngọc nữ, a han, hoa tím nhọn, hoa tím móng ngắn, lâm trai, thài lài, kiết riêng biệt, kiết thanh, kiết trường thư, các loài địa lan: cầu diệp, hoàng thảo, nhẫn diệp cách, nhẫn diệp Man, hạc đính, lụi, móng rùa, vân hài, các cây cỏ thuộc họ Hoà thảo: cầu dĩnh, sặt, bách bộ...
Các loài dương xỉ có: loã tùng trần, quyển bá hai dạng, quyển bá nhật, tóc Vệ nữ, song quần lá to, yểm dực xẻ năm, can xỉ bầu dục, can xỉ Belanger, can xỉ Colani, can xỉ hình phăng, can xỉ thường, can xỉ ở đất, đà hoa, đà hoa xẻ, cổ lý cánh ẩn, cổ lý elip, cổ lý Henry, hoà mạc, chân xỉ, chân xỉ hình gươm, chân xỉ Henry, sẹo gà, chân xỉ có sọc, thư dực, lưỡi heo dai.
Các loài dây leo có: bòng bong hợp, gắm cọng, ngôn Trung Quốc, giom Tournier; ẩn lân Buchaman, tiểu quả Wight, cáp Thượng Hải, cáp Bắc Bộ; gối chồi, thảo bạc đầu, bìm, bìm Thalis, hồ Hương Linh Giava, móng bò tản phòng, móng bò diện, vấu diều, cóc kèn Bắc Bộ, cát căn, liên đằng hoa nhỏ, liên dằng hoa đỏ, dùi đục Bon, mạng nhện, hồ câu Bà Rịa, Hoằng đằng, sung dây, duối leo, lạc tiên Adeni, tiêu thất, bích nữ lông, cát đằng hoa to, vác bao phấn đen, chìa vôi, tứ thư hồng, tứ thư thân đẹp, tứ thư trên đá, ráy Ấn Độ, khoai trời, rạng, từ Poilan. Các loài sống phụ sinh có: thạch tùng sóng, đuôi phượng Bon, mã đào nhọn, sơn nữ.
Quần cư động vật gồm các loài thú (30 loài, 88,23% các loài thú); các loài kiếm ăn chủ yếu trên cây như các loài khỉ, voọc mông trắng, các loài sóc, các loài có hang trong các hốc đá, kiếm ăn trên mặt đất như dúi mốc, chuột đất lớn, nhím, đồi, cu li lớn, chồn vàng, các loài cầy, mèo rừng, lợn rừng, nai, hoẵng, sơn dương, tê tê vàng, các loài thú sống trong hang, động lớn như các loài dơi. Loài voọc mông trắng là loài duy nhất chỉ sống trên vùng núi đá vôi, còn các loài khác đều có sự phân bố rộng hơn.
Có đến 114 loài chim (75% số loài chim) có mặt trong hệ sinh thái này. Trong số này có một số loài cò, diều, ưng, cắt, gà rừng, cun cút, các loài cu, bìm bịp, cú, yến, trảu, thầy chùa, gõ kiến, nhạn, chìa vôi, phường chèo, chào mào, bông lau, cành cạch, nghệ, bách thanh, chích choè, khướu, chích, đớp ruồi, rẻ quạt, chim sâu, hút mật, sáo, chèo bẻo... Các loài chỉ sống trong hệ sinh thái này thì chỉ có diều núi, diều đầu trắng, gà lôi trắng, cu luông, cu xanh mỏ nhọn, khát nước, cú mèo Latusơ, nuốc bụng đỏ, yểng quạ, đầu rìu, cao cát bụng trắng, cu rốc tai đen, gõ kiến nhỏ đầu xám, thiên đường đuôi phướn, sáo đá Trung Quốc.
So với thú và chim thì số loài bò sát và ếch nhái sống ở khu vực núi đá vôi ít hơn nhiều chỉ có 8 loài (33,33% số loài) như tắc kè, nhông xanh, ô rô vảy, trăn đất, rắn roi thường, rắn hổ mang, rắn lục, ngoé. Các loài ếch nhái rất hiếm ở núi đá vôi. Các loài chỉ sống ở núi đá vôi có tắc kè, trăn đất, rắn lục.
Ngoài ra còn có rất nhiều động vật, thực vật bậc thấp, côn trùng sống trong hệ sinh thái này. Thực vật tự dưỡng là thảm cây rừng nhiều tầng, đây cũng là nguồn thức ăn của các động vật, các loài nấm, vi khuẩn giữ vai trò phân huỷ ở cuối của chu trình thức ăn.
2. Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm trên đồi núi đất
Chiếm diện tích không lớn, phân bố rải rác, nhưng cũng có vai trò khá quan trọng vì tạo được sinh cảnh thuận lợi cho một số động vật sinh sống. Tại một khu vực rừng còn được bảo vệ tốt, có thể nhận thấy hiện đang tồn tại kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm. Thành phần loài của rừng khác hẳn so với kiểu thảm trên núi đá vôi. Cấu trúc cũng có 4 tầng như:
2.1. Tầng A gồm một số loài cây gỗ lớn, đường kính tới 70 - 80cm, cao 25-30m, nhưng đều là cây gỗ có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, ít giá trị kinh tế. Tầng A tạo thành tán liên tục. Các loài thường gặp có các cây gỗ trong các họ Quăng: quăng Trung Quốc, tré, quăng Bắc Bộ; họ Đào lộn hột: sơn cóc, chây lớn, chây láng, chây lá rộng, xuyên cóc; họ Bùi: bùi tía, bùi Nam Bộ, bùi Wight; họ Quao: có 3 loài gỗ đinh; họ Bứa: thành ngạnh nam, đỏ ngọn, bứa xẻ, bứa lá tròn dài, bứa Planchon; họ Thị: thị Arian, thị Dasyphy; họ Côm: Côm Griffth và 3 loài khác; họ Thầu dầu: nhội tía, dâu ta; họ Đậu: trạch quạch, sóng rắn Trung Quốc, cứt ngựa, doi Chevalier, mán đỉa, doi Eberhardtii, giác, doi Phú Quốc, dái heo, hằn học, doi hữu ích, trắc Balansalim sóng có lông, vàng anh (ven suối); họ Dẻ: kha thụ Trung Bộ, kha thụ dữ, kha thụ Ấn Độ, Sồi; họ Mùng quân: bê rết, 2 loài chà ran, lọ nồi Trung Bộ, lọ nồi Hải Nam; họ Chẹo: chẹo Roxburghii; họ Long não: chập chại Bắc Bộ, mạy phong, rè bông, quế Bắc Bộ, cà đuối Bắc Bộ, liên đàn Balansa, mò giáy, mò long, bời lời mọc vòng, kháo thơm, kháo trái đẹp; họ Bằng lăng: bằng lăng; họ Ngọc lan: dạ hợp bông, giổi Balansa; họ Xoan: gội, gội nước, quếch, huỳnh đàn dài, sang ngâu; họ Dâu tằm: sui, sung có vông, sung làng Cốc, đa bóng, họ Máu chó: xăng máu, máu chó; họ Mật sạ: mật sạ Henry; họ Bồ hòn: nhãn rừng, xơ, nây Sunda, chôm chôm Hậu Giang, chôm chôm mật, trường Lecomte, trường; họ Hồng xiêm: bà ra vàng; họ Khổ mộc: bút; họ Côi: côi Trung Bộ; họ Trôm: thung; lòng mán lá thon, lòng máng dị diệp, trôm dài màng, trôm thon, trôm quý, trôm quạt; họ Cò ke: chông; họ Du: ki, ki gân bằng...
2.2. Tầng B gồm một số cây gỗ nhỏ, đường kính từ 15 - 20cm, chiều cao tối đa không quá 15m, phân cành sớm, thường gặp là các loài trong các họ Đào lộn hột: sơn Phú Thọ, dâu gia xoan, sơn; họ Na: Bán thư, quần đầu, bồ quả men; họ Trúc đào: lồng mức lông; họ Đinh lăng: đại đinh hai hột, chân chim tám lá chét, thôi hoang; họ Cúc: Bông bạc; họ Giác mộc: giác mộc; họ Sổ: sổ, sổ ngũ thư; họ Cùm rụm: cùm rụm nhọn, doat lá dài; họ Thầu dầu: bọ nẹt, long đồng Đồng Châu, đỏm, đỏm thon, lộc mại sóc Dalton, sóc Tích Lan, mã rạng tai, bông bẹt, ba chỉa, sòi, dầu sơn; họ Đậu: sóng rắn sừng nhỏ, keo dậu, khê núi, mát đánh cá, ràng ràng; họ Sau sau: chan thư; họ Thụ đào: mao hùng mềm; họ Xoan: ngâu Roxburghii, ngâu Vân Nam, cà muối; họ Dâu tằm: sung, dâu chùm dài; họ Sim: trâm chụm, sắn thuyền; họ Nhài: tráng luân sinh, lọ nghẹ; họ Kích nhũ: săng ớt Trung Bộ, săng ớt xanh; họ Hoa hồng: sô xoay, vàng nương; họ Cam chanh: giổi Harmand, dấu dầu, hoàng mộc dài; họ Mật sạ: thanh phong Diels; họ Bồ hòn: ngoại mộc chân dài; họ Trôm: trứng cua rừng, màng kiêng, trôm hoa nhỏ; họ Bồ đề: ô rếp; họ Chè: trà hoa đuôi, trà hoa Gaudichaud; họ Cỏ roi ngựa: cách phát hoa ngắn; các cây thân cột họ Cau dừa: kè, cau chuột Bà Nà, cau chuột Duperre, cau Hoà Lý Trung Quốc...
2.3. Tầng C gồm một số cây bụi, phân cành sớm, chiều cao tối đa không quá 8m, đại diện là các loài dương xỉ khổng lồ có tọa tiên bẩn, tọa tiên có cuống; cây ngành Hạt trần có tuế, họ ô rô: ô rô núi; họ Dương đào: sổ đả Roxburghii; họ Na: an phong Gaudichaud, mạo quả có mỏ, hoa dẻ Trung Quốc, cách thư nhọ; họ Trúc đào: ba gạc Cămbôt, râu chim; họ Đinh lăng: than, mô biến thiên, chân chim hoa trắng; họ Cáp: cáp Assam, cáp Vân Nam; họ Gối: gối chùm tự tán, chân danh không rõ; họ Bàng: chưng bầu chụm ba; họ Dây khế: trường khế, lốp bốp; họ Thầu dầu: chòi mòi Collet, chòi mòi Ford, tai nghe, cấm tử núi, dé Đông Dương, bã đậu, bổ ngót rừng; họ Đậu: lăng yên tro, dực thuỳ lá nhỏ; họ Dâu tằm: ngái vàng, ngái khỉ, ngái đơn; họ Đơn nem: cơm nguội tản phòng, cơm nguội nhăn, cơm nguội rừng, rè tròn dài, đồng rất nhọn, đồng đơn, đơn nem; họ Dương đầu: dương đầu kết lợp; họ Nhài: lài leo, ram lỗ bì, ram, mộc, mộc cọng; họ Chanh ốc: chanh ốc; họ Táo ta: rút rễ; họ Hoa hồng: dum đào Moduc, dum nhọn; họ Cà phê: mẫu đơn Balansa, mẫu đơn Henry, xú hương Trung Quốc, xú hương Eberharrd, lẩu đỏ, căng răng nhọn; họ Cam chanh: tứ chẻ ba, lá méo; họ Bồ hòn: ngoại mộc Petelôt, gió khơi; họ Chè: linh; họ Cò ke: trầm mai; họ Gai: vũ tiễn, cung nữ, nai bìa nguyên, nai Petelôt; họ cỏ roi ngựa: tử châu trắng, nàng nàng, tử châu Nhật, bọ mẩy, bạch đồng nam, các cây họ Cau dừa như mây bốn cạnh, mây Bắc Bộ, họ Phất dù: phất dù; họ Dứa dại: dứa dại bụi nhỏ, dứa Bắc Bộ; một số loài tre, nứa cũng tham gia vào cấu trúc của tầng này.
2.4. Tầng cỏ quyết thường cao không quá 2m với các cây trong ngành Dương xỉ như có quyển bá yếu, quyển bá lá dày, rớn đen, nguyệt xỉ Philippin, thần mô lá mảnh, thù xỉ Trung Quốc, hùng dực như có tơ, song quần thô, song quần Mallaca, song quần Petelôt, bán tự, mộc (dực nam, mộc dực bao chân, yểm dực cánh, yểm dực Leuse, yểm dực Simon, yểm dực thay đổi, can xỉ một bên, dừa đông, vi lân, mạc diệp, đàn biết tai, bích xỉ, bích xỉ dạng lạ, hiển dực có hàng, cổ lý ngón, bạch thiệt, vi quần, vi quần Stere, hoà mạc, cỏ lương, chân xỉ Faury, chân xỉ Finôt, chân xỉ Greville, chân xỉ Henry, chân xỉ nhiều khía, chân xỉ lược, chân xỉ có sọc, thư dực, lưỡi beo hẹp...
Các loài cỏ trong các họ khác có họ Ô rô: chàm mèo, hoa trong, gai kim dày, gai chuông, lưỡng thiệt, lá diễn, hạ mái phù, đình lịch, xuân tiết tiền, hoả rô, xuân hoa; họ Rau dền: dền cảnh, dền, dền nhọn, dền đuôi ngắn, dền đuôi chồn, cước đài đầu; họ Rau má: rau má Giava; họ Cúc: cúc vàng, kim đầu thon, cẩu nhi thái, cải đồng bạch đầu, bạch đầu liễu; họ Thu hải đường: thu hải đường Bon, thu hải đường rìa; họ Hoa chuông: ngân đằng, ngân đằng Giava; họ Đậu: hầu vĩ tóc; họ Cựa ri: cải cần; họ Thượng tiễn: bê ca, ri ta, xuyên thư, mõ bao; họ Bạc hà: mồng gà rừng, ích mẫu, vi hàng; họ Lỗ bình: lỗ bình Tích lan; họ Bông: ké đồng tiền; họ Mua: bo rừng, mua Xingapor, mua bà, an bích; họ Anh thảo: anh thảo; họ Hoa hồng: dâu đất; họ Cà phê: an điền, bạc cách, xà căn; họ Rấp cá: rấp cá, hàm ếch; họ Gai: gai toàn tơ, gai lá to, đề gia, phu lệ, vũ tiễn; họ Ráy: thạch xương bồ, minh ty Xiêm, ráy Ấn Độ, nưa gián đoạn, thăng mộc lá rộng, ráy bò, trâm đài Bon, vạn niên thanh (4 loài này leo bám các cây gỗ), chóc gai, ráy to, ráy Ker; họ Thài lài: đầu riều, bôn; họ Mía dò; mía dò; họ Cói: kiết Balansa, cương; họ Hoàng tinh: dong gân lông, dong bánh; họ Chuối rừng: chuối rừng, các loài địa lan: tản lan, ni lan kín, móng rùa kiếm, bướm bầu, tài lan lá rộng; họ Hương bài: xương quạt; họ Hoà thảo: cát vĩ lông vàng, kê núi; họ Bách bộ: bách bộ củ; họ Râu hùm: râu hùm, râu hùm Việt Nam, họ Gừng: lương khương...
Các loài dây leo phong phú, nhiều loài có kích thước lớn và leo cao các loài thường thấy có: trung quân, công chúa chân ngắn, công chúa trung gian, cách thư Poilan, cách thư có lông, mật hương, bù liêu Cửu Long, quặn hoa vòi lông, mần trây, mật sang, mộc tiểu nhọn, hàm liên nhuộm, dây cám, chưng bầu Sonda, thảo bạc đầu, bìm, cứt quạ, thư tràng, thư tràng năm lá, Neoal; họ Đậu: keo Kerr, quạch, mấu, làu máu, dây dan, sua ca, trắc Pierre, trắc dây, bàm bàm, mát thuỳ dây, mắc mèo Hải Nam, dực thuỳ lá nhỏ; thiên đằng, bích nữ, song nho Quảng Đông, vác Nhật, vác bao phấn đen, tứ thư xấu, khoai mài, từ Scortechin...
Các loài phụ sinh nhiều, đại diện là các loài lan quế, mật khẩu đầu bò, đoản kiếm lô hội, mao tử...
Các loài ký sinh có tơ hồng Nhật, tầm gửi, đại cán Việt Nam...
2.5. Quần cư động vật tương tự như trên núi đá vôi chỉ khác biệt về một số loài
Về thú: có đến 33 loài (97% số thú) sống trên núi đất. Các loài thú tương tự trên núi đá vôi nhưng không có các loài chỉ sống trên núi đá vôi và một số loài sống hoàn toàn trên núi đất như chuột chù, chuột nhắt nhà, chuột nhà, chuột nhắt đồng.
Về chim: có 113 loài (74% số loài chim). Các loài tương tự như ở núi đá vôi, ngoài các loài chỉ sống trên núi đá vôi và các loài chỉ sống trên núi đất hay nương, ruộng, ao, đầm, khu dân cư như cò trắng, cò bợ, cò lửa, vạc, te mào, te vịt, rẽ giun, cu ngói, tu hú, bồng chanh, trẩu họng xanh, chích chòe lửa, chiền chiện đầu nâu, sẻ, chèo bẻo.
Về ếch nhái, bò sát: có 13 loài (54,17% số loài). Thành phần loài ở núi đất tương tự như thành phần loài ở nương, ruộng, khu dân cư, đầm, ao. Đó là các loài thằn lằn đuôi bóng dài, rắn ráo thường, rắn hoa cỏ nhỏ, rắn sọc dưa, rắn cạp nong, rắn cạp nia, rắn hổ chúa, ếch cây mép trắng. Các loài có mặt ở cả núi đất và núi đá chỉ có nhông xanh, còn các loài rắn roi thường, rắn hổ mang, ngoé là các loài phân bố rộng.
Hệ sinh thái rừng kín cây lá rộng là hệ sinh thái có số lượng các loài sinh vật tham gia nhiều nhất. Với tầng đất sâu dày, khí hậu đủ nhiệt và ẩm, thảm thực vật cung cấp nguồn thức ăn dồi dào cho động vật. Ngoài các loài động thực vật bậc cao đã nêu trên còn có rất nhiều loài động thực vật tham gia vào hệ sinh thái.
3. Hệ sinh thái trảng cây bụi trên đồi, núi đất
Có diện tích tương đối lớn. Trảng cây bụi, cỏ thứ sinh được tái sinh trên các đất canh tác bỏ hoang. Thành phần loài của trảng cây bụi gồm các cây gỗ, cây bụi ưa sáng, mọc nhanh, chịu được lửa đốt hàng năm, các loài cỏ cao. Các loài cây bụi của hệ sinh thái này thường phân cành sớm, thân có vỏ dày, tái sinh bằng chồi rất tốt. Nơi có tầng đất còn tương đối dày, hàm lượng dinh dưỡng khá, hệ sinh thái cây bụi có thể phục hồi để hình thành rừng thứ sinh. Dây leo khá phong phú làm cho cấu trúc của trảng cây bụi thêm lộn xộn, phân tầng không rõ. Dưới tán các cây bụi còn có một số loài cỏ thấp ưa ẩm, chịu bóng.
Các cây bụi thường có chiều cao từ 2 - 6m, đôi khi có một số cây gỗ nhỏ, có thể cao hơn, nhưng nói chung ít khi cao quá 8m.
Các loài cây gỗ nhỏ thường gặp là sổ đả Roxburghii, sau sau, sơn Phú Thọ, lồng mức lông, bùi Nam Bộ, đơn châu chấu, cuông Trung Quốc, Bông bạc, đầu heo, thành ngạnh, đỏ ngọn, cùm rụm nhọn, long đầu, tai nghé biệt chu, tai nghe hột tròn, dé Đông Dương, sóc Dalton, sóc Tích lan, bông bẹt, thuốc sán, me rừng, sóng rắn Trung Quốc, mán đỉa, ràng ràng, lim sóng có lông, kha thụ Trung Bộ, kha thụ Lecomte, mùng quân, dự, bời lời Ba Vì, bời lời chanh, kháo thơm, thuốc bắn, dướng, sung có vông, ngái vàng, sung làng Cốc, ngái đơn, sung bầu, trâm chụm, sắn thuyền, sô xoay, xăng mã thon, huân lang chùm tự tán, găng căng, tiểu quất...
Các loài cây bụi có thiên tuế Rumphii, quăng râu, hoa dẻ Trung Quốc, bốt hoa thưa, cáp lá nhọn, trường khế, đóc chó, phèn đen, kim độc mộc, tóp mỡ lá to, chàm bụi, bóm Trung Quốc, ké hoa đào, bo rừng, mua bà (trên đất ẩm), ruối nhám, sim, lài Hạ Long, mộc, mộc cọng, ngấy hương, ngũ gia bông, dum hoa trắng, mẫu đơn, xà căn lá rộng, lẩu đỏ, trèn lá rộng, gạc hươu...
Các loài cỏ gồm các loài Dương xỉ như quyển bá yếu, quyển bá lá dày, thàm mô lá mảnh, yểm dực thân nâu, cẩu tích, guột (vọt, cỏ tế), liên sơn, tứ uyển, song nha song tam, kim đầu thon, chân voi nhám, ngổ, thượng lão, yên bạch Trung Quốc, cỏ Lào (đôi khi mọc thành các đám thuần loại cao 1-2m trên đất còn giàu dinh dưỡng), rồng cúc mũi ngắn, bạch đầu Anderson, vòi voi, cỏ sữa lá lớn, cỏ sữa lá nhỏ, vảy ốc, hàn the, sục sạc sét, tràng quả sông Hằng, tràng quả tam giác, trinh nữ, hầu vĩ tóc, lỗ bình Trung Quốc, cối xay, bái trắng, lá lốt, nghể râu.
Các loài dây leo: bòng bong dẻo, bòng bong Nhật, bòng bong gié nhỏ, bòng bong nhiều khía, ẩn lân Buchanan, mộc tiểu nhọn, hà thủ ô nam, tiểu quả lông dày, tỳ dực năm thuỳ, dây giung, thư tràng năm lá, làu máu, dây gan, vấu diều, đậu cộ đất, mát thuỳ dày, liên đằng hoa nhỏ, đại cán Việt Nam (ký sinh), mạng nhện, dây sâm hai sóng, nhãn lồng Wilson, mơ leo.
Quần cư động vật tương tự như trên núi đất nhưng vắng mặt các loài thú lớn kiếm ăn trên cây thuộc họ Khỉ, Vượn hay các loại Sóc. Các loài chim cũng vắng mặt rất nhiều loài so với hệ sinh thái rừng trên núi đất. Các loài bò sát và ếch nhái thì không thay đổi lắm so với trên núi đất.
4. Hệ sinh thái trảng tre nứa
Tre nứa rải rác trong các thung núi đá vôi, dọc theo các khe suối tạm thời và trên sườn đồi núi đất. Nứa chủ yếu là Nứa tép (Neohouzeaua dulloa), cao từ 5-7m. Do điều kiện tầng đất mỏng ít dinh dưỡng nên cây nứa đường kính nhỏ, thường chỉ khoảng 2 - 3cm, vì vậy gọi là nứa tép. Ngoài nứa, còn gặp tre (Bambusa sp.). Một số cây thân gỗ như Thầu táu (Aporosa dioica), Bồ cu vẽ (Breynia angustifolia), Me rừng (Phyllanthus emblica)... Dây leo có Hoya macrophylla, Quisqualis indica, Gymnostemma lexum, Trichosanthes rubiflos, Dioscorea bullifera, D. glabra...
Nhờ khả năng tái sinh rất khoẻ bằng thân ngầm nên mặc dù bị chặt phá, đốt hàng năm, hệ sinh thái tre nứa vẫn tồn tại được, tạo nên môi trường sống cho một số loài thú nhỏ như sóc, chồn, chuột, một số loài chim, bò sát, ếch nhái.
5. Hệ sinh thái trảng cỏ, đất trồng trọt
Trảng cỏ, đất trồng trọt trong khu vực nghiên cứu không nhiều. Trảng cỏ được hình thành trên đất canh tác bỏ hoang. Đất nghèo dinh dưỡng, tầng mỏng, chặt. Xen kẽ với các trảng cỏ là những nương sắn, ngô, đậu, rau màu, chè và vườn cây ăn quả của một số hộ dân sinh sống trong khu vực.
Trảng cỏ cao dưới 2m che phủ tương đối kín. Các loài cỏ chính: Imperara cylindrica, Apluda mutica, Microsteqium vagans, Panicum montanum, Saccharum arundinaceum, Themda caudata, Thysanolaena maxima...
Nét đặc trưng của động vật ở hệ sinh thái này là hoàn toàn vắng mặt các loài thú lớn, các loài chim, các loài bò sát, ếch nhái có cuộc sống phụ thuộc chặt vào môi trường rừng: nguồn thức ăn là quả, hạt, củ của cây rừng, theo đấy là sự vắng mặt các loài động vật có nguồn thức ăn là các động vật nhỏ. Mặt khác, nơi cư trú, sinh đẻ khó khăn cũng hạn chế số lượng các thể động vật ở hệ sinh thái này.
Về thú: có 17 loài (50% loài), gồm các loài phân bố rộng như Dơi, Chồn vàng, các loài Cầy, Nhím, phổ biến hơn cả là các loài Chuột, Thạch sùng.
Về chim: có 70 loài (46% số loài) như Ó cá, Diều hâu, Diều mướp, cắt nhỏ bụng trắng, Cun cút lưng nâu, Rẽ giun, Cu gáy, Tu hú, Bìm bịp lớn; các loài chim sống nhờ cá ở đầm, ao như Bồng chanh, Sả, Bói cá; các loài chim Trẩu, Nhạn, Chìa vôi, các loài chim ăn côn trùng trong họ Chào mào, họ Chim chích, Chim sâu, Sáo; các loài sống gần người như Sẻ, Di cam...
Có 13 loài ếch nhái, bò sát (79,17% số loài) sống trong hệ sinh thái này. Các loài sống phụ thuộc vào môi trường núi đá như Tắc kè, Nhông xanh, Ô rô vảy, Trăn đất, Rắn lục vắng mặt hoàn toàn.
6. Hệ sinh thái các thủy vực
Một số thuỷ vực có mức ngập nông đều sử dụng thả sen, đại đa số các nơi có độ sâu lớn được nuôi cá. Một số thuỷ vực nhỏ, sát chân núi đá vôi hiện bỏ hoang, chỉ có Sậy (Phragmites karka, các loài Lác (Cyperus spp.), Rau mác (Sagittaria sagittifolia), Rau ngổ (Enhydra fluctuans)... Nơi nước sâu có các quần xã thủy sinh.
Động vật ở các thủy vực khá phong phú về loài và số cá thể của loài. Cá và các động thực vật thủy sinh khác là nguồn thức ăn của nhiều loài động vật.
Các loài thú thường thấy có Chồn vàng, Cầy giông, Cầy hương, Cầy móc cua, Dúi mốc, các loài Chuột. Các loài chim đặc trưng là các loài chim nước như Chim lặn, Cốc đen, các loại Cò, Vạc, các loài Vịt, Cuốc, các loài Choắt, Choi. Các loài chim di cư về trú đông khá phổ biến như Cò, Vạc, Sếu, Giang... Vào thời kỳ cao điểm trước đây, đàn chim có đến hàng vạn con. Ngày nay số lượng chim di cư đã giảm xuống.
7. Hệ sinh thái đất canh tác nông nghiệp
Hệ sinh thái bao gồm đất phù sa thuộc các vàn cao, vàn thấp được cải tạo, tưới tiêu trở thành đất canh tác thường xuyên. Các quần cư nông thôn cũng có thể ghép vào hệ sinh thái này. Hệ sinh thái này thường xuyên chịu sự tác động của con người với một cường độ mạnh mẽ.
Đặc điểm chính của hệ sinh thái này đó là các quần xã cây trồng và một số động vật phân bố rộng, các loài gần người.
Các vàn đất cao, đất thấp trước đây thuộc vùng đất ngập nước nay trở thành đất canh tác nhờ hệ thống thủy lợi. Phần lớn diện tích đất vàn được sử dụng trồng lúa. Đất ngập nước định kỳ trong năm, thời gian ngập tuỳ theo địa thế. Những vạt đất cao gần làng xóm không thuận lợi tưới thường được sử dụng trồng màu như ngô, khoai, các loại đậu, các loại rau.
Các xóm, làng được hình thành trên các doi đất cao trong đồng bằng trước kia. Ngoài nhà ở trong các làng có hệ thống vườn với các loài cây cho gỗ, vật liệu xây dựng như tre, xoan, muồng; các cây ăn quả cam, chanh, táo, nhãn, roi...; các loại rau, cây bóng mát, cây cảnh, cây thuốc... và các ao, hồ nhỏ. Ngày nay, hình thái các làng biến đổi rất nhanh, cấu trúc nhà chuyển dần sang kiên cố, đường đi được bê tông hoá, vườn, ao hồ dần bị thu hẹp, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp cỡ nhỏ dần xuất hiện. Sự thay đổi này cũng dần kéo theo sự thay đổi cấu trúc của các quần xã đặc trưng cho nông thôn kéo theo sự thay đổi của các quần cư động vật vì sự thay đổi nơi cư trú, nguồn thức ăn và nguy cơ bị săn bắt.
Quần cư động vật của hệ sinh thái này không ổn định vì các điều kiện sống, nơi cư trú, nơi kiếm ăn luôn thay đổi và sự tác động mạnh mẽ thường xuyên của con người. Trong các ao hồ và ruộng mùa ngập nước có các loài phân bố rộng như cá quả, cá rô, cá trê, cá chép... các loài tôm, cua, ốc, nhưng không còn các động vật như các loài chồn, rái cá sinh sống bằng nguồn thức ăn này. Các loài chim thấy phổ biến nhất là sẻ một loài sống gần người và các loài sống bằng bắt côn trùng trên các đất canh tác như chim sâu, chích bông vàng, cu gáy, choắt, rẽ giun... các loài sống bằng thức ăn cá như bói cá... Vào mùa nước xuất hiện các loài chim nước đến kiếm ăn như cò, vạc, diệc... Các loài thú có các loài chuột, dơi; lưỡng cư bò sát có các loài ếch nhái và các loài rắn, thạch sùng...
II. TÀI NGUYÊN SINH VẬT: HIỆN TRẠNG, SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ
Tài nguyên sinh vật của Hà Nam khá phong phú, đa dạng và đã đóng góp rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình sử dụng, con người cũng đã làm phong phú hơn nguồn tài nguyên này bằng con đường du nhập, nuôi trồng các giống loài có giá trị kinh tế.
1. Tài nguyên thực vật
Dựa trên điều tra sơ bộ hệ thực vật Hà Nam có khoảng 1.271 loài thuộc 178 họ trong 6 ngành thực vật bậc cao có mạch và khoảng 200 loài cây trồng. Số lượng các cấp đơn vị phân loại (taxon) cũng như số lượng cá thể các loài tự nhiên tập trung ở vùng đồi núi. Vùng đồng bằng tập trung các cây trồng.
Hệ thực vật chủ yếu là các loài thuộc ngành Hạt kín (trên 90% tổng số loài), ngành, ngành Thực vật khuyết (trên 8% tổng số loài), các cây thuộc ngành Hạt trần có số lượng không nhiều. Hệ thực vật Hà Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, chiếm khoảng 12% tổng số loài, 32% tổng số chi và 58% tổng số họ của hệ thực vật Việt Nam. Các họ giàu loài nhất của hệ thực vật là họ Đậu (76 loài), Hoà thảo (72), Thầu dầu (65), Cúc (53), Dâu tằm (39), Lan (33)... cũng là những họ giàu loài của hệ thực vật Việt Nam. Hệ thực vật Hà Nam có 13 yếu tố địa lý thực vật: 1. Yếu tố đặc hữu Bắc Bộ, 2. Yếu tố đặc hữu Việt Nam, 3. Yếu tố Đông Dương, 4. Yếu tố Ấn Độ, 5. Yếu tố Malaixia, 6. Yếu tố châu Á nhiệt đới, 7. Yếu tố cổ nhiệt đới, 8. Yếu tố tân nhiệt đới và liên nhiệt đới, 9. Yếu tố Đông Á, 10. Yếu tố châu Á, 11. Yếu tố ôn đới Bắc, 12. Yếu tố phân bố rộng, 13. Yếu tố nhập nội và di cư hiện đại. Trong đó yếu tố đặc hữu Bắc Bộ và Việt Nam chiếm khoảng 12,5%. Hệ thực vật Hà Nam có 5 loài thực vật quý hiếm là khuyết lá thông (Psilotum nudum (L.) Griseb., cấp độ quý hiếm: biết không chính xác), cẩu tích (Cibotium barometz (L.) J.Smith, cấp độ quý hiếm: biết không chính xác), đinh (Markhamia stipulata (Roxb.) Seem., cấp độ quý hiếm: có thể bị đe doạ diệt chủng), đẳng sâm (Codonopsis javanica (Blume) Hook.f., cấp độ quý hiếm: có thể bị đe doạ diệt chủng), bách bộ đứng (Stemona saxorum Gagnep., cấp độ quý hiếm: đang bị đe doạ tuyệt chủng). Khuyết lá thông là loài cổ còn sót lại có số cá thể rất ít. Khuyết lá thông cũng được dùng làm cảnh, làm dược liệu. Bách bộ đứng theo Sách đỏ chỉ mới phát hiện được ở Hoa Lư (Ninh Bình), Đông Sơn (Thanh Hóa). Thanh Sơn là địa điểm thứ ba trong cả nước phát hiện được loài này.
Thực vật Hà Nam có khoảng 600 loài có giá trị sử dụng (38% số loài). Trong đó có 197 loài cho gỗ (192 loài tự nhiên, 6 loài cây trồng); 260 loài cho thuốc (254 loài tự nhiên, 6 loài cây trồng); 138 loài làm thức ăn gia súc (123 loài tự nhiên, 15 loài cây trồng); 133 loài làm thức ăn cho người (73 loài tự nhiên, 62 loài cây trồng ); 98 loài có thể sử dụng làm cây cảnh, cây che bóng (48 loài tự nhiên, 50 loài cây trồng và du nhập); 12 loài cho nguyên liệu giấy sợi (6 loài tự nhiên, 6 loài cây trồng); 10 loài cho tanin, chất nhuộm (6 loài tự nhiên, 4 loài cây trồng); 14 cho tinh dầu, dầu béo, nhựa (5 loài tự nhiên, 9 loài cây trồng), 24 loài làm vật liệu xây dựng, dụng cụ trong gia đình (22 loài tự nhiên, 2 loài cây trồng) và khoảng 26 loài có các giá trị sử dụng khác như làm đệm, dây buộc, đánh cá, làm men rượu, giá thể nuôi nấm, mộc nhĩ...
Các loài cây gỗ tự nhiên tập trung ở khu vực đồi núi Thanh Sơn và Kim Bảng. Các loài gỗ lớn, tốt có giá trị trong xây dựng có chây lớn, chây láng, chây lá rộng, bùi tía, bùi Wight, bùi Nam Bộ, thiết đinh lá bẹ, đinh Ấn Độ, đinh, trám, các loại bứa, lôi, các loại thị, các loại côm, mò, sóc, sóc đỏ, sòi, sóng rắn Trung Quốc, cứt ngựa, doi Chevallier, mán đỉa, doi Eberhard, giác, doi Phú Quốc, hầm học, trắc Balansa, lim sóng có lông, kha thụ Trung Bộ, kha thụ, kha thụ Lecomte, dẻ, sổi Helfer, sồi King, bê rết, mộc hương, trai tích lan, đại phong tử Trung Bộ (nhọ lồi), đại phong tử Hải Nam, chập chại Bắc Bộ, mạy phỏng, rè bông, quế Ấn Độ, quế Bắc Bộ, cà đuối Bắc Bộ, kháo thơm, kháo trái đẹp, kháo, giổi Balansa, quếch, huỳnh đàn dài, trường nát, các loại trâm, tân Trung Quốc, tráng luân sinh, lọ nghẹ, săng ớt Trung Bộ, săng ớt xanh, quắn hoa Hải Nam, xăng mã thon, mật sạ Henry, ngoại mộc chân dài, trường, nhãn rừng, xơ, côi Trung Bộ, lòng mán dị diệp, lòng mán lá thon, trôm dài màng, trôm thon, trôm quý, trôm hoa nhỏ, dung Nam Bộ, trà hoa đuôi, cách... Việc quản lý tốt cũng như có một cách thức khai thác hợp lý rừng Hà Nam chắc chắn sẽ là nguồn cung cấp phong phú, đầy đủ gỗ xây dựng, làm đồ đạc cho nhân dân đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế rừng. Các cây gỗ trồng tập trung có thông, bạch đàn, các loại keo, tông dù... Các cây trồng lấy gỗ trong các khu dân cư có xoan, muồng đen, muồng Xiêm, nhãn, vải, mít, bạch đàn, phi lao... Mặc dù không tập trung, nhưng đây là nguồn gỗ rất lớn cung cấp cho việc làm nhà ở nông thôn nhiều đời nay.
Các cây thuốc quý tự nhiên có bình vôi (3 loài: Radix Stephaniac, Stephaniac sinica, S. fierrei ), bách bộ (bách bộ thân cuốn - Stemona tuberosa, bách bộ thân đứng – S. saxorum và bách bộ Pierre – S. pierei), ba chẽ, hoài sơn hy thiêm, lan gấm, một lá một hoa, sơn chi tử... các loài này đã được khai thác, một số đang được thuần hoá ở các vườn thuốc, các loài thuốc trồng thì có nhiều trong đó có hoàng kỳ, cam thảo, địa liền, các loài cây dùng theo các bài thuốc địa phương thì rất nhiều, các loài thuốc quý hiện đang bị khai thác không có tổ chức, chúng có nguy cơ bị diệt chủng vì cách thức khai thác bừa bãi, tuỳ tiện. Việc tổ chức quản lý rừng tốt, ngoài phục hồi nguồn tài nguyên gỗ còn là phục hồi nguồn tài nguyên thuốc đem lại những giá trị to lớn về kinh tế.
Các cây tự nhiên làm thức ăn cho người không nhiều, gồm một số loài cho rau, quả và nước uống rải rác trong rừng và trảng cây bụi. Nguồn thức ăn cho người chủ yếu là các cây trồng truyền thống cho năng suất cao, thu hoạch tập trung. Các cây lương thực có lúa, ngô, khoai, sắn, các loại dong riềng; các cây cho thực phẩm gồm các loại hoa màu như lạc, các loại đậu, vừng..., các loại rau mùa đông như các loại cải, su hào, cải bắp, cà rốt, xúp lơ, xà lách, các loại rau mùa hè như rau muống, rau rút, rau ngót, các loại mướp, bầu, bí, mướp đắng.., các loại cây gia vị như hành tỏi, các loại húng, răm, mùi, ngò..., các loại cây ăn quả như cam, hồng, thị, táo, na, nhãn, vải, hồng xiêm, đu đủ, dứa..., các loại cây là bánh mang hương vị làng quê có rau khúc, lá gai. Nói chung, các cây phục vụ nhu cầu lương thực, thực phẩm của Hà Nam phong phú, đa dạng không những đủ phục vụ nhu cầu của nhân dân còn có khả năng phát triển tạo nguồn nguyên liệu chế biến các món ăn, thức uống phục vụ công nghiệp chế biến thực phẩm, nhu cầu của khách du lịch.
Các cây làm thức ăn cho gia súc thì nhiều bao gồm các cây cỏ trong họ Hòa thảo, Đậu, Cói và các họ khác trong rừng và trảng cây bụi, các bờ ruộng, bờ đê, bãi chăn thả, ven mương nước... Đây là nguồn thức ăn cho trâu, bò, lợn. Các cây trong họ Dâu tằm và một số cây khác là nguồn thức ăn dồi dào cho dê, hươu. Ngoài ra, các sản phẩm phụ của các cây lương thực, rau, quả như rơm, cám, thân ngô, lạc, đậu cũng cung cấp một lượng lớn thức ăn cho gia súc.
Các cây cho nguồn nguyên liệu giấy sợi ngoài một số cây tự nhiên như tre, sặt, nứa tép, ba soi, bồ đề... còn có các cây trồng tập trung có năng suất cao như thông, các loại keo, luồng.
Các cây cho tanin và chất nhuộm không nhiều nhưng có khả năng phát triển để thay thế các chất nhuộm thực phẩm tổng hợp. Các cây cho màu vàng có hoa hiên, dành dành, màu đỏ có gấc. Nhuộm áo có cây chàm mèo cho màu tím than.
Các cây cho nhựa, tinh dầu, dầu béo có móng heo (cho nhựa thơm), các cây trong họ Bạc hà, các loài bạch đàn, các loài hoa hồng, một số loài trong họ Long não (cho tinh dầu), các loài cho dầu béo có lạc, vừng,...
Các loài cho vật liệu xây dựng giữ vai trò quan trọng với đời sống nhân dân vùng nông thôn. Đó là các loài tre, nứa, giang, luồng, hóp dùng làm nhà, các loài làm dây buộc như các loại các loài trong họ thiên lý, đậu, các cây lợp nhà trong họ cau dừa như kè, cọ, búng báng, đùng đình...
2. Tài nguyên động vật: thú, chim, bò sát, ếch nhái
Hà Nam có khoảng 214 loài động vật có xương sống trên cạn và lưỡng cư: 34 loài thú, 153 loài chim, 22 loài bò sát và 6 loài ếch nhái. Các loài quý hiếm và cần bảo vệ: thú có tới 10 loài thuộc diện quý hiếm và 5 loài cần bảo vệ theo Nghị định 48/2002/NĐ-CP của Chính phủ ký ngày 22/4/2002; chim có 2 loài; bò sát có 9 loài được ghi trong Sách Đỏ và 2 có trong Nghị định 48/2002/NĐ- CP. Như vậy có 21 loài thuộc diện quý hiếm và 7 loài không có trong Sách Đỏ, nhưng phải bảo vệ theo Nghị định 48/2002/NĐ-CP.
2.1. Tài nguyên thú
Có 34 loài thuộc 18 họ, 8 bộ. Có 9 loài thú quý hiếm, ở mức độ quý hiếm E (loài đang bị đe doạ tuyệt chủng) có 3 loài: voọc mông trắng, vượn đen bạc má, gấu ngựa; mức V (loài có thể bị đe doạ tuyệt chủng) có 6 loài: cu li lớn, khỉ mặt đỏ, báo gấm, sơn dương, tê tê vàng và cầy vằn Bắc. Dựa vào Sách Đỏ thế giới (IUCN, 2000) thì các mức CR (cực kỳ nguy cấp) có 1 loài đó là voọc mông trắng; mức VU (sẽ nguy cấp) có 5 loài: khỉ mặt đỏ, gấu ngựa, cầy vằn bắc, báo gấm và sơn dương; mức LR (ít nguy cấp) có 2 loài: khỉ vàng và tê tê vàng; mức DD: (thiếu dữ liệu) có 1 loài vượn đen bạc má (Nomascus leucogenys). Loài voọc mông trắng là loài đặc hữu của miền Bắc Việt Nam.
Thú rừng đa dạng, có nhiều loài thú quý hiếm, điển hình cho tỉnh Hà Nam có ý nghĩa khoa học lớn cho việc bảo tồn nguồn “gien” và là một trong những đối tượng nghiên cứu của hệ sinh thái núi đá vôi. Nhiều loài thú là đối tượng của nghiên cứu y học, sinh học, nông nghiệp và môi trường. Có 21 loài (chiếm 61,76%) là những loài có ý nghĩa khoa học.
Thú cho thịt: 18 loài, gồm các loài thú nhỏ như dúi, sóc bụng xám, sóc bụng đỏ, chuột đất lớn. Số lượng của chúng tương đối phong phú có thể đánh bắt quanh năm, chúng cung cấp số lượng thịt đáng kể hàng năm. Các loài thú lớn, chất lượng thịt cao như lợn rừng, hoẵng, nai... hiện không còn nhiều.
Thú cho da lông và làm cảnh: 23 loài. Sử dụng ở dạng da tấm, nhồi mẫu trưng bày, nuôi làm cảnh hoặc trưng bày ở các vườn thú. . .
Thú cho dược liệu: 17 loài. Phương thức sử dụng: xương của một số loài như khỉ, gấu ngựa, báo gấm, hoẵng, sơn dương, lợn rừng được sử dụng để nấu cao, làm thuốc bồi dưỡng cơ thể; lấy hương ở tuyến xạ của các loài cầy giông, cầy hương, cầy vòi mốc; lấy vảy của tê tê, dạ dày của nhím, don.
Thú có ích cho nông nghiệp và lâm nghiệp: 8 loài. Thú có giá trị thương mại: 24 loài.
2.2. Tài nguyên chim
Hà Nam có 153 loài chim thuộc 44 họ trong 17 bộ. Có 2 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam là gà lôi trằn (Lophura nychthemera), bậc T (bị đe doạ tuyệt chủng) và bói cá lớn (Ceryle lugubris), bậc T.
Thành phần loài chim ở Hà Nam khá phong phú đặc trưng cho một khu hệ chim của một vùng chuyển tiếp từ vùng núi xuống vùng đồng bằng, một vùng đa dạng về hệ sinh thái: núi đất, núi đá vôi và đồng bằng.
Nhiều loài chim được khai thác với mục đích sử dụng làm thực phẩm, một số loài làm thuốc như bìm bịp; thương mại hay làm cảnh như các loài chim biết hót: vành khuyên, khướu, yểng, sáo... Nhiều loài chim có ích cho nông - lâm nghiệp.
2.3. Tài nguyên bò sát, ếch nhái
Hà Nam có 24 loài bò sát, ếch nhái thuộc 11 họ, 2 bộ, 2 lớp; trong đó có 18 loài bò sát thuộc 8 họ, 1 bộ và 6 loài ếch nhái thuộc 3 họ, 1 bộ.
Có 8 loài quý hiếm: rắn hổ chúa Ophiophaqus hannah) ở bậc E (Endangered - Đang nguy cấp), 2 loài ở bậc V (Vulnerable - Sẽ nguy cấp): kỳ đà hoa (Varanus Salvator) và trăn đất (Python molurus); 5 loài ở bậc T (Threatened - Bị đe doạ): tắc kè (Gekko gecko), ô rô vảy (Ancanthosaura lepi - dogasster), rắn ráo thường (Ptyas korros), rắn cạp nong (Bungarus fasciatus) và rắn hổ mang (Naja naja). Đây là các nguồn gen quý của khu hệ bò sát, ếch nhái núi đá vôi Thanh Sơn cần được báo vệ và phát triển. Rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), ghi ở nhóm IB Nghị định 18/HĐBT - Nhóm nghiêm cấm khai thác, sử dụng.
Có 8 loài dùng làm thuốc: tắc kè, kỳ đà, trăn đất, rắn ráo thường, rắn cạp nong, rắn cạp nia Bắc, rắn hổ mang và rắn hổ chúa. 9 loài dùng làm thực phẩm: kỳ đà hoa, trăn đất, rắn sọc dưa, rắn ráo thường, rắn bồng chì, rắn hổ mang, rắn hổ chúa, chẫu và ếch đồng. 11 loài có giá trị thương mại: tắc kè, kỳ đà hoa, trăn đất, rắn sọc dưa, rắn ráo thường, rắn bồng chì, rắn cạp nong, rắn cạp nia Bắc, rắn hổ mang, rắn hổ chúa và ếch đồng. Nhồi làm vật trang trí trong nhà có 2 loài kỳ đà hoa và trăn đất.
2.4. Các động vật nuôi
Các động vật hoang dã cung cấp một nguồn thực phẩm, thuốc quý giá cho nhân dân trong nhiều năm qua. Do khai thác bừa bãi, ngày nay, số lượng của chúng không còn nhiều. Thay thế vào đấy, một số lượng lớn động vật được nuôi nhằm cung cấp thực phẩm, sức kéo, cung cấp da. Hà Nam đến năm 2000 có 5.200 con trâu, 27.500 con bò, 278.400 con lợn và số lượng lớn gia cầm như gà, vịt, ngan, chim bồ câu...
3. Tài nguyên thủy sản
Cũng như động vật hoang dã tài nguyên thủy sản đã đóng góp một vai trò quan trọng đời sống nhân dân và phát triển kinh tế. Nhưng qua khai thác quá mức trong nhiều năm qua cũng như diện tích các thủy vực bị giảm dần đã làm nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên bị giảm sút. Năm 2000, sản lượng thủy sản của tỉnh là 4.509 tấn thì thủy sản nuôi trồng chiếm 3.973 tấn trong đó là 3.900 tấn cá, 18,3 tấn tôm. Sản lượng khai thác tự nhiên chỉ khoảng 538 tấn chủ yếu là cá, tôm và một lượng nhỏ lươn, chạch, ba ba, ếch... Trong thời gian tới, nguồn lợi thủy sản tự nhiên sẽ giảm dần và sản lượng nuôi trồng sẽ tăng lên.
4. Phương hướng sử dụng tài nguyên sinh vật
Tài nguyên sinh vật luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống con người trong cuộc sống hàng ngày. Việc khai thác, sản xuất để sử dụng hợp lý còn là những thách thức. Ngay cả việc sử dụng các tiến bộ khoa học trong việc nâng cao năng suất cây trồng vật nuôi để thay thế các nguồn lợi tự nhiên cũng không đạt được những mong muốn mỹ mãn như mong đợi.
Việc giữ gìn tài nguyên rừng là vô cùng cấp thiết. Ngoài giá trị môi trường không thể thay thế được thì đây là nguồn tài nguyên gỗ, vật liệu xây, củi cung cấp cho phần lớn nhân dân. Ngoài ra đây cũng là môi trường bảo vệ các nguồn gen động thực vật quý hiếm có giá trị khoa học và nhiều giá trị khác con người chưa biết. Rừng còn là nguồn cung cấp thuốc, lâm sản phụ, nguồn thực phẩm động, thực vật quý giá... Bảo vệ được rừng và biết tổ chức khai thác hợp lý sẽ đem lại cho lợi ích to lớn lâu dài.
Việc trồng rừng tập trung cũng như trồng cây phân tán cần được đẩy mạnh để tăng nguồn nguyên liệu gỗ, giấy, củi.
Các loài cây thuốc quý trong tự nhiên cho năng suất thấp và bị khai thác bừa bãi không đủ đáp ứng nhu cầu cần có các vườn thuốc thuần hóa, trồng và thu hoạch. Đây cũng là một nguồn lợi lớn nếu tổ chức tốt.
Việc nuôi các loài thú có giá trị kinh tế cao như nhím, don, rắn, hươu... cần khuyến khích và có tổ chức, hướng dẫn kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và năng suất.
Trong nuôi thủy sản cần chú trọng thêm nuôi các loài có giá trị như ba ba, rùa, đây là những loài đã từng có mặt với số lượng lớn ở địa phương trước kia. Chúng có giá trị kinh tế cao.
Một số đầm, hồ gần vùng núi ngoài nuôi thủy sản cần hướng tới làm thành các khu bảo tồn đất ngập nước để tạo một môi trường bảo vệ một số động vật, một cảnh quan đẹp, hấp dẫn khách du lịch.
27/12/2016
Theo https://baohanam.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên

Cuồng yêu và đau trong những giấc ru tình của tác giả Đoàn Thị Diễm Thuyên Đến gần cuối tập thơ tôi đã bị cuốn theo dòng chảy yêu thương t...