Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

Thư gởi người đàn bà không quen biết 3

Thư gởi người đàn bà
không quen biết 3

Chương 17
Bọn độc thân
Hồi trước tôi quen một vị bộ trưởng già thích lặp đi lặp lại rằng một người hoạt động không nên có vợ. Ông ta bảo tôi: "Ông coi đấy. Tại sao trong cái đời hoạt động khó khăn của tôi mà tôi vẫn giữ được bình tĩnh, thanh thản? Tại buổi tối, sau các cuộc chiến đấu trong ngày, tôi có thể mở một cuốn sách mà quên hết mọi sự; tại tôi không bị một người vợ có tham vọng, ghen tuông, luôn luôn ở bên cạnh nhắc nhở tôi rằng các bạn đồng sự của tôi thành công hơn tôi, hoặc mách tôi rằng trong các phòng khách, các người đàn bà khác nói xấu tôi ra sao... Sung sướng thay con người cô độc".
Ông ấy không bao giờ thuyết phục được tôi. Tôi nhận rằng con người cô độc được rộng càng hẳn. Khỏi lo lắng về nhà cửa, về gia đình. Khỏi gặp cái cảnh, đúng ngày chiến đấu thì thình lình sức mình suy kiệt đi vì một đứa con đau hoặc vì vợ mới làm một trận ầm nhà ầm cửa. Nhưng có phải nhờ độc thân mà thoát được hết những thị hiếu bất thường của phụ nữ không? Trừ phi là một ông thánh, còn thì người đàn ông độc thân nào cũng sống với một cô tình nhân nào đó mà tình nhân đối với họ lại còn nguy hại hơn người vợ chính thức.
Vợ ít nhất cũng có chung quyền lợi với chồng. Sóng già đời với chồng và lần lần hiểu được chồng. Tình nhân vì trẻ và đẹp, trái lại chỉ gây thêm nỗi ưu tư cho một người đàn ông có tuổi. Dĩ nhiên quy tắc có biệt lệ. Cô đào Mỹ danh tiếng Ruth Drapper, trong một hài kịch rất tế nhị, cho ta thấy đời sống một nhà kinh doanh bên cạnh một bà vợ khả ố, một cô thư ký đắc lực và một cô tình nhân nhu mì, vui vẻ, âu yếm. Cái gì cũng có thể xảy ra được và người vợ chính thức có thể chỉ là một cái máy gây gỗ. Nhưng sự thực cái đó cũng hơi hiếm. Cô đọc lại sử mà coi. Ở Anh hầu hết các đại chính trị gia đều có vợ. Các phu nhân Peel, Beaconsfield, bà Gladstone đều là những người vợ hiền. Ở Pháp, ông Guizot, ông Thiers, ông poincare, tóm lại nhưng chính trị gia "cừ" nhất của ta cũng đều có vợ. Gambetta và Briand ở độc thân đấy, nhưng biết đâu chừng, hai ông đó mà có vợ thì chẳng đóng những vai trò quan trọng hơn nữa.
Người đàn ông độc thân luôn luôn chịu sự thiệt thòi lớn này là chỉ được biết cái khía cạnh lãng mạn hoặc nguy hại của một nửa nhân loại. Lại thêm không có cơ hội nhận xét trẻ em, sự giáo dục của chúng, nhu cầu của chúng. Như vậy tinh thần đâu được đầy đủ. Montherlant trong tiểu thuyết rất hay Bọn độc thân đã mạnh mẽ nghiêm khắc tỏ rằng người đàn ông độc thân chẳng hiểu chút gì về thế giới thực cả, và vũ trụ thu hẹp của họ như một trái banh cột vào đầu một dây thun, tung ra thì lại luôn luôn bật trở về họ. Người ta có thể đáp lại rằng Balzac gần suốt đời sống độc thân, vậy mà không ai khéo tả những cảnh giữa vợ chồng bằng ông. Phải, nhưng Balzac là Balzac và mười câu của ông đủ vẽ lại một cảnh vợ chồng. Còn hạng trung nhân thì năm chục năm sống chung với vợ may ra mới đủ để hiểu được mỗi một người đàn bà.
Vạn an. 
Chương 18
Tiểu thuyết
Cô hỏi tôi một tiểu thuyết thành hình ra sao. Thưa cô, nếu tôi biết được thì không khi nào tôi viết. Đó không phải là lời nói đùa giỡn. Tôi muốn bảo rằng tiểu thuyết gia nào có ý thức quá rõ rệt về kĩ thuật của mình thì là có tội lớn.
Có những tiểu thuyết chế tác ra. Một nhà văn nọ muốn chống đỡ một luận đề mà viết một tiểu thuyết. Nhân vật nọ tượng trưng cho cái Ác (bọn "gian" trong các kịch truyền kì, quân "đê tiện" trong tiểu thuyết hiện sinh); một nhân vật khác là hiện thân của Đạo đức, Tự do, Tín ngưỡng hoặc Cách mạng (vì bản chất các nhân vật chính thay đổi tùy thời). Tới cuối truyện, cái Thiện muốn ra sao thì cũng thắng cuộc, mà tiểu thuyết gia thì thua cuộc.
Một nhà văn khác có phương pháp - gia truyền: Lựa một thiếu nữ càng đẹp và cảm động càng tốt. Sau nhiều bất hạnh lớn, cho cô ta gặp được chàng "hiệp sĩ" của cô. Rồi cô ta gặp một tình địch vào hạng yêu tinh. Chiến đấu lâu dài. Tình tiết gay cấn. Tới phút cuối, sự trong sạch thắng được. Thêm vị nhục cảm vào, nhiều hay ít tuỳ thị hiếu độc giả. Cứ viết lại truyện đó suốt đời. Tới lần nhào nặn thứ hai mươi thì giàu có lớn.
Nhà văn thứ ba lựa một thời đại lịch sử, bi thảm và phóng đãng thì càng tốt. (Các nhà khám thời Cách mạng là một khung cảnh rất thích hợp vì lẽ ái tình và máy chém ở sát nhau; các chiến tranh thời Đế chinh thứ nhất cũng thích hợp nữa vì những cuộc xâm lăng đất đai thật vẻ vang xen với những cuộc xâm chiếm trái tim đàn bà; thời Phục hưng ở Anh thích hợp vì các thói sa đọa; thời đại Louis XV hoặc Phụ chính cũng thích hợp vì có Lộc Uyển (1) hoặc các bữa ăn tối thân mật: Đế Chinh thứ nhì cũng thích hợp vì các kỳ nữ sang trọng). Lựa được một thời đại nào rồi thì tạo một nhân vật đàn bà đẹp không sao cầm lòng được mà rất trân tráo, tàn nhẫn, và cứ ba chục trang lại cho mĩ nhân đó lên giường nằm với một người đàn ông khác. Cam đoan bán hết trăm ngàn bản. Cú ba truyện lại đổi thời đại.
Những phương pháp đó gây được những tài sản lớn, nhưng không tạo được các danh tác. Cái nguồn đẹp thường bí mật, chảy ở trong lòng đất. Một tiểu thuyết chân chính thì đáp ứng được một nhu cầu nơi tâm hồn. Stendhal, Balzac thích viết những truyện để có thể sống lại cuộc đời mình mà đeo những mặt nạ khác. Anh chàng Fabrice trong truyện La Chartreuse de Parme là Stendhal nếu Stendhal được làm một nhà quý phái Ý trẻ đẹp; Luicen Leuwen là Stendhal trung uý bảnh trai, con một chủ ngân hàng cực giàu. "Một nhà văn tìm cách tự đền bù cho mình vì đã bị một số phận bât công nào đó". Đôi khi khó mà nhìn sâu vào sau cái mặt nạ được. Flaubert bảo: "Bà Bovary là tôi". Nhờ vậy mà Bà Bovary thành một danh tác.
Nhờ đâu mà một tiểu thuyết gia nhận được rằng một đề tài nào đó mình viết thì sẽ rất hay? Nhờ điểm này: rất xúc động khi nghĩ tới nó. Nếu nó đụng nhằm một điểm dễ cảm, một hồi kí đau xót, hoặc đôi khi say mê, thì tác phẩm có hi vọng hay đấy. Nhưng phải có hai điều kiện. Phải lùi lại xa xa một chút, hoặc như Balzac nói, phải có một thời gian thai nghén. "Thơ là một cảm xúc người ta nhớ lại trong khi lòng được bình tĩnh". Lúc mà ta vừa mới mất một mối tình, không phải là lúc có thể đem mối tình đó ra viết thành tiểu thuyết. Vết thương còn chảy máu, phải băng bó nó lại, đừng kích thích nó. Khi nào nó lành miệng rồi, chạm vào nó mới thấy một cái thú chua chát. Nó không còn nhức nhối làm cho ta thét lên; nhưng còn đủ đau để làm cho ta rên rỉ, ca hát. Tôi hiểu theo cái nghĩa của thi sĩ, mà cũng là cái nghĩa của tiểu thuyết gia.
Điều kiện thứ nhì: phải đi tới một cách gián tiếp. Cô bạn kiều diễm không quen biết của tôi, nếu cô muốn viết một tiểu thuyết thì đừng kể cuộc đời của chính cô mà không thay đổi gì hết. Cô sẽ mắc cỡ mà không viết được đâu, ít nhất là tôi mong vậy. Cô cứ kể một truyện gần giống truyện của cô, một truyện có thể cho cô diễn tình cảm của cô được mà vẫn có ảo tưởng rằng được một chiếc mặt nạ che chở. Và nếu cô viết xong thì xin đừng gởi bản thảo cho tôi đấy nhé. Tôi sẽ đánh lạc nó đấy.
Vạn an.
(1) Khu vườn ở Versailles, vua Louis XV đến đó với các tình nhân chốc lát của ông. 
Chương 19
Cái phút của số phận
Cô bạn không quen biết, đời ta không phải là hoàn toàn quyết định từ hồi nhỏ mới sanh, hoặc ngay từ hồi vạn cổ do một quyền năng bí mật và vô hình nào đó đâu. Nó được quyết định một phần, dĩ nhiên. Nếu có sanh ra mà xấu xí thì đời cô sẽ khác hẳn, và cái nhan sắc diễm lệ của cô hiện nay do sự kết hợp của các nhiễm thể (chromosome) của song thân mà ý chí của cô không làm sao thay đổi được. Nhưng phải nhận rằng ngày nay một nhà giải phẫu sửa nhan sắc có thể đổi nét mặt, rằng sự duyên dáng và thông minh làm cho nét mặt đẹp ra, và sự thanh tĩnh của tâm hồn hiện lên trên nét mặt. Ai đã nói đấy nhỉ, rằng từ tứ tuần trở đi người đàn ông nào cũng chịu trách nhiệm về nét mặt của mình? Nhưng khả năng sửa đổi lại số phận của mình, trước hết ở trong cách ta phản ứng với biến cố.
Biến cố là chỉ là biến cố. Một người đàn ông yêu cô, tỏ tình với cô. Chiến tranh xảy ra, người đó mất tích: một cuộc khủng hoảng làm cho người đó phá sản; một người đàn bà khác hiện ra. Đó là những sự kiện. Nhưng những sự kiện đó tự nó không gây họa hay phúc cho cô được. Thái độ của cô trước những sự kiện đó ra sao? Đó mới là điểm "tối quan trọng". Trong nhiều hoàn cảnh, có một lúc và chỉ một lúc một thôi, sự tự ý quyết định của cô sẽ xoay hướng cho trọn cuộc đời cô. Tôi gọi lúc đó là cái phút của số phận. Tại sao lại chỉ có một phút một? Tại thế giới như vậy đấy. Rất ít khi một cơ hội thuận tiện xảy ra lần thứ nhì.
Xét về chiến tranh lời đó cũng đúng. Trận La marne là một cơ hội duy nhất và ngắn ngủi. Tướng Đức Von Kluck đã tiến mau quá. Joffre và Galliéni biết lợi dụng ngay sự lầm lẫn đó. Đức đã thua ngay từ hôm đó, mặc dầu là chưa ai ngờ được. Trong chiến tranh giữa nam giới và nữ giới thì cũng đúng nữa. Đôi khi có một lúc thoáng qua, một người đàn ông ve vãn một người đàn bà từ lâu, bỗng thấy hiện lên trong cặp mắt người này một vẻ lả lơi âu yếm, nó là phản ánh của thắng lợi. Có cả ngàn nguyên nhân: một sự ngẫu nhiên, cảnh vắng vẻ chỉ có hai người, trong không khí có cơn dông, một trang sách, một cử động. Tóm lại, cơ hội thuộc về mình.
Nhưng nếu cái đem may mắn nhất đời đó, nếu ta bỏ lỡ cơ hội mà nghĩ: "Cơ hội sẽ trở lại, còn tốt hơn nữa", thì cơ hội sẽ tiêu, tiêu luôn. Cô bạn sẽ tỉnh ngộ, nghĩ tới các nguy hiểm, khinh ta đã nhút nhát. Nhất là cô ta không còn chịu ảnh hưởng của sự giao hội kì diệu của các ngẫu nhiên nó làm cho cô sẵn sàng quy phục đó nữa. Đêm đó, sự thắng lợi thật dễ dàng, chắc chắn: hôm sau thì vô phương.
Hôm qua tôi đọc lại một truyện hay, truyện Un de nos conquerants của meredith mà nghĩ tới cái phút của số phận đó. Truyện nhà lãnh tụ đãng xã hội Đức, Ferdinand Lassalle, yêu một thiếu nữ quý phái, vì đẹp trai và có tài mà được cô ta yêu lại, mặc dầu cô đã hứa hôn với một người khác. Một hôm cô bảo ông ta: "Gia đình em có ác cảm với anh; chúng mình trốn đi!" Ông ta khuyên hãy ráng chờ: "Tại sao lại gây một chuyện xấu làm hại cả đời em? Chịu kiên nhẫn vài tháng nữa rồi chúng ta làm lễ cưới với sự hòa thuận của ba má em". Ông ta không bao giờ được sự thoả thuận đó và mất luôn vợ, lại bị vị hôn phu của nàng giết trong một cuộc đấu súng nữa chứ. Trớ trêu thay cái trò tự đắc và luyến ái! Lassalle tức giận, vì danh dự mà chết một cách dại dột; tình nhân của ông khóc ông, nhưng đã quá trễ, rồi nàng cưới người đã giết ông.
Đã quá trễ, cô đừng bao giờ để cho phải thốt ra mấy tiếng ghê gớm ấy nhé. Tôi biết một bà nữa. Trong thế chiến vừa rồi, một sĩ quan mà bà ta yêu hỏi cưới bà. Bà xin một đêm để suy nghĩ và hôm sau viết thư nhận lời. Nhưng hôm đó chính là ngày quân Đức tấn công, tức ngày mùng 10 tháng 5 năm 1940. Sĩ quan đó được lệnh trở ra mặt trận; bức thư đó lạc mất. Tuyệt vọng vừa vì sự thất bại của tổ quốc vừa vì mối tình của mình, ông ta giỡn với thần Chết. Thần Chết vốn dễ tính, ai ve vãn thì cũng được liền. Còn bà nọ thì ân hận, hối tiếc. Vì bà ta trong lòng vẫn ước ao cuộc hôn nhân đó, chỉ do tự ái, muốn cho đoan trang mà xin được suy nghĩ một đêm. Giá nhận lời ngay đi có phải là hơn không?
Luân lý: cô nên viết thư ngay cho tôi đi.
Vạn an.
Chương 20
Bắt đầu xế bóng
Chúng ta tiến trên đường đời, và ngày tháng cũng trôi theo, cho tới khi chúng ta thấy trước mặt một đường phân cách ánh sáng và bóng tối nó báo cho ta rằng cái miền của tuổi xuân đã ở lại phía sau ta rồi. Conrad, tác giả câu đó, đặt con đường phân cách ấy vào cái quãng tứ tuần ; Emile Henriot, trong một tiểu thuyết có giá trị: Cái gì rồi cũng sắp hết, cho con đường đó ở gần cái tuổi ngũ tuần, và theo tôi, ông có lý. Nhân vật chính của ông tả "cái cảm giác đau đớn khi thấy rằng mình xuống dốc, rằng cái gì cũng là hư vô, rằng mình cứ tiến lần tới cái chết, không sao chống lại được"...
Nhân vật đó nói với viên y sĩ:
- Ông lại sắp bảo rằng thần kinh tôi bị suy nhược. Không, không phải vậy. Thưa bác sĩ, suốt đời tôi mắc cái tật lạc quan bất trị. Tôi không muốn phàn nàn, không muốn an ủi tôi, tôi sợ cái đó lắm. Nhưng bây giờ thì quả tình có cái gì không ổn rồi.
Bác sĩ hỏi:
- Ông bao nhiêu tuổi?
- Bốn mươi tám, sắp được bốn mươi chín...
- Phải, vào khoảng tuổi đó thì bắt đầu có cảm giác đó...
Tôi cho rằng hầu hết mọi người, cả những người được thiên hạ cho là hớn hở, đắc ý, khi bước qua con đường phân cách ánh sáng và bóng tối, cũng có một tâm trạng khủng hoảng, thất vọng. Dù đời sống đã đẹp tới mức nào đi nữa thì cũng có một sự cách biệt mênh mông giữa cuộc đời ta mơ mộng hồi trẻ với cuộc đời thực sự. Không có người nào là không đi lệch ra khỏi con đường mình đã lựa. Các phân tử của một thứ khi, trên con đường của nó, luôn luôn bị vô số xung động làm cho chệch ra ngoài quỹ đạo, thì con người cũng vậy, suốt đời lúc nào cũng gặp những cái ngẫu nhiên và phải chịu tuân theo những ngẫu nhiên đó.
Một người hồi còn trẻ bảo: "Dù có xảy ra gì thì xảy, tí nhất cũng có một điều mà không khi nào tôi làm..." Ba chục năm sau, gặp lại sẽ thấy người đó đã làm chính cái điều trước kia tự hứa không khi nào làm nọ. Ba chục năm trước, một thiếu nữ đẹp bảo: "Không khi nào tôi chịu làm một người vợ an phận rằng chồng có ngoại tình". Bây giờ đây, đã lớn tuổi, phục phịch, tóc đã bạc, bị chồng lần lần bỏ bê, và đành an phận.
Stendhal rầu rĩ viết: "Tôi sắp tới tuổi ngũ tuần", và đếm lại những người đàn bà ông đã yêu. Mặc dầu ông ta tự dối mình, những người đàn bà đó quả là rất tầm thường. Hồi hai mươi tuổi ông ta tưởng tượng trong đời tình ái sau này sẽ có nhiều cuộc gặp gỡ cao thượng nhất. Ông ta âu yếm, hiểu thấu ái tình, tự đắc, đáng được hưởng những mối tình cao thượng chứ. Nhưng những nhân vật ông ta mong được gặp thì lại không tới, và không thể sống cái cuộc đời như trong tiểu thuyết của mình. Stendhal đành viết những tiểu thuyết đó vậy. Chỉ có điều là khi ông ta bước qua con đường phân cách ánh sáng và bóng tối thì ông ta khóc than những tình nhân mà ông không được gặp.
Một nhà văn nghĩ bụng: "Mình mới tới tuổi ngũ tuần đây". Đã hoàn thành được gì? Đã diễn tả được những cái gì?". Người đó có cảm tưởng rằng vẫn chưa diễn tả được gì cả, và bắt đầu thấy mờ mờ những cuốn cần phải viết. Nhưng Trời còn cho làm việc được bao lâu nữa? Tim đã yếu, mắt đã ngại đọc sách. Được mười năm nữa? Hay mười lăm năm? "Nghệ thuật thì dài mà đời sống thì ngắn". Câu đó hồi xưa ông ta cho là nhàm, bây giờ hoá ra nhiều ý nghĩa. Ông ta còn có đủ thì giờ như Proust (°) khởi hành đi tìm thời gian đã mất không?
Những người hãy còn trẻ, hoang phí thời giờ, phải đợi khi nghĩ tới con đường phân cách ánh sáng và bóng tối mà một ngày kia họ phải bước qua như chúng tôi. Còn về phần cô...
Nhưng các bà, các cô cơ hồ như không trông thấy con đường phân cách đó.
Vạn an.
(1) Khu vườn ở Versailles, vua Louis XV đến đó với các tình nhân chốc lát của ông. 
Chương 21
Sự xung khắc trong hôn nhân
Xung khắc nhau là tính tình, khí chất trái hẳn nhau, không thể hòa thuận với nhau được, cũng không thể sống chung với nhau được. Khi nào sự trái ngược nhau đó không có cách cứu vãn được thì mới thực sự là xung khắc; nếu không thì người ta dùng một tiếng khác. Có những trường hợp mà hồi mới cưới, hai vợ chồng khó sống chứ không phải là không thể sống quen với nhau được. Như vậy đôi khi là tại không yêu nhau. Một người đàn ông và một người đàn bà cưới nhau vì nghĩa hay vì lợi chứ không phải vì tình; cả hai đều có thói quen sống một mình, làm chủ hành động của mình; bây giờ đột nhiên phải để ý tới những thị dục, ý muốn của người kia thì lấy làm khó chịu. Nếu họ yêu nhau thì sẽ dễ hy sinh cho nhau và sẽ tập được những thói quen mới. Nếu họ không yêu nhau thì buổi đầu, sự chống đối sẽ mạnh hơn. Nhưng nếu đời sống chung gây sự thèm khát, hoặc nếu sự minh triết có tác động làm dịu sự bất hòa, thì rồi sẽ êm, không sao. Nhưng sau vài tháng, có khi vài năm, thời gian không thay đổi được gì cả, sự trái nhau về tính tình không giảm được vì đã thâm căn cố đế, thì lúc đó sự xung khắc hóa ra hoàn toàn.
Có thể có nhiều nguyên nhân lắm. Trước hết là thị hiếu trái ngược nhau. Hai vợ chồng phải có một số tối thiểu điểm tương đồng thì mới chịu đựng nổi cuộc đời sống chung. Xét trường hợp George Sand. Hồi là thiếu nữ mười tám tuổi bà cưới tử tước Casimir Duevant. Anh chàng đó cũng dễ thương; thực tình muốn làm cho vợ sung sướng; mà George Sand khi nhận lời cầu hôn cũng có những thiện ý đáng quý nhất. Nhưng bà là một người đàn bà có học thức; bà rất thích nhạc và đọc sách. Mà Casimir thì mới mở cuốn sách ra là đã thiu thiu ngủ. Ông ta phục vợ lắm, rán chiều ý vợ. Bà khuyên ông đọc Pascal? Được, ông sẽ rán đọc thử. Hỡi ơi! Cuốn sách từ tay ông rớt xuống và vợ ông đâm ra khinh ông.
Lại thêm bà đã đọc nhiều tiểu thuyết; bà tưởng rằng đời sống phải giống tiểu thuyết; bà ước ao, chờ đợi một cuộc tình duyên đam mê, diễn bằng những lời cao cả. Anh chàng tội nghiệp Casimir không biết thứ ngôn ngữ đam mê, cho rằng trong hôn nhân, đàn ông có quyền đòi hỏi ái tình. Ông chồng chỉ việc ôm chầm lấy bà vợ, thế là xong. Xung khắc! Như vậy thì có khó gì mà chẳng đoán được rằng mặc dầu cả hai bên đều có thiện chí đấy, cuộc hôn nhân đó hễ đụng phải mỏm đá ngầm nào là đắm liền; và mỏm đá đó sẽ là một chàng thanh niên lãng mạn.
Trong vài trường hợp, sự xung khắc không thuộc về trí tuệ hoặc tình cảm. Nó do những thói sống khác nhau. Người chồng đã sống trong một gia đình mà cha mẹ cần kiệm, thận trọng; người vợ quen sống với một bà mẹ phóng đãng, không biết lo xa. Vợ không biết công việc nội tướng; ngán cái việc giữ sổ; cho cái chuyện "quỹ gia đình" là vô nghĩa. Thế là xung đột nhau hoài, rồi hóa ra bực mình. Chàng bắt vợ phải ghi tất cả các món chi thu, rồi cộng lại, không được sai; vợ cho như vậy là chuyên chế, tỉ tiểu, hà tiện. Nếu không người nào chịu sửa tính thì cái lộn nhau hoài mà có thể gây ra xung khắc. Nếu tiết điệu sinh hoạt của hai bên khác nhau quá thì cũng vậy. Thử tưởng tượng một người chồng hoạt động, hàng hải, cần gặp nhiều biến cố, đi du lịch, đùa cợt, du hý, và cột ông ta vào một người vợ bạc nhược, không có khí lực, chậm chạp, lúc nào cũng mệt nhọc chỉ thích nghỉ ngơi. Ông chồng luôn luôn đúng giờ, đúng từng phút; bà vợ luôn luôn trễ, không quan tâm gì tới giờ phút. Hai bên khác nhau như vậy thì làm sao tránh sự xung đột cho được? Có lẽ nếu cả hai biết khoan dung cho nhau thì cũng tránh được đấy, nhưng như vậy cả hai đều đau khổ. Nếu một người không giảm, một người không tăng để cùng đạt một mức chung, nếu ái tình thể chất không gắn chặt cặp vợ chồng mà tiết điệu khác nhau đó, thì sẽ hoá ra xung khắc.
Nếu vợ chồng mặc dầu gần có những tập quán như nhau, những thị hiếu như nhau, nhưng lại giữ những ý kiến hoàn toàn trái nhau về chính trị hoặc tín ngưỡng, thì nỗi nguy cũng lớn lắm. Có những thời người ta cho những cái đó là không quan trọng, nhưng những thời đó hiếm lắm và ngắn ngủi. Thời đại chúng ta buộc rằng ai cũng phải có quyết ý. Đành rằng một bà vợ mộ đạo có thể khoan dung với một ông chồng không mấy tin Chúa ;hoặc một ông chồng theo xã hội chủ nghĩa có thể khoan dung với một bà vợ có có bảo thủ. Nhưng sự khoan dung đó có thể bền được không? Do tin tưởng mà có những hành động bị người kia trách móc. Đã vào một đảng chính trị thì thế nào cũng có cả đám bọn đồng chí. Bạn của chồng có thể thành kẻ thù của vợ. Một lần nữa, hễ hai bên rất yêu mến nhau thì có thì giờ để sửa đổi được. Nếu thiếu tình âu yếm có tính cách hòa giải đó thì đừng nên mạo hiểm là hơn. Nên cưới một người đàn ông (hoặc một người đàn bà) mà tư tưởng về các vấn đề cốt yếu, không hoàn toàn như ta, nhưng phải gần giống ta. Nếu không thì coi chừng sự xung khắc đấy.
Vạn an. 
Chương 22
Sự xung khắc trong hôn nhân
Bức thư thứ nhì
Chắc cô đã đoán được, những bất hòa nghiêm trọng nhất giữa vợ chồng là những bất hòa do nhục cảm bất đồng gây ra. Tôi lấy thí dụ một người đàn ông có nhiều nhục dục, coi ái tình thể chất là rất quan trọng trong đời. Ông ta cưới một thiếu nữ mà ông ta hoàn toàn không biết quan niệm ra sao về điểm đó. Mà làm sao ông ta có thể biết được kia chứ! Chính thiếu nữ đó, còn là gái tân, cũng không tự biết mình kia mà. Thế rồi, hoặc do lỗi người chồng vụng về không biết cách làm cho cô ta xúc động, hoặc do bản chất lãnh đạm với thú vui nhục dục, cô ta không ưa cái mà chồng cô cho là nỗi vui nhất trong đời. Nếu cô ta khéo léo lại khoẻ mạnh thì mỗi tối miễn cưỡng chiều chồng một lần để chồng sung sướng. Có nhiều cặp rất đoàn kết, vui vẻ nhờ sự thoả hiệp đó. Nhưng nếu chính người chồng lãnh đạm với nhục dục thì thật là vô phương. Cả trong hai trường hợp, rất có thể rằng người nào bị thất vọng sẽ mong kiếm được ở ngoài gia đình cái vui mà mình không được hưởng trong cuộc hôn nhân không xứng đôi phải lứa đó. Xung khắc đó vào hàng nghiêm trọng nhất đấy.
Làm sao tránh nó được? Phải suy nghĩ về nguyên nhân sâu xa của những cuộc bất hòa đó, suy nghĩ cho kỹ thì có thể biết cách lựa người bạn trăm năm của mình hoặc tìm được nghệ thuật làm cho người đó thuần tỉnh lại. Có nhiều người dễ bị những thất bại nhục cảm đó hơn những người khác. Họ là những kẻ, vì lẽ này hay lẽ khác, có cái xu hướng tự cho mình là bị lăng nhục. Trong thâm tâm họ tự cao tự đại vô cùng, như vậy là để bù vào cái cảm giác tự ti. Một người yếu đuối sẽ hoá ra rất hung hăng để được vững lòng rằng mình không yếu đuối. Đặc biệt là có nhiều phụ nữ cơ hồ như uất hận rằng mình phải chịu cái phận đàn bà từ hồi nào tới giờ bị bọn đàn ông đối xử một cách nhục nhã, theo ý họ. Bây giờ phụ nữ đã được bình quyền với đàn ông về dân luật thì nỗi phẫn uất của họ dịu xuống chứ? Không. Đã bị nô lệ bao nhiêu thế kỉ rồi thì thế nào mà chẳng còn lại dấu vết. Với lại, ngay thời này, có thực là nam nữ bình quyền không? Nhiều người đàn bà, trong hôn nhân hay ngoài hôn nhân, vẫn chẳng còn phải hiến thân mặc dầu không thấy thèm muốn đấy ử? Sự quái dị của thân phận phụ nữ có giảm đấy, nhưng chưa bị thủ tiêu, Simone de Beauvoir bảo vậy.
Do đó mà một số phụ nữ có cảm giác rất khó chịu rằng mình bị lăng nhục. Nhiều khi họ bất giác oán chồng là có thái độ chồng chúa vợ tôi. Họ không tìm được cái vui nhục dục vì trong thâm tâm, họ từ chối cái vui dó mà họ không hay. Vô lý thật đấy, nhưng, tôi xin nhắc lại, họ tự cho rằng hiến thân cho chồng thì không khác gì phải phục tòng như một tên nô tỳ. Nhưng chính những phụ nữ đó có thể sung sướng và gây hạnh phúc cho chồng được. Muốn vậy, thì hoặc là họ cưới một người chồng nhu nhược mà họ có thể chi phối, hoặc là, ngược lại, cưới một người chồng đủ cương cướng và đủ thông minh để có thể dẹp lòng tự ái lúc nào cũng bừng bừng lên của họ. Chinh phục được một người đàn bà như vậy, xây dựng lại lần lần lòng vì mặc cảm tự ti của họ, công việc đó thú vị và đẹp đẽ đấy. Những hàng tào tự cao tự đại lần lần sụp đổ. Và sự khoái lạc sẽ phát sinh, nó cần sự hiến thân và khiêm nhượng, phục tòng trong tình ái. Phục tòng mà vẫn làm chủ.
Vạn an. 
Chương 23
Sùng bái trong hôn nhân
Thưa cô, hôm nay là một trong số những ngày chủ nhật trống rỗng nó làm cho tôi rất đỗi sung sướng. Dưới cửa sổ, các cây dẻ đương nẩy lộc và cây nẩy lộc sớm nhất - cây mà đầu xuân nào cũng bá hiệu sự hồi sinh - đã đẩy những búp xanh dịu. Từng cặp vợ chồng đi sau chiếc xe con nít, đủng đỉnh dạo mất ngày chủ nhật. Điện thoại im bặt. Và tôi, tôi biết rằng sẽ được hưởng mười hai giờ yên ổn và tĩnh mịch. Thú tuyệt.
Tôi mở muốn cuốn sách, quyết tâm thưởng thức nó vì tôi đã được quen tác giả, một bà đẹp đẽ, dịu dàng và u sầu. Tư tưởng của bà ta rất tế nhị. Tôi biết rằng bà đã sống với chồng trong một cảnh cô liêu mênh mông, hoàn toàn. Cho nên tôi không ngạc nhiên rằng cuốn sách mỏng của bà mang nhan đề: Tiếng dội của Yên Lặng. Quả thực sự là sự yên lặng như một bức tường vô hình, làm dội lại những tư tưởng thầm kín của ta.
Những tư tưởng của bà Camille Belguise phảng phất như những tư tưởng của Joubert, Chardonne và đôi khi của Sainte Beuve, hồi mà ông này dịu dàng và tế nhị. Bà nói nhiều câu rất hay về thiên nhiên về ái tính: "Yêu ai là chiếu vào người đó hình ảnh của nội tâm mình và mong được thấy phản ảnh. Trong ái tình chân chính, có hai người, và người này phải biết quý chuộng người kia". Đúng, không những phải chấp nhận người kia, mà còn phải quý chuộng người kia. "Người ta buồn rầu rằng hồi trước yêu người kia nhiều, bây giờ yêu kém đi, vì hễ thực là yêu thì là dù người kia có kém xứng đáng, mình cũng ngày mỗi âu yếm hơn lên hoài".
Bà dẫn lời Emerson: "Ái tình chỉ nhất thời, cưới nhau rồi thì hết". "Hôn nhân chỉ để lại cho ái tình cái vị một trái còn xanh". Camille Belguise không chấp nhận cái lối tách biệt ái tính với hôn nhân đó (và tôi đồng ý với bà). Bà bảo: "Còn chúng ta thì chúng ta cho ái tình là sự sùng bái trong hốn nhân nó buộc hai người lúc nào cũng yêu nhau và nó hướng tới một quan hệ cao thượng tới nỗi khi nó thất bại thì chúng ta cảm thấy một cái gì tựa như đau khổ, tự hạ".
Thế rồi (cái vui của chủ nhật là được tự do thơ thẫn mà), tôi mở một tiểu tuyết của Maurice Toesea: Simone hay hạnh phúc trong hôn nhân, ngoài bìa có in hình bức tượng đẹp Hôn nhau của Rodin. Tiểu thuyết? Đúng hơn là trường thi bằng văn xuôi, một khúc tán ca đề cao sự hòa hợp hoàn toàn. "Hỡi các bạn thân, nhân danh người yêu của tôi, tôi xin thưa với các bạn rằng trong ái tình không có cái gì là bi kịch. Chỉ có bi kịch khi thiếu ái tình thôi. Ái tình san sẽ thì chỉ gây hạnh phúc thôi".
Cô có nhận thấy rằng những thái độ về tình cảm cũng tùy thời mà thay đổi y như các đồ đạc hoặc các bức hoạ không? Ở thời Maupassant (1) rồi tới thời Proust (2), các tiểu thuyết gia chứng tỏ rằng ái tình chỉ là ảo tưởng, thất vọng, ghen tuông và khổ não về tinh thần. Còn hôn nhân, từ mấy thế kỉ nay, chỉ là một đề tài cho hài kịch. Ngày nay, sau mấy năm ái tình có màu hắc ám, tôi nhận thấy một sự chuyển biến. Sự thức tỉnh của tôn giáo đã đóng một vai trò trong sự biến chuyển đó, nhưng cũng phải kể thêm tinh thần rất nghiêm trang của một thế hệ đã chịu nhiều nỗi cay đắng nữa. Trong cơn dông tố, người ta cần tìm một điểm tựa bất biến và lâu bền, sự hợp nhất hoàn toàn của hai người? Và hôn nhân, chẳng phải là "Cái liên hệ duy nhất mà thời gian có thể thắt chặt lại" như Alain nói đấy ư?
Nhân vật chính của Toesea với bao nhiêu người nữa ở cái tuổi ông ta đã tìm thây được điều đó.
Thưa cô, bây giờ đây, đã thành cái "mốt" trong những cuộc hôn nhân có hạnh phúc. Cô sẽ bảo: "Thế này thì các tiểu thuyết gia hết làm ăn gì được rồi... Một khúc hòa tấu mà trường âm là những nốt trắng. Nhan đề hay đấy, nhưng truyện khó viết". Ai mà biết chắc được? Chính cái nốt trắng đó có cả nghìn vẻ đấy, biết đâu chừng. Hạnh phúc, cũng như mùa xuân, mỗi ngày lại có một diện mạo khác. Diện mạo ngày chủ nhật này của tôi, ngày tôi được yên tĩnh đọc sách và suy nghĩ về hôn nhân, đã khả ái đấy.
Vạn an.
(1) Cuối thế kỷ  XIX.
(2) Đầu thế kỷ XX.
Chương 24
Người đàn bà kia
Mới đầu, tuy chưa thấy Người đàn bà kia mà cô cũng đã đoán được có cô ta ở đâu đó rồi. Đôi khi, dưới một bãi cỏ, có một dòng nước ngầm. Cô đi dạo mát trên bãi, thấy cỏ chỗ này dày hơn, cao hơn, đất chỉ hơi xốp thôi nhưng đặt chân lên đã hơi lún. Mới chỉ thấy những dấu hiệu như vậy nhưng không còn ngờ gì nữa: dưới đó có dòng nước. Hoặc đôi lần, trước khi đau, chưa có một triệu chứng gì rõ ràng cả; cỏ vẫn sống bình thường; nhưng một cảm giác váng vất khó chịu, một nỗi rầu rĩ vô cớ bào trước cho cô rằng có một nguy cơ bí mật nào đó. Cô tự hỏi: Mình làm sao thế này? Không thấy khoẻ khoắn trong người.
Khi đức phu quân của cô bắt đầu săn sóc tới Người kia thì cô cũng có cảm giác như vậy. Cô nghĩ bụng: "Anh ấy làm sao thế này? Không như trước nửa". Từ trước tới giờ, buổi tối nào về nhà cũng kể cho cô nghe ban ngày đã làm những gì, gặp những ai; thầy ấy thích kể tỉ mỉ từng chi tiết một (bọn đàn ông hay kể lể về mình như vậy); cho cô biết trước hôm sau sẽ làm những gì. Rồi lần lần, những lời báo cáo của thầy kém minh bạch. Cô nhận thấy trong thời khắc biểu của thầy có những lỗ hổng không sao giảng được. Mà chính thầy cũng nhận thấy lời phân trần của mình không mấy vững. Thấy rán nói phớt qua vài lúc nào đó; thầy lúng túng. Cô nghĩ bụng:"Anh ấy muốn giấu mình cái gì đây?".
Sau mười năm sống chung, cô tưởng đã biết rõ chồng. Cô biết thầy thích những gì: thích công việc làm ăn, chính trị, thể thao; chỉ hơi chú ý tới hội hoạ tuyệt nhiên không thích văn chương, âm nhạc. Bây giờ thấy ham nói về các sách mới ra, làm bộ như lơ là hỏi: "Ở nhà có tiểu thuyết của Stnedhal không nhỉ? Anh muốn đọc lại", mà cô biết rõ rằng trước kia có bao giờ thầy đọc những tiểu thuyết đó đâu. Trước kia thầy không chú ý gì tới cách phục sức của cô cả, bây giờ hỏi: "Tại sao mình không bao giờ bận những áo bằng thứ hàng in hoa? Thứ hàng đó đẹp lắm", hoặc: "Mình nên hớt tóc cao lên nữa đi. Cái kiểu đuôi ngựa đó lỗi thời rồi". Về chính trị, thấy cũng đổi ý nữa; đối với những tư tưởng cấp tiến, có vẻ khoan dung hơn. Về ái tình, câu chuyện của thấy kỳ dị và hăng say; về hôn nhân thì mạt sát thậm tệ. Tóm lại, cô không nhận ra thầy ấy nữa.
Ít lâu sau, cô không còn nghi ngờ gì nữa. Dưới lớp đất trước kia vững chắc, có một dòng sông ngầm rồi. Con Người kia có ở đó rồi. Nhưng Người kia là người nào? Cô rán dùng những tài liệu mà vô tình thầy mỗi ngày đem về cho cô để tưởng tượng, hình dáng con người đó. Cô ta chắc trẻ, đẹp, ăn bận rất lịch sự; có kiến thức hoặc tỏ ra vẻ ta có kiến thức đây; cô ta biết cưỡi ngựa (vì thầy nhà bỏ kỵ thuật đã từ lâu, gần đây bảo: "Y sĩ khuyên anh phải vận động thêm lên; anh có ý muốn cưỡi ngựa trở lại"). Chắc cô ta ở đâu về Luxembourg, vì thầy nhà luôn luôn kiếm ra được những cớ khó tin buộc thấy phải đi về khu đó.
Rồi một buổi ăn tối tại nhà bạn thân, cô bỗng phát giác được con người đó. Đâu có khó khăn, tài giỏi gì mới nhận ra được cô ta. Hỡi ơi, chỉ cần nhận xét nét mặt của thầy là đủ. Cặp mắt thầy trìu mến, đắm đuối. Thầy làm bộ nói với cô ta rất tí, nhưng hai người chớp chớp mắt với nhau, hơi mỉm cười với nhau, tưởng đâu thiên hạ không ai thấy, nhưng cô thì cô thấy nhói trong lòng. Bà chủ nhà bảo với cô rằng chính cô ta đó và cô ta đã ngỏ ý muốn gặp cô.
- Tại sao lại muốn gặp tôi?
- Tôi không rõ; cô ấy có nghe nói về chị... Cô ấy mong được gặp chị muốn chết.
Nhưng nghe cái giọng làm ra vẻ lơ là đó, cô nhận ra được rằng chính bà ta cũng biết nữa. Cô vừa thảng thốt, vừa đau khổ, ngạc nhiên, trước hết vì người đàn bà đó dám tấn công đức phu quân của cô. Thế là cô đã vô tình nghĩ rằng thấy thuộc về cô, là một phần của cô. Thầy không phải là một người được tự sử dụng mình như biết bao người khác mà chỉ là phần da thịt của cô. Người kia không có quyền cướp thầy nhà của cô, cũng như không có quyền cắt một cánh tay hoặc ăn cắp chiếc nhẫn cưới của cô.
Cô lại còn ngạc nhiên vì Người kia vừa giống mà lại vừa khác cái hình ảnh mà cô đã tưởng tượng về cô ta. Đúng, chỉ cần nghe cô ta nói cũng nhận ngay được những ý mới, thị dục mới, cả những dụng ngữ rất mới của thầy nhà nữa. Cô ta nói chuyện về ngựa, về đua ngựa, dẫn lời tác giả những cuốn sách mà gần đây thầy tỏ ý tò mò kỳ dị muốn đọc cho biết. Nhưng cô không thấy cô ta trẻ hơn cô, nói cho ngay, cũng chẳng đẹp hơn cô nữa. Có lẽ vừng trán như đã đục và thô. Nói chuyện thì hoạt bát linh động nhưng kém bóng bẩy, đặc sắc; nghe mau chán. Cô đâm hoang mang, tự hỏi: "Anh ấy thấy cô ta dễ thương ở chỗ nào kia?".
Về tới nhà, cô thình lình tấn công:
- Cặp đó là ai vậy, mình? Mình quen họ ở đâu?
Thầy lẩm bẩm: "Giao thiệp trong công việc làm ăn" rồi tìm cách nói lảng qua chuyện khác; nhưng cô đã cương quyết không để cho thầy yên.
- Em thấy cô vợ không dễ thương. Có vẻ tự mãn quá mức mà có cái gì để tự mãn đâu chứ.
Thầy cũng muốn nhìn đấy, nhưng dằn lòng không được nên phản đối lại. Thầy rán làm ra cái vẻ thản nhiên, bảo:
- Anh không đồng ý với mình, cô ta đẹp, rất có duyên đấy chứ.
- Đẹp dữ! Mình không ngó cái miệng cô ta ư?
Thầy nổi quạu, nhún vai, đáp một cách hơi đột ngột:
- Có chứ, anh đã nhìn rất rõ cái miệng cô ta.
Cô nổi giận, tiếp tục hạ (cô nghĩ vậy) tình địch của cô. Sau một trận vừa mệt vừa khó chịu, thầy và cô mãi tới hai giờ khuya mới ngủ được. Sáng hôm sau, thầy có vẻ cực kì lãnh đạm, bảo cô:
- Trưa không ăn nhà đâu.
- Tại sao?
- Tại không ăn nhà, chứ sao. Tôi còn làm chủ hành động của tôi chứ, phải vậy không?
Lúc đó cô mới cảm thấy rằng hồi hôm cô đã mắc một lỗi quan trọng. Chê bai một người đàn bà đâu phải là cách làm cho tình nhân người đó rời bỏ người đó. Thầy thấy cô ta rất dễ thương; nếu cô bảo thầy rằng cô ta khó thương thì thầy sẽ cho rằng thầy đầu có lầm, chính cô không biết nhận xét, nhất là không muốn nhận xét vì đã ghen lồng ghen lộn lên rồi. Thư sau chúng ta sẽ trở lại chuyện đó.
Vạn an.
Chương Kết
Bức thư thứ nhì
Cô là một người thông minh; cô đã nhận rõ được mối nguy. Phản ứng tự nhiên của cô là làm cho hai người sống không yên được với cô. Cô có thể theo dõi chồng hoặc mướn người theo dõi. Chính Người kia cũng có chồng và chắc ông chồng chẳng nghi ngờ gì cả. Còn gì dễ dàng hơn là báo cho ông chồng biết để ông ta tự coi chừng vợ. Nhưng ngồi một mình, rầu rĩ, vơ vẩn, cô đã suy nghĩ.
"Ừ, mình có quyền ghen và làm cho đời sống của họ điêu đứng. Nhưng như vậy có lợi gì cho mình không? Anh ấy sẽ oán mình như hồi hôm, cho mình là một thứ chướng ngại, là hạng kỳ đà, chưa biết chừng là hạng ác phụ nữa. Từ trước đến nay, dù sao đời anh ấy cũng liên kết với đời mình do nhiều kỷ niệm, do nhiều thói quen mà có lẽ cũng do một tình âu yếm chân thật nữa. Anh ấy cảm thấy có lỗi với mình và anh đau khổ vì đã làm mình đau khổ; mà cái phần ái tình anh ấy toan lấy của mình để san sẽ cho người kia, anh ấy có tỏ vẻ ân cần, vồn vã để bù lại."
"Toan ư?.. Chỉ toan thôi ư?... Có gì chứng tỏ rằng anh ấy đã sa ngã đâu. Người đàn bà đó không có vẻ tự do lắm, anh ấy cũng vậy. Có thể rằng họ chỉ mới dạo mát hoặc ngồi chuyện trò với nhau trong một quán giải khát... Nếu mình làm cho anh ấy nổi quạu lên, nếu mình làm cho anh ấy có cảm tưởng rằng anh ấy bị mình cột chân thì anh ấy sẽ mong được thoát ly. Mà nếu ả nọ cũng theo con đường đó thì có Trời biết được họ sẽ đi tới đâu. Nếu rốt cuộc không phải là sự đoạn tuyệt giữa anh ấy và mình thì cũng là sự tan cửa nát nhà do chính mình gây ra, còn như chịu khó kiên nhẫn một chút..."
Rồi nỗi giận của cô lại bừng bừng trong lòng:
"Dù sao thì cũng là quá bất công! Mình đã hy sinh tất cả đời mình cho chồng, không tiếc tí gì. Từ khi cưới, mình không bao giờ nhìn người đàn ông nào khác nữa. Đối với mình, bọn đàn ông khác không hơn nhưng hình múa rối. Chỉ khi nào có lợi cho chồng mình thì mình mới chú ý tới họ... Có lẽ như vậy mình dại chăng? Anh ấy thấy như vậy được yên ổn quá chăng?... Thỉnh thoảng mấy chị bạn bảo mình:"Chị coi chừng đấy... Đàn ông cần được khích động, họ tò mò, thích cái mới. Nếu không thấy chị có cái gì bí mật nữa thì anh ấy sẽ đi tìm cái bí mật ở nơi khác...". Mà nếu mình muốn, thì trước kia và ngay bây giờ nữa, có thể làm cho anh ấy nổi ghen một cách rất dễ dàng... Làm cho nổi ghen chơi vậy thôi... Chỉ cần bớt tỏ vẻ lãnh đạm khi nghe lời khen của người khác, thế thôi. Nhiều ông bạn của anh đã tìm cách và hiện còn tìm cách ve vãn mình. Hết thảy họ đều hỏi mình: "Buổi chiều tôi lại thăm chị được chứ?". "Khi nào anh Jacques đi xa lo chuyện làm ăn, tôi có thể lại đón chị đi coi diễn kịch được không?". Mình luôn luôn từ chối, cương quyết một mực tiết nghĩa. Và nếu mình nhận lời, lẽ đó là một cách nhắc cho anh ấy nhớ rằng chính vợ anh ấy cũng được nhiều người khác thèm muốn, quý mến".
Cô đã sáng suốt gạt bỏ dự định đó đi. Nó vô lý và nguy hiểm. Vô lý vì không ai có thể làm trái với bản tính của mình được. Hiển nhiên là cô vẫn yêu chồng mặc dầu có cho rằng chồng có lỗi, và cô sẽ thấy tởm ngay nếu bạn của chồng tỏ vẻ săn đón cô hơn. Nguy hiểm vì không thể nào biết trước được phản ứng của chồng ra sao. Nếu anh ấy có lý do để ngại rằng cô bỗng biến tính, nhẹ dạ thì anh ấy có rầu rĩ, hối hận không? Ai mà biết chắc được? Nếu anh ấy quá mê Người kia thì, trái lại, rất có thể tự nhủ:
"Mặc thây! Từ trước đến giờ mình đã nể nang, thận trọng. Nhưng nếu chính nàng không muốn cứu vãn hạnh phúc lứa đôi thì cần quái gì phải nể nang, thận trọng nữa. Tự do, ai đi đường nấy".
Sự ỏng ẹo là một con dao hai lưỡi. Vụng sử dụng nó một chút thôi là đứt tay đấy. Cô hiểu điều đó rồi. Vậy thì phải làm sao đây? Bữa trưa, ngồi ăn một mình, cô lại tiếp tục rầu rĩ trầm tư:
"Giờ này đây chắc đương ăn với Ả? Họ kể chuyện gì với nhau? Anh ấy có kể cho Ả nghe cái trận của mình hồi hôm không; lúc đó mình đã không dằn được, la lối om sòm, và bây giờ so sánh mình với Ả, anh ấy có cho Ả là chỗ nương tựa yên ổn, âu yếm, sung sướng, trái hẳn với mình không? Mình đã nói xấu, nghĩ xấu nhiều về Ả; nhưng bây giờ một mình một bóng, tự vấn tâm, mình phải nhận rằng mình không thật là vô tư, công bằng. Mình ở vào địa vị tình địch, không lấy tư cách một người biết điều mà xét cô ta. Thử ráng tìm hiểu... Nếu mình không sợ cô ta thành kẻ thù của mình, làm tan nát hạnh phúc của mình thì mình sẽ xét cô ta ra sao?"
Như vậy là cô đã can đảm gắng sức tự chủ để nhìn thẳng vào sự thật, và buổi tối khi về nhà, anh ấy ngạc nhiên - và nhẹ mình - thấy rằng cô rất bình tĩnh. Cô không vặn hỏi anh ấy giờ nào giờ nào nào làm những gì và đi đâu. Chính anh ấy tự ý thú một cách vụng về và cảm động rằng đã không hẹn mà gặp Người kia trong một phòng triển lãm tranh. Cô không hỏi, anh ấy vốn không ưa nghệ thuật mà sao lại bốc đồng đi coi tranh, do một phép nhiệm màu nào vậy! Trái lại, cô gợi ý với thấy rằng nếu thấy quý cặp vợ chồng đó thì hôm nào nên mời lại nhà dùng bữa trưa hay bữa tối. Anh ngạc nhiên, lại con gạt bỏ ý đó đi nữa:
- Vậy ư? Ông chồng chán chết đi. Cô ta thì dễ chịu, nhưng tính tình khác hẳn mình. Mình đã bảo anh rằng không thích cô ta mà. Anh đâu muốn bắt mình phải tiếp họ.
Cô bảo rằng hồi hôm vì mệt nhọc nên bẳn tính nhưng thực ra không có ác cảm gì với Người kia cả, trái lại là khác. Cô ráng thuyết phục và anh ấy chịu đồng ý về nguyên tắc: hôm nào sẽ mời họ lại dùng bữa. Xử sự như vậy là khéo léo vì hai lẽ. Cô nghĩ rằng mời cặp đó lại chơi thì Tình địch của cô sẽ mất sức quyến rũ của sự bí mật, của vật cấm đi, và nghĩ vậy là phải. Hơn nữa, cô muốn tiếp cô kia, dò xét, ráng tìm hiểu xem cô ta có cái gì quyến rũ anh ấy như vậy.
27/9/2005
André Maurois
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Nguồn: Đất Việt
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...