Thứ Hai, 21 tháng 2, 2022

Thư gởi người đàn bà không quen biết 2

Thư gởi người đàn bà
không quen biết 2

Chương 9
Ái tình và hôn nhân ở Pháp
Muốn hiểu rõ thái độ của đàn ông và đàn bà Pháp đói với hôn nhân và ái tình, trước hết phải nhớ lịch sử tình cảm ở Pháp những thời đã qua. Trong lịch sử đó có hai trào lưu.
Trào lưu thứ nhất là một trào lưu rất mạnh có tính cách tình cảm. Ngay từ hồi Trung cổ, ở Pháp đã phát sinh thứ luyến ái phong nhã. Giới thượng lưu Pháp thời đó đều có những nét này: trọng người đàn bà, muốn làm đẹp họ hoặc bằng những bài ca, bài thơ (như bọn troubadour) (1) hoặc bằng những hành động cao đẹp. Không có một nền văn chương nào mà coi trọng luyến ái và tình dục như vậy.
Nhưng một trào lưu thứ nhì, bình dân hơn, tiến song song ở Pháp với trào lưu thứ nhất. Trào lưu đó đã được Rabelais tả: Ái tình thể chất, nhục dục đóng vai trò chính. Hôn nhân không phải là một vấn đề tình cảm mà là một sự sắp đặt có tính cách thực tế để dạy con và quản lý các lợi chung. Trong các hài kịch của Moliere, người chồng là một gã hơi lố bịch, vợ nếu có cơ hội thì cho chồng mọc sừng, mà chồng cũng tìm một tình nhân nào đó.
Tới thế kỷ XIX, một giới buốc-gioa (bourgeois) đông đảo và phong lưu coi trọng vấn đề tiền bạc và lưu lại gia tài cho con cái, nên cho hôn nhân là một vụ mua bán, như trong các tiểu thuyết của Balzac. Do sống chung, có những bổn phận chung, do sự hòa hợp về nhục dục mà ái tình có thể phát sinh giữa vợ chồng được, nhưng cái đó không cần thiết. Nhiều cuộc hôn nhân có hạnh phúc mới đầu chỉ là những cuộc hùn vốn. Cha mẹ và các chưởng khế bàn tính với nhau về món hồi môn, về khế ước hôn nhân, trước khi bọn trẻ thấy mặt nhau nữa.
Ngày nay những cái đó thay đổi cả rồi. Của cải không còn quan trọng lớn nửa vì một người đàn bà thông minh, siêng năng, hoặc một người chồng có một nghề tốt, thì còn có giá trị gấp mấy một số hồi môn bằng tiền rất dễ mất giá. Trào lưu tình cảm, cái nhu cầu ái tình lãng mạn được di truyền của tổ tiên từ mấy thế kỷ, cũng mất sức mạnh đi rồi. Vì đâu? Trước hết vì đàn bà đã do chiến đấu mà được tự do hơn, đối với đàn ông chỉ như một người bạn gái chứ không còn là một vị thần xa và lạ; sau nửa vì thiếu nữ ngày nay biết rõ ái tình thể chất hơn, có những ý niệm đúng đắn và lành mạnh hơn về ái tình và hôn nhân.
Thanh niên nam nữ vẫn còn tìm ái tình đấy, nhưng tìm nó trong một hôn nhân bền vững. Họ ngờ thứ hôn nhân do đam mê vì họ biết rằng đam mê thì không bền. Thời Moliere, hễ cưới rồi là hết yêu nhau. Bây giờ cưới rồi mới bắt đầu yêu nhau. Trong những trường hợp có hạnh phúc, sự kết hợp mật thiết hơn hồi xưa vì ở cả trên ba phương diện: thể chất, tình cảm và lý trí. Thời Balzac người ta cho yêu vợ chính thức là điều lố bịch. Ngày nay tiểu thuyết truỵ lạc hơn thời xưa nhưng đời sống lại lành mạnh hơn. Trong một thế giới khó khăn, đàn ông và đàn bà phải đem hết sức ra để chiến đấu, các phụ nữ Pháp càng thấy rằng một hôn nhân có tính cách bạn bè về nhục dục và tình cảm là giải pháp tốt hơn cả cho vấn đề ái tình. (2)
Vạn an.
(1) Phường ngâm thơ hát vè rong ở Pháp thời Trung cổ.
(2) Ở nước ta hồi xưa không có trào lưu thứ nhất (tôn trọng đàn bà và làm đẹp lòng họ), chỉ có một trào lưu tựa trào lưu thứ nhì (hôn nhân là sự sắp đặt thực tế nhưng rất trọng nghĩa vợ chồng, không lăng nhăng như ở Pháp), rồi giữa hai thế chiến, ở thành thị do ảnh hưởng của Pháp bắt đầu phát sinh trào lưu "hôn nhân hùn vốn"; bây giờ trào lưu đó đã qua và trai gái ở thành thị cũng tìm thứ hôn nhân bạn bè như ở Pháp. 
Chương 10
Nên phân biệt các bất hạnh lớn và nhỏ
Một người đàn bà mà tôi rất mến hôm qua xé chiếc áo dài nhung của mình. Một bi kịch não lòng diễn ra cả buổi tối. Trước hết bà ta không hiểu tại sao lại toạc ngang một đường dài như vậy. Ừ thì cho rằng chiếc váy chặt quá và khi bước đi... Nhưng dù sao thì số phận cũng chua xót quá! Đó là chiếc áo đẹp nhất của bà, chiếc áo cuối cùng mà bà dám nhờ một tiệm danh tiếng cắt cho. Tai nạn đó vô phương cứu vãn.
- Thì tại sao bà không nhíp nó lại?
- Ôi, bọn đàn ông! Chẳng hiểu gì cả. Nhíp lại thì coi lồ lộ khác gì sống mũi ở giữa mặt không.
- Thế thì bà mua một miếng nhung đen rồi thay cả cái vạt đi.
- Ông quên rồi ư? Hai miếng nhung không khi nào cũng một màu, lóng lánh như nhau cả. Một thứ nhung đen đã cũ thì hơi ngã ra màu xanh. Và thì coi còn ra cái gì nữa. Các bà bạn tôi sẽ la lên.
- Michel Ange, người ta đưa cho phiếu cẩm thạch nào để đục tượng thì lợi dụng những chỗ không đều của nó, thành thử đã có tật mà tượng lại hoá đẹp. Chỗ toạc đó sẽ gợi hứng cho bà. Bà tỏ ra có thiên tài đi nào. Thay vào đó một thứ hàng khác đi. Người ta sẽ cho rằng bà có dụng ý và sẽ thán phục bà.
- Rõ ngây thơ! Con mắt chấp nhận được một sự bất chỉnh là khi nào có một trang sức cùng kiểu đó ở một chỗ khác, như ở "ve" áo đàn ông, ở cổ, ở dây lưng, như vậy có hô có ứng. Còn cái vạt lẻ lọi này, mà làm vậy thi vô lý! Tôi mà lại đi bận một chiếc áo vá à?
Tôi đành phải thú nhận rằng tai hoạ vô phương cứu vãn. Tới đây, nhà luân lý thay người bạn an ủi. Tôi bảo:
- Vâng, quả là một bất hạnh. Nhưng bà cũng nhận rằng còn có những bất hạnh lớn hơn nhiều chứ. Chiếc áo của bà rách. Lòng tôi thực rầu rĩ, nhưng xin bà nghĩ rằng trong một tai nạn xe hơi, ruột bà có thể lủng một lỗ, mặt bà có thể rạch một đường ; xin bà nghĩ rằng bà có thể bị sưng phổi, bà có thể bị trúng độc, và cơ thể của bà quan hệ với bà hơn chiếc áo chứ; xin bà nghĩ rằng đáng lẽ mất một chiếc áo thì bà có thể mất một số bạn thân: xin bà nghĩ rằng chúng ta sống ở một thời đại nguy hiểm, chiếc tranh có thể nổ và bà có thể bị bắt, bị giam, bị đày, bị giết, bị moi hết ruột, thiêu ra tro. Xin bà nhớ rằng năm 1940 bà không phải chỉ mất một chiếc áo mà mất tất cả gia sản và bà đã nhận tai vạ đó một cách can đảm tới nay tôi còn phục...
Bà ta hỏi:
- Ông muốn kết luận ra sao đấy?
- Kết luận như vầy: thân phận con người điêu đứng, áo nhung thì rách mà người thì chết, buồn não lòng đấy, nhưng trong các tai vạ phải phân biệt cái lớn cái nhỏ. Montaigne bảo: "Tôi sẵn sàng lo công việc cho họ, nhưng tôi không muốn đau gan hoặc đau phổi". Nghĩa là ông muốn nói: "Tôi, thị trưởng Bordeaux, tôi sẵn sàng vá lại những lỗ thâm thủng tài chánh cho các ông, nhưng tôi không muốn sinh bệnh mà sầu khổ". Câu đó áp dụng vào sự bất hạnh của bà được. Tôi có thể tặng bà một chiếc áo mới, nhưng tôi không chịu cho một chiếc áo cũ bị toạc ra là một tai nạn cho quốc gia hay thế giới.
Cô bạn không quen biết của tôi, cô đừng đặt ngang hàng các nỗi rầu rĩ của cô, chẳng hạn đặt ngang hàng một chiếc bánh phồng lỡ để cho cháy, một chiếc vớ tuột mắt đan, với những kẻ vô tội bị hành hạ và một nền văn minh lâm nguy, mà phải xếp những cái đó cái trên cái dưới cho thành một kim tự tháp.
Vạn an.
Chương 11
Cảm tính sắc bén của trẻ
Người lớn thường sống bên cạnh thế giới của trẻ mà không tìm cách khám phá nó. Mà trẻ thì lại nhận xét thế giới của cha mẹ, rán tìm hiểu, phê phán; những câu ta vô ý thốt trước mặt chúng, chúng nghe được, hiểu theo óc của chúng rồi do đó tạo một hình ảnh về vũ trụ mà sau này tới tuổi thanh xuân chúng vẫn còn giữ mái. Một người đàn bà nói trước mặt một đứa con tám tuổi: "Tôi là một tình nhân hơn là một người mẹ." Bà ta có lẽ đã vô tình gây cho con một vết thương lòng suốt đời không lành được.
Tôi nói quá ư? Không đâu. Cái ý niệm bi quan về thế giới mà trẻ tự tạo ra do kinh nghiệm mấy năm đầu, ý niệm đó sau này lớn lên, trẻ có thể sửa lại được, nhưng một cách chậm chạp và khó nhọc. Nếu, trái lại, ngay từ hồi trẻ bắt đầu hiểu biết, cha mẹ gợi cho chúng được lòng tin ở sự khoan hồng và trung tín của loài người thì chúng tập được cái tính tự nhiên: dễ thấy sung sướng. Những biến cố trong đời sau này có thể làm thất vọng những người hồi nhỏ sung sướng, sớm muộn gì họ cũng sẽ thấy những phương diện bi thảm của đời sống và những khía cạnh tàn ác của bản tính con người; nhưng trái với điều người ta nghĩ, những người đó sẽ dễ chịu đựng được sự bất hạnh nếu trong tuổi thơ yên ổn đã được biết tình thương và hy vọng.
Chúng ta nói trước mặt trẻ những điều ta cho là vô hại mà trẻ lại cho là chứa đầy một ý nghĩ thầm kín. Một bà giáo giá kể cho tôi nghe rằng hồi xưa có lần bà bảo một em gái: "Vẹt tấm màn ra cho thêm ánh sáng", bà thấy nó do dự:
- Thưa cô, con không dám...
- Con không dám? Tại sao vậy?
- Thưa cô, tại con đọc trong Thánh sử rằng bà Rachel chết khi sanh ra Benjamin. (1)
Một em trai luôn luôn nghe người lớn nói: đồng hồ quả lắc (kiểu) Marie Antoinette, "xa lông" (kiểu) Louis XVI tưởng rằng đồng hồ đó tên là Marie Antoinette cũng như tên của em là Francois. Người ta có thể tưởng tượng khi trẻ bắt đầu học sử Pháp, thấy những biến cố đẫm máu và buồn thảm mang tên những đồ thường dùng thì trong đầu óc của chúng thoáng hiện lên những tiểu thuyết kỳ dị ra sao.
Vậy có biết bao nỗi lo sợ không dám nói ra, biết bao thành ngữ thần diệu lởn vởn trong đầu óc của trẻ. Tôi nhớ hồi năm sáu tuổi, trong thị trấn nhỏ tôi ở, một gánh hát dạo rao tuồng Những sự kỳ dị của ly hôn. Tôi không hiểu ly hôn là gì nhưng lờ mờ cảm thấy rằng tiếng đó là một tiếng cấm kỵ, cám dỗ và nguy hiểm, nó mở cho ta thấy được nhiều bí mật của người lớn. Và cũng đúng cái ngày gánh hát đó tới thì một người hớt tóc trong thị trấn bắn mấy phát súng vào vợ vì ghen tuông. Người ta kể lại truyện đó trước mặt tôi. Trong óc con nít của tôi, hai sự kiện cách nhau rất xa đó liên kết với nhau ra sao, bây giờ tôi không nhớ rõ được, nhưng hồi đó tôi cứ ngỡ rằng ly hôn là chồng giết vợ khi vợ có tội, và giết vợ giữa công chúng, trên sân khấu rạp hát ở Cầu Sông Eure.
Đành rằng cha mẹ dù chú ý tới mấy cũng không ngăn cản được sự phát sinh những huyền thoại kỳ cục và những liên tưởng ngây thơ trong đầu óc của trẻ. Kinh nghiệm của cha mẹ không truyền lại được cho con, mỗi người phải tự rút lấy kinh nghiệm trong đời sống; nhưng ít nhất ta cũng không nên cung cấp cho óc tưởng tượng kỳ cục của trẻ những thức ăn dễ lên men quá. Ta sẽ tránh được cho trẻ những đau khổ lớn nếu ta nhớ rằng cảm tình của chúng sắc bén hơn của ta và sự chú ý của chúng mẫn nhuệ hơn. Đó là bài học cho người mẹ.
Vạn an.
(1) Chữ jour của Pháp có nghĩa là ngày, rồi từ nghĩa đó chuyển qua nghĩa: ánh sáng ban ngày, ánh sáng mặt trời, và nghĩa: đời người, sinh mệnh. Cô giáo bảo: donnez nous un peu de jour là dùng theo nghĩa ánh sáng: học trò hiểu theo nghĩa đời người, sinh mạng: donner le jour à Benjamin là sinh ra Benjamin.
Chương 12
Phép tắc của trò chơi
Không biết thỉnh thoảng cô có nghe cuộc đàm thoại thứ bảy trên đài phát thanh không. Đó là cuộc đàm thoại giữa Armand Salacrou, Roland Manuel, André Chamson, Claude Mauriae và tôi. Chúng tôi nói về đủ chuyện: kịch, sách đã đọc, tranh, hòa nhạc và nói cả về mình. Tóm lại, đích thực là một cuộc đàm thoại hoàn toàn ứng khẩu, y như cuộc đàm thoại giữa năm người bạn chung quanh một bàn cà phê. Riêng tôi, tôi thấy thú lắm và tuần nào cũng hớn hở lại họp với các bạn chung quanh máy vi âm.
Hôm nọ Claude Mauriae bênh vực một thuyết mà tôi cho là đúng. Đại ý ông bảo: "Ái tính phong nhã, thứ ái tình trong các tiểu thuyết nghĩa hiệp là một trò chơi mà phép tắc từ thời đó không làm cho sự diễn tiến của ái tình thay đổi. Người ta thấy lại những phép tắc đó ở thế kỷ XVII trong truyện L'Astrée và truyện La Princesse de Cleves: nó cũng vẫn vậy mặc dầu được diễn bằng một giọng khoa đại hơn trong các tiểu thuyết thời lãng mạn ; ngày nay ngôn ngữ và hành động của Swann trong tiểu thuyết của Marcel Proust cũng vẫn theo những phép tắc đó.
Truyền thống đó buộc rằng bọn tình nhân đàn ông phải ghen về cả thân thể lẫn tư tưởng; rằng họ phải lo lắng khi thấy thoáng hiện chút buồn trên vừng trán của người yêu; rằng mỗi câu của người yêu phải được phân tích, mỗi cử chỉ phải được tìm hiểu; rằng Moliere (ở thế kỷ XVII) chế nhạo các nỗi lo lắng đó; Proust (ngày nay) không chế nhạo mà rên rỉ; nhưng về các phép tắc thì nhà văn và độc giả cùng đồng ý trong mấy thế kỷ. Nhưng tôi có cảm tưởng rằng có cái gì mới trong các tác giả trẻ tuổi ngày nay; họ không chấp nhận những phép tắc của trò chơi nữa, mà là họ đã đổi phép tắc đi. Ngày nay người ta không còn ghen một cơ thể mà ai cũng có thể ngắm cho thỏa mắt ở trên các bãi biển...".
Tôi ngắt lời ông ta để dẫn một bức thư của Victor Hugo gởi cho vị hôn thê, bức thư mà thời đại này cho là kỳ cục, bức thư trong đó Hugo nghiêm khắc trách vị hôn thê đi ngoài đường, sợ dơ, đã vén áo lên, để hở mắt cá chân ra, làm cho Hugo nổi điên dữ dội tới cái mức có thể giết một người qua đường nào đó đã ngó chiếc vớ trắng đó, hoặc tự giết mình. Hình như, đối với các tiểu thuyết gia trẻ tuổi ngày nay, phép chơi là loại bỏ hết các nỗi ghen tuông đi mà nói một cách trắng trợn về các ái tình của người đàn bà mình yêu, như vậy trái hẳn với ái tình phong nhã. Vì cái tình cảm độc chiếm "thẳng từ người nay tới người khác" đó, nói theo giọng các nhân viên điện thoại, chỉ diễn giữa hai người với nhau thôi.
Thực ra trong phần nhì một tiểu thuyết thời nay, đa số bọn tình nhân tìm ra được ái tình. Họ như ân hận nhận ra được cái thú của sự trung tín, những êm đềm của tình yêu, và cả những nỗi lo lắng của ghen tuông nữa. Nhưng thẹn thùng hơn các tình nhân thời lãng mạn, hoặc ngay cả các tình nhân trong truyện của Proust nữa, và chỉ nói tới những cái đó với một vẻ giả bộ lơ là có chút mỉa mai, ít nhất là ở ngoài miệng. Họ đem sự dí dỏm vào tình ái. Thành ra một sự lạc điệu, cũng thú.
Cái đó có mới mẻ không? tôi không tin chắc lắm. Phép tắc của cái trò ái tình từ Bà De La Fayette (1) tới bà Louise de Vilmorin (2); không bao giờ hoàn toàn nghiêm chỉnh cả. Đã từ lâu, người Auglo-Saxon (3) không chịu phô diễn những tình cảm nhiệt liệt nhất của họ nữa. Bên cạnh cái truyền thống phong nhã, ta còn thấy truyền thống thời Phục hưng (4). Những cuộc tình duyên của Benvenuto Cellini, ngay cả của Ronsard, không có gì là lãng mạn. Một số nhân vật tiểu thuyết của Stendhal (thế kỷ XIX) và của Montherlant thời nay chơi cái trò thời Phục hưng chứ không phải cái trò phong nhã. Phép tắc các trò chơi vẫn thường thay đổi; nó sẽ còn thay đổi nửa. Tôi đợi một nhà văn trẻ tuổi ngày nay viết truyện Adolphe (5) hoặc truyện Swann (6) của thời đại chúng ta. Tôi đoán trước rằng sẽ thành công lớn đấy.
Vì phép tắc chơi có thay đổi mà số tiền đặt thì vẫn vậy. Số tiền đặt đó là có đấy, cô bạn ạ.
Vạn an.
(1) Nữ sĩ ở thế kỷ XVII (1643 93), tác giả tiểu thuyết La Princesse de Cleves.
(2) Louise de Vilmorin: Chưa rõ là ai.
(3) Người Anglo-Saxon: đây chỉ người Anh, có tiếng là phớt tỉnh.
(4) Thế kỷ XV, XVI ở châu Âu.
(5) Adolphe, tên một nhân vật mà cũng là nhan đề một tiểu thuyết của Benjamin Constant, thế kỷ XIX.
(6) Swann, tên một nhân vật mà cũng là tên tắt một phần trong bộ truyện "A la recherehe du temps perdu" (Đi tìm thời gian đã mất): của Marcel Proust, đầu thế kỷ XX.
Chương 13
Biết lợi dụng những cái lố lăng
Cô bạn không quen biết của tâm tình tôi, cô đã nhận thấy rằng tật xấu cũng có thể, như đức tốt, làm cho người khác yêu mình được chứ? Đôi khi còn dễ dàng hơn đức tốt nữa? Là vì đức tốt của cô nâng cô lên, tức thì là hạ người kia xuống; còn tật xấu của cô, cho người đó cái cơ hội mỉm cười về cô và nâng người đó lên, trong con mắt họ. Người ta tha thứ cho một người đàn bà cái tật nói vớ vẩn; người ta không tha thứ cho họ cái đức khôn ngoan, có lý. Byron bỏ vợ mà ông gọi là "Bà Công chúa hình Bình hành", vì bà ta quá sáng suốt, khôn ngoan. Người Hy Lạp thời cổ ghét Aristote (thế kỷ thứ VI trước T.L) vì ông này luôn luôn được gọi là Người công minh.
Trong tập Những điều trông thấy (Choses vues), Victor Hugo kể chuyện một ông De Salvandy, thành công rực rỡ nhất thời, thành bộ trưởng, vào Hàn lâm viện, làm sứ thần, được tặng Ngũ đẳng Bắc đẩu bội tinh. Cô bảo những cái đó không đáng kể; nhưng ông ta còn thành công về phía đàn bà nữa, cái này mới tài. Mà khi ông ta được một bà, bà Gail, giới thiệu với giới thượng lưu thì bà Sophie Gay danh tiếng vang lừng la lên: "Nhưng này, chị ơi, chàng thanh niên nhỏ con của chị có đủ những cái lố lăng. Phải sửa tính cho hắn đi. - Bà Gail bảo: Ấy đừng! Đừng diệt thói đó của hắn. Diệt rồi thì hắn còn gì nữa đâu? Nhờ cái thói đó mà hắn sẽ thành công...". Về sau người ta thấy rằng bà Gail có lý.
- Henry de Jouvenel có lần kể cho tôi nghe rằng hồi trẻ, viết báo, ông ta ngạc nhiên về những buỏi đầu trong Quốc hội của Henri Cheron, một dân biểu ở Calvados. Ông Cheron đó bụng phệ, râu ria, bận lễ phục, leo lên bàn hát khúc Marseillaise và đọc những diễn văn long trọng, huênh hoang. Cleménceau cho ông ta làm thứ trưởng bộ Chiến tranh và tức thì ông ta đi thăm các trại lính, nếm món xúp của lính. Bọn viết tạp chí chế nhạo ông ta; Jouvenel nghĩ giả viết một bài về ông ta thì thú vị lắm, bèn lại thăm. Cheron tiếp Jouvenel, có vẻ như khiêu khích, bảo:
"Tôi biết rồi, chú em! Chú lại đây để thấy tôi lố bịch ra sao hả... Được, cứ nhận xét đi... Phải, tôi lố bịch đấy... Tôi cố ý lố bịch, vì chú em, chú nên biết rằng ở cái xứ người ta ghen những kẻ thành công này thì lố bịch là cách duy nhất làm cho người ta biết mình mà không nguy cho tính mạng của mình".
Standhal mà nghe được câu đó thì khoái lắm. Cô có nhận thấy rằng, chẳng cần phải tới cái mức lố bịch, chỉ những thói kỳ cục nho nhỏ, cách ăn bận lạ lùng, cũng làm cho một người đàn ông hay đàn bà dễ nổi danh hơn là bậc thiên tài chứ?
Hằng ngàn người chưa hề đọc André Gide, cũng biết những chiếc nón nỉ kiểu Mexique và chiếc áo tơi của ông ta, Winston Churehill có tài hùng biện, nhưng biết rõ con người và vận dụng một cách rất tài tình chiếc nón kì cục, những đìếu xì gà bự, những chiếc "nơ" con bướm, và hai ngón tay đưa ra thành chữ V của ông. Tôi đã biết một sứ thần Pháp ở Londres không biết một tiếng Anh, nhờ đeo một cà vạt kiểu "Lavalliere" (1) có chấm tròn nhỏ, người Anh rất thích, mà giữ được chức rất lâu.
Cô để ý nhận xét các khách ăn ở tiệm. Người nào được tiếp đãi niềm nở, đầu bếp săn đón hầu hạ hơn cả? Có phải con người biết điều, luôn luôn thoả mãn không? Tuyệt nhiên không. Chính là người có nhiều thói kì. Khó tính tức là tỏ rằng mình chú ý tới mọi sự ở chung quanh, chứ không lãnh đạm. Luân lý: cô nên tự nhiên, và khác người, nếu cô có xu hướng khác người. Người ta sẽ không trách cô đâu.
Vạn an.
(1) Kiểu cà vạt này khổ rộng, thắt thành một cái "nơ" lớn ở trước ngực.
Chương 14
Nổi cơn
Thưa cô, cô có nổi cơn với thầy nhà hoặc với các bạn bè không? Nếu không thì tôi sẽ ngạc nhiên lắm, mặc dầu cô có vẻ nữ thần Minerve (1). Đối với phụ nữ nổi cơn là một lợi khí đấy. Nhờ nổi cơn mà chỉ trong một lúc xúc dộng cuồng nhiệt họ được cái mà nếu đòi hỏi một cách biết điều thì cả tháng cả năm cũng không chắc đã được. Nhưng họ vẫn phải biết tùy từng hạng người.
Có những người đàn ông nóng nảy, giống đàn bà về phương diện đó, và thích những lúc nổi cơn. Những người đàn ông đó cũng nổi cơn lại, dữ dội không kém. Người ta tặng nhau những lời phũ phàng nhất. Xong rồi, tình trạng khẩn trương giảm xuống, tinh thần dịu đi, vợ chồng lại làm lành với nhau một cách âu yếm. Tôi biết khá nhiều bà trong những cơn như vậy không sợ bị đập. Như có một bản năng bí mật, họ còn mong được bị đập, mà không tự thú ra như vậy. "Và nếu tôi thích bị đập thì sao?" Lời đó đúng mà thâm thúy. Những người đàn bà thích sức mạnh của đàn ông, sức mạnh tinh thần cũng như sức mạnh thể chất, những người đàn bà đó mà bạt tai họ thì càng làm cho dục tình của họ bừng bừng lên.
Cô bảo: - Rõ tởm! Người đàn ông nào mà đánh tôi thì tới chết tôi cũng không thèm nhìn mặt nữa.
Có thực tâm tin như vậy, nhưng muốn chắc thì phải trải qua đã. Nếu trải qua rồi mà cô thấy tởm thật thì nghĩa là cô kiêu căng hơn là đa dục.
Người đàn ông bình thường rất ghét những cơn dữ đó trong nhà. Họ ở trong cái thế kém vì phần nhiều vợ họ nổi cơn trước. Và khi sư tử rống lên thì ông chồng bình tâm tĩnh trí phản ứng lại cách nào có lợi? Nhiều ông, dông tố nổi lên thì lựa cách lánh mặt, hoặc vờ một tờ báo và bịt tai không nghe nữa, vì một cơn diễn ra mà thiếu tài (2) thì dễ hóa ra độc điệu,nhàm chán.
Chính cái tiếng scène (3) hướng dẫn chúng ta được. Tiếng đó mượn trong dụng ngữ của ngành kịch (vốn chỉ một "xen" trên sân khấu). Muốn cho nổi cơn mà thực có hiệu nghiệm thì phải đóng trò cho giỏi. Mới đầu nó phát sinh do một cớ chẳng có quái gì cả, rồi vì tình trạng khẩn trương cứ mỗi lúc một tăng cho thành dông tố, nên nó phải phồng lên, bao nhiêu hồi ký đau lòng cứ dồn vào, bao nhiêu nổi bất bình cũ cứ chồng chất, đổ dầu vào cho cơn thêm dữ dội, cho không khí đầy những tiếng la hét, khóc lóc, rồi tới đúng lúc thì dẹp xuống, từ khóc lóc thành ũ rũ mà trở về nụ cười, và sau cùng kết cuộc bằng khoái lạc.
- Nhưng muốn vậy thì cái cơn đó phải được điều khiển một cách có ý thức, mà người đàn bà phải tự chủ...
Đúng vậy, thưa cô. Tôi đã nói: kịch mà. Một đào hát có tài luôn luôn ý thức được mình nói gì, làm gì. Những xen hay nhất là những xen ta cố ý gây ra và điều khiển có nghệ thuật. Lời đó không phải chi đúng với đàn bà mà thôi đâu. Những bậc chỉ huy đại tài như Napoléon, Lyautey rất ít khi nổi giận và chỉ nổi giận khi nào thấy cần thiết. Trong những trường hợp đó, Lyautey lên cơn tới cái mức liệng chiếc mũ lưỡi trai thống chế của ông xuống đất rồi lây chân chà nát. Những hôm đó, buổi sáng ông đã bảo sĩ quan hầu cận: - Đưa tôi chiếc mũ cũ ấy.
Cô nên theo ông ấy. Giữ những cơn giận của cô cho những trường hợp nghiêm trọng: nên để dành nước mắt. Cơn giận chỉ có kết quả lớn khi nó rất hiếm. Tại những xử mà dông tố xảy ra hằng ngày thì chẳng ai thèm để ý tới nửa. Tôi không muốn đưa tôi ra làm gương, nhưng quả là bẩm tính tôi không nóng nảy. Vậy mà mỗi năm một hai lần tôi cũng mất bình tĩnh vì một sự bất công hoặc vô lý quá đỗi. Những hôm đó tôi muốn gì được nấy. Làm cho người khác ngạc nhiên là một bí quyết thắng lợi. Thưa cô, cô nên ít nổi cơn, nhưng mỗi lần phải đóng cho khéo đấy.
Vạn an.
(1) Nữ thần Nghệ thuật, khoa học, kỹ nghệ, theo truyền thuyết Hy Lạp, tượng trưng cho sự khôn ngoan, minh triết.
(2) Nghĩa là không làm cho người khác để ý tới.
(3) Nổi cơn, làm trận, hiểu theo nghĩa trong bài này, tiếng Pháp gọi là Faire une scène. 
Chương 15
Cái đinh vàng
Bây giờ cô mới hồi âm cho tôi! Không xưng danh, dĩ nhiên, và cô bạn không quen biết, đối với tôi, vẫn còn là không quen biết. Nhưng ít nhất tôi được biết tuồng chữ của cô và tôi thích nó. Tôi thích những chữ thẳng sáng sủa, nở nang đó. Tuồng chữ của bậc chính nhân.
Và của người đàn bà chân chính? Có thể? Cái đó còn phải xét kĩ đã, vì trong cuộc tiếp xúc này, cô hỏi tôi một câu kỳ cục. Cô viết:
"Từ năm năm nay tôi có một người bạn trai âu yếm, thông minh lanh lợi, gần như ngày nào cũng lại thăm tôi, lựa sách cho tôi đọc, lựa kịch cho tôi coi, tóm lại làm cho cuộc đời của tôi thú vị. Tôi không phải mà cũng chưa bao giờ là tình nhân của ông ta; tôi không muốn vậy; nhưng ông ta ước ao vậy, năn nỉ tôi, trách móc tôi; ông ta bảo rằng tôi kiêu căng chứ không nhiệt tình, rằng ông ta đau khổ quá, không thể tiếp tục hoài như vậy được nữa và ông ta sẽ tới cái nước không lại thăm tôi nữa. Dọa dẫm như vậy thì có nên nhượng bộ không? Tôi ghét cái tiếng dọa dẫm đó, nhưng nó đáng vì ông ta biết rằng tình thân hữu của ông cần thiết cho tôi. Còn tình thân hữu của tôi tặng lại, ông ta cho là chưa đủ quý sao mà còn đòi hỏi nữa?..."
Thưa cô, tôi không rõ cô đã đọc một tiểu thuyết nhỏ mà Sainte Beuve thời trước đã phác không: Cái đinh vàng (Le clou d'or). Ông ta cũng ở trong tình cảnh của ông bạn của cô và viết truyện đó để làm mềm lòng người bạn gái của ông. Thiếu phụ này đẹp, hơi ngổ ngáo, không con, trẻ hơn tuổi, không chịu chiều chuộng ông ta, làm cho ông ta như bị cực hình; ông ta biện bác để mong được người yêu cho mình "hết thảy": "Khoảng ba mươi lăm, bốn mươi tuổi, được chiếm dù chỉ một lần, một người đàn bà quen biết từ lâu mà mình yêu, cái đó, tôi gọi là cùng nhau cắm cái đinh vàng của tình thân hữu".
Sainte Beuve cho rằng một mối tình móc vào cái đinh vàng đó thì sau này bền bỉ, được suốt đời, hơn là những mối tình cột vào lòng mang ơn, lòng âu yếm hoặc sự đồng thanh đồng khí. Ông ta dẫn lời của một tác giả đứng đắn đứng đầu ở thể kỷ XVIII để bênh vực ý kiến của mình: "Hai người, tôi không nói là yêu nhau, nhưng thích nhau, thì mười lăm phút ái ân làm cho họ tin nhau, phó thác cho nhau, âu yếm nhau hơn là mười năm của một tình thân hữu nồng nàn nhất".
Thưa cô, vấn đề cái đinh vàng đó là vấn đề của cô. Ông bạn của cô đặt nó ra như Sainte Beuve đã đặt ra với Sophie Loyré L'Arbouville, điều đó tôi không lấy làm lạ; một người đàn ông mà mắc phải một người đàn bà ông ẹo (có lẽ là vô tình ỏng ẹo), luôn luôn tặng cho chút hạnh phúc mà để cho thèm khát hoài, thì cực khổ như bị cực hình Tantale (1). Nhưng tôi không tin ở cái đinh vàng. Trong những trò như vậy, lần thứ đầu tiên ít khi sung sướng nhất. Rồi trên tấm bảng sẽ phải cắm đầy những đinh là đinh.
Sự thực nếu ông bạn của cô đau khổ như ông ta nói thì đã thắng được sự chống cự của cô từ lâu rồi. Đàn bà do trực giác mà đoán được những đàn ông đa cảm họ có thể giữ được mãi tình thân hữu mà chẳng cần cho một ân huệ nào riêng cả. Họ hơi ngạc nhiên vì vậy đấy (một người đàn bà Anh định nghĩa ái tình thuần khiết như vậy: Nàng tự hỏi chàng muốn gì và chàng chẳng muốn gì cả), nhưng cũng hơi thoả ý và biết lợi dụng tình trạng đó. Khi có một tình nhân thực sự hiện ra thì những bóng mờ thân ái kia tan biến. Ngày mà Chatcaubriand buộc Juliêtt Recamier thành tình nhân của mình thì bà ta thành người đàn bà riêng của ông. Trước, bà đã có một thời gian muốn giữ cho tình cảm của mình chỉ trổ hoa thôi chứ đừng kết trái; mãi về sau bà mới thấy rằng quả nó cũng ngon. Xin cô tự rút ở đó ra một lời khuyên, nếu có thể được. Những Sấm ngón tay nhất luôn luôn có hình thức bí ẩn.
Vạn an.
(1) Theo huyền thoại Hy Lạp, Tantale là một ông vua xứ Lydie, vì có tội nên bị Thượng đế đày, cột vào một gốc cây đầy trái giữa một cái hồ trong viên, mà chịu đói khát, vì hễ thấy trái cây gần tới tay thì cành lại bật lên, nước gần tới môi thi lại chảy đi. 
Chương 16
Nguyễn Hiến Lê dịch
- Mình cho rằng chính ông ta đấy ư?
- Anh chắc chắn là ông ta.
- Không ra vẻ một tác giả...
- Có vẻ một người lo lắng... Ông ấy kiếm mình đấy... Kính chào Tiên sinh.
- À, chào ông... Ông Bernard phải không?
- Thưa vâng...Và đây nhà tôi... Nhà tôi không tin rằng chính là Tiên sinh chứ... Tiên sinh có vẻ già hơn trong hình... Thưa đi đường, Tiên sinh có mệt lắm không ạ?
- Muốn kiệt sức... Suốt một ngày xe lửa... Ăn chẳng được gì... Nhưng, đã tới nơi... May mà còn được hai giờ trước khi diễn thuyết; tôi có thể nghỉ ngơi một chút.
- Thưa Tiên sinh, không được trọn hai giờ đâu... Trước khi đưa Tiên sinh lại khách sạn, tôi phải dắt Tiên sinh lại rạp đã... Chắc Tiên sinh muốn được coi qua.
- Không đâu... Vì dẫu muốn đổi cũng không được kia mà...
- Tôi rất ân hận, thưa Tiên sinh, nhưng chúng ta thế nào cũng phải tới đó. Tôi đã hẹn với ông Blavski, chủ rạp hát bóng; ông ấy đợi chúng ta... Ông Blavske dễ phật ý lắm... Với lại, tới đó tôi sẽ giảng giải ít điều với Tiên sinh, như vậy hơn... Phòng rộng nhưng âm hưởng kém... Tiên sinh phải nói lớn tiếng và đứng ở bên cạnh bàn, hơi quay mặt về phía trái...
- Tôi mong rằng ít nhất sân khấu cũng có hệ thống sưởi chứ; tôi mới bị cúm và y sĩ của tôi...
- Rầu quá, sân khấu lại không có hệ thống sưởi... Thực ra, có đấy nhưng nó hư rồi... Với lại khi phòng chật thính giả thì không khí cũng mau ấm lên... Khốn nổi, tối nay, thính giả không đông...
- Ít người giữ chỗ ư?
- Thưa Tiên sinh, rất ít... Chưa đầy hai mươi lăm hoặc ba chục người... Xin Tiên sinh yên lòng; khi tôi thấy tai nạn đó, tôi đã cho phát không một số vé tại các trường học và trại lính để cho phòng khỏi trống quá.
- Luôn luôn như vậy sao?
- Thưa không, chúng tôi có nhiều lần rất thành công. Nhưng tối nay, Jacques Thibault tấu nhạc trong phòng khánh tiết ở Thị sánh, và đoàn Baret lại diễn kịch Thời khó khăn ở rạp hát thành phố... Như vậy thì dĩ nhiên, một cuộc diễn thuyết...
- Ông không thể thu xếp với các người tổ chức cuộc hoà nhạc và với ông giám đốc rạp hát được ư?
- Thưa Tiên sinh... đó là vấn đề chính trị... Tiên sinh lạ gì các cuộc bất hòa ở địa phương... Dù sao thì thính giả cũng không đông... đề tài không hấp dẫn họ... Những tiểu thuyết của Stendhal... Tôi không muốn làm Tiên sinh thất vọng, nhưng Tiên sinh cũng nhận rằng... Không, ở đây, người ta thích nghe những diễn văn chẳng hạn như: Ca khúc năm 1900. có ca nhạc, hoặc: Ái tình ở Thổ Nhĩ Kỳ... nhưng tôi tin chắc rằng sẽ rất hay và thính giả sẽ không ân hận... Có điều là hơi phiền cho hội của chúng tôi vì hội nghèo...
- Tôi rầu lắm... Thực ra, khi đọc bức thư của ông, thấy in cái tên: Hội văn học và Nghệ thuật, tôi đã tưởng rằng Stendhal...
- Tôi xin thưa rõ... Hội văn học gồm một phần anh em mà tôi đóng vai cổ động; nhóm chúng tôi muốn nhân dịp một diễn văn mà tiếp xúc thân mật hơn với một danh nhân... hoặc với một người chỉ mới được thiên hạ biết tới... Chẳng hạn tối nay dù diễn văn không được hoan nghênh thì chúng tôi rất sung sướng đã được dự tiệc với Tiên sinh...
- Sao? Có bữa tiệc nữa ư?
- Thưa vâng, bảy giờ rưỡi.
- Nhưng trước khi lên diễn đàn tôi có bao giờ ăn uống gì đâu.
- Thưa, tùy ý Tiên sinh... chúng tôi ăn còn Tiên sinh nói chuyện.
- Ăn hồi bảy giờ rưỡi?... Mà gần bảy giờ rồi!... Tôi giữ bộ đồ đi đường này được chứ?
- Thưa Tiên sinh, ủy ban tổ chức bận thường phục, còn diễn giả thì bận lễ phục smoking... Lệ ở đây như vậy... Với lại Tiên sinh còn dư thì giờ... Trên giấy ghi rằng tám giờ rưỡi bắt đầu khai mạc, nhưng công chúng ở đây tới rất trễ... Dù chín giờ mười lăm mới bắt đầu thì đa số thính giả cũng một lát sau mới tới.
- Vậy tối được rãnh vào khoảng mười giờ mười lăm?
- Nghĩa là, thưa Tiên sinh, sau buổi diễn thuyết, chắc chắn có một số bạn thân của chúng tôi. Tiên sinh ký vào vài cuốn sách cho họ... Rồi, mười một giờ, ông Perche xin được tặng Tiên sinh một li sâm banh.
- Ông Perche là ai vậy?
- Ủa, Tiên sinh không biết ông Perche sao? Ông ấy bảo rằng quen biết Tiên sinh từ hồi nhỏ. Học chung lớp đệ lục (1) với nhau.
- Ông ấy nói vậy thì chắc là đúng rồi... Nhưng tôi xin ông năn nỉ ông Perche giùm, nhân danh tình bạn cũ của chúng tôi mà tha cho nhã ý đó... Tôi cần nghỉ ngơi.
- Thưa Tiên sinh, đâu được... Ông Perche là một trong những người bảo hộ hội của chúng tôi... Thưa, phòng diễn thuyết đây... Không, đó là tờ quảng cáo phim.
Thưa cô bạn rất thân, tôi phải cho cô hay rằng tuần lễ này tôi đã đi xa để diễn thuyết, về tới nhà mệt lữ.
Vạn an.
(1) Như lớp sáu (đệ thất cũ) của ta.
27/9/2005
André Maurois
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Nguồn: Đất Việt
Theo https://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...