Ký ức làng Cùa 1
Chương 1 - Phần thứ nhất
Vào một đêm mùa hè năm Mậu Ngọ, có ngôi sao băng từ dải Ngân
Hà rơi xuống phía đông nam làng Cùa, kéo thành một vệt sáng chói, cong như lưỡi
kiếm, kèm theo tiếng nổ rùng rùng như sấm động. Sáng ra dân làng vô cùng kinh
ngạc khi thấy dải đất trồng dâu đồng Bìm Bịp bị khối thiên thạch khoét thành một
cái đầm lớn, nước đục ngầu, vẫn còn sôi sùng sục... Cái đầm ấy giờ gọi là đầm
Ma.
Ký ức làng cùa
Phần thứ nhất
Chương 1
1. Gần trưa ngày mười tư tháng bảy, chánh tổng Khúc Đàm đang xử
một vụ tranh chấp đất đai ở làng Bối Khê thì hay tin bà Ba bị đắm đò sông Lăng,
sắp đến rằm xá tội vong nhân, già nửa đàn bà con gái làng Cùa kéo nhau sang chợ
Lành mua hoa quả, vàng hương, tiền giấy, voi giấy, ngựa giấy và cả chó giấy về
cúng cháo thí [1].
Sông Lăng ngày thường rộng chưa đầy trăm thước, nước trong vắt,
có thể nhìn rõ những con cá đồng tiền lượn lờ giữa đám rong đuôi chồn vảy lấp
lánh phản chiếu ánh mặt trời. Những chú cá măng kìm mõm dài ngoẵng, lỗ mũi
phình ra như mũi lợn rừng, lao vun vút tựa tên bắn rượt theo đám đòng đong. Lũ
“thảo dân” này có cái đầu quá khổ vì phải vác đôi mắt thô lố, gồ lên, đỏ đòng đọc
chẳng khác gì ngọn đèn báo hiệu lâu ngày không được lau chùi trước cửa các tiệm
cô đầu. Thỉnh thoảng vào những hôm đẹp trời, dòng nước trong vắt như mắt mèo,
sau một cơn mưa bóng mây, bỗng như có phép thần, chuyển sang vàng sẫm rồi đỏ hồng
như màu cà chua chín. Khối màu sắc lạ mắt này không ổn định mà cứ chuyển động uốn
éo tựa như dải san hô với hàng tỷ xúc tu mềm mại đang đưa đẩy theo nhịp thở của
biển. Đám du ngư ấy là loài cá trầm ba sọc từ cửa sông ngược về thượng nguồn,
tìm loại rêu ký sinh bên vách đá vôi trên ngọn thác cao nhất của dãy Nham Biền.
Cá trầm ba sọc nhỏ bằng bàn tay, toàn thân vàng óng như quả mướp vừa chín hoặc
hồng nhạt tựa trái doi rừng, dưới bụng có ba vệt đen mảnh như sợi chỉ, đem tẩm
rượu rồi hấp cách thuỷ thì không có một món cao lương mỹ vị nào sánh kịp. Từ
lâu lắm, người dân làng Cùa truyền lại cho nhau, chỉ vào những năm loạn lạc hoặc
thiên tai mất mùa cá trầm ba sọc mới kéo nhau ngược sông Lăng tìm rêu đá. Đã mấy
chục năm rồi, bắt đầu từ cuối tháng ba, người ta lại được chứng kiến canh tượng
trên.
Bây giờ sông Lăng đang mùa lũ. Nước lên ngập lút cả rẻo cồn
bên phía làng Nội. Mặt sông mở ra gấp ba bốn lần. Từ trên cao nhìn xuống, con
đò ngang giống hệt chiếc lá tre mỏng manh, đơn côi bập bềnh giữa dòng nước chảy
xiết. Đó là chiếc thuyền gỗ rạn nứt, bạc phếch, và đầy bất trắc, là vật sở hữu
của ông Tình - một lão già chống thuyền thuộc loại siêu đẳng nhưng nát rượu -
đã ba mươi năm nay. Không ai biết rõ bệnh tật con thuyền bằng chính ông chủ của
nó, nhưng mỗi khi lão Tình đến trình Hội đồng sắc mục xin tiền sửa chữa thì lý
Lượng lại bảo:
- Con đò ấy đóng bằng gỗ thành ngạnh còn tốt chán. Lão chờ ít
lâu nữa đến vụ thuế làng sẽ lo.
Lý trưởng hứa ba năm liền nhưng sau vụ thuế chẳng thấy động
tĩnh gì. Những chỗ rạn nứt, nước ngấm vào, lão phải trộn vôi cát với mật mía
trét tạm. Vậy là con đò vẫn lầm lũi sang ngang. Mỗi chuyến chở được mười hai
người kể cả lái thuyền. Dân làng Cùa thích chợ Lành hơn là chợ Cháy dù rằng đi
chợ Lành phải qua sông Lăng. Chợ Cháy chính là chợ Huyện, vừa xa nửa ngày đường
vừa bị thu thuế cả người bán lẫn người mua. Viên khán thị là cháu tri huyện Cáp
Văn Tòng, người làng Vũ La nổi tiếng tham ăn. Thành thử mấy năm qua, bà con các
làng ven sông Lăng bảo nhau dạt sang chợ Lành buôn bán, tuy cách sông nhưng chỉ
mất một thôi đường. Vậy là cái cửa khẩu sông Lăng ngày càng trở nên sầm uất, nhất
là vào dịp tết hoặc hội làng, đình đám.
Hôm ấy, mặt trời lên chừng hai con sào, lái Tình đã đưa được
ba chuyến sang sông. Mặc dù dòng nước chảy cuồn cuộn, thỉnh thoảng một luồng
gió ngược thốc mạnh chồm tới tưởng có thể nuốt chửng toàn bộ con thuyền cùng
đám hành khách mặt vàng như nghệ, nhưng lão vẫn bình tĩnh, môi hơi mím lại,
trán lấm tấm mồ hôi, thong thả đưa con đò già nua ra khỏi vùng nguy hiểm. Xong
chuyến cuối cùng, lão cắm thuyền, vào túp lều cạnh đê, lôi ra quả bầu khô, mở
nút lá chuối làm một tợp. Thứ rượu làng Đọi cất bằng gạo nếp con, men Trại, uống
vào ruột gan cứ lâng lâng như đang bay trên mây. Lão cắn một miếng chuối xanh
chấm muối ớt rồi ngẩng lên nhìn trời. Vòm trời cao vút, xanh đến nhức mắt. Từ đâu
đó vọng lại tiếng ì ầm. Lão vừa nhắm rượu vừa càu nhàu:
- Mả mẹ nó! Mưa gì mà lắm thế.
Vừa dứt câu chửi, một tiếng sét long trời sạt ngay trước mái
lều. Căn lều bốc cháy ngùn ngụt. Lão đang chếnh choáng chỉ kịp vơ vội nậm rượu
vọt ra. Lửa lém cả vào mông đít, khói bốc khét lẹt. Lão vội nhảy ùm xuống sông,
quả bầu khô tuột khỏi tay nổi lềnh phềnh giữa đám rều rác. Phù sa mát lạnh làm
lão Tình tỉnh rượu và sực nhớ ra nhiệm vụ phải đón các bà đi chợ về. Lão nhanh
nhẹn lẩn vào bụi duối bên miếu Đức Ông, cởi chiếc quần đùi và chiếc áo cánh nâu
mốc thếch vắt cho ráo nước, lấy dây gai buộc túm chỗ bị thủng, mặc vào rồi chèo
thuyền sang bên kia sông. Lúc ấy gió đang đổi chiều. Những cụm mây màu cánh vạc
hình thù kỳ dị không giống bất cứ thứ ma quỷ nào trong tưởng tượng của con người,
thốc ngược từ ngã ba Môi lên, trong giây lát nở tung tóe, giống hệt loài bạch
tuộc gặp kẻ thù phun ra thứ hoả mù, làm bầu trời tối sẫm, lạnh lẽo. Con đò rời
bến chừng nửa khắc thì trời đổ mưa. trận mưa rào kèm theo những viên đá bằng hạt
ngô rất hiếm thấy vào dịp tháng bảy, rơi lộp độp vào nón lá, áo tơi, thúng mủng
của các bà đi chợ về. Đá gõ xuống sạp thuyền, be thuyền rào rào. Những viên đá
trong suốt, lạnh buốt, tan trong chớp mắt qua lần áo mỏng làm các bà các
cô run rẩy, co người lại, ngồi sát nhau tìm hơi ấm. Bà Ba mua một
gánh hàng mã. Hàng cồng kềnh. Tấm vải buồm che không xuể, bị nước mưa tuốt sạch
lớp giấy hồng điều, trang kim, còn trơ lại bộ xương tre dính nhoe nhét hồ và phẩm
màu. Nhìn đống hoa man, chỉ vì trận mưa quái ác, bỗng chốc trở thành đồ phế thải,
bà Ba nghiến răng nghiến lợi, lầm rầm trong miệng rồi quẳng tất cả xuống nước
tiến cống thần Thuồng Luồng. Những bộ xương voi, ngựa, chó… lặn hụp một lúc giữa
dòng phù sa đỏ như máu rồi biến mất dưới lớp sóng cuồn cuộn gầm réo ùng ục. Lão
lái gò lưng chèo ngược nước cố ghếch mũi thuyền để nó khỏi bị hút về phía vực
xoáy. Mưa sầm sập như trút nước. Mặt sông mỗi lúc lại rộng thêm. Mặt nước và bầu
trời phút chốc như hòa vào nhau, tạo thành một khối xám xịt, bùng nhùng. Gió và
sóng lưỡi búa vặn đò kêu răng rắc. những âm thanh chết người ấy lúc rồ lên như
kéo bễ, lúc lại khò khè như hơi thở của lão già sắp lìa đời bởi căn bệnh suyễn
kinh niên. Mười một khuôn mặt trắng bệch cùng với mười một cặp mắt thất thần
đang trong trạng thái tột cùng của nỗi kinh hoàng. Lão Tình gồng người uốn cong
mái chèo, chân choãi ra cố giữ thăng bằng nhưng con thuyền quá già nua chẳng những
không hề nhích thêm một bước mà còn đang có xu hướng trôi dần về phía vực xoáy.
Bỗng “rắc” mái chèo gỗ nhãn bị gẫy, con đò lập tức nhấc bổng lên và chỉ trong
chớp mắt, nó đã mất hút sau khi đã xoay đủ một vòng quanh cái phễu nước không
đáy, sôi sùng sục như vạc dầu khổng lồ của Diêm Vương. Lái Tình vốn là tay giỏi
bơi lội. Lão quẫy đạp một cách ngoan cường, đầu chúi xuống, mông chổng lên trời
để hở cả mảng quần cháy buộc túm bằng dây gai nhưng đã bị tuột ra trong lúc
nhào lộn giữa sóng dữ. Nhưng, nói như câu châm ngôn trong sách của ông đồ Khúc
Kiệt, “Nhân giả, bất khả kình thiên dã ”[2], bản mệnh của lão lái đò đã được đến giờ
Tỵ ngày mười bốn tháng bảy. Lão không bị Hà Bá cuốn xuống vực nhưng lại chết vì
thiếu chất men trợ sức. Mấy hôm sau, người ta tìm thấy lão tấp lên mép cồn
Vành. Người lão lép kẹp, chiếc quần lá toạ bở bùng bục nhũng nhẵng bám ngang sườn
như là không muốn rời khổ chủ, khuôn mặt sạm nắng gió vẫn thanh thản như đang
ngủ chẳng có gì giống một kẻ chết trôi.
Trong số mười một nạn nhân, chỉ có bà Ba, lúc rơi vào vực
xoáy là hai tay vẫn bám chặt vào gióng ngang cuối mũi thuyền. Hành động này có
lẽ do bản năng sinh tồn khơi dậy trong tiềm thức hơn là kinh nghiệm tích luỹ được
của một cô gái hai mươi tuổi. Sau khi đã nhấn chìm hết lần lượt đám hành khách
xấu số, con thuyền bị sức nước đẩy trồi lên cách miệng vực xoáy chừng dăm chục
thước, phần lái vỡ toác, phần mũi vặn vỏ đỗ, nửa nổi nửa chìm trông giống như
cái vây lưng của cá nhà táng.
Vào lúc ấy, có một người đàn ông quăng chài ở cồn Vành nhìn
thấy con thuyền gặp nạn. Anh ta vội quẳng đồ nghề, bất chấp dòng nước chảy xiết,
nhoài ra, và chỉ bằng mấy sải tay đã bám được vào be thuyền. Phải mất khá lâu
người đàn ông mới gỡ được hai bàn tay cô gái ra khỏi gióng ngang, đặt đầu nạn
nhân lên vai rồi nương theo dòng nước tấp vào bờ. Người đàn bà hầu như đã chết.
Mái tóc bết lại, nhờn nhờn một lớp phù sa đặc quánh. Chiếc váy lĩnh chẳng biết
tuột ra từ lúc nào,trên tấm thân tím tái chỉ còn trơ lại manh áo dài bằng lụa
điều nhưng đã bị nước dứt hết phần vạt, ngang đến thắt lưng. Vốn đã quen với những
tai nạn sông nước như thế này, người đàn ông bình tĩnh cởi chiếc quần lửng mặc
cho người thiếu phụ, tháo ruột tượng sồi vẫn quấn ngang lưng làm khố rồi xốc
ngược cô ta chạy trên mặt ruộng đầy những thân ngô mà do mùa lũ đến sớm dân
làng Nội chưa kịp thu hoạch. Chừng già một khắc, khi bà Ba nôn ra hết thứ nước
hung hung đỏ như gạch cua thì anh quăng chài đặt cô ta nằm ngửa lên gò đất cao,
trèo lên bụng, hít một hơi thật dài rồi kề cái mồm đầy râu vào miệng nạn nhân
mà thổi. Hơi thở nóng bỏng, nồng nàn đầy truyền cảm và sự đụng chạm xác thịt dần
dần có tác dụng. Đến lần thứ chín hay mười gì đó thì cặp môi xinh đẹp nhưng hơi
đầy của người đàn bà bắt đầu động đậy…
Khi dân làng Nội hay tin đò ngang của lão Tình bị đắm, kéo ra
cồn Vành thì bà Ba đã được anh thuyền chài cứu sống. Mãi đến gần tối, cơn mưa tạm
ngớt, một chiếc thuyền đinh bên tả ngạn mới dám vượt sông sang đón bà Chánh về.
Ngày hôm sau, tức là rằm tháng bảy, chánh tổng Khúc Đàm cùng
mười gia đình có người nhà ngộ nạn ra bờ sông Lăng làm lễ cầu hồn. Riêng ông
Chánh còn có một lễ tạ ơn thần Thuồng Luồng đã không bắt vợ mình xuống thủy cung
làm nữ tỳ.
2. Cơ ngơi của chánh Đàm thuộc loại bề thế nhất làng Cùa nhưng
không phải gia sản của ông cha để lại mà do mới phất lên từ khi lão đi lính về.
Nghe đâu hồi ở chiến trường Tây Âu, chánh Đàm đóng đến lon đội, có huân công,
được thưởng Anh dũng bội tinh nên khi giải ngũ về nước được chính phủ Pháp trợ
cấp một khoản niên bổng. Số tiền này đủ để lão sống an nhàn đến cuối đời, nếu
thời cuộc không thay đổi.
Bố chánh Đàm vốn là một trùm cướp khét tiếng vùng Ba Tổng.
ông ta thường đóng giả dân đò dọc xuôi ngược khắp vùng hạ du sông Lăng, ban
ngày lên các chợ tìm mối hàng nhưng thực ra là thu thập tin tức về cánh nhà
giàu rồi mấy đêm sau kéo đồng đảng đến khảo của. Toán cướp trang bị toàn súng
mút [3] với mã tấu. Bọn có máu mặt ven sông
sợ khiếp vía, ngay cả những lúc vắng mặt cũng gọi họ bằng "các quan”. Nổi
tiếng nhất là trận cướp nhà lý Sáng làng Bối Khê vào tháng chạp năm Nhâm Thìn.
Năm ấy rét đến mức cá rô chết cóng nổi lên mắc vào rễ bèo tây. Nước ao trong vắt
nhưng lạnh thấu xương. Trời xanh thẫm không một gợn mây. Hôm ấy nhằm ngày
hai mươi. Cả làng Bối Khê đang hối hả chuẩn bị cho tết ông Táo lên
trời. Buổi trưa có một thầy bói áo the, khăn xếp, mắt mang cặp kính đen tròn
như hai chiếc trôn bát, tay xách tráp, được một thằng bé tóc trái đào chừng tám
chín tuổi dẫn vào nhà lý trưởng. Lý Sáng vốn ghét các loại thầy bịp bợm, lại
đang giấc ngủ trưa nên càu nhàu:
- Nhà ta ăn nên làm ra, chẳng có vận hạn gì, mời thầy sang
nhà ông Chánh hội xem sao. Hình như bên ấy có chuyện…
Chánh hội Bường với lý Sáng vốn có hiềm khích từ lâu. Đẩy lão
thầy bói nửa mùa này sang quấy rối giấc ngủ trưa để hắn nổi khùng lên tí chút
cũng là một cách trả thù. Chánh Bường vừa nóng tính vừa hách dịch, chưa biết chừng
lão mù dở còn được ăn vài hèo mây cũng nên. Tuy nhiên, tay thầy bói kiêm thầy
tướng vẫn lừng khừng trước cửa, giọng lạnh như tiền:
- Nhà ông Lý không tin chuyện bói toán nhưng phải nghĩ đến sự
yên ổn của toàn gia. Hiện ngôi mộ ngũ đại của dòng họ Tào ở đồng Mả Gạch bị sạt
một góc về phía tây nam…
- Cái gì? - Lý Sáng đang ngáp ngủ tỉnh như sáo - Sao nhà thầy
biết rõ chuyện ngôi mộ?
Lão thầy bói hếch cặp mắt giả thong manh qua đôi tròng kính
đen bóng như mực Tàu, giọng thủng thẳng:
- Từ xưa đến nay, liệt tổ liệt tông thường để lại phúc cho
con cháu. Nơi yên nghỉ của các vị ấy mà bị động chạm thì hậu quả
không biết đâu mà lường. Đừng nên nghĩ mình giàu có mà quên chuyện mai sau. Thầy
trò tôi xin chào ông Lý. Ta đi con!
Lý Sáng bị chạm nọc vội huơ tay:
- Ấy khoan đã, xin mời vào nhà. Vừa rồi tôi lỡ lời mong thầy
bỏ quá cho.
ông thầy bói ở nhà lý trưởng hai ngày không lúc nào rời cặp
kính kể cả lúc đi ngủ. Bàn về tướng số cũng như thuật phong thuỷ lão tỏ ra đặc
biệt am tường, miệng trơn như cháo chảy, chỉ rõ từng thời điểm gia chủ gặp điềm
lành điềm gở, khiến lý Sáng đã từng mấy năm học hành về trò bịp bợp này bái phục
tôn là “tiên sinh” và biếu hẳn hai chục đồng Đông Dương làm lộ phí.
Lão “tiên sinh” vừa đi hôm trước thì hôm sau nhà lý trưởng bị
một toán cướp mặc toàn đồ đen, đeo mặt nạ xông vào nhà lúc đầu giờ Sửu. Đàn chó
vằn vện hơn chục con dữ như hùm beo hoàn toàn im hơi lặng tiếng, mắt lờ đờ, mõm
nhểu đầy nhớt dãi bất lực nhìn các vị khách không mời, lần lượt vượt tường
không hề gây ra một tiếng động. Tên cầm đầu tỏ ra khá thông thạo đường đi lối lại
trong nhà. Hắn kề dao vào cổ lý Sáng quát khẽ:
- Mang hết đồ vàng bạc ra đây thì được tha mạng!
Lý trưởng giọng run cầm cập, giọng lí nhí:
- Trăm lạy các quan thương tình. Tiếng là làm việc làng nhưng
chúng tôi thanh bạch, nhà lại đông miệng ăn, không có của để giành.
Tên trùm cướp ấn lưỡi dao vào yết hầu lý Sáng cười nhạt. Tiếng
cười rất quen, hình như ông ta đã nghe được ở đâu đó:
- Mỗi vụ thuế đinh, thuế điền, ông kiếm được bao nhiêu nhét
vào chiếc tráp sơn mài để trong khám thờ phật Quan Âm, hãy mang ra đây nộp các
quan, nếu không muốn toàn bộ dinh cơ bị hỏa thiêu.
Lý Sáng lạnh sống lưng, mắt lấm lét nhìn quanh. Ông ta chợt
nhớ ra giọng nói của lão thầy tướng hôm nào.
Các thành viên trong gia đình họ Tào đều bị trói, nhét giẻ
vào mồm. Bọn cướp lăm lăm súng trong tay canh chừng. Những tên khác sục sạo khắp
nhà trên nhà dưới khoắng sạch các thứ đồ quý giá kể cả nồi đồng mâm
thau, lư hương rồi lôi cả chủ nhà theo làm con tin. Mãi đến gần sáng
ông Lý mới lần được về nhà sau mấy giờ bị toán cướp bịt mắt trói gô lại như
trói lợn vứt ở bãi tha ma đồng Chó Đá. Mất của nhưng lý Sáng không dám kêu mà
chỉ lẳng lặng lên huyện trình quan. Quan phụ mẫu là lão già hủ nho, gàn dở, suốt
ngày mải chơi mạt chược, nhìn thấy viên xã trưởng mặt xanh như chàm đổ báo việc
mất cướp, nhếch mép bảo:
- Có của thì phải giữ. Thời buổi này trộm cướp như rươi, hở một
tí là chúng khoắng sạch ngay. Đầu tháng trước, nhà phó tổng Yên Cư bị cướp giữa
ban ngày. Bọn chúng có cả một chiếc ô tô hòm thầy biết không?
Lý Sáng tức như bò đá, nhìn bộ mặt xương xương với chòm râu
dê của viên tri huyện chỉ muốn đấm cho lão một quả. Dân vùng Ba Tổng kháo nhau,
tên trùm băng cướp ấy có tài xuất quỷ nhập thần, bất cứ phi vụ nào cũng làm
trót lọt. Lão chính là Khúc Tuệ, bố đẻ ra chánh Đàm. Làm nghề đạo tặc nhưng
Khúc Tuệ không giàu. Cướp được bao nhiêu, sau khi chia chác cho bọn đàn em, phần
còn lại lão ném vào những cuộc đỏ đen. Khúc Tuệ chơi bạc thâu đêm suốt sáng, uống
rượu như nước lã, và khi say sẵn sàng hạ gục đối phương ngay giưa chiếu bạc. Cuối
năm Kỷ mão, trong một cuộc ẩu đả tranh giành địa phận làm ăn với toán cướp vùng
Nam Mẫu, Khúc Tuệ bị cai Thìn vốn là lính khố xanh xuyên cho một mũi mác búp đa
vào mạng sườn. Bọn đàn em khiêng ông ta về đến nhà thì tắt thở để lại bà vợ goá
cùng với hai đứa con trai, lớn là Khúc Đàm, nhỏ là Khúc Kiệt. Hai thằng con
trai khinh bố ra mặt vì cái nghề bất hảo. Nhìn cái xác rách mướp nằm co quắp giữa
sân, mắt Khúc Đàm ráo hoảnh, không hề có chút thương xót. Thằng em mặt lạnh như
tiền, thỉnh thoảng lại cười gằn. Trong đám tang, hôm ấy có một người đàn ông
còn khá trẻ, để ria mép, tóc bới củ hành, mặc đồ cháo lòng, bưng mâm lễ phúng rất
hậu. Đó không phải là khách quen, chẳng riêng gì gia chủ mà ngay cả bọn đàn em
của Khúc Tuệ đến hộ tang cũng trố mắt ra nhìn. Lúc sắp về, anh ta cố ý nấn ná đến
bên Khúc Đàm nói nhỏ:
- Thừa lệnh quan lớn… đến viếng ông nhà và chia buồn cùng gia
quyến, nhưng cậu đừng cho ai biết chuyện này.
Khúc Đàm nhếch mép cười nhạt:
- Tôi hiểu.
3. Bà chánh Ba tên thật là Mạc Thị Lánh, về làm vợ chánh Đàm từ
năm Tân Hợi. Thị Lánh vừa trẻ đẹp nhưng là cái đẹp theo kiểu chợ búa mang màu sắc
thớ lợ của một gia đình có truyền thống mấy đời làm nghề lái trâu. Công bằng mà
nói, lái trâu không xấu nhưng cái xấu nằm ở cung cách làm ăn cụ thể của ông bố
hám tiền thông qua hàng loạt trò lừa đảo ngoạn mục. Bất cứ con trâu nào vào tay
lái Lự cũng lập tức trở thành của quý. Lão uốn ba tấc lưỡi dùng đủ các mĩ từ
phù phép cho món hàng rồi ra một cái giá cắt cổ thăm dò. Nếu gặp đối phương là
tay sành sỏi trong thương trường thì lão xuống giọng bớt tí chút làm ra vẻ mình
biết điều. Gặp phải ông nhà quê thuộc loại trọc phú, lại có máu bốc đồng, nói một
tấc đến giời thì xem như hôm ấy thần tài gõ cửa. Lão tâng bốc ông bạn vàng có
“con mắt tinh đời” rồi cuỗm sạch hầu bao của khách sau khi làm thủ tục ngoắc
tay trao thừng một cách trịnh trọng. “Cao nhân tất hữu cao nhân trị”, thiên hạ
từ cổ chí kim thiếu gì những kẻ lừa đảo thuộc hàng thượng thặng. Lừa người lắm
thế nào cũng có lúc bị người lừa lại. Hôm ấy đúng phiên chợ Sài. Chợ Sài từ xưa
vẫn nổi tiếng là chợ trâu bò của phủ Đông Giàng. Lái Lự đang mặc cả mua con
trâu đực chừng hai tuổi thì có người khách râu rậm phong thái rất chững chạc, cứ
đi lại bên cạnh, dáng vẻ băn khoăn. Lão ngẫm nghĩ một thoáng rồi chủ động làm
quen:
- Ông khách không chọn được hàng vừa ý à?
Người râu rậm nheo mắt lắc đầu:
- Chả giấu gì ông, tôi tìm mua trâu cho đồn điền Ba gia. Ông
chủ dặn, lần này ít nhất phải chọn được mười con khoẻ, kéo cày dai sức để vỡ
hoang vùng bãi sông Vệ. Ông chủ là người khó tính mà tôi lại rất ít kinh nghiệm
mua bán sợ bị bọn cò mồi chơi khăm, thành ra…
Ngửi thấy mùi tiền, lái Lự bỗng sáng mắt, hơi lấp lửng:
- Cần những mười con cơ à?
- Khai khẩn đồn điền mà lại. - Người khách chép miệng - Thế là
còn ít đấy. Chỉ riêng cái trại Cổ Bi cũng ngót nghét bốn trăm mẫu, ông tính xem
phải dùng bao nhiêu trâu cho kịp thời vụ?
Lái Lự đảo mắt đánh giá ông khách lạ, phác trong đầu một con
tính theo kiểu nhà nghề rồi gật gù ra vẻ am hiểu:
- Phải… Những bốn trăm mẫu, ít ra cũng đến hai chục con. Mà
này, trâu trên Bắc thiếu gì, sao phải xuống đây cho diệu vợi?
Ông khách lắc đầu tỏ vẻ thất vọng về vốn kinh nghiệm làm ăn của
lái Lự, khoác khăn gói lên vai, thủng thẳng bảo:
- Trâu Bắc không quen thủy thổ, chưa bắc ách cày sá nào đã đổ
hàng loạt, ông bảo rước về làm gì?
Lái Lự nghĩ đã đến lúc ra đòn quyết định để dồn con mồi vào bẫy,
bất ngờ tuyên bố:
- Tôi có thể kiếm cho ông đủ số cần thiết.
Người khách há hốc mồm tỏ vẻ hết sức ngạc nhiên:
- Từ nãy đến giờ tôi vẫn nghĩ ông là người đi tậu trâu?
- Tôi là lái Lự ở kẻ Bòng… chắc ông có nghe…
- Nửa tháng sau, lái Lự gom được mười tám con trâu đực thuộc
loại cực tốt thuê một anh lực điền lùa lên chợ Sài. Người khách khoác tay nải
đã chờ sẵn ở một hàng cơm cuối phố. Ông ta đảo đi đảo lại xem kỹ từng con một rồi
mới mời thầy trò lái Lự vào mâm rượu đã bày sẵn trong một gian riêng. Sợ chủ
hàng còn bán tín bán nghi, ông ta rút trong hầu bao ra xấp tiền mặt đặt trước mặt
lái Lự:
- Chừng này tôi đưa trước đặt cọc, còn bữa rượu này là do ông
chủ đồn điền khoản đãi. Ông chủ có nhã ý mời ông và anh vào trong ấy thăm cơ
ngơi, nhân tiện lùa giúp đàn trâu và nhận nốt phần còn lại. phí tổn dọc đường sẽ
do chúng tôi đài thọ.
Bữa rượu kéo dài đến quá trưa. Món lẩu hổ lốn Quảng Đông lạ
miệng cùng với rượu nếp cẩm pha mật rắn hổ chúa làm lái Lự mềm môi, say mèm mãi
cuối giờ Mùi mới thũng thẵng dẫn đàn trâu về đồn điền.
Đồn điền Ba gia nằm ở thung lũng Tam Cốc cách sông Vệ chừng
dăm bảy cây số vốn là của Tây Ba gia chuyên trồng ngô và cỏ ba lá nuôi bò cung
cấp sữa cho quân đội Pháp. Được khoảng hơn chục năm, Tây Ba gia bị sốt rét rụng
tóc gần chết, hắn hốt quá giao lại đồn điền cho người quản lý, về Pháp chữa bệnh.
Sau gần ba tháng lênh đênh trên tàu thuỷ, đến Địa trung hải, viên chủ đồn điền
chết đột ngột bởi một cơn co thắt động mạch vành. Trong khi ấy ở xứ An Nam, gã
quản lý tằng tịu với vợ Ba gia. Cô này là gái làng chơi, xinh đẹp mà lại hát cô
đầu có tiếng ở đất Bắc Kỳ nên được gã chủ Tây chuộc ra với cái giá ba mươi lượng
vàng. Về danh nghĩa, đồn điền do madame Anne Phi Yến quản lý nhưng thực chất mọi
quyền hành đều nằm trong tay ký Tam. Từ khi nhận được tin Ba gia về với Chúa
trên hành trình hồi hương, ký Tam bàn với mụ me Tây chuyển một phần nông trại
sang trồng lúa. Lương thực lúc này đang là thứ hàng được giá. Nếu thời tiết thuận
lợi chẳng mấy chốc sẽ phất to. Toàn bộ câu chuyện về đồn điền Ba gia được người
khách kể lại khá tỷ mỉ với thứ ngôn ngữ truyền cảm không chê vào đâu được. Chân
bước tuy vẫn còn xiêu vẹo tí chút nhưng trong đầu lái Lự lại vô cùng tỉnh táo.
Lão chắc mẩm, với mối làm ăn này, chỉ từ giờ đến cuối năm là có thể tậu được
hai chục mẫu ruộng, thứ ruộng nhất đẳng ở đồng Báng Thượng mà bố lão hồi còn sống
có nằm mơ cũng không thấy được. Sau khi ngoắc tay thoả thuận giao kèo, lái Lự
gom góp toàn bộ vốn liếng của cả một đời bươn chải trên thương trường cùng với
số tiền thế chấp sản nghiệp vay của Khúc Đàm bên làng Cùa quyết chí chơi canh bạc
lớn. Lão định bụng , xong thương vụ này sẽ tự hồi hưu, đoạn tuyệt với cái nghề
mà thiên hạ rất cần nhưng lại hay rỗi hơi đàm tiếu. Lái Lự không có con trai mà
chỉ có một cô gái rượu, năm ấy xuýt soát mười chín, có nhan sắc nhưng tính khí
thất thường. Vợ lái Lự liệt nửa người sau khi đi chợ Lành bị cơn gió độc, suốt
ngày ở trong buồng, ăn cực khoẻ mà không dậy được, nằm đâu ỉa đái ra đấy. Lão
phải khoét cái giát giường đặt bên dưới một thúng tro để đỡ ngày mấy lần vần bà
ta dậy làm công việc bài tiết. Mạc Thị lánh sợ bà mẹ bán thân bất toại như quỷ
nhập tràng. Hiếm hoi lắm mới có dịp cô ta vào buồng. Thành thử cái sảo tro dưới
gầm giường, hai ba ngày mới được mang đi đổ. Có lần lái Lự sang chợ Gành mua
trâu gặp nước lũ vỡ đê Quai Xanh, mãi bốn ngày sau mới về. Vừa bước vào nhà,
lão đã phải bịt mũi bởi thứ mùi thối khẳn đến lộn mửa từ gian buồng xộc ra. Dưới
gầm giường ruồi bay vù vù. Lũ nhặng xanh chao lượn theo một vũ điệu kỳ quái,
phát ra thứ âm thanh vo ve ở tần số cao nửa như thỏa mãn nửa như những tín hiệu
đặc trưng gọi bạn.Trên giường, người đàn bà bị giời đày chỉ còn thoi thóp thở.
Bà mẹ bị bỏ đói gần một tuần còn cô con gái xinh đẹp chẳng biết biến đi đằng
nào. Mãi trưa hôm sau mới thấy Thị Lánh dẫn xác về. Buổi tối Lái Lự bảo con
gái:
- Có khi thầy phải tìm một người về chăm nom mẹ
mày.
Cô con gái giẩu mỏ nguýt dài:
- Thầy mà cưới vợ bé là tôi ra đầm Vực ở với thằng chăn vịt.
- Nhưng mày bỏ đi đàn đúm suốt ngày để mẹ ở nhà một mình, hôm
qua tao không về kịp thì đã thành ma đói từ lâu rồi. -
Lão lái trâu sa sầm mặt càu nhàu.
Thị Lánh mặt câng câng, giọng xanh rờn:
- Ôi dà thầy sợ cái gì. Cứ cho bà ấy liều thạch tín là hết nợ.
- Mày chỉ láo! Con với cái.
Cô con gái đánh mắt lườm bố:
- Tôi biết thầy nghĩ đến chuyện ấy từ lâu, chỉ có điều chưa
dám làm thôi.
Lái Lự định vả cho Thị Lánh một cái nhưng kịp hãm lại. Từ trước
đến giờ lão vẫn có vẻ gờm con gái. Về phần mình, Lánh chẳng coi bố ra gì. Dưới
mắt cô ta lão chỉ là lão lái trâu bẩn thỉu chuyên lừa thiên hạ bằng những ngón
nghề hạ đẳng. Rằng lão tham lam và ăn độc như chó , trước sau cũng chết bất đắc
kỳ tử. Điều tệ hại là, trong thâm tâm , lái Lự đặt cả niềm tin, hy vọng vào đứa
con gái có phẩm chất lăng loàn chẳng kém gì giặc cái này. Lão chiều chuộng bao
nhiêu thì Lánh coi thường nhân cách của ông bố bấy nhiêu. Từ mấy năm nay chưa
bao giờ nó nói với lão được lời tử tế.
Những lúc bực tức vì sự hỗn xược của con yêu nữ, không có
cách nào giải toả, lái Lự thường trút cơn giận lên người đàn bà bán thân bất toại
bằng những câu chửi rủa mang đậm phong cách lái trâu, nghĩa là thô tục, độc địa
tai ác. Bà vợ hoàn toàn bất lực mặc cho chồng sỉ vả, phản ứng duy nhất có thể
có được là từ từ đảo tròng mắt trái lờ đờ, không sinh khí rồi nở một nụ cười ngớ
ngẩn trên khoé miệng đầy nhớt dãi.
Sáng hôm sau, vợ lái Lự lên cơn co giật khi ăn xong cặp bánh
dày Thị Lánh mua của con mẹ hàng rong đầu làng. Bà ta quằn quại trong nỗi đau
xé ruột gan. Nửa người bị liệt, những mảnh thịt ở mông và lườn mền nhũn, đôi chỗ
đã mủn ra, tím như quả bồ quân bốc mùi thum thủm. Phần còn lại trắng nhợt, dày
bình bịch, giống hệt như thứ thịt lợn chết toi, ngâm hàn the vừa vớt ra chưa
ráo nước. Trước khi tắt thở, đầu người đàn bà bất hạnh ngoẹo sang bên phải, bàn
tay duy nhất còn cử động được đôi chút cố nâng lên chỉ về phía bàn thờ nhưng
đôi mắt lại long lên sòng sọc, vằn tia máu như mắt của loài chó ăn phải bả độc.
Khi bà vợ lên cơn hấp hối thì lái Lự chạy xuống nhà ngang,
đóng cửa lại, vớ chai rượu ngang tu già nửa. Đầu óc lão không còn đủ bình tĩnh
để phân tích hành vi của đứa con gái sau tấn bi kịch mà không chóng thì chầy
chuyện ấy sẽ xảy ra.
Người đàn bà được rửa mặt, chải tóc, lau chùi qua loa rồi chọn
giờ nhập quan. Bà ta lâm bệnh nặng lâu quá rồi nên hàng xóm láng giềng xem việc
ra đi là một sự giải thoát khỏi nỗi thống khổ của một kiếp người.
Lúc đưa tang, Mạc Thị Lánh khóc mẹ ai oán đến mức những người xung quanh ai
cũng động lòng. Cô ta xổ tóc rối bù, lăn ra đường gào thét điên loạn, quần áo
bê bết bùn đất trông chẳng khác gì con điên đang lên cơn. Lái Lự mặt khó đăm
đăm đi sau quan tài thỉnh thoảng lại lấy tay quệt mắt.
Ba người dẫn đàn trâu rẽ vào con đường mòn nằm giữa một vùng
đồi bát úp. Chen giữa những sườn dốc thoai thoải mọc toàn một thứ sậy gióng dài
như những gióng trúc, hoa trắng giống hoa sở phất phơ chẳng khác gì lông đuôi
gà trống là những bãi ngô non bắt đầu trổ cờ. Không gian vùng bán sơn địa này
thật yên tĩnh. Nắng chiều nhạt dần. Một đàn cò trắng giăng hàng chẳng theo một
trật tự nào, bay hối hả như đang đuổi theo vầng dương đã khuất dần vào giữa
chân mây xốp như bông nõn đang trôi bồng bềnh cuối chân trời. Khi những dẻ
sáng cuối cùng như ánh hồi quang quét sáng một vệt mỏng trên dải đồi hoang thì
vô vàn những chiếc đuôi gà trống biến từ màu trắng thành màu mỡ gà như có phép
lạ. Gió sà xuống thấp hơn và toả một mùi thơm quyến rũ ve vuốt những hàng ngô
xanh thẫm tạo thành thứ âm thanh rào rào, lúc gần lúc xa, lúc hư lúc thực nghe
như tiếng vuốt nhẹ của bàn tay ca kỹ trên phím đàn tỳ bà ở quãng trầm.
Bãi ngô không một bóng người. đâu đó có tiếng gà gáy rất xa.
Con gà báo trời sắp tối có lẽ là một chú gà trống choai. Tiếng của
nó lanh lảnh ra vẻ ta đây là một gã đàn ông có quyền gửi thông điệp đến lũ gà
mái trong lãnh địa bằng thứ giọng hoàn toàn chưa vỡ, chốc chốc lại đứt quãng
như là ngừng lại lấy hơi. Lái Lự nghe thấy tiếng trống choai chợt cất tiếng lẩm
bẩm: “Con gà chết tiệt này chắc là báo điềm gở”. Cùng lúc ấy có khoảng năm
sáu lính khố xanh cùng với Nhà đoan [4], chân quấn xà cặp, súng trường và súng
khai hậu lăm lăm trong tay, ra hiệu cho cả bọn dừng lại:
- Các người lùa trâu đi đâu?
Người đại diện đồn điền Ba gia vội vượt lên trước bảo:
- Tôi là Lý Ba, người của đồn điền đi chợ Sài mua trâu.
Tên cai khố xanh có cặp mắt xếch, đội mũ lie bọc vải kaki
trông như nửa quả dưa chụp lên đầu, sừng sộ:
- Có giấy phép của sở Nông lâm Bắc Kỳ không?
Lái Lự giật mình toát mồ hôi hột:
- Thưa ông cai, chúng tôi có giấy thông hành của quan phủ
Đông Giàng.
- Phủ Đông Giàng có cấp môn bài cho các cho các anh đi buôn
trâu không?
Lý Ba nhăn nhó nhìn đám nhân viên Nhà đoan, giọng thiểu não
chẳng biết thật hay giả vờ:
- Chúng tôi ở đồn điền Ba gia thật mà. Chắc các ngài biết ông
chủ Tây?
- Nhà nước bảo hộ đã có sắc lệnh cấm buôn bán trâu. - Viên thuế
đoan nhìn đàn trâu béo mập con nào da cũng láng bóng như ánh sừng nheo mắt cười
một cách khó hiểu - Kẻ nào vi phạm chẳng những bị tịch thu mà còn phải nộp tiền
phạt, nếu chống lại người thi hành công vụ là bỏ tù. Đây đếch thèm biết Tây Ba
gia là ai, cứ theo phép nước mà làm. Nào anh em trói mấy tên gian thương này lại,
dẫn đàn trâu đi.
Chuyến ấy lái Lự mất sạch cơ nghiệp may mà nửa đêm trốn được
ra ngoài. Đến lúc ấy lão mới cay đắng nhận ra mình bị một vố lừa chết người.
Câu chuyện Tây Ba gia chẳng qua chỉ là màn kịch. Bọn đạo tặc đã diễn xuất một
cách hoàn hảo với những chi tiết tình tiết như thật. Chung quy cũng chỉ tại lão
ngu. Thất thểu lê bước về đến bến Cẩm Đàn, lão định nhảy xuống sông để tự trừng
phạt mình và cảnh cáo những kẻ hậu sinh hám hơi đồng. Nhưng lái Lự vốn sợ chết.
Từ xưa đến nay phương châm của lão là sống nhục còn hơn chết vinh. Chết là hết
dù cho người ta có đắp lên mộ cả một đống vàng và tâng bốc bằng ngàn vạn lời
hoa mỹ. Sống còn có cơ may thay đổi hoàn cảnh. Tội gì mà chết để thiên hạ chửi
cho. Lại nữa, lão còn đứa con gái. Thị Lánh tuy hỗn láo, cãi bố đôm đốp nhưng
nó vẫn còn là con lão. Lão mà về chầu trời, nó sẽ bơ vơ nơi trần thế, biết
nương tựa vào đâu? Điều lái Lự sợ nhất bây giờ là món tiền vay của Khúc Đàm.
Tay này trước là lính tập, đã từng sang Pháp trong những năm Thế chiến, lại là
chánh tổng đương chức xem ra rất khó khất nợ.
Đã quá hạn mười ngày không thấy lái Lự sang trả tiền, chánh
Đàm sốt ruột đích thân đi đòi nợ. Đường đất từ làng Cùa đến kẻ Bòng khá xa vì
phải vượt sông Lăng. Dịp này đang mùa lũ lão không dám đi đò bến Trại mà phải đến
bến Lở rồi vòng lối đầm Vực. Tiếp giáp với đầm Vực về hướng tây nam là khu ruộng
trũng chừng vài chục mẫu của phó hội Bảng chuyên nuôi vịt đẻ. Chếch về hướng
đông bắc một chút là bãi tha ma rộng hàng trăm mẫu khá bằng phẳng, đây đó còn
lô xô những gò đống vô chủ, cái thấp cái cao mọc toàn dứa dại. Nghe nói dải đất
hoang này, thời Lê mạt đã từng là nơi giao tranh khốc liệt giữa nghĩa binh Tây
Sơn và đạo tán binh cờ xanh của quận công Đinh Tích Nhưỡng. Quận Nhưỡng thua
trận bỏ lại vài trăm tử sĩ trên chiến địa. Đêm hôm ấy dân mấy làng thắp đuốc
mang cuốc xẻng đào mười tám cái huyệt chôn vội vàng những chiến binh xấu số. Từ
đấy cứ đến ngày giỗ trận, cánh kỳ mục lại thay mặt hàng tổng mang hương hoa, giấy
tiền ra mộ địa tế các vong hồn. Mấy trăm năm qua đi, vầng dương mọc rồi lại lặn
nước sông Lăng khi đầy khi vơi, biết bao vật đổi sao dời nhưng ký ức của người
dân Ba Tổng về một vùng đất bí hiểm thì vẫn còn đó.
Chánh Đàm xắn quần, tay cầm hèo mây, bước thấp bước cao qua
khu ruộng vàn nhà phó hội Bảng. Sát bờ đầm có chiếc lều canh vịt lợp rạ . Cái
mái khum khum của nó có lẽ chỉ nhỉnh hơn chiếc lều vó của của lão Kếu cổ ngẳng
một chút. Từ xa Khúc Đàm thoáng thấy bóng người. Lão Chánh nghĩ đó có lẽ là thằng
chăn vịt của nhà phó hội. Tự nhiên lão nảy ra một ý định muốn đến tận nơi xem
lũ vịt Kỳ Lừa được thiên hạ truyền ngôn như một thứ đặc sản của cha con họ
Quách mà bản thân lão chưa bao giờ tin là có thật. Đến bờ đầm chánh
Đàm định khoắng chân xuống nước rửa qua loa để xỏ vào đôi dép da trâu có bốn
quai vặn xoắn như sợi thừng tre, bỗng lão lặng người khi nhìn rõ trước cửa lều
không phải là thằng chăn vịt mà là cô gái mặc áo cánh trắng, váy thâm được vận
lên quá đầu gối, để lộ cặp đùi non mơn mởn, đang nhặt những quả trứng rải rác
trên mặt ruộng xếp vào chiếc làn tre đựng trấu. Cô gái còn quá trẻ, chỉ khoảng
mười chín đôi mươi, sức vóc ngồn ngộn bởi bộ ngực căng phồng và tấm lưng thon
uyển chuyển thót lại như eo bọ ngựa cái thời kỳ mang trứng. Cặp vú bánh dầy mẩy
và chắc như hai trái lê bị ép một cách tượng trưng sau lớp yếm mỏng cứ nhảy
tâng tâng theo mỗi nhịp bước lom khom. Nhìn cặp tuyết lê đồ sộ đầy khêu gợi,
Chánh đàm nuốt nước bọt thầm nghĩ: “Mẹ kiếp, cái ngực kia, cái lưng ong kia mắn
đẻ phải biết”. Cô thôn nữ tiếp tục nhặt trứng có vẻ như không thèm để ý đến kẻ
đang ngắm trộm “toà thiên nhiên” của mình, miệng he hé cười thầm. Vốn là phường
hám gái, Khúc Đàm không thể nhịn được nữa, lão vứt hèo, quẳng đôi dép da trâu,
thủng thẳng đến cạnh lều như người đi thăm đồng. Lúc này lão đã nhìn rõ mặt cô
gái. Đó thực sự là khuôn mặt đẹp nhưng gợi chút hoang dã bởi đôi chân mày rất rậm
chờm xuống cả đôi mắt và sống mũi cao, phần cuối hơi hếch lên đối xứng với cặp
môi ướt át, trề ra đầy vẻ khêu gợi. Cô gái không hề ngạc nhiên nhìn Chánh Đàm
nửa như muốn cười tình nửa lại muốn ông khách không mời cuốn xéo càng nhanh
càng tốt. Chánh Đàm đã có nhiều kinh nghiệm trong nghệ thuật giao tiếp với đàn
bà, nhất là loại đàn bà lẳng lơ, nên không dễ gì bỏ qua dịp may bằng một câu ướm
hỏi đầy chất phong tình, chẳng tương xứng chút nào với địa vị xã hội của mình:
- Cô em có bán trứng ta mua hết?
Cô gái liếc Chánh Đàm, giọng bỡn cợt:
- Trứng vịt Kỳ Lừa đắt lắm, những hai mươi đồng một chục,
ông chánh Kim Đôi có mang đủ tiền không?
Chánh Đàm giật mình, có vẻ ngượng. “Bỏ mẹ” Con bé biết tên
mình. Chuyện này mà biết thiên hạ đồn ầm lên là chánh tổng đi tán gái thì còn mặt
mũi nào ra đình mà quát tháo sai phái bọn chức dịch hàng tổng. Nghĩ vậy lão làm
ra vẻ bề trên hỏi:
- Nói đùa vậy thôi. Ta có chút việc sang làng Bòng lối này. Hỏi
khí không phải, cô là con gái ông phó hội Bảng?
Cô gái hình như chẳng coi gì cái chức danh chánh tổng ra gì vẫn
tiếp tục đối đáp với Khúc Đàm bằng giọng cợt nhả:
- Chắc ông chánh muốn tìm thêm bà ba cho vui cửa vui nhà?
Chánh Đàm thấy con bé mỏng mày hay hạt, lời ăn tiếng nói nghe
vẻ đong đưa trong bụng thích lắm, quên phắt vai kịch đạo mạo đang đóng, thả lời
ong bướm:
- Nếu ta cho người sang thưa chuyện với ông phó hội em có bằng
lòng không?
Cô gái tinh nghịch, nheo mắt nhìn ông khách xấp xỉ tuổi bố
mình , giọng chua như giấm:
- Trông ông Chánh còn tráng kiện lắm, nhưng hỏi thật, giả sử
nhạc phụ tương lai là một lái trâu ông có chịu cưới con gái lão ta không?
- Vậy ra cô em là con ông lái Lự?
- Ông nhìn kỹ xem kẻo lại nhầm.
- Sao lại chăn vịt ở đây?
Cô gái chỉ tay về phía đầu làng, có một người đang đi ra:
- Tôi nhặt trứng giúp thằng Côi. Nó về nhà lấy chài đánh cá.
- Hôm nay ông Lái có nhà không?
Cô gái nói trống không:
- Đi biệt tăm nửa tháng nay... Mà ông Chánh hỏi làm gì?
Chánh Đàm giấu biệt chuyện lái Lự vay nợ trả lời ậm ừ:
- À, cũng không có gì hệ trọng, đợi khi nào ông ấy về tôi
sang cũng được.
Lúc lên bãi tha ma, chánh Đàm quay lại nhìn về phía lều vịt,
trong đầu luôn tự hỏi: "Con bé này với thằng chăn vịt nhà phó hội Bảng có
quan hệ thế nào nhỉ? Hay là chúng đã... Đồ đàn bà lăng loàn” Mải ngẫm nghĩ về
người đẹp, quên cả đường, chánh Đàm bị gai găng đâm vào bàn chân. Lão giật thót, nhảy lò cò đến gờ ngôi mộ cổ ôm chân nhăn nhó trong lúc đôi dép da trâu vẫn lủng
lẳng trên cổ. Chiếc gai nhọn hoắt đã khô, xuyên thấu lớp da dầy, bị gẫy một đoạn
rồi nằm cứng trong đó làm Khúc Đàm đau nhói. Đã thế lại không có ghim băng mang
sẵn bên mình, thành thử ông chánh Kim Đôi đành phải cà nhắc đến bến đò miệng
không ngớt xuýt xoa.
4. Từ ngày mẹ chết, Mạc Thị Lánh ít ở nhà. Lái Lự không bảo được
con, phải nhờ người cháu họ bên làng Nội trông nom cửa nhà mỗi khi lão đi vắng.
Con gái kẻ Bòng có khi chưa đến tuổi cập kê đã thành gia thất, mười chín đôi
mươi đã con bế con bồng, riêng cô gái rượu của ông lái trâu thì không một gia
đình tử tế nào dám hỏi, trừ bọn mèo mả gà đồng với ý định bờm xơm, trăng gió.
Như trên đã nói, Mạc Thị Lánh đẹp nhưng là vẻ đẹp vượt ra ngoài khuôn khổ nhận
thức của làng Bòng vốn dĩ đầy định kiến với những hủ tục lạc hậu. Đàn ông từ thằng
trẻ ranh còn cởi truồng tắm sông đến các bậc chức dịch đáng kính tóc đã muối
tiêu hễ nghe đến tên Thị Lánh đều nhất loạt bĩu môi khinh bỉ, nhưng chẳng may một
mình gặp cô ta thì mắt lại lấm lét, miệng nuốt nước bọt đến đờ đẫn, mất hết cả
hồn vía. Căm thù ra mặt là các bà các cô. Họ sợ ả yêu tinh đó làm hư hỏng chồng
con, bại hoại gia phong, nhất là đôi mắt lẳng lơ đầy ma lực như có yêu khí
quyến rũ các bậc mày râu háo sắc. Đám này thuộc phái chính chuyên, luôn miệng
lên giọng răn dạy con cái sống theo quy phạm đạo đức.
Thị Lánh, ngược lại không bao giờ xem các bà các cô chính
chuyên ở làng Bòng là hiện thân của công dung ngôn hạnh. Cô ta bảo cánh đàn ông
thích của lạ: “Các mẹ ấy còn cái gì rao bán ngoài cặp vú mướp giắt vành váy mốc
mà chẳng lên mặt đạo đức giả”. Dạo này Lánh hay ra đầm vực chơi với thằng chăn
vịt. Cô nàng có vẻ thích món trứng luộc chấm muối ớt nên thỉnh thoảng xách làn
lội ruộng ra mua, dần dần nghiện luôn cả thằng chăn vịt. Mỗi ngày không nhìn thấy
hắn là cô ta ăn không ngon ngủ không yên. Côi là đứa không cha mẹ được phó hội
Bảng đưa về từ lúc còn bé. Nó kém Lánh hai ba tuổi nhưng cao lớn ra dáng một đấng
nam nhi với khuôn ngực trần rám nắng vồng lên cùng đôi bắp tay cuồn cuộn ở tuổi
dậy thì. Thấy Lánh hay ra chơi thằng Côi thích lắm nhưng chẳng biết nói gì. Mỗi
lúc nhìn cô nàng mặt nó lại đỏ lên, miệng lúng búng chẳng nói được câu nào ra hồn. Thực ra Côi là gã trai khá mơ mộng, sức sống hừng hực, tuy ăn uống kham khổ
nhưng được sống tự do giữa thiên nhiên phóng khoáng, hít thở khí trời trong
lành nên có vẻ tự bằng lòng với thân phận mình. Giờ được một người con gái để ý
đến, thỉnh thoảng liếc mắt đưa tình một cách suồng sã làm con tim gã lịm đi tựa
như được uống một liều tiên dược. Có lần, lúc ấy trời đã về chiều, đồng vãn người,
Lánh ỡm ờ hỏi :
- Bao giờ Côi lấy vợ?
Tay chăn vịt thật thà bảo:
- Phận đi ở nghèo rớt mồng tơi, chả ai người ta để ý đến.
Lánh lại hỏi:
- Côi thấy tôi thế nào?
Côi ngẫm nghĩ một thoáng rồi bảo:
- Chị đẹp lắm, đẹp hơn cả tiên.
- Có... thích Lánh không?
Tay chăn vịt không còn vẻ ngô nghê nữa, cũng nửa nạc nửa mỡ:
- Làm vợ chồng ấy à?
- Biết rồi còn hỏi.
- Nhưng tôi không có tiền với lại ông phó hội đánh chết.
- Mặc kệ - Thị Lánh ngúng nguẩy ngồi sát vào thằng chăn vịt -
Có muốn... thử?
- Thử gì? - Thằng Côi run run đặt tay lên cặp đùi non mà
không hiểu vô tình hay cố ý cô nàng đã kéo váy lên quá mức trước lúc ngồi xuống.
Lánh hất thằng chăn vịt ra: “Không được động vào đấy...”
Nhưng đôi mắt thì lại bùng cháy ngọn lửa đam mê như là hối hả mời gọi. Gã trai
chỉ đợi có thế. Nó đột nhiên ôm choàng lấy cô gái, dằn ngửa ra, kéo tuột váy
lên cổ, hau háu nhìn vào cái hõm mờ mờ ảo ảo giữa hai đùi. Cô gái vòng tay ôm lấy
lưng thằng Côi, ghì chặt thở hổn hển chờ đợi... Nhưng gã vốn dĩ là gã trai mới
lớn, chưa từng biết mùi đàn bà, thành thử người cứ run bần bật, tim đập thình
thịch như đánh trống. Đợi mãi, đến khi không thể chịu được nữa, Thị Lánh hơi nhổm
dậy, lấy tay kéo tuột chiếc quần đùi rách vá chằng vá đụp xuống chân thằng Côi
thì mới phát hiện ra nó đã ướt nhoe nhoét như bị nước mỡ dây vào. Quá thất vọng,
cô nàng đẩy thằng chăn vịt khỏi bụng, ngồi dậy, kéo váy xuống rồi hậm hực bảo:
- Đồ vô tích sự. Thế mà cũng là đàn ông...
5. Hôm ấy Chánh Đàm đến kẻ Bòng sau khi đã sai người thăm dò biết
chắc lái Lự ở nhà. Lần này lão bắt ông Tình chở cả ngựa qua sông cho oai. Vừa đến
sân, Khúc Đàm chợt sững sờ trước cảnh hoang tàn như là ngôi nhà vừa bị mất cướp.
Tòa chính đường trước bày toàn sập gụ, tủ chè, tràng kỷ gỗ trắc, câu đối, hoành
phi sơn son bóng loáng, giờ trống hoác trơ ra nền gạch Bát Tràng và những viên
tảng chạm hoa văn đỡ hàng cột nặng nề. án thư cũng đã theo chân lão lái trâu ra
chợ từ mấy hôm trước. Những thứ gì có thể quy được ra tiền đều lần lượt về nhà
chủ mới. Lúc này vật đáng giá nhất chỉ còn lại cái xác nhà và khu vườn nhãn.
Lão đã tính trước, nếu chánh Đàm xiết nợ, đành phải gán dinh cơ cho hắn rồi đưa
con gái sang làng Nội làm ăn. Bên Nội, lão vẫn còn khoảnh đất rìa làng được ăn
thừa tự của ông bác ruột không có con, mới mất cách đây hai năm. Sông có khúc,
người có lúc. Kẻ đi buôn lên voi xuống chó là chuyện thường. Thiên hạ thiếu gì
những đứa nhẹ dạ cả tin. Rồi chúng mày xem, chưa biết mèo nào cắn mỉu nào. Tự
trấn an mình như vậy nhưng vừa nhìn thấy chách Đàm với cái roi ngựa trên tay,
lái Lự bỗng tái mặt. Tay này nổi tiếng hách dịch, coi người như rác, không trả
hết số nợ cho hắn thì chưa biết chuyện gì sẽ xảy ra. Thế nhưng, khi nghe lái Lự
trình bày cái sự bị lừa mất sạch cả vốn lẫn lãi bằng bộ mặt đưa đám và thứ ngôn
ngữ thớ lợ khá mùi mẫn, chánh Đàm không trở mặt giận dữ mà lại bình thản bảo:
- Trong nhà ông Lái còn có một thứ quý hơn cả vàng bạc.
Lái Lự khịt mũi nghĩ Khúc Đàm xỏ xiên nên chỉ nhếch mép:
- Ông chánh cứ đùa.
- Tôi không đùa. - Chánh Đàm đảo mắt nhìn tứ phía rồi bất chợt
hỏi - Cô nhà đi đâu?
Đến lúc ấy thì lái Lự vỡ chuyện. Lão ngập ngừng hỏi:
- Ông Chánh nói con Lánh nhà tôi?
Chánh Đàm gật đầu:
- Gia sản của ông giờ tiêu tán hết rồi mà số tiền nợ tôi lại
khá lớn dẫu có gán cả dinh cơ này cũng chẳng đủ. Nói thật, nhà tôi hiếm người,
nếu ông bằng lòng, nay mai tôi sẽ nhờ người mang lễ vật sang hỏi cô nhà làm bà
ba. Về công nợ coi như xí xoá, ông tính sao?
Nghe chánh Đàm gợi ý, lái Lự mừng quá, xuýt ngất xỉu, nhưng vốn
là một lái trâu lọc lõi, đầy mánh khóe, lão dùng kế hoãn binh, chậm rãi uống
chén nước để lấy lại thăng bằng sau cú sốc rồi mới thong thả nói:
- Cái này là việc cả một đời người, ông để tôi lựa lời nói với
cháu xem sao đã.
Chánh Đàm hạ giọng:
- Từ xưa đến nay việc dựng vợ gả chồng cho con đều phải do bố
mẹ xếp đặt, đó chính là gia pháp. Gia pháp không nghiêm sẽ loạn ngay. Phận nữ
nhi không thể vượt ra khỏi mấy chữ "Tam tòng tứ đức", cho
nên...
- Mà nếu nói lời không nghe, vẫn còn ngang bướng thì tôi sẽ vụt
cho một trận rồi tống cổ ra khỏi nhà. Cái lý ở đời cứ già đòn là non nhẽ.
- Ông chớ làm thế! - Chánh Đàm xua tay - Cứ lấy lời ngon ngọt
mà khuyên bảo có khi lại được việc. Hơn nữa, tôi thấy cô nhà cũng sắc sảo, biết
ăn nói lắm.
Lái Lự thoáng nghĩ đến đứa con gái bất trị. Đến nước này thì
không thể thương được nữa. Lão càng cưng chiều nó càng hỗn láo. Để ở nhà ngày
nào nó gây tai họa ngày ấy. Phương thuốc trị bệnh tốt nhất là nhanh chóng gả chồng.
Con gái xuất giá tòng phu. Cứ để lão chánh tổng dại gái này trị con giặc cái. Vạn
nhất không trị được bị nó xỏ mũi cũng đáng đời hắn. Trước mắt lão được hai cái
lợi, vừa không phải trả nợ vừa được làm bố vợ tay chánh tổng Kim Đôi gần bằng
tuổi mình, ở đời mấy ai được như thế?
Hai lão đang lần lượt thảo luận từng điều khoản trong bản hợp
đồng hôn phối thì Thị Lánh chẳng biết ở đâu về bằng lối cổng hậu. Lái Lự lấm
lét nhìn con gái còn chánh Đàm đứng dậy chào. Lánh liếc mắt nhìn họ khúc cười
nhạt:
- Chào ông Chánh. Hôm nay chắc ông sang đòi nợ?
- Ấy chết, tôi đâu dám. - Chánh Đàm cười nịnh - Chả là ông
nhà cho gọi...
- Tôi hiểu rồi - Lánh chẳng nể nang gì, nói tưng tửng theo kiểu
hàng tôm hàng cá - Ông lái trâu bị mất sạch gia sản, không trả được nên làm văn
tự gán con gái cho chánh tổng Kim Đôi phải không?
Lái Lự sượng mặt lườm con:
- Đừng có hỗn. Nhà ông Chánh nền nếp lại giàu có nhất vùng,
được vào đấy khác gì chuột sa chĩnh gạo. Nếu mày bằng lòng, mấy hôm nữa bà
Chánh sẽ mang trầu cau sang ăn hỏi.
Thị Lánh mỉm cười nhìn ông khách vùng Ba Tổng:
- Thế tôi về làm dâu ông Chánh hay làm vợ bé ông Chánh?
Lái Lự quắc mắt:
- Mày đừng có lộng ngôn. Ông Chánh chưa có con trai nên mới
phải đi tìm người, chứ con gái nhà tử tế bây giờ thiếu gì.
Lánh cười gắn, còn lão lái trâu ngầm đưa mắt cho Khúc Đàm. Cả
hai đều im lặng chờ đợi phản ứng xem ra chẳng có gì là tốt lành từ phía cô gái.
Nhưng thật không ngờ, Mạc Thị Lánh lại chấp nhận cuộc hôn nhân mua bán nhanh đến
thế:
- Tôi bằng lòng, nhưng với một điều kiện.
- Xin cô cứ nói.
- Tôi phải giữ tay hòm chìa khoá.
- Tưởng gì, chuyện ấy thì được - Chánh Đàm gật đầu.
Ba hôm sau, bà Chánh mà hàng tổng vẫn gọi là bà cả Huê mang
trầu cau sang chạm ngõ, hẹn đến đầu tháng ba thì rước dâu. Trước ngày cưới ít
lâu, Thị Lánh lại ra đầm Vực mưa trứng. Lúc ấy đã vàng vàng mặt trời, khu đồng
trũng vắng vẻ, cô tịch như một vùng hoang địa. Kể ra, lấy trứng xong, vẫn còn kịp
về làng nhưng cô ta lấy cớ sợ ma ở lại qua đêm với tay chăn vịt. Lần này thằng Côi
không còn lớ ngớ như buổi ban đầu. Hai đứa trần truồng quấn riết lấy nhau như một
đôi rắn lịch kịch suốt một đêm trên chiếc ổ rạ được trải manh chiếu cói mà hắn
lấy được ở đình Trụ. Trong cơn hoan lạc, niềm đê mê ngây ngất đến tột đỉnh, Thị
Lánh ghì lấy cổ thằng Côi bảo:
- Mấy hôm nữa Lánh lấy chồng phải xa mình rồi.
Thằng chăn vịt thở hổn hển:
- Sau này biết bao giờ gặp lại?
- Thỉnh thoảng tôi đi chợ qua đây?
Sau ngày cưới, Mạc Thị Lãnh thành bà chánh Ba. Bà Ba trẻ nhất,
đanh đá nhất nhưng lại có quyền hành nhất trong nhà họ Khúc. Đêm tân hôn, chánh
Đàm trải tấm vải trắng xuống giường. Thị Lánh là cô gái từng trải trong chuyện
phòng the nên đã chuẩn bị sẵn những thứ cần thiết. Mới có đầu giờ Hợi, chánh
Đàm đã tắt nến lôi tuột vợ lên giường. Trước khi lão lột váy trườn lên người
thì cô ta bí mật bóp cái bong bóng cá đựng tiết vịt hãm muối mà thằng Côi đã
đưa cho vào miếng vải.
Chánh Đàm đã có hai vợ. Vợ cả là bà Huê, cưới từ lúc chưa đầy
mười sáu, đến giờ vẫn chẳng đẻ đái gì. Trước lúc đăng lính ít lâu lão đón cô
Phùng Thị Thoả ở làng Nội, bên kia sông Lăng về làm thứ thất cũng chỉ được một
mụn con gái khoèo tay. Lần này họ Khúc rước Mạc Thị Lánh về là mong có kẻ nối
dõi tông đường, cứu cho gia tộc khỏi nguy cơ tuyệt tự.
Từ nhỏ, Khúc Đàm đã là gã trai phóng đãng, khác hẳn em ruột
là Khúc Kiệt. Hai anh em lớn lên đều cảm thấy con mắt dè bỉu của làng trên xóm
dưới về cái quá khứ bất hảo của người cha, nên trong lòng luôn nuôi chí rửa nhục
theo cách riêng của mình. Khúc Đàm đăng lính còn Khúc Kiệt ở lại làng tìm thày
học chữ Nho. Thừa hưởng khí huyết của người cha, từ nhỏ Khúc Đàm đã nổi tiếng
thích phiêu lưu. Hắn còn là gã thanh niên đẹp trai, miệng tán gái dẻo như kẹo mạch
nha và đam mê cờ bạc. Năm hai mươi hai tuổi, Khúc Đàm bị động viên sang Pháp.
Binh đoàn thuộc địa số 5 của hắn được điều đến đồn trú ở vùng An dát. Dịp ấy
vào cuối năm thứ hai của Thế chiến thứ nhất, Nhà nước bảo hộ trưng tập hàng
ngàn lính Đông Dương bổ sung cho quân số bị hao hụt trên chiến trường Pháp - Đức.
Làng Cùa có bốn thanh niên xuất chinh, sau này chỉ mình Khúc Đàm hồi hương. Hai
người tử trận, một người bị thương ở lại chính quốc mở quán thịt chó.
Hôm tiễn Khúc Đàm xuống tàu há mồm vượt trùng dương sang Pháp
là một ngày đáng nhớ. Mặc cho vợ cả, vợ hai khóc hết nước mắt, vật vã, lăn ra đất
van nài, Khúc Đàm vẫn quyết dứt áo ra đi. Vợ hắn có biết đâu nỗi mặc cảm của
anh em họ Khúc với dân làng Cùa. Phải gột rửa quá khứ bằng niềm vinh quang của
kẻ làm trai cưỡi sóng đạp gió ngao du khắp hoàn cầu, và sau hết, kiếm được tiền
rồi lựa thời cơ mua một chân chức sắc để có vị thế trên chiếc chiếu cạp điều giữa
đình làng. Vạn nhất, nếu bỏ xác nơi sa trường thì dòng họ nhà hắn vẫn còn Khúc
Kiệt. Em hắn là gã hủ nho mọt sách, suốt ngày ê a đọc Tứ thư, Ngũ kinh, không
có chí lớn, sẽ thay hắn giữ gìn hương hoả.
Vào những năm Đại chiến thế giới, làng Cùa gần như bị bỏ rơi.
Tiếng đại bác gầm bên trời Âu hầu như chẳng có tác động gì đến nếp sống thường
nhật khép kín vùng Ba Tổng. Làng vẫn cứ phạt vạ nếu có gái chưa chồng chửa
hoang, và khổ chủ, tức gia đình cô gái hư hỏng kia phải biện đủ lễ vật để các vị
chức sắc cúng thần trừ tà rồi ngả mâm đánh chén. Ban đêm, trai đinh cắt phiên
nhau tuần tra. Nếu chẳng may có trộm vào làng thì phát lệnh bằng mõ cá, tù và sừng
trâu hoặc trống ngũ liên. Chỉ trong khoảnh khắc, cả xóm thắp đuốc chạy ra, kẻ
giáo mác, người dao chín hoặc tay thước, hô hét rầm trời. Bọn đạo tặc cùng đường
có thằng nhảy xuống ao, có thằng đánh liều thượng lên mái đình, cuối cùng vẫn bị
lũ chó phát hiện, chịu trói nộp quan.
Làng Cùa rộng nhất tổng Kim Đôi được bảo vệ bằng luỹ tre dày
chỉ thông với bên ngoài bằng hai chiếc cổng xây gạch vồ trên có vọng lâu, dưới
là những cánh cửa lim nẹp sắt dày mười sáu phân. Có một con ngòi từ đầm Ma
xuyên qua làng nhưng không thẳng mà lại cong queo như con rồng uốn khúc. Ông thầy
phong thuỷ xứ Đoài đi qua, nhìn thế đất lắc đầu bảo: "Làng này bị con ngòi
giống loài rắn nước chẻ làm đôi, phá vỡ huyệt đất quý thành ra nhân tài không
phát được. Tiếc thay!".
Những năm ấy, ở đất Bắc Kỳ, đạo Nho đã đến hồi mạt vận, nhưng
ở vùng Ba Tổng người dân vẫn còn trọng chữ nghĩa. Khoá Kiệt học giỏi nổi tiếng
trong vùng được các phụ huynh làng Bích La bên kia sông đón sang dạy con em
mình. Làng Cùa từ lâu khuyết chân giáo thụ, học trò toàn dạt đi thiên hạ kiếm
chữ vừa vất vả vừa tốn kém nhưng cánh chức dịch ghét cái nguồn gốc đạo chích của
nhà họ Khúc thành thử bảo nhau tẩy chay không mời đồ Kiệt. Trái lại, anh em
Khúc Đàm chẳng biết căn cứ vào nguồn tư liệu nào thường tự nhận là hậu duệ của
Tiết độ sứ Khúc Thừa Dụ người làng Cúc Bồ đã có công khôi phục quyền tự chủ của
đất Giao Châu thời Hậu Đường. Khúc Kiệt dạy học một năm thì được cụ thứ chỉ
làng Bích La gả con gái cho. Bà này mắn đẻ, trong vòng chưa đầy một giáp đã
sinh Khúc Văn, Khúc Vĩ, Khúc Thị Nhân, Khúc Thị Lễ, Khúc Thị Nghĩa. Cái chí học
gạo làm quan của thầy đồ Khúc tan biến như bong bóng xà phòng khi hay tin Nhà
nước bảo hộ huỷ bỏ vĩnh viễn các kỳ thi Hán học. Nhà nghèo lại đông con, chạy
ăn từng bữa khiến Khúc Kiệt rầu lòng sinh bất đắc chí, suốt ngày uống rượu, rượu
say lại ôm mặt khóc như trẻ con bị bố mẹ đánh.
6. Nỗi khổ đầu tiên của Khúc Đàm khi vượt biển sang nước Đại
Pháp là bệnh say sóng. Chiếc tàu há mồm cao lừng lững, dài sáu bảy chục thước
tây là một khối sắt thép đồ sộ với những thứ dây rợ lạ mắt giăng mắc ngang dọc
trên các cột cùng lá cờ tam tài bay phần phật trước gió làm cánh lính thuộc địa,
lần đầu xuất dương, vô cùng thán phục kỹ nghệ Thái Tây. Khúc Đàm chỉ ngắm trời
ngắm nước được chừng vài giờ thì ruột gan bắt đầu lộn tùng phèo khi chiếc hạm
thuyền cưỡi lên những con sóng bạc đầu lừng lững như trái núi, thực hiện những
cứ nhào lộn, nhồi lắc dữ dội, vượt xa sức tưởng tưởng táo bạo nhất mà con người
có thể nghĩ ra được. Từ lúc ấy, Khúc Đàm nằm bẹp dưới khoang tàu, trong căn hầm
ẩm ướt, bẩn thỉu, lúc nào cũng tối tăm như cảnh âm cung. Mười bốn lính thuộc địa
gồm cả Việt, Miên, Lào chen chúc trong cái hộp sắt chưa đầy chín thước vuông
như thế nên nhất cử nhất động của một người đều phát sinh sự đụng chạm mang
tính dây chuyền. Hầm nóng như nung. Không khí đặc quánh lại và ô nhiễm nặng chẳng
khác gì xà lim biệt giam tử tù. Khẩu phần hàng ngày gồm bánh mỳ đen bở bùng bục,
cá trích đóng hộp và thứ xúp thịt cừu loãng mới ngửi đã lộn mửa. Nước ngọt quý
như vàng, ngày được một lít, uống còn không đủ nói gì đến tắm giặt.
Tàu qua Bắc Phi, vào biển Đỏ, khẩu phần được tăng thêm chút
ít nhưng vẫn không phục hồi được sức khỏe của phần đông lính mắc bệnh kiết lỵ
do thiếu nguồn rau xanh. Hành trình hơn ba tháng, khi con tầu vào cảng Mác xây
thì binh đoàn Đông Dương số 5 được một đoàn xe cam nhông đưa ngay lên cao
nguyên đông bắc. Nơi đây là vùng đệm tiếp giáp với dải phòng ngự chiến lược của
sư đoàn 13 do tướng Pốtchiê làm tư lệnh. Đối diện với hệ thống chiến hào chạy
ngoằn ngoèo như hình con trăn khổng lồ uốn khúc giữa dãy đồi mọc toàn cây vân
sam là phòng tuyến quân Đức. Bọn này suốt ngày chui rúc dưới hầm, quấn mình
trong những chiếc Pa đờ xuy dạ thô nặng trịch ngốn bánh mỳ với mỡ lợn hoặc loại
xăng đuých rắn như đá vì lạnh với nhứ rượu vang Pađờ Cale chua loét như cứt mèo
mà chúng cướp được ở các nông trại trồng nho.
Cần phải nói thêm, tiểu đội của Khúc Đàm do viên cai Trần
Thái chỉ huy không thuộc quân số chiến đấu mà là lính phục dịch. Công việc hàng
ngày là sửa chữa những chỗ chiến hào bị sạt lở, vận chuyển vũ khí, lương thực,
thực phẩm, thuốc men và nếu cần kiêm luôn cả công việc tải thương. Bấy giờ đang
là cuối thu, mà mùa thu ở miền đông bắc xứ Phú Lãng Sa lạnh thấu xương. Tuyết
rơi ban đêm, sáng ra rắn lại như băng. Khúc Đàm cùng Phan Thế Thanh khiêng một
hòm đạn đui sết sơn vàng nhạt, nặng trịch, ì ạch leo lên sườn dốc của một quả đồi
nằm chếch về phía tây tuyến phòng thủ của sư đoàn Héc man. Đêm hôm trước, tướng
Pốt chi ê vừa mất một tiểu đoàn. Họ bị rơi vào trận địa phục kích của đại tá
Héc man, sau đó tiếp tục làm mồi cho hai mươi bảy họng súng cối sáu mươi ly. Bọn
Đức trinh sát rất kỹ. Chúng căn các nòng moóc chi ê, khoá đầu khoá đuôi thung
lũng Patxcan, bắn như giã giò, chần cho tiểu đoàn công binh 32 của đại
uý Sác lơ tối tăm mặt mũi. Đến gần sáng, chỉ còn không qúa ba chục tay súng
mình đầy thương tích thất thểu quay về. Chiến hào quá hẹp, chỉ đủ hai người
tránh nhau. Nước mưa lẫn với bùn đất cùng lớp tuyết rơi đêm qua tạo thành thứ hỗn
hợp nhão nhoét, bềnh bệch, ngập đến cổ đôi giày xăng đá làm Khúc Đàm có cảm
giác như bị kim châm khắp lượt bàn chân. Trên đầu, vòm trời loang lổ những cụm
mây xám, mây trắng và mây màu hạt dẻ bập bềnh như những tảng băng trôi. Từ góc
khuất của nhánh công sự tạm thời có thể nhìn thấy phần ngọn của một cây sồi đơn
độc, tán lá tròn như chiếc dù xanh mà trên cành cao nhất, không hiểu theo lệnh
của ai, mấy chàng lính trẻ tiểu đội 3 đã buộc lên đấy lá cờ ba sọc rách tướp
đang bay phần phật. Một con chim ưng mỏ trắng, cặp cánh rộng xòe ra, liệng trên
vòm trời màu thiếc, đảo đôi mắt tròn quét một lượt khắp khoảng rừng tìm những
chú thỏ ngờ nghệch, tựa hồ như chẳng hề biết đến hai đạo quân đang tìm cách tàn
sát nhau dưới những con hào ngoằn ngoèo kia.
Khúc Đàm đang ngây người ngắm mảnh trời Âu giữa lúc cả hai
bên ngẫu nhiên ngừng tiếng súng thì một viên quan hai người Pháp từ một ngách
hào gọi to:
- Ê! Mấy anh kia, có phải các anh thuộc tiểu đội phục dịch của
hạ sĩ Trần Thái?
- Bẩm quan lớn, đúng ạ! - Khúc Đàm vừa lấy tay ra hiệu vừa
trả lời bằng thứ tiếng Pháp bồi, các âm tiết đều bị tách ra rời rạc làm tay sĩ
quan thông tin chẳng hiểu gì, hỏi lại như quát:
- Phục dịch phải không?
- Đúng!
- Về trung đội ngay! Có lệnh chiến đấu.
Bây giờ thì không còn phải khiêng đạn và đào chiến hào ở tuyến
sau nữa mà là thực sự cầm súng bắn nhau với bọn Phổ. Khúc Đàm bất
giác rùng mình. Tiểu đội được phiên chế vào tiểu đoàn cơ động. Tiểu đoàn này
toàn lính thuộc địa gồm hai đại đội Ma rốc, một đại đội Lê dương Xê nê gan và một
đại đội Đông Dương. Hướng hành quân hôm nay không phải là ngọn đồi có cây sồi
đơn độc mà chếch về phía nam, nơi có trang trại trồng nho. Ông chủ nhà đã bị bọn
Đức bắn chết sau khi cướp toàn bộ số rượu vang dưới hầm dự trữ từ năm 1896.
Trang trại hồ đào tuyệt đẹp nhất là vào lúc chiều tà khi mặt
trời vẫn còn cách đỉnh núi Guy đi ông chừng nửa con sào. Trước chiến tranh, mảnh
đất này vốn thanh bình. ánh hoàng hôn nhuộm đỏ mái nhà thờ thánh Giăng với tháp
chuông nhọn chạm nổi hình chiếc bánh xe mặt tiền trông ra sông Địa xanh màu lam
ngọc. Đàn cừu gặm cỏ dưới chân núi, nhìn từ xa, trắng toát như một khối bông di
động. Những chú cừu non vừa chào đời không theo kịp đàn, run rẩy trên đôi chân
mảnh khảnh, ngơ ngác nhìn chung quanh thỉnh thoảng lại be be gọi mẹ. Sườn đồi
thoai thoải, chếch về phía nam một chút là những chiếc cối xay gió xếp hàng xòe ra những chiếc cánh quạt dài, mỏng mảnh quay một cách miễn cưỡng mặc dù có lúc
gió từ triền sông thổi về rất mạnh. Trên đỉnh chiếc chong chóng cao nhất, hình
như đã bị hỏng, một con quạ già trụi sạch lông đầu, cái mỏ rũ xuống, đứng trầm
tư nhìn xuống khu vườn nho. Xa hơn chút nữa, chếch về hướng tây bắc là cánh đồng
lúa mạch đang chín. Lũ chim dẻ quạt, bồ các và sáo đen chao lượn như mắc cửi.
Chúng lao vun vút nhìn ngó tứ phía, thỉnh thoảng lại cụp cánh thả mình rơi xuống
mổ đám châu chấu ma đang nhảy tanh tách giữa những nhánh lúa. Vài con dẽ gà
tinh khôn rất có kinh nghiệm tìm những đám lúa mới chín. Chúng lủi thật nhanh
vào giữa ruộng, đánh đu lên cây nhằn hạt.
Nhưng bây giờ thì khung cảnh êm đềm ấy không còn nữa. Từ lâu
nó đã thành bãi chiến trường. Nhìn cảnh tượng một vùng quê nước Pháp, Khúc Đàm
chợt nhớ đến mảnh đất làng Cùa vùng Ba Tổng của mình. Hắn đang thả hồn phiêu
diêu về xứ sở An Nam với nền văn minh lúa nước và những chiếc cối xay tre đắp đất
nhích tùng vòng nặng nề quay từ cả ngàn năm trước thì có lệnh hành quân. Tất cả
tiểu đội ba lô lên vai, lưng thắt bao đạn, vai khoác trường mút [5] hoặc rê minh tơn [6] chụp mũ ca sô lên đầu rồi nối nhau
bước trong chiến hào. Cuộc chạm súng bắt đầu từ ba giờ chiều khi những quả moóc
chi ê tám mươi mốt ly từ phía sau những chiếc cối xay gió bay tới chiến hào tiền
duyên. Đấy là moóc chi ê của quân đội Pháp nhưng bị bọn Bốt xơ cướp được từ tuần
trước, mở màn cho bản đại hợp xướng máu lửa.
Lính Đông Dương vốn thể trạng thấp bé lọt thỏm trong bộ quân
phục rộng thùng thình như là quần áo đi mượn của mấy ông "nhiêu"
trong ngày tế đám. Đã thế, lại vì thời tiết khắc nghiệp, nhiệt kế xuống đến mười
hai độ âm, nên mọi người còn phải đóng thêm chiếc áo dạ màu cứt ngựa, vừa dài vừa
nặng, thành thử mỗi bước đi, hai vạt xòe ra quết bùn đất trông thật thảm hại.
Viên ách di đăng [7] chỉ huy trung đội là một người Pháp
lai. Hắn nói tiếng Việt rất sõi, thỉnh thoảng còn chửi lính bằng thứ thổ ngữ
vùng Kim Sơn Ninh Bình chính hiệu. Trước đó nửa giờ Trần Thái bị trúng mảnh
moóc chi ê. Mảnh đạn phạt vào đầu từ trên xuống bóc hẳn một mảng thịt nhầy nhụa
máu cùng với nửa vành tai. Chiếc mũ rách toạc nham nhở như bị chó gặm. Trần
Thái rú lên một tiếng thảm thiết rồi ngã chúi xuống nằm chắn ngang đoạn hào
nông choèn đã bị đạn pháo làm sập vài chỗ.
Đại đội Xê nê gan cao to lừng lững như hộ pháp, da đen bóng,
ôm súng lom khom triển khai đội hình dưới đường hào cận tuyến. Phía sau họ chừng
ba chục thước, tuyến tán binh thứ hai gồm tiểu đoàn Đông Dương số 2, số 7 và đại
đội Lê Dương triển khai theo đội hình tác chiến yểm hộ cho những chiến binh Phi
châu. Đối diện với họ, sau vườn nho là những cứ điểm phòng thủ của bộ binh Đức.
Chúng tác chiến theo một trình tự khá bài bản và đặc biệt ít khi lộ diện nếu
như chưa phát hiện ra vị trí đối phương. Cuối cùng thì những khẩu cối 81 và 105
ly của trung đoàn Li ông cũng khai hoả. Tiếng đề pa nghe rõ mồn một chứng tỏ những
thiên thần hộ mệnh cho bộ binh này ở cách đây không xa. Trận địa phút chốc trở
thành một cuộc đấu pháo ngoạn mục với hàng ngàn vạn âm thanh hỗn tạp, đinh tai
nhức óc làm rung chuyển bầu trời vốn là nơi tuyệt đối yên tĩnh. Khói bay lơ lửng
giữa từng không rồi xộc vào chiến hào. Mùi lưu huỳnh vừa nồng vừa khét làm nhiều
người ngạt thở, ho sặc sụa. Mặt trời chiều không thể xuyên nổi lớp khói dày đặc.
Không gian bùng nhùng âm u như địa ngục. Khúc Đàm phải lấy chiếc khăn bông bẩn
thỉu ấp vào mũi, một tay xách súng dò từng bước lên sườn một quả đồi thấp mọc
toàn cây lúp xúp tựa như cây dành dành ở quê nhà. Viên chuẩn úy cầm khẩu rê
minh tơn trong tay đứng thẳng người dõng dạc hô:
- Trung đội, bên trái quay! Về hướng cối xay gió.
Tiếng hô vừa dứt, từ trên cao, hơi chếch về mỏm đồi Chó Sói,
những vệt lửa loằng ngoằng kèm theo tiếng nổ đanh, đều, từng loạt một nhằm vào
hàng lính Đông Dương.
- Anh em ơi xông lên, quyết tiêu diệt bọn Phổ!
Có tiếng ai đó thét lên bằng tiếng Pháp. Lính Xê nê gan chạy
ngược lên đồi Cối Xay Gió chẳng theo một bài bản nào, thành ra khi bị hoả lực đối
phương quất trực diện thì chẳng ai bảo ai, quẳng súng chạy như một đàn vịt. Trận
tấn công thất bại. Viên chuẩn úy bị đạn xuyên qua bả vai, gẫy xương quai xanh
được Khúc Đàm dìu về chiến hào tiền duyên. Nửa giờ sau, một viên thiếu uý rậm
râu người vùng A vi nhông, nói tiếng Đức lưu loát được điều về làm trung đội
trưởng. Hắn chửi rủa lính thuộc địa không tiếc lời, tất nhiên là bằng thứ ngôn
ngữ Avinhông rồi huơ huơ khẩu súng lục to tổ bố trước hàng quân lấm lem như ma
vùi.
- Lần này không có lệnh của tôi, kẻ nào quay đầu nhìn lại
phía sau là bắn.
Lời răn đe của viên quan một tỏ ra có hiệu lực. Lính thuộc địa
sợ khẩu súng của Đuy mông hơn là lửa của bọn Đức. Cuối cùng thì tiểu đoàn thuộc
địa cũng chiếm được cao điểm Cối Xay Gió. Bọn Phổ rút đi bỏ lại mấy chục xác chết
dưới chiến hào hoặc trên mặt đất. Khúc Đàm bị một viên đạn súng trường khoan
vào mông, gẫy xương chậu. Cánh phục dịch khiêng hắn về tuyến sau trên chiếc
cáng gỗ bạch dương vừa dài vừa hẹp, thỉnh thoảng lại thúc vào vách hào. Máu chảy
ra như xối mặc dù mông hắn đã được tay y tá người Pháp sơ cứu. Hắn nằm sấp trên
cáng kêu ồ ồ như lợn bị chọc tiết.
Trạm xá trung đoàn là một tòa lâu đài bỏ hoang từ cuối thế kỷ
trước nằm trong cánh rừng bạch dương, cách khu Cối Xay Gió, trung tâm của trận
đánh vài dặm nhưng tương đối an toàn bởi công trình này khá kiên cố. Tường xây
toàn bằng đá tảng dày bốn mươi bảy phân, dưới có tầng hầm, trước dùng chứa rượu
và bắp cải muối, có thể sơ tán thương binh nếu bị quân Đức pháo kích. Cuộc phẫu
thuật không có thuốc gây tê để lấy những mảnh vỡ trong vết thương do các bác sĩ gần như đã kiệt sức vì mấy chục ca mổ trong ngày làm Khúc Đàm xuýt nữa thì về
chầu ông vải. Rất may hắn được cô y tá người Angiêri là Miriam chăm sóc chu đáo
nên mới thoát khỏi lưỡi hái của tử thần. Khúc Đàm vốn có thể trạng tốt, lại gan
lì chịu đau để cô hộ lý thay băng trong tình cảnh gần như cởi truồng nên tất yếu
không tránh khỏi sự đụng chạm vào "của quý" của hắn. Mỗi khi bàn tay
xinh đẹp hơi ngăm ngăm của Miriam luồn băng qua háng, dương vật của hắn lại cứng
ngắc, ngỏng lên. Lúc đầu cô gái Bắc Phi còn đỏ mặt, đến lần sau, chẳng nể nang
gì, Miriam cầm chiếc panh vụt thật mạnh làm gã lính tập kêu rú lên như là đang
bị thiến.
Ba tháng sau, khi vết thương đã lành, Khúc Đàm được điều về đại
đội phục dịch. Lúc này hắn đã được phong hạ sỹ và ở ngoài chiến hào, thỉnh thoảng
lại nhận được thư của Miriam bằng thứ chữ loằng ngoằng như giá đỗ. Tất nhiên hắn
không thể đọc những bức thư kiểu ấy cũng như cô y tá chẳng hiểu gì những ký tự
nguệch ngoạc tượng hình mà hắn gửi đáp lại tấm tình cô ta. Công việc phục dịch
tuy không phải cầm súng nhưng chết như bỡn nếu rơi vào trận địa pháo của Đức. Mới
hôm qua, chính hắn đã phải khiêng xác Lê Văn Ngọ, Thân Quang Đính và áp đu la về
cuối đường hào số 4. Chỗ ấy là nơi tập kết những xác chết. Trời băng giá, nhiệt
độ quá thấp, những cái xác cứng lại trong chiếc capốt lính màu xám. Nhìn thi
hài hai người đồng hương xấu số, bất giác Khúc Đàm thở dài, chảy nước mắt.
Trung đội cũ của hắn cứ hao hụt dần. Hắn biết được tin này qua anh chàng Thiệp
chân sếu quê ở Ngân Sơn Bắc Cạn. Thiệp là người Tày đã có vợ con nhưng do thua
bạc, nợ nần nhiều quá phải đăng lính lấy tiền trang trải. Tay này mỗi khi ra trận
đều đeo chiếc bùa do một bà đồng người Sán Dìu bán cho hồi còn ở nhà. Chẳng biết
có phải được thần phật che chở hay không mà suốt mấy năm chạm nhau với bọn Đức
hắn chưa hề mất một sợi tóc. Mối tình của cô gái Angiêri với Khúc Đàm có vẻ như
ngày càng sâu nặng. Chẳng bao lâu, cả hai đã nói được với nhau bằng thứ tiếng
Pháp lơ lớ chẳng cần chia động từ và hoàn toàn bỏ qua trọng âm. Khúc Đàm đã có
chủ ý, nếu trời phật để cho sống sót qua cuộc chiến, hắn sẽ đưa Miriam về làng
Cùa, mặc cho chiên hạ đàm tiếu, cưới cô làm bà ba và sinh con đẻ cái nối dõi
dòng họ như bất cứ gã đàn ông nào khác. Có điều, ý nguyện của hắn không thành.
Cô y tá Bắc Phi bị thương nặng trong một trận ném bom dữ dội của không quân Đức
khi chúng phát hiện được bệnh viện dã chiến nằm trong tòa lâu đài. Miriam chết
vì vết thương ở bụng mất quá nhiều máu. Trung đội của Khúc Đàm được lệnh chôn cất
người chết. Trong số mười ba nạn nhân có hai phụ nữ, Miriam và bác sĩ ngoại
khoa Bêatơrít.
Chiến tranh thế giới kết thúc, binh đoàn Thuộc Địa cho lính
giải ngũ. Khúc Đàm về Mác xây cùng với phần lớn cựu chiến binh Đông Dương chờ
ngày xuống tàu về nước. Tại hải càng này, hắn đã đi lại với một gái điếm người
Pháp tên là Luy xi và bị lây bệnh giang mai. Chưa đầy một tuần, dương vật của hắn
sưng tấy lên, thỉnh thoảng chảy mủ, bốc mùi rất khó chịu. Nhiều khi đau quá, đứng
ngồi không yên hắn đã nghĩ đến chuyện ra cầu tàu nhảy xuống biển tự tử. Cái thứ
bệnh quái ác ấy theo hắn vượt trùng dương về tận làng Cùa, sau này phải mất khá
nhiều thời gian và tiền bạc mới chữa khỏi. Cũng may chuyến viễn chinh mấy năm của
hắn được chính phủ Pháp tặng thưởng mề đay "Anh dũng bội tinh" vì có
huân công kèm theo mấy trăm bạc Đông Dương trợ cấp thương tật. Khoản tiền đó
làm Khúc Đàm trở thành giàu nhất vùng Ba Tổng.
Công việc đầu tiên sau khi hồi hương là Khúc Đàm kén thợ xây
một dinh cơ bề thế hơn hẳn tòa nhà bát giác kệch cỡm của lão lý Lượng để phô
trương với thiên hạ. Tòa nhà chính hai tầng xây theo kiểu Pháp, trần xi măng cốt
thép, mái lợp ngói tây chống nóng, nền lát gạch men hoa. Hai dãy nhà ngang đối
nhau qua cái sân rộng lát gạch Bát Tràng được cánh thợ Nam Định dựng hơn một
năm mới hoàn công. Hai tòa nhà này, trừ mái ngói âm dương còn toàn bộ kiến trúc
đều bằng gỗ kể cả sàn và ván thưng bốn chung quanh. Đây là kiểu nhà do chính họ
Khúc thiết kế. Hắn đã khéo léo kết hợp hai phong cách kiến trúc Âu á để tạo ra
một sản phẩm khá lạ mắt ở làng Cùa. Các ngài chức sắc hễ có dịp ra đình ngồi với
nhau là dè bỉu vệ Đàm đài các rởm. Khúc Đàm biết tỏng bọn này ngoài miệng chê
bai nhưng trong lòng thì ghen tức, càng tìm cách trêu ngươi.
Được hơn một năm, sau khi làm xong toàn bộ dinh cơ, Khúc Đàm
ra tranh chức lý trưởng làng Cùa. Bọn hào mục ghét họ Khúc bèn đệ đơn trình
quan phủ tố cáo bố đẻ Khúc Đàm trước đây là trùm cướp, hoành hành khắp vùng Ba
Tổng, quấy nhiễu dân lành. Tri phủ Đỗ Khánh vốn là một gã vô học nhưng lại là
cháu họ quan Khâm sai Bắc Kỳ, được sung chức do hối lộ chứ không có thực tài, rất
hách dịch. Nhận được đơn, Đỗ Khánh nổi giận, gửi trát đòi Khúc Đàm lên phủ đường
để trị thói chơi trèo và dạy cho bài học về tôn ti trật tự. Mãi trưa hôm sau
Khúc Đàm mới cưỡi ngựa đến trình diện. Hắn nghênh ngang bước vào công đường,
không chắp tay vái mà chỉ khẽ gập đầu chào làm Đỗ Khánh tím mặt.
- Tên kia có phải Khúc Đàm làng Cùa?
Khúc Đàm bấy giờ mới chắp tay hỏi:
- Quan lớn cho gọi chúng tôi lên đây có việc gì ạ?
Viên tri phủ cầm phiến đá chặn giấy đập đến chát một cái xuống
bàn, dõng dạc bảo:
- Có đơn của hội đồng kỳ mục làng Cùa kiện nhà anh về tội mạo
phạm ra tranh chức lý trưởng.
Khúc Đàm cười nhạt:
- Bẩm quan lớn, tôi ra tranh cử lý trưởng là căn cứ vào các
điều khoản quy định trong văn bản hướng dẫn của văn phòng thống sứ Bắc Kỳ và
ngài khâm sai đại thần thay mặt chính phủ Nam triều năm Mậu Tý, sao lại gọi là
mạo phạm?
Đỗ Khánh đập án quát:
- Anh này lý sự gớm. Anh có biết vì sao người làng đệ đơn tố
cáo không? Nói cho mà biết, chính là vì bố anh trước đây làm quân đạo tặc.
Khúc Đàm không hề thay đổi sắc mặt khi nhìn thấy vẻ hí hửng của
viên tri phủ. Hắn thong thả rút trong túi ra tấm "Anh dũng bội tinh"
và tấm bằng tưởng thưởng công lao của trung sĩ Khúc Đàm trong Đại chiến thế giới
đối với nước Đại Pháp, đặt trước mặt viên thừa phái rồi hất hàm bảo:
- Ông đọc lên cho quan lớn nghe xem những thứ này có đủ tư
cách bảo lãnh cho chiếc triện đồng không?
Nhìn thấy những thứ ấy, khuôn mặt Đỗ Khánh trở nên trắng bệch.
Viên thừa phái thì thầm vào tai ông ta mấy câu, ngài tri phủ vội đứng lên rời
khỏi bàn, bước lại gần Khúc Đàm, hơi cúi đầu, nói nhỏ:
- Chuyện này quả thực bản chức không biết. Ông cứ về chuẩn bị
nhận việc, còn cánh lý Lượng cứ để tôi trị.
Cầm triện đồng trong tay rồi, lý Đàm bắt đầu củng cố vây cánh
mà việc đầu tiên là vận động cánh kỳ hào bầu Khúc Kiệt làm chánh hội. Khúc Kiệt
biết tin bảo các con:
- Ta thà chết đói còn hơn bám đít Tây kiếm bơ thừa sữa cặn.
Khúc Đàm tức lắm mắng em trai là đồ ngu. Ông em vốn tính gàn,
xưa nay không chịu luồn cúi ai, nhà nghèo rớt nhưng cậy có tí chữ, coi thiên hạ
bằng nửa con mắt.
Bẩy năm sau, tuy chưa đến tuổi bốn mươi mà Khúc Đàm đã giữ
triện đồng hàng tổng, danh tiếng nổi như cồn nhưng vẫn chưa có con trai. Trước
khi hắn viễn chinh sang Pháp, bà hai Thỏa đã đẻ được Khúc Thị Hài nhưng mắc chứng
khoèo tay bẩm sinh. Nhìn con bé dị dạng, Khúc Đàm ghét lắm, vì thế ghét luôn cả
vợ. Chưa có người nối dõi tông đường, chánh Đàm rất sốt ruột. Cũng từ đấy lão
nghĩ đến chuyện cưới bà ba.
Chú thích:
[1] Cháo thí là tục cúng vong hồn
thập loại chúng sinh của các làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ vào tối ngày rằm
tháng bảy âm lịch
[2] Người ta không thể chống lại được
mệnh trời.
[3] Mút: một loại súng trường cổ của
Pháp (mousqueton)
[4] Nhà đoan: Cơ quan thu thuế của
thực dân Pháp tại Đông Dương trước năm 1945.
[5] Mút: Một loại súng trường cổ của
Pháp.
[6] Rê minh tơn: Một loại
súng trường Anh.
[7] Ách di đăng: Cấp bậc
chuẩn úy trong quân đội Pháp.
Chương 2
1. Lê Văn Vận là chàng lực điền khỏe mạnh, cha mẹ mất sớm, không
tấc đất cắm dùi, kiếm ăn bằng nghề thả lưới trên sông Lăng. Về nguồn gốc của Vận
không ai rõ. Có tin đồn, cha mẹ Vận cũng là thuyền chài ở mãi vùng Ngã Ba Môi,
năm ất Mão người chồng lặn xuống vụng Giải tìm của nửa ngày không lên, bà vợ
nóng ruột nhảy xuống cứu cũng mất tích. Dân chài từ lâu có tục thả nồi đồng,
mâm đồng, chậu thau đồng xuống những vực nước sâu dọc triền sông Lăng. Cách để
của khá độc đáo này có cái lợi là không phải mang theo thuyền, đỡ cồng
kềnh và đặc biệt không thể mất trộm. Tuy nhiên cái hại của nó thì không lường
được. Vực sông thường là những xoáy nước cuồn cuộn với sức hút ghê gớm, phải là
người lặn giỏi, bền sức vào cữ giêng hai mới lấy những thứ đã giấu lên được. Muốn
"của" an toàn, hàng năm gia chủ phải sắm lễ vật cúng thần sông vào
ngày rằm tháng bảy. Cái vụng nước mà bố mẹ Lê Văn Vận lặn xuống, trước đã có thằng
bé chết đuối lúc cưỡi trâu bơi qua sông. Mãi sau này người ta mới biết, nó bị
dòng nước hút xuống đáy sông, xoay tròn như cối xay lúa rồi chui tọt vào cái nồi
đồng điếu to đại, mắc cứng ở đó không nổi lên được. Thằng bé chết bất đắc kỳ tử
nên rất thiêng, cứ mỗi năm đến mùa lũ nó lại bắt một người.
Trở thành kẻ mồ côi, Lê Văn Vận tiếp tục nghề sông nước trên
con thuyền nát và mấy tay lưới của cha mẹ để lại. Hôm ấy trời bất chợt đổ mưa.
Sông Lăng chỉ là một chi lưu của sông Yên nhưng trên thượng nguồn có lũ nên nước
về rất nhanh. Sóng vỗ oàm oạp, cuồn cuộn đuổi nhau. Mặt sông mở rộng ra, chưa đầy
nửa giờ đã nhấn chìm những bãi chuối hột và cả những vạt tre chắn sóng dưới làn
nước đỏ quạch phù sa. Chẳng hiểu sao, sóng to gió lớn như thế mà lão lái Tình
dám cho đò qua sông. Từ trên đê, Vận hồi hộp theo dõi số phận con đò, trong bụng
không dám chắc nó có thể bình yên cập bến dù lão ma rượu này là một tay chèo cự
phách. Và điều tệ hại đã xảy ra. Trong cuộc vật lộn tuyệt vọng giữa cái sống và
cái chết, nếu không phải một gã dân chài quen nghề sông nước như Lê Văn Vận thì
bà Ba khó lòng thoát khỏi nanh vuốt của thuỷ thần. Sau trận đắm đò xuýt chết,
chánh Đàm cấm Thị Lánh đi chợ xa. Lão cho mời lang Vị, một thầy thuốc nổi tiếng
trong vùng đến nhà bắt mạch, bốc thuốc bồi dưỡng sức khoẻ cho bà Ba. Thị Lánh vốn
có thuật mê hoặc đàn ông. Trong lúc ái ân, cô ta giở đủ mánh khoé nhà nghề buộc
chánh Đàm phải làm theo ý mình. Họ Khúc si mê người đàn bà đến mức gần như quên
hẳn trên đời còn có bà Cả, bà Hai. Các bà trước đây sống với nhau như chó với
mèo, giờ tự nguyện liên minh thành một khối để đối phó lại với kẻ thù của mình
mà bà Cả Huê vẫn gọi là "con hồ ly tinh". Mọi việc thu chi trong nhà
giờ thuộc quyền Thị Lánh. Cô ta phớt lờ hai bà chị nhưng lại đối xử khá rộng
rãi với tá điền. Những gia đình nghèo quá đôi khi cô ta còn vượt mặt Khúc Đàm
tha hẳn địa tô.
Năm ấy, vùng Ba Tổng được mùa. Trai gái làng Cùa, Mạc Điền, Đậu
Khê và Bối Khê rủ nhau trảy hội xuân vào ngày mồng sáu tháng giêng. Phần quan
trọng nhất là lễ đền Vân Nương đã có các chức sắc hàng tổng mà đứng đầu là
chánh Đàm đảm nhiệm. Thanh niên nam nữ rủ nhau ra bãi sông chơi đu, đấu vật,
kéo co, bắt vịt và leo cây chuối. Sân chơi là một khu bãi rộng hàng chục mẫu chạy
dọc ven đê, vì chưa đến vụ gieo trồng nên cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ chân chim, cỏ mật mọc
chen nhau, mịn màng chẳng khác gì một tấm thảm xanh. Đây đó điểm xuyết những
đoá cúc dại vàng sẫm hoặc vài bụi tầm xuân xoè những cánh mỏng phơn phớt hồng
ngời lên trong ánh ban mai. Chếch về phía nam một chút, nơi tiếp giáp với bãi cỏ
và cánh đồng Mả Dứa là đầm Ma. Cạnh đầm Ma có một gò đất chừng hơn trăm mẫu nhô
lên như quả đồi thấp, mọc chen chúc đủ các loại cây, chẳng biết do con người trồng
hay đã có từ bao đời trước mà rậm rạp, xanh tốt như một khoảnh rừng. Chim chóc,
cò vạc từ khắp nơi, vượt sông Lăng kéo nhau về làm tổ, chiều chiều lại vỗ cánh
ràn rạt bay đi kiếm mồi. Người làng Cùa coi khu rừng là một thế giới hoang vu,
huyền bí, thậm chí còn là nơi cư ngụ của phần lớn ma quỷ trong vùng. Chỉ có lũ
trẻ trâu, bọn đánh giậm, dân móc cua, câu ếch chẳng biết sợ là gì. Chúng ngang
nhiên vào rừng leo lên cây lác bắt chim, rung tổ để cò con rơi xuống. Có thằng
còn dùng ống xùy đồng bắn được một con chim mào đỏ, lông sặc sỡ, đuôi dài như
đuôi công. Ông Cửu Mẫn, một thầy phù thuỷ chuyên tróc ma quỷ về quẫy nhiễu dân
làng bảo đó là loài phượng hoàng. Bố mẹ thằng bé sợ quá, vụt cho nó mấy roi rồi
thả con chim ra. Người ta đồn gần đây trong rừng có nhiều sự lạ. Ông Tiên Nhũ
là dân thiến lợn rong khắp tổng bảo, một lần vào đấy tìm lá mộc hương bắt gặp
người đàn bà trẻ, rất xinh đẹp, tóc trắng như bông, ngồi vắt vẻo trên sợi dây
leo giữa hai cây báng cổ thụ lắc lư đưa võng. Nhìn thấy Tiên Nhũ,
con ma bật cười sằng sặc làm lão chết khiếp mãi đến chiều mới tỉnh lại.
Còn bà Đồng Dự mắt toét chuyên lừa bịp con nhang đệ tử, thì thề sống thề chết
đã có lần được "Mẫu" gọi lên rừng trao cho thứ quả nhỏ như quả quýt,
ăn vào có thể chữa được bách bệnh. Ra đến cửa rừng chẳng may gặp con rắn mười
hai mào phun phè phè thè ra cái lưỡi đỏ lòm, bà ta sợ quá, chạy bán sống, rơi mất
quả "thuốc quý".
Cũng như mọi năm, hội làng bao giờ cũng bắt đầu bằng việc rước
tượng Vân Nương, một dâm nữ bị thả bè trôi sông đã gây ra tấn thảm kịch cho
làng. Chuyện xưa kể lại, ngày ấy làng Đậu có một cô gái xinh đẹp là Thị Vân,
con hoang của một mụ hành khất vẫn thường qua lại ăn xin vùng Ba Tổng. Lý trưởng
làng Cùa rất ghét phường du thủ du thực hay ăn lười làm, hễ thấy ăn mày đến là
đuổi như đuổi tà. Hôm ấy, hai mẹ con Thị Vân tay bị tay gậy, nón mê áo rách vừa
vào cổng nhà lý Thìn đã bị cả đàn chó xổ ra bâu xung quanh. Chó nhà lý Thìn
toàn loại dỏng tai, cao to và dữ dằn như hổ báo. Chúng nhe nanh nhọn trắng nhởn,
thè cái lưỡi đầy gai, làm lớp da mõm co lại, kéo những sợi râu mép vểnh ngược
lên trong tư thế bị kích động, cổ họng phát ra thứ âm thanh gừ gừ uy hiếp, sẵn
sàng lao vào cắn xé. Trong giây phút hiểm nguy, người mẹ sử dụng cây gậy như một
thứ vũ khí tự vệ khá hiệu lực. Chiếc gậy lăm lăm trong tay, bà già thủ thế, thỉnh
thoảng lại vụt trúng mõm một con. Nhát vụt của người mẹ hành khất ốm yếu hầu
như không mấy tác dụng đối với sức mạnh tổng lực của đàn khuyển béo tốt và tuyệt
đối trung thành với chủ. Sau một hồi cầm cự, sức lực của bà lão đuối dần, cuối
cùng, con đầu đàn có chiếc bờm vàng cháy như bờm hổ dùng hàm răng cứng như sắt,
giật được cây gậy tạo cơ hội cho cả bầy lao vào mẹ con Thị Vân. Người mẹ bị đàn
chó xé toạc tấm áo đụp, cắm những chiếc nanh nhọn vào tấm thân gầy còm trơ
xương sườn như cách hạ sát con mồi của lũ sư tử đói. Chỉ một thoáng, người đàn
bà hành khất chỉ còn là một khối bùng nhùng nhầy nhụa máu. Giữa cơn bấn loạn,
con bé sợ quá nhắm mắt thét lên mấy tiếng như tiếng tru của bầy sói hoang vào
những đêm trăng giá lạnh. Tiếng thét nghe thê thảm bởi thứ âm sắc hoang dã thậm
chí rùng rợn làm lũ chó cụp tai, run lên bần bật, rồi nhất loạt bỏ xác chết,
cúp đuôi chạy vào nhà.
Đứa bé gái được một cặp vợ chồng không con nhận nuôi sau này
trở thành cô gái đẹp nhất làng. Đến tuổi trăng tròn, cô ta không lấy chồng mà
dùng nhan sắc của mình chài hết lượt đàn ông nhất là bọn chức việc có vai vế.
Các bà vợ có máu sư tử Hà Đông lồng lộn như con thú bị nhốt trong chuồng bỏ đói
lâu ngày. Cánh trai làng vác gậy nện nhau còn gia đình lý trưởng, phó lý, chánh
hội, chưởng bạ thường xuyên lục đục, và cứ mỗi lần như thế các bà lại bị đức
ông chồng thượng cẳng chân hạ cẳng tay thâm tím mặt mày. Làng Cùa dậy lên làn
sóng phẫn nộ đòi lý trưởng phải trừng phạt con dâm nữ bằng cách thả bè trôi
sông. Lý trưởng là gã máu dê đã nhiều lần mò đến ngủ qua đêm với cô con gái người
hành khất, định giải cứu người tình nhưng không thoát. Thị Vân bị trói vào bè
chuối. Tấm biển ghi tội "lẳng lơ, quyến rũ đàn ông làm bại hoại
thuần phong mỹ tục" cắm ngay dưới chân. Chiếc bè bập bềnh trên sóng lắc lư
giữa dòng nước đục ngầu. Dân làng đổ ra xem như đi hội. Đàn ông lén lau nước mắt.
Đàn bà hả hê ra mặt. Vậy là từ nay làng Cùa trừ được một con yêu tinh. Trôi gần
đến vụng Giải, chiếc bè tự nhiên dựng ngược rồi bị hút vào xoáy nước. Cũng thời
khắc ấy, trời bỗng nhiên tối sầm. Từ đâu đó vọng về những tiếng nổ lụp bụp kéo
dài thành chuỗi lúc xa lúc gần, rồi một trận mưa sầm sập trút xuống trắng cả
vùng Ba Tổng. Trận mưa tai ác kéo dài ba ngày ba đêm làm vỡ bảy quãng đê nhấn
chìm làng Cùa giữa một đại dương mênh mông là nước. Các vị chức sắc là những kẻ
đầu tiên làm vật hiến tế cho cơn thịnh nộ của thuỷ thần. Tiếp theo là đàn bà
con gái nhất là những kẻ từ lúc mới sinh ra đã nhiễm thói ghen ngược. Trai
tráng vốn dai sức, bằng mọi phương tiện có được, họ dìu nhau đến được rừng Hóp
nên phần lớn qua khỏi cơn hồng thuỷ. Mấy hôm sau nước rút, bà phó Đễ, một trong
bảy phụ nữ sống sót, được thần nhân báo mộng:
- Dân làng Cùa phạm tội lớn, dám hành hình nữ thần bảo hộ hạt
Ba Tổng thác sinh làm con gái người hành khất. Muốn thần không giáng hoạ phải lập
miếu thờ. Trong miếu tạc một pho tượng phụ nữ khoả thân nằm nghiêng trên khám
sơn son thiếp vàng. Hàng năm cứ đến ngày mồng sáu tháng giêng mở hội rước thần
chủ ra sông tắm rồi lại khiêng vào miếu. Tám người khiêng kiệu phải là gái chưa
chồng nhưng đã mất trinh. Làm được như thế Vân Nương sẽ khiến cho mưa thuận gió
hòa, mùa màng bội thu.
Đây là lễ hội đông vui nhất vùng Ba Tổng. Ngoài việc tắm tượng
cầu mát, các nam thanh nữ tú còn có nhiều trò du hí. Chơi đu bắt đầu bằng ba cặp
nam nữ. Nam áo the, quần chúc bâu, khăn xếp. Nữ áo tứ thân, váy đũi,
thắt lưng xanh, tóc bỏ đuôi gà. Những chiếc đu vừa đủ chỗ cho bốn bàn chân đặt
sát nhau, được cố định bằng tám cây tre đực già vừa dài vừa thẳng đặt chéo
nhau, gốc chôn xuống đất ngọn néo chặt, xuyên gióng ngang. Dây đu cũng bằng tre
nhưng là cây tre bánh tẻ vừa dẻo vừa mềm, văng suốt mấy ngày hội vẫn an toàn.
Khi đôi bạn đã nhún đu đến tốc độ cần thiết, do quán tính, nó cứ văng đi văng lại
theo một hành trình mỗi lúc một cao làm cho người ta có cảm giác lâng lâng như
là đang bay lên trời bằng cặp cánh của chính mình. Đu bay, gió vờn những tà áo
tứ thân xanh đỏ rực rỡ như cánh cào cào giã gạo. Váy lĩnh của các cô con nhà giầu
phồng lên như những chiếc nơm. Mỗi khi dây đu đổi chiều, gió đẩy ngược, gấu váy
tốc lên quá đùi phô ra phần da thịt nõn nà rất trần tục mà lại vô cùng bí hiểm.
Bà Ba xuất hiện ở hội từ ngày đầu tiên với tất cả sự háo hức
của một cô gái trẻ đa tình. Vào dịp hội hè, chánh Đàm không giữ vợ ở nhà mà có
giữ cũng chẳng được. Cô ta sẽ tìm trăm phương ngàn kế để thoát khỏi sự kiềm toả
nặng tính gia trưởng của lão già cả ghen. Lúc vào đu, bà Ba được xếp cặp với
con trai chánh hội Hạp. Tay này là một gã bạo gan, vừa nhún bàn đu vừa thò tay
bóp vú người đẹp. Bà Ba nghiêm mặt bảo:
- Này! của bụt mất một đền mười, đừng tưởng bở.
Hắn lim dim cặp mắt lươn, hếch cái mũi sần lốm đốm những mụn
trứng cá bỡn cợt:
- Trước khi ra hội, đây đã vào chùa thắp hương. Đức phật dạy,
oản thiên hạ ngon lắm, lộc trời cho tội gì không nếm thử.
- Thôi đi, đồ nỡm...
Hắn cười hềnh hệch tiện tay kéo dải thắt lưng nhiễu tím của
bà ba. Động tác kéo không phải là cố ý nhưng do phản ứng giới tính, Thị Lánh sợ
bị tuột váy vội rút tay giữ thắt lưng. Chỉ một thoáng bất cẩn, cây đu mất thăng
bằng làm bà ba chới với tuột tay rơi xuống… Tính mạng bà Ba lúc này
là ngàn cân treo sợi tóc. Những người đứng xem chưa biết xử trí ra sao, không
ít các bà các cô phải nhắm mắt chờ một kết cục tất yếu, thì bất chợt một chàng
thanh niên phi thân như một mũi tên đỡ được Thị Lánh vừa rơi trúng tầm tay. Cả
hai cùng ngã, tất nhiên là cú ngã không hề êm ái chút nào nhưng nó đã cứu được
tính mạng vợ ba chánh tổng. Bấy giờ mọi người mới xúm lại xem chàng trai liều
lĩnh ấy là ai. Thật không thể nào tin được lại chính là gã thuyền chài Lê Văn Vận.
Lần này chánh Đàm sai bà Cả Huê đích thân mang lễ xuống thuyền
tạ ơn anh thuyền chài. Thị Lánh tuy còn đau vì tay trật khớp những vẫn đòi đi
theo. Trong cuộc diện kiến dưới khoang thuyền chật hẹp nồng nặc mùi cá, bà Ba
nhìn thân hình vạm vỡ với những bắp thịt săn nổi cuồn cuộn của Lê Văn Vận bất
giác thở dài, thỉnh thoảng lại liếc mắt đưa tình. Anh này từ bé đến lớn chưa bao
giờ được ánh mắt đàn bà ve vuốt khiến khuôn mặt ngăm ngăm nóng bừng, tim đập
thình thịch còn miệng thì lúng búng không nói lên lời. Khi khớp tay khỏi, bà Ba
lấy cớ đi thăm ruộng đồng Quan, ra sông Lăng tìm gặp ân nhân đã hai lần cứu mạng.
Hôm ấy, Lê Văn Vận vừa thu lưới định mang cá lên chợ, bà Ba xin mua hết rồi trả
số tiền gấp hàng chục lần giá trị thực của nó. Sau phút lúng túng đầu tiên, Lê
Văn Vận trở nên bạo dạn bởi cái nhìn đầy ý nghĩa của người đàn bà đẹp. Hắn bảo:
- Chỗ cá hôm nay không đáng là bao, xin biếu bà Ba, lần sau sẽ
lấy tiền.
Thị Lánh chợt thoáng một ý trong đầu:
- Anh Vận có muốn làm rể ông Chánh không ?
Chàng ngư phủ giật mình lắc đầu:
- Bà Ba cứ đùa. Tôi là phận đũa mốc đâu dám chòi mâm son.
Bà Ba liếc Vận cười khẽ, chiếc răng khểnh phô ra trắng loá
làm gương mặt xinh đẹp có chiếc cằm lẹm ngời lên dưới ánh nắng sớm.
- Anh hãy tin tôi. Ai lại nói đùa một chuyện hệ trọng như thế.
Mọi việc cứ để tôi lo. Có điều con bé hơi bị khoèo…
Đêm hôm ấy, lúc đi ngủ, bà Ba bảo chánh Đàm:
- Con Hài nhà mình sắp mười bảy, cũng nên tìm nơi chốn cho nó
thành gia thất.
Chánh Đàm từ lâu vẫn ấm ức vì cô con gái tật nguyền nay thấy
vợ nói chuyện gả chồng, lão nhấm nhẳng bảo:
- Có mấy đám dạm hỏi nhưng đều chẳng ra gì. Nhà phó hội Lẫm
thì môn đăng hộ đối đấy nhưng thằng con lại dở người, thỉnh thoảng lăn quay ra
như phải gió. Ngữ ấy chỉ có hầu nó suốt đời, khổ con gái mình. Còn thằng Đẩu
nhà lý Cựu mới tý tuổi đầu đã nghiện thuốc phiện, người như hình nhân thế mạng.
Của ấy chắc gì sống được đến ba chục tuổi. Vậy mà lão Cựu chẳng biết điều, đòi
hồi môn những ba chục đồng, bà nghĩ xem có quá đáng không. Thà để con Hài ở vậy
còn hơn.
Thị Lánh nắm được tâm lý chồng. Lão vốn keo kiệt, rất xót ruột
khi phải đem gia sản cho người khác, liền bàn:
- Con bé mang tật bẩm sinh như thế ông mà kén chàng rể môn
đăng hộ đối thì có mà sạt nghiệp. Tôi nghĩ, ông nên bàn với bà Cả, bà Hai chọn
một thằng tá điền nào hiền lành, tử tế gả quách cho nó nên vợ nên chồng là hơn.
- Tôi đã tính đến chuyện ấy nhưng nghĩ đi nghĩ lại vẫn thấy
không ổn. Mình đường đường là chánh tổng đương chức, làm thế bọn đàn em nó coi
thường.
- Ở đời không thể chu toàn mọi nhẽ . - Bà Ba thuyết phục -
Trong hai điều ấy chỉ có thể chọn một mà thôi. Hay là ông muốn con bé chết già ở
nhà họ Khúc?
-Ý bà thế nào ?
- Còn thế nào nữa. Cưới xong cho nó ở rể, chẳng những không mất
con gái mà còn được thêm sức lao động, khác gì người ở.
Chánh Đàm xem ra đã xuôi ướm hỏi vợ:
-Thế ... bà đã nhắm đứa nào chưa?
- Có thì có rồi nhưng phải hỏi ý kiến bà Cả.
Khúc Đàm gắt:
- Bà Cả, bà Cả, quên con mụ "điếc" ấy đi. Tôi là bố
nó lại không gả chồng cho nó được à?
-Ấy là tôi nói thế để việc nhà trong ấm ngoài êm.
- Cứ tán hươu vượn mãi, nó là đứa nào?
- Chính cái tay thuyền chài đã cứu tôi mấy lần ấy. Anh ta
không cha mẹ, lại khoẻ mạnh, hiền lành, hợp ý ông quá rồi còn gì.
- Để xem xem đã... Nó là dân hạ bạc sợ không quen việc đồng
áng.
- Còn xem gì nữa. - Bà Ba gắt khẽ - Đám ấy được đấy. Còn việc
cày bừa, dần dần rồi sẽ quen, lo gì.
Mấy hôm sau chánh Đàm bàn với bà Cả Huê. Nói là bàn nhưng thực
chất là việc đã được quyết định từ trước. Bà Cả Huê tím mặt biết thừa đấy là âm
mưu của "con yêu tinh" nhưng đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
Chánh Đàm vốn sẵn máu gia trưởng, lão đã quyết định việc gì thì ngay cả hàng chức
sắc trong tổng cũng răm rắp thực hiện không ai dám bàn ra tán vào. Mẹ con bà
Hai gần như là người thừa trong gia đình họ Khúc. Bà Hai tuy cũng sắc sảo chẳng
kém ai nhưng vì thân phận lẽ mọn, bị chèn ép từ nhiều phía nên lép vế. Việc gả
chồng cho Khúc Thị Hài là sự kiện lớn, ấy vậy mà bà ta chỉ được Khúc Đàm thông
báo như một mệnh lệnh. Bà Ba được chồng giao trách nhiệm làm tín sứ thăm dò phản
ứng của anh thuyền chài, bước xuống bãi ngô, nách cắp thúng, tay vung vẩy như
người đi chợ. Sông Lăng mùa này nước lặng. Những vạt sóng lăn tăn đuổi nhau vỗ
óc ách vào kè đá. Từ ngã ba Môi, đoàn thuyền đá nối nhau ngược dòng về bến
Trung Hà. Mấy hôm nay gió đổi chiều những cánh buồm nâu sẫm hoặc mận chín đã được
cuốn lại. Cánh dân phu cởi trần, tì sào vào ngực, đẩy cho con thuyền nhích dần
từng bước. Đó là những chàng trai khoẻ mạnh ngực vồng lên như đô vật, vừa chống
thuyền vừa hò một điệu dân ca nghe rất lạ tai. Những câu hò hoàn toàn ngẫu hứng,
trầm trầm, thoát ra một cách khó nhọc từ những lồng ngực vạm vỡ bị chùm dây
chão níu lại.
Bà Ba phải chờ khá lâu vì chàng ngư phủ đi gỡ lưới chưa về.
Ngồi trên mom sông lơ đãng ngắm những con thuyền xuôi ngược, tưởng như rất bình
thản, nhưng thực ra lòng dạ Thị Lánh đang nghĩ về những chuyện mới xảy ra gần
đây. Có phải đấy là mối lương duyên nên anh ta đã hai lần cứu mình ? Liệu
"người ta" có bằng lòng làm rể ông Chánh ? Cuộc hôn nhân này có lợi
cho ai ? Con thuyền câu vào lạch sông. Lê Văn Vận đã nhìn thấy Thị Lánh từ xa.
Anh ta buộc thuyền rồi xách giỏ nhảy lên bờ.
- Bà Ba ra mua cá ?
Thị Lánh liếc mắt tình tứ nhìn anh thuyền chài:
- Chuyện tôi nói hôm trước anh nghĩ kỹ chưa ?
Lê Văn Vận nhìn bà Ba ngập ngừng:
- Tôi sợ ông Chánh lắm. Trai vùng Ba Tổng thiếu gì mà ông ta
lại gả con gái cho một gã quăng chài. Hay là có chuyện uẩn khúc ?
- Chắc anh nghe người ta bàn tán nhiều về ông Chánh ?
- Cô hỏi thế là thế nào ? - Vận bắt đầu gọi bà Ba bằng cô.
- Chẳng thế nào cả. - Thị Lánh bất ngờ cầm tay Lê Văn Vận,
nhìn thẳng vào mắt anh ta - Đừng nên bỏ qua dịp may tự nhiên đến với mình. Với
người dưng, một ngày còn nên nghĩa huống hồ anh đã hai lần cứu tôi.
Câu nói cuối cùng khiến Lê Văn Vận nghe ra.
Ít lâu sau, chàng ngư phủ nhờ bà Hai Cõn, người xóm Chùa mang
trầu cau đến nhà chánh Đàm dạm hỏi Khúc Thị Hài. Chánh Đàm nhìn anh con rể
tương lai khoẻ mạnh, tướng mạo khác người trong bụng cũng phần nào bớt đi nỗi
ngượng ngùng với xóm làng. Lão ra điều kiện cưới xong phải bỏ hẳn nghề sông nước
về ở rể. Mẹ con bà Hai mừng như bắt được vàng. Điều này cũng đúng với lẽ tự
nhiên. Một cô gái tật nguyền bẩm sinh, dù là con nhà chánh tổng đi chăng nữa
cũng chẳng thể treo cao giá. Già kén kẹn hom, ế là cái chắc. Người hậm hực nhất
là bà cả Huê. Bà có linh cảm, cuộc hôn nhân này dữ nhiều lành ít, vì từ lâu bà
đã nhìn rõ tâm địa Thị Lánh.
Trước ngày cưới ít lâu, hôm ấy chánh Đàm cưỡi ngựa lên huyện
từ sớm trình quan về việc tu bổ đê kè, bà Ba xách làn hương hoa và nải chuối ra
miếu Vân Nương. Lễ xong Thị Lánh ra mom sông. Lê Văn Vận cắm sào đang nấu nướng
trong thuyền. Mom sông lúc này không một bóng người. Không gian tuyệt đối yên
tĩnh. Gió từ cồn Vành thổi sang lật lá ngô ràn rạt. Nước lũ từ thượng nguồn bắt
đầu về đỏ hồng dưới ánh nắng nhạt. Lánh rón rén bước xuống sạp thuyền làm Vận
giật mình:
- Kìa ! Bà Chánh.
Thị Lánh đặt làn vào khoang thuyền bảo:
- Hôm nay anh Vận phải trả công cho tôi ...
Chàng ngư phủ nhìn ánh mắt của người đàn bà, hiểu ngay nhưng
vẫn ỡm ờ:
- Tôi nghèo lắm, chỉ có mỗi con thuyền rách.
- Có đấy, chàng Trương Chi ạ - Bà Ba xáp lại gần chàng trai,
giọng thì thầm - Chàng phải giúp em, nếu không em sẽ bị đuổi khỏi nhà ông
Chánh. Mà đến nước ấy chỉ còn cách nhảy xuống sông.
- Cái gì ? Cô nói gì ? Vận bất ngờ nắm bàn tay
Lánh hỏi gấp gáp.
- Em cần một đứa con trai.
Vận lặng lẽ gật đầu rồi lùa tay vào chiếc yếm lụa mân mê hai
bầu vú nóng hổi của bà Ba. Người đàn bà ưỡn ngực ép sát vào Lê Văn Vận, đẩy anh
ta ngã xuống sạp thuyền rồi trườn lên bụng như một con rắn. Anh thuyền chài ôm
ngang vai bà Ba, ghì riết làm cô ta gần như nghẹt thở, không phải bởi đôi cánh
tay vạm vỡ của người thanh niên chưa từng trải mùi đời, mà bởi sự đụng chạm xác
thịt sau một phản ứng dây chuyền kích thích sự hưng phấn đến tột đỉnh của phần
nhạy cảm nhất, vi diệu nhất trong tâm hồn. Tấm váy lụa tuột ra và Lê Văn Vận đã
lật người trèo lên bụng cô ta như thế nào cả hai đều không nhớ nữa, chỉ biết
khi Thị Lánh cầm chiếc dương vật đã cứng lên, thẳng đuỗn như thanh sắt nguội của
chàng ngư phủ ấn mạnh và âm hộ bằng một động tác khá thuần thục thì đất trời dường
như tối sầm lại. Mặt sông Lăng bất chợt nổi sóng. Con thuyền chòng
chành theo một vũ điệu kỳ quái bởi sự cộng hưởng của cả hai loại dao động, một
trong thuyền, một ngoài thuyền. Cơn mây mưa qua đi, con thuyền đã bớt rung lắc,
bà Ba mặc lại váy thắt dải lưng bằng nhiễu tam giang, cắp thúng bước lên bờ lẩn
vào vườn chuối.
Đám cưới Lê Văn Vận và Khúc Thị Hài được tổ chức
theo nghi lễ truyền thống với đầy đủ các nghi thức diệu vợi của của vùng Ba Tổng
trừ công đoạn đưa dâu. Chàng ngư phủ không cha mẹ, không họ hàng thân thích
nhưng bà Cả Huê đã chọn được một dàn diễn viên đóng thế tuyệt vời để che mắt
thiên hạ. Không ít các vị chức sắc trong hạt biết rõ mười mươi Lê Văn Vận là gã
thuyền chài gặp vận đỏ mà vẫn bán tín bán nghi, hay là hàng xứ đồn nhảm về thân
phận anh ta. Lê văn Vận trong trang phục ngày cưới: áo the, khăn xếp, quần ống
sớ còn nguyên nếp gấp bên cạnh cô vợ khoèo tay lần lượt ra mắt quan khách. Khúc
thị Hài mắc áo mớ ba, váy lụa Cẩm La, tóc đuôi gà. Cánh tay tật nguyền gập lại
một bên nách, bàn tay cứ ngọ nguậy mỗi khi hai vợ chồng tiến lui giữa các mâm
rượu.
Phó lý cựu Phạm Kiền là tay thầy cò lắm mưu nhiều kế, thù
chánh Đàm đến tận xương tuỷ sau vụ tranh chấp chức lý trưởng cũng được mời,
nhìn quang cảnh đám cưới, bĩu môi bảo với thày đồ Sách người xóm Chùa:
- Ông tính xem, sau cái trò cưới xin bịp bợm này lão Chánh
còn giở thêm chiêu gì nữa ?
Đồ Sách nghèo kiết xác lại tham ăn chẳng cần để ý đến lời xỏ
xiên của ông phó lý Cựu, chỉ chăm chăm vào mấy đĩa thức ăn, miệng nhồm nhoàm
nhai, tay gắp lia lịa, thỉnh thoảng lại tợp một ngụm rượu. Cựu Kiền nhìn Đồ
Sách cười nhạt:
- Ông có nghe tôi nói không đấy ?
- Có chứ. - Thầy đồ nuốt vội miếng cổ hũ. Miếng thịt thái to
quá, lão xuýt bị nghẹn - Mà ông bảo cái gì nhỉ ?
Ông Cửu Biềng, người xóm Đình đã có thời làm phó tổng, từ đầu
bữa vẫn chăm chú nghe câu chuyện của phó Cựu, bấm tay lão nói nhỏ:
- Phú quý sinh lễ nghĩa, ông còn lạ gì trò đời. Đừng bàn đến
chuyện ấy nữa. ở đây tai vách mạch rừng...
- Tôi đếch sợ. Chúng nó có giỏi ...
- Thôi xin ông. Khi nào rảnh rỗi, mời ông Cựu đến nhà tôi, ta
nói chuyện.
Thực khách vừa đánh chén vừa nói chuyện râm ran. Phía cuối rạp,
phường bát âm thỉnh thoảng lại tấu nhạc. Đám nhạc công gồm ba ông già và một bà
còn trẻ nghe nói mời tận trên tỉnh về. Mở đầu, dàn nhạc tấu bản "Quan trạng
vinh quy" theo điệu "Xuân tình". Người phụ nữ trung
niên vừa ôm đàn nhấn những phím đầu tiên cả rạp bất chợt dừng đũa, lặng đi. Những
âm thanh trầm đục như tãi ra giống tiếng trống trận làm nền cho một đoạn cao
trào khởi phát ở một quãng rất cao rồi dừng đột ngột. Cử toạ sừng sờ nghĩ rằng
một dây bị đứt. Nhưng không phải. Khoảng lặng vừa đủ độ dừng, một hợp âm ngọt
ngào với kỹ thuật nhấn nháy điêu luyện bất chợt rung lên diễn tả tiếng vó ngựa
gõ trên đường quan đưa ông trạng tân khoa về cố hương gặp người vợ tao khang
bao năm gánh gạo nuôi chồng ăn học. Hết điệu "Xuân tình" người
đàn bà cầm phách gõ nhịp cho hai ông già chơi bản "Hành vân" trên cây
đàn thùng. Tiếng đàn thùng nghe trầm trầm mà tao nhã, diễn tả được tâm trạng
đôi vợ chồng đêm tân hôn với những cung bậc khác nhau, sắc thái khác nhau mà
không một thứ ngôn ngữ nào thể hiện nổi. Nhịp "Hành vân" như mây bay
trong vũ trụ bao la, như cái thực ẩn trong cái mộng là niềm bâng khuâng kim cổ
trong nỗi u hoài trần thế.
Lúc vào khấn gia tiên, chánh Đàm ngồi chễm trệ trên chiếc ghế
bằng gỗ trắc chạm trổ rồng phượng cầu kỳ như ngai vàng cuả đương kim hoàng đế.
Bà cả Huê, bà hai Thoả và bà ba Lánh "ngự" trên sập gụ. Sau khi thắp
hương trước bàn thờ gia tiên, đôi trẻ lần lượt lạy các bậc phụ mẫu đã có công sinh
thành, nuôi dưỡng tân nhân nên người. Chàng ngư phủ đến trước mặt bà Ba có vẻ
ngượng ngùng, chẳng phải vì bà này còn quá trẻ, chỉ hơn chú rể một hai tuổi, mà
anh ta thoáng hình dung lại cuộc "tao ngộ chiến" nhớ đời trong khoang
thuyền hôm nào. Trong khi ấy, Thị Lánh khẽ mỉm cười, đưa mắt khuyến khích người
tình và thản nhiên nhận lễ. Cuối cùng thì mọi thủ tục phiền toái của đám cưới
cũng đã xong. Cô dâu mừng đến chảy nước mắt vì thoát khỏi bộ y phục mớ ba rộng
lùng thùng với đủ các thứ dây nhợ lằng nhằng. Cánh tay khoèo lại được tự do.
Đêm tân hôn, khi cả hai lên giường, Lê Văn Vận bạo dạn lột váy Khúc Thị Hài để
lộ tấm thân trần truồng, mịn màng, ngồn ngộn như pho tượng cẩm thạch với những
đường cong đầy ma lực như mời gọi, nhưng rồi gã thuyền chài chỉ khẽ thở dài, để
nguyên cả áo quần nằm quay đầu vào vách. Có lẽ hắn đã uống quá nhiều rượu nên mụ
mẫm người đi, hoặc có thể qua hàng loạt những nghi lễ phiền phức mà một tân
lang bắt buộc phải đóng cho trọn vai kịch, đã hút kiệt sức lực, không còn chút
hào hứng nào nghĩ đến tấm hồng nhan đang muốn cùng mình khám phá những bí mật của
giây phút thần tiên.
2. Vợ chồng Lê Văn Vận được Khúc Đàm cắt cho ngôi nhà ba gian
giáp bờ ao. Ngôi nhà này trước là chỗ ăn nghỉ của tá điền những lúc thời vụ, mấy
năm gần đây lão chuyển họ ra Trại Sen để tiện trông nom khu ruộng màu nên vẫn bỏ
không. Hoá ra chàng ngư phủ làm ruộng cũng chẳng kém gì thả lưới bắt cá trên
sông. Chưa đầy một vụ, đường cày của hắn đã thẳng tắp, gốc rạ đều lật úp, phơi
màu đất vàng suộm dưới ánh mặt trời. Việc đồng áng Vận làm băng băng chẳng kém
gì những tá điền kỳ cựu đã từng lĩnh canh nộp tô gần như suốt đời ở nhà chánh tổng.
Nhưng việc làm ưa thích nhất của Lê Văn Vận là xay lúa, giã gạo. Cái cối xay to
đùng, lão Phó Đạc đóng vốn để cho hai người vậy mà một mình hắn quay có nửa buổi
đã hết chín thúng thóc. Giã gạo Vận cũng làm một mình trừ những lúc có cô vợ
khoèo tay đứng giúp chút ít cho đỡ mỏi chân. Cần giã bằng gỗ nhãn vừa to vừa nặng,
cứ nâng lên hạ xuống theo nhịp chân của gã thuyền chài, mỏ chày nện xuống cối
thình thịch, đều đều buồn tẻ. Công việc xay giã phần lớn được làm vào buổi tối.
Với ngọn đèn Hoa kỳ ám khói đặt ở cạnh tường, Vận vừa nhún chân vừa đếm. Được
chừng bốn năm trăm chày, chẳng cần bốc lên thử, hắn cũng biết hạt gạo đã trắng
bong còn cám thì mịn và mát lạnh như bột lọc.
Có lần, bà Ba từ buồng lẻn xuống nhà ngang cùng giã với Vận.
Một tay hắn bám giá đỡ, một tay xoa vào cái bụng đã lùm lùm của Thị Lánh khẽ hỏi:
- Mấy tháng rồi nhỉ ?
- Hình như năm tháng.
- Sao nhanh thế ?
- Còn nhanh gì nữa. - Lánh thì thầm - Cái Hài thế nào ?
- Chưa có gì . - Vận vòng cả hai tay ôm ngang bụng bà Ba, áp
môi vào gáy cô ta nói nhỏ - Thôi, lên nhà kẻo ông ấy nghi .
Cái bụng của bà Ba mỗi ngày một to ra thì niềm vui của nhà họ
Khúc càng lớn. Chánh Đàm dự tính, nếu trời
thương cho được thằng con trai thì lão sẽ làm khao. Sắp đến
ngày ở cữ, bà Cả Huê cấm ngặt không để Thị Lánh làm bất cứ việc gì , hàng ngày
bắt uống thuốc dưỡng thai của lang Chìa bên kẻ Bòng. Bà Ba ngán thuốc đến tận cổ,
lại sợ cái thai to quá không ra được, chết cả mẹ lẫn con thì khốn, bèn ngầm đổ
thuốc xuống ao. Lũ cá trắm chờn vờn bên dưới uống vào lớn như thổi. Những hôm
thuốc bị hất ra vườn sau, chúng nổi lên hàng đàn, nhô hẳn đầu hỏi mặt
nước, bơi theo vòng tròn, miệng hớp hớp không khí.
Đến kỳ sinh nở, bà Ba đau bụng ba ngày mà đứa bé vẫn chưa ra.
Chánh Đàm hoảng quá cho đón hai bà đỡ cùng một lúc để phòng bất trắc. Gần sáng,
nước ối vỡ nhưng ngôi thai ngược, một chân thò ra trước, mà chỉ nhìn chân thì
không biết được là trai hay gái. Bà cả Huê thắp hương lầm rầm khấn trước bàn thờ
phật Quan Âm mong ngài phù hộ độ trì cho Thị Lánh mẹ tròn con vuông. Chánh Đàm
mặt tái mét cứ chắp tay sau lưng đi đi lại lại trước cửa buồng làm bà Hai bưng
nồi nước thang mai hoa từ bếp lên xuýt chạm phải, gắt:
- Ông ngồi yên một chỗ cho chúng tôi nhờ.
Trong này, hai bà đỡ đang cãi nhau vì không bà nào chịu bà
nào. Mỗi bà đều có cái lý riêng trong thuật xử lý ngôi thai mà chẳng quan tâm đến
sản phụ đang nằm tô hô trên chiếc giường ba xà, mặt bóng nhẫy mồ hôi, hai mắt lờ
đờ còn miệng thở như say nắng. Cặp đùi bà Ba lúc này có vẻ mập mạp hơn bình thường.
Bàn chân bé xíu, tím ngắt của đứa trẻ thò ra khỏi âm hộ, ngọ nguậy chẳng khác
gì cái vòi ở đầu ổ kén sâu khoai làm những sợi lông đen nhánh, loăn xoăn, ướt
nhớp nháp phía trên bờ mu cũng lúc lắc theo như là bị gió thổi. Tình trạng nguy
kịch ấy kéo dài chừng hai khắc thì Khúc Thị Hài đã sang làng Vạc đón được ông
lang Thược. Ông này nổi danh khắp huyện Nam Thành về thủ thuật đỡ những ca đẻ
khó và món thuốc gia truyền chữa bệnh sa đì. Việc làm đầu tiên là ông ta tống cổ
hai con mẹ bẻm mép ra khỏi buồng, sau đó cho sản phụ uống một gói thuốc bột pha
lẫn với mật ong. Ông cấm mọi người, kể cả chánh Đàm lảng vảng gần buồng rồi
đóng sập cửa lại. Khi bàn chân thai nhi đã được ấn vào, lang Thược nhẹ nhàng
xoa bụng bà Ba, vừa tìm cách xoay thai. Không đầy một khắc, ngôi thai trở lại
thuận chiều, đứa bé lọt lòng mẹ khóc váng lên. Tiếng khóc của nó khoẻ đến nỗi mấy
nhà hàng xóm bên kia bờ tường xây cao quá đầu cũng nghe tiếng. Chánh Đàm là người
nhảy bổ vào đầu tiên. Đến khi nhìn thấy giữa hai đùi nhăn nheo đứa bé là một
cái chim xinh xinh thì lão khóc nấc lên quỳ sụp trước mặt bà Ba. Thị Lánh tuy mất
khá nhiều sức qua những lần rặn đẻ nhưng vẫn cố mỉm cười với chồng. Sau cơn vượt
cạn, người đàn bà như được lột xác. Những gì là trần tục đều để lại phía sau.
Trước mặt Khúc Đàm là một người thiếu phụ xinh đẹp, toả ánh hào quang rực rỡ
như một tiên nữ giáng trần. Thằng bé vừa dài vừa rộng, mắt sáng, mũi nở trông
ra dáng con nhà. Khi con trai đầy cữ, chánh Đàm đặt tên là Khúc Luận, đồng thời
làm cỗ khao toàn thể chức sắc làng Cùa và họ hàng nội ngoại. Những dịp mở tiệc
lớn như thế này, trong thực đơn đãi khách nhất thiết phải có món thịt ếch. Đây
là truyền thống lâu đời của làng Cùa, mâm cao cỗ đầy đến mấy, thiếu đặc sản
"gà đồng" cũng vứt.
Thật may, dịp ấy vào cuối tháng ba, bắt đầu có mưa rào. Trận
mưa đầu tiên nước đã mấp mé bờ ruộng. Đồng gần đồng xa, lúa đang thì con gái, gặp
mưa rào và sấm đầu mùa lớn nhanh như thổi. Mới chập tối, cả làng đã
náo nức chuẩn bị cho buổi soi ếch đầu tiên trong năm. Đây là một cuộc tàn sát tập
thể trên quy mô lớn tuy chỉ dùng phương tiện thô sơ nhưng tỏ ra rất hiệu nghiệm.
Phổ biến nhất là đuốc. Đuốc làm bằng tre hoặc nứa khô chẻ nhỏ, buộc chặt, cháy
rất đượm. Nhà giầu hoặc dân làm nghề chuyên nghiệp thì lên chợ Cháy mua đèn hộp
sắt hình trụ có nắp gắn kính dầy như một khối chỏm cầu để hội tụ ánh sáng gọi
là đèn "ló". Đèn "ló" thắp dầu lạc hoặc mỡ lợn, phía
sau có tay cầm, bên trên là bộ phận thông khói gồm nhiều lá tôn mỏng xếp nếp. Cả
hai loại phương tiện này đều nhằm cùng một mục đích là làm cho ếch loá mắt
không nhảy được, chờ người đến tóm.
Từ canh hai, trời bắt đầu mưa nặng hạt, thỉnh thoảng lại có
vài tiếng sấm lạc lõng từ đâu đó vọng về. Khắp cánh đồng đèn đuốc sáng như sao
sa. Cha nào con ấy, anh nào em ấy, thậm chí chồng nào vợ ấy, áo tơi nón lá, tay
đuốc tay chụp sẵn sàng vào trận. Lê Văn Vận cặp đôi với thằng Đà, cháu bà cả
Huê mới từ làng Báng sang chơi. Cái đèn của Vận có mặt kính pha lê trong suốt
không một gợn bọt, dày hai đốt ngón tay nên độ chiếu sáng rất xa. Mưa mỗi lúc một
lớn. Nhiều bờ ruộng đã ngập. Đứng trên đống Ba Tầng, Vận nhìn khắp lượt các
cánh đồng Chùa, đồng Hẻm, đồng Gà, đồng Chó Đá... đâu đâu cũng có ánh lửa chập
chờn như đêm hội hoa đăng. Những ngọn đuốc khô nỏ cháy rần rật, tàn bay tứ tung
như pháo hoa cà hoa cải theo từng nhịp bước lép nhép trên thảm cỏ lưỡi mèo ram
ráp. Những hạt mưa đan chéo nhau đập lộp bộp vào nón lá rồi chảy thành vệt theo
sườn áo tơi lấp loáng trong ánh lửa vàng nhạt hoặc đùng đục bởi những quầng
khói loãng. Chàng ngư phủ bắt đầu cuộc tảo thanh từ một bờ ruộng trũng mọc dầy
cỏ gà lẫn với cỏ chỉ. Đây là khu ruộng nhà chánh Đàm, bờ rộng hơn bốn tấc, đắp
cao, thế mà đôi chỗ đã ngập lút, nước chảy rào rào. Một chú ếch cốm lưng nổi
gai xanh, nhọn và bóng láng, cặp mắt như bị thôi miên bởi ánh lửa nhấp nhoáng
phát ra từ thứ dụng cụ ma quái. Nó ngồi chống hai cẳng chân, mõm hếch lên phô
ra trước "sát thủ" cái ức trắng toát như là khoe bộ cánh mới thửa được
sau chuyến ngủ đông. Một tay rọi đèn, tay kia nâng chụp, Vận thận trọng nhích dần
từng bước về phía con mồi, đến khi gã ếch cốm ngờ nghệch hiểu chuyện gì xảy ra
thì đã bị chàng rể nhà họ Khúc dùng hai ngón tay túm chặt eo lưng. Bằng động
tác thành thục, thằng Đà xoay lưng chìa chiếc vịt tre ra, và chú ếch cốm nhanh
chóng bị tống vào qua lớp hom mềm cùng với lũ bạn xấu số. Đã ngớt mưa. Lúc này ếch
nhái đang say. Đây là cơ hội vàng để tranh thủ "lèn" cho đầy giỏ.
Phía bên kia, mấy chị em nhà đĩ Nhụt không có chụp. Con Nhinh chị cả, khua cây
đuốc nứa dài hơn cả người nó, cháy rần rật để cho lũ em gồm năm đứa con gái, mỗi
đứa chỉ nhỉnh hơn nhau cái chỏm, lội chòm chọp thi nhau vồ. Con Nhinh, con
Nhính, con Nhỉnh mặc quần đùi, áo cánh nâu, không tơi, không nón, ướt từ đầu đến
chân nhưng chẳng biết lạnh là gì. Mỗi khi vồ được một chú ếch, mấy chị em lại
hét toáng lên. Con Nhút, con Nhít bé quá cũng đòi đi theo. Hai đứa cởi truồng đầu
đội nón gủ bé tí trông như cây nấm. Đi được nửa bờ, con Nhít không theo kịp các
chị, trượt chân ngồi xệp xuống, khóc hu hu. Cái Nhính quay lại đỡ em mới biết,
nó ngã bị đỉa bám vào bẹn. Con chị tức quá, phát vào mông một cái: "Ai bảo
mày cứ theo đi quẩn chân chúng tao ?". Con bé gan lỳ, nhiều lần mẹ đánh
không khóc nhưng có tật sợ đỉa. Con Nhính quát:
- Bây giờ mày phải lên gò Dứa kia mà đứng, chốc nữa chị Nhinh
quay lại đón.
Con bé lắc đầu quầy quậy:
- Ứ ừ ! Em sợ ma lắm.
- Thì đi . - Con chị lầu bầu - Nhưng lần sau bị đỉa cắn tao
không gỡ cho đâu.
Cặp vợ chồng Thường Rỗ từ tối đến giờ đã chộp được lưng lửng
vịt. Chị vợ còn trẻ, béo ục ịch, mỗi bước đi thình thịch như voi, thỉnh thoảng
lại ngủ gật. Anh chồng bực mình quát:
- Đi khẽ thôi không ếch nó nhảy xuống ruộng hết.
Thường Rỗ là tay chân của chánh Đàm. Tay này nghiện
thuốc lào, thỉnh thoảng lại lên sườn đống giở điếu cày ra hút sòng sọc. Thuốc
ngấm, có khi hắn lăn quay ra bất tỉnh như người mắc bệnh động kinh, nhưng chỉ
ít phút sau lại ngồi dậy xem như chẳng có chuyện gì xảy ra. Thường nổi tiếng là
tay chụp ếch lão luyện. Từ trên gò đống đi xuống, vừa tắt qua dải bờ ngăn đôi
chân ruộng cấy lúa tám đen với mảnh chiêm trăng đã làm đòng, hắn thoáng thấy một
con ếch cụ ngồi chồm chỗm gần ngay lợi nước, điệu bộ hết sức cảnh giác. Toàn
thân con ếch gần như vàng sẫm, lốm đốm hoa trắng. Cặp mặt của nó khá linh động
cứ đảo đều đều theo mỗi vòng quay của cây đuốc. Thường Rỗ không lạ gì loại ếch
đã thành tinh này. Chúng rất có kinh nghiệm trong việc đánh lừa cánh thợ săn.
Phải thật bình tĩnh mới tóm được. Hắn khẽ hất chân về phía sau cho vợ lùi lại rồi
nâng cần chụp nhích dần từng bước không hề phát ra một tiếng động nhỏ. Cây chụp
gần như bất động nhưng ngọn đuốc lại chuyển động liên tục để tạo nguồn sáng ổn
định cùng với hàng trăm ngàn tàn lửa vãi tung toé, nhằm mê hoặc thị giác đang rối
loạn của con ếch già. Con ếch vẫn ngồi nghe động tĩnh. Một lúc sau nó gại gại chân
sau chuẩn bị làm cú nhảy thoát hiểm vì đánh hơi thấy mùi tử thần thì Thường Rỗ
đã phóng chụp từ một vị trí bất ngờ, trúng vào cái lưng lốm đốm. Con ếch bùng
nhùng trong tấm lưới gai giẫy giụa một cách tuyệt vọng. Có lẽ đó là một vị ếch
thủ lĩnh mà từ trước đến nay chưa bao giờ Thường Rỗ bắt được. Khoảng trống canh
tư, cái vịt to bự của vợ chồng hắn đã gần đầy. Hắn lại lên gò đống làm mồi thuốc
cho tỉnh ngủ. Lần này Thường Rỗ không say nhưng vợ hắn thì đã quá mệt vì giỏ ếch
nặng lệch cả sườn, luôn miệng giục về. Hắn bảo:
- Chịu khó tí nữa, tôi kiếm thêm con cạp nong về ngâm rượu.
Vừa nói Thường Rỗ vừa nhảy xuống nong nước, định sang khu đồng
Cổ Cò, tự nhiên thấy mắt cá chân đau nhói như chạm phải gai nhọn. Hắn co chân định
nhổ vứt đi thì thoáng thấy một vật loằng ngoằng trườn về phía trước. Rắn! hắn vội
huơ đuốc cho ngọn lửa bùng lên. Trời ơi! Một con cạp nia bằng về
néo đập lúa, khúc đen khúc trắng đang lẩn vào giữa đám cỏ thài lài. Thường Rỗ lặng
người. Rắn đen trắng cắn nếu để chậm, thuốc tiên cũng đành bó tay. Vết thương của
hắn phồng lên rất nhanh, chưa đầy nửa khắc, mu bàn chân phải đã sưng húp, buốt
như có hàng ngàn vạn mũi kim chích vào. Vợ Thường Rỗ vốn to họng, lại trong lúc
thần hồn nát thần tính, khóc toáng lên như bò rống. Tiếng gào của chị ta vang
xa đến mức hầu như tất cả dân soi ếch trên đồng đều dỏng tai nghe:
- Ối giời ơi! Có ai làm ơn làm phúc cứu chồng tôi. Nó bị rắn
hổ lửa cắn sắp chết rồi.
Mấy chị em nhà đĩ Nhụt vồ ếch gần đấy, nghe tiếng vợ chồng
Thường Rỗ gào, chạy đến trước nhất, đứng trơ mắt nhìn nạn nhân nằm như phục
trên bờ cỏ. Tiếp đến là lão Khính cựu mõ làng. Lão này đến bên Thường, định
nâng hắn dậy dìu lên sườn đống, nhưng vì sức lão yếu, mà tay này lại to như con
trâu trương, đành chịu phép chờ cánh trai tráng. Lúc ấy, Lê Văn Vận và thằng Đà
đang ở khu ruộng Chùa, khá xa đống Hủi. Nghe tiếng kêu la vọng đến Vận bảo thằng
bé:
- Ta quay lại phía ấy xem có chuyện gì xảy ra rồi về.
Thằng Đà gật đầu:
- Đầy vịt rồi, nhét thêm nữa sợ chết ngạt không để được đến
hôm làm khao.
Khi hai anh em len vào đến nơi thì Thường Rỗ đã gần như phát
cuồng. Người hắn nóng hầm hập, hai mắt trợn trừng toàn lòng trắng. Nhìn bộ dạng,
Vận biết nếu không cấp cứu kịp thời, nọc độc ngấm vào máu thì trong vòng vài giờ
nữa là hắn về chầu trời. Vốn là dân chài giầu kinh nghiệm, lại học được môn chữa
rắn độc từ một bà già người Mán, đi ra ngoài, nhất là vào ban đêm, bao giờ Vận
cũng mang sẵn thuốc bột đặc trị. Trước hết chàng ngư phủ tháo dây đeo giỏ buộc
chặt cổ chân Thường Rỗ rồi cạy mồm hắn đổ thuốc vào. Đợi một lát, thuốc ngấm, Vận
và Cả Nhỡ thay nhau cõng về làng. Qua miếu Bà, Hắn vòng ra phía sau vặt một nắm
lá, nhai nát vắt nước bắt Thường Rỗ nuốt. Hắn sốt ly bì ba ngày ba đêm. Ngày thứ
tư bắt đầu ăn được tí cháo. Vợ Thường Rỗ mừng quá vừa quỳ xuống lạy sống chàng
rể cụ chánh vừa khóc rưng rức.
Đám đầy cữ làm năm mươi tám mâm mời gần ba trăm khách. Quan
phủ Đông Giàng đánh xe ô tô đít vịt đen bóng về tận cổng làng mừng cậu bé một xấp
lụa Hàng Châu. Chủ nhà mời quan phụ mẫu ngồi mâm nhất cùng luật sư Trần Phi và
đốc tờ Albert Nguyễn mới du học ở Đại Pháp về. Thực đơn phần lớn được chế biến
từ ếch. Lão vệ Sót đã có mấy năm làm bồi cho Tây lai Marty là một chuyên gia
thượng thặng về kỹ thuật nấu nướng. Món ếch tẩm bột rán ròn chỉ dùng hai đùi,
rán đến đâu ăn đến đấy cho nóng. Vệ Sót đóng trang phục như đầu bếp nhà hàng
cao lâu, mũ bồ đài cao lênh khênh, áo trắng, tạp dề trắng, tay cầm đôi đũa dài
khoắng vào chão mỡ sôi sùng sục. Khi đùi ếch đã vàng, lão dùng vỉ nhôm vớt ra xếp
vào các đĩa. Mùi thơm ngào ngạt kích thích đến tận con tỳ con vị. Nhưng hấp dẫn
hơn cả lại là ếch om củ chuối tuy nghe ra có vẻ tầm thường. Thứ này chỉ nên lấy
đùi của ếch cốm, xương còn mềm, dùng sống dao dần nhẹ, ướp nắm muối, gia vị để
một lúc cho ngấm. Củ chuối tây chọn những cây chưa ra buồng, thái chỉ hoặc mài
nhỏ, ngâm nước vài lần, luộc kỹ, vắt sạch rồi mới cho mẻ cùng đùi ếch đã đảo
qua mỡ nóng vào, đun sôi chừng nửa giờ là được. Những phần còn lại chỉ cần thêm
ít thịt nạc, băm nhỏ, nặn thành viên cho vào chảo mỡ nóng, sau đó vớt ra nấu
măng chua hoặc canh cải làm món thang giã rượu thì không gì hiệu nghiệm hơn.
Tri phủ Đỗ Khánh khoái món ếch om củ chuối. Lão ăn như hùm đổ
đó. Đến cuối bữa quan phụ mẫu nửa đùa nửa thật bảo Khúc Đàm:
- Dịp tới có khi thầy chánh phải cho bản phủ mượn tay vệ Sót
ít lâu để hắn dạy bọn đầu bếp nấu các món đặc sản từ ếch.
Chánh Đàm mặt tươi rói chắp tay cung kính:
- Đã là lệnh của quan lớn chúng tôi đâu dám không tuân theo.
Viên tri phủ xua tay:
- Ấy, đây là việc nhà chứ có phải ở công đường đâu mà nhà thầy
đa lễ.
Tiệc được nửa chừng, bà Ba từ nhà xuống bế theo Khúc Luận vào
chào quan khách. Thằng bé mặc áo đỏ, mũ nhung đỏ, vòng bạc, xuyến vàng loảng xoảng
nơi cổ chân cổ tay, cười toe toét trơ hai hàng lợi đỏ hơn. Bà mẹ mặc áo phin
nõn, cổ khoét hơi rộng, yếm hoa hiên, tóc vấn trần, cặp mắt lúng liếng. Nhìn
dung nhan Thị Lánh, tri phủ thích lắm, quên cả miếng đùi ếch rán tẩm bột sắp
đưa lên cái miệng đầy răng vàng nhờn mỡ, mắt chăm chắm vào khuôn ngực như muốn
lột trần người thiếu phụ ra. Viên luật sư Tây học thấy chướng quá, tức mình
hích nhẹ vào sườn quan phụ mẫu. Lão chợt tỉnh, vội đứng dậy cúi đầu chào bằng cử
chỉ rất nịnh đầm:
- Xin có lời chào bà Chánh.
Thị Lánh liếc xéo Đỗ Khánh, thoáng đánh giá đối tượng rồi nhoẻn
miệng cười đáp lễ:
- Quan lớn hạ cố đến ... thật vinh hạnh cho nhà em quá.
Đốc tờ Albert nguyễn thì thầm vào tai viên luật sư bằng tiếng
Pháp:
- Liệu lão chánh có giữ được bà ta ?
Luật sư Trần cũng đáp khẽ bằng một câu cách ngôn Pháp mà cả
phương Đông và phương Tây đều dùng:
- Hoa thơm mỗi người hưởng một tí.
Lê Văn Vận tiếp loại khách nhà quê ở ngoài rạp, nhìn bà Ba bế
con đi đi lại lại, hắn lặng lẽ mỉm cười.
Trong số khách mời chỉ có bố con nhà Khúc Kiệt là không đến.
Tuy là em ruột nhưng từ lâu Khúc Kiệt đã coi thường tư cách ông anh nên cấm các
con không đứa nào được lai vãng đến nhà chánh Đàm. Ngược lại, chánh Đàm cũng
khinh em trai là phường hủ nho, dài lưng tốn vải, chỉ chăm chăm tầm chương
trích cú trong mấy quyển sách thánh hiền đã mục nát mà quên rằng vợ con đang
đói rách.
Khúc Kiệt đông con, toàn đặt tên đẹp: Văn, Vĩ, Nhân, Nghĩa, Lễ.
Lũ con trai giống bố, đứa nào cũng lười, mọi việc đồng áng dồn lên vai bà vợ
cùng mấy cô con gái. Khúc Kiệt không biết cày bừa, suốt ngày hết ê a đọc Ngũ
kinh lại tha thẩn ngắm mấy chậu cây cảnh hoặc đàm luận với đồ Sách về điển cố
vua Vũ mới cưới vợ được lệnh trị thuỷ, ba lần đi qua cổng mà không vào nhà.
Trong khi ấy, cơ ngơi của Khúc Đàm lên như diều. Mỗi lần có việc ra ngoài lão
cưỡi con ngựa bạch bờm nâu, cổ đeo nhạc đồng kêu loong coong làm ông em càng tức.
Được ít lâu, Khúc Kiệt bắt các con đắp tường bịt cổng chính mở lối đi sang phía
nhà vệ Toan. Bà vợ thấy chuyện lạ, nghĩ ông chồng đọc sách nhiều hoá rồ liền hỏi:
- Ông điên à ! Mở cổng về phía ấy để ngửi chuồng xí nhà hàng
xóm.
Khúc Kiệt gàn cũng chẳng kém gì đồ Sách thủng thẳng bảo:
- Nghe tiếng nhạc ngựa điếc tai không đọc sách được.
Nhà Khúc Kiệt thuộc loại nghèo nhất nhì làng Cùa, so ra có lẽ
chỉ hơn dân tá điền vì còn có vài sào ruộng. Quanh năm lão đánh chiếc quần lửng
vải bố nhuộm vỏ só dầy như da trâu, vá hàng chục mảnh, có khách mới dám mặc bộ
chúc bâu rung rúc may từ mấy năm trước. Ngẫm nghĩ về thân phận mình, có lúc lão
ôm mặt khóc hu hu như trẻ con bị đánh đòn. Bà vợ là người hiền lành, chịu
thương chịu khó lựa lời an ủi:
- Cái số vợ chồng mình nó thế, ông đừng tự dằn vặt nữa.
Khúc Kiệt nghe vợ nói càng đau lòng, giọng nhoè đi trong nước
mắt:
- Mười mấy năm đèn sách, giờ tay trắng vẫn hoàn tay trắng, bà
nghĩ làm sao tôi chẳng tủi thân. Người đời nói đúng, "giầu tại phận, trắng
tại da". Cứ suy từ lão chánh Đàm ra thì biết. Một gã du thủ du thực bám
đít Tây mà mua được hàm cửu phẩm thế có ngược đời không cơ chứ.
- Bác ấy đối xử với nhà mình đâu đến nỗi bạc tình, chỉ tại
ông cố chấp.
Khúc Kiệt quắc mắt lườm vợ:
- Đời tôi từ trước đến nay chưa từng xin xỏ đứa nào một đồng
kẽm. Chết thì thôi chứ đây đếch thèm luỵ phường trọc phú.
Một hôm đồ Sách sang chơi mang cho Khúc Kiệt mượn mấy cuốn
sách về khoa xem tướng và thuật phong thuỷ. Thực ra từ lâu lão không tin vào
các trò dị đoan, hơn nữa ông thân sinh, thời làm nghề đạo chích, đã dùng nó như
một phương tiện bịp bợm thiên hạ để thực hiện những hành vi bất lương nên càng
tỏ ra dị ứng.
Đồ Sách bảo:
- Ở đời nhìn nhận sự việc cực đoan quá dễ hỏng việc. Đây toàn
là sách thánh hiền cả, bác cứ đọc thử rồi sẽ thấy cái lợi của nó.
Khúc Kiệt lắc đầu:
- Cảm ơn bác. Tôi chừng này tuổi rồi, chẳng dại gì để mấy thứ
nhảm nhí ấy mê hoặc.
Đồ Sách có vẻ không phật ý, thủng thẳng nói:
- Thời thế giờ đã thay đổi. Thiên hạ khối kẻ lắm tiền, rửng mỡ,
muốn hối lộ thánh thần để yên lòng với những thứ của cải bất nghĩa. Mà tôi với
bác đang bị cái nghèo đẩy đến chân tường. "Cùng tắc biến, biến tắc thông".
Sách nói vậy. Thế thì hãy thử đọc xem.
Hoá ra sách đoán tướng số và thuật phong thuỷ không hẳn chỉ
là trò nhảm nhí. Càng đọc Khúc Kiệt càng thấy không thể dứt ra được. Trong một
trăm lẻ tám phép dự đoán số phận qua các đặc điểm nhân dạng có đến quá nửa là dựa
vào những chi tiết rất mơ hồ, nói kiểu nào cũng được. Nghĩa là người xưa đã
giành một khoảng mở đáng kể cho khả năng quan sát, phân tích và phán đoán của
các nhà tướng số học. Còn thuật phong thuỷ thì các nhà trước tác bàn khá kỹ ở
phần khái luận. Họ phân tích thấu đáo mối tương quan giữa âm dương với ngũ hành
cũng như quá trình biến đổi của các quẻ trong bát quái. Từ những việc lớn như
xây cung điện, làm đình miếu đến cách đặt áo quan lúc mai táng đều được kiến giải
tường tận chứng tỏ một cách nhìn liên thông, hài hoà giữa vũ trụ và nhân sinh,
giữa cái trừu tượng và cái cụ thể, rất không nên coi thường.
Sau hơn nửa năm nghiền ngẫm, mọi thứ dường như đã tinh thông,
Khúc Kiệt xách ô, cắp tráp ra đi. Bà Thìn thấy chuyện lạ, hỏi:
- Thầy nó đi đâu thế ?
Khúc Kiệt thản nhiên bảo:
- Mấy người bạn trong hội đồng môn đã tìm cho một chỗ ngồi dạy
học. Tôi đến đấy xem sao?
- Ở làng nào?
- Xa. Đợi lúc về tôi bảo.
Thực ra, làm gì có đồng môn nào mời. Hôm ấy chính là ngày đầu
tiên Khúc Kiệt khai nghiệp hành nghề thày tướng. Lão tự nhủ: "Từ nay ta sẽ
dấn bước trên con đường thiên lý. Tối đâu là nhà, ngã đâu là giường, gối đất nằm
sương, tắm bụi trần chính là cái nghiệp của nhà phong thuỷ. Chung quy cũng chỉ
vì miếng cơm manh áo, còn việc cứu nhân độ thế đâu cần đến phường hủ nho như
lão". Mải ngẫm nghĩ sự đời, chân thập thững đường quan, trời đã ngả bóng
lúc nào không hay. Đây là buổi chiều lãng du đầu tiên đối với thầy khoá nghèo
kiết xác trên con đường đi tìm lại chính mình. Buổi chiều ấy tuyệt đẹp nếu nhìn
từ con mắt thi nhân. Vòm trời trong suốt cao thăm thẳm xanh màu hồ thuỷ, đây đó
vài gợn mây trông giống hình vảy cá vừa trắng vừa mỏng phản chiếu một cách yếu ớt
ánh nắng đang nhạt dần khi mặt trời xuống gần đỉnh núi Tam Tầng. Trên cao, một
con diều hâu với cặp cánh dài, xòe rộng bay là là bao quát toàn bộ dải đồng lúa
xanh thẫm. Gió đã chuyển heo may. Lẫn trong gió hình như thoang thoảng mùi
hoàng lan từ một ngôi đền nào đó ẩn hiện dưới vòm cây cổ thụ bên đường. Tức cảnh
sinh tình, bất giác Khúc Kiệt ngâm hai câu thơ của Vương Bột:
“Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc” [1]
Chập tối, Khúc Kiệt vào làng Vân Hà xin nghỉ trọ. Chủ nhà là
một ông già tuổi ngoài sáu mươi tóc bạc trắng mà dáng vóc còn tráng kiện. Gia
chủ làm cơm thết đãi khách sau khi được ông thầy tướng mới nhập môn đoán cho
vài chi tiết cơ bản về tiền vận. Lời thầy khá mơ hồ chẳng khác gì "Thoán
truyện" trong "Kinh Dịch". Đến phần hậu vận thì Khúc
Kiệt lên giọng thao thao bất tuyệt phán như thánh sống vì có hơi men bôi trơn cổ
họng. Chủ nhà có lẽ cũng biết gã thày tướng bịp bợm nên chỉ im lặng thỉnh thoảng
gật đầu ra vẻ khuyến khích. Sáng hôm sau trước khi khách ra đi, ông chủ dặn:
- Tối nay, nếu không tìm được chỗ nào tiện hơn xin hãy về nhà
tôi. Cứ hỏi Hàn Hành mấy làng quanh đây ai cũng biết. Tôi có câu chuyện muốn
bàn với tiên sinh…
Khúc Kiệt cảm thấy Hàn Hành có điều gì bí ẩn. Trong nhà không
có bóng dáng phụ nữ. Giúp việc cho chủ nhân chỉ có hai người đàn ông đứng tuổi
mà một trong hai người đó có lẽ câm. Suốt mấy hôm vật vờ trên đường, chẳng có
ma dại nào thỉnh, lão lê cặp chân mệt mỏi, định bụng về nghỉ nhờ Hàn Hành vài bữa
rồi đi phương khác kiếm ăn. Cũng như buổi gặp ban đầu, chủ nhà lại sửa mâm rượu
tiếp đãi rất là nồng hậu. Đêm ấy, khi chỉ còn hai người bên điếu thuốc lào và ấm
chè tàu, Hàn Hành bảo:
- Trước đây tôi cũng đã có mấy năm làm nghề thầy tướng.
Khúc Kiệt giật mình. Trong bụng hơi hoảng nghĩ rằng thế
nào cũng bị chủ nhà lật tẩy. Hàn Hành nói tiếp:
- Cũng là trò lừa thiên hạ lấy tiền thôi. Nhưng nghề
này bạc lắm. Tôi hỏi thật. Mấy hôm vừa rồi có kiếm được chút nào không ?
Khúc Kiệt đứng dậy chắp tay vái chủ nhà:
- Xin tiên sinh đại xá cho, tôi vốn là thày đồ, đạo học giờ
đã đến hồi mạt vận, đành phải lang thang kiếm bát ăn.
Hàn Hành kéo Khúc Kiệt ngồi xuống, rót thêm một chén rượu rồi
bảo:
- Làm nghề này bây giờ chẳng những khó sống mà lại còn nhếch
nhác. Tôi thấy bác là người có ý chí lại đang ở vào thời bĩ, nên gia nhập tổ chức
của chúng tôi.
-Bác bảo tổ chức gì ? - Khúc Kiệt tỏ vẻ nghi ngờ - Không phải
là đi ăn cướp đấy chứ ?
- Không. - Hàn Hành nhẹ nhàng giải thích - Đây là một tổ chức
chính trị có sứ mệnh cứu dân cứu nước, thoát khỏi cảnh nô lệ lầm than do một số
nhà ái quốc sáng lập gọi là đảng Cộng sản.
- Thế thì tôi biết, nhưng nghe nói từ năm canh ngọ đến nay, hầu
hết các thủ lĩnh của đảng đã bị người Pháp xử tử hoặc lĩnh án chung thân khổ
sai. Phong trào của họ đang tan rã.
Hàn Hành mỉm cười thông cảm:
- Không phải thế. Đành những năm qua có không ít cán bộ nòng
cốt hy sinh nhưng đảng vẫn còn nhiều chiến sỹ trung kiên đứng lên lãnh đạo nhân
dân đánh đuổi thực dân Pháp ra khỏi đất nước, giành độc lập dân tộc. Đảng này lấy
đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản làm phương châm
hành động, mục đích cuối cùng là xây dựng một Nhà nước độc lập, công bằng, hạnh
phúc, phồn vinh... không có tình trạng người bóc lột người. Tôi có một số sách
báo anh em ở trên tỉnh gửi về, bác đọc qua sẽ hiểu phần nào.
- Chắc là phong trào ở đây đang phát triển mạnh ?
- Cơ sở của Đảng thì mới xây dựng được một vài nơi nhưng quần
chúng nhân dân nhất là nông dân ở vùng này rất nhiệt tình ủng hộ Cách mạng. Nếu
bác bằng lòng thì ở lại đây luôn. Nhà tôi chính là đầu mối liên lạc của Đảng với
các địa phương trong tỉnh.
Sau khi làm lễ tuyên thệ gia nhập tổ chức, Khúc Kiệt được
phân công cùng làm việc với nhóm Hàn Hành gọi là đội "Nghĩa dũng"
chuyên trừng trị những kẻ phản dân hại nước làm tay sai cho Pháp. Sinh hoạt phí
của họ được quỹ đảng chu cấp. Quỹ này khá lớn do một số nhà tư sản yêu nước
quyên góp để mua vũ khí và các phương tiện hoạt động cách mạng.
Từ ngày gặp Hàn Hành, Khúc Kiệt không về nhà. Lão chẳng thèm
nhắn vợ con một lời. Tết năm ấy cũng bặt vô âm tín. Dân làng Cùa nghĩ rằng lão
đã chết. Nghề thầy tướng lúc này xem ra rất có tác dụng trong việc liên lạc giữa
các cơ sở cách mạng. Những tên địa chủ ác bá, quan lại tàn ác lần lượt bị trừng
trị. Nổi tiếng nhất là vụ khử viên tri huyện Nam An, thường gọi là
huyện Ký. Huyện Ký người được một mẩu nhưng to ngang, cái cổ bè bè như cổ trâu
mộng lúc nào cũng đỏ tía giống hệt da gà chọi. Lão ăn bẩn như chó, nghĩa là thượng
vàng hạ cám không chê bất cứ thứ gì, rất rương xứng với hoàn cảnh xuất thân là
một gã thầy cò, chuyên xui nguyên giục bị và viết đơn thuê cho những kẻ nhiễu sự
thích đưa nhau đáo tụng đình. Hắn ngồi trị nhậm chưa đầy ba năm mà
vùng Nam An đã xác xơ, dân tình ta oán, uất khí ngất trời.
Hôm ấy, huyện Ký làm giỗ bố. Thực khách phần lớn là chánh tổng,
lý trưởng, phó lý cùng một số nhà giầu trong hạt và các thuộc viên huyện đường.
Mọi người sắp sửa vào mâm thì có chiếc ô tô chạy thẳng vào tư dinh. Huyện Ký
nhìn chiếc xe hơi bóng loáng biết là khách quý lật đật ra đón. Người tài xế mở
cửa. Một thanh niên vận Âu phục thong thả bước xuống, theo sau là ông lão bộc
hai tay bưng gói quà bọc giấy trang kim thắt dây lụa đỏ cung kính bẩm:
- Quan huyện Nam Ngạn biết hôm nay là ngày kỵ cụ cố nên sai
tôi đưa công tử mang chút hoa quả sang thắp hương, mong quan lớn chiếu cố, nhận
cho.
Huyện Ký thoáng nghĩ: "Mình với lão huyện Nam Ngạn từ
trước đến nay có đi lại với nhau bao giờ, sao hắn lại biết ngày giỗ ông cụ? Hẳn
phải có ẩn ý gì đây ? à phải. Có thể lão muốn nhắm con Loan cho gã công tử bột
này chăng? Thôi được. Cứ biết thế đã". Hắn sai người nhận lễ và bảo:
- Quan nhà thật chu đáo. Mọi việc đã xong, xin mời công tử
vào lão lên nhà trên xơi chén rượu nhạt.
Chàng thanh niên cúi đầu từ tạ:
- Thành thật xin lỗi quan lớn, hiện giờ chúng tôi còn có chút
việc trình với quan Tuần, xin hẹn dịp khác.
Chiếc ô tô rời huyện đường chừng nửa giờ thì một tiếng nổ
long trời làm huyện Ký toi mạng khi hắn cùng mấy tên gia nhân mở gói
quà biếu trong từ đường. Trong vụ này, một cựu học sinh trường Bách Nghệ mượn
xe gắn biển số giả, đóng vai "công tử bột" con quan huyện Nam Ngạn,
còn người lão bộc không ai khác chính là Khúc Kiệt. Màn kịch ngoạn mục gây ra
tiếng nổ trong tư dinh huyện Ký làm chấn động cả tỉnh. Viên công sứ Pháp Đờ
Guýt xanh thì nghi cho những người Quốc dân đảng chủ mưu nhưng tuần phủ Vũ Nho
thì biết chắc đó là Cộng sản. Dân chúng Nam An hoan hỉ ra mặt. Thực
hiện trót lọt công việc, Hàn Hành, Khúc Kiệt được thưởng hai trăm đồng Đông
Dương. Một lần ngồi uống rượu với nhau Hàn Hành bảo:
- Lôi kéo bọn chánh tổng, lý trưởng chẳng qua chỉ là hình thức
mang tính mặt trận. Nhóm chúng ta mới là hạt nhân của tổ chức Cách mạng. Những
vụ thanh trừng bọn tay sai tàn ác như huyện Ký vừa rồi phải tuyệt đối bí
mật. Hở ra là mất mạng như chơi. Từ nay ta tạm nghỉ ít bữa để tránh sự rình mò
của mật thám.
- Phải, tôi cũng muốn giành chút thời gian đọc lại mấy cuốn
sách về chủ nghĩa Cộng sản.
- Đúng đấy. Chủ trương của ông Mã khắc tư[2] vĩ
đại lắm.
3
Năm Giáp Tuất, tức là năm rưỡi sau ngày cưới, Khúc Thị Hài đẻ
sinh đôi hai thằng con trai. Anh là Lê Văn Khải, em là Lê Văn Nghiên, thằng nào
cũng có nước da ngăm ngăm giống bố. Thị Hài nằm ổ, mọi việc đều đến tay Vận. Mỗi
khi làm đồng về nhìn thấy cái tay khoèo của vợ Vận lại chép miệng thở dài nghĩ
đến đôi tay mát dịu, mềm mại ôm riết cổ mình hôm nào dưới thuyền. Nhiều đêm nằm
cạnh vợ mà tâm trạng chàng ngư phủ cứ như để trên mây, trằn trọc mãi không ngủ
được. Có lần đã quá canh tư, hắn lẳng lặng tụt khỏi giường, ra ngoài sân ngẩng
mặt nhìn trời sao, thỉnh thoảng lại liếc về phía cửa sổ căn buồng ngôi nhà hai
tầng nơi bà Ba đang ngon giấc. Cái sân gạch Bát Tràng rộng thênh thang. Đêm thượng
huyền mờ mờ sương giăng. Quầng sáng nhợt nhạt của vành trăng lưỡi liềm bị sương
pha loãng, làm mọi vật bị nhoè đi, hình dạng trở nên mờ ảo. Đám chậu cảnh sắp
hàng trước cửa từ đường thẳng tắp. Trước hiên dãy nhà ngang bên phải vài chùm
phong lan đong đưa. Những cánh lan Phi Điệp đen thẫm, ve vẩy như múa. Đầu tường,
cây bưởi đào đang độ nở hoa lặng lẽ thả từng cánh trắng muốt xuống mặt sân.
Hương bưởi nồng nàn, khêu gợi nỗi đam mê trong tiềm thức giống những lời đường
mật của con rắn đã từng xui Êva ăn trái cấm trong vườn Địa Đàng.
Cũng vào thời điểm ấy bà Ba không ngủ. Nằm cạnh con nhưng người
đàn bà đa tình này lại nhớ đến Lê Văn Vận theo một kiểu hoàn toàn thực dụng. Thị
Lánh đã ngán đến mức hoàn toàn lãnh cảm mỗi khi phải chiều chuộng lão dê già.
Chánh Đàm tuy chưa quá bốn mươi nhăm nhưng sức lực hầu như đã cạn kiệt sau những
cuộc ăn chơi trác táng hồi còn là lính tẩy. Vậy mà cái nhu cầu đàn bà của lão
không hề suy giảm. Có điều, lực bất tòng tâm, khả năng thực tế không đáp ứng được
lòng ham muốn. Lão nằm trên bụng bà Ba hàng nửa giờ hoàn toàn bất lực, còn bà vợ
trơ như một khúc gỗ, lạnh như đá, không hề có cử chỉ buốt ve, âu yếm. Mỗi lần bị
mất mặt như thế, chánh Đàm lại chửi:
- Đúng là dòng giống lái trâu. Đồ nặc nô !
Bà Ba cũng không kém cạnh, giẩu môi cạnh khoé:
- Đã thế sao còn ngủ với con gái phường lái trâu? Ông đã lấy
mất tuổi xuân của tôi giờ lại cả thèm chóng chán phải không?
Chánh Đàm bị hạ nhục mà chẳng biết nói thế nào. Xét cho cùng,
mọi sự đều tại bản thân. Lão không thể biết và không bao giờ biết, trước khi về
làm dâu họ Khúc, bà Ba đã mất trinh. Chính điều ấy làm lão yên tâm về Khúc Luận
- đứa con trai mà lão quý như vàng. Tức thì chửi, vì lão là chánh tổng của cai
quản một hạt rộng có đến mười ba làng vùng hữu ngạn sông Lăng, nhưng thực tình
lão vẫn sợ bà Ba, mà điều sợ hơn cả là bà Ba chứ không phải ai khác đã đẻ cho
lão một thằng con trai nối dõi tông đường. Thằng bé càng lớn, bà vợ càng nở ra,
trẻ đẹp và hiển nhiên là vô vùng quyến rũ. Khúc Đàm tự an ủi mình theo lý sự của
mấy tay trọc phú tiểu nhân đắc chí: "Cho dù ta đã già, sức khoẻ giảm sút
thì cô ta vẫn phải giữ trọn đạo làm vợ, không thằng phàm phu tục tử nào được
phép nhìn ngắm chứ chưa dám nói thả lời ong bướm cợt nhả". Họ Khúc quản lý
vợ như thế nên bà Ba, trừ một tối vào giã gạo chung với Lê Văn Vận còn tuyệt
nhiên không có cơ hội gần gũi người tình. Nhớ Lê Văn Vận da diết, mặc dù hai
người thường ngày vẫn gặp nhau, nhiều hôm Thị Lánh thẫn thờ như ốm lửng. Cô ta
mà ốm thì chẳng những Khúc Đàm mà cả bà Huê, bà Thoả đều lo lắng, chạy ngược chạy
xuôi đón thày lang bốc thuốc rồi nấu cháo đem lên tận giường nằm.
Thằng Khúc Luận đầy năm. Dáng vóc nó vậm vạp, hay ăn chóng lớn.
Nó chỉ giống bố ở vóc người còn nét mặt giống mẹ. Điều ấy làm cho bà Ba hoàn
toàn yên tâm. Thỉnh thoảng Lê Văn Vận cũng bế thằng bé. Nó bập bẹ gọi Vận là
"anh Vậng". Bà Ba ý tứ liếc mắt cho người tình khẽ mỉm cười. Cơ hội đến
với hai người vào dịp cụ chưởng bạ Khang bố đẻ bà cả Huê qua đời. Cả nhà phải
sang phục vụ đám ma, trừ Lê Văn Vận và bà Ba. Bà Ba lấy cớ đau bụng,
còn Lê Văn Vận phải đi cày bừa đồng Vạn để kịp gieo mạ chiêm. Đầu canh hai, sau
khi lừa thằng Luận ngủ, bà Ba đóng cổng, cài then rồi xuống nhà ngang. Lê Văn Vận
đã chờ sẵn. Vừa thấy Thị Lánh, Vận đã bế xốc cô ta đặt lên giường, chẳng nói chẳng
rằng, tốc ngược váy lên cổ rồi trườn ngay lên bụng. Bà Ba cấu vào sườn hắn bảo:
- Làm gì mà hùng hục như trâu húc bờ thế ? Vướng lắm, để em cởi
váy đã. Lê Văn Vận ghì chặt người tình bằng hai cánh tay hộ pháp, miệng thở như
kéo bễ:
- Phải tranh thủ ... Nhỡ lão Chánh về bất chợt.
Thị Lánh ưỡn người, cặp mắt lim dim, rên khe khẽ:
- Đừng làm em nghẹt thở…
Từ lâu Vận hoàn toàn vô cảm với cô vợ tật nguyền, giờ được dịp
gần gũi nhân ngãi hắn rạo rực đến mức bệnh hoạn, vần vò cô ta suốt đêm không ngủ,
chỉ đến khi thằng Luận đái dầm tỉnh dậy khóc toáng lên hai người mới rời nhau.
Lúc ấy đã gần sáng. Bà Hai Thoả đảo về nhà thì Vận đã vác cày, đánh trâu ra đồng.
Hắn vừa đi vừa ngủ gật thỉnh thoảng lại vấp một cái. Đồng Vạn là nơi giáp ranh
làng Bạch Đa. Ruộng này xa nhưng là loại thượng đẳng, lại gần nước vốn của nhà
Cả Sang, ông Sang thua xóc đĩa phải bán tháo cho chánh Đàm lấy tiền trả nợ. Từ
đấy lão chánh dùng làm xướng mạ. Lúc này đồng vắng tanh không một bóng người vì
còn quá sớm. Vận hạ cày, thả trâu lên gò đống Cao cho nó gặm cỏ rồi nằm co trên
bờ ruộng đánh một giấc.
Có thể nói, đây là giấc ngủ ngắn nhưng sâu nhất trong đời
chàng ngư phủ. Trong mơ, Vận thấy mình cùng Thị Lánh quắp chặt lấy nhau bay lên
bằng cặp cánh mỏng như cánh chuồn chuồn vừa mọc ra từ hai bên nách. Hắn chỉ
đóng mỗi chiếc khố sồi còn bà Ba gần như trần truồng, cặp vú trắng như tuyết
dài lòng thòng xuống tận đầu gối. Đang bồng bềnh giữa đám mây ngũ sắc nhẹ và xốp
như bông, Vận cảm thấy có cái gì vương vướng phía sau kéo hai người trở lại trần
gian. Hắn quài tay và bất chợt chạm phải cái đuôi đang dài dần với những đốt xương
xù xì mọc dầy lông cứng như lông lợn. Cái đuôi của bà Ba thì nhỏ hơn một chút
nhưng dài hơn cứ ngoe nguẩy như đuôi con rắn sọc dưa đến kỳ động cỡn. Những chiếc
đuôi phát triển hết cỡ thì cặp cánh biến mất, cặp tình nhân rơi xuống một khe
nước. Hai người thay hình đổi dạng đến mức đáng ngờ. Họ biến thành loài bò sát,
đầu người, đuôi rắn. Nhìn thấy thân hình quái dị của bà Ba,Vận vô cùng khiếp đảm,
thét lên một tiếng như tiếng thét của loài vượn đen khi đứa con vẫn bám vào bụng
nó bị rơi xuống vực sâu. Tiếng thét làm Vận toát mồ hôi tỉnh dậy. Hắn uể oải
vươn vai, rít mồi thuốc lào, sau đó bắc ách vào cổ trâu, bắt đầu cày.
Giống như con ngựa bất kham xổng chuồng, từ đêm mò
xuống giường Lê Văn Vận, trong lòng bà Ba không lúc nào yên, luôn tìm mọi cơ hội
gần gũi người tình. Trò xiếc không qua được mắt và cả Huê. Bà này chưa bao giờ
xem Thị Lánh là người đàn bà đoan chính. Thỉnh thoảng có dịp là nói gần nói xa
với chồng, nhưng chánh Đàm vốn tự cao tự đại không coi thiên hạ ra gì, luôn
nghĩ rằng, bà Ba là sở hữu riêng, chẳng thằng lực điền nào ở làng Cùa dám vuốt
râu cọp. Hơn nữa, thường ngày lão lại bị cô vợ trẻ mê hoặc bằng những lời đường
mật, nên trước sau cũng chỉ nghĩ, lời cảnh báo ấy chẳng qua xuất phát từ lòng
ghen tuông tầm thường của người đàn bà đã hết thời xuân sắc. Bà cả Huê là con
gái cụ chưởng bạ Khang. Cụ Khang đã từng là ân nhân của Khúc Tuệ, bố đẻ Khúc
Đàm hồi còn làm nghề ăn cướp. Không có cụ chưởng bạ thì Khúc Tuệ đã rũ tù sau một
đợt quan phủ Đông Giàng cho người về khám xét bắt được tang vật là chiếc đỉnh đồng
của nhà bang Thạch ở làng Vẽ. Ông Tuệ cảm nghĩa cử của chưởng bạ Khang xin kết
làm thông gia. Vốn là người quân tử trước sau như một, đã nói là
làm, vì thế sau này ngay cả khi Khúc Tuệ bị cai Thìn sát hại, cụ Khang vẫn giữ
lời hứa cho Khúc Đàm và con gái thành hôn bất chấp sự ngăn cản của gia đình và
dòng họ Đặng nổi tiếng có nhiều người đỗ đạt thành danh. Bà cả Huê trước cũng
vào hàng xinh đẹp ở làng Cùa, tuy sắc sảo, riết róng nhưng bụng dạ không hiểm độc.
Ăn ở với Khúc Đàm được sáu năm mà chưa có con, buồn lắm, nghĩ tại mình bạc phận
làm mất hương hoả nhà họ Khúc, vì vậy bà ta sang làng Nội tìm vợ bé cho chồng.
Bà Hai thời trẻ cũng là một cô gái đa tình nhưng kém nhan sắc, con ông khán Đản
bên làng Nội. Ông Khán là thầy phù thuỷ nổi tiếng trong tổng về tài tróc ma, trừ
yêu quái nhưng cũng không có con trai. Nghe nói cách đây hơn chục năm, những
lúc ông đi cúng, bà vợ bé ở nhà túng tấng với gã trương tuần ở xóm Rào. Biết
chuyện khán Đản chẳng nói chẳng rằng, chỉ vẽ một đạo bùa, cuộn lại rồi đem chôn
ở cổng bên cạnh con chó đá. Mấy hôm sau, đôi gian phu dâm phụ kia tự nhiên phát
điên rồi kéo nhau ra sông Lăng trẫm mình. Về nhà Khúc Đàm được gần ba năm thì
bà Hai sinh ra Khúc Thị Hài. Do thể trạng yếu, dặt dẹo từ bé, lại bị khoèo tay
mãi đến năm mười ba tuổi Khúc Thị Hài mới hết sài đẹn. Bà cả
Huê, trước đây vẫn quản lý công việc gia đình. Từ khi Thị Lánh về đoạt
quyền tay hòm chìa khoá, đảo lộn gia phong bà phải ngậm bồ hòn làm ngọt. Chánh
Đàm mê bà Ba quá, hơn nữa cô ta dựa vào cái bùa hộ mệnh là đứa con trai nên tha
hồ lộng hành, nói sao lão Chánh cũng phải nghe.
Những mánh khoé dù tinh vi đến đâu của cặp tình nhân, cuối
cùng vẫn có chỗ sơ hở. Bà cả Huê kiên nhẫn chờ thời cơ, rốt cuộc thời cơ ấy
cũng đến. Vụ mùa năm Giáp Tuất, lúa chín rộ, tá điền gặt không xuể, bà Ba huy động
cả nhà ra đồng trừ chánh Đàm và thằng con trai. Hôm ấy là buổi gặt ở đồng Quan.
Đã có chủ ý từ trước, Thị Lánh lấy cớ phải trông nom người làm, ở lại đồng sau
khi bà Cả, bà Hai và hơn chục tá điền gánh lúa về. Lúc này nắng đã dịu. Cánh đồng
sực nức hương lúa. Những thửa ruộng mới gặt rạ còn tươi, cọng xanh như lá niễng
xếp thành từng đống. Lũ châu chấu ma bay xập xoè từ mô này sang mô khác, thỉnh
thoảng lại nghiến răng kèn kẹt. Bọ muỗm béo núc, thân hình thon thon như chiếc
thoi dệt, xoè cặp cánh mỏng như lụa, lao vun vút lên trời, liệng một vòng rồi lại
sà xuống đậu vào một đám ruộng nào đó. Loài chim cút lẩn nhanh như có phép tàng
hình. Chúng thường xuất hiện ở những chân ruộng tám thơm hoặc dự hương chớm đỏ
đuôi. Dự hương thấp cây, hạt nhỏ toả mùi thơm nồng nàn trong gió heo may. Trên
trời, một con diều hâu cứ lượn đi lượn lại như cố tình khoe cặp cánh dài màu
xám bạc. Sự kiên nhẫn của chàng sát thủ này không một loài chim ăn thịt nào bì
kịp. Vào lúc bất ngờ nhất, nó cụp cánh, thả mình rơi tự do như một mũi tên quắp
con dẽ gà rồi lao vút lên với một tốc độ đáng nể. Lúc này đồng không mông quạnh,
chỉ còn Lê Văn Vận và bà Ba là những người cuối cùng xếp lúa vào quang. Hai
gánh lúa xếp đầy đến cổ là những tấm bình phong tuyệt vời. Thời gian lúc này là
vàng. Chẳng cần màn dạo đầu tán tỉnh vô bổ của những cặp trai gái mới chập chững
bước vào trường tình, Lê Văn Vận dằn ngửa bà Ba xuống tấm nệm rạ, tốc ngược váy
lên ...
Giữa lúc chàng ngư phủ đang ngây ngất trên bụng người thiếu
phụ, thỉnh thoảng lại nhổm dậy, quỳ xuống lớp rạ tươi vuốt ve cặp đùi trắng hồng,
mập mạp đầy nhục cảm đang dạng ra một cánh rất vô liêm sỉ thì bà cả Huê bất ngờ
xuất hiện như là từ trên trời rơi xuống. Đôi tình nhân hết hồn, vẫn còn trần
truồng, vội rời nhau quỳ sụp xuống lạy như tế sao:
- Em trót dại mong chị thể tình tha cho ...
- Con lạy mẹ cả ! Chuyện này mà bố biết thì ông ấy giết chết
cả hai…
- Các người to gan thật ! - Bà cả Huê hắng giọng - Thì ra ta
đoán không sai. Từ xưa đến nay, loạn luân vẫn là tội tày đình, không thể tha được.
Thị Lánh kéo váy xuống nhanh đến mức bà cả Huê cũng phải thán
phục. Chàng rể Vận, mặt tái như gà cắt tiết, xỏ cả hai chân vào một ống quần,
lúng túng mãi mới đứng dậy được. Tình thế lúc này chẳng khác gì màn bi hài kịch.
Hai nhân vật chính thủ vai hết sức vụng về trong bộ dạng như nhà có đám, đang cố
tìm những lời bi thương nhất tác động vào lòng từ bi của người đàn bà từ lâu đã
bị Thị Lánh cho ra rìa.
- Chị xưa nay vẫn có lòng nhân hậu, cùng đàn bà với nhau,
thương em chút nào em được nhờ chừng ấy.
Bà cả Huê cười nhạt bảo:
- Từ khi về nhà họ Khúc đến nay chưa bào giờ tôi thấy dì khéo
mồm thế. Tôi có thể báo việc gian dâm này với ông Chánh ngay chiều nay để làng
xử phạt, nhẹ ra cũng thả bè trôi sông, nhưng nghĩ "anh chị"
còn trẻ trót lầm lỡ nên hãy tạm gác tội đấy nếu cô Lánh thuận theo những điều
kiện sau...
- Xin chị cứ dạy, chỉ cần chị tha tính mạng, trăm điều em
cũng xin theo.
- Thứ nhất . - Bà Cả Huê hắng giọng một lúc rồi mới
ra tối hậu thư - Ngay từ tối nay, cô phải nói với ông Chánh, bằng cách nào thì
tuỳ, trao lại việc quản lý gia đình cho tôi.
Thị Lánh ngây mặt ra nhưng thoáng nghĩ đến cài bè chuối bập bềnh
trên sông Lăng đành phải chấp nhận :
- Xin theo ý chị.
- Thứ hai - Bà cả Huê liếc nhìn một thoáng - Mỗi tháng cô phải
để ông Chánh sang buồng tôi ba đêm.
- Chuyện ấy thì dễ, chị cứ tin ở em.
- Điều thứ ba là, từ nay "anh chị" phải thôi làm
chuyện đốn mạt ấy đi, nếu ngựa quen đường cũ, đừng trách tôi không có lượng bao
dung. Bây giờ cho hai người gánh lúa về. Tôi ở lại trông đồng, ngày mai sẽ nói
chuyện với anh Vận.
Hoá ra bà Cả cũng không đến nỗi nào. Thị Lánh thầm nghĩ trên
đường. Thật hú vía. Xuýt nữa thì khốn nạn. Lê Văn Vận sợ quá toát mồ hôi lạnh.
Hắn lầm lũi bước. Bà Ba hỏi gì cũng không nói. May mà đường làng vắng người qua
lại, nếu không hẳn là có kẻ nghi ngờ cách nói năng nhấm nhẳng của bà Ba cũng
như thái độ lạnh lùng, vô cảm như thằng câm của chàng ngư phủ.
Bà Cả không phải là kẻ sắt đá, vô tình nên luôn
nhìn Mạc Thị Lánh và Lê Văn Vận bằng cặp mắt soi mói của loài mèo rình chuột. Vốn
là cô gái con nhà tử tế, về nhà chồng từ năm mười bảy, vì không sinh con nên bị
Khúc Đàm hắt hủi đến mức, muốn yên thân, phải mang trầu cau sang sông hỏi vợ
hai cho chồng. Trước đây bà nghĩ mình phận mỏng trời không thương, đày xuống trần
gian chịu phận cô quả, sau này mới biết, sự việc không hoàn toàn như thế, nhất
là từ khi chánh Đàm cưới vợ hai. Mới ba mươi tám, lòng bà Cả chưa tắt ngọn lửa
xuân tình. Bà phải làm ra vẻ đạo đức, trước hết, bởi chánh Đàm có mới nới cũ từ
lâu lạnh nhạt với vợ cả. Thứ nữa, là người cai quản mọi việc trong nhà, bà cần
nêu tấm gương đoan chính để giữ gìn gia đạo. Tư gia họ Khúc nội bất xuất, ngoại
bất nhập, suốt ngày mấy người đàn bà chỉ quẩn quanh với công việc nhàm chán. Rất
nhiều đêm nhất là những đêm đông dài dằng dặc nằm trong chăn đệm mà trái tim bà
lạnh giá, lòng thổn thức những hoài niệm vu vơ, những khát vọng đầy hoang tưởng.
Bà nghĩ đến số kiếp con người cô đơn, buồn tủi và khốn khổ trong cõi nhân gian.
"Giờ thì khác rồi. Mình cũng là một người đàn bà như ai, phải có quyền được
hưởng niềm vui làm vợ, làm mẹ thực sự". Bà Cả Huê thoáng nghĩ đến chàng
ngư phủ. Ta tha cho lần này là muốn anh phải biết điều. Hãy rời con quỷ cái kia
ra. Nó chính là hiện thân của loài hồ ly tinh sẵn sàng nuốt chửng anh lúc đói.
Mấy hôm sau, một đêm tối trời, khoảng canh ba, một bóng đen
băng qua sân gạch lên nhà trên, vào buồng bà Cả. Bóng đen vừa lẻn vào, cửa lập
tức chốt lại. Bà Cả Huê trên người không một mảnh vải ôm ghì lấy Lê Văn Vận vật
ngay ra giường rồi cầm tay hắn đặt lên ngực thì thào:
- Cẩn thận không cái Hài nó biết .
- Nó ngủ say như chết, với lại hôm nay tôi nằm chõng, ngoài
hiên, biết làm sao được.
- Nào, nhanh lên ! Sao lúng túng thế ?
- Cứ từ từ, - Vận giỏng tai nghe động tĩnh bên ngoài, giọng
nhát gừng nhưng rất
khẽ, - còn từ giờ đến cuối canh tư cơ mà.
Bà Cả vòng hai tay ôm cổ chàng ngư phủ y hệt cái cách bà Ba
đã từng làm với hắn. Lần đầu tiên trong đời, bà Cả Huê biết thế nào là một cuộc
phiêu lưu trong thế giới mây mưa với một người đàn ông thực sự. ít phút sau,
trong trạng thái đê mê của sự đụng chạm xác thịt, bà ta vít đầu Vận rỉ tai:
- Thế nào ? Tôi chiều cậu có bằng cô Lánh không ?
- Thì ra chị ghê gớm hơn là tôi nghĩ . - Vận áp cái đầu tóc rễ
tre bù xù vào giữa hai bầu vú mát lạnh vẫn còn rất mẩy của người đàn bà nạ dòng
- Vì sao lúc ngoài đồng chị không làm ầm lên
mà lại tha chúng tôi ?
- Không biết vì sao à ? - Bà Cả bấu nhẹ vào sườn chàng ngư phủ
làm hắn buồn giật nảy người - Cậu ngốc lắm. Tôi cần một đứa con trai như dì Ba.
- Có nghĩa là... chị đã biết ?
- Vải thưa che làm sao được mắt thánh. - Bà Cả lửng lơ -
Nhưng cậu giờ hồn đấy, thỉnh thoảng không lên với tôi thì đừng có trách.
- Thế còn ông Chánh ?
- Cái lão già vô tích sự ấy kể làm gì. Tôi đã có cách miễn là
cậu giữ lời hứa.
Đã quá nửa trống canh nhưng bà Cả Huê vẫn chưa chịu cho Vận
xuống nhà ngang. Hắn vừa tuột khỏi giường thì bà ta bật khóc. Tiếng khóc thầm bị
dồn nén từ non nửa cuộc đời giờ mới thoát ra được nghe thật tội nghiệp.
Về phần mình, chánh Đàm tuy rất đa nghi nhưng tuyệt nhiên
không biết màn bi kịch của gia đình họ Khúc đã bắt đầu. Lão suốt ngày lên phủ
xuống huyện, ra tổng, có những dịp thường xuyên vắng nhà. Đấy là cơ hội tuyệt vời
cho bà Cả, bà Ba và gã chàng rể quý chơi trò mèo mỡ. Họ dùng đủ mọi mưu ma chước
quỷ đánh lừa mẹ con bà Hai. Chánh Đàm cưng chiều thằng con trai hết mức, vì vậy
vai trò của bà Ba trong gia đình họ Khúc càng trở nên quan trọng. Có lần lão
còn cho thằng bé mới hơn hai tuổi cùng cưỡi con ngựa bạch bờm nâu.
Hai bố con rong ruổi từ đầu làng đến cuối làng, nhạc ngựa kêu long coong, cu cậu
thích lắm cứ túm lấy bờm hét toáng lên. Hai đứa trẻ nhà Lê Văn Vận cũng đầy
năm. Chúng không giống nhau lắm nhưng đều phổng người, hay ăn chóng lớn. Bà Hai
thật không ngờ, một đứa con gái khoèo tay như Khúc Thị Hài mà có có phúc lấy được
thằng chồng khoẻ mạnh, tháo vát được cả nhà quý. Quả thật, trong thâm tâm cũng
có lúc bà thoáng nghi ngờ khi bắt gặp cái nhìn khác thường của bà Ba với Lê Văn
Vận. Nhưng anh chàng này khôn, những lúc có người khác bên cạnh đều không biểu
hiện thái độ gì vượt quá khuôn phép của con cái đối với cha mẹ. Bà Hai chỉ có
thể nghĩ, Thị Lánh là cô gái không đoan chính chứ tuyệt nhiên không thể coi
chàng rể hư hỏng. Đây là kỷ cương gia pháp. Huống hồ, ông Chánh là người đứng đầu
cả tổng, danh tiếng họ Khúc ở huyện này ai mà không biết.
4
Thời gian ấy, chánh Đàm hay vắng nhà. Thực ra lão chẳng bận lắm
với công việc "quốc gia đại sự" mà cái chính là đang vướng phải lưới
tình. Nhân tình của họ Khúc là một người đàn bà có cặp mông vĩ đại, to như cái
giành ủ thóc giống và đôi mắt ươn ướt nép dưới hàng mi lưa thưa trông giống mắt
loài dê núi đang thời kỳ cho con bú. Trên đường công cán, Khúc Đàm gặp cô ta
khoác cái bị cói đi chợ về. Lão dẻo mỏ đến mức lôi được cô ta lên ngựa cho ngồi
phía trước. Chiếc bị treo lủng lẳng vào móc yên. Đường về làng Buộm không xa
nhưng lão cố tình cho ngựa chạy vòng lối kẻ Sung để có thêm thời gian cọ sát cặp
mông người đẹp. Cô nàng là vợ một thầy quyền khố xanh. Anh lính này nghe nói đồn
trú ở mãi Hà Quảng Cao Bằng. Gái một con, vắng chồng lâu ngày, ngứa ngáy không
chịu được. Cô ta đã từng tiếp đón hết lượt các thầy cai, thầy ký, thầy đề trong
huyện, nổi tiếng là người đàn bà có thuật mê hoặc lũ mày râu dại gái. ả vợ lính
đa tình rút ruột Khúc Đàm không biết bao nhiêu mà kể. Có lần bí quá, lão phải lấy
tạm ít tiền thuế để làm dịu bớt con đồng bóng của nhân ngãi.
Bà cả Huê thấy mức thu hàng năm của gia đình mỗi ngày một
tăng mà tiền lại mỗi ngày một giảm, đâm nghi chánh Đàm mang đi cho gái liền bàn
với bà Ba cử người thân tín theo dõi. Người được giao việc này là
hai Doạc, cháu gọi bà Huê bằng cô. Hai Doạc máu rượu, lúc nào cũng nhẵn túi, ngẫm
nghĩ: "Thế ông Chánh đang mạnh, dại gì vuốt râu cọp. Chi bằng ta cứ ngầm
thăm dò, nếu thấy tổ con chuồn chuồn thì doạ mấy câu kiếm vài đồng uống rượu
còn hơn là phục vụ không công cho bà cô". Mấy hôm sau, hắn cải dạng thành
thằng bắt rắn với bộ đồ nghề trên vai, hễ thấy chánh Đàm cưỡi ngựa ra khỏi nhà
là đi theo. Họ Khúc có thói quen cho ngựa đi bước một, ngồi thẳng đuỗn trên
yên, mắt mơ màng, thả tâm hồn ngắm trời ngắm đất. Đấy là lão bắt trước phong
thái ung dung tự tại của lãng tử Lý Bạch tiên sinh mỗi khi tìm cảm hứng thi ca.
Điều ấy có lẽ chỉ là phỏng đoán, chắc không đúng, vì cả đời có bao giờ họ Khúc
đọc nổi một câu thơ Đường, mà cái chính là lão tìm cách kéo dài thời gian, bằng
cách cho con tuấn mã dẫn diệu, sao cho khi vào đến xóm Bồng Bồng làng buộm thì
trời vừa chạng vạng. Xóm Bồng Bồng gần huyện nhưng là một trại mới lập, xa
làng, chỉ lưa thưa mấy chục nóc nhà, trời lại sắp tối, mấy ai để ý đến khách
vãng lai. Thế là sau vài lần rình mò, tay thám tử đã biết rõ nơi nghỉ qua đêm của
ngài chánh tổng. Chập tối hôm thứ ba, cũng theo quy luật ấy, chánh Đàm vừa vào
nhà nhân tình một lúc thì hai Doạc lập tức xuất hiện. Họ Khúc đang lúng túng
chưa biết xử trí thế nào, gã bợm rượu đã nhanh nhảu bảo:
- Tôi ở bên kia sông đi bắt rắn, trời lại sắp tối nên vào đây
xin chị mồi lửa.
Chánh Đàm đưa mắt ra hiệu nhưng hai Doạc lờ đi coi
như không biết. Hắn châm lửa vào bùi nhùi, uống một bát nước vối rồi xách thuổng
bước ra.
- Cậu mới học được nghề bắn rắn ban
đêm à ?
Hai Doạc cười rất tươi:
- Dạo này túng quá, nhà hết sạch thóc, chẳng còn gì cho các
cháu ăn nên phải liều ông ạ.
Hai Doạc vừa bước chân khỏi cổng chánh Đàm cũng theo ra, chộp
vai hắn, quát khẽ:
- Bà Cả sai mày... phải không ?
- Dạ thưa ông Chánh, con đi bắt rắn thật mà.
- Rắn cái con khỉ ! - Chánh Đàm văng tục - Mày giờ hồn đấy !
- Bẩm ông, con không dám.
- Từ rày mày mà còn rình mò thì ông róc xương. - Khúc Đàm vừa
thò tay vào túi móc mấy tờ bạc ấn vào tay hai Doạc vừa lầu bầu - Cút ra ngoài
bãi tha ma mà bắt rắn mòng. Cấm được bép xép, nhớ chưa ?
- Bẩm, con nhớ rồi.
Thế là âm mưu của bà cả Huê và bà ba Lánh thất bại thảm hại.
Thằng cháu giời đánh hễ gặp cô lại lẩn như chạch. Hai Doạc là thằng không có lập
trường, mạnh ai theo người ấy. Sau này, thời Nhật chiếm đóng, hắn theo lũ giặc
làm bồi ngựa cho tên quan hai hirôsi. Một lần Doạc dắt ngựa ra sông tắm, con ngựa
thụt chân xuống kè đá bị trẹo khớp. Tên trung uý rút kiếm chém một nhát ngang cổ,
đầu hắn rơi xuống một lúc, máu mới từ cổ phọt ra.
Cuối cùng thì sau hai mươi mốt năm lấy chồng bà cả Huê cũng
mang thai, tin này như một quả bom làm chấn động làng Cùa, thậm chí cả tổng Kim
Đôi, nhưng trong nhà họ Khúc mỗi người tuỳ theo hoàn cảnh của mình tiếp đón nó
với thái độ khác nhau. Chánh Đàm tất nhiên là vô cùng phấn khởi. Người đầu tiên
lão nghĩ cần phải trả ơn là ông lang Toét làng Suộm. Ông này năm ngoái đã bán
cho lão bình rượu ngâm cá ngựa lẫn với ba con tắc kè hoa đầu bạc. Thứ thuốc
tráng dương lập tức có ngay tác dụng khiến lúc nào họ Khúc cũng dậm dật như
phát cuồng, đến nỗi có đêm chẳng biết vô tình hay hữu ý, lão mò vào giường cô
cháu gái bà Cả từ kẻ Suốt sang chơi khiến cô ta kêu toáng lên. Trong thâm tâm,
chánh Đàm hy vọng bà Cả sẽ sinh một thằng con trai. Bà ta mà có con trai thì hiển
nhiên là Thị Lánh hết làm mình làm mẩy. Lão sẽ trị dần dần rồi đưa vào khuôn
phép, không thể để lăng loàn như trước. Trong tương lai, nhà thêm một suất
đinh, thế của họ Khúc ngày càng được củng cố, như vậy mỗi khi ra chốn đình
trung, lão mới đoàng hoàng ngẩng mặt nhìn thiên hạ. Bà cả Huê thì vừa lo vừa mừng.
Lo vì tuổi đã cứng chẳng biết chuyến này vượt cạn có dễ dàng, nên thường xuyên
thắp hương trước bàn thờ Quan Âm mong ngài phù hộ cho mẹ tròn con vuông. Thứ nữa
liệu đứa bé sinh ra giống ai? Tốt nhất là không nên giống bất kỳ người đàn ông
nào trong nhà này trừ Khúc Đàm. Mừng vì nếu một thằng con trai ra đời, Thị Lánh
sẽ không còn giữ địa bị độc tôn. Bà sẽ lấy lại thế thượng phong, điều hành toàn
bộ hoạt động của gia đình họ Khúc, đến khi lão dê già chầu trời, sẽ
tìm cách tống khứ con yêu tinh ấy về với lão lái trâu bên kia sông. Thỉnh thoảng
bà cả Huê lại đóng cửa buồng, tuột váy đến ngang hông, vuốt vuốt cái bụng đã
hơi căng nổi chằng chịt gân xanh lẫn với những mạch máu li ti rồi nhoẻn miệng
cười. Làn da bụng màu vàng nhạt, đôi chỗ xam xám điểm vài vết sần nho nhỏ, thỉnh
thoảng khẽ chuyển động nghe như đưa trẻ đang cựa quậy.
Lê Văn Vận vẫn thậm thụt đi lại với Mạc Thị Lánh mặc
dù bà Cả đã cấm. Hắn
không muốn làm phật lòng bà Huê nhưng cũng khó mà đoạn tuyệt với người tình. ở
vào cái thế chạch bỏ giỏ cua, Vận đành phải chấp nhận phương án tình thế, san sẻ
tình cảm cho cả hai thậm chí ba người đàn bà để giữ an toàn tính mạng. Những
lúc gặp chuyện khó xử Vận lại ra sông Lăng đánh cá. Chiếc thuyền câu cũ, trước
khi về làm rể chánh Đàm hắn đã cho tay Quýnh trong vạn chài. Gần đây ông bố vợ
thuê đóng một cái mới để hắn kiếm cá tươi, nhất là loại cá chép râu đỏ về nhắm
rượu. Một lần hứng lên, họ Khúc còn đem bà Ba cùng thằng con trai xuống
thuyền, bắt Lê Văn Vận chèo xuôi dòng xuống đến ngã ba Môi ngắm cảnh. Sông Lăng
mùa này nước chảy lờ đờ. Cá chày mắt đỏ, cá chép vàng và cá lăng ngược dòng tìm
nơi đẻ trứng, bơi từng đàn như những đám rong đuôi chó phát sáng. Cồn Vành
choài ra như một miếng vá hình bán nguyệt nhấp nhô lau lách. Từ trong đám sậy,
thỉnh thoảng một con vịt hoang hoặc một cặp le le vút lên vỗ cánh phành phạch,
làm lũ cào cào tím, đầu nhọn giật mình bay loạn xạ. Mòng nước thì bất chấp sự đời
miễn là no bụng. Chúng rủ nhau vài ba con một, dàn hàng ngang dùng cái mỏ vừa
dài vừa nhọn, khoắng xuống mặt ruộng tìm lũ cá lác ngờ nghệch . Bọn cá mương
háu ăn lao loạn xạ trên mặt ruộng nước đục ngầu như thoi dệt cửi. Chúng cứ chờn
vờn theo một vũ điệu nhố nhăng chẳng theo quy luật nào nên rất khó bắt trừ
giăng lưới ba bề bốn bên rồi dùng mõ giậm lùa dần. Trên cao, một con bói cá mỏ
dài hơn cả thân người, trông như một đốm sáng xanh biếc biết bay. Thoắt một
cái, nó thả mình lao xuống theo chiều thẳng đứng, trong chớp mắt, giữa cái mỏ cứng
như gọng kìm đã ngậm chú cá trôi bằng ngón tay lấp lánh như bạc.
Khúc Đàm nhấm nháp từng ngụm rượu cá ngựa ngâm thuốc bắc với
cá chép nướng than hoa chấm muối tiêu và mấy lát gừng. Thằng con trai thích thú
nhìn những cánh buồm nâu trên các con thuyền chở đá ngược dòng về bến Tràng.
Thuyền nào phần mũi cũng cong vút lên sơn màu nâu thẫm, bên dưới vẽ hai con mắt
tròn, đồng tử trắng, viền vàng trông như mắt quỷ. Nhìn thấy đôi mắt quái dị, thằng
bé chẳng những không sợ mà còn lấy tay vẫy vẫy. Cánh chân sào ném sang thuyền mấy
bắp ngô luộc còn nóng. Lão Chánh giơ tay ra hiệu cảm ơn rồi nhặt món quà của những
người phu thuyền đưa cho con. Ngắm cảnh trời nước mênh mông tâm trạng thư thái,
họ Khúc bảo với bà Ba:
- Cảnh đẹp như thế này chả trách trước đây anh Vận không muốn
bỏ nghề hạ bạc.
Lê Văn Vận làm như không nghe thấy, lẳng lặng chèo. Bà Ba khẽ
mỉm cười. Thuyền cập bến, trời cũng vừa xế bóng, Bà cả Huê và Khúc Thị Hài đứng
trên đê chờ. Nhìn thấy vợ cả, chánh Đàm nhăn mặt:
- Bà đang bụng mang dạ chửa ra đây làm gì, nhỡ xảy chân thì
khốn.
Bà Huê mắt long sòng sọc lườm Thị Lánh nhưng giọng lại ngọt
nhạt:
- Ông Lái bên nhà sang chơi, thầy nó với dì về ngay đi.
Đợi cho mọi người vào làng, dưới bến chỉ còn lại Lê Văn Vận
đang lúi húi cuốn tay lưới, bà cả Huê làm mặt giận:
- Tôi đã cấm chỉ thế mà chứng nào vẫn tật ấy.
Chàng ngư phủ đánh trống lảng:
- Đâu có, bà Cả chỉ hay đa nghi.
- Nửa đêm hôm kia đứa nào lẻn xuống nhà ngang bấu vào người
anh rồi kéo nhau ra vườn chuối. Anh tưởng tôi mù chắc ?
- Tôi xin thề ...
- Từ xưa đến nay lời thề mà linh nghiệm thì lũ đàn ông các
người tuyệt giống rồi.
Thực tình, Lê Văn Vận dù có muốn, bà Ba cũng không để cho anh
ta thoát khỏi cuộc tình vụng trộm mà chính cô ta là người giăng bẫy. Bà Cả đang
thời kỳ mang thai, nhìn lũ chúng thậm thụt với nhau, bất chấp lệnh "giới
nghiêm" lấy làm ngứa mắt. "Ta đã cảnh cáo nhiều lần, nếu không
biết điều thì đừng bảo là thiếu lượng bao dung". Bà Huê nghĩ vậy và lặng lẽ
chờ cơ hội.
Về phần mình, sắc sảo đến thế mà Thị Lánh vẫn bị bà cả Huê xỏ
mũi. Chuyện tư thông giữa bà cả và Lê Văn Vận cô ta không hề hay biết. Nó được
bí mật cho đến khi cái bụng bắt đầu phình ra. Tới lúc này bà Ba mới đặt dấu hỏi:
"Chả lẽ món rượu hổ lốn cá ngựa, tắc kè với thuốc bắc lại có tác dụng
nhanh đến thế ? Mình không tin. Thế thì sự thật kẻ nào là chủ của
cái bào thai quá muộn mằn ấy ?" Cô ta không bao giờ nghĩ đến Lê Văn Vận mà
dứt khoát cho rằng, con mẹ cáo già kia đã thậm thụt với một gã trương tuần nào
đó rồi lập lờ đánh lận con đen, nhằm giành lại quyền bà chủ nếu may ra đẻ được
thằng con trai. Nghĩ đến đấy, nỗi bực dọc dâng lên tận cổ làm cô ta gần như nghẹt
thở. Bằng mọi cách, phải tìm ra sự thật, nếu không, cơ ngơi này trước sau cũng
rơi vào tay con mụ già.
Chính vào lúc bà Ba đang ngày đêm trù tính kế hoạch cho tương
lai thì bà cả Huê cao tay hơn đã nhanh chóng ra đòn trước.
Từ lâu, bà Huê đã bóng gió cho chồng biết những hành vi thiếu
đoan chính của Thị Lánh. Tất nhiên chánh Đàm không tin, nhưng đấy là thứ đòn
gió, hư hư thực thực nhằm chuẩn bị tinh thần cho lão nếu sau này có chuyện xảy
ra. Bà đã tha cho một lần, không thể tha tiếp lần nữa để ả xỏ chân lỗ mũi. Chuyện
xảy ra vào một đêm tháng tư, chánh Đàm phải ra đình họp với Hội đồng kỳ mục,
chuẩn bị cho lễ rước sắc phong Thành hoàng. Làng Cùa đón gánh chèo của ông trùm
Lộng ở kẻ Sui về diễn tích Lưu Bình Dương Lễ. Chiều hôm ấy bà cả Huê
đến nhà hai Doạc. Bị tóm bất ngờ, hắn không lẩn được đành nhe răng cười trừ. Bà
Huê móc hầu bao đưa cho gã bợm rượu ít tiền rồi ghé tai thì thầm mấy câu. Trước
lúc ra về bà nẹt hắn:
- Lần này mà làm hỏng việc nữa thì tao bảo ông Chánh tống mày
đi lính.
Hai Doạc nhăn nhở cười lấy lòng:
- Cô yên tâm, nhất định lần này cháu lập công chuộc tội.
Bà Cả dự đoán không sai. Chừng giữa canh ba, khi cả làng đang
chăm chú theo dõi tích chèo ở sân đình thì Lê Văn Vận lẻn ra ngoài. Một lúc sau
bà Ba cũng tìm cách rời khỏi cuộc vui. Hai Doạc lập tức bám theo họ.
Khi hai người vào nhà cài then cổng, gã bắt rắn lập tức quay lại đình vào gặp
Khúc Đàm. Ông Chánh ra hiệu cho thằng cháu vợ đợi một lúc rồi cả hai mới trèo
tường vào nhà bằng lối vườn chuối. Đàn chó nhận ra mùi của ông chủ, không hề sủa
một tiếng, chỉ đến khi chánh Đàm quát to thị oai, đôi gian phu dâm phụ mới hết
hồn, lục sục mãi chưa rút được chốt cửa. Một bóng đen nửa trần truồng bất ngờ
lao ra húc vào Khúc Đàm rồi nhảy xuống sân. Hai Doạc thuận tay phang một gậy
vào bắp chân gã gian tế. Hắn bị đau, ngã xoài xuống nền gạch Bát Tràng nhưng lại
đứng dậy ngay. Chánh Đàm lồm cồm bò dậy, sờ nắn mạng sườn một lúc rồi bảo hai
Doạc đánh lửa châm nến. Bà Ba đầu tóc bù xù ngồi ủ rủ góc giường. Chánh Đàm mặt
hầm hầm quát:
- Đứa nào vừa ở đây ra ?
Thị Lánh sợ lắm, đang tìm kế hoãn binh nên không nói gì, chỉ
ti tỉ khóc.
- Câm mồm ! Tao hỏi: Đứa nào vừa ở đây
ra ?
- Kìa mình ! Không phải tại em. Em khổ lắm - Thị Lánh khóc
nghe thật ai oán.
- Gái đĩ già mồm ! - Chánh Đàm nghiến răng kèn kẹt
- Hỏi vậy thôi chứ tao đã biết thừa nó là thằng Vận. Cứ thử xem có chạy được
mãi không.
Chánh Đàm lấy dây thừng trói hai tay bà Ba vào cột nhà rồi
khoá cửa lại, nhét chùm chìa khoá vào túi sau đó bảo hai Doạc:
- Chuyện này không được nói với ai. Mấy hôm nữa chú sẽ cắt
cho ba sào ruộng đồng Đấu. Mày mà bép xép tao trình quan cho đi hiệu lực ở
Tuyên Quang chết mất xác nhớ chưa ?
- Thưa chú, cháu nhớ, nhưng ...
- Lại vòi tiến uống rượu chứ gì ? Đây, cầm lấy.
Sáng hôm sau, Khúc Đàm tự tay trói bà Ba vào cột chuồng trâu
rồi dùng roi mây quật ngang lưng. Tiếng roi vun vút nghe thật ghê rợn nhưng người
đàn bà vẫn cắn răng chịu không hề kêu một tiếng. Đánh chán, lão quẳng roi lên
nhà uống rượu. Tấm lưng thon thả trắng nõn nà của Thị Lánh đầy những vết thâm
tím hằn thành vệt chẳng khác gì mụn vá vụng về bằng các loại vải khác nhau. Bà
Ba chịu đòn ánh mắt đầy lửa hận thù. Với bản chất phóng túng như con ngựa hoang
tung hoành trên thảo nguyên, không thích các loại yên cương, hàm thiếc ràng buộc,
cô ta hoàn toàn mất tự do trong một gia đình hào mục với những quy tắc giáo điều
nghiệt ngã do Khúc Đàm làm chủ. Hành vi của bà Ba và thằng con rể là một cái
tát vào niềm kiêu hãnh của Khúc Đàm vốn vẫn dương dương tự đắc cậy mình là bề
trên của cả vùng Ba Tổng. Lão đau đến tận xương tuỷ nhưng là nỗi đau không thế
nói ra, bởi nếu thiên hạ biết chuyện này thì không còn mặt mũi nào nhìn cánh chức
sắc hàng tổng nhất là phó tổng Lê Bang. Ông ta có gã em vợ làm phán lục lộ trên
tỉnh, nhà giầu nhất nhì làng Cùa, luôn nhăm nhe lật đổ lão để giữ triện đồng.
Việc này phải xử lý sao cho trong ấm ngoài êm mới giữ được thể diện vốn là yếu
tố quan trọng nhất của hàng sắc mục. Việc đầu tiên là chánh Đàm bảo Khúc Thị
Hài đem thằng Luận về quê bà Hai chơi mấy ngày cùng với hai đứa con trai sinh
đôi. Tiếp sau, lão sai mấy tá điền là tay chân thân tín bí mật thủ tiêu Lê Văn
Vận, xong việc sẽ thưởng hậu. Lệ làng Cùa rất khắt khe. Từ xưa đến nay những
người đàn bà thất tiết bị bắt quả tang hoặc hoang thai đều bị gọt tóc bôi vôi
thả bè trôi sông. Lão không muốn bà Ba chịu hình phạt này nhưng cũng không thể
để cô ta cứ nhởn nhơ cắm sừng lên đầu mình. Lão có cách giải quyết vụ bê bối
này êm hơn, gọn hơn. Từ chiều hôm qua, nghĩa là sang ngày thứ hai từ khi bà Ba
bị trói, họ Khúc đã chuẩn bị một ít thuốc độc loại không có mùi vị do lang Toét
bào chế làm bả chó bán cho bọn đào tường khoét ngạch. Chỉ cần pha một liều vào
nước cho cô ta uống là xong. Những việc còn lại đối với một chánh tổng đương chức
không có gì là khó. Cứ nói bà chánh Ba bị cảm thương hàn chết đột ngột thế là
xong. Không một ai trong làng Cùa dám ngờ chánh tổng giết vợ. Còn thằng Vận,
sau khi hắn chết sẽ phao tin thủ phạm là tay chân của Cửu Nghi, một tên trùm cướp,
nổi tiếng giết người không ghê tay mới dạt từ Thạch Nham về vùng Ba Tổng hoành
hành.
Đêm ấy Lê Văn Vận hốt quá, sau khi húc vào sườn làm bố vợ
ngã, hắn băng qua sân, nhảy phứa lên tường mặc cho mảnh sành cào vào tay và bụng
nhoe nhoét máu chạy tháo thân. Cứ thuận đường, hắn chạy mãi đến khi nghe tiếng
sóng vỗ óc ách mới biết đã đến sông Lăng. Hắn xuống bến tìm nơi buộc thuyền, định
xuôi dòng xuống ngã ba Môi. Đêm càng khuya sóng vỗ vào kè đá càng mạnh. Gió
đông nam chạy dọc triền sông, xô những con sóng gối vào nhau nghe rào rào như
là tiếng đập cánh đồng loạt của bầy nhạn nước mỗi khi cất mình bay lên khỏi đầm
Ma. Phía bên kia cồn Vành, vài đốm lân tinh chập chờn, lúc ẩn lúc hiện như ma
trơi. Những con vạc ăn đêm cần mẫn dùng chân sục sạo, lùa lũ tép gạo dưới khu
ruộng trũng cạnh đầm vào cái mỏ vừa nhọn vừa dài như kìm thợ rèn. Lũ bìm bịp lặn
ngụp kiếm ăn dưới đầm thỉnh thoảng lại ngoi lên kêu những tiếng rời rạc gọi bạn.
Một con mèo hoang đuôi trắng gào lên như hoá rồ bằng thứ âm thanh khàn khàn giống
hệt tiếng rên rỉ của người già nghiện thuốc lào lúc hấp hối. Con mèo cứ quẩn
quanh bên sườn đê, thỉnh thoảng lại ngước cặp mắt lóng lánh như mắt ma nhìn
chàng ngư phủ như là nhìn kẻ thù. Vận ngứa mắt, cúi xuống quờ một hòn đất ném.
Con vật cúp cái đuôi trắng như đuôi cáo Bắc cực biến vào đám dứa dại. Từ điếm
canh không đèn đóm hình như có tiếng khóc thút thít. Chẳng lẽ lại là ma. Hắn đi
vòng từ dưới chân đê lên, dõi mắt quan sát. Không phải ma là một cặp trai gái
đang ngồi bên nhau. Gã con trai đang thì thầm tán tỉnh điều gì đó còn cô gái cứ
ngúng nguẩy thỉnh thoảng lại hất tay anh chàng ra khỏi ngực. Vận chợt nhớ đến
bà Ba. Không được. Bỏ cô ta lúc này là mình có tội. Lão chánh tổng đánh cô ta
chết mất. Nhưng không thể về ngay. Phải xem động tĩnh thế nào đã. Bây giờ nơi ẩn
mình tốt nhất là rừng Hóp. Cánh rừng này từ xưa tới nay vốn bí hiểm lan truyền
toàn những chuyện ma quỷ hiện hình, ít người dám vào trừ bọn đạo tặc. Hắn dự định
tá túc ở đấy vài ngày, đến đêm vào làng tìm cách cứu Thị Lánh. Việc vào rừng đối
với Vận không khó. Hắn là thổ công vùng này. Trong rừng nhiều chim cò trú ngụ,
hắn có thể bắt cò nướng hoặc luộc trứng chim nếu không kiếm được món nào khác.
Hai Doạc là một trong ba gã trai làng được chánh Đàm sai đi
giết Lê Văn Vận, xong việc mỗi đứa sẽ được ba mươi đồng. Số tiền ấy chúng nằm
mơ cả đời cũng không có được. Hai Doạc chơi thân với Thường Rỗ. Trong lúc chếnh
choáng hơi men, hắn đã nửa kín nửa hở cho ông bạn bắt ếch biết tin này. Nghe
xong Thường rỗ sợ quá bèn tìm cách báo cho Lê Văn Vận. Vận đã có ơn cứu mạng với
hắn nên hắn không thể làm ngơ khi ân nhân mình bị chánh Đàm sát hại. Nhưng biết
anh ta trốn ở đâu ? Vốn là dân thuyền chài, thạo nghề sông nước, có khi hắn đã
giong thuyền xuống ngã ba Môi, chu du ngoài sông Cái thì có mà giời tìm. Thường
Rỗ vội ra sông Lăng thấy con thuyền vẫn neo ở bến, biết chắc là Vận không đi
theo đường thuỷ. Tự nhiên hắn nghĩ đến rừng Hóp. Chiều hôm ấy, Thường Rỗ giả
làm người đánh chim vác lưới và lồng men theo bờ đầm Ma vào rừng. Hắn vốn là
tay gan lỳ không bao giờ tin vào chuyện ma quỷ. Có lần hắn vác chiếu ra ngủ
ngoài bãi tha ma ngay cạnh ngôi mả mới của lão trương Khoái bị sét đánh ba đêm
liền trong một vụ cá cược ăn tiền mà chẳng thấy các âm hồn hiện hình về bắt.
Xong việc, tay Chút thọt phải giữ lời giao kèo trả hắn một đồng hai.
Thường Rỗ treo đồ nghề lên một cành Hóp, tay cầm gậy vừa dò dẫm
vừa khua ra phía trước. Hắn đã bị rắn cạp nia cắn một lần gần chết, bây giờ đi
đâu cũng mang gậy theo kể cả ra đình làng. Tháng tư trời oi nồng nhưng trong rừng
gần như không có ánh nắng. Ngoài những bụi tre hóp mọc chen chúc từ bao đời,
cánh rừng còn khá nhiều cây cổ thụ vươn cao xoè tán rợp cả một vùng không gian
rộng lớn. Những cây thấp hơn bị dây leo quấn chằng chịt tạo thành những cái vòm
lý tưởng là nơi cư ngụ tuyệt vời của lũ cò lửa hoặc vạc sành sau một đêm thức
trắng kiếm ăn bên cồn Vành hoặc đầm Ma. Một con sóc đuôi xù lên như
chùm bông lau, cặp mắt giống hai hòn bi ve nhỏ xíu láo liêng nhìn cây gậy của
Thường Rỗ. Hình như nó không thích có kẻ đột nhập vào lãnh địa của mình nên cứ
ngúc ngoắc đầu kêu chin chít như chuột cắn nhau rồi lao vút lên cây kiền kiền
có những cành đâm ngang giống hệt cành bứa. Trên chạc ba cây vàng canh, một con
đa đa trống có bộ lông sặc sỡ như chim thiên đường cứ vươn cổ hót mãi một điệu
"bắt cô trói cột" nghe ai oán như gã thất tình. Thứ giọng rền rĩ ấy
lan truyền khắp rừng, ghé xuống cả đầm Ma, làm lũ liếu điếu, chào
mào, sáo sậu đang kiếm sâu bọ cũng nghển đầu hoạ theo bằng đủ mọi cung bậc chẳng
khác gì một dàn đại hợp xướng. Thường Rỗ vốn thích bẫy chim, nghe bản hoà tấu ầm
ĩ của chúng, nhất là thứ giọng kim lĩnh xướng của chú bồ các mỏ dài lông đen
tuyền như lông quạ đậu trên cành hóp, người hắn như bị thôi miên, quên mất việc
đi tìm Lê Văn Vận. Chính vào lúc ấy, chàng rể họ Khúc xuất hiện sau khi đã nhìn
thấy gã bắt ếch từ xa. Vận hỏi:
- Làm sao biết được tôi ở đây ?
Thường Rỗ bảo:
- Tôi ra sông thấy cái thuyền vẫn còn nên đoán là cậu vào rừng.
Cô ấy bị ông Chánh trói ở chuồng trâu đã hai ngày nay.
- Liệu Lánh có làm sao không ?
- Vì thể diện, chánh Đàm sẽ không đưa cô ấy ra cho làng xử phạt,
nhưng nếu ông ấy cứ để như thế thêm vài ngày thì chết mất.
- Anh bảo tôi phải làm thế nào bây giờ ?
- Chánh Đàm đã sai bọn hai Doạc thủ tiêu cậu. - Thường Rỗ ngẫm
nghĩ một lúc rồi bảo - Tầm này chúng đang ở Ba Kèo. Đêm nay cậu nên về nhà đưa
cô ấy ra. Tôi sẽ thăm dò hành tung của ông Chánh. Xong việc phải xuống thuyền
đi ngay kẻo cả hai cùng mất mạng.
Đêm hôm ấy không trăng. Trời lất phất mưa. Làng Cùa râm ran
tiếng chó. Lũ chó sủa gần như phản ứng dây chuyền theo lệnh của con Đốm già có
cái mõm dài như mõm cáo nằm ở thềm sau nhà chánh hội Hạp. Con này trụi sạch
lông đuôi, đầu bạc phếch, bốn chân khẳng khiu như que củi nhưng khôn vào bậc nhất.
Tuy nhiên, danh tiếng của nó hoàn toàn không phải vì tuổi tác. Nó là một "lão
khuyển lạc mao"[3] thậm
chí mắt đã hơi mờ khó có thể nhận biết những vật ở xa. Sức mạnh của con Đốm là ở
tiếng sủa. Giữa đêm thanh vắng, đánh hơi thấy mùi lạ, nó bất ngờ tru lên giống
tiếng sư tử gầm làm chính đồng loại của nó cũng sởn gai ốc. Có lần, một gã trộm
vặt, chừng canh tư mò vào định khoắng mấy con gà nhép, vừa nghe con Đốm sủa đã
thọt dái lên cổ, chạy quáng quàng bổ xuống ao, bị chủ nhà tóm sống. Muốn vào
nhà họ Khúc hướng này phải vòng qua cổng chánh hội Hạp. Con Đốm nằm án ngữ trên
cao khó có thể qua mặt nó. Thường Rỗ đã có kinh nghiệm vô hiệu hoá những tên
lính gác thuộc loại này, bởi trước đây đã có thời hắn theo cả Đĩnh làm nghề ăn
sương[4].
Thường không muốn hạ thủ con chó già nên chỉ lấy miếng thịt tẩm thuốc mê quăng
vào chái nhà. Mùi thịt nướng thơm phức khiến chú ta khịt khịt mũi quên mất nhiệm
vụ cảnh giới. Chỉ ít phút sau nó nằm phục hai chân trước, miệng sàu bọt. Thuốc
đã ngấm.
Lê Văn Vận lên tường, men theo rệ ao, lẻn vào chuồng trâu. Lũ
chó đánh hơi chủ vẫy đuôi mừng rối rít. Hắn ném cho chúng mấy miếng thịt để
phòng bất trắc rồi mở gióng chuồng trâu tìm bà Ba. Thị Lánh bị trói vòng hai
tay vào cột, người mềm nhũn như đã chết. Chàng ngư phủ dùng răng tháo dây thừng
rồi ghé lưng xốc người tình chạy ra cổng. Hắn đang loay hoay mở chốt thì bất ngờ
Khúc Đàm xuất hiện với ngọn mác lăm lăm trong tay. Lão cười gằn:
- Tao đoán không sai, thế nào rồi mày cũng mò về đây.
Vận biết thế nguy, sợ lắm. Hắn xoay người che cho bà Ba, lợi
dụng bóng đêm định luồn qua phía bờ ao. Chánh Đàm quát khẽ:
- Bỏ con đĩ xuống, nếu không cả hai đứa đều chết !
Lê Văn Vận lấm lét nhìn trước nhìn sau tìm lối thoát
nhưng lúc này họ Khúc đã cảnh giác đứng chắn ngang cổng. Hai bên gầm
ghè nhìn nhau như loài thú dữ rình mồi. Lão Chánh không muốn đánh thức cả nhà
vì chuyện nhục nhã này còn tay con rể muốn đưa Thị Lánh khỏi làng càng ít người
biết càng tốt. Cuối cùng hắn chủ động bảo:
- Ông Chánh .. . để cho chúng tôi đi.
- Câm mồm ! - Chánh Đàm gằn giọng - Muốn sống mày phải bỏ con
Lánh xuống.
- Không bao giờ ! - Vận rít
lên - Ông trói người ta thế này chỉ từ
giờ đến mai là
chết. Tôi xin ông...
- Gớm nhỉ ! Quân phản chủ. Tao sẽ cho chúng mày được toại
nguyện.
Khúc Đàm nói chưa hết câu đã phóng ngọn mác vào ngực Lê Văn Vận.
Hắn né mình. Cũng may, trời tối, mũi mác chỉ chạm vào cánh tay làm toạc một mảnh
da. Hắn lùi vào gốc cây bưởi đặt bà Ba đang còn ngất xỉu xuống đất rồi quờ tay
vớ được đoạn tre làm cán cuốc vung lên đỡ ngọn mác. Lúc này chánh Đàm nổi cơn
điên. Lão cầm chắc vũ khí bằng tay phải định kết thúc số phận người đàn bà trước
rồi sẽ tính sổ với thằng con rể láo lếu. Mũi mác chưa kịp chạm vào Thị Lánh,
Khúc Đàm đã bị cây gậy tre đực choảng một nhát vào đầu. Thân hình cao lớn hơi
gù của lão đổ xuống như cây chuối bị phạt ngang gốc. Nhờ Thường Rỗ giúp, Vận
đưa được bà Ba ra khỏi nhà chánh tổng. Dàn đồng ca của các loại chó trong làng
vẫn vang lên bất tận. Nhưng đấy là những tiếng sủa cầm canh báo sự bình yên đã
thành thói quen ru giấc ngủ của dân làng Cùa, chẳng ai nghĩ có chuyện khác thường.
Ra đến bờ sông, khi hai người đã dìu bà Ba xuống thuyền, Thường Rỗ bảo:
- Thôi chúc cậu ra đi chân cứng đá mềm.
Vận lưu luyến nắm tay chàng bắt ếch:
- Thật không biết lấy gì cảm ơn anh.
Thường Rỗ giục:
- Có thể ông Chánh đã chết. Chuyện án mạng này lớn đấy. Đừng
bao giờ về làng nếu thời thế chưa thay đổi.
Vận buông mái chèo khoát nước. Con thuyền nhỏ bé lẫn vào bóng
đêm. bà Ba nằm trong khoang vẫn bất tỉnh. Từ một xóm nào đó ven sông có tiếng
gà gáy. Đêm đã chuyển canh. Trời bỗng đổ mưa. Màn đêm tối đen. Thỉnh thoảng một
con chim lợn bay ngang sông. Tiếng kêu của nó bao giờ cũng báo điềm chẳng lành
nghe rợn người. Trên những bụi chuối hoang ven sông, lũ côn trùng rỉ rả ca mãi
một điệp khúc buồn thảm lúc nhặt lúc khoan bằng thứ giọng ngái ngủ. Lũ giang
chân dài như cà kheo lội bì bõm ngoài bãi sục cá. Xa hơn một chút lũ cò vạc
nháo nhác tranh mồi. Chúng cãi nhau bằng thứ thổ ngữ quen thuộc vùng đồng chiêm
trũng, nghe gần giống tiếng đàn tranh bị chùng dây hoặc tiếng khen bè của người
Mèo có vài ba ống bị dập. ầm ĩ hơn cả là lũ ếch nhái, ễnh ương, chẳng chuộc.
Chúng đều ngắn cổ nhưng to họng. Con nào cũng ngoác cái miệng rộng đến mang tai
thi nhau gào lên hợp thành bản đồng ca ộp oạp bất tận. Con thuyền của chàng ngư
phủ lầm lũi trôi đi trong màn mưa mỗi lúc một dày.
[1] Hai
câu trên là của nhà thơ Vương Bột (649-676)đời nhà Đường trong bài tự
" Đằng vương các",Tản Đà dịch thành lục bát: Cánh
cò bay với ráng sa/Một vùng trời nước bao la một màu.
[2] Mã
khắc tư : Karl Marx, phiên âm theo từ Hán Việt.
[3] Chó
già rụng lông
[4] Ăn
sương : ăn trộm (tiếng lóng".
Chương 3
Chương ba- Phần thứ nhất
1
Sang ngày thứ hai thuyền đến ngã ba Tam Giang. Vận sợ có người
truy đuổi cứ mải miết chèo, không dám ghé bờ. Đêm hôm ấy hắn dạt vào
một cánh bãi bẻ trộm ngô non cho bà Ba luộc. Thị Lánh lúc này đã đi lại được
nhưng vẫn còn yếu bởi những vết đòn thâm tím khắp người.
ánh lửa yếu ớt hắt ra từ khoang thuyền, nhìn từ xa nhập nhoè như ma trơi. Từ
đây đến kẻ Lủ chỉ già nửa ngày đường. Về kẻ Lủ rồi sẽ tính chuyện làm
ăn. Hắn đem ý định của mình bàn với bà Ba. Cô ta vừa nghe đã giãy nảy:
- Không được đâu. Dân Ba Tổng có nhiều người đi chợ kẻ Lủ. Họ
mà bắt gặp thì nguy. Theo tôi, ta nên theo sông Cổ Cháy lên mạn Bắc kiếm kế
sinh nhai có khi lại hơn.
Bắt đầu từ hôm ấy, Vận chèo thuyền ngược sông Cổ Cháy. Vừa đi
vừa thả lưới kiếm cá. Gần nửa tháng hai người mới lên được trại Bồ Nông. Trại Bồ
Nông nằm trên một mỏm núi cách bến Phù Lao không xa. Từ dưới sông có thể thấy mỏm
núi giống cái đầu con chó đá cụt tai mọc toàn giống trám trắng cao ngất nghểu với
những cành ngang thẳng đuột đâm tua tủa ra tứ phía. Tầng dưới thấp hơn, chen
chúc đủ loại đinh chi, vàng tâm, thị mực bị dây leo quấn chằng chịt vận thành
những bó lớn như những cuộn chão khổng lồ. Trên sườn dốc chênh vênh, lũ dê đen
râu xồm sừng cong thong thả gặm cỏ. Mấy chú dê non ngứa sừng nghênh đầu húc
nhau phớt lờ những tiếng be be như là tín hiệu cảnh báo của mẹ. Một cặp sơn tước
màu xám đá nhảy tanh tách trên cành cây hoàng đàn. Chúng song ca một điệp khúc
nghe khá lạ tai, thỉnh thoảng lặng di một lúc rồi bất chợt vút lên
cao, véo von như tiếng sáo trúc. Từ đâu đó mãi tận dãy Ngân Sơn xa mờ bàng bạc
khói sương, đàn cò ruồi như những chấm đen lao về hướng mặt trời. Qua đỉnh Chó
Sói chúng hạ dần độ cao, lần lượt bay ngang sông theo hình mũi tên. Cặp cánh của
chúng mềm mại, nhịp nhàng vờn trên mặt nước như đôi tay vũ nữ múa điệu "Tản
hoa" rồi hạ xuống đồng vàn ngập nước mọc toàn cỏ ba cạnh giống như cây cói
trổ hoa vàng, bắt đầu một ngày kiếm ăn. Nhìn những cánh cò chao lượn trên bầu
trời tự do, Vận bất giác nghĩ đến cảnh ngộ của mình. Hắn bảo bà Ba:
- Hay là ta cắm thuyền lên cái trại kia kiếm ít gạo nấu cơm ?
Bà Ba gật đầu. Hai người lần theo từng bậc đá thoai thoải, vừa
đi vừa nghỉ vì bà Ba còn mệt. Chừng nửa giờ thì gặp ngôi nhà đầu tiên. Chủ nhà
là một lão già râu xồm, thọt chân, tập tễnh trên đôi nạng gỗ. Vừa nhìn thấy vị
khách không mời thập thò trước cổng, lão đã nâng khẩu súng nòng dài ngoẵng
trông như một đoạn ống sắt gỉ chĩa vào hắn đuổi như đuổi tà:
- Cút ngay ! Nhà anh mà tiến thêm bước nữa là ta bắn.
Vận hoảng, lấm lét nhìn chủ nhà xua tay:
- Kìa bác ! Chúng tôi là dân chài muốn lên mua gạo.
- Quân trộm cướp chết tiệt ! - Lão già vẫn án ngữ trước cửa,
dựa lưng vào cây cột hiên, mắt long sòng sọc như mắt chó dại, giọng kèn kẹt chẳng
khác gì bản lề cửa lâu ngày không tra dầu - Chính chúng mày đã vu cho con tao
là Cộng sản rồi ném nó xuống thác Bời Lời. Con ơi là con !
- Thưa bác !
- Đồ mặt dày ! Tao thì ...
Những tiếng cuối cùng chưa thoát ra khỏi cổ họng thì lão già
khuỵu xuống chẳng hiểu vì cái chân thọt hay là mới có nửa chiều đã bị thần Lưu
Linh nhập vào lục phủ ngũ tạng. Mà cũng có thể do cả hai. Khẩu súng cổ lỗ sĩ
lăn lông lốc xuống sườn núi. Lê Văn Vận đỡ lão đứng dậy dìu lên dốc. Bà Ba đi
sau cầm khẩu súng chống xuống đất như một cây gậy. Lão già vẫn làu bàu chửi,
nhưng lần này đối tượng là một tên quan châu nào đó. Tiếng chửi giống như người
điên khóc nghe vừa ai oán vừa buồn cười. Chẳng mấy chốc ba người lên đến cái
nơi mà dân hai bên mom sông gọi là trại Bồ Nông. Trại Bồ Nông là nơi cư trú của
vài chục gia đình làm nghề khai thác gỗ và cốn bè thuê từ mấy chục năm nay. Cư
dân ở đây là người tứ chiếng từ khắp các xứ đông đoài, thậm chí còn có cả bọn tội
đồ bị lưu đày hoặc tù cấm cố vượt ngục nên thành phần rất phức tạp. Phần lớn
trong số họ là những kẻ có bản lĩnh giỏi quyền thuật, trọng nghĩa khinh tài, giữa
đường thấy sự bất bình là ra tay cứu giúp người lương thiện, trừng trị kẻ ác.
Lão già họ Lương, gốc gác tại phủ Thiên Trường, Nam Định, lưu
lạc từ nhỏ, đến năm ba mươi hai tuổi thì gia nhập phường Sơn Tràng. Dân sơn
tràng, nửa năm trên rừng, ba tháng lênh đênh sông nước, cuộc sống phóng khoáng
như chim trời, thích tự do và liều lĩnh vào bậc nhất trong giới giang hồ. Những
đêm trăng thượng huyền, cánh phu bè nằm trên sạp nứa ngắm bầu trời sao lung
linh lẫn giữa những đám mây hình vẩy cá lang thang. Chúng di chuyển rất chậm, gần
như trôi song song cùng chiếc bè gỗ. Mặt sông loang loáng ánh trăng xanh, tươi
rói, mơ màng. Trăng lẫn vào sóng nước lăn tăn, bị pha loãng trở thành thứ màu
bàng bạc, lạnh lẽo trông giống một lớp bọt xốp nổi lềnh bềnh. Rồi bất chợt từ
đâu đó, những ngọn gió đẫm hơi sương vượt qua triền đê mơn man trên mặt nước
sóng sánh. Gió nhẹ đến mức chỉ đủ dậy lên những tiếng lao xao nhưng dư âm của
nó lại đi rất xa, rất vang. Những khoảnh khắc như thế chiếc bè là một thế giới
riêng. Dường như nó không còn hiện diện như một thực thể hữu hình. Nó là ảo ảnh,
là ý niệm, là sự hoang tưởng trong cõi hư vô mà tất cả những thứ ta nhìn thấy
chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng.
Cánh phu bè - một nửa cư dân trại Bồ Nông- dọc
ngang khắp các triền sông cùng với những chiếc bè gỗ vượt qua không biết bao
nhiêu ghềnh thác. Có nhưng năm động trời, cứ qua một thác dữ, phường Sơn tràng
lại mất một nhân mạng. Những kẻ xấu số phải vài ngày mới tìm thấy. Nghề chống
bè là nghề mạt hạng nhất trong các nghề hạ đẳng bị người đời coi rẻ. Cùng cực lắm
người ta mới phải làm nhưng đã làm rồi thì không thể bỏ được, phần nhiều đeo đẳng
đến lúc thân tàn ma dại như lão Lương Đoàn kia.
Lương Đoàn được ông trùm phường thu nhận sau trận kịch chiến
với một gã phu bè ở bến Đoan. Tay này đã từng học trường quyền với thầy
họ Nhữ Đặng Xá. Hôm ấy Lương Đoàn bẫy cò ở mấy cánh ruộng ngoài bãi sông. Chiếc
bè của ông Cả Tuân đã neo ở đấy từ hai hôm trước đợi con nước ròng. Trần Lượng
tắt qua cánh bãi lên chợ Bía mua gạo, gặp mấy con cò dính bẫy, hắn gỡ sợi dây
thòng lọng ở chân ra rồi thả cho nó tự do. Lúc ấy, Lương Đoàn đang ẩn trong chiếc
lều vịt của lão Nhạnh mãi cuối rộc nước, nhìn thấy, chẳng nói chẳng rằng, chạy
phăm phăm đón đầu tên phá đám, nện luôn. Cuộc ẩu đả xảy ra được một lúc mọi người
mới báo cho ông chủ bè. Tuy võ nghệ không đến nỗi nào nhưng Trần Lượng vẫn bị
Lương Đoàn dùng mấy đường quyền của lò Vịnh Xuân nện cho một trận nhớ đời. Khi
anh em lôi Trần Lượng từ dưới đầm lên, người hắn lấm bê bết, đầu tóc ướt sũng
còn mặt mũi thâm tím như quả bồ quân. Thấy đồng bọn bị nạn cánh phu bè ức lắm định
xông vào chàng bẫy cò ra đòn hội chợ nhưng ông trùm giơ tay ngăn lại.
- Anh Lượng vô cớ thả cò của người ta bị đánh là đáng lắm.
Các người ỷ thế đông định để lại tiếng xấu cho phường hạ bạc à ?
- Thưa ông trùm ! - Trần Lượng vẫn còn ấm ức, nói ,- nhưng mà
thằng này nó đánh toàn đòn hiểm.
- Vậy hả ? - Ông trùm gật gật đầu - Quỳ xuống xin lỗi người
ta ngay nếu không ta sẽ đưa anh ra khỏi phường.
Sau trận đụng độ ấy, Cả Tuân thu nhận Lương Đoàn. Từ đấy hắn
bỏ nghề chim cò, xuống bè theo phường Sơn Tràng. ít lâu sau, ông trùm phường gả
con gái cho Lương Đoàn. Chẳng mấy chốc hắn trở thành phụ tá đắc lực cho ông bố
vợ vốn là một đại ca khét tiếng của giới giang hồ. Sau khi nhạc phụ qua đời,
lương Đoàn nối nghiệp cai quản mấy chục anh em trong phường. Lương Đoàn có một
con trai là Lương Doanh. Doanh cũng theo nghề sơn tràng rồi gia nhập một tổ chức
bí mật chống Pháp do ông Phan Phi là đảng viên Cộng sản làm thủ lĩnh. Tổ chức
này dần dần lan rộng ra nhiều nơi. Họ vận động nông dân chống sưu
cao thuế nặng. Thợ thuyền đòi tăng lương, giảm giờ làm thông qua những cuộc biểu
tình, bãi công, bãi thị làm cho Nhà nước bảo hộ và chính phủ Nam triều khá đau
đầu. Nhóm cách mạng của Lương Doanh hoạt động được hai năm thì bọn chỉ điểm của
viên tuần phủ phát hiện. Bị truy đuổi, Lương Doanh rút lực lượng về bến Đoan. Một
trung đội Âu Phi dưới sự chỉ huy của viên quan hai người Pháp ngược sông Ba Gia
bằng chiếc tàu chiến Đuy mông xanh có cả súng liên thanh mục đích tiêu diệt bằng
được những kẻ phiến loạn. Một đêm Lương Doanh cùng mấy thanh niên quần áo rách
rưới, đầu tóc bù xù như tổ bồ các, da tái nhợt như người sốt rét rừng mò về trại
Bồ Nông. Lương Đoàn từ lâu đã bất đồng ý kiến với con về chủ trương đánh Pháp
nên ông ta dứt khoát không cho ở lại.
- Ở đây không có chỗ tuyên truyền Cách mạng. Mày định đem
tính mạng của mấy chục gia đình đổi lấy chút hư vinh phải không ? Muốn lên trại
Bồ Nông trước hết phải bước qua xác tao.
Lương Doanh thế cùng lực kiệt đành đem các chiến hữu xuống
thuyền độc mộc ngược thác Bời Lời định tìm đường về Mai Châu. Chẳng ngờ, lão tuần
phủ cho hai cơ lính khố xanh đón lõng ở dốc Mật Sơn. Lương Doanh bị cai cơ
Trương Phổng bắt giải về châu lỵ Hoà Bình. Ba hôm sau, tri châu Vi Văn Sầm sai
người trói anh ta lại thả xuống thác Bời Lời. Thác Bời Lời cao hơn trăm thước
lao thẳng xuống qua những ghềnh đá lởm chởm nhảy chồm chồm như ngựa vía, chẻ
dòng nước thành hàng triệu sợi nhỏ li ti lấp loá giống hệt thứ pha lê trắng được
phủ lớp sương mù. Cái xác bị biến dạng đến mức, nếu không biết chắc cuộc hành
hình thì chẳng một ai có thể nhận ra nạn nhân là con trai ông trùm phường sơn
tràng. Lương Doanh chết rồi Lương Đoàn vô cùng ân hận. Ông ta gần như phát
điên, bỏ trại Bồ Nông đi mảng ngược sông đến thác Bồi Lời tìm con. Một lần Lương
Đoàn sảy chân ngã xuống vực bị gãy xương đùi từ đó lúc nào cũng ngây ngây dại dại
như kẻ mắc bệnh tâm thần phân liệt. Ngày ngày ông ta uống rượu say khướt rồi
xách khẩu súng han gỉ đứng chắn lưng chừng dốc, gặp người lạ là giương súng doạ
dù rằng đó là thứ hoả khí vô tích sự, thậm chí cái khoá nòng cũng đã mất từ lâu
mà không biết.
Trại Bồ Nông ái ngại cho tình cảnh của Lương Đoàn, họ cử một
ông già người Khách quê Vân Nam làm trùm trưởng. Trùm trưởng Lục Kiến
cũng là một tay cự phách trong làng võ thuật. Trước khi đến trại Bồ Nông, Lục
Kiến giống như một hiệp khách giang hồ, không vợ con với ngón độc chiêu là bảy
thế võ truyền đời rất hiểm. Đó là một thứ nhu đạo vô cùng lợi hại có nguồn gốc
từ Nhật Bản mà tổ phụ của ông ta học được của một khách thương Tân Gia Ba. Biết
được hoàn cảnh của Lê Văn Vận, Lục Kiến chấp nhận cho hai người ở lại trại Bồ
Nông. Từ đó, chàng ngư phủ gia nhập phường Sơn tràng. Nhìn tướng mạo Lê Văn Vận,
Lục Kiến bảo:
- Số anh sau này tất làm nên nhưng yểu mệnh, phải chú ý giữ
gìn thì may mới qua được tuổi tứ tuần.
Trại Bồ Nông từ dịp tháng sáu tháng bẩy cho đến giáp tết
Nguyên đán còn lại toàn đàn bà trẻ con. Mùa khô các ngọn nguồn sông suối đều cạn
nước, tre gỗ xếp đống không mang ra được, chủ hàng lo thắt ruột nhưng dân chống
bè vẫn bình chân như vại. Họ không mất vốn mà chỉ mất công. Một chiếc bè dài
hàng trăm thước, toàn gỗ quý, qua hành trình dài dằng dặc lên thác xuống ghềnh
không có tay chèo lão luyện, thông thạo luồng lạch thì mất sạch cơ nghiệp là điều
không thể tránh khỏi. Có điều phu bè là một tập hợp bát nháo, vô học và cả vô
giáo dục, luôn ứng xử với nhau bằng cơ bắp nên những kẻ yếu thường bị lép vế. Vận
biết rõ điều ấy nên hắn ra sức khổ luyện các thế nhu đạo mà Lục Kiến thỉnh thoảng
dạy cho. Chuyến lên rừng đầu tiên bà Ba đòi đi theo. Ông trùm người
Vân Nam bảo:
- Ở đây thỉnh thoảng cũng có tàn pà[1] làm
nghề sơn tràng nhưng vất vả tấy[2].
Bà Ba thích lắm hỏi:
- Cháu có thể học võ được không ?
Lục Kiến lắc đầu:
- Cái nghề tấm tá[3] không
phải là của phụ nữ, từng pao giờ hỏi ngộ[4] việc
ấy.
Phường Sơn Tràng khăn gói trên vai bắt đầu chặng hành trình đầy
khổ ải. Cuộc lên ngàn của đám người tha hương trong màn mưa ngâu dai dẳng có
cái gì bi tráng như là cảnh những chinh phu ngày xưa lên vùng biên ải trấn thủ
lưu đồn. Họ vạch lá, cắt rừng, tìm đường mòn. Người đã quen với nghề rừng đi
tiên phong dùng dao quắm phạt cành cây. Một lối mòn hiện ra lờ mờ. Những bàn
chân trần nối nhau bước lép nhép. Thỉnh thoảng một người trượt chân ngã, áo quần
dính bê bết thứ bùn dẻo quánh ngai ngái mùi lá mục. Những con vắt nâu ngóc cổ
lên như hàng tiêu binh, thẳng tắp, chỉ cái đầu bé xíu là khẽ ngó ngoáy. Khi bàn
chân đầu tiên xuất hiện, dường như có một thứ hiệu lệnh bí mật nào đó, lũ khát
máu người này nhất loạt phóng tới cắm cái vòi mềm nhũn vào lớp da đã bợt bạt vì
bùn nước của khổ chủ mà hút lấy hút để. Chúng cắn êm không hề gây cảm giác đau
đớn cho đến khi no nê, bụng phình bằng ngón tay mới rời ra. Nhưng kinh nhất vẫn
là thứ vắt xanh cư ngụ trên cành cây. Lũ này có khả năng uốn mình búng xa vài
thước nếu ngửi thấy mồ hôi người. Chúng cắn nhói một cái, rất đau nên bị phát
hiện ngay, vết thương lâu cầm máu nếu không có thứ lá pạc nhì giống
lá cây móc rừng dán vào. Sang đến ngày thứ hai ,Thị Lánh đã mệt lắm, hai bắp
chân mỏi nhừ, bàn chân bị vắt chích, chỗ nào cũng rỉ máu. Máu trộn lẫn với bùn
nâu nhão nhoét tạo thành một thứ màu đỏ sẫm giống như nước quết trầu. Một con vắt
nâu vẫn còn đói bám lủng lẳng nơi khoeo chân. Bà Ba vừa thò tay dứt được con vật
gớm ghiếc ấy ra bỗng rú lên ngã ngồi xệp xuống, một bàn chân gập lại bị trẹo.
Lê Văn Vận vội đỡ dậy nhưng cô ta vẫn rên khe khẽ, người giật nảy như là lên
cơn động kinh. Thì ra một con vắt chui vào bẹn qua lỗ thủng ống quần. Trong
hoàn cảnh dở khóc dở cười này, chàng ngư phủ chẳng biết làm thế nào, đành luồn
tay ngược từ phía dưới lên háng người thiếu phụ. Con vắt quái ác bám nhằng nhẵng
vào chỗ nhạy cảm nhất trong cơ thể bà Ba. Tất nhiên không thể để tình trạng bi
hài này kéo dài, Vận khó khăn lắm mới gỡ được con vật mềm nhũn , dai như đỉa,
giải thoát cho người tình. Tiện tay hắn bóp nhẹ giữa bụng con vắt, một tia máu
phọt ra, chẳng khác gì thứ tiết gà ốm mà người ta cắt vội.
Sau cú ngã của bà Ba, Lê Văn Vận phải quàng hai tay nải, dìu
cô ta thập thững theo anh em trong phường. Một gã rậm râu mặt như khỉ, cặp tai
rất to, trông giống loại ốc biển vẫn dùng làm tù và nửa đùa nửa thật:
- Nếu đằng ấy cho mượn một tối tớ sẽ tình nguyện cõng người đẹp
đến tận Phiềng Soi.
Thấy Vận im lặng, Quản Thực, một tay đầu trộm đuôi cướp đã từng
hành nghề mấy năm ở kẻ Sòng, nhăn nhở cười:
- Bằng lòng đi, có mất gì đâu, cuối cùng cô ấy vẫn là vợ cậu
mà lại được lợi.
Lúc ấy Vận từ tốn bảo:
- Tôi gặp đường cùng, may ông trùm cho nhập phường kiếm miếng
cơm, nếu các bác không có lượng bao dung chúng tôi đành đi nơi khác vậy.
Nói rồi hắn dìu bà Ba quay lại. Có người báo với Lục Kiến.
Ông ta lập tức túm ngực Quản Thực cho hai cái bạt tai, xỉa bàn tay cứng như
thép vào sườn tên rậm râu:
- Ngộ cấm các người dở trò trêu ghẹo chị em trong phường à!
Piết[5] chưa
?
Rừng ướt sũng nước. Đường mòn vắt qua sườn dốc chênh vênh hẹp
đến nỗi chỉ sẩy nửa bàn chân là rơi xuống vực. Ba bề bốn bên là đại ngàn mênh
mông cao chót vót. Những cây cổ thụ tán lá rậm rạp chen lấn với các loại lim,
lát hoa, sao dầu, gụ ... vốn là thảm thực vật nguyên sinh tầng tầng lớp lớp nối
nhau thành hình khối dày đặc, mông lung, bí hiểm. Mưa tháng bảy làm cho rừng nhợt
nhạt, nặng nề và buồn chán. Mấy chú chích choè lông dính bết lại lười nhác đậu
trên cành cây sao, nhìn thấy đám lữ hành nhếch nhác luồn phía dưới với những bước
uể oải, nặng nề liền cất giọng ai oán hót những tiếng buồn thảm như là phần vĩ
thanh của một khúc nhạc tang. Thấp hơn một chút là lũ vượn đen ngồi vắt vẻo
trên ngọn cây gió xanh. Bọn này đang khốn khổ vì trời ẩm ướt nên hễ có thì giờ
rảnh rỗi không phải kiếm ăn là chải lông bắt bọ chét cho nhau. Một con vượn đực
có vẻ là đầu đàn đang nhằn quả chuối chín vàng. Quả chuối toàn là hạt làm nó bực
mình vừa ăn vừa nhổ phì phì vào lũ vượn cái. Ngay dưới thung lũng là rừng chuối
trải dài, xanh đến vô cùng. Chính những cây chuối cao đến vài chục thước ấy,
hàng năm đã sinh ra ngàn vạn quả mập mạp, vàng ươm, thơm phức nhưng vô tích sự
bởi toàn hạt là hạt, đến mức khỉ vượn còn nhăn mặt mỗi khi nếm thử. Những hạt
mưa li ti bị gió đẩy nhẹ, rơi xiên trông chẳng khác gì những sợi tơ mỏng manh
như tơ nhện dệt ngang dọc tạo thành tấm màn nước xanh khổng lồ treo lơ lửng giữa
bầu trời u ám.
Đêm đầu tiên đoàn lữ hành nghỉ tạm trong một ngôi nhà sàn còn
sót lại của bản người Mường. Chủ nhân có lẽ đã làm cuộc thiên di đến vùng đất mới
từ lâu nên quang cảnh rất tiêu điều. Sàn nhà bằng tre bương đập dập mục nát, gẫy
từng đoạn. Sau một ngày mệt mỏi, ăn xong, mọi người lăn ra ngủ mê mệt. Vận nằm
cạnh bà Ba chắn giữa những người khác. Chừng quá nửa đêm, bà Ba vừa chợp mắt được
một lúc vì chân vẫn còn đau tự nhiên có cảm giác buồn buồn trên bụng. Cô ta định
trở mình quay mặt về phía Vận nhưng không được bởi một thân hình nặng nề đang
trườn lên người trong khi chiếc quần đi rừng đã bị kéo xuống tận bẹn lúc nào không
biết. Phải khó khăn lắm Thị Lánh mới kêu lên được một tiếng. Cùng lúc Vận tỉnh
giấc biết ngay chuyện gì xảy ra. Hắn ngồi dậy dùng thế võ mới học được của Lục
Kiến thoi một quả khá mạnh vào hướng mà hắn nghi là gã rậm râu đang giở trò đểu
cáng. Cú ra đòn khá lợi hại. Chỉ nghe đến hự một cái, tên ma cô bật khỏi sàn
rơi xuống đất kèm theo những tiếng răng rắc của đoạn tre gẫy. Phía bên kia Lục
Kiến thức giấc làu bàu:
- Tứa[6] nào
mê ngủ ngã xuống gầm sàn à ?
Không có tiếng trả lời. Gần như tức thời ông trùm phường lại
ngáy pho pho. Cánh sơn tràng sau một ngày ngược dốc mệt nhọc, ngủ như chết chẳng
cần biết chuyện gì đã xảy ra. Gã râu rậm rón rén bò lên cầu thang chen vào nằm
cạnh Quản Thực. Từ lúc ấy, Vận cảnh giác lúc nào cũng ôm lưng bà Ba, luồn tay
vào ngực giữ chặt hai bầu vú nóng hổi. Nhưng cũng chính vì thế hắn không ngủ được.
Hắn thấy hối hận vì đã mang người tình tới một nơi xa lạ hoàn toàn không có gì
đảm bảo cho tương lai dù là tương lai gần. Rằng cái lũ người mà hắn đi theo chỉ
là một bọn táp nham sống ngoài vòng pháp luật. Chúng sẵn sàng nhảy vào cắn xé
nhau có khi chỉ vì những nguyên nhân rất vớ vẩn. Một ý nghĩ thoáng qua:
"Hay là cùng với Lánh bỏ quách nơi này quay lại trại Bồ Nông trước khi trời
sáng ?". Nhưng rồi chàng ngư phủ lại tự nhủ : "Quay lại thì sống như
thế nào, làm gì khi bản thân mang án giết người đang bị quan nha truy nã ?
Thôi, chót đâm lao thì phải theo lao. Đành vậy."
Trời vẫn mưa như rây bột. Hành trình của ngày hôm sau còn khổ
hơn nhiều. Bởi vì họ còn phải xuyên qua rừng Tủa Chang bạt ngàn là nứa. Những vệt
đường mòn lầy lội còn hằn rõ dấu chân thú kiếm ăn đêm. Thỉnh thoảng có tiếng sột
soạt từ bụi cây nào đó. Một con gà sặc sỡ, lông đuôi vổng lên như đuôi công bay
từ cây vân sam xuống gò đất mọc thứ hoa mẫu đơn dại đỏ tím như mào của nó. Dưới
chân gò, mấy con mái tơ lông xám bạc đang cục cục tìm mồi. Trần Phí, một gã
trai người Tày có khuôn mặt ốm đói, đi trước dùng dao phát rừng mở đường. Do bất
cẩn anh ta bị cật nứa cứa vào tay, sâu đến tận xương, máu toé ra thấm ướt đẫm
chiếc khăn bông xơ. Trần Phí đau quá, mặt tái mét, tay phải bóp chặt vết thương
rên rỉ. Lê Văn Vận vội vạch lối rẽ cây tìm vào một khe nước. ít phút sau, hắn
nhai dập mấy thứ lá hái được với vài hạt muối đắp vào ngón tay anh chàng ốm
đói. Vết đứt toang hoác, chạy dài trông lạnh cả gáy. Chừng mấy phút, máu ngừng
chảy nhưng Trần Phí thì bắt đầu lên cơn sốt.
Phải đến ngày thứ bẩy, phường Bồ Nông mới đến được ngọn nguồn
Phiềng Soi là điểm khai thác gỗ của những người sơn tràng. Đối với phường Bồ
Nông, nghề sơn tràng và nghề chống bè không khác nhau là mấy, cho dù từ xưa đến
nay thiên hạ vẫn coi đó là hai lĩnh vực hoàn toàn độc lập. Cũng như những chú
Khách đồng hương vùng Đại Lý khác, Lục Kiến chưa bao giờ để cho cái đầu hói của
mình bị chi phối bởi khái niệm "chuyên môn hoá" của mấy gã Pháp Lan
Tây mắt xanh mũi lõ. Đã không ít lần ông trùm phường nhận bao thầu trọn gói từ
các chủ hàng có máu mặt, chẳng phải chỉ chặt gỗ cốn bè mà còn làm luôn cả công
đoạn vận chuyển về xuôi qua những hành trình vượt thác mà nếu chỉ sơ sẩy chút
ít là vỡ bè, chết người.
Rừng Phiềng Soi nằm cạnh con đường mòn chạy song song với suối
Đá Đen. ở khoảng giữa con đường và thung lũng Nậm Cắn là bản Tả Pay của người
Thái thuộc tổng Bình An. Dải rừng nguyên sinh bắt đầu từ ngã ba suối Đá Đen kéo
dài đến chân đèo Váng bạt ngàn là lim xanh hai ba người ôm. Những cây lát hoa cổ
thụ vỏ nâu sẫm, xù xì nằm chênh vênh bên sườn dốc. Loại gỗ tứ thiết gần nguồn
nước như thế phần lớn đã có chủ.
Phường Sơn Tràng hoặc dân cốn bè trước sau cũng chỉ là những
kẻ làm thuê. Người thuê họ ở mãi Kẻ Chợ hoặc các quan lại trong chính phủ Nam
triều cậy thế lắm bạc nhiều tiền, đứng trên cả pháp luật, coi thường sinh mạng
của đám dân đen. Có những bận, bọn Tây kiểm lâm lên rừng đón lõng ở Bãi Sang,
thế là cả thầy lẫn tớ phải cuốn gói, bỏ của chạy lấy người và nếu
không nhanh chân còn bị tống vào nhà lao kèm theo khoản phạt vạ không dưới hai
trăm đồng Đông Dương.
Dịp ấy, sau khi cánh thợ hạ xong hàng chục cây gỗ lim to như
cột tam quan trên dải rừng Mụ Bà, Lục Kiến cho anh em nghỉ một ngày săn bắn.
Lão Cầu thọt và bà Ba vừa trông lán vừa nấu cơm. Quản Thực bị sốt rét nằm rên hừ
hừ. Phường Sơn Tràng có hai khẩu Mút, ba khẩu Anhđôsinoa[7] và
mấy khẩu súng kíp bắn đạn ghém mua được của dân bản. Ngoài ra mỗi người còn được
trang bị một ngọn mác hoặc dao quắm để phòng bất trắc. Lần này họ vào thung
lũng Pò Mày tìm lợn rừng. Cách đây mấy hôm Trần Phí phát hiện một đàn chừng bẩy
tám con, cứ tầm mặt trời gác ngọn Chiềng Băng lại rủ nhau lội qua suối đá Đen,
sang phá nương sắn của bản Tả Pay. Rừng Phiềng Soi sau tháng mưa ngâu xanh biếc
lộc non, ríu ran tiếng hót của đủ các loại chim. Trên vòm cao như chiếc lọng khổng
lồ của cây đinh hương, một con khướu bạc má chỉ bằng nắm tay mà giọng oang oang
như tiếng kèn xắc xô phôn được hệ thống tăng âm khuyếch đại. Mấy chú khỉ mặt
choắt, lông sẫm, cặp mắt đen láy và linh động như hai hòn bi ve, nhìn thấy người
chẳng biết sợ là gì, vẫn mải miết chơi trò đánh đu, thỉnh thoảng lại trêu nhau
kêu khèng khẹc. Đi săn mà gặp phải buổi rừng ồn ào như cái chợ thế này thì thợ
săn về tay không là cái chắc. Lục Kiến lẩm bẩm rồi cúi xuống nhặt hòn đá ném
con khướu lắm mồm. Phía bên này, gã rậm râu có cái tên rất chướng tai là Ngô
Nghệ Toánh, thường gọi Toánh xồm và cu Sún, con trai Lâm Quang Tào, chết mất
xác trong chuyến vỡ bè ở thác Khôn năm Mão, đang lần theo dấu chân đàn lợn. Vết
chân còn mới nhưng ra đến bờ suối lại mất hút. Hắn ngồi bệt xuống tảng đá sát
mép nước vừa càu nhàu vừa gỡ những con vắt bám ở bắp chân:
- Lũ lợn chết tiệt, chẳng lẽ chúng có phép tàng hình mà biến
sạch không để lại dấu vết.
Cu Sún giục:
- Hay là ta về. Trời cũng sắp tối rồi bác ạ.
- Về là thế nào. - Toánh hậm hực bảo - Bọn này thường kiếm ăn
từ lúc nhập nhoạng. Mày bảo các ông ấy chịu khó ở lại, đêm nay thế nào cũng tóm
được một con.
- Nhưng cháu đói lắm rồi.
- Từ chiều đến giờ tao cũng đã ăn gì đâu. - Toánh gườm gườm
nhìn thằng bé - Cố chịu một lúc nữa nếu không thấy động tĩnh gì thì ta về. Chả
biết hôm nay là ngày gì mà xúi quẩy thế.
Lê Văn Vận xách khẩu súng kíp nòng dài dáng vẻ vừa đói vừa uể
oải bước đến. Toánh xồm đánh mắt liếc hắn một thoáng rồi hỏi:
- Có thấy gì không ?
- Không. Tôi nghĩ anh Phí nhầm.
- Không thể có chuyện nhầm lẫn ở đây được. - Nghệ Toánh khẳng
định - Trần Phí là người Tày rất có kinh nghiệm trong việc phân biệt dấu chân
các loại thú rừng.
- Vậy thì cho thằng Sún về trước. Tôi thấy nó có vẻ mệt quá rồi.
- Cũng được nhưng bảo nó rẽ qua chỗ Trần Phí bảo hắn không
đón lõng ở khe Bầu mà về đây ngay.
Trời lắc rắc vài hạt mưa. Gió lặng và rừng đột nhiên trở lại
yên ắng. Cu Sún vừa quay đi được vài bước thì nó xuất hiện. Đó là một
con lợn độc cao lớn đen trùi trũi với hai chiếc nanh dài trắng nhởn thò ra khỏi
mồm từ trên sườn dốc lao xuống làm đám cây mỏ vẹt và những cành gai ba tiêu đổ
rào rào như bị lở đất. Lập tức ba người tản ra dựa vào các gốc cây hướng nòng
súng dõi theo con thú. Chưa bao giờ họ nhìn thấy con lợn to và dữ dằn như thế.
Trong bụng anh nào cũng hoảng, nhất là Lê Văn Vận. Dưới ánh trăng non, chốc chốc
lại bị những cồn mây xám với đủ mọi hình thù kỳ dị, lười nhác trôi ngang, thành
ra đêm thượng tuần đáng lẽ lung linh huyền ảo thì lại tối mò như chốn âm cung.
Con thú bước hùng hục, cái mũi khịt khịt đánh hơi rồi lần ra bờ suối. Nó vừa dợm
chân định nhảy ào xuống nước thì Nghệ Toánh nổ súng. Con lợn khựng lại mấy giây
rồi bất ngờ đổi hướng. Nó quay ngoắt lại phóng về phía gã râu xồm với tốc độ
không thể ngờ. Nghệ Toánh vừa kịp thay đạn khẩu súng mút, chạy ngang sang gò mối
đã bị cái nanh khủng khiếp của con thú dữ cắm vào mạng sườn. Cú ra đòn của nó mạnh
đến nỗi khẩu súng văng xa hàng chục thước. Tuy vô cùng khiếp đảm nhưng đúng vào
lúc ấy Lê Văn Vận và thằng Sún cũng kịp thời nổ súng. Hai phát đạn cách nhau chừng
một giây. Con lợn bị thương lại càng kích động. Nó rống lên một tiếng rồi lao
thẳng vào đám khói khét lẹt mùi diêm sinh mà khẩu súng kíp của Lê Văn Vận vừa
nhả đạn. Biết là khó thoát, hắn hốt hoảng nhìn trước nhìn sau, chợt thấy cây dẻ
cổ thụ ngay phía bên phải liền đánh đu vào một cành ngang trước mặt rồi leo
lên. Thật may cây dẻ có một chạc ba cách mặt đất chừng bốn năm thước. Lê Văn Vận
chọn tư thế ngồi thật vững rồi xoay nòng súng về phía con lợn đang gầm gừ chạy
vòng phía dưới. Hắn gọi cu Sún:
- Mày dìu bác Toánh về lán ngay đi, tao giữ chân con lợn. Nhớ
vòng lối suối. Nhanh lên. Nó mà phát hiện ra thì nguy.
Nói xong, Lê Văn Vận nhằm con lợn bắn phát nữa. Có lẽ viên đạn
chệch hướng. Con thú hộc lên một tiếng rồi xáp vào gốc cây dẻ dùng cặp nanh to
bằng cổ tay nhọn hoắt moi đất. Tiếng đào rễ cây lục cục nghe gai cả người. Tuy
gốc cây rất lớn, con vật khó có thể quật đổ, nhưng với sức mạnh ma quỷ, nó hất
đất đá rào rào vẫn làm chàng ngư phủ run bần bật. Hắn thầm nghĩ: "Giờ mà
rơi xuống thì khốn nạn". Trong lúc tâm thần bất định chưa kịp bắn phát thứ
ba thì chẳng may khẩu súng rơi xuống đất. Con lợn độc khịt khịt mấy tiếng thăm
dò rồi điên cuồng dùng hai chân sau dẫm nát thứ vũ khí chết người vừa mới trước
đây mấy phút còn khạc lửa vào nó. "Phen này chắc toi mạng thật" . - Vận
vừa ôm chặt cành cây vừa nghĩ . Hắn sợ đến mức nhắm tịt hai mắt, không dám nhìn
xuống dưới nữa. Trong khi ấy, con mãnh trư vẫn chạy loang loáng quanh gốc cây,
vừa thở hồng hộc và cày xới đất đá với tất cả lòng hận thù man dại.
Đến gần sáng con lợn mới bỏ đi mang trên mình mấy vết thương.
Dưới gốc cây dẻ thực sự là một bãi chiến trường. Những chiếc rễ cỡ bắp đùi bị
moi hết đất trơ ra cùng với lớp vỏ cây bị vạc nham nhở như người ta dùng rìu đẽo.
Đất đá bị cái mõm vừa dài vừa cứng của con thú cày lên tụ thành đống như tổ mối,
đôi chỗ dính những vệt máu đã ngả màu nâu xỉn. Không còn một thứ thảo mộc nào đứng
vững quanh cây dẻ trong vòng hai chục bước chân. Tất cả đã trở thành một khối hỗn
độn mang tính huỷ diệt vượt xa khả năng tưởng tượng của con người.
2
Biết cánh sơn tràng đang ở Phiềng Soi, tri châu Vi Văn Sầm
cho viên đội khố xanh lên bảo Lục Kiến:
- Quan lớn xây nhà cần một ít ván làm sàn. Cây gỗ
đã được đánh dấu ngay cạnh khúc ngoặt suối Đá Đen. Các anh hạ xuống, xẻ thành tấm,
xong việc quan sẽ cho bạc trắng và được chặt đủ số lim lát đóng bè về xuôi.
Lục Kiến ngẫm nghĩ thấy công việc bước đầu thuận lợi nhưng
cũng phải ra điều kiện rõ ràng với lão thổ quan người Thái trắng vốn nổi tiếng
nghiện thuốc phiện và mê gái để sau này ông ta không thể lật mặt :
- Được, nhưng ông về trình quan chuyến này giảm thuế cho
chúng tôi.
Viên đội gật đầu và đưa cho ông trùm phường một cái gói giấy
đỏ:
- Đây là tiền ứng trước, làm tốt quan sẽ miễn hẳn thuế.
Cây chò chỉ cao khoảng bốn mươi thước, vòng chu vi ba thước
tám, nằm trên một mỏm núi nhô hẳn ra suối. Dân trong vùng sợ rừng Phiềng Soi có
ma. Ngoại trừ bọn thầy mo, thầy phù thuỷ còn người bản xứ ít ai dám bén mảng. Từ
lâu quan tri châu muốn xẻ bằng được cây gỗ quý, bất chấp mọi lời khuyên, đặt
trước một trăm đồng bạc cho cánh sơn tràng nhưng phường nào cũng lắc đầu vì cây
gỗ ở vào cái thế chênh vênh rất khó hạ, hạ được lại rất khó xẻ, chết người như
bỡn. Sau hôm nhận giao kèo, Lục Kiến cho anh em san đất tạo thành mặt bằng khá
rộng chung quanh cây chò, tiếp đó cử Quản Thực, Trần Phí và ba tay thợ có kinh
nghiệm dùng rìu chặt phía dưới. Lê Văn Vận, cu Sún, Triệu Đán và Nông Viết Nhân
chặt phần trên. Nghệ Toánh vẫn còn đau ở mạng sườn được nghỉ phụ bếp cho ông
già Cầu. Gỗ chò xanh cứng như sắt, rìu bổ chan chát chỉ bật ra vài mảnh dăm vụn.
Cả phường thay nhau phạt đúng bẩy ngày mới hạ được. Cây gỗ đổ kéo theo một chuỗi
âm thanh ào ào như tiếng hút gió của chiếc vòi rồng khổng lồ cách xa vài ba dặm
vẫn thấy rợn người. Chim chóc hoảng hốt bay tán loạn. Một con bồ các đen thui từ
bụi cây mắt rồng vụt lên như bị đồng ốp. Cái mỏ ngắn nhưng to bè bè của nó liên
tục phát ra những tiếng quang quác như tiếng gà mái mẹ nhìn thấy lũ con bị diều
hâu quắp. Mặt đất rùng rùng chuyển động như đang xẩy ra một cơn địa chấn dữ dội.
Xong công việc chặt cành, Lục Kiến bố trí từng cặp dùng loại
cưa dài do tri châu cho người mang lên cắt gỗ thành từng đoạn theo kích thước.
Công đoạn này ít ra cũng phải non nửa tháng, đó là chưa kể các thao tác kê
kích, nâng bẩy từng súc sau khi cắt rời vào đúng vị trí cố định kể bắc cầu xẻ.
Mọi việc đang trôi chảy, phường Sơn Tràng lại xảy ra chuyện
đau lòng. Cu Sún bị hổ vồ. Rừng Phiềng Soi từ lâu không thấy cọp về. Dân bản bảo
cách đây vài ba năm ở Khe Tre có một con hổ vằn nhưng đã bị phường săn bản Nậm
Cắn bắn hạ lấy xương nộp quan tri châu nấu cao. Tấm da vẫn để ở nhà trưởng bản
Hà Văn Tòng. Ông trưởng bản bảo Lục Kiến:
- Nai, hoẵng, lợn rừng không thiếu nhưng hổ báo bị đuổi sang
Lũng Vài rồi.
Hôm ấy là ngày rằm, trời mù sương nên trăng không sáng lắm. Mọi
người ngồi quanh bếp lửa nướng săn, cu Sún đứng dậy bảo:
- Tôi ra thăm mấy cái bẫy gà.
- Mày đặt ở chỗ nào ?- Quản Thực hỏi. - Hay là thôi, để sáng
mai. Trời tối thế này nhỡ rắn rết nó đớp cho một phát thì toi đời.
Thằng bé vớ con dao quắm nhìn Lê Văn Vận và lão Cầu thọt, nhe
hàm răng đen xỉn trông rất tức cười:
- Rắn rết đã có con dao này. Lúc chiều tôi gài cạnh suối có
khi giờ này bọn chúng dính bẫy rồi.
Thằng Sún đi chừng nửa giờ không thấy về. Lục Kiến đâm lo bảo
Trần Phí và Lê Văn Vận:
- Thằng pé [8]nó làm gì ở pờ [9] suối mà lâu thế. Hay là ... mà vùng
này làm gì có thú dữ.
Vận cũng bồn chồn không yên vì linh tính báo cho hắn có chuyện
chẳng lành:
- Bác để tôi với anh Phí ra xem sao.
Họ hú tìm cả giờ không thấy cu Sún. Lúc ấy cả phường mới nháo
lên chia nhau đi tìm tất cả các hướng. Gần sáng Lê Văn Vận nhìn thấy mấy vệt
máu trên vạt cỏ mỡ cách lán ở khá xa. Trần Phí là người vùng sơn cước rất có
kinh nghiệm về các loại thú rừng, phát hiện được dấu chân cọp xéo nát cả bụi cỏ
vòi voi trước khi tha nạn nhân qua khe suối cạn. Mấy người nhìn nhau thở dài. Một
lát sau Trần Phí quả quyết bảo Lê Văn Vận:
- Anh về lán gọi thêm người sang bên kia suối tìm cho kỹ. Tôi
nghi nó đi hướng này.
- Hay là tôi đi cùng với anh ?
Trần Phí lưỡng lự giây lát rồi gật đầu.
- Tôi thù con cọp này. Từ giờ đến mai dứt khoát phải hạ được
nó.
Trần Phí vốn là dân giang hồ đã từng giết lão thầy mo nên
không dám về bản Huổi Tắng, chấp nhận cuộc sống lang thang, lúc đầu ở với phường
săn bản Tấu, rồi dân sơn tràng Chiềng Khoa, cuối cùng được Lục Kiến nhận vào trại
Bồ Nông.
Năm Trần Phí mười chín tuổi phải lòng con gái nhà họ Lục ở bản
Háy. Ông Lục Tông máu rượu, thích đi săn, được con mồi là bắt cánh trai bản kiếm
củi đốt lửa quay nhắm rượu tại chỗ. Lục Tông rất hay hát nhất là lúc chếch
choáng hơi men, lão lè nhè ca những bài học được từ thời đi lính cho quan châu,
thỉnh thoảng lại chêm vài câu tiếng Pháp bồi nghe rất buồn cười. Ngoài rượu, Lục
Tông còn là tay cờ bạc nổi tiếng khắp vùng Yên Mai, chợ Đuộm. Một năm nọ, lão
đem con gái là Lục Nga, mười sáu tuổi, gán nợ cho Hoàng Bí vì thua bạc. Hoàng
Bí vừa là thầy mo vừa là một tay gá bạc giầu kinh nghiệm. Người ta bảo nhà thày
mo có ma xó. Con ma này, lúc sinh thời cũng thuộc hàng đệ tử của thần đổ
bác[10], bị lừa mất cả cơ nghiệp, liền treo cổ
lên cây mộc hương ở chợ Đuộm tự tử. Hoàng Bí đem cái xác vô thừa nhận ấy về
làm ma long trọng như lễ an táng bố mình. Cái hồn của tay cờ bạc
chuyên nghiệp kia cảm động lắm, thường bí mật phù phép cho gia chủ thắng những
canh bạc lớn. Trong nhà, lão thầy mo đã có đến ba bà vợ. Bà Cả già sọm, mặt mũi
nhàu nát, suốt ngày ngồi xó buồng, miệng lầm rầm khấn thần rừng. Bà Hai và bà
Ba cũng là vật thế chấp của những ông chồng có máu đỏ đen. Hai bà này, mỗi ngày
không chửi nhau một trận là ăn không ngon ngủ không yên. Thỉnh thoảng họ lại
túm tóc vật nhau, nếu ông chồng không kịp thời can thiệp thì đã xảy ra án mạng.
Nghe tin Hoàng Bí sắp cưới cô vợ tư, trẻ đẹp hơn mình, máu sư tử Hà Đông nổi
lên đùng đùng, các bà bèn tạm thời liên kết với nhau phá đám. Trần Phí biết
chuyện người yêu bị gán nợ, ức lắm, chạy đến bảo Lục Tông:
- Ông không được bán con gái vào chỗ ấy. Lão Hoàng Bí là một
con quỷ.
Lão già đang chẻ nan đan cái lồng lợn con "hứ" một
tiếng rồi thản nhiên nói:
- Mày mang một đàn trâu trả nợ thầy mo tao cho cưới con Lục
Nga.
- Ông là bố mà nhẫn tâm.
- Mày nói cái gì ? - Lục Tông hằm hằm chĩa cặp mắt đỏ ngầu vì
rượu men lá vào tận mặt chàng trai giọng sừng sộ - Tao đẻ ra nó. Mẹ nó chết rồi,
bây giờ không có rượu uống, tao bán nó đấy, mày làm gì được nào ?
Đêm hôm ấy, Trần Phí chờ mãi không thấy, nghĩ bụng, chắc Lục
Nga đã bị bố nhốt trong buồng. Lưỡng lự giây lát, chàng ta liền chui rào mò vào
gầm sàn rồi trèo lên buồng người yêu. Trần Phí con đang mon men ở cửa thì bất
chợt một tiếng "phập" sắc ngọt đập vào cây cột sau gáy. Anh hoảng hồn
vội thả người nhảy ào xuống đống lá cọ dưới sàn rồi co cẳng chạy. Con chó vện vốn
đã quen hơi, chẳng biết từ đâu xô ra, trở mặt ngoặp một nhát vào bắp chân xé
rách tươm ống quần. Khiếp thật, tại sao Lục Tông lại đoán ra ý định của mình nhỉ
? Chỉ chút xíu nữa thì toi mạng với con dao quắm lưỡi sáng loáng trên tay lão
ta.
Biết Trần Phí yêu Lục Nga say đắm nhưng vì nhà nghèo không có
tiền cưới, bà Thoóng vợ ba Hoàng Bí bảo:
- Sao chúng mày không đem nhau trốn lên vùng người Phù Lá mà
làm ăn ? Con Lục Nga đẹp như tiên giáng trần thế mà để lão thầy mo hôi như cóc
chết sờ vào bụng thì phí cả một đời con gái.
Trần Phí biết tâm trạng của các mụ vợ Hoàng Bí. Thừa dịp lão
thầy mo đi cúng ở bản Háy anh lẻn đến nhà gặp bà Ba:
- Sắp đến ngày cưới rồi, ông Lục Tông canh giữ con gái suốt
ngày đêm. Mấy hôm trước xuýt nữa tôi bị chém.
Ngẫm nghĩ một lúc, bà Thoóng ghé tai Trần Phí nói nhỏ:
- Hôm ấy … cứ làm như thế … ta sẽ giúp.
Ngày Hoàng Bí đón dâu, khách khứa ra vào rất đông. Ngoài những
người trong bản vay nợ lãi của lão còn toàn dân cờ bạc chuyên nghiệp quanh
vùng. Họ đến đấy uống rượu ăn thịt, hút thuốc phiện và sát phạt nhau từ chiều
hôm trước. Hoàng Bí súng sính trong bộ đồ thầy cúng loè loẹt, miệng chào khách
nhưng cặp mắt lươn màu chuột khói đảo loang loáng khắp lượt, trong bụng ước
tính số bạc trắng sẽ chui vào chiếc hòm bằng gỗ gụ sơn đen để trong buồng. Lục
Nga gần như bị áp tải đến nhà trai với khuôn mặt mệt mỏi, đau đớn như vừa có đại
tang. Cô được dẫn vào buồng bà Cả, bà Hai rồi bà Ba trình diện để cái ma nhận mặt
người nhà. Trong lúc mọi người ăn uống tấp nập, không ai để ý một phụ nữ mặc
bộ quần áo chàm , trùm khăn đen từ buồng bà Ba xuống cầu thang rồi lẩn vào vườn
mía. Vườn mía cách bìa rừng một tầm tên bắn. Trần Phí đã đợi ở đây từ sáng sớm.
Vừa nhìn thấy Lục Nga anh vội bế xốc lên ngựa ra roi cho nó phi nước đại dọc
con đường mòn sang bản Cốc Dì. Mất cô dâu, Hoàng Bí lập tức cử bọn tay chân toả
ra khắp các hướng truy tìm. Lão đã quá tuổi sáu mươi, răng rụng bốn chiếc, người
lép kẹp như con cá mát ướp muối, vậy mà không hiểu lấy đâu ra sức lực nhảy lên
con ngựa bạch bờm hung phi như hoá rồ lên dốc Đá Mài. Tuy nhiên Hoàng Bí là kẻ
tinh ranh. Lão phán đoán cặp trai gái kia chỉ có thể trốn theo lối bản Cốc Dì,
vượt suối Leng Kheng, sau đó ra chợ Phiềng Sa, nếu không đuổi gấp chúng sẽ
thoát. Mà chúng thoát thì họ Hoàng nhục như con chó vì lão phải mua Lục Nga bằng
cả một đàn trâu. Con ngựa trắng của Hoàng Bí vốn nòi Mường Bi có thể phi một mạch
hàng trăm dặm không nghỉ, tốc độ hơn hẳn ngựa Trần Phí. Quả nhiên , chưa đến nửa
giờ, lão thày mo đã nhìn thấy bóng con ngựa hồng thấp thoáng khúc quanh sườn
núi. Do phải chở hai người, con ngựa chạy khá chậm mặc dù Trần Phí liên tiếp ra
roi và thúc chân vào sườn nó.
- Dừng lại … ! Trả vợ cho t...a... o..! - Hoàng Bí rướn người
lên bàn đạp đầu chúi về phía trước gào to.
Chỉ có tiếng gió ù ù và vó ngựa khua rầm rập làm mặt đường
mòn bốc lên những đám bụi hung hung đỏ như khói đốt nương sau khi cây rừng đã nỏ.
- Thằng Phí ! Trả vợ cho tao …. Chạy nữa là tao bắn...
Khoảng cách giữa hai người mỗi lúc một gần, Trần Phí càng cố
thúc mạnh vào sườn con ngựa đang đuối sức. Sắp đến rừng Huổi Trăn, Hoàng Bí chợt
giật mình: "Chúng mà vào được cái rừng đầu nguồn kia thì pháp thuật nổi tiếng
như thày mo Lầu Phềnh cũng đành bó tay. Thằng Phí, mày cướp vợ tao là cướp
cả một đàn trâu mấy chục con, mày phải chết". Lão ghì cương cho ngựa chạy
chậm lại rồi nâng khẩu súng kíp lên vai nhằm vào con ngựa hồng kéo cò. Một
tiếng nổ đanh kèm theo đám khói trắng đục đầu nòng. Con ngựa đang phi nước đại
chợt chồm lên hất đôi trai gái xuống. Lục Nga ngồi phía sau chết ngay vì lưng
cô hứng cả một nắm đạn ghém. Đó là thứ đạn săn thú rừng sát thương rất mạnh của
lão thày mo. Trần Phí bị thương vào cánh tay trái nhưng anh vẫn bình tĩnh, biết
mình đang ở thế nguy liền nằm sấp cạnh con ngựa giả vờ chết. Hoàng Bí rượt tới.
Lão xuống ngựa nâng Lục Nga lên. Vào đúng lúc ấy, Trần Phí bật dậy thọc con dao
vào cái hõm nơi cổ họng lão già đang phập phồng vì cố sức phi ngựa trên chặng
đường dốc.
Thanh toán xong lão thầy mo, Trần Phí trốn vào rừng Huổi
Trăn. ít lâu sau anh lang thang đến vùng Chiềng Oi của người Thái Đen, ở đấy gặp
phường săn bản Tấu...
Trần Phí và Lê Văn Vận leo lên dốc rồi mỗi người đi về một hướng.
Trần Phí men theo một khe suối nhỏ cát trắng óng ánh như thuỷ tinh rồi đến một
thung lũng toàn chuối. Anh ngắm nghía một lúc thấy sườn quả đồi tranh trước mặt
có những chỗ bị rạp xuống. Bằng con mắt của một thợ săn, Trần Phí phán đoán,
con hổ đã chạy về phía này. Vào sâu một đoạn, anh ngửi thấy mùi gây gây đặc
trưng của loài chúa sơn lâm rất khó chịu. Quả nhiên không phải tìm lâu. Dưới
tán cây xạ hương, một con hổ vằn khá lớn nằm nửa thức nửa ngủ, hai chân trước
choãi ra, cái miệng rộng thỉnh thoảng lại ngáp một cái ra vẻ thoả mãn sau bữa
chén no nê. Tuy Trần Phí bò ngược hướng gió rất thận trọng nhưng con mãnh thú
không hoàn toàn bị động. Nó nhanh hơn tay thợ sơn tràng, vội thu chân lại, cong
người nhún mình, cái đuôi ngoe nguẩy trong tư thế chuẩn bị vồ. Con cọp to lớn
quá sức tưởng tượng làm Trần Phí run bắn người, lúng túng mãi mới kéo được cò
khẩu Anh đô si noa. Đạn không nổ. Con cọp đập đuôi, uốn một đường vòng cung
loang loáng giống như tia chớp chồm lên Trần Phí. Chỉ một tầm tay nữa là chàng
trai người Tày toi mạng. Anh kẹp súng vào hai đùi lăn một đoạn tránh
cú táp của con thú rồi bật dậy chạy tạt ngang vào một gốc cây gần đấy giật khoá
nòng, đẩy viên đạn thối. Sau cú vồ hụt, con hổ gầm lên một tiếng dữ dội. Cặp mắt
đỏ ngầu của nó chĩa vào Trần Phí như hai mũi dùi nung đỏ khoan vào cân não làm
anh đờ ra gần như mất hết phản ứng tự vệ. Chỉ chờ có thế vị chúa sơn lâm hung
hăng đập chiếc đuôi dài cứng như sắt xuống đất, nhún hai chân sau lấy đà chuẩn
bị ra đòn quyết định. Đúng vào lúc ấy, một tiếng nổ bất ngờ làm Trần Phí thoát
khỏi cơn hoảng loạn. Phát súng kíp của Lê Văn Vận nện trúng sườn trái làm con hổ
rống lên thảm thiết nhưng nó vẫn liều mạng quay lại lao như hoá rồ vào chỗ có
đám khói. Bây giờ Trần Phí đã có đủ thời gian lắp đạn vào khẩu quân dụng của
mình. Viên đạn phá vỡ quai hàm và một phần tai phải ông ba mươi. Nó nhảy dựng
lên hai chân sau bằng cả chiều dài rồi đổ vật xuống, miệng sùi ra một đống bọt
lẫn với máu . Hai người tìm quanh quất một lúc lâu mới thấy những phần còn lại
của cu Sún. Trần Phí cởi áo bọc lại mang về chôn trên gò Ma. Đêm ấy bà Ba cứ
khóc mãi. Tiếng khóc của người thiếu phụ vừa tức tưởi vừa ai oán lại vừa rờn rợn
ở chốn hoang vu giữa đại ngàn như là thứ tín hiệu báo điềm chẳng lành.
3
Sau hai tháng đánh vật với cây chò, phường Sơn Tràng đã xẻ đủ
số ván gỗ cho quan tri châu. Vi Văn Sầm giữ lời hứa, ngoài tiền công khá hậu
hĩnh, ông ta còn thưởng thêm cho phường một trăm đồng bạc trắng. Bấy giờ mọi
người mới tập trung đốn gỗ, chặt bương cốn bè. Cạnh suối Đá Đen còn một cây sao
dầu cỡ hai vòng tay. Cây này rất khó hạ vì bị sườn đá án ngữ. Những tay thợ lão
luyện phải mất đứt năm ngày mới chặt được, nhưng thật oái oăm, thay vì đổ xuống
suối, ngọn cây lại ngả về phía sườn đá. Lê Văn Vận, Quản Thực và Trần Phí dùng
chạc leo lên chặt cành. Lục Kiến cứ chắp tay đi đi lại lại nghĩ cách bẩy cây gỗ
ra khỏi gờ đá. Buổi chiều khi đã chặt cành xong, ông trùm quyết định dùng dây
thừng buộc vào ngọn kéo, phía bên kia cử bốn người hợp sức bẩy bằng xà beng.
Cây gỗ nằm chếch về hướng nam, gốc tì trên con lăn trượt đi một cách khó nhọc từng
phân một. Bỗng nhiên, trên sườn dốc, nơi đầu cây gỗ tựa vào có hiện tượng chuyển
động. Do sự va chạm mạnh lúc cây đổ phá vỡ thế cân bằng, một khối đất đá khá lớn
tách ra lăn xuống rào rào. Lúc ấy, Lục Kiến cùng mấy tay thợ đứng dưới bờ suối
đang cố sức ghì sợi chão buộc trên ngọn cây, bị hòn đá tảng văng trúng người, hất
xuống vực. Anh em thợ hốt hoảng bỏ cây gỗ nhảy theo, đến khi đưa được Lục Kiến
lên thì ông trùm phường chỉ còn thoi thóp. Vết thương ở đầu quá nặng. Hòn đá đập
nát phần gáy, óc phọt ra dính lầy nhầy một bên tai.
Phường Sơn tràng làm lễ chôn cất ông trùm trên gò Ma, cạnh mộ
cu Sún. Trần Phí được anh em cử tạm thời thay Lục Kiến trông coi công việc của
phường. Những ngày này lương thực lại sắp hết. Một số người chán cảnh ma thiêng
nước độc có ý định bỏ về xuôi. Trần Phí cử Lê Văn Vận và lão Cầu xuống các bản
dưới chân núi tìm mua gạo. Vận khoác khẩu súng Anhđôsinoa tay cầm dao phát rừng
mở đường. Lão Cầu khoác tay nải vừa đi vừa khậm khoạc ho. Lão vốn nghiện thuốc
lào, gần nửa tháng hết đành nhịn sinh chứng ho khan. Đi được nửa dốc Vận chợt
thấy nóng ruột. Hắn không yên tâm để bà Ba ở lại một mình giữa đám đàn ông mà
phần lớn đều có thành tích bất hảo, nhất là Nghệ Toánh và Quản Thực. Hai gã này
hễ có dịp là hau háu nhìn vào ngực người thiếu phụ một cách thèm thuồng chẳng cần
giấu giếm. May mà có Lục Kiến, một đầu lĩnh rất giỏi võ nghệ che chở, nên hai
người mới tạm thời yên ổn. Giờ ông trùm mất rồi, bọn chúng chẳng còn phải sợ
bóng sợ gió, tha hồ thả lỏng thú tính, đến lúc ấy thì có mà trời biết chuyện gì
sẽ xảy ra. Nơi rừng xanh núi đỏ này đầy lam sơn chướng
khí , tai
hoạ luôn rình rập, không thể là chốn nương thân. Phải xuống
núi quay về thôi. Nếu cùng cực quá thì dắt nhau đi ăn mày còn hơn là gửi xác
nơi đây. Nghĩ vậy Vận vảo lão Cầu :
- Bác xuống bản Phóng tìm mua ngô hoặc được gạo càng tốt rồi
đợi tôi ở nhà Quàng Văn Hếnh. Tôi có chút việc phải quay về lán, chiều sẽ xuống.
Nói xong chẳng đợi lão Cầu đồng ý hay không, Vận hối hả ngược
dốc.
Trong khi ấy Trần Phí chia số anh em còn lại thành từng nhóm
vào sâu trong rừng chặt bương kéo xuống suối để kết mặt bè. ở lán chỉ còn bà Ba
nấu cơm. Tầm gần trưa, cơm đã nấu xong, bà Ba mang quần áo ra suối tìm một chỗ
khuất tranh thủ tắm trước khi cánh đàn ông về. Đó là một nhánh của con suối Đá
Đen cách nơi ở chừng hai ba trăm thước, có một chỗ hõm xuống giống như chiếc bồn
tắm tự nhiên bằng đá xanh. Nước suối trong vắt, lũ cá mạy tròn như những đồng
xu, óng ánh kim nhũ, bơi lượn lờ chẳng khác gì cá cảnh đang du ngoạn trong bể
kính. Bà Ba nhìn trước nhìn sau theo thói quen của phái yếu rồi cởi váy áo lội
xuống suối thong thả vớt từng vốc nước mát lạnh tưới lên tấm thân thon thả trắng
nõn nà . Ra đến bồn nước, cô ta hơi ưỡn người hai bầu vú thây lẩy như hai trái
dừa khẽ lắc lư. Cặp đùi mập mạp khép hờ trông rõ vết sẹo phía trên đầu gối do
ngọn roi chánh Đàm quật vào. Khi người thiếu phụ ngồi hẳn vào bồn, cặp tuyết lê
lúc này ngập hẳn trong làn nước xanh ngọc bích cứ bập bềnh lúc nổi lúc chìm
theo nhịp thở. Có điều nét hấp dẫn của người phụ nữ khoả thân này không chỉ rừng
lại ở khuôn ngực hoặc cặp đùi đầy khêu gợi mà ở những đường cong nơi eo lưng
xuôi xuống hai bên hông. Đó là những đường cong mềm mại hoàn mỹ đến mức bí ẩn.
Nó uốn lượn theo những quy luật phức tạp nhưng lại hiện diện dưới dạng thức
hoàn toàn đơn giản như là không hề có sự gia công của bàn tay tạo hoá.
Vùng vẫy chán, bà Ba ra khỏi làn nước lắc người,
đang định lên bờ thì Nghệ Toánh bất chợt từ một hòn đá bước tới. Phía sau là Quản
Thực đang hau háu nhìn vào tấm thân trắng ngồn ngộn của Thị Lánh. Cô ta vội chạy
lại chỗ để quần áo nhưng gã râu rậm đã nhanh chân lao ra chắn đường, bế xốc lấy
leo lên lèn đá. Hắn đưa mắt cho Quản Thực:
- Đứng đấy canh chừng có đứa nào ra thì báo, chốc nữa đến lượt
mày …
Bà Ba vừa giẫy vừa kêu vừa cắn vào tay Nghệ Toánh. Hắn khoá
chặt hai tay người thiếu phụ, nhét chiếc khăn hôi hám vào miệng rồi dằn ngửa cô
ta xuống khoảng đất hẹp bên cạnh bụi vừng dại. Khi sức chống cự của bà Ba đã yếu
đi, gã rậm râu trườn tấm thân hộ pháp lên bụng cô ta, hai cánh tay vòng xuống
nách ghì thật chặt rồi mới làm động tác cuối cùng. Đứng cảnh giới cách đấy
không xa, Quản Thực nhìn thấy cái mông của Nghệ Toánh cứ nhấp nhổm trên hai đùi
bà Ba thì vô cùng sốt ruột. Mồm nuốt nước bọt còn tay hắn thỉnh thoảng lại thò
vào trong quần. Cặp mắt lác trắng dã lúc ấy ánh lên những tia man rợ như mắt
chó dại. Cơn hoan lạc thú vật đã qua nhưng gã rậm râu vẫn còn trần truồng trên
bụng người đàn bà làm Quản Thực không thể chịu nổi. "Hắn quát khẽ Có
người".Nghệ Toánh giật nảy mình vơ vội chiếc quần chạy vào rừng. Quản Thực
chỉ đợi có thế và chỉ với vài bước nhảy của loài linh dương hắn đã chồm lên người
đàn bà. Bà Ba hầu như đã hết sạch khả năng chống cự, người mềm nhũn, mệt nhoài,
để mặc cho gã sơn tràng làm cái việc mà thằng bạn hắn trước đã làm. Niềm khoái
lạc của Quản Thực sắp được đẩy tới tận cùng thì bất chợt một lưỡi dao sáng
loáng cắm phập vào sống lưng bằng tất cả lòng thù hận làm hắn chỉ kêu được
"ức ức" mấy tiếng rồi gục xuống ngực người đàn bà, chết ngay. Cũng
vào lúc ấy, Nghệ Toánh vòng lối suối đi lên. Gã này biết mình vừa bị Quản Thực
lừa định quay lại tiếp tục công việc đang dở dang thì chạm ngay Lê Văn Vận. Nghệ
Toánh sững người, nhớm chân định lùi lại chàng ngư phủ đã nâng súng lên vai
quát:
- Đứng lại !
Tên râu rậm bắt đầu chạy mỗi lúc một nhanh, hy vọng vào
được được lèn đá là thoát. Nhưng khẩu Anhđôsinoa đã nổ. Viên đạn đáng lẽ nhằm
vào lưng thì lại chếch lên gáy. Hắn chết mà chưa kịp cài khuy chiếc áo chàm ngắn
tay. Chiếc áo này Nghệ Toánh đã lừa đổi của một ông già người La Hủ chỉ bằng mấy
điếu thuốc lào.
Hạ xong gã râu rậm, Lê Văn Vận quay lại rút con dao trên người
Quản Thực. Vết đâm quá sâu,chạm đến cả bụng bà Ba, hắn phải dùng chân đạp lên
lưng gã sơn tràng mới lấy ra được. Máu ở bụng thị Lánh chảy như xối từ vết
thương toang toác dưới phần mỏ ác. Vận hoảng quá, đạp cái xác Quản Thực ra một
bên, ôm lấy bà Ba mà khóc. Được một lúc hắn chợt nhận ra, người tình vẫn trần
truồng liền chạy xuống bờ suối lấy váy áo mặc vào cho cô ta. Hắn xé áo Quản Thực
buộc ngang bụng nhưng máu vẫn chảy, chỉ một thoáng là ướt sũng như nhúng nước.
Chợt nhớ đến môn thuốc cầm máu lúc còn ở vạn chài, Vận vội luồn vào rừng. Hắn
đi được vài bước thì Trần Phí cùng mấy anh em trong phường tìm đến. Nghe tiếng
súng họ đoán có chuyện chẳng lành vì không thấy bà Ba ở lán. Một người đi trước
phát hiện ba cái xác nằm cạnh suối cách nhau không xa, cả phường hốt hoảng toả
đi các hướng tìm thủ phạm. Chiều hôm sau khi thấy một mình lão Cầu lếch thếch
gánh hai tay nải gạo ngược dốc về lán phường Sơn Tràng mới biết kẻ gây ra vụ thảm
sát chính là Lê Văn Vận. Nhưng lúc này hắn đã cách rừng Phiềng Soi khá xa sau
khi ẩn trong hang đá một đêm. Sang đến ngày thứ ba, Lê Văn Vận đói quá. Hắn chẳng
còn đủ sức để bắt những con vắt nâu bám lủng lẳng nơi bắp chân nữa. Lại một trận
mưa ngàn. Hắn thất thểu bước như kẻ mộng du, chốc chốc lại ngồi bệt xuống bẻ một
ngọn măng giang, tước vỏ bỏ vào mồm nhai trệu trạo. Hắn đã bị lạc rừng. Thoát
khỏi cuộc truy đuổi của anh em trong phường nhưng chắc gì đã thoát chết một khi
chẳng có thứ gì ăn sống người ngoài khẩu Anhđôsinoa mà lúc này hắn dùng để chống
như một chiếc gậy. Chỉ còn hai viên đạn. Không có lửa. Nếu gặp may mà hạ được
thú rừng thì cũng chỉ có cách là ăn sống. Hắn đã thoát chết bởi con lợn độc tuy
phải qua một đêm kinh hoàng ngồi trên chạc cây, nhưng còn bây giờ giữa đại ngàn
hoang vu xung quanh biết bao nhiêu hiểm hoạ rình rập. Sợ nhất là hổ báo. Loài
mãnh thú này không hề biết sợ. Chúng sẵn sàng tấn công trực diện con mồi nếu đã
lâu không kiếm được thứ gì cho vào bụng. Rồi con rắn rết, bọ cạp và
nhất là trăn gió. Bọn này thường chạy ào ào trên ngọn cây. Ngửi thấy hơi người
là chúng quăng mình cuộn chặt bằng những vòng cứng như gọng kìm thép làm xương
cốt gãy răng rắc, thịt mềm nhũn, bấy giờ mới há cái miệng đỏ lòm, ngoác ra đến
tận mang tai từ từ nuốt. Vận không thể ngờ nhát dao bổ vào lưng Quản Thực lại mạnh
đến thế. Thằng chó đẻ ấy chết là đáng kiếp, nhưng tại sao hắn lại giết cả bà Ba
? Lúc về đến lán, không thấy cô ta Vận đã nghi. Hắn biết chỗ hõm suối hằng ngày
vẫn đưa cô ta đi tắm liền lặng lẽ tìm ra. Nhưng đã quá chậm. Lúc ấy Quản Thực
đang nằm trên bụng Thị Lánh. Mà cô ta lại nằm trong tư thế như là một sự đồng
loã đầy cảm hứng khoái lạc. Chỉ đến khi nhìn thấy khuôn mặt gã rậm râu đầy những
vết cào cấu, chàng ngư phủ mới biết, do lòng ghen tuông bột phát, đã nghi oan
lòng chung thuỷ của người thiếu phụ. Phát súng hạ gục gã râu rậm là phát súng định
mệnh có vẻ như Thượng Đế đã mượn tay hắn trừng phạt cái ác, thực hiện lẽ công bằng.
Đêm hôm ấy Vận trèo lên một chạc cây to, dùng dây rừng quấn
vào người rồi dựa vào cành thiu thiu ngủ. Hắn mệt quá thiếp đi chẳng biết trời
đất gì nữa. Trời sáng bạch hắn mới thức dậy, thấy người gây gấy sốt liền tụt xuống
đất, tìm nước uống. Đầu nhức như búa bổ. Dòng suối ngay gần đấy, nước chảy ràn
rạt nhưng Vận có cảm giác nó gầm réo dữ dội bên tai tựa như tiếng rùng rùng của
hàng ngàn chiến mã đang tung vó trên thảo nguyên mênh mông. Lê được đến bờ suối,
chưa kịp uống ngụm nước, cơn sốt đã làm hắn ngất đi. Trong cơn mê sảng chàng
ngư phủ mơ màng nghĩ đến người đàn bà đã cùng mình lưu lạc sau những biến cố bất
ngờ của gia đình họ Khúc. Những hồi ức ngọt ngào lẫn với đắng cay lần lượt hiện
về. Kỷ niệm đậm nét nhất là hắn cùng bà Ba nhún cây đu cao chót vót, cao đến tận
trời. Vòng đu cuối cùng Vận nắm tay Thị Lánh, bước vào khoảng không rồi bay lên
giống hệt cánh chim tự do. Tóc bà Ba mềm như lụa nâng lên hạ xuống nhịp nhàng
chẳng khác gì tiên nga múa điệu nghê thường. Lên đến tầng thứ ba đột nhiên trời
trở gió. Gió mỗi lúc một mạnh. Mà đôi cánh mỏng manh của cặp tình nhân không thể
chống lại những trận cuồng phong. Hai người bị đẩy ngược trở lại trần gian với
tốc độ rơi tự do làm Vận hoảng hồn. Hắn vội cụp cánh, vòng tay ôm lấy bà Ba rồi
nhắm mắt chờ quỷ sứ đến đưa linh hồn hai người về địa phủ. Một cú va
đập dữ dội làm chàng ngư phủ choáng váng…
Trước mắt Vận là một gã đàn ông không thể đoán được tuổi tác
vì hắn để râu tóc xồm xoàm như người rừng. Mặt hắn gầy choắt, da bủng, mắt vàng
giống hệt dân nghiện kinh niên vừa đói cơm vừa đói thuốc. Nhìn thấy bộ dạng ông
khách quái dị như vậy, Vận sợ lắm hỏi:
- Ông …là … ?
Người mặt choắt nheo mắt mỉm cười qua bộ râu hung hung như
râu ngô điểm vài sợi trắng như cước không trả lời hắn mà bảo:
- Anh bị lên cơn sốt chỉ một chút nữa là đâm đầu xuống suối,
may mà tôi đến kịp.
- Vậy là ông đã cứu tôi ?
- Anh làm gì mà lang thang trong rừng ?
- Tôi là thợ sơn tràng.
- Khai thác gỗ ở khu nào ?
- Cách đây xa lắm - Vận không dám nói thật vì sợ quan quân
cho lính truy lùng - còn ông là ai mà cứ hỏi tôi như là hỏi cung thế ?
- Hoàn cảnh của anh thế nào cứ nói thật đi. Tôi không phải là
mật thám.
Vận thở dài:
- Trước mồ côi cha mẹ, phiêu bạt khắp nơi, giờ còn khốn nạn
hơn nữa là không mảnh đất dung thân.
- Vậy thì tạm thời đi với tôi cho có bạn - Người đàn ông mặt
choắt bất ngờ đề nghị.
- Nhưng mà đi đâu ? - Vận ngước cặp mắt âu sầu nhìn trời hỏi
bâng quơ - Mà tôi đang đói lắm, ông có cái gì ăn được không ?
Người khách lấy trong bọc ra mấy bắp ngô luộc đưa cho Vận. Hắn
nhìn ông ta một thoáng rồi vồ lấy bắp ngô gặm lấy gặm để. Đợi chàng ngư phủ ăn
xong, ông ta lấy trong túi chiếc ống nhôm nhỏ dài như ngón tay dốc ra hai viên
thuốc màu trắng bảo Lê Văn Vận:
- Uống ngay đi. Thuốc sốt rét anh em chuẩn bị cho tôi đấy.
Chiều hôm ấy Vận theo người đàn ông lạ mặt ra khỏi rừng dang.
Họ ngủ trong chiếc lều canh ngô của dân bản Cốc. Đêm ấy chàng ngư phủ kể cho
ông khách mặt choắt về cuộc đời mình. Nghe xong ông ta cảm động lắm. Sáng ra,
lúc sắp lên đường đi tiếp ông khách hỏi:
- Từ hôm qua đến nay anh vẫn chưa biết tôi là ai phải không ?
Vận gật đầu:
- Phải. Tôi trông ông không phải là phường thổ phỉ cũng không
phải dân buôn lậu thuốc phiện. Ông ăn nói chững chạc, cử chỉ đàng hoàng, hay là
…
- Tôi là tù chính trị vừa vượt ngục Sơn La.
- Thế ra ông là chính trị phạm ?
Ông khách khẽ gật đầu:
- Bây giờ còn dám đi với tôi nữa không ?
Vận ngần ngừ một lúc rồi hỏi lại cái câu mà hắn đã hỏi nhiều
lần:
- Nhưng mà đi đâu hả ông ? Tôi cùng đường rồi.
- Cùng đường nhưng không có nghĩa là tuyệt mệnh - Người tù vượt
ngục thong thả bảo - ở dưới bản Chiềng Om tôi có một người quen. Ta
xuống đấy nghỉ mấy ngày rồi sẽ tính.
- Tôi sợ lắm. Đi theo ông nhỡ dọc đường gặp lính quan châu đi
tuần thì chết.
Ông khách mặt choắt nghiêm giọng nhìn thẳng vào Lê Văn Vận :
- Đi hay không là tuỳ anh bởi chính tôi cũng đang bị nhà cầm
quyền truy đuổi. Có điều đã sinh ra làm đấng nam nhi trên đời cần phải làm một
cái gì có ích đừng quá nghĩ đến những chuyện vụn vặt.
[1] đàn
bà
[2] đấy
[3] đấm
đá
[4] tôi,
ta
[5] biết
[6] đứa
[7] -Anhđôsinoa (Indochinois): một loại súng trường cổ của
Pháp
[8] Thằng bé
[9] bờ suối
[10] Cờ bạc
Chương 4
Chương bốn
1
Từ khi chánh Đàm chết, người quản lý cơ nghiệp họ Khúc là bà
cả Huê. Khúc Luận được bà ta nuôi dạy như con đẻ. Thậm chí nó còn được cưng chiều
hơn cả Khúc Thị Huệ, lúc này đã bốn tuổi, giống thằng anh như đúc mặc dù chúng
không cùng một mẹ sinh ra. Tất nhiên là bà ta thâm thù Mạc Thị Lánh. Chính vì
cô ta - con đĩ lăng loàn trời đánh thánh vật - mà chồng bà phải chết. Cái chết
của Khúc Đàm làm thanh danh gia đình bị hoen ố, là đề tài cho thiên hạ đàm tiếu.
Nhưng thằng con do cô ta đẻ ra lại quý như vàng. Nếu không có nó, toàn bộ gia
tư điền sản sẽ rơi vào tay kẻ khác mà trước hết là mấy đứa con của Khúc Kiệt.
Lão này biệt tăm bảy tám năm, thỉnh thoảng mới mò về mà lại toàn về vào ban
đêm. Cánh lý dịch từ lâu đã nghi lão đang làm việc cho một tổ chức bí mật nào
đó chống lại nhà cầm quyền nên cách ăn nói khác hẳn thời kỳ còn làm thày đồ gõ
đầu trẻ. Nhà họ Khúc sau này phải có một người đàn ông làm chủ, và người đó sẽ
là Khúc Luận. Bỏ qua mọi định kiến của phường nhi nữ thường tình, quyết định của
bà có ý nghĩa lịch sử đối với truyền thống vốn rất bảo thủ của các bậc phụ
huynh làng Cùa. Bà nhồi nhét vào cái đầu trẻ thơ của Khúc Luận lòng hận thù và
niềm khinh bỉ đối với người đã sinh ra nó. Mỗi ngày một ít, như mưa dầm thấm
lâu, phương thức giáo dục đầy tính vụ lợi của người đàn bà đáo để này đã làm
méo mó hình ảnh bà Ba trong tâm trí thằng bé. Đại khái ý niệm thường trực của
nó luôn coi mẹ là người đàn bà lẳng lơ đĩ thoả, bỏ nhà theo trai, tội đáng gọt
tóc bôi vôi thả bè trôi sông. Còn Lê Văn Vận là tên vong ân bội nghĩa, giết bố
vợ cướp vợ bé của ông ta rồi đem nhau đi trốn. Chánh Đàm đã về với tổ tiên, bà
cả Huê tô vẽ lão ta thành một thứ thần tượng để nhào nặn Khúc Luận theo quan điểm
giáo dục của mình. Đó là lòng hận thù đến tận xương tuỷ và sự khinh miệt nhân cách
đối với kẻ đã phá vỡ bức thành đồng gia pháp, đảo lộn cương thường, gây ra màn
bi kịch độc nhất vô nhị ở vùng Ba Tổng.
Khúc Luận đến tuổi đi học. Thầy dạy là ông khoá Nhưng người
làng Buộm. Khoá Nhưng chưa đến bốn mươi, có máu gió trăng, chữ xấu
như gà bới nhưng ăn mặc bảnh choẹ, nói đâu ra đấy làm bà Cả động lòng. Hai người
đầu mày cuối mắt xem ra tâm đầu ý hợp lắm nhưng còn ngại mẹ con bà Hai. "Phải
tìm cách tống lũ này đi nơi khác". Bà ta nghĩ vậy mà luôn chờ dịp thực hiện
âm mưu của mình. Một hôm bà Cả gọi mẹ con bà Hai lên nhà bảo:
- Tôi nghĩ mãi rồi. Mấy năm trước hai đứa con nhà chị Hài còn
bé thì không nói làm gì, giờ cả thằng Luận và chúng nó đều lớn, đã hiểu biết
đôi chút xem ra khó có thể ở chung được vì vụ án anh Vận giết ông Chánh … Tôi
đã hỏi mua được ngôi nhà của trương Đáp ở xóm Trại Cá, dăm hôm nữa, tu sửa xong
dì và mẹ con con Hài sẽ chuyển ra đấy.
Biết phận mình lẽ mọn lại không có con trai trước sau cũng bị
bà Cả đuổi khỏi nhà, bà Hai chẳng thèm xin xỏ gì, thản nhiên gật đầu:
- Chị nói phải, nhưng mẹ con tôi không ở xóm Trại Cá mà ngay
ngày mai sẽ sang sông về làng Nội.
- Cái đó thì tuỳ dì thôi - Bà cả cười nhạt nhìn mái tóc điểm
bạc của bà Hai, thủng thẳng bảo - Nhưng sang sông thì phần gia tài của mẹ con
gì không được mang theo.
2
Những trận mưa liên miên từ đại ngàn dồn về sông Lăng làm ngập
cả cồn Láng cồn Vành. Gió chạy ào áo. Sóng vỗ oàm oạp. Nước phù sa đục ngầu giận
dữ lao băng băng như muốn thoát khỏi con đê mỏng manh, chờm vào những cánh đồng
chiêm trũng để giải phóng bớt năng lượng. Tháng bảy, lúa đang thì con gái. Khắp
lượt các cánh đồng Mả Gạch, Mả Dứa, Đồng Gà xanh mướt một màu. Trên gò đống hoặc
ven bờ ruộng, những đứa trẻ đội nón lá, quàng áo tơi chăn trâu. Mưa kéo dài,
trâu buộc cuồng chân cà sừng vào gióng chuồng đòi ra. Bọn trẻ thả trâu gặm cỏ rồi
vồ châu chấu. Những con chấu cái bụng đầy trứng, toàn thân xanh thẫm màu lá
lúa, bị ướt, vỗ cánh một cách khó nhọc. Có con không đủ sức vượt chặng đường
khá dài đến gò đống rơi cả xuống nước. Chấu đực nhỏ gầy như đầu đũa, bay ràn rạt
hàng đàn. Lũ này có vẻ lười tuy chúng bay rất khoẻ. Các chàng đa tình
này thường "ngự " trên lưng các "nàng" tạo
thành một cặp chênh lệch như là mẹ cõng con. Thấy động, chấu cái bay lên như
tàu "bà già"[1] mang
theo cả anh bạn đại lãn không mấy chung thuỷ. Cào cào đầu nhọn đủ loại xanh, đỏ,
tím, vàng bay vù vù. Mỗi khi bay chúng chẳng cần phải vỗ cánh lấy đà. Chạm người
hoặc bước chân trâu tới gần, chỉ nghe đến "xoẹt" một tiếng, đã thấy
chú ta lơ lửng trên trời để rồi vài giây sau lại đỗ xuống một mô đất nào đó
cách đấy không xa dù rằng mưa vẫn như trút nước. Lũ cà cộ và châu chấu ma vô
cùng tinh khôn.
Chấu ma ngắn người, to xác, khoác bộ y phục sặc sỡ bẩn thỉu,
đôi chỗ điểm các vòng đen lấm tấm vàng giống như mắt quỷ. Vùng Ba Tổng không ai
ăn châu chấu ma nên chúng tha hồ sinh sôi nảy nở, tự do dọc ngang trên khắp các
dải đồng. Nơi cư trú lý tưởng nhất đối với bọn này là những ruộng lạc, ruộng đỗ,
ruộng dưa sắp đến kỳ thu hoạch. Chấu ma bay rất cao, có lúc cả đàn vù vù trên đầu
như xay lúa. Chúng không sợ trời mưa. Càng mưa càng bay khoẻ. Nhưng những hiệp
sĩ nổi tiếng của đồng chiêm thì phải giành cho các chàng cà cộ. Bọn này thực chất
thuộc nòi châu chấu nhưng to xác hơn cả chục lần. Những chú trưởng thành thường
khoác bộ cánh xanh lá mạ hoặc vàng rơm với cái đầu vuông gồ lên, hai con mắt lồi
ra trong suốt như thủy tinh trông rất hiếu chiến. Cà cộ thường kiếm ăn trên các
trà ruộng hoang. Ban đêm chúng phát ra thứ âm thanh gọi bạn nghe cành cạch như
là tiếng hai thanh tre gõ vào nhau. Khu đồng vàn có những gia đình cà cộ cư trú
lâu đời. Lúc tạnh ráo, lũ choai choai tập nhảy tanh tách, con nào cũng mỡ màng
bụng nhẵn bóng, đầu thò ra cặp râu dài đen như hai sợi tóc. Trên cao một cặp
sáo đen vừa liệng những vòng cuối cùng vừa kêu chíp chíp giống tiếng nhị hen của
xếp Đáy - một lão quăng chài nát rượu thường ra bờ ao ngồi "cò cử" mỗi
khi chếch choáng hơi men.
Chiều chiều, lũ trẻ dắt trâu về đến cổng làng đứa nào cũng
kèm thêm giỏ châu chấu lủng lẳng bên sườn. Chỉ cần nhúng giỏ vào nồi nước sôi rồi
đổ ra vặt cánh, đem rang với muối, mỡ thêm nhúm lá chanh thái nhỏ là đã có một
món ăn trong bữa cơm đạm bạc của những gia đình nghèo.
Như mọi chiều, đàn trâu thủng thẳng về đến bờ mương, sắp sửa
qua cổng làng thì bỗng từ đình Cả vọng về tiếng trống ngũ liên. Quả nhiên chưa
đầy một khắc, khắp nơi đã lao xao tiếng người lẫn với tiếng mõ cá dọc theo con
đường từ chùa Vĩnh Hưng xuống xóm Trại Cá. "Vỡ đê rồi !". Có ai đó
gào lên như là tiếng nấc của bà già đang uống nước bị nghẹn. Liền
sau đó là những tiếng ào ào, lúc đầu còn có vẻ mơ hồ sau rõ dần, cuối cùng nổ
ùng ục như sấm rền. Chuỗi âm thanh chết người ấy chạy khắp đường làng rẽ vào tận
cùng ngõ xóm. Nó đến đâu là mang theo thứ nước đục ngầu, đỏ như máu, mát lạnh
phù sa. Nó là tín sứ của thuỷ thần đem thông điệp huỷ diệt đến với vùng Ba Tổng.
Trước khi vỡ, ở đoạn điếm Bài Vân, đê sông Lăng đã sạt vài chục
thước. Đoạn này vừa thấp vừa mỏng, khi nước lên đến lưng chừng con chạch, ngấm
qua tổ mối đùn vào phía trong hàng loạt mạch sủi thì đám dân phu đông đúc vùng
Ba Tổng dưới sự thúc ép của tri huyện Nam Thành Cáp Văn Tòng đành bó tay chịu
phép. Không đầy nửa giờ, bảy chục thước đê bị khối nước hung hãn màu gạch cua đẩy
bật về phía làng Cùa. Như con ngựa bất kham xổng chuồng, đạo quân của thần thuồng
luồng mặc sức tung hoành tấn công vào khắp các hang cùng ngõ hẻm của các làng hữu
ngạn sông Lăng. Những chuỗi sấm rền lục bục trên cao cùng với tiếng
nước réo ầm ầm từ cái miệng đê lúc này đã toác ra hàng trăm thước thành một bản
hợp tấu khổng lồ, rùng rợn chẳng khác gì cơn Đại hồng thuỷ thời tiền sử. Mây
đen vẫn vũ trên bầu trời ướt sũng làm đêm xuống rất nhanh tuy lúc ấy mới đầu giờ
Dậu. Từ phía nhà Khúc Kiệt có ai đó gào thảm thiết kèm theo là tiếng chuyển động
răng rắc giống như tiếng vặn mình của một con trăn khổng lồ sau khi đã nuốt chửng
chú dê non. Như vậy là nhà Khúc Kiệt đổ. Tiếng kêu the thé ấy có thể là giọng
hoảng hốt của Khúc Thị Nhân. Con bé này xinh đẹp nhất làng nhưng vì có nốt ruồi
dưới mắt trái nên khó lấy chồng. Từ lâu Khúc Kiệt đã biệt tăm. Nó tuy là em gái
nhưng phải thay hai ông anh lười như hủi quán xuyến công việc gia đình, chăm
sóc bà mẹ ốm yếu. Giờ nhà đổ không còn chỗ chui ra chui vào, nó khóc là phải.
Lũ lên rất nhanh, chưa đầy hai canh giờ, làng Cùa đã chìm trong biển nước. Đàn
bà, trẻ con bị thuỷ thần tống ra khỏi cửa cùng với các loại đồ vật nổi lềnh phềnh.
Mấy đứa con vợ chồng Thường Rỗ bám được vào mái nhà. Thằng anh vòng hai tay ôm
cột trụ ngồi lên thanh quá giang, còn thằng em bị gióng kèo gẫy đập vào bả vai,
đau quá, phải thả tay ra, thế là rơi xuống nước. Thằng anh tuột khỏi quá giang
quờ quạng tìm, nhưng vào đúng lúc ấy một trận gió quái ác lật nghiêng cái chóp
còn lại của căn nhà bẹp. Nó bị hất xuống một đống bùng nhùng rào gai lẫn với
rong rêu rồi mắc cứng ở đó. Thường Rỗ gào đến khản cổ mà chẳng thấy tăm tích
hai thằng con. Hắn lặn xuống ba thước nước hy vọng tìm được một trong hai đứa
nhưng cô vợ béo phục phịch lại sắp chìm nghỉm vì không biết bơi, đành phải dìu
ra ngọn cây xoan dùng thừng buộc tạm vào chạc ba.
Đau nhất là nhà phó hội Đang. Nhà ông này kín cổng cao tường,
cho là nước chỉ lên không quá một thước như trận vỡ đê năm Sửu
(1925) nên vẫn bình chân như vại sai các con kê kích thóc lúa. Ai ngờ lũ về
nhanh quá , ngập sâu hơn ba thước, chân móng ruỗng ra, kéo đổ nhà. Mái ngói âm
dương ngấm nước, nặng chịch úp xuống đè chết cả bốn mẹ con, chỉ còn mình ông chồng
lúc ấy đang ở ngoài sân định đi tìm thuyền.
Nhà chánh Đàm bấy giờ là nơi tị nạn của bất cứ ai trong làng
nếu tìm cách vào được. Đây là ngôi nhà hai tầng được họ Khúc xây dựng kết hợp cả
hai phong cách kiến trúc bản địa và kiến trúc biệt thự của Pháp thế kỷ mười
chín, có diện tích sử dụng khá rộng. Tầng dưới năm gian, hai đầu hai buồng và
gian giữa thông với nhau như các căn hộ truyền thống. Tầng trên cũng năm gian
nhưng được bố trí thành những phòng riêng biệt. Hai gian đầu là nơi làm việc và
nghỉ ngơi của chánh Đàm khi lão ta còn sống. Trước khi làm nhà, có lẽ họ Khúc
đã dự tính đến khả năng vỡ đê nên lão cho xây nền móng rất cao. Chính vì vậy,
các nhà trong làng ngập đến mái tranh riêng dinh cơ bà cả Huê chỉ đến lưng chừng
tầng dưới. Ba mẹ con bà chủ rút vào căn buồng ngay cạnh cầu thang tầng hai. Mấy
gian còn lại giành cho bà con hàng xóm. Không những thế bà ta còn mang gạo trợ
cấp cho những người ở nhờ. Sau vụ Lê Văn Vận ngộ sát chánh Đàm, bà cả Huê xấu hổ
với làng Cùa, mỗi khi có việc ra đường phải quấn khăn đội nón che mặt. Giờ nhân
dịp trời giáng hoạ bà phải tranh thủ làm phúc để lấy lại phần nào vị thế của
mình. Đêm hôm ấy căn gác nhà Chánh Đàm chật cứng người.
Gần sáng lại một trận mưa như trút nước. Những lằn chớp loang
loáng chạy ngang dọc khắp bầu trời rạch bóng đêm thành từng vệt xanh lét kèm
theo cơ man nào là tiếng nổ đinh tai nhức óc tưởng như làng Cùa sắp đến ngày tận
thế. Nước rào rào trên mái ngói, chảy xối xả chẳng khác gì đứng trên cao dốc cả
thùng xuống. Mọi người còn đang hoảng hồn bởi hàng chuỗi những âm thanh kinh
thiên động địa còn dữ dằn hơn cả tiếng gầm đại bác một trăm lẻ năm ly thì có tiếng
ộp oạp dưới sân. Trong ánh chớp rõ như ban ngày, một người đàn ông
ôm một phụ nữ quần áo ướt sũng, tóc rối bù đang quằn quại như là sắp
chết đến nơi. Bà phó lý Dần vội chạy xuống cầu thang dắt người đàn bà lên. Ông
chồng mặt tái mét, trên người đánh mỗi chiếc quần cộc bạc phếch thủng lỗ, chỗ
giọng mếu máo:
- Các ông các bà ơi, cứu nhà cháu với. Nó sắp đẻ …
Thì ra là vợ trương Thấn. Trương Thấn quanh năm quăng chài
ngòi Mác, bắt ếch thành thần. Hắn nghèo rớt mồng tơi, mãi ba mươi tuổi mới lấy
được cô Tăng con ông Biểu Ngạch. Cô này trước đã có một đời chồng nhưng anh ta
chết sớm vì bị rắn độc cắn trong một lần đi thả rọ cá trê. Cô Tăng đau bụng dữ
dội mà đứa bé vẫn chưa chịu ra, anh chồng phải chặt cây chuối dìu vợ đến nhà bà
Chánh. Trong số mấy chục người vừa đàn ông vừa đàn bà không ai biết đỡ đẻ. Bà cả
Huê đem bộ quần áo sạch cho cô ta rồi bảo nhà Thao con ông vệ Toàn đi đun nước.
Cũng may sản phụ mới vỡ ối, cái thai lại thuận chiều nên chỉ già một khắc thằng
bé đã lọt lòng mẹ. Bà Phó lý tìm mãi mới được chiếc liềm cắt rốn. Liềm cùn phải
cưa đi cưa lại mấy lần mới đứt.
Toàn bộ làng Cùa ngập trong biển nước. Đây đó những hàng tre,
những bụi chuối và đám ổi phất phơ dưới làn nước đục ngầu lẫn vô số rác rưởi,
giường phản bàn thờ, thúng mủng nổi lềnh phềnh cùng với xác gà chó bắt đầu nặng
mùi.
Đến trưa ngày thứ ba thì những kẻ còn sống sót ở làng Cùa thực
sự rơi vào một thảm hoạ. Ngay giữa ao đình, một đàn trâu chừng năm sáu con của
nhà Phó lý Dần chết từ hai hôm trước giờ trương phềnh chẳng khác gì những con
voi cụt vòi bị sóng đẩy giạt vào bờ. Những cặp mắt trắng dã mở thao láo, bất động.
Đám lông hung hung đỏ ở trán con trâu đực sứt mũi đã bắt đầu rụng từng mảng.
Ngay cạnh nhà Khúc Kiệt, nơi có khoảnh ao rộng vẫn thả bèo cái, phập phều mấy
xác lợn. Bụng chúng phình ra như là ăn cám quá no làm cho chiều dài ngắn đi
trông giống hệt những chú lợn béo mũm mĩm để trong kiệu được cánh tuần đinh
khiêng ra đình tế thần. Chỉ có điều lợn hiến tế thì thơm phức vô cùng hấp dẫn
còn loại chết trôi này đang bốc mùi lợm giọng. Kinh nhất là quản Thông chết
trong hòm thóc. Cái hòm gian của lão chứa ngót bảy chục thúng . Lúc nước về, quản
Thông bắt vợ ngồi lên xà nhà. Lão xúc từng thúng leo lên đưa cho bà ta đổ vào tấm
phản quây lá cót. Được độ bảy tám thúng quản Thông bị trượt chân, đổ thang rơi
trúng miệng hòm. Lão đang quờ quạng tìm lối ra thì cùng lúc nước phá sập bức tường.
Chiếc hòm khổng lồ ngập sâu dưới nước, phải ba bốn ngày sau hàng xóm mới đưa được
lão ra cùng với đám thóc lúa đã nảy mầm như là mống mạ sắp sửa
đem gieo. Người Quản Thông thối hoắc, trương lên như con bò mộng
không nhét vừa bất cứ thứ quan tài nào. Cánh tuần đinh phải tháo cả khuôn cửa bức
bàn thửa cho lão một cái hộp tạm thời rồi đặt lên bè chuối đẩy ra đống Ba Quai
chôn.
Khi nước rút, các gia đình có người mất tích bắt đầu tìm kiếm
xác nạn nhân. Khắp vùng Ba tổng đâu đâu cũng nhuốm màu tang tóc. Thằng Đạt con
ông nhiêu Soạn lên chín tuổi mải bắt cào cào để trâu xuống tận đồng Quan. Tìm
được trâu thì đã tối mịt, nó đội mưa dò dẫm về được đến cổng Mả Gạch thì bị nước
lũ cuốn cả người lẫn trâu ra tận đầm Ma. Ông Soạn tìm hai ngày không thấy. Mấy
hôm sau có người phát hiện giữa đám bèo tây cách bờ đầm vài thước có một xác chết
mới nổi lên. Người nhà khó mà nhận ra thằng bé nếu ở cổ nó không còn chiếc vòng
bạc với mấy quả nhạc chạm hình hoa cúc. Chiếc vòng thít lấy cái cổ chật cứng.
Khuôn mặt thằng Đạt biến dạng đến mức quái dị. Từ trong hốc mũi, một con đỉa to
bằng ngón tay cái dài loằng ngoằng thò ra rồi lại thụt vào. Hai vành tai nhợt
nhạt bị lũ cá mương gặm nham nhở, còn cái miệng há hốc rộng đến khủng khiếp,
phơi ra hàm răng đen xỉn nhớp nháp phù sa lẫn với rong rêu. Một con cua bằng
ngón tay đang dùng càng gặm dần từng tí một thứ thịt đã mủn bốc mùi hôi thối
không thể chịu nổi ở các kẽ răng.
Khúc Luận ngồi trên ban công tầng hai thả dây câu xuống sân.
Cái lưỡi câu to sụ của nó mắc một con châu chấu đã vặt cánh. Nước vẫn còn cao
hơn mặt sân lát gạch Bát Tràng của nhà họ Khúc già một thước. Mấy chiếc thuyền
mủng buộc cạnh cửa chính. Đầu hồi còn chiếc bè đóng bằng cây chuối hột của nhà
cả Thuần. Ông Thuần đi tìm vợ đã ba ngày nay mà không thấy, đói quá, chống bè
vào sân nhờ bà Chánh bữa cơm. Lúc bà cả Huê bưng mâm ra, chẳng biết nghĩ ngợi
thế nào ông ta ôm mặt khóc hu hu làm những người ở nhờ cũng sụt sịt lau nước mắt.
Chốc chốc thằng Luận lại giật được một con lúc thì cá giếc
lúc thì cá rô, toàn loại cỡ bàn tay, con nào cũng béo múp. Thằng Tuyền còi con
nhà Kim Sẹo cởi truồng chống mủng ra gò Kim Kê đào giun. Chưa đầy nửa giờ nó đã
bắt được một gáo dừa. Thằng Luận có vẻ không sát cá bằng thằng Tuyền nhưng toàn
nhấc được cá to. Chiều hôm ấy, nó giật được chú chép vàng óng, nặng đến gần một
ký, kéo trĩu cần. Bị lôi lên khỏi mặt nước mà mắt nó vẫn đảo loang loáng, vành
môi trề ra, còn cặp râu đỏ cong vút khẽ rung rung như là vẫn đang trong giấc mộng
êm ái sắp sửa vượt vũ môn hoá rồng.
- Đúng là cá chép sông Lăng - Ông cả Thuần ngắm nghía con cá
một thoáng rồi bảo - Có khi nó là con vua Thuỷ Tề, ham chơi quá rồi bị bắt.
Theo tôi thì nên thả nó ra. Biết đâu, sau này …
- Thả là thả thế nào. Loại chép này rán giòn nhắm rượu ngon
phải biết.
- Mày nói chứ như thành phán ấy - Bà Huê bảo.
- Cháu nói thật đấy. Chốc nữa bà Chánh đem luộc một nửa nấu
cháo còn đâu thì rán.
Bà phó lý có màu đồng bóng, trong nhà lập điện thờ, nghe thằng
Tuyền còi nói vậy liền bảo:
- Ăn cá lúc này tức là ăn … thịt người chết đấy.
Bà cả Huê nhăn mặt:
- Phỉ phui cái nhà thím này, chỉ nói nhảm.
- Chứ lại không à ? Tôi mà nói sai thì xin đi bằng đầu. Này
nhé, vỡ đê nước ngập, người chết, trâu bò lợn gà chết, chôn làm sao kịp. Mà cái
giống cá nó bơi khắp nơi, chỗ nào có thức ăn là tìm đến tranh nhau rỉa. Đấy là
chưa kể trong làng còn hàng trăm chuồng xí ngập nước nữa … Có vậy nó mới béo
múp thế kia. Mọi người thử nghĩ xem tôi nói có đúng không ?
- ờ nhỉ ! - Có ai đó quay ra ban công khạc nhổ.
Bà cả Huê cầm con cá chép bằng cả hai tay lẳng xuống sân.
- Thôi phóng sinh cho mày.
- Kìa mẹ ! - Khúc Luận tiếc đứt ruột vội kêu lên.
- Từ nay ăn cơm với muối rang - Bà bảo con trai - Không câu nữa.
3
Sau trận lũ mười một ngày, nước rút mới thấy quan phủ Đông
Giàng cưỡi ngựa về vùng Ba Tổng. Không phải ông ta quan liêu mà cái chính là nước
lũ phá hỏng nhiều đoạn đường, ô tô không đi được. Chả lẽ các bậc " dân
chi phụ mẫu" lại lội bộ hàng mấy chục cây số từ phủ đường về làng Cùa chỉ
để an ủi những xác chết.
Đã nhận được công văn từ trước, cánh chức dịch lếch thếch kéo
ra đình bàn nhau xin miễn thuế. Ngôi đình làng, thường gọi là đình Cả, to và đẹp
vào bậc nhất hàng tổng, giờ tan hoang , xơ xác đến thảm hại. Bùn đất, rác rưởi
phủ dày hàng tấc trên sàn gỗ lim. Một con chó trụi sạch lông, cái miệng ngoác
ra toàn răng là răng, chẳng biết của nhà ai, chễm chệ "ngự" trên long
án thành hoàng trong hậu cung, thỉnh thoảng lại rên ư ử vì đói. Tám bộ cánh cửa
bức bàn bị gẫy, đổ liểng xiểng , trôi giạt khắp ao. Một bộ gọng vó bè với chiếc
lều đã tước hết rơm rạ mắc cứng vào cây mẫu đơn ngay trước sân đình. Cái đầu
con voi đá bên tả vu vỡ một miếng khá lớn, trông như vừa bị chém.
Các hào mục đón quan bằng đủ thứ y phục vớ được sau trận thuỷ
tai. Phó tổng Lê Bang khăn xếp, áo the thâm nhưng chỉ còn một vạt, vạt kia cụt
đến thắt lưng. Mấy hôm trước, ông ta ngã trên sàn để thóc xuống, bị
sai khớp, giờ, mỗi khi ra ngoài vẫn phải chống gậy. Chánh tổng Cao Lộng đánh
chiếc quần soóc nhà binh bằng kaki vàng nhưng lại kiếm được chiếc áo the mới
trùm lên. Lão ta đứng yên còn tạm được, nhưng nếu bước đi là cặp giò dài ngoẵng
đen nhẻm với đôi đầu gối củ lạc lòi ra chẳng khác gì Táo Quân sắp lên chầu
Thiên Đình. Hài hước hơn cả là lý trưởng Ngô Quỳnh. Đầu ông ta quấn khăn xếp to
tổ bố như chiếc đai thùng gỗ đựng chượp, quần cháo lòng ống thấp ống cao, khoác
chiếc pađờ xuy bằng dạ đen nhà binh mà hàng khuy đồng đã tuột gần hết. ống tay
và nhất là hai vạt bị gián nhấm thủng lỗ chỗ. Sở sĩ lý Quỳnh ăn mặc kỳ quái như
thế là bởi hòm khoá chuông quần áo nhà ông ta bị nước cuốn cùng với toàn bộ gia
sản ngay sau khi vỡ đê. Bà vợ và hai cô con gái còn thảm hại hơn, mất sạch váy
áo nên mấy hôm nay không dám ra ngoài. Nhìn đám thuộc hạ ăn mặc nhếch nhác, lố
lăng như một lũ hành khất, tri phủ Đỗ Khánh lắc đầu thở dài:
- Bản chức đã sức cho tri huyện Nam Thành bảo các thày hằng
năm phải đốc thúc dân phu tu bổ các đoạn đê xung yếu nhất là chỗ điếm Bài Vân,
thế mà chỉ kéo bè kéo cánh kiện cáo nhau rồi lại ngả vạ đánh chén để tai họa xảy
ra khổ cho dân, chuyện này biết ăn nói thế nào với quan Tuần.
Phó tổng Lê Bang khẽ kéo vạt áo cho kín bụng, khom người khẽ
nói:
- Bẩm quan, sức nước năm nay còn lớn hơn cả năm ất Sửu. Trận
lũ này thực ra là tại trời, sức người không chống lại được, cúi mong quan lượng
tình xét miễn thuế cho vùng Ba Tổng.
Lý Quỳnh nóng quá, cứ ngọ nguậy trong chiếc áo dạ Tây, đưa mắt
cho chánh tổng Cao Lộng rồi hắng giọng:
- Vùng Ba Tổng thì làng Cùa thiệt hại nặng nhất. Số người chết
là bốn mươi bẩy. Toàn bộ lương thực, hoa màu mất sạch. Chúng con lo rồi đây còn
nhiều người chết đói nữa.
Những tiếng cuối cùng của Lý Quỳnh nghèn nghẹn như là ông ta
sắp khóc. Viên tri phủ, dù đã nắm được tình hình thiệt hại sau trận lũ, nét mặt
vẫn thản nhiên chẳng có vẻ gì là xúc động. Trước khi lên ngựa cùng đám tuỳ tùng
về gặp quan huyện Nam Thành Cáp Văn Tòng, ông ta chỉ nói lấp lửng mấy câu:
- Việc này bản phủ sẽ làm công văn trình lên tỉnh đường để
quan Tuần xin chỉ thị của người Nhật. Hiện nay quân đội Thiên Hoàng đang đánh
nhau với phe đồng minh, rất cần chiến phí nên chưa biết thế nào mà nói trước.
Quả nhiên, mười ngày sau quan huyện Nam Thành có trát sức cho
dân vùng Ba Tổng vẫn phải đóng thuế đinh, điền theo hạng ngạch như cũ. Làng Cùa
xa tỉnh xa huyện, từ sau vụ lụt đến giờ chẳng biết thiên hạ sự diễn biến ra
sao. Bị rơi vào thế cùng quẫn, đằng nào cũng chết, họ bàn nhau kéo lên phủ Đông
Giàng gặp nhà chức trách. Cùng lúc ấy Khúc Kiệt về làng. Ông ta về ban đêm mang
theo cả một đội quân mặc toàn quần áo đen, súng ống lỉnh kỉnh giống như một
toán thổ phỉ. Thủ hạ của Khúc Kiệt giúp ông ta dựng lại ngôi nhà. Họ đông người,
làm rất nhanh, sau đó chia thành từng nhóm, đi khắp làng thu dọn rác rưởi, chôn
xác súc vật chết, tìm kiếm người mất tích ở đầm Ma hoặc dọc theo các bãi chuối ở
triền sông Lăng. Số khác làm một cuộc tổng vệ sinh, cọ rửa đình Cả, lắp lại cánh
cửa. Đình Cả là ngôi đình lớn nhất tổng Kim Đôi. Cột lim bằng vòng tay ôm, sàn
gỗ gụ dày bốn phân, nhẵn bóng, ghép khít đến mức gần như không nhìn thấy mối nối.
Khúc Kiệt lôi ở đâu về chiếc trống đại to hơn cả cái ang đựng
thóc, mặt bưng bằng da con trâu đực thiến, đặt trên giá gỗ ngay cửa đình. Sáng
sớm ngày mười chín, mọi người chưa kịp thức dậy đã nghe thấy tiếng rùng rùng
như sấm động đúng ba hồi chín tiếng. Cả làng hôm ấy nghỉ việc kéo nhau ra đình.
Lý trưởng Ngô Quỳnh tức lắm, sai tuần đinh bắt Khúc Kiệt nhưng rốt
cuộc chính ông ta lại bị cánh quân áo đen trói gô giam vào hậu cung.
Lê Bang đang khám thuế ở Bối Khê nghe tiếng trống lạ tai tưởng là có cướp vội hấp
tấp lên ngựa phi nước kiệu về Cùa. Ông ta vừa đến đầu làng đã bị trói giật cánh
khuỷu dẫn vào đình giao cho mấy tay súng canh giữ. Phó lý Dần thấy làng có biến
liền ăn mặc giả làm người đánh chài, luồn ra đồng Mả Gạch định lên huyện báo
quan. Lão vừa thò đầu ra khỏi bụi tre nhà cả Phê thì một người áo đen lưng thắt
đai da đeo hai quả lựu đạn to bằng cái chày giã cua đang đứng đái ở góc vườn
nhìn thấy. Hắn ta nâng khẩu Mútxcơ tông lên vai quát:
- Ông kia, đi đâu ?
Phó lý Dần đã vượt ra khỏi hàng rào, nhớn nhác nhìn quanh, chỉ
thấy có một người lên co cẳng chạy.
- Đứng lại ! - Người mặc áo đen kéo khoá nòng rê nhanh mũi
súng về phía ông phó lý.
Ông ta có vẻ hiếu kỳ, vừa nhảy lò cò như là con khỉ bị sập cạm
gẫy chân, vừa ngoái lại nhìn khẩu súng dài ngoẵng trên vai người áo
đen. Tay thủ hạ của Khúc Kiệt chơi trò mèo vờn chuột chỉ muốn doạ cho
viên phó lý sợ một mẻ vãi đái ra quần rồi ngoan ngoãn quay trở lại. Ai ngờ ông
ta chạy mỗi lúc một xa, sắp sửa ra khỏi tầm đạn: "Lão mà thoát thì đoàn
trưởng Khúc xử tử mình mất". Hắn chợt hoảng lên và vội vã kéo cò. Một tiếng
nổ chói tai như tiếng pháo đùng. Đằng kia, phó lý Dần khựng lại, hai tay ông ta
chới với đưa ra phía trước, loạng choạng một lúc khá lâu mới ngã xuống khoảnh
ruộng vẫn còn ngập nước sau trận lũ. Ngoài đình, Khúc Kiệt đã tập trung được hầu
hết dân làng Cùa cả đàn ông lẫn đàn bà. Mọi người còn đang ngơ ngác chưa biết
chuyện gì xảy ra thì ông ta bước lên chiếc bục cao kê bằng hai chiếc án thư của
nhà chưởng bạ Giang bắt đầu hiểu dụ. Khúc Kiệt lúc này trông oai phong như một
viên thủ lĩnh quân sự trước đám dân chúng dốt nát trong bộ y phục đen tuyền. Khẩu
súng lục nòng dài thò cả ra ngoài cái hộp to đùng bằng gỗ sơn đen, kéo trễ chiếc
đai da xuống ngang hông làm bụng ông ta thót lại như con chão chuộc. Bẩy tám năm
đi khỏi làng, Khúc Kiệt đã dày dạn phong sương, không còn dấu vết nhăn nhúm,
thiểu não của ông đồ gàn ngày trước. Mỗi tác phong của họ Khúc đều mạch lạc, dứt
khoát, từ cử chỉ chém tay đưa mắt đến hất hàm ra lệnh đều chứng tỏ thứ uy lực tối
thượng mà những kẻ dưới quyền phải nhất nhất chấp hành. ở nhà, vợ Khúc Kiệt và
nhất là mấy đứa con không thể tin được chồng mình, bố mình thay đổi nhanh đến
thế. Họ đều biết đấy là ông ta nhưng đồng thời lại không phải là ông ta, bởi một
gã "bạch diện thư sinh" ngày xưa chỉ biết nhẫn nhục phó
thác số phận cho thần may rủi, ép bụng nhịn đói đọc sách thánh hiền, bỗng chốc
đứng sừng sững trước bàn dân thiên hạ tuyên ngôn bằng những lời hết sức táo bạo:
- Thưa bà con, từ khi phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương,
chúng câu kết với thực dân Pháp, đàn áp, bóc lột nhân dân ta vô cùng tàn bạo.
Chắc mọi người còn nhớ chuyện hai tên giặc Lùn xả kiếm chém ông phó Đắc vì
trong nhà có khẩu súng "dóp" hồi cuối tháng trước. Gần đây
nhất là việc cô Thời con ông hương Ngạch bị hiếp ở chợ Cháy giữa ban ngày. Tội
ác của chúng thật trời không dung, đất không tha. Chính vì vậy, Mặt trận Việt
Minh khẩn thiết kêu gọi toàn thể đồng bào vùng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, giải
phóng dân tộc, xây dựng nhà nước độc lập tự do, thực hiện chính sách người cày
có ruộng, tiến tới chủ nghĩa Cộng sản làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.
Trước mắt, chúng ta phải đoàn kết chống lại chủ trương thu mua thóc tạ và nhổ
lúa trồng đay của Nhật. Ai cũng biết, vùng Ba Tổng vừa bị trận vỡ đê khủng khiếp.
Chỉ qua một đêm mất sạch nhà cửa, tài sản, hoa màu, chết gần trăm mạng người.
Giờ đây nhiều nhà đã bỏ làng kéo đi bốn phương khất thực. Các quan lại cai trị
chẳng những không cứu đói cho dân mà còn về hùa với giặc đè cổ dân nghèo ra
tróc thuế. Tôi xin hỏi, làng Cùa của chúng ta có nộp cho họ không ?
- Không nộp !
Hàng trăm cái miệng gào lên đồng loạt làm rung chuyển cả mái
đình. Những tiếng hô đầy phẫn uất dội vào hậu cung làm Lê Bang và Ngô Quỳnh sởn
gai ốc. Mấy ông này vốn rất ngu ngơ về chính trị, cứ nhận được trát quan trên
là "án khoa nhi hành" chẳng nghĩ gì đến nỗi cơ cực của dân đen, giờ
thời thế đã thay đổi, lão thầy đồ họ Khúc kéo quân về, tính mệnh cả bọn chắc là
nguy đến nơi rồi. Sân đình Cả lát gạch Bát Tràng rộng thênh thang, phía bên
trái có dãy nhà ngang hơn chục gian để cánh nhà bàn phục vụ những ngày vào đám.
Đội quân áo Đen của Khúc Kiệt đặt đại bản doanh tại đây mà chẳng cần vào hậu
cung “xin phép” lý trưởng Ngô Quỳnh. Lính của Khúc Kiệt toàn người thiên hạ,
phần lớn còn trẻ măng, có những gã chưa đến mười bảy, anh nào mặt cũng lạnh
tanh, sát khí đằng đằng. Cứ vài hôm lại thấy một toán chừng bảy tám người vượt
sông Lăng sang làng Bòng chuyển lương thực về. Kẻ Bòng lắm ruộng nhiều thóc gạo,
tha hồ mua. Sau này mới biết, từ ngày vùng Ba Tổng vỡ đê, lái Lự kiêm luôn cả
nghề buôn gạo. Những năm dạy học trước đây, Khúc Kiệt có đôi lần qua lại với
lão lái trâu, giờ ông ta trở thành nguồn cung cấp nhu yếu phẩm cho đội quân áo
Đen. Dạo ấy lúa cũng đã đỏ đuôi nhưng phải nửa tháng nữa mới được gặt. Lái Lự
phất lên trông thấy nhờ đầu cơ lương thực nhưng lão cũng biết tự bảo hiểm cho
tính mạng, phòng khi bàn cờ thế sự xoay vần, bằng cách bỏ ra bốn tấn chiêm
trăng chẩn cấp cho những nhà sắp chết đói vùng Ba Tổng.
Từ hôm phó lý Dần bị bắn chết, các vị chức sắc sợ xanh mắt
không anh nào dám ra khỏi cổng. Lê Bang, Ngô Quỳnh được thả về nhưng vẫn bị
Khúc Kiệt cử người giám sát. Một đêm lý Quỳnh lẻn sang nhà chánh Đàm gặp bà cả
Huê. Bà này đang căm Khúc Kiệt vì ông ta ra lệnh trưng thu toàn bộ số thóc còn
lại sau trận lụt chuyển ra đình. Việc làm này hẳn là có liên quan đến mối hiềm
khích giữa hai anh em họ Khúc hồi lão Chánh còn đương chức. Bà Huê chẳng nể
nang gì, luôn miệng chửi Khúc Kiệt là quân thổ phỉ. Chiều nào bà ta cũng chõ mồm
sang nhà em chồng cạnh khoé. Khúc Kiệt thường xuyên vắng mặt vì còn phải cai quản
đám tay chân ngoài đình. Vợ lão vốn hiền lành, nghe bà Cả chửi ngoa ngoắt mãi
không chịu được bảo Khúc Vĩ:
- Mày mang cái đũa quấy cám lợn sang quật vào mồm
mụ ấy ra cho tao.
Cô con gái ,là Khúc Thị Nhân, lúc ấy đã mười bẩy vội can:
- Đừng. Bác ấy xót của không biết kêu ai, chửi bới cũng là lẽ
thường. Có trách là trách bố ấy. Làng Cùa còn ối nhà giàu nứt đố đổ vách sao
không bắt nộp hết thóc mà lại trưng thu của bác Cả.
Khúc Vĩ lẩm bẩm:
- Chuyến này có khi bố làm chánh tổng.
Khúc Văn cười nhạt mắng em:
- Thời buổi nhiễu nhương trắng đen lẫn lộn, biết thế nào mà
mày nói càn.
Cuối cùng thì lý Quỳnh cũng tìm cách báo được cho quan huyện
Nam Thành. Tri huyện Nam Thành đã biết tiếng đội quân áo đen vội trình lên phủ
Đông Giàng. Viên tri phủ lập tức cử ngay một cơ lính nai nịt như sắp sửa đi trận
hành quân về làng Cùa. Đường từ phủ lỵ về làng Cùa xấp xỉ ba chục cây số. Tốp
lính Triều đình chân đất, nón chóp đỏ, vác súng mút vừa đi vừa chạy gằn dưới trời
nắng gắt, anh nào anh ấy vã mồ hôi hột. Viên đội khố xanh, mặt bèn bẹt có cặp
tai vểnh lên như tai chuột, kè kè bên sườn bình rượu bằng nhôm hình quả lê chốc
chốc lại mở nắp tu một ngụm. Mặt hắn đỏ gay, mái tóc rễ tre cờm cợp chờm xuống
tận gáy trông chẳng khác gì một tay lận rừng đã lâu mới có dịp hạ sơn. Chạy
phía sau viên đội là một phó lãnh binh người xứ Nghệ. ông ta theo nghề cung kiếm
dễ đến ba chục năm, sức khoẻ đã giảm sút nên tham gia vận động dã chiến kiểu này
xem ra không mấy thích hợp. Vai khoác súng, nòng hướng lên trời, lưng đeo bạc
đà, quân dụng nặng trĩu, ngài chỉ huy vừa chạy vừa thở hắt ra như sắp hết hơi.
Vừa may gặp một cái quán bỏ không cạnh đống Lủi, ông ta hạ lệnh cho lính tạm
nghỉ. Nhìn thấy hai bên đường là khu đồng màu của làng Bảo Nham trồng toàn dưa
chuột, các thầy quyền chẳng ai bảo ai, nhất loạt lao xuống ruộng, vặt đầy nón
ngồi nhai rau ráu.
Khoảng cuối giờ thân, đám quan quân phủ Đông Giàng về đến địa
giới làng Cùa. Họ nhanh chóng tản ra theo đội hình chiến đấu rồi bắc loa kêu đối
phương ra đầu hàng. Trong này Lê Bang, Ngô Quỳnh trèo lên tầng hai nhà bà cả
Huê chuẩn bị trợ chiến theo phương thức "nội công ngoại kích". Đội
quân áo Đen, sau một thời gian ở làng Cùa đã nắm chắc địa hình địa vật. Họ lại
được phần lớn dân nghèo ủng hộ nên không hề tỏ ra mất bình tĩnh. Mấy tay thám
sát vòng ngoài cho biết, bọn lính chỉ có khoảng ba bốn chục tên. Việc làm đầu
tiên là giám sát nhà bà cả Huê không cho Lê Bang và Ngô Quỳnh thoát ra ngoài.
Sau đó họ cử các tay súng có kinh nghiệm chiến đấu trấn giữ hai cổng làng và những
nơi hiểm yếu đề phòng địch đột nhập bất ngờ. Đêm xuống rất nhanh. Sương giăng
giăng như khói che mờ ánh trăng hạ tuần hắt xuống sân đình thứ màu bềnh bệch nhạt
nhẽo. Từ phía đầm Ma có con cuốc lẻ đàn nào đó kêu một cách nhẫn nại thứ âm
thanh đều đều khắc khoải làm đêm vùng chiêm càng hoang dã, bí hiểm. Lũ chim nước,
sau cơn Hồng thuỷ, chẳng biết ở đâu kéo về hàng đàn hàng lũ, suốt đêm lần mò ở
khu ruộng trũng. Bóng của chúng lúc tụ lại như một đám mây xám, lúc lại toẽ ra
thành vô số đốm trắng nhợt, bay là là trên mặt đầm, vỗ cánh phành phạch gọi
nhau bằng đủ thứ ngôn ngữ như đang chuẩn bị cho "Dạ Hội Cò Vạc". Trên
cây me nhà Thường Rỗ, một con cú rúc lên mấy tiếng nghe rợn người. Con cú có những
chiếc lông trắng ở đầu cánh này trước vẫn trú ngụ ở cây gạo gần nhà phó lý Dần.
Từ khi ông ta chết, chẳng hiểu sao nó lại chuyển về đây. Nghe tiếng cú, Thường
Rỗ sợ quá mở cửa ra sân nhặt một hòn gạch ném lên cành cây. Hắn yên trí vào nhà
chắc mẩm con chim đã bay đi nơi khác. Chẳng ngờ tay bắt ếch vừa thiu thiu con
quái điểu ấy lại rúc mấy tiếng làm hắn giật bắn như vừa bị bóng đè.
Cuộc chạm súng bắt đầu vào sáng hôm sau khi một đội viên áo
Đen của Khúc Kiệt bị bắn vào chân. Anh ta là một trong ba người gác cổng chính.
Tên phó Lãnh binh sau mấy lần gọi loa, không thấy trong làng động tĩnh gì liền
dàn quân theo hàng chữ nhất. Trước khi vào cuộc, hắn ra lệnh cho bọn thuộc hạ bắn
một loạt thị uy. Các đội viên áo Đen lặng lẽ chờ cho đám lính đến đúng cự ly mới
bình tĩnh kéo cò. Họ vốn là những tay thiện chiến đã từng chạm chán đủ loại khố
xanh, khố đỏ thậm chí cả trùm cướp Lý Ba Mùi ở vùng Hạ Diễn nên không dễ gì khuất
phục. Sau loạt đạn đầu tiên, bốn gã tốt đen đã về chầu ông vải. Ba tên khác bị
thương nặng. Một thằng đạn sượt vào yết hầu. Viên đội phải cởi chiếc bao vàng
giống như ruột tượng quấn quanh cổ hắn đến ba vòng mà máu vẫn phun ra như xối.
Phía cổng hậu, Khúc Kiệt cho năm tay súng phục ở cửa nhà quản Thông. Bọn lính
quét một loạt đạn trước khi nhảy vào chiếm hai cánh gà làm cứ điểm để phát triển
vào làng. Mấy tên vừa lom khom ôm súng nhớn nhác nhìn quanh thì một loạt tiếng
nổ hất chúng ngã xuống bờ ao. Một thằng lồm cồm bò dậy, xoay mũi súng định nháy
cò lập tức bị cú song phi trời giáng vào bụng, ngã sóng soài. Những tên còn lại
sợ quá, quẳng súng xin hàng. Khúc Kiệt cho điệu chúng về đình Cả. Ông ta hỏi
tên lính mặt già cấc có nốt ruồi bằng ngón tay út đậu ngay cạnh lỗ mũi bên phải
:
- Tại sao lão tri phủ Đông Giàng biết chúng tao về làng Cùa ?
- Bẩm quan, cái đó tôi không được biết.
- Thế thì ai biết ? Nói mau !
- Bẩm, ông phó Lãnh binh đang còn ở ngoài làng.
- Còn những ai biết nữa ? - Khúc Kiệt nhìn hết lượt mấy tên bị
bắt rồi quát - Muốn ăn đạn phải không ?
Tên lính già sợ chết chỉ liều vào cai Huyến đang ôm sườn nhăn
nhó vì ngón đòn hiểm của một đội viên áo Đen:
- Có lẽ ông Cai biết.
Một đội viên lôi xềnh xệch cai Huyến đến trước mặt Khúc Kiệt.
Tên này còn nhát gan hơn cả thuộc hạ của mình, chưa đợi tra hỏi đã
khai vanh vách:
- Bẩm quan lớn, sở dĩ quan phủ biết được là vì ông lý Quỳnh
cho người lên huyện Nam Thành mật báo có một toán thổ phỉ về xúi dân làng Cùa nổi
loạn.
- Được lắm !- Khúc Kiệt cười nhạt - Các anh giam bọn này vào
hậu cung chờ tóm hết lũ sâu mọt ngoài kia rồi ta sẽ hỏi tội chúng.
Kết thúc đợt tấn công thứ ba, đạo quân của Triều đình gần như
đã mất hết nhuệ khí. Tay phó Lãnh binh bị một viên đạn xuyên vào mông
và bốn chiến binh què cẳng. Lũ này bò lê lết lên sườn đống Mả Hủi để cho đồng bọn
băng bó. Một thằng máu ra nhiều quá, mặt xanh như chàm đổ, miệng rên hừ hừ, thỉnh
thoảng lại giật nảy lên như người mắc chứng kinh phong cấp.
Lần đầu tiên trong đời dân làng Cùa chứng kiến cảnh chạm súng
giữa hai đội quân. Lúc đầu những kẻ hiếu kỳ còn chạy ra xem, sau thấy đạn bay
chiu chíu, rồi người bị thương máu thảy nhoe nhoét thì hốt quá, vợ chồng con
cái lôi nhau vào nhà, đóng cửa lại. Đến trưa hôm sau tình hình trở nên đặc biệt
nguy hiểm , vì những viên đạn bắn vô tội vạ của lũ quan binh đã giết chết gã thợ
rèn méo mồm và làm thằng Quyết thọt , đang kéo bễ bị vỡ quai hàm. Họ rủ nhau đến
nhà chánh Đàm. ở đây có tường gạch chắn chắn, đạn súng mút khó có thể xuyên thủng
được. Những nhà khác đào hầm ngay dưới gầm giường, nghe tiếng sung là bảo nhau
chui xuống.
Viên suất đội căn cứ vào tấm sơ đồ lý Quỳnh vẽ tìm cách lọt
được vào làng bằng lối cổng hậu. Hắn bị một viên áo Đen phát hiện nhưng bắn trượt.
Tên này chạy vòng vo một lúc thì bị lạc đường. Đáng lẽ rẽ tay trái vào nhà bà cả
Huê để gặp lý trưởng thì hắn lại quặt phải đến ngay cổng nhà Khúc Kiệt, bị Khúc
Văn tống cho một gậy từ phía sau, chỉ nghe đến "hự" một tiếng
rồi ngã chúi về phía trước. Khúc Vĩ cướp ngay khẩu súng nòng dài, bẻ quặt hai
tay để Khúc Văn trói lại giải ra đình. Ngay lập tức, Khúc Kiệt cho người vào
nhà chánh Đàm lôi lý Quỳnh ta hỏi tội. Lý trưởng không phải tay vừa, chối phắt
việc cử Trương Hoà lên huyện báo quan. Chỉ đến khi Khúc Kiệt cho giải viên suất
đội từ hậu cung ra đối chất lão mới cúi đầu nhận tội.
Đội quân áo Đen thiết lập pháp trường trên một gò đất nổi giữa
ao đình. Lý Quỳnh mắt bịt băng đen bị trói vào cây tre đực chôn cao quá đầu.
Lão sợ quá, bĩnh cả ra quần làm mấy người lính áo đen phải bịt mũi.
Vào lúc năm tay súng đã lên đạn sắp sửa hành quyết thì từ sau đình, một người
con gái tóc tai rũ rượi chạy đến bờ ao. Cô ta chẳng thèm vén váy, nhảy ào xuống
nước và chỉ một thoáng đã leo lên gò đất đứng chắn trước mặt Ngô Quỳnh. Thì ra
là Khúc Thị Nhân. Cô ta gần như gào lên về phía sân đình:
- Không được bắn ông Lý ! Có bắn thì bắn tôi đây này.
Khúc Kiệt không hề dự kiến tình huống này. Ông ta ngớ người
ra một lúc rồi mới quát con gái:
- Nhân ! Không việc gì đến mày. Về ngay !
Cô con gái nước mắt ròng ròng, giọng thổn thức:
- Bố mà bắn ông ấy tức là tự tay giết cả nhà. Nhà ta từ trước
đến nay không có thù hằn gì với dân làng vì sao bố lại dẫn bọn người áo Đen vác
súng ống về làm loạn cả lên ?
Khúc Kiệt nghiến răng kèn kẹt:
- Đồ ngu ! Mày thì biết gì, không về nhà tao cho người trói lại
bây giờ.
Khúc Thị Nhân giang hai tay về phía trước, mặt vênh lên:
- Đây, bố lấy súng bắn chết tôi đi !
Lúc ấy dân làng đã kéo ra đứng chật cả bờ ao nhưng tất cả đều
im lặng theo dõi cuộc đấu khẩu giữa hai cha con họ Khúc. Khúc Kiệt đang phân
vân chưa biết làm thế nào thì ngoài cổng làng tiếng súng lại rộ lên. Ông ta
quay lại bảo viên phó chỉ huy:
- Cứ tạm giam hắn vào hậu cung rồi sẽ tính sau, trước mắt phải
đối phó với bọn quan binh đã.
Khúc Thị Nhân lội từ dưới ao lên trông cô đẹp mê hồn. Cái nốt
ruồi bằng hạt đậu màu hồng đậu dưới mắt trái giống như hạt ngọc trang trí tự
nhiên làm gương mặt cô trở lên hấp dẫn đặc biệt. Cô bước đi trong tiếng sột soạt
của tấm váy sồi còn ướt sũng nước vẽ thành những vệt vằn vèo trên nền gạch chỉ
lát nghiêng. Vợ lý Quỳnh một người đàn bà phốp pháp, cặp mông thây lẩy như mông
lợn thiến, quỳ xuống trước mặt cô con gái họ Khúc vái lấy vái để:
- Muôn ngàn lần đội ơn cô. Không có cô, hôm nay ông nhà tôi
đã thành ma đói. Cầu trời phật phù hộ cho cô sống lâu trăm tuổi.
Khúc Thị Nhân đỡ bà béo dậy chép miệng bảo:
- Ơn với huệ gì. Tôi phải liều ra đấy vì không muốn họ Khúc
gây thù chuốc oán với cả làng.
Đêm hôm ấy, Khúc Kiệt vào hậu cung hỏi viên suất đội:
- Các anh đã chết bao nhiêu lính ?
Tay đội khố xanh lưng vẫn còn đau ê ẩm, nửa nằm nửa ngồi,
trả lời miễn cưỡng:
- Trước khi tôi vào làng là bảy, bị thương bốn.
- Còn "ngài" phó Lãnh binh ?
- Bị đạn xuyên vào mông, có lẽ đã được đưa về huyện.
- Các anh chắc đang đợi viện binh ? - Khúc Kiệt châm chọc.
Viên suất đội phát bẳn:
- Viện binh cái con khỉ. Giờ là lúc hỗn quân hỗn quan, lão
tri phủ còn đang lo cái mạng của hắn, hơi đâu nghĩ đến chúng tôi.
- Hiện tại ông là chỉ huy cao nhất ở đây. - Khúc Kiệt bảo - Nếu
ông đồng ý đầu hàng rút quân về phủ, chúng tôi sẽ thả ông cùng mấy gã bị bắt
hôm trước.
Tay suất đội gật đầu :
- Có gì mà chẳng đầu hàng. Tôi phục các ông sát đất đấy,
nhưng ông cần phải biết, lúc này người Nhật mạnh hơn người Pháp nhiều. Họ mà
kéo về đây làm cỏ làng Cùa thì các ông sẽ thành ma không đầu.
Viên đội trưởng áo Đen cười nhạt :
- Ông doạ chúng tôi đấy à ?
Sáng sớm hôm sau, đám quan binh bại trận thất thểu lê bước
trên đường quan về phủ Đông Giàng. Khúc Kiệt trở thành thủ lĩnh cao nhất vùng
Ba tổng. Thanh niên các làng hữu ngạn sông Lăng nô nức rủ nhau gia nhập đội
quân áo Đen. Họ là lực lượng tự vệ thường trực, sẵn sàng cơ động đến những nơi
có biến, nổ súng chiến đấu.
Vụ này vùng Ba Tổng chắc sẽ được mùa. Những cánh bãi sau khi
nước rút, trước vẫn bỏ hoang giờ cũng lốm đốm đuôi gà. Lúa ba giăng ở chân ruộng
vàn bông dài hạt thưa nhưng chắc quả , đổ rạp xuống, xếp lên nhau vàng óng như
lụa tơ tằm. Trên các khoảnh cao sản vùng đồng Quan, Cổ Cò, Mả Me đâu đâu cũng
nhấp nhô sóng lúa. Mùi thơm mát của dự hương, mùi nồng nồng của lúa
tám đen lẫn với mùi ngai ngái của rạ tươi mới xén lan toả khắp đồng xa đồng gần,
thậm chí còn được gió đẩy lên cao lơ lửng giữa bầu trời làm không gian sực nức
không khí mùa màng.
Làng Cùa trở lại cuộc sống thanh bình như nó vốn có. Ruộng bà
cả Huê thẳng cánh cò bay, lúa chín vàng rực chạy suốt từ chân tre đình Cả đến tận
đầm Ma. Tá điền lại chuẩn bị liềm hái, quang gánh chuẩn bị cho một mùa gặt mới.
Đầu tháng trước, vì đói nhiều nhà đã bán lúa non lấy tiền đong gạo, giờ rủ nhau
đến làm thuê cho bà Chánh.
Khúc Luận đã lớn bổng lên. Ngoài giờ học, cậu ta suốt ngày la
cà ở ruộng vừa xem tá điền cắt lúa vừa bắt bọ muỗm và chim cút. So với châu chấu
cào cào thì bọ muỗm thuộc loại côn trùng quý phái. Chúng chỉ xuất hiện vào vụ gặt
tháng mười như là một thứ tặng vật quý giá của ông trời giành riêng cho lũ trẻ
nhà quê. Bọ muỗm khoác bộ cánh xanh lá mạ hoặc vàng rơm, con to cũng chỉ bằng
ngón tay út nhưng dáng dấp mềm mại, cặp râu dài linh động và một thân hình thon
thon như chiếc thoi dệt vải. Bọ muỗm ban đêm thường đậu trên nhánh lúa chín, nhất
là ruộng tám xoan hoặc dự hương uống những giọt móc trời có lẫn hương thơm đồng
điền. Ban ngày chúng la cà ở các bờ nước nhấm nháp chút cỏ non rồi quay về
tránh nắng trong những thửa ruộng sắp gặt. Mỗi khi tá điền cắt gần hết một khoảnh,
cào cào châu chấu và bọ muỗm bị dồn vào góc. Chúng bay loạn xạ như là đàn thiêu
thân ban đêm gặp phải ánh đèn. Các bác lực điền vừa xén lúa xoàn xoạt vừa quờ
tay vơ những con muỗm béo múp, bụng đầy trứng, lặc lè như những chiếc tàu bay
chuồn chuồn sắp sửa hết xăng. Bắt được bao nhiêu, thợ gặt lại đưa cho thằng Luận.
Từ sáng đến trưa thế nào cũng được lưng giỏ. Những con tự tay vồ được, thằng bé
rủ bọn trẻ cùng xóm đốt lửa nướng ngay tại ruộng. Bọ muỗm nướng chín mỡ chảy ra
béo ngậy. Cuối buổi, mặt đứa nào cũng nhem nhuốc, dính đầy tro than. Khúc Luận
còn có biệt tài bắt chim cút. Những chú chim cút tròn ung ủng, lông xám, vào vụ
gặt béo núc nhưng lủi rất nhanh tuy rằng không biết bay. Thằng bé có khả năng định
vị tuyệt vời và óc phán đoán chính xác nơi con chim chui vào trong hàng loạt những
mô rạ giống hệt nhau. Nó chỉ việc chắn hai tay hai phía rồi nhích dần vào giữa
thế làm tóm được con mồi. Có hôm, Khúc Luận bắt được cả một lồng nhưng nó không
phải là đứa ăn độc. Trước khi về nhà, thế nào thằng bé cũng chia cho lũ trẻ
trâu mỗi đứa một con. Bọn này thường là đem về nuôi nhưng chỉ ít ngày sau lũ
chim đồng đã bị mèo vồ hoặc xổng chuồng lủi mất.
Chú thích:
[1] Một
loại máy bay vận tải của quân đội Pháp những năm năm mươi.
Chí Linh, 20/5/2005Đặng Văn Sinh
.jpg)
.jpg)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét