Thứ Tư, 27 tháng 7, 2022

Ký ức làng Cùa 2XXXXX

Ký ức làng Cùa 2

Chương 5
1. Làng Cùa tạm thời trở lại yên tĩnh. Khúc Kiệt bắt đầu thực hiện một số cải cách mà việc đầu tiên là trưng thu con ngựa bạch của nhà chánh Đàm. Hôm nào cũng vậy, ông ta dậy từ lúc còn mờ đất, nhảy phốc lên con tuấn mã chạy nước kiệu ra bến sông Lăng. Đường làng lúc này còn vắng, thỉnh thoảng mới gặp một bà nhặt phân chó. Những bà này nghe tiếng vó ngựa từ xa đã lẩn vội vào ngõ ngách hoặc bụi rậm. Cách đây mấy hôm, cô Mận thọt con ông trương Thình đã bị mấy hèo mây vào lưng vì tội dám để gánh phân thối hoắc giữa đường chắn lối đi của thủ lĩnh áo Đen. Mấy hôm sau, Khúc Kiệt mời các vị chức sắc trong làng ra đình hiến ruộng cho Cách mạng. Chánh tổng Cao Lộng dù chẳng muốn tí nào cũng phải rứt ruột nộp ra hai mẫu. Lý Quỳnh ngậm đắng nuốt cay mất toi một mẫu tám sào mà không kêu vào đâu được. Người chống đối gay gắt nhất là bà cả Huê. Bà ta lấy thế mẹ goá coi côi chẳng những không chịu nộp ruộng mà còn dứt khoát đòi con ngựa. Khúc Kiệt vốn không phải là người có tính nhẫn nại, nghe và chị dâu gọi mình là quân ăn cướp thì bật dậy như chiếc lò xo bị nén quá lâu, hàm răng ám khói thuốc lào nhe ra, giọng gầm gừ:
- Yêu cầu bà Huê không được xúc phạm đến Cách mạng, nếu còn mồm loa mép giải, chúng tôi buộc phải có biện pháp cứng rắn.
- Cách mạng gì các người. - Bà Huê đỏ mặt tía tai - Một lũ thổ phỉ thì có.
- Này! Chị đừng có quá đáng. Tội của nhà chị tử hình còn là nhẹ.
- Có giỏi thì cứ bắn đi. Con này không sợ đâu nhé!
Rõ ràng là Khúc Kiệt đang bị khiêu khích. Mặt ông ta tím lại, tay run run sờ vào bao súng lục. Phía bên này chánh tổng Cao Lộng che miệng giấu nụ cười khó hiểu. Giữa lúc Khúc Kiệt đang nghĩ cách trừng phạt bà vợ chánh Đàm để răn đe những kẻ có máu mặt ở làng Cùa đang rắp tâm chống đối thì người thư ký từ ngoài vào đưa một mảnh giấy. Ông ta đọc lướt qua rồi chau mày, ngồi thừ ra một lúc dường như chẳng để ý gì đến các khổ chủ bị triệu đến hiến gia sản. Bọn Cao Lộng thấy thái độ của thủ lĩnh áo Đen như vậy, ngầm đưa mắt cho nhau lặng lẽ rút lui. Các đội viên gác ngoài cửa định giữ lại thì Khúc Kiệt phẩy tay ra hiệu để cho họ đi sau đó chuyển mảnh giấy cho Lại Xuân Kiên vừa đi tuần tra về. Viên đội phó xoay dọc xoay ngang tờ giấy mãi không đánh vần nổi nhưng con chữ nghệch ngoạc bằng mực tím đành trả lại đội trưởng.
- Bác đọc giúp, tôi chịu…
Khúc Kiệt có vẻ như không mấy quan tâm đến vẻ lúng túng của Lại Xuân Kiên mà lên giọng hậm hực:
- Thượng cấp cảnh cáo chúng ta manh động vì thời cơ chưa đến. Họ còn ra lệnh giải tán ngay đội công tác và xử lý kỷ luật tôi. Chú thấy bây giờ ta nên làm thế nào ?
- Không được. - Lại Xuân Kiên lắc đầu - Bác mà giải tán đội áo Đen thì bọn Lê Bang, Cao Lộng, Ngô Quỳnh tha hồ làm mưa làm gió, dân Ba Tổng lại vô cùng khốn khổ.
- Tôi cũng nghĩ thế.  - Khúc Kiệt châm tờ giấy vào ngọn nến, đợi cho nó cháy hết rồi mới nói tiếp - Các ông thượng cấp ngồi dưới hầm bí mật cách xa chúng ta hàng trăm dặm biết thế quái nào được phong trào nông dân làng Cùa. Quan binh phủ Đông Giàng mang súng ống kéo nhau về đây bị chúng ta giã cho một trận tơi bời, còn bọn hào lý thì bạt vía kinh hồn, không dám lên mặt hách dịch. Đây chính là thời cơ thuận lợi để ta cướp chính quyền, vậy thì tại sao họ khai trừ tôi ra khỏi tổ chức và bắt chúng ta giải tán lực lượng ?
- Cũng có thể cấp trên phòng xa bọn Nhật kéo về.
- Nhật cũng chẳng sợ. Nếu chúng đem quân về đây ta sẽ rào làng chiến đấu, chú thấy thế nào ?
 
Lại Xuân Kiên vẫn phục Khúc Kiệt là tay lắm mưu nhiều kế lại đọc chữ Quốc ngữ vanh vách nên tán thành ngay chủ trương của đội trưởng.
- Được quá đi chứ . Bọn giặc Lùn thì cũng là người chứ có phải ba đầu sáu tay đâu mà lo.
Nửa tháng trôi qua, làng Cùa vẫn bình yên vô sự. Khúc Kiệt cho rằng thượng cấp quá lo xa. Bọn Nhật còn mải đánh nhau với Pháp, hơi đâu chúng đem quân về cái làng hẻo lánh bên cạnh sông Lăng này.
Một hôm Hàn Hành đến làng Cùa. Khúc Kiệt tiếp đón ông ta ở đình Cả như một thượng khách. Rượu được một tuần, Khúc Kiệt hỏi:
- Có việc gì mà Bác quá bộ đến đây hay là được cấp trên cử đi công cán ?
Hàn Hành lắc đầu, giọng nhạt nhẽo:
- Tôi đã xin ra khỏi Đảng, bây giờ không còn trong tổ chức nữa.
- Sao thế ? - Khúc Kiệt nghĩ mình nghe lầm - Bác xin ra ?
- Phải, nếu không tự nguyện rút lui, trước sau họ cũng khai trừ. Cách đây ít ngày có một phái viên từ tỉnh về đưa cho tôi một cái giấy. Nội dung trong giấy nói tôi manh động, không chấp hành nghị quyết Trung Ương làm thiệt hại đến phong trào.
- Hôm qua tôi cũng nhận được một cái thông báo như thế - Khúc Kiệt khoát tay ra vẻ bất cần đời - Tưởng chỉ có tôi, hoá ra bác cũng bị.
- Có lẽ đấy là chủ trương chung.
- Điều tôi lo là ở chỗ khác kia. - Hàn Hành hạ giọng thì thầm - Có một vài đảng viên ở bên Nam Ngạn đã bị mất tích. Chắc cấp trên sợ họ bất mãn, phản bội khai ra các đường dây bí mật, cho nên …
- Cho nên bác mới tạm rời làng đi làm nghề thầy tướng chứ gì ?
- Cũng là vạn bất đắc dĩ. - Hàn Hành chép miệng
Khúc Kiệt mừng quá vì có thêm đồng minh, nắm chặt tay ông bạn cùng cảnh ngộ:
- Thế thì bác ở đây với tôi. Lính Triều Đình đến cũng đánh. Nhật cũng đánh. Chúng ta sẽ giải phóng tất cả các làng bên hữu ngạn sông Lăng để xem cuối cùng chủ trương của ai đúng. Nói thật, tôi cũng bị xử lý kỷ luật rồi, nhưng đừng hòng Khoá Kiệt này giải tán đội quân áo Đen. Thời buổi hỗn quân hỗn quan phải có lực lượng vũ trang trong tay mới làm nên chuyện.
Hàn Hành là kẻ thích vũ trang bạo động, nghe chủ trương của Khúc Kiệt, phấn khởi lắm liền bỏ nghề, ở lại làng Cùa.
 
Sớm hôm sau, trời vẫn còn mờ tối, tiếng mõ cầm canh chưa kịp gióng hết hồi thứ ba, trên con đường thập tự đã vang tiếng vó ngựa rầm rập. ít phút sau đoàn kỵ sĩ rẽ vào làng Cùa. "Bọn Nhật !"  có ai đó gào lên, giọng lạc hẳn đi vì sợ. Khúc Kiệt vừa thức dậy vãn còn ngái ngủ, ra lệnh cho các đội viên không được mở cổng. Hàn Hành ra sức thúc trống báo động còn Lại Xuân Kiên tập hợp anh em áo Đen chuẩn bị chiến đấu. Khúc Kiệt cử một đội viên trèo lên nóc đình gọi loa thông báo cho cả làng.
- A lô ! Thưa bà con ! Bọn Nhật đã kéo quân về làng Cùa. Mọi người hãy ở yên trong nhà, cấm ra đường, để lực lượng tự vệ Cách mạng chuẩn bị chiến đấu, tiêu diệt bọn giặc lùn. A lô ! A lô !
Một lúc sau, người gọi loa đi dọc theo đường trục từ đình Cả xuống bến sông, tiếp tục thông báo:
- Cấm mọi người liên hệ với Nhật làm tay sai chỉ điểm cho chúng. Ai cố tình ra khỏi làng sẽ bị xử bắn tại chỗ.
Trong khi ấy, bọn Nhật thông qua sự chỉ dẫn của tên phó Lãnh binh bại trận lần trước đang tìm cách đột nhập vào làng. Đầu tiên chúng cũng cho người gọi loa:
- A lô ! Dân làng Cùa nghe đây. Quân đội Thiên Hoàng về đây để tróc nã tên trùm Cộng sản là Khúc Kiệt cùng đồng bọn đã xúi giục bà con chống thuế và đánh lại binh sĩ Triều Đình. Yêu cầu không ai được giúp bọn phiến loạn. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị chém đầu.
Để phụ hoạ cho tiếng loa của tên thông ngôn là loạt đạn bắn thẳng vào cổng làng. Đạn súng trường Nhật không xuyên thủng được cánh cổng lim nhưng là ngón đòn tâm lý đánh vào cân não làm già trẻ gái trai trong làng nháo cả lên. Ai cũng muốn ra khỏi làng nhưng lập tức bị những đội viên áo Đen chặn lại. Họ như con chạch bỏ giỏ cua, ở vào thế tiến thoái lưỡng nan, người nào cũng lo ngay ngáy.
Bọn Nhật xuất hiện quá bất ngờ, Khúc Kiệt chưa kịp hạ lệnh bắt giam bọn sắc mục thì lý trưởng Ngô Quỳnh đã vượt rào chạy ra ngoài. Hàn Hành sau khi nghe Lại Xuân Kiên thông báo nội tình làng Cùa liền bàn với Khúc Kiệt:
- Việc lúc này rất gấp, không thể chần chừ. Vì vậy, cần phải cho bắt ngay chánh tổng Cao Lộng, chánh hội Hạp và con mẹ Huê vợ cả chánh Đàm. Để bọn này thoát được là chúng ta tự tay ký vào bản án tử hình.
Vừa lúc ấy, một đội viên áo Đen xách mã tấu thở hổn hển vì vừa chạy từ ngoài cổng làng vào:
- Báo cáo ! Anh em vừa bắt được chánh tổng luồn theo lối chuồng lợn nhà vệ Toan trốn ra ngoài.
Cao Lộng cởi trần trùng trục, người dính toàn phân lợn, đầu tóc vẫn còn vương mấy đám mạng nhện. Lão ta giả làm người vớt bèo, lẩn xuống ao nhà phó lý Huấn, chạy đến nhà vệ Toan thì bị tóm. Khúc Kiệt liếc mắt nhìn Cao Lộng cười gằn:
- Hừ ! lần này thì không thể tha được. Anh em đâu ! Mang ra ngoài miếu Cô Hồn xử bắn.
Cao lộng nghe hai tiếng "xử bắn" hồn vía đã lên mây. Lão quỳ mọp xuống vái lấy vái để:
- Tôi chót dại, mong ông Khoá mở lượng khoan hồng, sau này nguyện làm trâu ngựa đền đáp công ơn trời biển.
Khúc Kiệt nghe lời cầu xin rất là ai oán đã có vẻ mềm lòng, Hàn Hành vội bấm vào tay ông ta khẽ bảo:
- Làm Cách mạng là phải triệt để chuyên chính vô sản, không nên để thứ tình cảm mềm yếu của đàn bà chen vào. Bác mà tha hắn hôm nay, ngày mai hắn sẽ treo cổ tất cả lũ chúng ta lên cây đa đầu đường Thập Tự.
Khúc Kiệt ngẫm nghĩ một lúc rồi gật đầu:
- Bác nói phải !
Cao Lộng bị trói quặt hai tay ra sau lưng, một đoạn thừng còn vòng qua cổ bắt chéo trước ngực như là quai đeo ba lô. Dải băng đen chẳng biết xé từ chiếc áo của ai bịt cứng hai mắt làm viên chánh tổng bước đi chệnh choạng. Mớ tóc chớm bạc xổ tung ra bay phất phơ trước gió. Bà vợ lão từ đằng sau lập cập chạy lên định quấn lại tóc cho chồng bị một người áo Đen dộng báng súng vào ngực. Bà ta kêu đến "hự" một tiếng nhổ ra một bãi máu tươi.
 
Lần này cần phải hành quyết thật nhanh trước khi dân làng kéo đến. Để đỡ xảy ra rắc rối, Khúc Kiệt cử mấy đội viên áo đen quản thúc Khúc Thị Nhân không cho ra khỏi nhà. Miếu Cô Hồn nằm trên một bãi hoang, cây cối rậm rạp. Cạnh miếu có cây gạo cổ thụ. Những chùm hoa đỏ rực rỡ như lửa đang thả dần từng cánh mỏng hình lòng thuyền xuống nước. Mặt ao nổi lềnh bềnh toàn một thứ bèo ong màu xám. Thỉnh thoảng một con cá rô tinh nghịch vọt lên đớp lũ chuồn chuồn ớt. Bọn này xoè cặp cánh mỏng như tơ nhện, bay là là mặt bèo, chốc chốc lại đập đuôi xuống nước như là cố tình trêu ngươi. Trên cây cọc rào giữa ao, một con chuồn chúa hoa vàng dáng dấp đầy vẻ quý phái đậu gần như bất động, khoe chiếc đuôi dài óng ánh như được làm bằng giấy trang kim. Chú chuồn này xem ra chẳng mấy quan tâm đến chuyện người ta sắp sửa bắn nhau mà đang trầm tư thiền định mong sớm được chuyển kiếp làm người. Từ lâu lắm, theo các bậc cao niên kể lại thì xung quanh khu vực ao Quan này đầy ma đói ma khát của những kẻ chết đuối. Những cô hồn không nơi nương tựa thường rủ nhau vào làng quấy nhiễu dân lành, bắt trẻ con, dụ dỗ đàn bà con gái. Sau mấy lần mời thầy pháp về yểm bùa làm phép trừ tà không ăn thua, các vị chức sắc bàn nhau quyên tiền xây miếu và trồng cây gạo để những linh hồn vật vờ có chỗ đi về. Hằng năm, vào những ngày sóc vọng, lý trưởng phải mang hương hoa, phẩm vật cúng tế dân làng mới yên ổn làm ăn, mưa thuận gió hoà, mùa màng phong túc. Từ khi vỡ đê, miếu đổ, chỉ còn trơ lại cây gạo với mấy bụi tre gai bị sóng đánh lật nghiêng, trơ gốc khiến cho cảnh vật trở nên xơ xác, tiêu điều.
Chánh tổng Cao Lộng bị trói vào cây gạo bằng mấy vòng thừng. Lúc này chẳng biết bởi nguồn sức mạnh nào, lão ta đã lấy lại được đảm khí, khác hẳn thái độ hèn nhát ban đầu, xem thường cái chết, dõng dạc bảo Lại Xuân Kiên đang chỉ huy bọn áo Đen chuẩn bị thi hành bản án:
- Ta muốn gặp Khóa Kiệt.
Lại Xuân Kiên lắc đầu:
- Ông ấy đang bận chỉ huy anh em đánh nhau với Nhật không hơi đâu nói chuyện với một tên Việt gian như ngươi.
- Ta không thèm xin tha mạng, mà trước khi bị các người giết, muốn khuyên Khoá Kiệt một câu.
- Có việc gì cứ nói, tôi sẽ báo lại cho ông ấy.
Cao Lộng ngẩng cao đầu, bình thản nhấn mạnh từng tiếng như thể lão ta mới là người tuyên án:
- Cái thứ cách mạng hão huyền của những kẻ hủ nho như Khúc Kiệt trước sau cũng tan thành mây khói mà bản thân hắn cũng không tránh được hình phạt treo cổ. Hãy nhớ  lấy lời Cao Lộng này.
 
Lại Xuân Kiên tái mặt, hối hận vì chót để cho tên cáo già nói lời cuối cùng lăng nhục Cách mạng, anh ta lập bập hô:
- Tất cả lên đạn !
Tiếng khoá nòng nghe có vẻ không đều lắm vì năm chiến sỹ áo Đen sử dụng bốn loại súng khác nhau. Có khẩu đã han gỉ kéo mãi mới bật được chốt an toàn.
- Bắn !
 
Một loạt tiếng nổ lẹt đẹt như pháo. Đạn bay chiu chíu cắm phầm phập vào thân cây gạo sau khi xuyên qua ngực và bụng nạn nhân. Viên chánh tổng chết ngay, đầu gục xuống một cách miễn cưỡng, mái tóc muối tiêu ướt đẫm máu, chảy thành vệt, nhuộm đỏ dưới gốc cây. Từ ngõ nhà trương Hoà, bà vợ bé Cao Lộng tóc tai bù xù vừa gào vừa khóc vừa chửi ba đời Khúc Kiệt là kẻ sát nhân, mấy chiến sĩ áo đen túm áo giữ lại nhưng không ăn thua. Mụ ta lồng lộn như con thú dữ đã trúng thương, cắn vào tay một đội viên rồi xé quần áo nhảy xuống ao Quan.
 
Phía cổng làng rộ lên một loạt súng. Bọn Nhật bắn đầu khai chiến. Mặt trời lên chừng nửa con sào. Trên cao, một đàn sếu xếp thành hàng mũi tên bay chếch về hướng đông nam. Con đầu đàn có bộ lông trắng như lông thiên nga đang nhịp nhàng vỗ cánh dẫn đường chợt loạng choạng rơi khỏi đội hình theo chiều thẳng đứng. Lúc ấy giờ mới có tiếng súng trường dội về. Một tên Nhật nào đó chơi trò tâm lý bắn chim trời để chứng tỏ tài thiện xạ của lính Thiên Hoàng. Đứng trên tầng hai nhà chánh Đàm, phó hội Hạp xuýt xoa thán phục:
- Các quan Nhật bắn giỏi thế kia bọn lính áo Đen của Khoá Kiệt chỉ có nước về chầu ông vải.
Lúc này bà cả Huê đang bị giam trong hậu cung đình Cả. Ngôi nhà hai tầng kiên cố như một pháo đài lại là nơi tránh đạn của cả làng. Khúc Luận mang cơm cho mẹ Cả, nhìn thấy Khúc Kiệt, mắt nó ánh lên những tia căm thù. Cậu ta vẫn còn là trẻ con chưa hiểu sự đời.
 
Bên ngoài, những con ngựa chiến của quan binh Phù Tang phi như điên dọc theo các bờ ruộng hướng tây nam, thỉnh thoảng lại nổ một phát súng uy hiếp tinh thần đối phương. Trung uý Hirôsi, thanh kiếm dài kéo lệt sệt, thỉnh thoảng lại chạm lách cách vào chiếc ủng da bóng lộn, cao quá đầu gối mà người lại thấp, thành ra mỗi bước đi của hắn đều giật cục chẳng khác gì thằng đánh gậy. Hắn quen đi ngựa, và lúc xuất trận, người ngựa gắn thành một khối vững chắc, tha hồ tung hoành trên chiến địa, vung kiếm tàn sát kẻ thù. Đem quân về làng Cùa theo lệnh quan tư Yamađa, Hirôsi gặp phải một địa hình rất khó chơi. Đó là một làng cổ An Nam được vây bọc chung quanh bởi luỹ tre gai dày đặc và một hệ thống ao chuôm liên hoàn hạn chế tối đa tác dụng của kỵ binh. Hắn đã tác chiến ở hầu hết các quốc gia Đông Nam á, đã từng khuất phục người Tân Gia Ba, đè bẹp sự kháng cự của các tín đồ thiên chúa giáo Phi Luật Tân, ruổi ngựa trên thảo nguyên mênh mông của vương quốc Mãn Châu ăn bánh ngô với nước sốt thịt cừu pha rượu hồ đào, và cuối cùng là những cô gái xinh đẹp da vàng xứ Mã Lai thơ mộng. Tất cả những vùng đất đạo quân của Hirôsi đi qua đều đặt được nền thống trị của Thiên Hoàng. Vậy mà đến xứ Bắc Kỳ có vẻ như tình hình không được thuận buồm xuôi gió bởi sự bất lực của chính quyền Nam  triều, sự cản trở của bọn Pháp bại trận và lũ dân đen bị chủ nghĩa Cộng sản mê hoặc. Điển hình là cái làng này. Không khó khăn lắm những kỵ binh thiện chiến của Hirôsi đã phá được cổng làng. Cánh cửa vừa đổ sập xuống lập tức một loạt đạn súng trường mútxcơtông hạ gục hai tên võ sĩ đạo. Viên quan hai khoát tay ra hiệu cho tên lính có bộ ria nhọn nhưng đầu trọc lốc mang trung liên đặt trước cổng. Khẩu súng nòng dài, miệng loe nổ liên hồi kỳ trận khạc ra hàng tràng đạn theo hình cánh quạt bay chiu chíu vào làng. Phía cổng hậu, bọn Nhật cũng đã mở được đột phá khẩu. Khẩu trung liên thứ hai do một tên cai gầy nhằng vừa khai hoả được một lúc thì bị Lại Xuân Kiên từ góc bếp nhà Ba Vếnh tương cho một phát súng "dóp" trúng đầu. Hàn Hành rê nòng khẩu súng kíp, ngắm thật kỹ rồi mới xiết cò. Đạn ghém quả là thứ vũ khí lợi hại. Mấy tên lính thập thò ở mép tường rào đều bị dính đòn phải rút ra ngoài không kịp kéo khẩu trung liên. Lại Xuân Kiên mừng quýnh khi tịch thu được khẩu liên thanh cùng mấy băng đạn vàng choé. Các đội viên nhìn khẩu súng với thái độ vô cùng kính trọng nhưng rất tiếc là không ai biết sử dụng. May có Hàn Hành võ vẽ đôi chút vì cách đây ít lâu, ông ta mua được khẩu tiểu liên của Pháp cho Đoàn thể. Mầy mò một lúc rồi Hàn Hành cũng bắn được. Ông ta đặt khẩu súng ở sân nhà Phó Đát. Tại vị trí này có thể khống chế được khu cổng hậu. Thằng nào lớ ngớ thò mặt vào là nổ súng.
 
Đội kỵ binh của Hirôsi vừa đánh vừa thăm dò đã vào gần giữa làng. Bảy đội viên áo đen thiệt mạng, Khúc Kiệt bị một vết kiếm chém sượt cánh tay trái nhưng chỉ vào phần mềm không nghiêm trọng. Điều tệ hại là họ sắp hết đạn, mà giao đấu tay đôi với bọn lính Thiên Hoàng thì phía ta hoàn toàn bất lợi. Chúng phần lớn là những tay thiện chiến , trình độ kiếm thuật cực kỳ điêu luyện. Dao chín, mã tấu và mác búp đa khó có thể thắng được thứ kiếm Lưu Cầu vừa dài vừa sắc như nước của đạo quân viễn chinh với tinh thần võ sĩ đạo và học thuyết Đại Đông á làm tư tưởng chỉ đạo. Bị đẩy bật khỏi cổng hậu, sau một trận hỗn chiến, Hirôsi tập trung hoả lực vào hướng đông bắc. Phía này ít chướng ngại vật, đường làng rộng có thể đưa kỵ binh luồn theo các ngõ hẻm mà Ngô Quỳnh đã chỉ điểm đánh vào sân đình tiêu diệt đại bản doanh của quân áo Đen. Khúc Kiệt ra lệnh cho anh em tiết kiệm đạn, chỉ nổ súng khi địch đã đến gần nhằm kéo dài trận đánh đến đêm. Bọn Nhật chiếm dần từng căn nhà một. Đây đó đã có một vài đám cháy không hiểu lính Thiên Hoàng đốt hay quân của Khúc Kiệt nghi binh. Phía cổng lớn vọng về tiếng gào khóc rất thảm thiết. Đó là nhà Trương Dật gần giếng làng. Dật có hai con gái, đứa lớn mười bảy, đứa nhỏ mười lăm. Khi bọn Nhật vào đến cổng hắn đang bê nồi cám cho lợn ăn. Tên lính mặt sẹo có cái mũi hếch vẫy tay nói một tràng líu lô như khướu hót tồi chỉ tay ra cổng. Dật chẳng hiểu tên Nhật nói gì, sợ quá quăng nồi cám ù té chạy. Tên thứ hai đảo mắt nhìn quanh rồi nâng súng nhằm Dật bóp cò. Máu từ ngực anh ta trào ra ướt đẫm tấm áo cộc vá chằng vá đụp. Cái Là cái Lượt vội đẩy cửa nhào ra. Nhìn thấy gái, mắt hai thằng Lùn ánh lên những tia man rợ như thú dữ nhìn thấy con mồi. Cả hai thằng đều quăng súng vồ lấy thị Là, thị Lượt, xé toang áo, lột váy trong trạng thái hoàn toàn điên loạn. Trước khi bị hiếp, Thị Lượt cắn vào tay tên mặt sẹo. Vết cắn khá đau làm tên này nổi đoá bạt tai nó mấy cái nổ đom đóm mắt rồi bế xốc đến gian bếp bẩn thỉu ngập ngụa những rơm rác lẫn với đầu mẩu khoai lang. Thị Là khoẻ hơn bị tên Nhật khoá cứng hai tay. Hắn đã tốc ngược váy của nó lên đến ngực,chỉ còn vướng chiếc thắt lưng da quân dụng ngang lưng nên phải thả lỏng một tay. Vào lúc tên Nhật còn đang loay hoay với chiếc khoá đồng, Thị Là quài tay vớ được con dao cau vẫn để trong rổ con mà trong lúc thị Lượt giằng co với tên giặc Lùn bị hất ra ngoài. Nó lén đẩy con dao vào dưới hông xong nhẹ nhàng vuốt lưng thằng kỵ binh như là một cử chỉ âu yếm. Tên võ sĩ đạo vòng tay ôm ngang sườn thị Là, cà hàm sâu chổi sể vào mặt nó chuẩn bị cho hành động đốn mạt. Trong khi tên Nhật sờ soạng vào bẹn thị Là thì nó giả vờ mân mê chiếc dương vật cứng ngắc làm hắn như mê đi. Đúng lúc ấy một nhát dao sắc ngọt lia ngang bằng tất cả lòng căm thù của một thiếu nữ bị sỉ nhục, cứa đứt đôi "của quý" của gã quỷ lùn. Hắn thét lên một tiếng khủng khiếp chẳng khác gì tiếng gầm của loài mãnh thú đột ngột sa bẫy. Tên mặt sẹo đang cơn hoan lạc trên cái cơ thể trần truồng gần như bất động của thị Lượt, nghe tiếng thét kinh hoàng vội bật dậy, lập cập mặc quần rồi chạy ra sân vồ lấy súng. Thằng bạn hắn đang lăn lộn giữa sân ôm lấy cái bẹn nhoe nhoét máu. Hắn điên tiết kéo khoá nòng xả đạn vào hai chị em Thị Là, thị Lượt vẫn còn trong tình trạng loã lồ.
 
Hirôsi rút đám kỵ binh bên ngoài bổ sung cho hướng tấn công chính. Quân Nhật đã vào được nhà chánh Đàm. Ngô Quỳnh lúc này đã lẻn về nhà làm nội ứng cho quân Nhật thông qua gã phiên dịch người Nam Bộ. Khẩu trung liên của Hàn Hành hết đạn thành vô tác dụng. Ông ta quẳng nó xuống ao sau đó luồn theo đường chùa Hà về đình Cả, nhưng vừa ra khỏi vườn nhãn thì bị một tên Nhật bắn vào chân. Viên đạn xuyên qua đầu gối làm hàn Hành khựng lại rồi ngã. Lý Quỳnh lập tức cho giải ra gốc gạo trình với Hirôsi. Viên quan hai hỏi:
- Các ông có bao nhiêu quân ?
Hàn Hành liếc nhìn tên Nhật cười gằn:
- Nhiều lắm, đếm không hết.
Hirôsi lại hỏi:
- Chắc là quân áo Đen sắp hết đạn phải không ?
Hàn hành quắc mắt:
- Còn đủ đạn chiến đấu với giặc Nhật đến người cuối cùng.
-Nếu ông chịu đầu hàng, hợp tác với quân đội Thiên Hoàng thì tôi sẽ đảm bảo tính mạng - Hirôsi đề nghị.
-Người Cách mạng không bao giờ phản bội đồng chí của mình. Ta thà chết chứ không thèm làm việc đê tiện ấy.
- Vậy thì được. - Tên quan hai hất hàm bảo gã thông ngôn - Hỏi ông ta có dặn gì gia đình trước khi chết không ?
- Ta biết chắc quân đội Nhật sẽ bại trận và đấng Thiên Hoàng đáng kính của nhà ngươi sẽ phải lên đoạn đầu đài.
 
Nghe đến tiếng cuối cùng tuy gã thông ngôn chưa kịp dịch hết ý, Hirôsi đã rút kiếm bên sườn vung lên, bằng động tác chuẩn xác với kỹ thuật hành hình điêu luyện, trong chớp mắt đầu Hàn Hành đã lìa khỏi cổ. Hirôsi lau kiếm vào chiếc quần đi ngựa, nhét vào bao rồi bảo tên thượng sĩ mang cặp kính dày cộp như đít chai, khoác tiểu liên đứng bên cạnh:
- Về phía cổng phụ truyền lệnh cho thiếu uý Mátsumôtô bao vây chặt đoạn mương nước không cho bọn Cộng sản trốn thoát. Từ giờ đến tối là phải giải quyết xong lũ phiến loạn.
 
Lúc này đội quân áo Đen đã bị tổn thất khá nặng. Lại Xuân Kiên bị đạn vào cằm vỡ quai hàm. Anh ta nhổ ra mấy chiếc răng gẫy dính máu, loạng choạng được vài bước rồi phủ phục xuống góc bếp nhà chưởng bạ Giang. Những đội viên còn lại rút về hướng đình Cả. Hirôsi cho lính kéo khẩu trung liên vào sân nhà Khúc Đàm xoay nòng bắn sang nhà Khúc Kiệt. Bà vợ ốm yếu của ông ta loạng choạng đứng dậy chạy ra ngoài, bị dính đạn ngã sóng soài xuống nền nhà. Khúc Vĩ hoảng quá nhảy quáng quàng xuống ao, một lúc sau ngoi lên bị tên lính đeo kính  cận xả một băng tiểu liên chết ngay tại chỗ. Khúc Văn lúc ấy đang ở ngoài đình. Khúc Thị Nhân, Khúc Thị Nghĩa, Khúc Thị Lễ trong lúc bối rối chẳng biết làm thế nào đành chui xuống gầm giường, nằm nín thở phó mặc số phận cho thần may rủi. Mái nhà lợp rạ bén nửa, bùng lên, trong khoảnh khắc đã thành một đám cháy lớn. Khói đen cuồn cuộn bốc lên, rui mè nổ lốp bốp như pháo đùng ngày tết.
 
Phía bên kia ao, nhà Cả Phê cũng đang cháy ngùn ngụt. Ngọn lửa bỏng rát, nóng hầm hập, liếm lem lém vào mái bếp, thiêu trụi đống rơm rồi há cái mõm đỏ lòm phun phè phè vào chái nhà Hai Doạc. Đám cháy khủng khiếp lại được những ngọn heo may đầu mùa tiếp sức thành trận địa liên hoàn như con rắn lửa khổng lồ huỷ diệt tất cả những gì nó gặp trên đường. Trời tối hẳn, làng Cùa trở thành biển lửa sáng rực như ban ngày. Khắp nơi đâu đâu cũng dậy lên tiếng la ó, gào thét lẫn với tiếng khóc thảm thiết. Lũ chim sẻ, chào mào, bồ các, thậm chí cả những gia đình quạ vẫn tá túc trên luỹ tre gai, giờ bay tán loạn, kêu quang quác vì mất tổ. Một đàn liếu điếu không chịu nổi đám khói dày đặc, khét lẹt, lao vút lên cao, bay loạn xạ như thể làng Cùa sắp đến ngày tận thế. Một con sẻ đồng lạc đàn, bay qua ao nhà Cả Phê định thoát khỏi làng nhưng lập tức bị rơi xuống đám lửa đang cháy rần rật của ngôi nhà phó lý Dần.
 
Đội quân áo Đen sau một ngày quần nhau với Nhật còn không quá hai chục người. Khúc Kiệt tập trung anh em lại phổ biến kế hoạch rút lui khỏi làng bằng đường thuỷ. Họ lợi dụng trời tối, trườn xuống ao đình, theo ngòi Mác ra ao Quan rồi vào rừng Hóp. Rừng Hóp kề ngay đầm Ma, địa hình hiểm trở, có thể tạm thời ẩn náu, chờ quân Nhật rút đi.
 
Gần sáng, khi lý Quỳnh dẫn Hirôsi và hơn chục tên Nhật vào đình Cả thì Khúc Kiệt và những đội viên áo Đen còn lại đã vượt vòng vây thoát ra rừng Hóp để lại khá nhiều xác chết. Cánh cửa hậu cung vừa bật mở, mọi người vội vàng bịt mũi khạc nhổ vì thứ mùi xú uế nồng nặc bay ra từ đống phân và bãi nước tiểu ngang dưới bệ thờ. Bà cả Huê tóc tai rũ rượu như một con điên, cặp mắt long sòng sọc, mồm lảm nhảm chửi ông em chồng bằng thứ giọng thều thào của kẻ sắp chết đói.
 
Hoả hoạn do quân Nhật gây ra thiêu trụi quá nửa làng Cùa nhưng chính Hirôsi cũng phải trả giá đắt vì sáu lính Thiên Hoàng tử trận và năm tên khác bị bỏng nặng. Sau cuộc hỗn chiến, hắn không còn đủ lực lượng truy đuổi đạo quân của Khúc Kiệt đành phải tạm thời rút về Phú Xuyên. Khắp làng chỗ nào cũng thấy những đụn khói xám đục bốc lên. Đó là những đống rui mè, kèo cột hoặc gióng chuồng trâu còn đang âm ỉ cháy. Năm gian nhà tranh của Khúc Kiệt được anh em áo Đen dựng lại cách đây chưa lâu giờ chỉ còn là đống tro tàn. Khúc Thị Lễ, Khúc Thị Nghĩa gần như bị nướng chín cùng với con chó vằn khi mái nhà bén lửa sập xuống đè gẫy chiếc trường kỷ bằng trúc. Khúc Thị Nhân may mắn thoát được do lách qua khe vách gian buồng nhưng bị lửa bén trụi sạch tóc. Cô ta phải lấy khăn vuông quấn đầu mới dám ra đường. Bà mẹ chết từ chiều hôm trước, người mỏng như tờ giấy, lạnh cứng, mắt trợn trừng trừng, Nhân phải vuốt ba lần mới khép lại. Khúc Vĩ vẫn còn chìm dưới ao. Chỗ bị thương cả bầy đỉa bám vào hút máu. Con nào con ấy no căng. Nhân không còn đủ sức kéo xác anh lên bờ. Cô ta ngồi bệt xuống đất, vuốt tàn than bám vào cái đầu lởm chởm, thở hổn hển. Đôi mắt ráo hoảnh gần như vô cảm. Có lẽ nỗi mất mát quá lớn làm người con gái mới mười bảy tuổi này bị sốc nặng, không thể khóc được.
 
Lý Quỳnh không thể ngờ mình cúc cung tận tuỵ phục vụ các quan Nhật mà vợ con ông ta lại chết cháy do chính quân đội Thiên Hoàng gây ra. Ngay từ sáng sớm, khi biết tin Hirôsi đem đội kỵ binh về, lý  Quỳnh đã cấm vợ con ra ngoài. Đề phòng Khúc Kiệt cho lính áo Đen sát hại người nhà, trước khi tìm cách bắt liên lạc với quân Nhật, ông ta đã nhốt họ vào buồng, khoá lại, sau đó đóng chặt cổng, quấn thêm mấy vòng dây xích cho chắc. Cẩn thận quá hoá ra lại hại chính mình. Lửa từ hướng đông bắc sau khi thiêu huỷ toàn bộ dinh cơ nhà cả Phê, nhanh chóng lém sang chái buồng nhà Ngô Quỳnh. Khói đặc sệt bị áp lực của hoả thần, chảy vào tất cả mọi ngóc ngách như những chiếc vòi bạch tuộc trắng nhợt, đùng đục hoặc vàng nhạt, toả mùi khét lẹt làm bất cứ ai ngửi phải cũng ho sặc sụa. Mấy mẹ con bà Lý không chịu được khói, tìm cách phá cửa buồng, nhưng bộ cánh bằng lim lõi, lắp bản lề ngược, lại khoá ngoài thành ra cứ trơ trơ chẳng suy suyển gì. Tiếng gào của họ bị chìm trong tiếng súng liên thanh cùng với tiếng lửa réo của hàng trăm ngôi nhà đang cháy tạo thành thứ tiếng động hỗn tạp, có lúc ù ù như xay lúa, có lúc lại đùng đoàng như sấm tháng tư. Xét đến cùng, trong cơn khổ nạn này, không một người dân lương thiện nào ở làng Cùa còn đủ tâm trí lo cho tính mạng người khác ngoài bản thân mình. Vợ con lý Quỳnh chết vì khói trước khi sức lửa giải phóng cánh cửa gỗ lim. Họ ngồi bên nhau theo đủ các tư thế. Tất cả các gương mặt nạn nhân đều xám ngoét vì tức thở, cặp mắt mở trừng trừng thảng thốt trong nỗi kinh hoàng tột đỉnh.
 
Mấy anh em trương Kiệm xóm Cầu Đá, lúc nhà mới bén lửa còn gọi nhau múc nước giếng Bụt té lên. Sau lửa cháy rát quá không ăn thua đành phải bỏ. Lửa ba bề bốn bên, nóng như lò bát quái. Ngoài đường súng nổ lẹt đẹt lúc thưa lúc nhặt. Đàn bà, trẻ con chạy quáng quàng như kiến bò trong chảo, chỗ nào cũng gặp lửa. Cái giếng đã cạn. Chẳng ai bảo ai đều tranh nhau nhảy xuống, chỉ một loáng đã chật cứng người. Giếng hẹp và sâu hơn hai mét, chung quanh ghép đá ong gần như thẳng đứng, cầu múc nước lại hẹp, đông người xô đẩy chen chúc, ai cũng muốn có chỗ của mình, thành thử một số đứa trẻ bị ngạt thở. Tình trạng lộn xộn đến mức, người khoẻ dẫm lên đầu người yếu, hy vọng kiếm chút không khí trong lành. Trên cao, khói cháy nhà vẫn chảy cuồn cuộn, lúc này tựa như không phải lửa sinh ra mà là từ dưới đất chui lên. Nhưng đụn khói dày đặc nóng bỏng với đủ các hình thù kỳ dị bò vào miệng giếng như một con quái vật có khả năng biến hình, phút chốc mọc ra hàng trăm cánh tay chộp lấy mấy chục nạn nhân đang ngắc ngoải bởi không còn dưỡng khí.
 
*
Quân Nhật rút đi, Lý trưởng Ngô Quỳnh tập hợp đám trương tuần cùng cánh tá điền bắt đầu tìm kiếm, thu lượm các xác chết, Đã cuối tháng chín nhưng trời vẫn còn nắng gắt. Khắp nơi đâu đâu cũng bốc mùi lợm giọng bởi làng Cùa hầu như đã thành một bãi tha ma. Phó tổng Lê Bang, sau hôm trốn sang Mạc Điền giờ mới dám về, Ông ta điều từ làng Đậu, làng Bối Khê gần sáu chục dân phu sang giúp lý Quỳnh. Luỹ tre dày quanh làng vẫn còn nguyên vẹn nhưng toàn cảnh bên trong thực sự là một bãi chiến trường. Không ai có thể đếm chính xác được thi thể các đội viên áo Đen cũng như dân làng Cùa trừ bọn lính Nhật tử thương đã được tên quan hai ra lệnh mang đi. Bà con chết cháy hoặc bị đạn lạc nhiều vô kể. Những người bị cháy thân hình biến dạng đến mức khó có thể nhận ra. Cánh phu đòn, cứ hai người một, khênh họ ra nghĩa địa trên những chiếc võng đay. Trời bỗng chuyển gió tây nam, mùi xú uế bốc lên nồng nặc. Nhiều người cởi áo làm khăn quấn ngang miệng để đỡ nôn oẹ. Các nạn nhân bị đạn hoặc kiếm Nhật chém phải, qua một ngày một đêm đã trương phềnh, nằm thẳng đuỗn trên võng. Theo nhịp bước người khênh, một thứ nước vàng rất khó ngửi, cứ nhỏ giọt đều đều trên đường từ làng ra bãi tha ma. Sau cơn hoả hoạn, người ta không thể kiếm được áo quan cho những người xấu số. Ngay cả chiếu cói cũng chỉ còn hơn chục chiếc. Những ngôi mộ phần lớn nông choèn được lấp một cách vội vàng, không bát cơm quả trứng và không một nén nhang. Anh em dân phu làm thật nhanh để còn về làng đi chuyến khác. Đêm hôm ấy làng Cùa hoàn toàn yên ắng thậm chí không có cả tiếng gà gáy nhưng ngoài bãi tha ma thì lại vô cùng nhộn nhịp bởi những tiếng gầm gừ của lũ chó hoang. Vùng Ba Tổng xưa nay nổi tiếng lắm chó hoang. Chúng cư ngụ ở miễu cò Đài Sơn bên Mạc Điền, số khác tụ tập hàng đàn hàng lũ trong rừng Hóp, đánh hơi thấy mùi tử khí liền kéo nhau đến làm cuộc đào bới trên quy mô lớn ở nghĩa địa đồng Chó Đá. Những ngôi mộ mới chôn san sát chẳng theo hàng lối nào nổi lên thành một vùng trắng bệch dưới ánh trăng hạ tuần lãnh lẽo. Những con chó hoang chân dài, mõm nhọn như mõm cầy xạ, không khó khăn gì trong việc lôi xác chết ra khỏi các ngôi mộ chôn cất sơ sài. Một con chó già rụng sạch lông đầu, hai tai dỏng cao như tai thỏ vớ được chiếc cẳng chân của một đứa trẻ văng ra sau cuộc ẩu đả của hai con chó đốm choai choai. Nó cố sức kéo lê miếng mồi ra xa để tránh bị cướp giật rồi nằm xuống bắt đầu gặm. Ngôi mộ chánh tổng Cao Lộng bị cả một bầy vằn vện khai quật bằng cách dùng hai chân trước ra sức bới đất. Chỉ sau vài phút, cái xác đã lộ ra. Chúng chẳng khách sáo gì, nhất loạt lao vào cắn xé bằng những hàm răng trắng nhởn, nhọn hoắt sắc như dao cạo. Một con nhay đứt gân cánh tay, tha được đến chỗ con chó già lập tức bị con lông xám mõm ngắn nhưng rất dữ tợn nhe nanh ra cướp mất. Thế là một cuộc ẩu đả đẫm  máu hoàn toàn mang phong cách của loài khuyển bắt đầu. Chúng tạm thời bỏ xác chết, lao vào nhau trong cơn kích động cuồng loạn của những kẻ khát máu. Bãi Chó Đá rộ lên những âm thanh gầm gừ phát ra từ cổ họng của những con chó hoang hiếu chiến, tiếp theo là hàng loạt tiếng sủa chói tai, nghe âm âm như tiếng vọng của lũ chó ngao gầm thét dưới cầu Nại Hà hau háu chờ những tội nhân bị ngã xuống dòng Âm Phủ. Gã chó xám đã rút khỏi cuộc ẩu đả, tha khúc ruột dài lòng thòng moi được từ ngôi mộ chung nhà Trương Dật, chợt nhìn thấy vành trăng khuyết, đỏ như máu, vội bỏ mồi nghếch mõm tru lên mấy tiếng nghe như tiếng loài sói gọi đàn rồi mới tiếp tục thưởng thức món ăn vừa kiếm được.
 
Lũ quạ đánh hơi người chết rất sớm nhưng chúng chỉ dám chờn vờn bên ngoài vì sợ bọn chó hoang. Nhưng cũng có con đói quá, liều mạng nhảy vào mổ những miếng thịt rơi vãi trên mặt đất sau những trận hỗn chiến của lũ bốn chân. Cũng như bầy chó hoang dưới đất, loài chim chuyên ăn xác chết từ khắp nơi kéo về, bay loạn xạ trên trời, nháo nhác gọi nhau chuẩn bị cho một đêm dạ tiệc. Những con quạ đen thui vô cùng tinh ranh đập cánh loang loáng dưới ánh trăng đã bắt đầu bợt bạt vì trời sắp sáng. Chúng lượn lờ vài đường rồi bất ngờ cụp cánh rơi xuống như mọt viên đạn đại bác, quắp vội được miếng gì đó rồi lại lao vút lên theo hình vòng cung. Con chó xám mõm ngắn vừa nhai khúc lòng vừa gầm gừ xua đuổi đồng bọn, nhưng không ngờ kẻ trộm lại là lũ quạ lắm điều trên cao. Nó vừa nhả mồi sủa mấy tiếng cảnh cáo hai con chó gíe có cái đầu tròn ung ủng như chiếc gáo dừa thì một con quạ khoang to đùng, cái mỏ bè ra như hai gọng kìm sà xuống nẫng gọn phần còn lại của bộ lòng bay lên. Con chó xám tức lắm, tung hai chân trước làm một cú nhảy khá cao, sủa váng lên. Nhưng con quạ đã thoát hiểm, bóng của nó cùng với miếng mồi vẽ thành một vệt loằng ngoằng ngay chỗ con chó ngồi. Lúc này hẳn đã no nê, lũ chó tha những khúc xương ống chân ống tay vứt lung tung khắp nơi trên bãi tha ma, nô giỡn một lúc rồi mới tản mát về sào huyệt. Bây giờ mới thực sự là dạ yến của bọn quạ. Hầu như không còn con nào ngó nghiêng trên trời. Tất cả lũ chúng, cả quạ đen lẫn quạ khoang đều đủ mặt. Chúng nhảy lò cò, túm năm tụm ba háo hức tận hưởng thứ thịt người vung vãi khắp nơi mà lũ chó hoang bỏ lại. Đàn quạ đông đến mức gần như thứ màu đen xỉn bẩn thỉu của chúng phủ kín toàn bộ khu mả mới. Quạ là loài chim vốn lắm điều nhưng lúc này nghĩa địa lại hoàn toàn yên lặng. Nguồn thức ăn khá dồi dào. Trời vẫn còn mờ tối, con người vẫn chưa thể phát hiện ra lũ ăn cắp xác chết. Trăng lạnh và sương đang thấm ướt cỏ cây. Một đêm hiếm hoi ngàn năm có một như thế, việc gì phải bắt chước lũ chó cãi nhau giành mồi.
 
Khi những tia nắng đầu tiên rọi xuống đồng Chó Đá thì khung cảnh bãi tha ma hiện lên với tất cả sự rùng rợn của nó. Hầu như các ngôi mả đều bị đào bới bằng cùng một thứ công cụ là mõm và chân nhưng cái cách hành hạ xác chết thì lại không hoàn toàn giống nhau. Có xác mất hai tay hoặc một cẳng chân. Một vài xác bị khoét mắt, moi bụng hoặc bóc mất mảng ngực. Người nằm ngang, kẻ nằm dọc theo một thứ trật tự vô cùng hỗn độn. Lúc này vẫn còn hàng trăm con quạ đang mải mê rỉa thịt trên những khúc xương ống hoặc xương sườn đã bị hàm răng chó hoang cắt rời khỏi các xác chết. Chỉ đến khi toán dân phu đầu tiên chuyển tiếp những nạn nhân mới tìm thấy hồi đêm trong những đống đổ nát ra an táng thì chúng mới chịu bay lên. Lũ quạ vùng Ba Tổng thuộc loại lỳ lợm. Chúng lượn vài vòng quan sát thái độ của đám tuần đinh rồi lần lượt đáp xuống cách đấy không xa, chờ họ đi khuất lại tiếp tục bữa điểm tâm.
 
Nhìn cảnh hỗn loạn nơi nghĩa địa sau một đêm mất cảnh giác, Ngô Quỳnh tức lắm. Ông ta huy động toàn bộ trai tráng ra chôn cất lại những ngôi mộ đã bị chó đào lên và cắt cử đám tuần đinh mang giáo mác gậy gộc và cả súng kíp ra canh đêm, sẵn sàng chiến đấu với chó hoang và quạ. Lũ quạ từ bên kia sông Lăng kéo sang, bị chậm chân không được thưởng thức món thịt người, lúc này bay vù vù trên cao. Chúng kêu "quạ quạ" đinh tai nhức óc, bảo nhau đồng loạt ỉa xuống đám phu đòn đang lấp đất trên các ngôi mộ. Hai Doạc tức mình nổ một phát đạn ghém. Hai con chết tại chỗ. Một con bị thương, loạng choạng cố bay theo đàn như chỉ được một đoạn cũng rơi xuống ruộng lúa.
 
2
 
 
Mẹ con bà Hai dắt díu nhau về làng Nội chưa đầy nửa năm thì cụ khán Đản qua đời.
Cụ Khán không có con trai, làm di chúc giao mảnh vườn hơn bốn sào với ngôi nhà tranh ba gian cho bà Thoả, nhưng trưởng họ Phùng là phó lý Tài không nghe, lấy cớ đàn bà xuất giá hưởng lộc nhà chồng rồi nên quyết định giành phần thừa kế cho con trai mình. Được tin, lái Lự từ làng Bòng bổ sang gặp phó lý Tài:
- Sao ông Phó cạn tàu ráo máng thế ? Có chuyện gì thì cái nhà này cũng là hương hoả cụ Khán để lại chứ đâu phải mồ hôi nước mắt của ông.
Phó Tài vốn hách dịch không chịu được cách ăn nói của lão lái trâu hợm của, tức mình quát:
- Đây là việc riêng của họ Phùng việc đếch gì đến ông mà chõ mồm vào .
- Cướp trắng gia sản rồi đuổi mẹ con bà cháu người ta ra khỏi nhà mà bảo là việc riêng, nói như cứt ấy.
- A ! Ông định đến gây sự đấy hả ? Nếu thích thì rước mẹ con nhà nó về mà nuôi. Còn nói lôi thôi nữa tôi sai tuần đinh nó gô cổ, đừng có trách.
Lái Lự mặt vẫn tỉnh bơ, giọng khiêu khích:
- Đấy là ông phó lý Tài nói đấy nhé. Nếu tôi đón mẹ con bà ấy về thật thì sao ?
Ông trưởng họ Phùng càng thách già:
- Rước được những của nợ ấy đi thì họ Phùng mang ơn ông lắm đấy.
- Lời nói suông không tin được. Phải có bằng chứng.
Phó Tài đang muốn tống mẹ con bà Hai ra khỏi nhà càng nhanh càng tốt nên thuận miệng bảo:
- Tôi viết cho ông một cái văn tự là được chứ gì ?
- Phải - Lái Lự gật đầu mỉa mai -Để đề phòng sau này có kẻ lật lọng.
- Ông đừng có cạnh khoé.
- Là tôi nói thế thôi.
ít phút sau, khi đã cầm "văn tự" trong tay, lái Lự rút trong túi ra tờ giấy xoè trước mặt phó Lý Tài:
- Ông nhìn cho rõ: Đây là văn tự vay tiền của cậu nhà, hẹn trong một tháng sẽ trả, lãi năm phân. Bây giờ đã quá mười ngày, gia hạn mười ngày nữa, nếu không hoàn cả vốn lẫn lãi, bắt buộc tôi phải trình quan.
Phó lý Tài mặt xám lại khi nhìn thấy số tiền ghi trong văn tự.
- Chết thật, nó vay làm gì mà nhiều thế ?
- Chắc là lại trò đỏ đen. -  Lái Lự thủng thẳng bảo.
- Mà tại sao nó lại sang tận làng Bòng vay tiền ? - Phó Tài lườm lão lái trâu, giọng hậm hực - Ông cả tin thế thì có chuyến mất cả chì lẫn chài.
- Từ trước đến nay chưa bao giờ tôi cho những kẻ cha căng chú kiết vay tiền nếu không có sự bảo lãnh của các bậc huynh trưởng. Có phải ông với ông phó hội Long là anh em con cô con cậu?
- Phải, thì sao ?
- Chính ông ấy dẫn cậu Mạc đến.
- Thế này thì nó giết tôi rồi. Dù sao tôi cũng là phó lý đương nhiệm.
Lái Lự cười khẩy:
- Đời vốn công bằng chẳng cho ai không cái gì đâu ông ạ.
 
ra lái Lự và bà hai Thoả chẳng lạ gì nhau mặc dù gần hai chục năm làm như không hề quen biết. Thuở nhỏ, lái Lự được bố mẹ cho sang kẻ Nội vừa học chữ Nho vừa học nghề nặn tò he với ông phó Đễ. Tuy chỉ cách một hàng rào nhưng hai nhà vốn có nhiều hiềm khích từ lâu nên không qua lại chơi bời với nhau. Ông phó Đễ vừa là cậu họ vừa là thầy dạy nghề, máu rượu mà lại nóng tính, lơ mơ là quất ngay nên cậu Lự nhiều khi bị đòn oan. Nặn tò he là cái nghề đòi hỏi sự nhẫn nại và tỉ mỉ, thêm chút khéo tay nữa nên rất không hợp với sở trường của chàng học việc. Một lần Lự làm hỏng mẻ bột do pha phẩm màu sai liều lượng. Phó Đễ chẳng nể nang gì vớ ngay chiếc roi mây vẫn giắt trên mái nhà vụt túi bụi vào lưng thằng cháu. Chàng phó nhỏ vừa khóc vừa lạy van rối rít. Đúng lúc ấy, cô hàng xóm tóc ngắn cũn cỡn, buộc túm lại bằng sợi dây chuối, kín đáo nhìn qua khe rào, nhe chiếc răng khểnh ra tủm tỉm cười. Lự ngượng lắm. Ngay chiều hôm ấy, chàng ta trốn về kẻ Bòng, thề rằng chẳng bao giờ thèm dính đến cái nghề nặn đồ chơi trẻ con nữa. Có điều ông bố không phải là người dễ dàng thay đổi quan điểm bởi những ý nghĩ nhất thời hồ đồ của cậu con trai. Kết quả Lự lại được lĩnh thêm hơn chục hèo mây để rồi sáng hôm sau bị ông trương Thao áp giải sang làng Nội.
 
Như vậy là trên đời có rất nhiều người phải làm cái nghề mà họ hoàn toàn không muốn, cũng như trong chuyện trăm năm, phải lấy một người mà họ hoàn toàn không yêu. Đeo đẳng cái nghiệp xanh đỏ tím vàng đến năm thứ hai thì Lự được ông chủ cho gánh hàng ra chợ vừa bán vừa nặn các con giống tại chỗ theo yêu cầu của các cô cậu tí nhau. Tháng vài phiên chàng tò he gặp cô láng giềng ra chợ mua voi giấy ngựa giấy hoặc vàng mã về cho ông bố lập đàn làm phép trừ ma. Ông khán Đản làm nghề phù thuỷ. Trong nhà có một điện thờ. Lự chưa bao giờ dám bước chân sang nhà cô Thoả. Cứ vào tuần rằm mồng một là nhà ông Khán hương khói nghi ngút, từ xa đã nghe tiếng chập cheng. Vợ ông Khán là bà Huần sinh được mỗi cô Thoả, bảy năm sau thì chết vì thứ bệnh kỳ lạ. Dịp ấy vào rằm tháng bẩy bà ta đi chợ về, tự nhiên leo tót lên bàn thờ, ngồi chễm chệ trên ngai rồi lảm nhảm bảo:
- Ta là đức Thánh Mẫu ở đền Sòng bị lão khán Đản dùng yêu thuật nhốt vào khám sắt từ ba năm trước, giờ được chúa Liễu Hạnh giải thoát, về hỏi tội cả nhà ngươi đây.
 
Nói xong bà Khán hộc máu tươi, chảy ròng ròng xuống ngai rồi ngã vật xuống bất tỉnh. Ông Khán sợ quá vội mời lang Tễu đến xem mạch bốc thuốc nhưng mạch của bà Huần lúc trầm lúc phù, lúc nhanh lúc chậm không thể đoán ra bệnh gì đành cắt cho mấy chén an thần rồi cáo lui. Được ba ngày thì bà Khán qua đời. Từ đấy người kẻ Nội có ý kiềng gia đình khán Đản. Mấy năm sau ông Khán tục huyền. Bà vợ kế là dân làng Vẽ vừa hoang toàng vừa lẳng lơ, trẻ hơn chồng gần chục tuổi nên được chiều hết mức. Mọi công việc nhà ông Khán đều giao cho vợ kế trông nom. Bà ta được thể càng lấn lướt chồng, đối xử rất cay nghiệt với con bà cả. Những dịp ông Khán được tín chủ nơi xa mời đi cúng bái, bà ta lập tức đóng bộ biến khỏi nhà, phớt lờ cô con chồng lúc này đã đến tuổi hiểu sự đời. Thì ra bà ta phải lòng tay thợ mộc chuyên đóng quan tài ở phố Nhài. Chuyện ấy cuối cùng cũng đến tai khán Đản. Ông muốn có đứa con trai nên đành phải nhịn nhục. Nhưng sự chịu đựng cũng chỉ có giới hạn. Trò đời già néo đứt dây. Khuyên bảo nhiều lần chứng nào vẫn tật ấy, cuối cùng thầy phù thuỷ phải dùng hạ sách. Vào một đêm tối trời, khán Đản vào điện thắp hương, tung đồng tiền xin âm dương rồi mang đạo bùa ra chôn ở cổng, ngay cạnh con chó đá. Ba hôm sau, vào lúc quá Ngọ, bà vợ kế đến xưởng quan tài túm áo nhân tình dắt đi như dắt trâu. Gã thợ mộc chẳng biết chuyện gì xảy ra nhưng thấy thái độ của người đàn bà như bị ma ám thì sợ quá, định chạy nhưng không dứt ra được. Bàn tay bà ta lúc này như có nhựa dính còn cặp mắt trợn ngược toàn lòng trắng như là mắt của kẻ ăn phải bả độc trong cơn hấp hối. Đến bờ sông thì hai người hầu như đã cùng trong một tâm trạng thật sự phấn khích khi nhìn thấy dòng nước đục ngầu cuồn cuộn chảy. Bà vợ kế ông Khán cười sằng sặc, chỉ tay xuống đám bọt sóng bảo:
- Mình thấy nước sông hôm nay có trong không ?
Gã thợ mộc gật đầu:
- Trong vắt. Bây giờ mà được tắm một cái thì tốt quá.
- Thế thì còn chờ gì nữa. Tôi với mình nhảy xuống bơi đi.
- Nhưng mà tôi không biết bơi. - Tay thợ đóng hòm người chết thoáng chút lo lắng.
- Đừng ngại. - Người đàn bà vẫn nắm chặt ống tay áo nhân ngãi cười sằng sặc - Tôi vốn là con gái vua Thuỷ Tề, tôi sẽ giúp mình. Nào, nhảy đi.
Cả hai gần như đồng thời nhún mình nhảy xuống dòng nước xiết. Đây là bờ bên lở, sóng dữ khoét vào chân đê thành những vệt sâu hoắm. Chỉ trong nháy mắt, cặp tình nhân đã mất hút giữa một vực xoáy cùng với tiếng réo ùng ục như nồi ba mươi luộc bánh chưng đang sôi.
 
Nhà có hai người đàn bà bất đắc kỳ tử nên việc gả chồng cho con gái của ông khán Đản vô cùng khó khăn. Người kẻ Nội sợ cái vía phù thuỷ nhập vào nhà sẽ táng gia bại sản nên tuy vẫn kính trọng ông Khán như trước nhưng rước cô con gái về làm dâu thì hoàn toàn không thể. Đã thế nhà phó Đễ với ông Khán lại có chuyện bất hoà. Ông Đễ tính nhỏ nhen, có máu tham, thấy cái lợi bằng hạt thóc cũng vơ vào mà chẳng nghĩ đến chuyện ăn ở lâu dài với hàng xóm láng giềng. Chuyện bắt đầu từ cái bờ rào. Ông Khán vốn nghiện chè xanh nên đã trồng một hàng ở phần đất của mình. Chè lên xanh tốt, Phó Đễ cứ thản nhiên hái uống mà chẳng cần nói với hàng xóm một lời. Chẳng những thế ông ta còn dùng cuốc bàn vạc đất dưới hàng rào, thành ra cây chè cứ teo tóp dần, cuối cùng ông Khán phải phá đi thay vào bằng hàng găng. Ông Đễ liền trồng sát hàng găng một dãy xoan. Cái thứ sương soan và chất độc ở rễ tiết ra phá hỏng toàn bộ đất vườn. Nói mãi không được, ông Khán nhờ hai thằng cháu trèo lên phát cành. Thế là ông thợ tò he nhảy sang gây sự. Chuyện bé xé ra to, sau phải đến phó lý Tài đứng ra xử kiện. Phó Đễ mắc tội lấn chiếm đất, trồng soan giữa cõi trái với hương ước, bị làng phạt vạ. Bắt buộc phải  nộp phạt nhưng phó Đễ không phục. Ông ta bảo phó lý Tài là cháu họ ông Khán nên cánh chức dịch thiên vị. Từ đấy hai nhà kiềng mặt nhau.
 
Thời gian qua đi. Lúc Lự nhập môn nặn tò he thì cô Thoả đã đến tuổi trăng tròn. Chỉ sau vài phiên chợ, anh chàng môn sinh của ông phó Đễ đã phải lòng cô hàng xóm. Hai người quyến luyến nhau lắm. Những hôm không có chợ Đình thế nào Lự cũng giả vờ ra hàng rào làm việc gì đó để nhìn cô bạn gái. Thoả biết ý, thường đứng nép vào giữa hai cây chuối góc vườn, hễ thấy bóng anh chàng thì nhô đầu ra. Việc thậm thụt giữa hai người không qua mặt được vợ chồng phó Đễ. Ông ta gọi thằng cháu vào nhà lên giọng cha chú:
- Lão ấy hành nghề phù thuỷ đã chết hai đời vợ, lại không có con trai vì làm nhiều việc tổn âm đức. Tao cấm mày đi lại với con bé ấy.
Lự thấy thái độ của ông cậu có vẻ xuất phát từ sự hiềm khích dai dẳng do lòng đố kỵ và thói tham lam vô lối gây ra nên mới bảo:
- Cháu thấy nhà ông Khán đối xử với xóm làng có đến nỗi nào, sao mà cậu cố chấp thế ?
Ông cậu mặt vẫn hầm hầm, giọng nặng chịch:
- Như vậy là mày vẫn muốn lấy con bé ấy ?
- Là cháu nói thế chứ đã có chuyện gì đâu mà cậu đã nổi xung lên.
- Vậy thì hãy tránh xa nó ra. Con bé ấy chỉ có lấy chồng thiên hạ. Trai làng này không đứa nào dám rước.
- Vì sao hả cậu ?
- Lại còn phải hỏi. - Phó Đễ gắt - Nó nặng căn số vì lão khán Đản là người dương gian nhưng lại làm việc âm phủ.
 
Nhưng rồi hai người vẫn lén lút gặp nhau ngoài chợ. Một lần phó Đễ bí mật đi theo bắt được liền sang kẻ Bòng báo cho ông anh họ. Ông Thao lập tức lôi con trai về không cho học nghề to he nữa, ít lâu sau bắt lấy vợ. Vợ Lự là con ông Ba Toa người làng Bối Khê. Ông Ba Toa với ông trương Thao cùng là dân buôn trâu, biết nhau quá rõ, thật là môn đăng hộ đối. Trước khi cưới vợ cho Lự, ông Thao bảo:
- Cái nghề buôn trâu hay bị thiên hạ nó chửi. Bố muốn đến đời mày không phải mang tiếng là phường lừa đảo nên mới cho đi học nặn tò he. Nhưng cậu Đễ bảo tay nghề chưa đâu vào đâu đã phải lòng gái, mà con bé ấy lại là dòng giống phù thuỷ. Thôi không kén cá chọn canh nữa, cưới xong theo tao vài chuyến cho nó quen đi.
 
Lự vốn chẳng ưa gì công việc vỗ mông trâu của ông thân sinh, lắc đầu quầy quậy:
- Con không đi buôn trâu, thà làm nghề đánh giậm còn hơn.
Ông Trương cười nhạt:
- ở đời chẳng có nghề gì cao quý và thấp hèn, mà cao quý hay thấp hèn là ở cung cách làm ăn, anh hiểu chưa ? Nếu là người lương thiện thì chẳng việc gì phải ngại nghề buôn trâu. Làm vua mà bụng dạ tiểu nhân thì cũng chẳng khác gì phường lừa đảo. Chỉ sợ sau này dính vào rồi anh bám dai như đỉa, không muốn đổi nghề nữa.
- Nhưng con thấy nó thế nào ấy ?
- Cưới vợ rồi anh định làm gì nuôi nó ? Hay là vẫn ăn bám bố mẹ ?
- Đấy là bố mẹ bắt cưới đấy chứ ?
- Mày đừng có láo - Ông trương Thao quắc mắt - Vợ chồng là đạo nhân luân, đã làm người thì phải có trách nhiệm với tổ tông. Không nghe tao thì bước khỏi nhà.
Vợ Lự là người đàn bà khoẻ mạnh, hiền lành nhưng trời chỉ cho hai người được mỗi mụn con gái rồi không đẻ nữa. Thị Lánh thuở bé được bố mẹ quý như vàng, càng lớn càng xinh đẹp. Hành nghề vài năm, đến lúc ông trương Thao quy tiên, Lái lự đã có một số vốn kha khá. Quả như ông bố dự đoán, những món  lãi đáng kể sau mỗi chuyến làm ăn đã biến chàng trai chất phác kẻ Bòng thành gã buôn trâu giầu thủ đoạn trên thương trường. Trong vòng hơn chục năm,  lái Lự thông thạo tất cả mọi đường ngang ngõ dọc ở phủ Đông Giàng. Có lần lão còn lên tận vùng Lạng Giang thăm mối hàng. Mọi việc đồng áng ở nhà đều do bà vợ cáng đáng. Năm Thị Lánh mười sáu, bà mẹ đi chợ Lành về, trúng gió độc sinh cảm hàn rồi bị liệt nửa người, chỉ nằm mà không ngồi dậy được, hai năm sau thì chết. Từ đấy Lái Lự sống độc thân tuy mới xấp xỉ tứ tuần.
 
Nghề buôn trâu vào những năm tao loạn chẳng kiếm được là bao. Sẵn có vốn trong tay lái Lự chuyển sang buôn gạo và hàng tạp hoá. Tuy đã mấy lần lên voi xuống chó, có bận phát tán gần hết cơ nghiệp nhưng vốn khôn ngoan lọc lõi và giỏi kinh doanh, gần đây lão đã trở thành người có máu mặt nhất ở kẻ Bòng. Tận nơi sâu thẳm nhất trong tâm hồn, nhất là những lúc cô đơn, lái Lự vẫn còn một khoảng giành cho người con gái năm xưa. Từ khi Khúc Đàm chết, con gái trốn khỏi làng Cùa, lái Lự không dám sang sông nhưng vẫn theo dõi số phận mẹ con bà Hai. Những tưởng hai người không bao giờ gặp lại nhau và mối tình cuồng dại năm xưa chỉ còn là một kỷ niệm buồn, chẳng ngờ gần đây mẹ con bà ấy lại kéo nhau về quê ngoại.
 
Sau hôm giỗ đầu cụ Khán, lái Lự nhào bột nếp, nhuộm phẩm nặn một rổ con giống tò he mang sang làng Nội cho lũ cháu bà Hai. Thằng Khải và thằng Nghiên thích lắm, đòi theo về kẻ Bòng để ông Lái dạy nặn Quan Vân Trường cầm Thanh Long đao cưỡi ngựa Xích Thố và Tôn hành Giả vác gậy như ý đánh Bạch Cốt Tinh. Lái Lự bảo :
- Được rồi, nhưng ông muốn bà và mẹ các cháu về bên ấy luôn thể. ý mẹ con bà thế nào ?
Bà hai đã nghe lái Lự nói đi nói lại chuyện này nhưng vẫn còn dùng dằng chưa quyết :
- Tôi cứ thấy nó thế nào ấy. Thời trẻ chẳng ở được với nhau, giờ hai thứ tóc lại về bên ấy, làng nước người ta bảo già còn theo trai.
- Đấy là lỗi ở tôi. - Lái Lự chợt lặng đi một lúc rồi mới nói tiếp bằng giọng quả quyết -Bây giờ tôi một thân một mình, buồn lắm, mong mẹ con bà cháu sang cho vui cửa vui nhà trước khi nhắm mắt về với tổ tiên.
- Giá ngày ấy ông cứng cáp lên một tí thì bây giờ đâu đến nỗi.
- Chuyện cũ qua rồi, nhắc lại làm gì … Lái Lự thở dài khẽ bảo - Bà không thương tôi sao ?
-Nhưng còn mẹ con nó ?
- Tôi coi chúng như con cháu. - Lái Lự ngước nhìn hai thằng con Khúc Thị Hài đang vặt những quả chuối tò he đưa lên miệng nhấm nháp cho dù chúng đã bảy tám tuổi, mỉm cười bảo - Gì thì gì, tôi với gia đình bên ấy vẫn là chỗ thông gia, có điều con Lánh ăn ở chẳng ra gì, làm mất mặt cả họ.
 
Bà Hai có vẻ chưa xuôi :
- Ông cứ để tôi tính xem sao đã. Chuyện này còn có chỗ không thuận.
Lái Lự là người có tính kiên nhẫn mà vẫn phải gắt lên trước thái độ lừng chừng của bà Thoả :
- Bà nghĩ xem, từ hồi cụ Khán mất, họ Phùng đối xử với mẹ con bà như thế nào, nhất  là tay phó lý Tài. Trước sau rồi chúng nó cũng cướp trắng cơ ngơi này, đuổi mẹ con chị Hài ra khỏi làng một khi bà nằm xuống. Hãy nghe tôi, về kẻ Bòng.
- Nhưng còn ông cụ bà cụ, tôi bỏ đi ai hương khói ?
- Con cái ở đâu bố mẹ ở đấy ! Họ hàng nhà bà toàn một lũ đểu, tham ăn như chó đói. Chúng muốn là muốn mảnh đất này chứ đâu phải có lòng hiếu đễ. Theo tôi, ta nên rước các cụ sang bên ấy. Hằng năm tôi sẽ đưa bà với mẹ con con Hài về tảo mộ.
 
Đầu tháng mười, bà Hai và mẹ con Khúc Thị Hài theo lái Lự về kẻ Bòng. Năm ấy trời rét sớm. Gió bắc rít từng cơn quần đảo điên loạn trên những thửa ruộng đã cày ải phơi màu vàng sậm. Đây đó những mô rạ chưa kịp chuyển về làng, bị những trận cuồng phong giận dữ cuốn lên cao, xé tung ra, đẩy giạt về phía cồn Vành tạo thành một khối hỗn độn mù mịt thứ bụi trắng đục như bột phấn. Đi giữa cồn Vành có thể nghe rõ tiếng gió đập vào những tàu lá chuối phành phạch như là tiếng quạt mo của lão vệ Hạch bợm rượu vào một đêm bức bối đã chót quá chén. Những tàu lá chuối cách đấy ít lâu còn xanh mướt như ngọc tuyền thuỷ giờ xác xơ, bầm dập. Chỉ còn có cỏ là xanh, cỏ mần trầu, cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ chân chim vẫn mơn mởn trên đất phù sa. Phải tìm đến khu gò cao, dọc theo cánh bãi trồng ngô mới gặp vài đám cỏ mật. Trẻ trâu chỉ cần một một cụm bỏ vào túi, khi cỏ héo đi chính là lúc hương thơm và mật ngọt toả ra ngào ngạt, vài ngày sau vẫn còn phảng phất vị nồng nàn, quyến rũ của đồng quê. Cồn Vành lúc này vắng bóng hoàn toàn lũ chim nước. Từ cuối tháng chín chúng đã bay về phương nam tránh rét. Thỉnh thoảng còn lại vài con sáo đen, chèo bẻo hoặc sẻ đồng vốn đã quen với cái lạnh cắt da cắt thịt của những ngày mưa phùn, gió bấc. Lũ sáo đen mỏ ngà cứ tầm trưa khi nắng hửng lên một lúc là chạy lui cui giữa những vồng ngô non mổ cào cào châu chấu. Chèo bẻo thì luôn luôn bám sát đàn trâu, nhảy thoăn thoắt trên lưng trên cổ chúng mà bắt rận. Bọn trẻ đôi khi tết thòng lọng bằng lông đuôi trâu hoặc dùng nhựa dính được vài con.Chèo bẻo bé tí tẹo có cái mỏ ngắn chân mảnh như que tăm nhưng tiếng hót cực kỳ hấp dẫn nhất là lúc bay chấp chới trên cao. Sẻ đồng chẳng biết rét là gì, tụ tập hàng đàn trên những ruộng kê vừa thu hoạch nhặt những hạt rơi vãi. Mỗi khi chúng bay lên, cánh đập ràn rạt ào qua như một đám mây. Thấp thoáng dưới ruộng đỗ, ruộng vừng là lũ chim xanh từ mãi vùng Yên Hưng bay về. Chúng to bằng cỡ chim cu và cũng như chim cu có cái cổ cườm óng ánh tuyệt đẹp nhưng không biết hót. Mỗi khi gọi nhau cổ họng chúng chỉ phát ra những tiếng "tích tích" rồi lại "tà tà" như là hiệu thính viên gõ cần ma níp. Làng Bòng có những thợ săn vô công rồi nghề chuyên dùng lưới bẫy những chú chim xinh đẹp này về băm viên nướng chả nhắm rượu. Nhưng loài chim xanh vô cùng tinh khôn. Chúng ít khi bị mắc lừa bọn sát thủ ngay cả khi có chim mồi. Có thể xem đây là loài chim không bao giờ phản bạn cho dù sắp phải lên "đoạn đầu đài". Chuyện xảy ra với lão Chi méo cách đây ít lâu. Chẳng biết bằng cách nào, hôm ấy Chi méo bẫy được một mẻ tám con. Lão nhắm rượu sáu, còn để lại hai làm chim mồi. Lão tin chắc, không chóng thì chày, thế nào cũng bắt đến con chim xanh cuối cùng một khi trong  tay đã có "át chủ bài". Lưới được giăng ra và nguỵ trang bằng những cành móc lá còn xanh khéo đến mức ngay cả con người cũng khó phát hiện được. Đôi chim mồi bị buộc dây vào chân cứ nhảy nhót liên tục như đang mổ thóc ăn. Chừng nửa buổi thì đàn chim xanh khoảng vài chục con từ phía núi Phượng Hoàng bay về. Chúng lượn vài vòng rồi từ từ đáp xuống. Đúng vào lúc ấy con chim mồi gáy lên mấy tiếng "tích tích tà tà". Chẳng  hiểu tiếng hót ấy bao hàm tín hiệu gì mà cả bầy chim vừa sắp tiếp đất lại cuống cuồng bay vút lên, chỉ một thoáng đã mất hút vào dãy núi xa mờ. Những lần sau Chi Méo đặt bẫy sự việc cũng diễn ra y hệt như thế. Lão tức lắm, vặn cổ đôi chim rồi vác lưới thất thểu về làng.
 
Vào lúc chiều tối, tuy rét mướt nhưng thỉnh thoảng vẫn gặp những con cò già lẻ loi kiếm ăn dưới chân rộc còn sót lại sau mùa lũ chưa kịp khô hết nước. Chúng sục mỏ  xuống bùn bắt đám tôm rảo, tép gạo hoặc cá đòng đong, Bọn này bị sặc , chạy quáng quàng tìm cách thoát khỏi hai gọng kìm của kẻ thù truyền kiếp. Có con hoảng quá nhảy cả lên bờ. Lão cò già cổ ngẳng trụi sạch lông điềm tĩnh mổ từng con một, cần mẫn, chính xác và tàn nhẫn cho đến khi hoàng hôn đổ xuống thì bay lên cây gạo gần đấy nghỉ qua đêm.
 
Chiều hôm ấy lái Lự tiếp đãi mẹ con bà Hai bằng món gà luộc chấm muối ớt lá chanh và thứ đặc sản chim xanh băm chả nấu với mướp hương. Buổi tối cả nhà ngồi quây quần quanh bếp lửa ăn ngô rang. Khúc Thị Hài có ngón nghề rang ngô bằng cát sông Lăng, hạt nào cũng nở bung, trắng như hoa huệ. Ngô kẻ Bòng vừa dòn vừa thơm, lão nhai rau ráu, thỉnh thoảng lại bốc cho bà Hai một nắm. Hai thằng cháu ngầm đưa mắt cho nhau tủm tỉm cười. Lái Lự bảo Khúc Thị Hài:
- Mấy hôm nữa phải cho anh em thằng Khải đi học. Bác đã nói với ông giáo Đằng nhận chúng vào lớp đồng ấu.
- Thời buổi này học hành mà làm gì hả ông ? - Bà Hai bàn - Hay là ông mua lấy con trâu cho chúng nó vừa chăn vừa đánh giậm kiếm cá.
Lái lự lắc đầu:
- Học chữ thời nào cũng cần mà có chữ là có tiền. Tôi đã từng tiếp xúc với một ông tham lục lộ, nhà giầu nứt đố đổ vách.
- Nhưng cũng cứ mua lấy con trâu để ngoài giờ học chúng đi chăn.
- Được, với một lái trâu như tôi, việc ấy có gì khó, chỉ sợ hai thằng mải chăn trâu đúc dế chểnh mảng sự học.
Khúc Thị Hài đưa mắt cho con, hai thằng chắp tay thưa:
- Chúng cháu thích học lắm, không mải chơi đâu ông ạ.
- Thế thì được, đợi qua tết, ông sẽ mua một con trâu tơ sừng ấu cho mà cưỡi.
 
Mấy hôm sau, trời vẫn rét đậm. Nửa đêm gió lạnh quất ràn rạt trên mái nhà như sắp có bão. Lái Lự đang mơ mơ màng màng giữa đống chăn bông to sụ chợt có tiếng gõ cửa nhè nhẹ. Lão tỉnh giấc nhưng vẫn nằm yên nghe động tĩnh.
Tiếng gõ lần này gấp gáp. Lão chần chừ một lúc rồi mới đứng lên rón rén lại gần cửa hỏi khẽ:
- Ai đấy ?
- Ông Lái cho tôi vào với, ngoài này rét lắm.
Tiếng thì thầm nghe rất quen nhưng lái Lự chịu không thể đoán được ai. Không lẽ lại là cướp. Thế này thì nguy quá. Lão thoáng nghĩ. Mình mới đưa mẹ con bà ấy về đây được ít ngày, chúng mà khoắng sạch thì phen này …
- Làm ơn mở ra ông Lái... - Tiếng người bên ngoài vô cùng khẩn thiết.
"Chắc không phải cướp. - Lái Lự tự trấn an mình - Nhưng phải thử xem đã. Thời buổi này trộm cướp như rươi. Chúng nghĩ ra trăm phương ngàn kế để lừa gạt dân lành".
- Thưa các quan, nhà này chẳng có gì đâu ạ ! - Lái Lự làm ra vẻ thiểu não - Cách đây ít lâu tôi bị chúng nó lừa mất sạch cơ nghiệp rồi. Mời các ngài sang nhà phó lý Uông. Ông ta vừa bán ao cá mè.
- Ông Lái mở cửa ra. Tôi là Khoá Kiệt đây mà, không phải kẻ cướp đâu ?
- Hả ? Ông là Khóa Kiệt làng Cùa ?
- Tôi đây chứ còn ai.
- Chết thật, sao không nói ngay từ đầu làm tôi hết cả hồn.
 
Cửa mở, Khoá Kiệt lẻn vào nhanh như một bóng ma rồi đóng sập hai cánh lại. Dưới  ánh đèn dầu tù mù, quả thật chủ nhà không thể nhận ra cố nhân trong lốt một gã đàn ông cao lêu nghêu với khuôn mặt hốc hác như đói ăn lâu ngày và chòm râu dê rối tung chẳng khác gì đám rễ bèo tây phơi nắng. Người Khoá Kiệt gần như ướt sũng, chân tay ông ta tê cứng, toàn thân run rẩy nên tiếng nói ngọng nghịu khác hẳn một ông khoá vẫn cao giọng bình những bài văn xuất sắc của đám học trò hồi còn ngồi dạy học ở làng Bòng.
- Bác ở đâu về đây ? Hình như là người ta vẽ hình bác dán ở chợ Cháy.
Tôi vừa kiếm được chiếc thuyền vượt sông Lăng, gần sang đến bên này, gió mạnh quá thành ra bị lật, xuýt chết. Bác còn gì ăn được không ?
- Có lưng nồi cơm nguội với ít rôm rang. Để tôi gọi bà ấy.
- Xin bác đừng để người nhà biết. Nói thật tôi mới từ Ba Tổng sang đây. Nhà chức trách phủ Đông Giàng và cả huyện Nam Thành đang có lệnh truy nã.
- Nghe nói quân áo Đen của bác mạnh lắm, đánh được cả Nhật phải không ?
- Chuyện dài lắm, lúc nào thư thả tôi kể bác nghe - Khoá Kiệt vừa nhai trệu trạo vừa lấm lét nhìn trước nhìn sau rồi hỏi:
- Chắc bác mới tục huyền ?
- Sao bác biết ?
- Là tôi đoán thế vì bà nhà mất đã gần chục năm nay mà bác vẫn độc thân.
Lái Lự thì thầm:
- Vì một lời hẹn ước ngày xưa, là vì tôi phụ người ta nên bây giờ nói mãi mẹ con bà ấy mới chịu về đây.
- Bà ấy ở làng nào ?
- Bên kẻ Nội. Người ấy ông biết quá còn gì ?
- Thú thật, những năm qua tôi theo đoàn thể hoạt động mãi bên Nam Ngạn mới về Ba Tổng nên không biết.
- Chính là Bà Thoả con cụ khán Đản.
- Là vợ hai chánh Đàm phải không ?
- Thì đã sao ? - Lão lái trâu có vẻ không hài lòng với câu hỏi bất ngờ của ông chỉ
huy đội quân áo Đen. - Ông ta đã chết còn bà cả Huê thì đuổi mẹ con người ta ra khỏi nhà, bác xem còn gì là tình người.
Khúc Kiệt đã ăn xong, chiêu một ngụm nước vối trong chiếc bình tích rồi thong thả bảo:
- Cả nhà chánh Đàm chỉ có mỗi mẹ con bà Hai là người tốt. Làm nghề buôn bán mà có tấm lòng độ lượng như bác không nhiều. Tôi phục đấy.
- Bác quá khen - Lái Lự nhún nhường - Thời buổi loạn lạc chẳng biết sống chết ra sao. Thôi thì mỗi người dựa vào nhau một chút may ra qua được cơn binh lửa. Mà này, còn một chuyện tôi muốn hỏi. Gia đình bác sau trận Nhật kéo quân về làng Cùa có bình yên không ?
Khúc Kiệt lắc đầu, mặt khó đăm đăm:
- Bác biết rồi đấy, giặc Nhật đốt nhà giết người, chưa đầy một ngày một đêm làng Cùa mất hơn bẩy chục nhân mạng. Nhà tôi bẩy người, còn ba mà thằng lớn lại bỏ đi.
- Bây giờ bác định thế nào ? hay là tạm lánh sang bên này ít bữa, đợi tình hình lắng xuống rồi hãy về?
Khúc Kiệt bảo:
- Vẫn còn những cơ sở quần chúng đáng tin cậy ở vùng Ba tổng, nhưng bọn Nhật và lũ tay sai dán hình tôi khắp nơi, treo thưởng cho ai bắt được  hoặc chỉ ra nơi ẩn náu nên mới phải vượt sông ban đêm.
- Thế thì cứ ở nhà tôi một thời gian. Làng này hẻo lánh, ít kẻ rình mò, không ngại.
Khúc Kiệt trong lòng vô cùng cảm kích đảm khí của lão lái trâu nhưng dù sao cũng cần phải nhắc ông ta cẩn trọng:
- Chuyện này can hệ đến cái sống cái chết của cả nhà, mong hãy giữ kín cho, sau này Cách mạng sẽ không quên ơn. Tôi cũng chỉ dám nhờ bác vài ngày thôi.
- Tôi sẽ dẫn bác đến trú tạm ở dãy buồng trâu ngoài đầm Vực. Chỗ ấy an toàn lắm.
 
Khoảng canh ba, Lái Lự lấy cho Khúc Kiệt bộ quần áo nâu, thêm chiếc áo bông chần và chiếc khăn phu la rồi dẫn ông ta ra bờ đầm. Lúc này gió đã bớt gào thét nhưng trời vẫn lạnh hun hút. Đầm Vực chìm trong màn đêm dày đặc. Một chàng dế non có lẽ mới ra ở riêng gáy ke ke. Tiếng gáy yếu ớt lập tức bị lẫn vào tiếng sóng. Những con sóng nhỏ lăn tăn gối lên nhau, bị gió cuốn vào bờ phát ra thứ âm thanh oàm oạp chẳng khác gì đứa trẻ vừa tắm vừa  lấy bàn tay vỗ nước nghịch trong chậu. Trên cành cây xương cá, một con gà nước ngủ gật bỗng giật mình, vỗ cánh phành phạch, kêu toáng lên khiến mấy chú bồ chao đậu trong đám dây chạc chìu nháo nhác, làm rối loạn cả đầm nước vốn đang vô cùng yên tĩnh. Thì ra nó ngửi thấy mùi cáo. Con cáo xám có cái đuôi  dài như bông lau lặng lẽ luồn dưới đám cây gai lúp xúp, hy vọng kiếm được miếng gì đó cho vào bụng vì đã gần một tuần nay trời rét như cắt, nó phải nhịn đói.
 
Khoá Kiệt nằm trên chiếc ổ rạ trong dãy chuồng trâu bỏ hoang ngay sát bờ đầm, mệt quá, ngủ thiếp đi. Lúc tỉnh dậy đã quá trưa, xung quanh không một bóng người. Ông ta vươn vai đứng dậy định ra ngoài đi tiểu nhưng chợt nhớ là mình đang lẩn trốn nên đành phải vào góc nhà. Khi quay về ổ Khúc Kiệt mới nhìn thấy bình soạn cơm, cái liễn sành đựng thức ăn và quả bầu khô đựng nước chẳng biết lái Lự mang ra từ lúc nào. Ông ta ăn cơm và bất giác nhớ lại những ngày qua.
 
Đêm ấy, sau khi rút khỏi đình Cả, đội quân áo Đen chỉ còn lại hơn hai chục người kể cả những anh em bị thương, thoát ra được đầm Ma rồi lần vào rừng Hóp. Dân làng Cùa lúc đầu ủng hộ Khúc Kiệt đấu tranh chống sưu cao thuế nặng. Bà con tỏ ra hoan hỷ khi thấy đội quân áo Đen đánh bại một cơ lính của Triều đình, nhưng đến khi quân Nhật về giết người , đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ thì họ lại coi ông ta như kẻ thù. Cánh chức dịch còn sống sót sau trận huyết chiến giữa Khúc Kiệt và bọn giặc Lùn, vừa sợ vừa ghét vị thủ lĩnh áo Đen. Biết thừa ông ta đang lẩn trốn trong rừng Hóp nhưng không một ai dám dẫn tuần đinh lên vây bắt hoặc bẩm báo phủ Đông Giàng. Cái chết của phó lý Dần và chánh tổng Cao Lộng là bài học đắt giá cho những kẻ mất hết lương tri, bán rẻ nhân phẩm của mình, làm hại đồng bào. ở trong rừng đến ngày thứ sáu, mọi người đói vàng mắt vì không tìm được cái ăn ngoài thứ măng hóp vừa đắng vừa chát. Bây giờ không phải mùa chim làm tổ, thỉnh thoảng mới tóm được con giẽ giun, thịt dai ngoách, chỉ ngửi đã lợm giọng. Tình hình lúc này rất căng nhưng không thể ngồi chờ chết. Khúc Kiệt tập trung anh em khai hội. Một hội viên người tổng Bạch Sam bàn:
- Theo tôi ta nên vượt sông Lăng, bên ấy tương đối yên ổn, dễ gây dựng cơ sở.
 
Quách Thịnh bảo:
- Kẻ Bòng, kẻ Nội không phải địa bàn hoạt động của chúng ta, lớ ngớ là bị bọn chức dịch tóm nộp cho Nhật lấy tiền thưởng. Ai sang thì sang chứ tôi không bao giờ.
Khúc Kiệt bó gối nhìn hết lượt anh em mắt lim dim như là sắp ngủ, nhưng thực ra ông ta đang tính toán phương án có lợi nhất cho những hoạt động tiếp theo :
- Bây giờ tôi đề nghị anh em thế này. mọi người tạm thời về địa phương mình, bí mật vận động bà con chống chủ trương mua thóc tạ và nhổ lúa trồng đay của Nhật. Tôi sẽ tìm cách liên hệ với cấp trên, báo cáo tình hình, vì ta mất liên lạc quá lâu, không nắm được chủ trương chung. Sau khi có chỉ thị mới, tôi sẽ thông báo lại.
Chập tối hôm ấy Khúc Văn bảo bố:
- Con chán cái trò chém giết này lắm rồi, vì bố mà gia đình ta tan nát.
Khúc Kiệt cau mặt:
- Mày nói cái gì?
Khúc Văn ngoảnh mặt lau nước mắt:
- Con đi đây.
- Đứng lại!- Ông bố quát- Ra ngoài ấy là bị chúng nó giết.
Khúc Văn thủng thẳng bước đi có vẻ như chẳng coi lời cảnh báo của Khúc kiệt ra gì. Anh ta vác khẩu súng trường đã hết đạn lên vai dò dẫm ra cửa rừng
Trận mưa bất chợt làm bầu trời bớt đi vẻ u ám để lộ ra khoảng không gian màu lam ngọc được gắn những ngôi sao bé tí xíu như hạt cườm. Một dải mây trắng mỏng giăng ngang đầm Ma, phản chiếu ánh sáng lạnh lẽo của dòng sông Ngân  lúc ẩn lúc hiện như những sợi tơ trời. Trước khi sang sông, Khúc Kiệt chợt nảy ra ý nghĩ về nhà. Làng Cùa sau trận hoả hoạn hầu như không còn tiếng chó sủa. Họ Khúc lần mò chẳng khác gì tên kẻ trộm trong đêm. Toàn bộ ngôi nhà đã làm vật hiến tế cho thần lửa. Trước mắt chỉ  còn là đống hoang tàn. Không có một biểu hiện nào của sự sống. Đứng lặng hồi lâu trước cảnh tang thương, Khúc Kiệt cầm lòng không đậu, đưa tay lên gạt nước mắt.
- Phải tìm Ngô Quỳnh.- Ông ta lẩm bẩm- Chỉ có hắn mới biết rõ được vợ con mình ai mất ai còn.
Lý Quỳnh đang ngồi uống rượu một mình. Nhìn thấy Khúc Kiệt, ông ta chẳng có vẻ gì là ngạc nhiên, cầm chiếc nậm cụt cổ rót rượu ra chén rồi bảo khách bằng giọng lè nhè:
- Tôi biết ông đến đây làm gì rồi. Nào, làm một tợp cho ấm bụng đã.
- Ông vẫn uống thế này à?- Khúc Kiệt đưa mắt quan sát xung quanh chiếc lều mới dựng có lẽ chỉ nhỉnh hơn gian bếp một chút- Bà ấy với các cháu đâu?
- Chết cháy cả rồi - Lý Quỳnh đã hơi say giọng méo mó - Không uống thì để làm gì.
- Biết thế sao ông lại rước bọn quỷ Lùn về?
- Lão Phủ Đông Giàng thù Việt Minh nên mới báo cho Nhật đem kỵ binh về tiêu diệt quân áo Đen. Chúng tôi là lũ thuộc hạ, ở vào cái thế trên đe dưới búa, theo các ông thì Nhật chém đầu, mà theo Nhật thì kết quả như thế này đây. Làng Cùa đến ngày tận số rồi.
- Vợ con tôi chết hết rồi phải không?
Lý Quỳnh gật đầu:
- Chỉ còn mình cô Nhân, nhưng mấy hôm trước tôi đã nhờ thằng cháu đưa sang lánh tạm bên Đậu Khê.
Khúc Kiệt lạnh lùng bảo:
- Chắc ông không định bắt tôi đấy chứ?
Lý Quỳnh lắc đầu:
- Không.
- Sao thế ?- Khúc Kiệt nói kháy- Cách đây mấy hôm ông vẫn muốn chặt đầu tôi treo lên cây gạo kia mà.
- Chém giết nhau như thế là đủ rồi. Với lại, tôi có dự cảm thời thế sắp thay đổi.
- Bao giờ con Nhân nhà tôi về đây?
- Chưa về ngay được đâu. - Lý Quỳnh định rót thêm cho mình chén nữa nhưng nậm rượu đã cạn. Ông ta loạng choạng đến góc lều xách ra một vò đậy nút lá chuối đặt trước mặt Khúc Kiệt.
-  Con bé đang hoảng loạn vì cái chết của cả nhà, đưa về lúc này sợ nó nghĩ quẩn rồi làm liều.
- Thế cũng phải. Thôi thì trăm sự nhờ ông.
- Bây giờ ông đi đâu?- Lý Quỳnh nhìn Khúc Kiệt có vẻ ái ngại.
- Cũng chưa biết.- Khúc Kiệt lưỡng lự một lát rồi bảo- Có lẽ tôi sang bên kia sông.
- Chúc ông chân cứng đá mềm. Chỉ mong sau này ông có kéo quân về thì đừng tàn sát dân làng.
Khúc Kiệt nặng nề đứng dậy bước ra khỏi lều rồi lẫn vào bóng đêm. Có cái gì nhói lên trong lòng ông ta. Như vậy là Lý Quỳnh cũng mất sạch vợ con cùng cơ nghiệp, nhưng hắn vẫn còn mảnh đất dựng túp lều mà ngồi nhấm nháp chén rượu giải sầu. Còn ông ta, từ nay không nhà cửa, không người thân thích. Thằng con trai thì mất lòng tin, công khai chống lại bố, bỏ đi. Khúc Thị Nhân cũng xiêu dạt xứ người, biết bao giờ mới được gặp nó.
Đêm như loãng ra bởi từ đâu đó rất gần có tiếng chim lợn kêu. những con quái điểu này bay loạn xạ trên bầu trời làng Cùa, thả xuống thứ âm thanh chói tai giống hệt tiếng lợn bị chọc tiết. Có con táo tợn bay rất thấp. Chúng sải cặp cánh dài, trắng lốp sà sát xuống những mái nhà còn sót lại sau vụ cháy, kêu choeng choéc như là tín hiệu của quỷ sứ về bắt hồn người chết. Khắp vùng Ba Tổng không ở đâu có mật độ chim lợn, cú mèo và chó hoang dầy đặc như làng Cùa. Đến gần gò Kim Kê, Khúc Kiệt bỗng giật mình bởi những bóng lờ mờ, quanh quẩn bên cây gáo cổ thụ. Đó là đàn chó hoang mới từ rừng Hóp kéo về. Chúng khác hẳn chó nhà bởi hành tung lặng lẽ như bóng ma, gặp người không bao giờ sủa mà tìm cách lẩn vào bụi rậm. Lũ dã cẩu này có những cái nanh nhọn như nanh chó sói và cái đuôi khá dài kéo lê trên mặt đất. Chúng vô cùng điêu luyện trong nghệ thuật trộm gà và cuỗm những thứ có thể ăn được nếu gia chủ sơ ý. Một con chó vàng cụt đuôi to như con bê, hình như là đầu đàn, ẩn vào bụi dong riềng, khẽ gầm gừ khi phát hiện Khúc Kiệt đang bước tới. Cặp mắt nó bắt ánh sao đêm xanh lét. Người và vật lăng lẽ nhìn nhau mấy giây, đến khi Khúc Kiệt vung chiếc gậy tre lên, thì con chó hoang nhún chân lao vọt vào vườn chuối. Bóng của nó vẽ thành một đường vòng cung như là đang làm xiếc nhảy qua vòng lửa. Trên gò cao, cây gáo sừng sững vươn lên với những cành trụi lá như cánh tay của con quái vật khổng lồ đang dò dẫm tìm kẻ thù bằng cách cứ mỗi lúc lại dài thêm ra. Gió lạnh cọ vào những cành khẳng khiu, làm bật ra những tiếng lào thào chẳng khác gì gã chán đời thở dài.
Khúc Kiệt chậm rãi bước lên đê, quay mặt về hướng bắc đón làn gió lạnh. Đằng đông, một quầng sáng mờ mờ báo hiệu buổi bình minh bắt đầu hiện dần lên ở đường chân trời. Dãy Cổ Ngựa lô xô những chóp núi như là răng của loài khủng long thời tiền sử. Mỗi chiếc răng như thế được trang điểm bằng chiếc khăn quấn quanh, xốp và nhẹ như bông. Một con quạ đen thui có cái mỏ khoằm viền vàng, từ cồn Vành vượt sông Lăng bằng đường bay thẳng tắp như kẻ chỉ rồi đậu trên cây gáo, cất mấy tiếng rời rạc. Đã sắp rạng đông. Lúc này qua sông với Khúc Kiệt là hoàn toàn không thể. Ông ta lững thững ra điếm Bài Vân, tắt xuống cánh ruộng trũng bên đầm Ma rồi vào rừng Hóp. Trời sáng dần nhưng là thứ ánh sáng mùa đông. Không nhìn thấy mặt trời. Khắp đó đây chỉ thấy những cồn mây bị gió bắc dồn lại thành đống, xám ngoét, lạnh lẽo. Thỉnh thoảng lắc rắc vài hạt mưa. Mưa đập vào mo nang trên những cây hóp già lộp bộp giống như tiếng mõ cá bị rạn.
Sự lừng khừng không vượt sông ngay của Khúc Kiệt  thành ra bất lợi. Ông ta vừa mò vào rừng Hóp được một lúc đã thấy viên phó Lãnh binh dẫn hơn chục lính khố xanh phủ Đồng Giàng cùng ba tên Nhật ra điếm Bài Vân lùng sục dọc triền sông Lăng. Suốt ngày hôm ấy Khúc Kiệt bị đói, nửa đêm đánh liều về làng. Chẳng rõ bằng cách nào lý Quỳnh biết đối thủ của mình trở lại nên đã đợi sẵn ở cổng, đưa cho ông ta mo cơm rồi nói như ra lệnh:
- Quan quân đã mai phục ở bến đò, ông không thể qua sông được nhưng phải đi khỏi làng ngay đêm  nay.
Khúc Kiệt cảm động lắm, nhìn Ngô Quỳnh chớp chớp mắt:
- Cảm ơn ông Lý.
Cũng vào đêm ấy, sau khi ra khỏi rừng Hóp, Khúc Văn quẳng khẩu súng đã hết đạn xuống ngòi nước rồi lững thững đi dọc bờ sông Lăng. Dòng sông như bị co hẹp lại bởi những trận gió lạnh tới tấp tràn về. Đêm càng khuya mặt nước càng tối sẫm, không thể phân biệt được đâu là dải bờ có những bụi tre gai chắn sóng đã bị gió cào tướp ra chỉ còn trơ lại cành lởm  chởm với những thân ngô đã bẻ bắp, trụi sạch lá, đâm tua tủa lên trời. Dưới sông những con sóng đuổi nhau xô vào bờ ràn rạt. Sóng bạc đầu từ cồn Vành lao như ngựa vía, vượt qua vụng Hà Bá rồi liếm vào bờ hữu ngạn tạo thành những tiếng ùng ục ghê rợn như vạc dầu âm phủ đang sôi.
Khúc Văn xuống gần mép nước. Cát ướt lạnh buốt loang khắp cơ thể. Bất chấp gió rét, hắn lội dọc bờ sông. Có những lúc hắn dẫm lên cỏ. Đó là thứ cỏ chỉ mảnh mai, vừa dòn vừa ngọt nổi tiếng ở vùng đất phù sa sông Lăng. Phía trước thấp thoáng chiếc thuyền nổi bập bềnh trên sóng được neo vào bờ bằng đoạn dây xích dài. trong thuyền không có chủ nhưng vẫn có cả hai mái chèo gác trong khoang. Khúc Văn nhìn chiếc thuyền, ngẫm nghĩ một lúc tiếp tục bước những bước chân vô định. Nhưng một ý nghĩ bất chợt làm hắn quay lại, tháo dây xích nhảy lên thuyền rồi từ từ buông chèo. Con thuyền nhấp nhô gối lên những ngọn sóng lừng lững trườn ra giữa sông. Khác với Lê Văn Vận lúc đưa bà Ba đi trốn, Khúc Văn chèo thuyền về phía ngã ba Môi hầu như không có một bến bờ nào cụ thể. Hắn lênh đênh trên sông trong tâm trạng của kẻ lãng du, muốn phó thác cả phần xác lẫn phần hồn cho Định Mệnh.
Gió đã dịu đi nhưng bầu trời vẫn cuồn cuộn những tảng mây đen nặng nề làm không gian càng về khuya càng u ám. Hiếm hoi lắm mới có được chút ánh sáng lờ mờ của một ngôi sao bất chợt hiện ra giữa kẽ nứt những cồn mây. Từ đâu đó trong những âm thanh hỗn tạp của gió và sóng hình như có tiếng nhị đang rền rĩ một điệu “làn thảm” vô cùng ai oán. Tiếng nhị lúc trầm lúc bổng, lúc khoan lúc nhặt rung lên, cứa vào lòng người nỗi niềm khắc khoải chứng tỏ một kỹ năng bậc thầy trong nghệ thuật cầm ca. Phía dưới hạ lưu, nơi nhánh sông rẽ về bến Tràng, có ánh lửa thuyền chài. ánh lửa yếu ớt cùng tiếng nhị ai oán chập chờn lan toả trên mặt nước đen thẫm càng làm cảnh vật thêm cô tịch. Lầm lũi giữa bóng đêm, con thuyền giống như ảo ảnh lênh đênh trong cõi hoang tưởng. Khúc Văn cảm giác như là cuộc hành trình của mình sắp đến bến cuối cùng. Tấm thân phàm tục đang dần dần thoát được sức nặng ràng buộc trần thế và linh hồn đang phơi phới bay lên.
Vụng nước xoáy tròn hút con thuyền bằng thứ lực hướng tâm đủ mạnh để không một vật thể nào còn nguyên vẹn khi ra khỏi vương quốc của Thuỷ thần. Hơn thế, khi nhìn thấy cái bẫy giết người hiện ra phía trước, Khúc Văn lại bất ngờ ném cặp chèo xuống nước. Trước mắt hắn dường như lấp loáng một đạo hào quang bảy sắc cầu vồng từ vụng nước xoáy vươn lên tận dải Ngân hà. Hắn nhắm mắt để chế ngự nỗi sợ hãi chợt thoảng qua rồi bình thản đến lạnh lùng với chiếc thuyền đi vào cõi vô cùng...
Từ trong chiếc thuyền câu có ánh lửa chập chờn mờ ảo như ánh lân tinh, một bóng đen bất chấp cái lạnh của đêm đông, nhảy ào xuống nước. Chỉ vài sải tay, người đàn ông kéo nhị hồi đêm đã xốc nách lôi được chàng trai họ Khúc lên thuyền. Cũng không lâu lắm, sau khi được người thuyền chài làm thủ thuật cứu chữa, Khúc Văn tỉnh lại. Đó là một ông già xấp xỉ lục tuần nhưng dáng vóc còn tráng kiện lắm, nhất là đôi mắt có cái nhìn đầy vẻ giễu cợt. Lúc đưa cho Khúc Văn chén nước nóng pha mấy lát gừng, ông già nheo mắt như là đọc được tâm trạng hắn:
- Cậu còn lắm nghiệp chướng, chưa thể làm thần dân của Hà Bá được. Số cậu là số thiên di. Cuộc hành trình tuy có nhiều gian nan nhưng sau này sẽ được mở mặt với đời.
Chương 6
 
chương sáu
 
1
 
 
Hơn một năm sau, Khúc Thị Nhân mới từ Đậu Khê về làng Cùa. Đậu Khê là quê ngoại Khúc Kiệt. ở đấy ông ta còn một bà chị họ góa chồng. Nhìn thấy cô, Khúc Luận lúc ấy chưa đầy mười ba tuổi nhưng đã thấy xốn xang trong lòng. Những biểu hiện giới tính của cậu ta phát triển quá sớm mà con gái ông chú thì lại đẹp rực rỡ như một bông hoa đồng nội còn hàm tiếu dưới nắng ban mai. Khúc Luận học trường huyện trông đã ra dáng một gã choai choai. Dạo này cậu ta đang được nghỉ hè, ngày nào cũng sang nhà Nhân giúp cô dọn dẹp.
 
Việc dựng túp lều đối với Nhân phức tạp hơn cô nghĩ vì không những thiếu vật liệu cần thiết mà bản thân cũng chưa từng làm quen với loại công việc này. Khúc Luận là chàng công tử bắt cào cào châu chấu, nghịch ngợm thành thần, nhưng để trở thành thợ mộc, thợ đấu hoặc lợp nhà thì xem ra còn tốn nhiều thời gian và cơm gạo. Lúc đầu Nhân nghĩ Khúc Luận có lòng tốt, thương cô em họ gặp hoạn nạn, nhưng dần dần thấy cậu ta có những biểu hiện của một kẻ si mê mình thì bảo:
- Từ mai anh phải ở nhà học, cứ lêu lổng là bác Cả đánh đòn.
 
Khúc Luận cười lấy lòng:
- Bây giờ đang nghỉ hè bài vở có gì đâu.
- Nhưng anh cứ sang bên này làm quẩn chân tôi.
- Nhân đuổi đấy à?
- Không dám.
 
Vào lúc ấy lý Quỳnh sang. Nhà lý Quỳnh với nhà Khúc Kiệt cách nhau không xa. Từ hồi mất cả vợ lẫn con, ông ta hay uống rượu rồi la cà khắp nơi trong làng. Nhìn thấy Ngô Quỳnh, Khúc Luận tức lắm, cậu ta “hứ” một tiếng rồi về, chẳng thèm chào một lời. Sáng hôm ấy, Nhân tắm sớm, chưa kịp mặc yếm thì Khúc Luận đã sang, đành phải khoác tạm chiếc áo cánh nâu, thành thử mỗi cử động, cặp vú tròn căng như hai trái dừa xiêm đánh đu trước ngực vô cùng khêu gợi. Thoáng nhìn cặp vú trinh nữ, người Ngô Quỳnh phút chốc như nổi gai. Ông ta cảm thấy phía trước như có dải sương mù chắn mất tầm nhìn. Trong cái khối bùng nhùng màu trắng đục như khói ấy hình như có mùi mồ hôi ngai ngái cùng với hương bồ kết nồng nồng từ mái tóc óng như mây chiều và chút sữa hoi hoi thấm qua lần áo mỏng. Ngô Quỳnh hít một hơi dài giấu vẻ lúng túng bởi những liên tưởng hoàn toàn không tương xứng với tư cách của một ông lý trưởng xấp xỉ ngũ tuần, rồi mới ngập ngừng bảo:
- Tôi sang giúp cô làm lại gian nhà.
Nhân giẫy nảy lên:
- ấy chết ! Ông Lý còn bận việc dân việc nước, nhà cháu không dám phiền.
- Có gì đâu mà phiền. - Lý Quỳnh xắn tay áo vào việc rất tự nhiên - Là người làng với nhau, hơn nữa cô bây giờ chẳng còn ai ở nhà, phận gái không nơi nương tựa tôi ái ngại lắm.
- Xin nhận tấm lòng của ông Lý, còn công việc thì cháu cũng làm được mà.
- Cô đừng khách sáo quá. Tôi chỉ có một mình, nhiều lúc buồn lắm, nên thỉnh thoảng cũng muốn giúp bà con trong làng cho khuây khoả.
 
Hơn hai mươi năm trước, lý Quỳnh đã có một thời oanh liệt. Thuở nhỏ, gia đình ông ta tuy không thuộc loại khá giả nhưng cũng được bố mẹ cho đi học chữ Nho với ông cả Thuyết là bố đẻ ra đồ Sách bây giờ. Ngô Quỳnh đẹp trai mà lại ngỗ nghịch có tiếng rất hay bị ông trương Phẩm đánh đòn. Ông Phẩm thửa chiếc roi mây to bằng ngón tay giắt mái nhà, lôi thôi là vụt tối tăm mặt mũi. Nhiều lần Quỳnh bị thâm tím cả người, nhất là hai mông đít nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Năm mười bốn mười lăm tuổi, cậu ta hay đánh giậm ở ngòi Mác. Đây là con lạch bắt nguồn từ cánh đồng Mả Dứa chảy vòng vèo qua xóm Trại Cá rồi đổ vào đầm Ma, rất nhiều tôm rảo, tép gạo và cá lòng cò. Tôm rảo nhỏ nhưng chắc thịt, nhảy tanh tách, mỗi mẻ quờ được hàng chục con. Thứ này rang khô, cho thêm thìa mỡ và chút đường ăn với cơm rau muống luộc cả tháng không biết chán. Cá lòng cò vào dịp tháng sáu ta, con nào cũng mang trứng, bụng phình ra tròn ung ủng. Chúng kéo hàng đàn hàng lũ, ngược dòng nước lờ lờ, thỉnh thoảng lại nghiêng mình phô ra những lớp vẩy bé tí xíu óng ánh như kim  tuyến. Người làng Cùa thường nấu cá lòng cò với khế hoặc lá me ăn kèm rau ghém thái bằng cây chuối non hay rau muống chẻ. Cây me nhà ông Đà xóm Cầu Đá cao chót vót, chẳng biết được trồng từ bao giờ, chuyên cung cấp lá cho cả làng. Dưới gốc có ngôi miếu nhỏ thờ Mộc Thần. Trước khi leo lên vặt lá, ai cũng vào khấn mấy câu để thần phù  hộ khỏi ngã.
 
Lúc ấy đã quá trưa, Ngô Quỳnh giặt giậm, leo lên bờ bắt những con đỉa bám vào chân vứt xuống ruộng. Trời oi nồng như sắp có giông. Khắp nơi đồng không mông quạnh. Hắn quàng mõ giậm vào cán, đặt lên vai rồi thủng thẳng về. Trên gò Mả Dứa hình như vẫn còn người lúi húi cắt cỏ. Khu mả Dứa nổi tiếng lắm rắn. Không biết đứa nào mà gan thế, dám ra đây giữa trưa. Gọi là mả Dứa vì đấy là một khu gò cao hơn mặt ruộng, chung quanh mọc toàn dứa dại đầy gai nhọn, là nơi tá túc của đủ loại từ cầy cáo, chuột, rắn, mèo hoang đến châu chấu ma, cào cào lửa và cà cộ. Dứa mọc chen chúc thành những bụi to tướng, cao lênh khênh, rậm rạp như một khu rừng rất bí hiểm đối với những kẻ giầu trí tưởng tượng. ở giữa vành đai dứa dại ấy là những vạt cỏ chỉ và cỏ xước xanh mướt, cao đến đầu gối.
 
Nhìn thấy cô gái thấp thoáng giữa bụi dứa dại, Ngô Quỳnh chợt sáng mắt lên. Hắn vốn là gã có máu phong tình, sớm đến tuổi dạy thì, liền quẳng giậm  và giỏ cá rồi cúi thấp người bò lên gò, luồn qua những gốc dứa như con mèo rình mồi. Gần đến nơi, Ngô Quỳnh mới biết đó là cô Son con ông Bảy Ngạnh. Son chưa đầy mười bẩy nhưng cặp vú bánh dày nhô lên làm cả khuôn ngực chật căng trong chiếc áo cánh nâu non. Cô nàng lê la dùng liềm lia từng nhát xén cỏ xoàn xoạt, thỉnh thoảng nhổm người vơ thành đống xếp vào quang làm cặp mông vổng lên đong đưa đầy khêu gợi. Gã đánh giậm nhìn cô gái một lúc, nước bọt chảy tứa ra hai bên mép. Hắn chịu không nổi nữa bèn nhào đến ôm cô ta từ phía sau lưng. Cô Son giật mình tưởng là ma, mặt tái xám, không kêu được một tiếng. Ngô Quỳnh chẳng để mất thời gian, dằn ngửa cô nàng ra, luồn tay vào trong váy sờ soạng. Lúc này cô gái đã hiểu ra khi thấy thằng con nhà trương Phẩm đang loay hoay trên bụng mình. Cơn sợ hãi đã qua, phản ứng tự vệ trở lại, trong tay sẵn chiếc liềm, cô ta liền bổ một nhát vào mặt thằng đánh giậm. Ngô Quỳnh nghiêng đầu tránh được cú đòn trực diện, nhưng mũi liềm sắc cắm vào dưới màng tai làm hắn rú lên, trườn khỏi bụng cô cắt cỏ, lấy hai tay bịt vết thương lăn lộn giữa đám cây bạc hà dại. Nhìn thấy vết máu nhoe nhoét trên cổ thằng đánh giậm, cô Son đâm hoảng, bỏ cả quang gánh, cầm chiếc liềm chạy một mạch về nhà, chui vào buồng khóc, bố mẹ hỏi cũng không nói. Thấy con gái có cử chỉ khác thường, ông Bẩy Ngạnh tra hỏi mãi cô Son mới thú thật sự việc trên gò Mả Dứa. Bà mẹ gầm lên:
- Nó đã làm gì mày chưa ?
 
Cô con gái vẫn tấm tức khóc. Ông bố quát:
- Tao hỏi, nó đã làm gì mày chưa ?
- Đã bảo là chưa. - Cô Son cũng vặc lại - Con đã cho nó nhát liềm vào cổ chẳng biết sống chết ra sao. Con  sợ lắm thầy u ạ.
- Giời ạ ! Con mới chả cái - Bà mẹ rên rỉ - Chẳng may xảy ra án mạng thì tù mọt gông.
 
Ông Ngạnh vớ chai rượu, tu một ngụm, lấy ống tay áo quệt ngang miệng, mắng vợ:
- Cái thằng chó dái ấy chết là đáng đời. Bây giờ tôi phải đến nhà trương Phẩm báo cho lão ra lôi thằng con về. Cái Son ở nhà. Từ nay không được ra Mả Dứa cắt cỏ nữa.
 
Vết thương ở cổ không nặng lắm nhưng chuyến ấy Ngô Quỳnh bị nện một trận thừa sống thiếu chết. Ngay chiều hôm ấy, ông Phẩm quẳng cho hắn mấy bộ quần áo rồi tống ra khỏi nhà. Về phần mình, chàng đánh giậm cũng thấy như thế là quá nhục không còn mặt mũi nào ở lại làng đành chấp nhận kiếp sống tha hương. Cuộc ra đi của Ngô Quỳnh tuy không có người áp giải nhưng chẳng khác gì cảnh lưu đày. Hắn khoác khăn gói, đầu cúi gằm lùi lũi bước đi trước con mắt dè bỉu của những kẻ hiếu sự thập thò trong cổng. Cứ nghĩ đến những ánh mắt như lưỡi dao lá lúa xuyên thấu vào da thịt, Ngô Quỳnh vừa hổ thẹn vừa căm thù. Các người cứ cười đi rồi đến lúc phải khóc cho mà xem. Ngô quỳnh ta thề sẽ trở về trả mối hận này. Con đĩ Son hãy coi chừng. Mà việc đếch gì phải xấu hổ. Cái khác nhau chỉ là ở chỗ bọn họ sờ mó nhau ban đêm, còn ta công khai việc ấy giữa thanh thiên bạch nhật mà thôi. Nghĩ như vậy Ngô Quỳnh bất giác bật cười. Tiếng cười của hắn vừa ngạo nghễ, vừa giầu sức truyền cảm, lan khắp các ngõ xóm trước khi ra bờ sông Lăng, khiến người làng nghĩ hắn là một thằng điên.
 
Đêm hôm ấy, Ngô Quỳnh ngủ trong một bãi chuối ven sông cách làng Cùa khá xa. Hắn thu gọn lá khô dồn thành đống rồi chui vào đánh một giấc. Nửa đêm tỉnh dậy vì có tiếng cú rúc ngay bên cạnh, hắn bực mình nhưng không thể nào ngủ lại được. Hắn bắt đầu ân hận bởi hành động ngu xuẩn của ngày hôm trước. Tâm trạng đã trở lại cân bằng. Hắn phải thừa nhận mình đã dại dột làm một việc vô luân, bôi do trát trấu lên mặt bố mẹ. Lúc này Ngô Quỳnh rất muốn, tất cả những chuyện ấy chỉ là một giấc mơ. Nó không có thật và rồi chừng một hai canh giờ nữa hắn lại về làng Cùa, buổi sáng đến trường nghe thày Cả Thuyết giảng Kinh Thi chiều lại vác giậm ra đồng kiếm cá. Cuộc sống thật thanh bình và làng Cùa cổ lỗ, lạc hậu, lắm hủ tục kia đẹp biết nhường nào. Bất giác Ngô Quỳnh sờ tay lên cổ. Vòng vải diềm bâu băng vết thương vẫn còn đó,đau rát, thỉnh thoảng lại cắn nhói một cái, may mà nó chỉ sâu nửa đốt ngón tay, không vào chỗ phạm. Mũi liềm cắt cỏ của con nặc nô ấy bổ lệch một chút vào yết hầu hoặc trúng giữa thái dương, thì hắn đi đời.
 
Ngày thứ ba, Ngô Quỳnh thất thểu ở ngã ba Môi, vô kế khả thi. Hắn đói, cứ tầm chiều lại ra các bãi ngô mót những bắp kẹ sau vụ thu hoạch hoặc tìm chuối chín dọc cánh bãi sau đê. Hắn để ý thấy có chiếc đò dọc neo ở bến Tuần từ chiều hôm trước. Đó là loại thuyền gỗ nhỏ, buồm cánh dơi, chuyên chở hàng nông sản từ Ba Tổng di kẻ Sung. Chủ thuyền là anh Trác, mới khoảng ba chục tuổi nhưng chẳng khác gì ông già năm mươi bởi cái dáng lòng khòng và mái tóc sớm muối tiêu đầy vẻ phong trần. Cùng đi với anh Trác còn có chị Nhuần và cô con gái tên là Nhuỵ. Vợ Trác là người đàn bà đẫy đà còn xuân sắc nhưng chẳng hiểu vì sao chỉ sinh nở có một lần. Với sức vóc vậm vạp chị ta khênh những sọt dưa hấu hoặc bí đao xuống thuyền băng băng, khác hẳn ông chồng hom hem mỗi bước đi một bước dừng lại thở. Anh Trác bị bệnh suyễn kinh niên, công việc đò dọc là quá sức nhưng chị vợ ham làm giàu chẳng nghĩ gì đến tính mệnh của chồng. Mọi việc giao dịch mua bán đều do chị ta quán xuyến.
 
Dịp ấy đã qua mùa lũ, sắp đến tiết bạch lộ, cồn Láng phơi màu vàng nhạt giữa ngã ba sông. Đứng trên bến Tuần có thể nhìn rõ những vồng khoai mới trồng trên bãi phù sa giữa những bờ cỏ xanh thẫm. Hoa cứt lợn và hoa vòi voi nở lốm đốm giữa những đám tầm bóp sai trĩu quả. Quả tầm bóp bằng ngón tay cái đang độ chín, thỉnh thoảng gặp cơn heo may đầu mùa khẽ đung đưa như chùm đèn lồng bọc lụa vàng óng. Hoa bồ công anh hăng hắc như mùi lá bạc hà nở rộ trên khắp các bãi hoang. Một cây đa cổ thụ nhưng thấp lè tè đứng chơ vơ trên gò đất hình con voi quỳ cao hơn hẳn mặt cồn. Dưới gốc đa là hai gian quán, cột đá, lợp ngói mũi để vào thời vụ những người làm đồng tránh mưa nắng. Trên cao, vòm trời xanh  màu lá non, một con diều đang chao lượn. Con diều khá lớn được neo bằng dây tre, đang thả vào không gian những thanh âm du dương của cặp sáo kép, nghe chẳng khác gì dàn hoà tấu của các nhạc cụ dân tộc. Nằm trên cỏ, gối đầu lên khăn gói, Ngô Quỳnh tuy đói nhưng vẫn mải mê lắng nghe tiếng sáo từ trên trời vọng xuống. Hắn nhìn con diều và ước lượng kích thước của nó, ít nhất cũng phải bằng chiếc thuyền thả lưới bén. Vào đúng lúc ấy, người thiếu phụ, vợ Trác đến bên hỏi :
- Cậu đi đâu mà nằm ườn ra thế này ?
 
Hắn trả lời nhát gừng:
- Chẳng đi đâu cả.
- Cậu này nói lạ - Chị ta nguýt Ngô Quỳnh, giọng hơi chua - Chắc là bị bố mẹ tống ra khỏi nhà ?
Ngô Quỳnh nhỏm dậy:
- Sao chị biết ?
Người phụ nữ cười nửa miệng:
- Trông bộ dạng cậu thì biết. Hẳn là đang đói phải không ?
- Chị đừng có nói mò. - Ngô Quỳnh bực vì bị người đàn bà bắt thóp - Việc gì đến nhà chị.
- Hỏi thế vì tôi đang cần người làm. Cậu có muốn đi đò dọc không ?
Ngô Quỳnh hỏi cộc lốc:
- Làm gì ?
- Chống sào.
Thái độ anh chàng lập tức thay đổi. Hắn vội hỏi:
- Chị thuê thật à ?
- Tôi không nói chơi. - Người đàn bà bảo - Thuyền đang ở dưới bến kia.
 
Coi như hôm ấy Ngô Quỳnh gặp may. Có lẽ lúc ra khỏi làng hắn vô tình bước chân phải trước. Mà cái chân phải giống như điềm lành ấy, đã phù trợ vị lý trưởng tương lai làng Cùa suốt những năm lênh đênh sông nước. Ngoài việc chống thuyền, Ngô Quỳnh còn đảm nhận chức năng khuân vác, nghĩa là bốc hàng lên xuống mỗi khi đò cập bến. Tuy mới già mười lăm nhưng sức vóc vạm vỡ, hắn bê những sọt hàng nặng vài yến chạy huỳnh huỵch suốt ngày không thấy mệt. Chị Nhuần thích lắm bảo:
- Cậu làm tốt lắm, cứ ở đây với anh chị, đừng đi đâu nữa.
 
Nghề đò dọc thích nhất là những lúc sóng êm gió thuận. Giữa trời nước bao la, con thuyền êm giầm, cánh buồn no gió phồng lên phơi màu nâu sẫm dưới ánh trăng vàng. Có khi mặt nước phẳng như tấm gương phản chiếu bầu trời đêm với những ngôi sao xanh, mơ hồ từ chòm Song Tử xa xôi. Những lúc thanh nhàn như thế, Ngô Quỳnh thường cùng cái Nhuỵ con gái anh Trác, ngồi trên sạp thuyền ngắm ông Thần Nông và con vịt rồi khe khẽ cất tiếng hò một điều hò sông nước. Tiếng hò của hai đứa lúc hoà làm một, lúc lại tách ra, âm vang rất xa dường như chạy mãi đến tận ngọn nguồn dòng sông. Hò chán lại lăn ra ngủ. Có lần bất chợt thức dậy, cái Nguỵ thấy bàn tay Ngô Quỳnh đặt lên ngực mình liền hất ra rồi chui vào trong khoang.
 
Khổ nhất là những khi ngược nước, trái gió. Ngô Quỳnh phải quàng dây thừng vào vai, chân trần, khom lưng, kéo con thuyền nhích dần từng bước men theo triền sông. Dấu chân to bè của hắn in trên lớp phù sa đỏ. Dưới thuyền, anh Trác tì sào vào ngực, chạy từ mũi đến lái, dùng hết sức bình sinh đẩy, có khi cong cả con sào. Giong thuyền ngược nước cực lắm. Nhiều khi thấy chồng mệt chị Nhuần phải làm đỡ. Chị đặt đầu sào vào bộ ngực đồ sộ, đẩy thuyền một cách kiên nhẫn. Ngô Quỳnh cho rằng cặp vú của chị có khả năng đàn hồi. Nó giống miếng đệm lò xo có khả năng co giãn làm người ta không thấy đau. Nhưng không phải thế. Thực ra chị đặt đầu sào vào hõm vai. Buổi tối trước khi đi ngủ, hắn trông thấy chị lấy rượu ngâm củ gấu Tàu bôi khắp bả vai rồi lặng lẽ xoa bóp.
 
Khoang thuyền chật được chia làm hai ngăn bằng vách thưng. Cái Nhuỵ ngủ với mẹ còn Ngô Quỳnh và anh Trác nằm ngoài. Những đêm mưa phùn gió bấc, anh Trác vào ngủ với chị Nhuần, cái Nhuỵ lại bò ra nằm bên cạnh hắn. Lúc phía trong có tiếng lịch kịch rồi chị Nhuần khẽ rên rỉ như là bị người ta bóp cổ hoặc thở hổn hển như sắp hết hơi, Ngô Quỳnh làm như mê ngủ luồn tay vào cái váy cái Nhuỵ. Nó cũng làm như chẳng biết gì nhưng trống ngực thì đập thon thót. Vừa lúc ấy anh Trác chui ra. Hắn hốt quá, người toát mồ hôi, lặng lẽ nhích dần vào vách thuyền.
 
Thời gian trôi nhanh, thấm thoắt Ngô Quỳnh đã xấp xỉ mười tám. Nghề sông nước và cuộc sống nay đây mai đó khắp các xứ đông đoài đã biến hắn thành một chàng trai thực thụ. Cái Nhuỵ cũng đã trở thành thiếu nữ . Anh Trác có ý định tác thành cho hai đứa, nhưng rồi một ngày kia chuyện không may xảy ra.
 
Hôm ấy, con thuyền chở nặng dưa hấu Sài Sơn đang đậu ở bến Tuần định sáng hôm sau nhổ neo về bến Phù Dung thì một cơn bão bất ngờ ập tới.  Đó là con bão năm Tỵ mà cho đến giờ mọi người vẫn nhớ. Một trận gió xoáy giật đứt dây neo, đẩy thuyền về phía sông Cổ Cháy. Thực ra bão không mạnh lắm nhưng thỉnh thoảng có một cơn gió giật kinh người. Nước sông lên cao do mưa lớn ở thượng nguồn.
 
Con thuyền lừ lừ trôi mà không có cách gì hãm lại được. Thấy thế nguy chị Nhuần và cái Nhuỵ định ném dưa xuống sông. Anh Trác vội quát;
- Không được ném ! Ném hết hàng là thuyền bị lật.
- Làm thế nào bây giờ ? - Chị Nhuần cũng gào lên.
- Mẹ mày ra cầm lái để tôi vào bờ giòng dây kéo.
- Không được ! Nguy hiểm lắm - Chị Nhuần xua tay ra hiệu.
- Còn hơn là chết cả nhà - Anh Trác vừa nói vừa liếc về phía Ngô Quỳnh - Cậu lấy cây sào dài thăm dò độ sâu, nếu chạm đất phải cố ghì hướng mũi thuyền vào bờ.
 
Anh Trác vừa nhảy xuống lập tức bị nước cuốn ra giữa sông, lay hoay mãi chưa tấp được vào bãi nổi. Ngô Quỳnh buông sào nhảy xuống nắm sợi dây chão đã tuột khỏi tay anh Trác, lặn sâu xuống bơi ngầm dưới nước. Con thuyền vẫn lắc lư như người say nhưng tốc độ đã chậm lại vì Ngô Quỳnh kéo được mũi vào vùng nước nông. Hắn ra hiệu cho mẹ con chị Nhuần đưa thuyền vào còn Láng rồi nhào ra tìm anh Trác. Sau nửa giờ lặn ngụp, Ngô Quỳnh mệt nhoài nhưng vẫn không thấy bóng dáng chủ thuyền trong khi nước lũ dồn về, dâng lên mỗi lúc một cao. Cơn bão hoành hành suốt đêm hôm ấy, mãi đến gần sáng mới dịu đi. Một trận mưa trắng trời đổ xuống ngã ba sông. Mãi ba ngày sau mới tìm thấy xác anh Trác. Anh bị nước lũ cuốn xuống tận bến đò Vạn Điền cách bến Tuần nửa ngày đò. Mẹ con chị Nhuần chôn anh ở nghĩa địa vạn chài Cổ Cháy. Nhờ kinh nghiệm của anh, chiếc thuyền không bị lật mà vẫn bán được dưa. Nhiều nhà mất cả người lẫn của vì vội vã quăng hàng xuống sông cho thuyền nhẹ bớt. Chồng chết, chị Nhuần xọp hẳn trông chẳng khác gì người mắc bệnh sài mòn. Gia cảnh như vậy, Ngô Quỳnh ở lại không tiện nên nói với chị chủ xin đi nơi khác. Chị Nhuần bảo:
- Mấy năm qua chúng tôi vẫn coi cậu như người nhà, giờ chẳng may gặp vận rủi chẳng lẽ nhẫn tâm bỏ đi.
 
Ngô Quỳnh lưỡng lự một lát rồi hỏi:
- Nghe nói chị sắp bán thuyền ?
- Lúc anh ấy mới mất, tôi nghĩ quẩn cũng có ý định như thế, nhưng giờ thì muốn tiếp tục chạy thêm vài năm nữa, mong cậu ở lại.
 
Ngô Quỳnh trở thành người đàn ông duy nhất trong gia đình. Cô Nhuỵ sau mấy lần được chàng phu thuyền hôn hít vụng trộm, thích lắm, luôn tìm cách ở bên hắn vào lúc thuyền chạy ban đêm. Những cử chỉ ấy không qua được mắt bà mẹ. Chị ta là người lọc lõi, nhìn thấy dáng vóc cao lớn cùng cách làm ăn tháo vát của Ngô Quỳnh, trong lòng toan tính một kế hoạch lâu dài để vĩnh viễn ràng buộc anh ta vào nghề sông nước. ở tuổi ba tư, sức xuân đang còn hừng hực bởi thể chất sung mãn và nỗi thèm khát đàn ông bị dồn nén quá lâu vì ông chồng ốm yếu, chị Nhuần trằn trọc trong khoang thuyền chật hẹp, luôn thả hồn vẩn vơ nghĩ đến những cuộc tình lãng mạn. Chị mơ thấy mình cùng Ngô Quỳnh cưỡi chiếc thuyền câu lên tận ngọn nguồn sông Cổ Cháy, cách ngã ba Môi hàng trăm dặm. ở nơi ấy trên là rừng đại ngàn dưới là dòng suối Tiên trong vắt, nước chảy lững lờ, cá tôm bơi tung tăng hệt cảnh Thiên Thai. Họ sống với nhau những ngày tuyệt đỉnh của hạnh phúc trần gian. Rồi đến một lúc chị sinh được thằng bé đẹp như tiên đồng. Nghĩ đến đấy người chị nóng ran, toàn thân run bắn, miệng ú ớ như bị bóng đè khiến cô con gái nằm bên cạnh hoảng tưởng mẹ phải cảm liền lấy dầu Nhị thiên đường xoa vào thái dương.
 
Căn bệnh hoang tưởng của chị Nhuần mỗi ngày một nặng thì tình cảm mẹ con đối với Nhụy mỗi ngày hình như một nhẹ đi. Nhìn thấy Ngô Quỳnh và con gái đứng ngồi bên nhau là chị không chịu được. Nỗi bực tức cứ ngấm dần vào cơ thể tựa như lòng hận thù khiến chị luôn nhìn đôi trẻ bằng con mắt cảnh giác. Chính  cô con gái chứ không phải ai khác đã lén lút chiếm đoạt, không phải tiền bạc mà là thứ tình cảm mơ hồ nhưng vô cùng quan trọng đối với sinh mệnh của chị. Một lần chị Nhuần bảo Nhuỵ ở lại  ở lại kẻ Sung, lấy cớ thu gom hàng để cùng  với Ngô Quỳnh chở dưa xuống bến Phù Dung. Ngay đêm đầu tiên thuyền đậu ở bến Lam Điền chờ con nước ròng, chị đã chui ra khoang ngoài ôm lấy Ngô Quỳnh. Hắn biết thừa người đàn bà nạ dòng này muốn gì bởi toàn thân hắn cũng đang rạo rực. Một ý nghĩ thoáng qua, hay là mình cứ chiều chị ta, chẳng những không mất gì mà còn có lợi là khác. Trong khi ấy, người đàn bà đã tuột hết váy áo, trần như nhộng, ôm riết lấy Ngô Quỳnh. Hắn tặc lưỡi thò tay mân mê bầu vú nóng hổi rồi định trườn lên bụng chị ta. Bỗng nhiên, từ trong bóng đêm, có quầng sáng mờ mờ như ánh lân tinh, gương mặt trái soan, cặp má bầu bĩnh và chiếc mũi hếch hiện ta với nụ cười gằn vừa trách móc và khinh bỉ. Ngô Quỳnh chợt tỉnh. Hắn ngồi dậy, trèo lên sạp thuyền mặc cho chị Nhuần khóc tức tưởi vì bẽ bàng.
 
Suốt chặng đường từ bến Phù Dung về bến Tuần có đến già hai ngày đường chị Nhuần không nói gì với Ngô Quỳnh. Hắn im lặng chèo, thỉnh thoảng lại chống sào chạy dọc từ mũi đến lái thuyền hệt như anh Trác ngày trước. Chị Nhuần cầm lái, mặt khó đăm đăm, mắt lơ đãng nhìn dòng sông.
 
Chiều hôm thứ ba, Nhuỵ đã đóng xong hàng. Thuyền từ từ vào bến, Ngô Quỳnh thả neo rồi lên bờ buộc dây vào cọc. Nhìn thái độ của hai người, cô gái biết đã có chuyện xảy ra. Anh chàng phu thuyền mặt nặng chình chịch, hùng hục khuân từng sọt bí, miệng như ngậm hột thị, hỏi câu nào trả lời câu ấy. Hàng xếp xong, chị Nhuần thẫn thờ trên bến một lúc rồi mới xuống thuyền bảo Nhuỵ:
- Chuyến này mẹ không đi được vì còn phải lên kẻ Suốt đòi nợ. Con với anh Quỳnh bảo nhau mà làm ăn cho thông đồng bén giọt, ít hôm nữa mẹ về.
 
Cô Nhuỵ còn ngây thơ tin lời mẹ nên không có biểu hiện gì lưu luyến nhưng Ngô Quỳnh nhìn vào đôi mắt mờ đi của người đàn bà, hắn biết có thể thị Nhuần không bao giờ về bến sông này nữa.
 
Đúng như Ngô Quỳnh dự đoán, năm hôm sau, khi thuyền cập bến Tuần không thấy chị Nhuần bên những sọt hàng. Hai người về kẻ Sung. Đồ đạc trong nhà vẫn còn nguyên, duy chỉ có chiếc xà tích bạc của bà ngoại để trong hộp gỗ mun khảm trai là chị Nhuần mang đi. Ngay chiều hôm ấy, Nhuỵ giao thuyền cho Ngô Quỳnh trông nom rồi sang bên ngoại tìm mẹ. Chị Nhuần không về làng Ngô Đồng. ở đấy chẳng còn ai ngoài bà dì nghễnh ngãng suốt ngày chỉ lảm nhảm hát mãi một điệu "gà rừng" rè rè giống hệt tiếng chũm  chọe mẻ đập vào nhau. Nửa tháng, Nhuỵ về mặt mũi đen sạm, thở dài bảo:
- Không thấy đâu cả. Ngày mai ta bốc hàng cho thuyền ngược bến Tràng, anh Quỳnh thấy thế nào ?
Ngô Quỳnh gật đầu:
- Nhưng phải thuê thêm một chân sào, chỉ tôi với cô thì làm sao nổi.
- Cái đó tuỳ ở anh. Bây giờ anh là chủ thuyền kia mà.
Ngô Quỳnh ngẫm nghĩ một lúc rồi như chợt nhớ ra liền bảo:
- Mấy hôm vừa rồi tôi để ý có thằng bé choai choai vẫn khuân vác hàng cho các bà buôn trầu vỏ xuống thuyền của ông trương Thình, hay là ta bảo nó.
Nhuỵ cau mặt:
- Không được. Thuyền chúng mình phải tìm một người đứng tuổi, thạo nghề sông nước, rước cái đám trẻ ranh ấy về là hỏng việc.
Bị chạm nọc, Ngô Quỳnh chợt nhớ đến hoàn cảnh của mình cách đây mấy năm liền ướm hỏi:
- Nhuỵ nói gì thế ?
Cô gái nhìn chàng chủ thuyền mới giọng có vẻ không vui:
- Là vì tôi không muốn như mẹ phải khăn gói ra đi …
 
Hành nghề đò dọc mười năm, vợ chồng Ngô Quỳnh đã có một số vốn kha khá. Hai người bàn nhau bán thuyền cùng với ngôi nhà kẻ Sung mang con về làng Cùa lập nghiệp. Khi ấy ông trương Phẩm đã mất, bà mẹ già còng lưng suốt ngày chống gậy ra gốc đa làng ngóng con trai. Dân làng Cùa có thói cố chấp nhưng lại chóng quên nên vụ bê bối của Ngô Quỳnh cách đây mười bốn năm giờ chỉ còn là ký ức mờ nhạt. Vả lại, cô Son lấy chồng mãi làng Buộm, cách sông cách đò, có khi vài năm mới về thăm bố mẹ một lần, thành thử nỗi hổ thẹn trong lòng hắn cũng nguôi ngoai.
 
Ngô Quỳnh về làng được bốn năm thì chánh Đàm chết. Lý Lượng cùng phe cánh ông ta thất thế. Cao Lộng, người xóm Cầu Đá lên làm chánh tổng Kim Đôi bảo cử cho Ngô Quỳnh ra làm lý trưởng. Năm ấy ông ta mới ba mươi tuổi. Từ một chủ đò dọc nghiễm nhiên trở thành bà lý nhưng cô Nhuỵ chẳng thích tý nào, vì cảm thấy sống trong làng tù túng, không được thoải mái như lúc lênh đênh trên thuyền ngang dọc khắp mọi bến bờ. Tất nhiên lý Quỳnh không thể chiều theo nguyện vọng dở người của vợ nhưng cũng chẳng bắt chước chánh Đàm lúc sinh thời, thuê thợ đóng một con thuyền neo ở bến sông ngay dưới điếm  Bài Vân, thỉnh thoảng lại cho mẹ con cô Nhuỵ du ngoạn xuống tận ngã ba Môi. Giá như Ngô Quỳnh không đưa vợ về làng, yên phận làm ăn với nghề đò dọc thì bây giờ không tan cửa nát nhà. Cái nghiệp làm quan, dù là quan làng đôi khi cũng lợi bất cập hại. Đấy là chưa tính đến cái đoạn chỉ chút xíu nữa thì bị Khúc Kiệt xử bắn nếu không có Khúc Thị Nhân kịp thời ra cứu. "Mình hơn cô ta những hai mươi tuổi lại đã có một đời vợ không biết cô ta có chịu lấy mình ?". Trong tâm trí Ngô Quỳnh luôn vấn vương câu hỏi ấy. Kể ra con gái vùng Ba tổng quá  hai mươi không có người hỏi coi như ế. Khúc Thị Nhân đẹp thật nhưng có nốt ruồi dưới mắt. Hồi trước, ông cử Yên Duệ qua thăm Khúc Kiệt nhìn thấy cô ta bảo đó là tướng vất vả, hậu vận còn lắm tai ách. Tin ấy làm đám con trai trong làng ngại không anh nào dám rước. Đến khi bọn Nhật kéo về tàn sát, đốt phá làng Cùa, gia đình Khúc Kiệt chết gần hết, họ lại càng tin vào tài phán đoán của ông Cử. Ngô Quỳnh thích Nhân không phải chỉ vì cô còn trẻ mà cái chính là ông ta thấy cô có những nét hao hao giống với chị Nhuần ngày trước. Cho đến giờ, dù đã hơn ba mươi năm trôi qua, ông ta vẫn thấy mình xử sự như thế là đúng với đạo làm người, không xấu hổ với vợ con khi nhắm mắt xuôi tay  xuống suối vàng gặp họ.
 
Sáng hôm sau, Ngô Quỳnh lại mang cưa đục sang làm giúp Nhân nhưng lúc này cô đã sang cồn Vành xúc cá.
 
Năm ấy, lũ rút sớm. Mới cuối tháng bẩy, ở những chân ruộng cao cồn Vành, nước chỉ còn chưa đầy gang tay. Vùng trũng có nơi ngập ngang thắt lưng. Phù sa đặc sánh lắng xuống bám vào cỏ thành một lớp dày, mỗi khi khoả chân, thứ bột mịn màng ấy lại loang ra, đỏ tươi chẳng khác gì mai con cà da luộc. Những đám sậy, lác, cỏ gai ngâm nước hàng tháng vẫn xanh tốt. Trên gò đất cao bên làng Mật, đàn trâu đang thong thả gặm cỏ. Một con lội hẳn xuống rộc, bước chân ộp oạp, lia lưỡi liếm những ngọn lúa tái sinh lơ phơ trên mặt nước. Vẫn còn sớm. Mặt trời chưa kịp nhô lên đã bị cả một tảng mây hình thù giống hệt con sứa đè xuống. Đám mây dường như chỉ đứng yên một chỗ nhưng biến hoá vô vùng linh hoạt. Đầu tiên là màu xám đục, chỉ một thoáng đã thành khối bông trắng nõn, có những múi cuộn lại vừa nhẹ vừa xốp. Nhưng rồi khối bông trắng như tuyết ấy lại nhường chỗ cho một cái mạng nhện hình lục giác với những mắt lưới đan rất tinh xảo óng ánh như ngân tuyến. Trời sáng thêm một chút thì mạng nhện bạc mờ dần. Bây giờ là những lớp mây hình vảy cá gắn chặt vào cái màn khổng lồ màu thiên thanh. Đám vảy cá hiện lên với đủ các hình thù và màu sắc rực rỡ, có những lúc bất chợt loé lên như một đạo hào quang. Cuối cùng thì những ảo ảnh ấy cũng biến mất và mặt trời lên.
 
Nước lũ rút đi, dân mấy làng bên bờ sông Lăng kéo sang cồn Vành bắt cá. Đây là nơi sông tách làm hai nhánh xuống đến tận bến Phù Kiều mới hợp lưu, ôm lấy cánh bãi rộng hàng mấy trăm mẫu, là nơi tụ tập của đủ các loài thuỷ tộc. Cá trôi, cá rói nhởn nhơ bơi giữa đám cỏ xước cọng dài mấy gang tay, bò loằng ngoằng như dây thòng bong. Lũ này thường thích chỗ ruộng vàn kiếm ăn bằng cách sục cho nước đục ngầu lên. Những tay đánh cá chuyên nghiệp rủ nhau xếp giậm thành hàng theo hình vòng cung rồi ra thật xa dùng mõ dồn cá. Gặp bước đường cùng những con tinh khôn chơi trò quăng mình tháo thân còn phần lớn bị sa bẫy, nhảy loạn xạ trong giậm. Dân quăng chài nhiều khi vớ bẫm. Họ đón lõng ở những chỗ nước chảy, độ sâu vừa phải, thỉnh thoảng tóm được chú cá chép dăm  cân. Bọn này vô vùng láu cá, trừ hững người có kinh nghiệm sông nước còn thì ít khi bắt được.
 
Đàn bà con gái dùng rổ sề thậm chí cả rổ rửa rau bắt tôm dạt vào bờ ruộng. Tôm tép mùa này nhiều lắm, mấy chị em cái Nhút cái Nhít xúc một ngày mang về phơi được ba nong. Chính nguồn thủy sản phong phu trời cho như thế nên cồn Vành hằng năm luôn xảy ra tranh chấp quyền sở hữu giữa làng Cùa và làng Mật. Lúc ấy Nhân đang xúc tôm ở chân ruộng trũng giữa bãi cùng với cái Nhút, cái Nhít. Phía làng Mật có tiếng người cãi nhau. Một thằng bé làng Mật cướp con cá măng bằng bắp chân của cái Hậu xóm Trại Cá. Con bé nổi tiếng đanh đá. Nó cào vào mặt thằng kia rồi giẫy đành đạch như phải bỏng. Thằng "chọi"  làng Mật cũng là quân lỳ lợm, chẳng những không trả con cá mà còn xông vào túm tóc đối thủ đẩy xuống ruộng. Thế là một cuộc xô xát trên quy mô lớn xảy ra. Dân làng Mật huy động thanh niên trai tráng mang gậy gộc giáo mác ra trợ chiến. Chúng xông vào tịch thu tất cả các phương tiện đánh bắt cá. Dân làng Cùa yếu thế, mạnh ai nấy chạy ra bờ sông. Kẻ chèo thuyền, người ngồi bè chuối, số khác nhảy ào xuống nước bơi, cốt làm sao về bên kia càng nhanh càng tốt. Nhân chạy gần như sau cùng nhưng vẫn khư khư cắp cái rổ và giỏ tôm bên sườn. Một gã trung niên mặt có vết sẹo chạy dài từ dái tai xuống mép phải như bị dao chém, đuổi phía sau. Nghe bước chân bùm bũm, Nhân đâm cuống vấp vào đám cỏ lác bị ngã. Tay mặt sẹo dấn tới đầu tiên giằng lấy giỏ rồi thò tay luồn vào ngực cô gái. Đúng lúc ấy hắn bị cái tát như trời giáng vào giữa vết sẹo. Mặt vẫn còn nổ đom đóm , chưa hết choáng thì hắn lại nhận thêm một cú đệm bằng đầu gối vào bụng dưới, ngã ngửa ra, đầu đâm xuống bùn. Nhân chưa kịp hoàn hồn thì người thanh niên lạ mặt đã một tay xách giỏ, tay kia dắt cô chạy ra bờ sông. Phía sau bọn làng Mật đang ào ào đuổi theo. Bờ sông không còn một con thuyền. Anh ta kéo Nhân chạy gằn dọc theo bãi cát nhưng phía trước lại có một nhóm gồm bốn năm con mẹ nạ dòng, dẫn đầu là một lão già mặt choắt như mặt con cheo cheo cầm gậy hô hoán. Chẳng biết làm thế nào, chàng lạ mặt phải kéo Nhân lội xuống sông. Anh ta hỏi:
- Cô có biết bơi không ?
- Có... - Nhân thở hổn hển - Nhưng tôi ...
- Cứ bình tĩnh. Tôi sẽ đưa qua sông.
 
Anh ta nói cho Nhân yên lòng rồi đảo mắt nhìn quanh. Hoá ra vẫn còn hàng chục đoạn chuối của dân làng Cùa bỏ lại lúc tranh nhau sang sông bị sóng đánh giạt vào bờ. Anh chàng lạ mặt túm một cây rồi bảo cô gái:
- Bây giờ cô bám chặt vào đây, không được bỏ tay ra. Nhớ chưa ?
 
Người thanh niên bơi rất giỏi. Anh vừa bơi vừa đẩy cho cây chuối của Nhân đi đúng hướng nhưng cũng phải già nửa giờ hai người mới về được bên hữu ngạn. Khi Nhân lên bờ người thanh niên trao cho cô giỏ tôm và bảo:
- Lần sau đừng có tham, thấy bọn làng Mật gây sự là phải chạy ngay.
- Anh cũng là người làng Mật à ?
Người thanh niên lắc đầu:
- Tôi là người kẻ Bòng.
- Xa thế mà cũng đến bắt cá ?
- à ! đi cho biết thôi.
 
Mấy hôm sau, lúc Nhân đang nhào đất trát vách thì có một người gánh cưa đục vào xin nước uống. Nhìn người thợ mộc cô ta ngờ ngợ nhưng chưa dám hỏi ngay. Uống nước xong anh ta chưa đi mà cứ ngắm trời ngắm đất rồi hỏi mấy câu về gia cảnh. Nghe giọng nói Nhân nhận ra đó là người đã cứu mình qua sông khi bị gã đàn ông làng Mật đuổi.
- Vậy ra anh làm nghề thợ mộc. Sao hôm ấy anh bảo ở kẻ Bòng ?
- Lúc ấy nói thế để cô yên lòng, thực ra tôi là dân kẻ Suốt chuyên xách cưa đi đục kiếm cơm thiên hạ.
Nhân bảo:
- Dạo này làng Cùa cần thợ mộc. Anh đến đúng lúc đấy.
- Tôi cũng định như thế. - Anh thợ mộc ngắm gian nhà mới dựng xong bộ khung lợp rạ của Nhân liền bảo - Nhưng trước hết phải làm lại cái nhà này cho ra hồn đã.
- ấy chết ! - Nhân giãy nảy - Hàng xóm giúp thế này cũng đã tốt chán. Anh nhìn xem, làng tôi sau trận hoả hoạn, trừ bà cả Huê có nhà ai còn nguyên vẹn đâu. Vả lại tôi không có tiền trả công.
- Nhà như cái lều vịt của lão Côi ở kẻ Bòng thế này chỉ một trận gió là đi tong. Một mình cô xoay sở làm sao được.
- Anh nghe ai nói tôi ở một mình ?
- Còn chưa thành gia thất nữa kia. - Anh thợ mộc cứ như là có ma xó trong túi, nói vanh vách gia cảnh của cô chủ khiến Nhân vô vùng sửng sốt.
- Sao anh biết rõ về tôi như thế ?
-Là vì tôi mới gặp bác nhà … -Nói đến đây người thợ mộc hạ giọng thì thầm - Cô tìm cho một nhà gần đây để tôi ở tạm.
- Tối nay tôi sẽ dẫn anh sang bên ông đồ Sách. - Nhân ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo- Nhà ấy chỉ bị cháy mấy gian bếp.
 
Đồ Sách lúc đầu ngại không dám cho người lạ ở vì sợ Lý Quỳnh nhưng Nhân lại bảo:
- Anh ấy là thợ mộc bên kẻ Bòng có thẻ thuế thân, bác đừng lo, có chuyện gì cháu sẽ bảo với ông Lý.
Buổi tối đồ Sách mời  anh thợ mộc ăn khoai lang luộc. Làng Cùa đang vụ giáp hạt, nhà nào cũng hết thóc nhưng khoai lang cồn Vành thì nhiều vô kể. Có nhà nấu khoai khô với đỗ đen. Khoai chín trộn thêm mấy thìa mật mía, nắm lại bằng quả thanh yên ăn trừ bữa. Anh thợ mộc tên là Lãng, khoảng hăm bẩy hăm tám tuổi, viết chữ Hán rất đẹp. Thơ Đường, loại ngũ ngôn thi, bản in vừa lèm nhèm vừa mất nét, phần lớn là những chữ ít thông dụng, nhiều bậc túc cho còn phải tra từ điển "Khang Hy" hoặc"Từ hải" vậy mà anh ta đọc vanh vách, bình đâu ra đấy khiến đồ Sách rất phục.  Chưa đầy năm ngày ngôi nhà hai gian của Khúc Thị Nhân đã xong làm Ngô Quỳnh vô cùng tức tối. Một hôm, lúc ấy khoảng cuối canh một, Ngô Quỳnh rón rén vào cổng nhà Nhân thấy bên trong có tiếng nói chuyện, ông ta đoán, nhất định là tay thợ mộc đang giở trò chim chuột, liền cầm tay thước bước vào nói to:
- Bây giờ là giờ gì mà anh Lãng còn đến nhà đàn bà con gái tán tỉnh bậy bạ làm hại thuần phong mỹ tục.
Từ trong nhà, một người bước ra hằm hằm nhìn Ngô Quỳnh:
- Ông Lý nói gì mà chướng tai thế ? Ai tán tỉnh bậy bạ ?
 
Hoá ra không phải anh thợ mộc mà là Khúc Luận. Suốt từ tối đến giờ cậu ta cứ ngồi lỳ, Nhân đuổi khéo mấy lần cũng không về, vừa hay được lý Quỳnh giải cứu cho.
- Này cậu Luận ! - Lý Quỳnh lên giọng cha chú răn đe - Nếu ban đêm còn lảng vảng sang đây, tôi báo cho bà Cả nện cậu một trận ra trò đấy.
 
Khúc Luận chẳng có vẻ gì là sợ hãi. Mặt cậu ta vênh lên:
- Ông có quyền gì mà cấm tôi ?
- Là vì cậu hay sang đây quấy nhiễu cô Nhân. Cô ấy tuy con ông chú nhưng là người lớn, còn cậu mới chỉ là thằng ranh  con, lôi thôi tôi cho tuần đinh trói lại mang ra đình phạt vạ.
- Thách ông đấy ! Khúc Luận chẳng nể nang gì tuổi tác ông lý trưởng, giọng châm chọc - Đừng tưởng tôi không biết tâm địa của ông. Cô Nhân chẳng thèm …
- Thôi đi ! Anh Luận đừng nói càn. - Khúc Thị Nhân vội chạy ra bảo - Ông Lý nói không sai. Suốt ngày anh lêu lổng, tối lại sang bên này nói con cà con kê, thử hỏi tôi còn làm được việc gì ?
Ngô Quỳnh được thể, hất hàm khẽ quát:
- Về ngay ! Từ mai cấm sang đây.
Khúc Luận gườm gườm nhìn viên lý trưởng, bàn tay phải nắm chặt định quai cho ông ta một quả vào mặt cho bõ ghét nhưng nghĩ sao lại thôi, chỉ cười gằn nói đủ nghe:
- Tiếc là hồi ấy bọn Áo Đen không kịp cho ông viên đạn.
 
Cảm thấy đây là lúc thuận tiện nhất để tỏ rõ lòng mình, Ngô Quỳnh ngập ngừng một lúc rồi dè dặt hỏi:
- Mấy hôm nữa tốt ngày tôi nhờ người mang cơi trầu sang nhà Nhân …
Nhân thoáng giật mình. Lão lý trưởng lợi dụng cơ hội này để tỏ tình làm cô thật sự bối rối, bởi vì từ trước đến giờ chưa lúc nào Nhân nghĩ đến chuyện về nhà họ Ngô làm vợ một người hơn mình đến hai chục tuổi. Trong lúc lúng túng chưa biết từ chối thế nào để Ngô Quỳnh khỏi sượng mặt thì cô chợt nghĩ ra một  kế:
- Cảm ơn ông Lý đã có lòng thương nhưng chuyện trăm năm là hệ trọng, không được sự đồng ý của cha, "cháu" không dám tự quyền.
 
Lý Quỳnh thấy sự việc có vẻ không xuôi chiều bèn lựa lời thuyết phục:
- Ông ấy đi biền biệt biết đến bao giờ mới về, mà cái xuân xanh thì mỗi tuổi lại mất đi, chả lẽ cô cam chịu ở vậy đến già.
- Làng này thiếu gì con gái nhà tử tế và đẹp người, vừa đẹp nết - Khúc Thị Nhân nhẹ nhàng cất giọng đưa đẩy - "cháu" thuộc loại quá lứa nhỡ thì lại có mụn ruồi đón lệ dưới mắt, thầy tướng đoán hậu vận lắm gian truân, ông Lý chớ nên rước về.
- Bọn thầy tướng, thầy bói chỉ nói dựa. Tôi chẳng sợ cái nốt ruồi ấy mà rất yêu quý cô, muốn làm bạn trăm năm … Mong cô xét đến hoàn cảnh.
- ấy ông Lý ! duyên phận con người là tự trời sắp đặt, làm sao mà ép lòng mình được, "cháu" xin ông hiểu cho.
Năn nỉ năm lần bẩy lượt, Nhân vẫn một mực từ chối, Ngô Quỳnh không thể kiên nhẫn được nữa, bèn đổi giọng:
- Hay là cô đã bị cái thằng thợ mộc ấy nó chài ?
- Ông Lý đừng ăn nói hàm hồ.
- Bọn trai thiên hạ dẻo mỏ ấy các cô phải coi chừng. Chúng nó đều là phường lừa đảo, không giữ gìn, ễnh bụng ra thì mang tiếng cả làng.
 
Khúc Thị Nhân vẫn ngọt nhạt:
- Cảm ơn ông Lý đã dạy bảo. Chúng "cháu" là phận gái còn lo bằng mấy  ấy chứ.
Chuyện tỏ tình với Nhân không thành, lý Quỳnh dấu biệt nhưng không hiểu sao bà cả Huê vẫn biết. Bà nói bắn tin, nếu ông ta cưới con gái tên  Việt Minh làm vợ kế thì chính bà sẽ lên phủ Đông Giàng và huyện Nam Thành cáo quan thu triện đồng lý trưởng. Ngô Quỳnh biết người đàn bà ghê gớm này vẫn căm Khúc Kiệt vì vụ bắt nhốt hậu cung năm trước và đang chờ dịp trả hận.
 
Chập tối trời nổi giông. Sấm nổ lục bục thành từng chuỗi. Không gian nồng nực như sắp có bão. Đã mấy ngày không thấy Lãng đến. Nhân khắc khoải chờ, lòng dạ bồn chồn. Lúc cô sắp đi ngủ thì có tiếng gõ nhẹ vào tấm liếp. Lãng nhìn trước nhìn sau rồi lách vào nhà ôm choàng lấy Nhân. Cô bị bất ngờ, khẽ đẩy người đàn ông ra rồi với tay gài chốt cửa. Cũng vào lúc ấy, những hạt mưa xiên gõ lộp bộp trên vườn chuối sau nhà. Cơn mưa đêm hè mỗi lúc một nặng hạt, chỉ một loáng đã có tiếng nước chảy ràn rạt ngoài sân lẫn trong thứ âm thanh rền rĩ của gió và sấm. Thỉnh thoảng một tiếng sét sắc lạnh, khét lẹt khiến Nhân giật nảy mình, co rúm người lại, ôm cứng lấy Lãng. Trận mưa làm đêm như giãn ra. ếch nhái, chẳng chuộc và nhất là lũ ễnh ương hoa xanh, ban ngày thường nổi lập lờ giữa những đám bèo ong, giờ ngoác cái miệng rộng đến mang tai, đua nhau trình tấu bằng đủ thứ âm điệu hỗn tạp, lúc ộp oạp, lúc the thé, lúc lại khàn khàn như tiếng vịt đực. Một con mèo hoang đến kỳ động cỡn gào lên bằng thứ giọng đặc biệt khủng khiếp, chẳng khác gì ma quỷ gọi hồn người chết. Ngoài bờ tre, có tiếng chiêm chiếp rất là ai oán của chú chích choè non bị rơi khỏi tổ. Gió đã dịu đi nhưng mưa vẫn còn nặng hạt.
 
Nhân hỏi chàng thợ mộc:
- Anh là Việt Minh phải không ?
Lãng quàng tay ôm ngang người cô gái, không trả lời mà hỏi lại:
- Sao em biết ?
- Có gì mà không biết. - Nhân bảo - Ngay hôm đầu, thấy anh xách đồ nghề đến làng Cùa em đã ngờ ngợ.
- Hình như em chưa hiểu gì về Việt Minh ? - Lãng thì thầm giải thích - Đó là một    tổ chức cách mạng…
- Phải ! - Nhân bỗng dài giọng chì chiết - Vì "tổ chức cách mạng" ấy mà cách đây gần một năm làng Cùa bị thiêu hơn trăm nóc nhà, chết oan bảy tám chục mạng người.
Lãng im lặng ngẫm nghĩ một lúc rồi bảo:
- Anh hiểu tâm trạng của em. Sở dĩ có tổn thất lớn như vậy là do một số cán bộ manh động, không chấp hành chỉ thị của thượng cấp. Đảng chủ trương vận động quần chúng đấu tranh, chờ đợi thời cơ thuận lợi để giành chính quyền.
 
Nhân khẽ "hứ" một tiếng:
- Em chẳng ưa gì cái thứ cách mạng mà lại mang người bà con của mình treo lên cây gạo rồi xả súng bắn. Em bảo này, anh bỏ quách Việt Minh đi, về làng  Cùa . Ông lý Quỳnh tuy thế nhưng là người tốt sẽ đứng ra bảo lãnh cho anh được ngụ cư.
 
Lãng lắc đầu:
- Nói thế thì khác gì em xui anh đầu hàng. Anh là người của Tổ chức phải đặt quyền lợi của Tổ Quốc và dân tộc lên trên quyền lợi bản thân.
Nhân lặng lẽ thở dài:
- Anh nói chẳng khác gì ông bố em. Thôi thì tuỳ anh.
Đến lúc ấy Lãng mới ngập ngừng bảo:
- Cuối tháng này anh phải đi.
- Bao giờ anh về ?
-Chắc cũng không lâu nữa đâu. Tình hình đang có nhiều chuyển biến, Đến lúc ấy chúng ta sẽ nhờ Tổ chức đứng ra làm đám cưới.
 
Lãng và Nhân không ngờ rằng, đêm hôm ấy dù trời mưa to gío lớn vẫn có một bóng đen  lẩn khuất ngoài vườn chuối. Đó chính là Ngô Quỳnh. Biết chắc Lãng là Việt Minh từ bên kia sông Lăng sang, ngay từ chập tối, ông ta đã cho người báo quan huyện Nam Thành. Lập tức, một tốp quan binh nai nịt súng ống như đi trận, đội  mưa về làng Cùa. Cai Viện đội chiếc mũ đỏ chót như đít chào mào chỉ huy bốn cảnh binh ập vào nhà đồ Sách. Ông này vẫn còn đang ngủ bị dựng dậy.
- Tay thợ mộc đâu ? - Viên cai hỏi cộc lốc rồi đảo mắt nhìn khắp lượt mấy gian nhà tranh dột nát ẩm mốc như hang chuột.
 
Đồ Sách mắt nhắm mắt mở, thấy đám lính tráng sát khí đằng đằng, mặt xám ngoét như vừa bị sét đánh trượt, giọng lập cập:
- Bẩm … các quan … anh ta ở … dưới nhà ngang.
Cánh cửa liếp bị gã lính mũi sần như vỏ chanh rám đạp đến "roạt" một cái. Cả bốn khẩu súng đều lên đạn rôm rốp. Viên cai mũ đỏ quét một vệt đèn pin. Cái giường tre trống không.
Cai Viện nhìn trước nhìn sau rồi hất hàm bảo đồ Sách:
- Đi gọi ông lý Quỳnh sang đây.
Linh tính cho Nhân biết có chuyện chẳng lành vội lay Lãng dậy vì có tiếng chó sủa dữ dội từ phía xóm Đình vọng lại.
- Anh chạy ra lối bờ sông ngay đi ! - Nhân cuống quýt giục - Hình như có lính về làng.
- Em cứ bình tĩnh - Lãng áp tai vào cửa nghe ngóng một lúc, vơ chiếc áo cánh khoác lên người - Nếu chúng đến khám nhà thì không được nói anh ở đây.
- Nhớ rồi, thôi anh đi đi.
Lãng lẩn vảo vườn chuối, ngồi xuống một lúc xác định phương hướng sau đó luồn qua cổng nhà trương Ngạnh.
- Có trộm - Ông Ngạnh thoáng thấy bóng người xé rào chạy về phía ao Quan vội la lên - Bớ bà con ! Bắt trộm.
 
Anh thợ mộc vừa chạy vừa thở, sắp đến chỗ cây sung thì bị cánh tuần đinh xóm Bờ Sông khua giáo mác chặn đường đành phải rẽ ngang vào vườn chuối ông vệ Đà. Cùng lúc toán cảnh binh xách súng rượt tới. Bí quá, Lãng nhảy ùm xuống ao, lặn một hơi, bơi ngầm dưới nước, được một lúc thì chạm cọc lều vó lão Tư Kền. Đã sắp đến đê quai. Chỉ cần cố một đoạn nữa là ra bờ sông Lăng. Phía gốc gạo đuốc cháy rần rật. Tiếng hô hoán mỗi lúc một  xa vì cánh tuần đinh ngại nhảy xuống nước mà rồng rắn kéo nhau vòng theo bờ ao. Khả năng thoát hiểm đã nằm trong tầm tay. Trong khi chạy loạng quạng, Lãng vấp phải con chó đá ở cổng nhà Quản Sầm, bị trẹo chân, đau lắm nhưng không dám nghỉ. Sau khi vượt qua con đê, Lãng lao xuống bờ cát định vượt sông, chợt có tiếng quát:
- Đứng lại ! Mày đã bị bắt.
 
Người thợ mộc giật mình. Sống lưng lạnh toát. Anh không thể ngờ mấy tên cảnh binh chạy theo lối đường trục giữa làng đón lõng ở đây. Ước lượng khoảng cách giữa mình và bọn lính, thấy khó có thể thoát được, Lãng tính nước liều, phó thác tính mạng cho sự may rủi.
- Thôi được, coi như các ông thắng, tôi xin hàng. - Lãng nheo mắt cười nhạt rồi bất ngờ cắm đầu lao xuống sông.
 
Bọn cảnh binh đã dự kiến đến trường hợp này nên chúng không mất bình tĩnh mà lần lượt kéo cò súng xả đạn vào những chỗ có tăm nước nổi lên. Khi toán tuần binh chạy đến nơi thì mặt sông đã trở lại yên tĩnh. ở gần ghềnh đá chỉ còn thấp thoáng những đám bọt nước sẫm  màu bị sóng đẩy cuộn lại chẳng hiểu là phù sa hay máu người thợ mộc.
 
Ba ngày sau, cánh phu đò dọc vớt được một xác người bị đạn xuyên vào lưng nổi lên ở bến Tuần Châu. Quan huyện Nam Thành cho khám nghiệm tử thi, biết đó chính là tên Việt minh đóng giả thợ mộc đến làng Cùa xúi giục dân cày nổi loạn, liền ra lệnh treo lên cành đa giữa chợ Từ Đường thị uy.
 
2
 
Đến tháng thứ tư thì cái bụng của Nhân không thể giấu được nữa. Những người phát hiện ra sự kiện này trước hết là đám phụ nữ xóm Đình. Bà cả Huê vội chớp thời cơ, Trong âm trí người đàn bà đáo để này đã mường tượng ra hình ảnh cô con gái xinh đẹp của lão em chồng bị gọt tóc bôi vôi trên chiếc bè chuối nổi phập phềnh giữa sông Lăng trước sự chứng kiến của bàn dân thiên hạ.
 
Về phần mình, trước khi cử trương Tòng đi báo quan, Ngô Quỳnh không ngờ được sự việc lại phức tạp đến thế. Ông ta chỉ muốn gã Việt Minh trai lơ biến khỏi làng Cùa càng sớm càng tốt để hắn khỏi phá hỏng kế hoạch tán tỉnh Khúc Thị Nhân của mình. Chuyến này mà Khúc Kiệt kéo quân về thì không biết chuyện gì xảy ra nếu con gái ông ta bị làng phạt vạ. Viên lý trưởng thầm nghĩ, thời thế sắp thay đổi rồi mà bà vợ goá lão chánh Đàm vẫn thù dai như đỉa. Thật là đồ ngu. Phải tìm cách xử lý ngay, nếu không con mẹ đồng bóng ấy kích động cánh phó lý Kiền, cửu Nghi, binh Tào vốn rất hăng hái trong việc bảo vệ hương ước thì cô ta khó mà thoát khỏi hình phạt.
 
Chập tối hôm sau, Lý Quỳnh sang nhà Nhân. Cửa vẫn đóng im ỉm. Ông ta sinh nghi liền xách tay thước ra bờ ao Quan. Loanh quanh gốc cây gạo đổ khá lâu, vị lý trưởng đa tình lại vào vườn chuối tìm kiếm. Khu miếu hoang vẫn hoàn toàn im ắng thỉnh thoảng có tiếng cú rúc, chứng tỏ quanh đây vắng người. Một ý nghĩ chợt thoáng qua, Ngô Quỳnh hấp tấp chạy lên đê. Từ xa, một bóng người hiện ra lờ mờ dưới ánh sao đêm, vai quàng khăn gói lững thững đi dọc bờ sông. Trên cao, một con vạc lẻ loi từ rừng Hóp hối hả sải cánh sang bên kia cồn Vành bắt đầu cho buổi kiếm ăn. Mặt sông đen thẫm, thỉnh thoảng mới dậy lên tiếng lao xao lười nhác như tiếng thở dài của kẻ thất tình khi bất chợt có ngọn gió mệt mỏi từ ngã ba Môi trườn về. Người phụ nữ thẫn thờ, một mình đối diện với dòng sông, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nhìn bầu trời sao. Lý Quỳnh lặng lẽ đến bên khẽ gọi:
- Cô Nhân !
 
Người phụ nữ không quay lại, thản nhiên bước xuống mép nước.
- Cô Nhân ! Đừng làm thế. Đời người ta đâu phải con sâu cái kiến mà bỗng chốc bỏ phí.
-Ông Lý về đi ! - Nhân lạnh lùng bảo.
Ngô Quỳnh bước dấn lên giọng dứt khoát:
- Sau vụ Nhật càn năm trước, tôi đã hứa với ông Khoá chăm sóc cô. Hoàn cảnh lúc này cũng có chỗ khó nói nhưng mà …. ý tôi đã quyết.
Lý Quỳnh chưa nói hết câu thì Nhân đã gieo mình xuống nước. Ông ta hốt hoảng, để nguyên cả quần áo nhảy theo. Đêm cuối tháng không trăng. Mặt sông vẫn mờ mờ phản chiếu những vệt sao lưa thưa viền quanh đám mây bạc hình dạng như con cá sấu vắt ngang cồn cát. Sông chảy không xiết lắm nhưng đoạn này thường có nước quẩn. Ông Lý phải lặn ngụp một lúc khá lâu mới đưa được Khúc Thị Nhân lên bờ.
 
Sáng hôm sau, lý Quỳnh sang nhà, thấy Nhân đã dậy được liền trách:
- Sao cô dại thế. Đời con gái còn dài, tội gì mà chết.
Nhân cười nhạt:
- Ông cứu tôi làm gì. Chết như thế còn thanh thản hơn là để làng đóng bè trôi sông.
- Cô lầm rồi .  - Ngô Quỳnh thong thả bảo . - Tôi thách đứa nào ở vùng Ba Tổng này dám động đến sợi tóc trên đầu cô.
 
Bà Cả Huê lồng lộn như con thú dữ bị trúng thương khi biết tin lý Quỳnh mang lễ đến ăn hỏi con gái khoá Kiệt. Cánh chức sắc trong làng hậm hực muốn phạt vạ Khúc Thị Nhân nhưng lại sợ uy thế lý Quỳnh đành phải lờ đi cho dù họ biết chắc cái thai kia là của gã thợ mộc trá hình. Về mặt danh dự, tất nhiên Ngô Quỳnh bị bẽ mặt với hàng tổng, những điều ấy không hề cản trở ông ta thi hành phận sự của nhà chức trách đứng đầu làng Cùa. Có lần chánh tổng Lê Bang cho gọi lý Quỳnh ra đình Cả nghiêm giọng răn đe:
- Đường đường là lý trưởng đương chức mà đêm hôm  mò vào nhà con gái người ta giở chuyện trăng hoa, thầy có biết phạm tội gì không ?
 
Ngô Quỳnh vốn lắm lý sự, nghe xong, chắp tay cúi đầu:
- Bẩm ông Chánh, sau sự biến làng Cùa, tôi mất vợ mất con, một thân một mình, lại gánh vác việc làng, vất vả nên phải kiếm một người về lo việc nội trợ.
Chánh Bang nhếch mép cười gằn:
- Không ai cấm nhà thầy cưới vợ nhưng đã là bậc quân tử thì phải hành xử cho đàng hoàng. Thầy thậm thụt với người ta bụng ễnh ra rồi mới tính chuyện cưới hỏi thì còn ra thể thống gì.
 
Nghe Lê Bang lên giọng răn dạy đạo đức, Ngô Quỳnh ngứa tai vặc lại:
- Ông Chánh toàn xoi mói người khác mà không nghĩ đến bản thân mình. Cả tổng này ai còn lạ gì ông đã có đến ba bà vợ mà mới đây còn bắt con gái nhà trương Dậm ở làng Dọc mới mười sáu tuổi về làm thiếp chỉ vì trước đây nhà Dậm nợ lãi mấy thùng thóc. Nói thật, ông Chánh để cho cô ấy về đi, nếu không Việt Minh họ sẽ hỏi thăm đấy.
 
Chánh Bang ngồi ngẩn người ra một lúc, đáng lẽ phải nổi cơn thịnh nộ trút giận dữ vào gã thuộc hạ dám ngang nhiên chỉ trích mình thì lại khẽ gật đầu bảo:
- Thầy nói đúng, cuộc cờ đã sắp tàn, có lẽ tôi cũng xin nghỉ chân chánh tổng.
 
Thật tình, Khúc Thị Nhân chẳng vui vẻ gì với cuộc hôn nhân chênh lệch như cha con này, nhưng vì đã chịu ơn lý Quỳnh vừa cứu mạng vừa cứu danh dự nên đành phải nhắm mắt đưa chân. Cô không thể ngờ được phía sau bộ mặt tưởng như rất thành thực của ông ta lại là một âm mưu đen tối được vạch ra khá tỉ mỉ và thận trọng để chiếm đoạt mình. Lý Quỳnh cũng đủ khôn ngoan để toán cảnh binh ập vào nhà đồ Sách trước. Đây là kế "điệu hổ ly sơn". Biết chắc tay Việt Minh thế nào cũng thoát ra lối bờ sông, phía dưới điếm Bài Vân nên ông ta ngầm bảo cai Viện cho người đón lõng từ trước. Sự việc xảy ra hoàn hảo đến mức, dân làng Cùa không một ai biết Ngô Quỳnh là thủ phạm gây ra cái chết bi thảm của người thợ mộc trừ trương Tòng và bà cả Huê.
 
Nói cho công bằng, trong thâm tâm Ngô Quỳnh chẳng sung sướng gì nếu sau này buộc phải nuôi con kẻ khác, cho dù anh ta đã sang thế giới bên kia. Vì thế, mỗi khi nhìn thấy cái bụng lùm lùm của Nhân, phải khó khăn lắm ông lý trưởng mới nặn ra được nụ cười. Lựa dịp ông ta dẫn đám dân phu lên hộ đê Trung Hà, bà cả Huê lẻn sang nhà nói cho cô cháu gái biết rõ sự tình. Nhân lắc đầu nhìn bà bác đầy vẻ nghi kỵ:
- Cháu không tin ông Quỳnh lại nhẫn tâm làm việc ấy ?
 
Bà cả Huê nhổ nước trầu, lấy tay vuốt hai bên mép, thong thả bảo:
- Tin hay không là ở chị. Từ trước đến nay tôi không vu oan giá hoạ cho ai bao giờ. Người cảnh binh có cái bớt bên cằm là cháu gọi tôi bằng dì họ ở Mạc Điền cho biết, chập tối hôm ấy lý Quỳnh sai trương Tòng lên báo huyện.
- Thì ra là như vậy.  - Nhân lắc đầu thở dài - Tất cả đều là do ông ta sắp xếp.
- Chị thật là hồ đồ. - Bà Cả trách - Làng này từ trước đến nay lạ gì tư cách lý Quỳnh mà dấn thân vào. Lại còn đứa bé nữa, sau này liệu ông ta có để cho mẹ con chị yên ổn không ?
 
Giờ thì Nhân đã hiểu ra, Thật là tiền oan nghiệp chướng. Đêm ấy cô trằn trọc mãi không ngủ được, gần sáng, vừa chợp mắt một lúc lại mơ thấy cái xác người thợ mộc treo lủng lẳng trên cành đa. Sợ quá, Nhân thét lên, người toát mồ hôi hột . Xế chiều, Nhân vơ mấy bộ quần áo ấn vào chiếc tay nải, quàng lên vai rồi thập thững ra  bờ sông, di dọc triền đê, đến bến Ngàn thì xuống một chiếc đò dọc.
 
Chương 7
 
Chương bảy
 
1
 
Tháng tám năm bốn nhăm. Bầu trời vùng Ba tổng xanh màu nõn chuối. Nắng nhạt. Một con diều hâu xám, xoè cánh rộng, lượn đi lượn lại trên dải đồng vàn dõi mắt tìm những chú chuột đất ngờ nghệch đang thập thò dưới đám bìm bìm tía. Bầy sáo đen bay rào rào tìm bắt châu chấu cơm ngoài bãi tha ma đồng Chó Đá. Lũ sẻ bạc má gọi nhau lích tích, cứ bay một đoạn lại cụp cánh rơi xuống gần mặt ruộng rồi bất chợt vọt lên như những nghệ sỹ nhào lộn thực thụ.
 
Đoàn người rùng rùng trên đường quan. Đấy là một đám đông hỗn tạp gồm đủ mọi tầng lớp của mấy làng vùng hữu ngạn sông Lăng kéo nhau lên huyện Nam Thành cướp chính quyền. Cuộc biểu tình có vẻ như hoàn toàn tự phát, không theo bất cứ trật tự nào. Dân nhà quê, kẻ giáo mác, người gậy tre hăm hở gia nhập vào đội quân chân đất mỗi lúc một đông, khí thế xung thiên, sẵn sàng đập tan bất cứ trở lực nào trên đường đi giành quyền độc lập tự do.
 
Lê Văn Vận thuộc tốp đi đầu. Anh ta xuất hiện trước cổng huyện đường với tư cách là người chỉ huy cao nhất. Tiếng hô "đả đảo" rầm trời. Hàng trăm cố nông, tá điền xô đổ hai cánh cổng sắt ùa vào lỵ sở như nước vỡ bờ. Không có bất cứ sự chống cự nào. Mấy chục lính ở trại Lệ, trại Cơ đã nhanh chân chuồn từ lúc đoàn biểu tình còn ở chợ Cháy. Tri huyện Cáp Văn Tòng bỏ cả ấn tín chạy ra phía chuồng ngựa, đang loay hoay trèo tường thì bị dân đinh làng Yên tóm được. Viên thừa phái sợ quá, quỳ xuống vái như bổ củi xin tha mạng. Lê Văn Vận đóng bộ bà ba nâu, vai mang túi dết, tay vung vẩy khẩu súng lục Nhật nòng to bằng ống điếu, dõng dạc hô:
- Các đồng chí, giải tên tri huyện ra chợ Cháy cho nhân dân xử tội.
 
Vận vừa dứt lời, mấy tuần đinh làng Cọi lăm lăm cây mác trong tay, đẩy Cáp Văn Tòng ngã sấp xuống, luồn đòn tre vào hai tay hai chân khiêng đi như khiêng lợn. Nơi xử án là một gò đất cao trước đây vẫn dùng làm khán đài mỗi khi có quan Công sứ về hiểu dụ. Viên tri huyện bị trói vào cột. Chiếc áo the thâm rách toạc một đường sát nách rủ lòng thòng. Đám người hiếu kỳ chen lấn nhau. Ai cũng muốn nhìn thật rõ bộ mặt thiết bì với cặp mắt sâu hoắm và bộ râu dê lúc nào cũng vểnh lên như là được vuốt sáp của quan phụ mẫu. Vòng tròn chẳng mấy chốc bị khép lại. Người chen người chật như nêm cối. áp lực phía ngoài càng mạnh thì đám đông càng hỗn độn. Phụ nữ, trẻ em và người già yếu là những nạn nhân đầu tiên. Họ vữa ngã xuống lập tức có hàng ngàn bàn chân dẫm lên, hết lớp này đến lớp khác như những đợt sóng nối tiếp nhau, chồng lên nhau vào lúc biển động. Nhìn thấy đám đông đang dồn ép dữ dội cùng với những tiếng gào thét long trời lở đất, Lê Văn Vận tái mặt. Anh ta vội chĩa súng lên trời nổ liền mấy phát. Tiếng súng làm cho những kẻ đang say máu càng bị kích động. Họ bất chấp những tiếng quát tháo đã khản đặc của người chỉ huy vẫn ào ào lấn tới theo quy luật của dòng nước lũ không một sức mạnh nào cản nổi. Lúc này mà còn nấn ná ở đây là chết bẹp. Vận thoáng nghĩ như vậy thì lập tức bị hút vào đám người chân đất nhanh đến mức giống hệt chiếc lá rụng cuốn theo chiều gió chẳng còn biết số phận Cáp Văn Tòng ra sao nữa.
 
Giữa biển người mênh mông là một rừng cờ đỏ. Đủ các loại cờ nhưng nhiều nhất vẫn là cờ giấy với ngôi sao vàng năm cánh cắt vội chỉ nhỉnh hơn quyển vở học trò một chút. Thật hú vía. Vừa thoát ra khỏi chợ Cháy , Lê Văn Vận định vòng lại phía sau chợt nhìn thấy Khúc Kiệt cùng một đám dân binh giong viên Đội khố xanh. Tên này mặt xám ngoét, bước lập cập, thỉnh thoảng lại vấp một cái. Khúc Kiệt sững người khi chạm mặt anh cháu rể. Ông ta không thể tin được, một gã giang hồ chuyên nghề sông nước đầy thành tích bất hảo như hắn bỗng chốc trở thành người chỉ huy Việt Minh cao nhất vùng Ba Tổng.
- Chú ở đâu về ? -Lê Văn Vận hỏi.
- ở trại Cổ Bi bên kia sông.
- Đã vào chợ Cháy chưa ?
- Tôi vừa ở trong ấy ra. Họ chen lấn khiếp quá. Tri huyện Cáp Văn Tòng chết rồi. Người hắn nát bét như quả dưa bở.
Nghe xong, Lê Văn Vận lắc đầu, chép miệng:
- Thằng đểu, cách mạng chưa kịp xử tội nó đã chết.
 
Sáng hôm hai mốt, Uỷ ban Khởi nghĩa họp phiên đầu tiên sau khi giành chính quyền cử Lê Văn Vận làm chủ tịch lâm thời. Anh ta lập tức trưng dụng chiếc xe "đít vịt" của Cáp Văn Tòng làm phương tiện đi lại. Lái xe cũ trốn biệt, tìm mãi không thấy, Vận đành cử Phan Phê trước đây đã võ vẽ chút ít nghề cơ khí, mới theo Việt Minh mấy tháng, tập lái. Phan Phê là tay có máu liều, lao bạt mạng có lần đưa cả xe lẫn người xuống ao làm Vận xuýt chết. Từ  đấy ông Chủ tịch đâm ra thù các loại phương tiện có động cơ, chuyển sang cưỡi ngựa.
 
Khúc Kiệt được bổ nhiệm làm trưởng ban An ninh huyện kiêm chủ tịch Uỷ ban hành chính xã Đoàn Kết gồm  mười hai làng vùng Ba tổng. Trụ sở đóng tại làng Cùa. Ông ta lập tức tổ chức đội quân bán vũ trang chuyên trấn áp những kẻ gây rối trật tự xã hội hoặc âm mưu chống đối cách mạng. Đội quân này được một sỹ quan Nhật đào ngũ tên là Côgô huấn luyện võ thuật và cách bắn súng.
 
Làng Cùa sau khi Việt Minh giành chính quyền xem ra cũng chưa có thay đổi gì rõ rệt ngoài việc nhà nào cũng treo cờ đỏ sao vàng và thỉnh thoảng lại đổ về sân đình Cả mít tinh hô các khẩu hiệu Cách mạng khản cả giọng. Chủ tịch Khúc ngày nào cũng xuống các làng đăng đàn diễn thuyết về chính sách đoàn kết dân tộc của Mặt trận Việt Minh và vận động các nhà giàu quyên thóc gạo, quần áo , chăn màn ủng hộ người nghèo. Cánh địa chủ phú nông tất nhiên chẳng mặn mà gì với cái chính sách nửa vận động cửa cưỡng bức này nhưng cũng phải bấm bụng nhả ra vài thứ đồ tàng tàng để đỡ bị các đội viên an ninh đến nhà làm khó dễ. Những vật dụng trưng tập được, Khúc Kiệt cho mang về đình Cả để phân phát tận tay bà con cố nông đang nóng lòng chờ đợi hưởng ân huệ của Cách mạng.
 
Hôm ấy, dân làng Cùa dồn hết ra đình đứng vòng trong vòng ngoài giống hệt những dịp trước đây chen chúc nhau ngoài chợ Rồng đợi nhà chức trách phát chẩn. Khúc Kiệt trong bộ đồ kaki, lưng đeo khẩu súng nặng trịch kéo trễ xuống một bên hông, đứng trên bậc tam  cấp dõng dạc thông báo:
- Hôm nay, chính quyền nhân dân xã Đoàn Kết, nhân danh Cách mạng cấp phát quần áo chăn màn cho những gia đình nghèo. Đề nghị bà con trật tự nghe chúng tôi đọc tên, đến ai thì người ấy vào nhận, không được chen lấn nhau. Trước hết xin mời ông mõ Khính:
Có tiếng người phía sau, giọng nhỏ thôi những nghe rất rõ:
- Bà con chớ có dại mà tin giọng lưỡi khoá Kiệt.
Thường Rỗ nghển cái cổ ngẳng  ngoái lại nhìn, hoá ra là đồ Sách. Anh ta bảo:
- Bác nên giữ mồm giữ miệng. Họ mà nghe thấy là tù mọt gông.
- Cậu quên cái đận năm Mùi vì đội quân áo Đen mà làng mình chết oan bẩy tám chục mạng rồi à ? -  Đồ sách gườm gườm nhìn anh bắt ếch - Cuộc cờ bây giờ mới bắt đầu nhưng tôi đã đoán được kết cục ra sao rồi.
- Bác định làm gì ? - Phó hội Bảng cũng xán đến ghé tai Đồ Sách thì thầm.
Đồ sách thản nhiên bảo:
- Cái "Chính quyền nhân dân" này xem ra chẳng thọ được lâu đâu. Tôi mà nói sai xin làm con chó giữ nhà cho các ông.
- Bác chỉ nói càn . - Thường Rỗ vặn lại - Họ có đảng Cộng sản lãnh đạo lại được khối quần chúng công nông hậu thuẫn, đổ làm sao được.
 
Đồ Sách cười nửa miệng:
- Các ông nhìn xem. Một chính quyền cách mạng được tuyên truyền với đủ thứ tốt đẹp từ trước đến nay chưa bao giờ thấy mà lại để một gã vô học, chuyên nghề hạ bạc làm chủ tịch và lão khoá Kiệt gàn bát sách giữ chân trưởng ban An ninh thì còn ra thể thống gì nữa. Tôi đồ rằng, chẳng chóng thì chày, bọn họ sẽ tịch thu hết ruộng đất của cánh nhà giàu chia cho lũ khố rách áo ôm cũng nên.
- Nói khẽ chứ ! - Phó hội Bảng bảo - Hình như bác cũng có tên trong danh sách chẩn cấp đấy.
- Tôi tuy nghèo thật nhưng cóc cần cái thứ của phi nghĩa ấy. -Đồ Sách phẩy tay bảo - Hôm nay ăn mồ hôi nước mắt của người ta ngày mai lại phải nhả ra thôi.
Phó hội Bảng khẽ huých đồ Sách châm chọc:
- Bác chẳng hiểu thế nào là thành quả đấu tranh cách mạng cả. Đấy là lộc trời cho, không lấy là dại.
- Thế thì ông chen vào mà lấy.
- Ông xỏ tôi đấy à ? - Phó hội Bảng vặc lại - Mấy hôm trước bà vợ tôi phải nộp cho chính quyền hai bộ quần áo gụ và một cái mền bông.
- Thảo nào mặt ông vênh như bánh đa nướng.
- Này, ông đừng có cạnh khoé.
- Thôi các ông đừng cãi nhau nữa . -Thường Rỗ kéo cánh tay đồ Sách bảo - Hình như lão Mõ già không nhận quần áo thì phải.
- Lạ nhỉ...
 
Đúng thật, ngay trước cửa Đình, lão Khính dõng dạc bảo Khúc Kiệt:
- Cảm ơn các ông Cách mạng đã giải thoát cho lão cái nghề đầu chày đít thớt nhưng lão không vợ con, không ruộng vườn nhà cửa, sau này biết lấy gì mà sống ? Còn quần áo lão không dám nhận đâu. Lão kinh cái năm Nhật kéo về tàn sát dân làng Cùa lắm rồi. Nay mai ông Khoá với chính quyền tếch vào rừng, bọn nhà giàu lại kéo đến đòi, mà những thứ này mặc mãi rồi cũng rách lấy gì trả người ta thế là lão mắc nợ, chả dại …
 
Nghe Mõ khính con cà con kê, Khoá Kiệt tức lắm, chỉ muốn cho lão già dở hơi mấy cái bạt tai nhưng vẫn cố gượng cười để làm yên lòng đám tá điền :
- Cụ ơi, cụ lẩm cẩm rồi. Cách mạng đã thành công. Từ nay chính quyền xóa bỏ vĩnh viễn mọi hình thức bóc lột, mọi công dân được tự do  làm ăn, cụ cứ nhận đồ cứu trợ đi, không ai đòi đâu mà sợ.
-Nếu đã thế thì Cách mạng bán ngay cho lão mấy sào ruộng, bây giờ thì lão chịu nhưng sau này nhất định sẽ thanh toán cả gốc lẫn lãi.
- Cụ Khính nghe đây ! - Khoá Kiệt dằn giọng - Uỷ ban hiện thời chưa có ruộng đất nhưng nhất định sau này sẽ có để chia cho dân nghèo. Tôi lấy danh dự hứa với bà con làng Cùa. Nào, cụ nhận đi rồi về cho người khác vào.
Mõ Khính vẫn lắc đầu:
- Lão không dám đâu. Hay là ông Khoá cho lão gia nhập đội An ninh để khỏi phải  … cởi truồng đánh giậm.
Lúc này Khúc Kiệt không thể cười được nữa. Ông ta quắc mắt quát khẽ :
- Đứa nào xui cụ đến đây phá đám ? Cụ định đùa với nhà chức trách đấy hả ?
 
Kết quả là, hôm ấy không một kẻ cùng đinh nào lên nhận đồ cứu trợ xã hội. Chập tối Khúc Kiệt cử các đội viên mang quần áo, chăn mền, yếm, váy đụp và các tã lót trẻ sơ sinh đến quăng vào các nhà bần cố nông. Chó sủa râm ran suốt từ đầu làng đến cuối làng. Sáng hôm sau, người đầu tiên phát hiện ra sự lạ lại chính là ông chủ tịch xã. Khúc Kiệt dậy sớm đi  đái, chợt thấy dưới ao đình có những vật nổi lều phều đủ loại đen đỏ nâu sẫm, cháo lòng. Ông ta sinh nghi liền xuống hẳn cầu đá, lấy chân khoắng lên, hoá ra đó chính là thứ hàng chẩn cấp mà tối hôm trước anh em An ninh đã mang cho dân nghèo.
- Thế này thì loạn thật ! - Khúc Kiệt nghiến răng trèo trẹo - Thế nào cũng có bàn tay chánh tổng Lê Bang với con mẹ cả Huê nhúng vào. Được, ta sẽ cho chúng biết thế nào là Cách mạng. Lũ chấy rận ấy mà lại dám vuốt râu hùm à?
Ngay chiều hôm ấy, Khúc Kiệt cho gọi viên cựu chánh tổng và cánh chức dịch cũ gồm chánh Bang, lý Quỳnh, phó hội Bảng, đồ Sách, và cả Huê ra trình diện. Bà cả Huê từ trước đến nay vốn không coi khoá Kiệt ra gì cất giọng châm chọc:
- Ông chủ tịch cho đòi chúng tôi ra đình chắc là để phát quần áo cũ ?
Khúc Kiệt nghiêm giọng:
- Trước hết, yêu cầu bà cả Huê không được xúc phạm đến chính quyền Cách mạng, nếu không chúng tôi bắt buộc tạm giam vào hậu cung như hồi tháng tám năm Mùi. Còn bây giờ có việc cần nói với các vị đây. Chế độ thực dân phong kiến đã sụp đổ. Chính quyền Nhân dân vừa được thành lập trên khắp đất nước do những đại biểu ưu tú của giai cấp vô sản, dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng sản Đông Dương. Các người đã từng làm chức sắc cho chế độ cũ, hành vi tội lỗi trong quá khứ đều tạm thời bỏ qua, từ nay phải yên phận làm ăn, không được túm năm tụm ba, bàn tán, kích động bà con nông dân chống phá chính quyền. Ai cố tình vi phạm chúng tôi buộc phải xử lý, lúc ấy đừng có trách.
 
Bà cả Huê bĩu môi cười nhạt:
- Tức là xử bắn chúng tôi phải không ?
Khúc Kiệt gật đầu:
- Cái đó còn tuỳ thuộc vào mức độ nặng nhẹ của tội trạng. Chẳng hạn việc bà xúi tá điền không nhận quần áo cứu trợ cũng như kích động ông Sách nói năng bừa bãi là đã đủ điều kiện lãnh án tử hình.
Bà cả Huê nhảy thách lên như bị ong châm:
- Nhà ông đừng có gắp lửa bỏ tay người nhá. Bọn tá điền không nhận của bố thí là việc của họ, can hệ gì đến tôi. Đừng có lên mặt dạy đời. Con Nhân nhà ông kia kìa, chửa hoang với lý Quỳnh rồi bỏ làng đi biệt tăm, sao không đưa hắn ra mà tùng xẻo.
Khúc Kiệt bị khiêu khích, không kìm được rút ngay khẩu súng pạc hoọc nòng dài ngoẵng, lên đạn rốp rốp chĩa vào vợ goá chánh Đàm . Một đội viên An ninh nhanh tay giữ lại hướng nòng súng lên trời. Tiếng nổ chói tai . Viên đạn xuyên mái ngói âm dương, mảnh vỡ rơi xuống sàn đình rào rào làm cánh Lê Bang được một phen hoảng hồn.
 
Khoá Kiệt mặt lạnh như tiền bảo người thư ký:
- Tạm thời đưa bà cả Huê với ông đồ Sách vào hậu cung, nhớ canh giữ cẩn thận, họ mà trốn mất là các anh phải ngồi thay đấy. Các vị đây có thể về nhưng không được ra khỏi làng. Ông Quỳnh ở lại tôi có việc cần hỏi.
Lê Bang ra tới sân rỉ tai phó lý Kiền:
- Chuyến này lý Quỳnh gay rồi ...
Chánh hội Bường cũng thì thầm:
- Bà cả Huê cậy thế chị dâu, quá lăng loàn phen này đi tù là cái chắc.
Trong đình, Khúc Kiệt hỏi Ngô Quỳnh:
- Tôi có nghe chuyện về con Nhân với tay Lãng nhưng không ngờ sự việc lại kết cục như thế. Ông đã thương thì thương cho trót vậy mà lại để nó đi khỏi làng.
Ngô Quỳnh đã hơi yên tâm vì Khúc Kiệt không biết cái việc ông ta cho người đi báo quan vội thanh minh:
- Cô nhà tính tình khác người lắm, khuyên nhủ mấy cũng không chuyển. Vào đúng dịp tôi phải hộ đê bên Trung Hà thì cô ấy bỏ nhà đi.
- Những ai đưa ra hình phạt đóng bè trôi sông ?
- Bà cả Huê và cánh phó Lý Kiền.
- Được, tôi sẽ cho con mẹ địa chủ này biết tay. - Khúc Kiệt giáng mạnh nắm đấm xuống án thư - Về phần ông, từ nay tôi đề nghị đảm nhiệm chức chủ tịch Liên việt xã. Đó là việc tập hợp các tầng lớp xã hội, giúp chính quyền củng cố khối đoàn kết, trấn áp bọn Việt gian phản động chống phá Cách mạng.
Lý Quỳnh ngập ngừng hỏi:
- Vậy tôi có được ra khỏi làng không ?
- Ông đã là cán bộ Việt Minh đi đâu  là quyền ông.
- Thế thì tốt quá. Tôi không ngờ ông chủ tịch lại chiếu cố
- Chuyện nhỏ nói làm gì . - Khúc Kiệt phẩy tay - Đầu tháng, ông đến đây nhận con dấu. Giờ ông có thể về. Tôi còn phải làm việc với anh em bên Đậu Khê thành lập đội tự vệ.
Việc bà cả Huê bị giam  sáng hôm sau được một viên An ninh báo lên huyện. Chủ tịch Lê Văn Vận vội cưỡi ngựa về làng Cùa. Dân xóm Trại Cá không thể nhận ra anh con rể chánh Đàm sau mười năm lang bạt kỳ hồ. Tuy mới ba chục tuổi nhưng vị chủ tịch huyện Nam Thành đã có tác phong chững chạc của một cán bộ từng trải. Anh ta ngồi thẳng đuỗn trên con ngựa lang cao lớn,dáng dấp y hệt ông nhạc ngày trước mỗi khi xuống các làng công cán hoặc lừa mấy bà vợ đến với ả nhân tình. Quả thật Vận cũng hơi ngại vì cái án giết lão chánh tổng hồi trước, nhưng nỗi sợ hãi lập tức nhường chỗ cho niềm kiêu hãnh của một kẻ đang đắc thế.
- Hãy quên chuyện cũ đi . - Anh ta tự bảo mình - Ta bây giờ đường đường là một ông chủ tịch huyện về địa phương công cán, bên cạnh lại có anh em An ninh bảo vệ, sợ quái gì. Kẻ nắm quyền lực trong tay là kẻ thống trị xã hội. Hơn nữa, cách mạng có nghĩa là phá bỏ cái cũ, xây dựng cái mới theo một trật tự khác hẳn. Lúc này cần phải quyết đoán.
Về đến đình Cả, Lê Văn Vận vừa xuống ngựa, lập tức cho gọi Khúc Kiệt đến quở trách về tội lạm dụng quyền hành bắt người vô cớ rồi ra lệnh thả đồ Sách và bà cả Huê. Chị em Khúc Thị Huệ và Khúc Luận thập thò ở ngoài cổng nhìn vào. Chúng không biết và cũng không tin đấy là "anh rể" mặc dù từ mấy hôm trước dân làng Cùa đã bàn tán khá nhiều sự kiện này. Khúc Luận vừa thấy và bà Cả cắp nón bước ra đã hỏi:
- Ông chủ tịch huyện có phải là anh Vận không mẹ ?
Bà Chánh quắc mắt:
- Câm  mồm ! Không được nói xằng. Thằng Vận chết mất xác ở rừng Đà Bắc từ lâu rồi.
- Sao con nghe ông phó lý bảo …
- Về nhà ngay ! Chuyện người lớn chúng mày biết gì mà bép xép.
Chủ tịch huyện về làng làm dân chúng xôn xao. Người ta nô nức rủ nhau ra đình nghe vị đại diện cách mạng nói về Nhà nước dân chủ mới và chủ trương người cày có ruộng của mặt trận Việt Minh. Sân đình lúc này trở lên quá chật với khối quần chúng đông đảo đang chen vai thích cánh nhau, ai cũng muốn nhìn thật rõ mặt người lãnh đạo cao nhất của địa phương. Thường Rỗ, Trịnh Doãng xuýt xảy ra ẩu đả chỉ vì tranh nhau đứng trên chiếc cối đá thủng vẫn dùng đập lúa kê góc sân. Bọn trẻ con nhiều đứa tinh ranh, leo tót lên chạc cây nhãn nhòm vào. Chỉ đàn bà con gái chân yếu tay mềm là thiệt. Họ bị đẩy ra tận phía bờ ao. ở vị trí ấy, chị em chẳng nhìn thấy gì ngoài những cai đầu lô nhô cao thấp với đủ thứ mùi hôi hám rất khó ngửi của đám lực điền bị gió tây nam nóng hầm hập phả tới.
 
Khúc Luận năm ấy đã vào tuổi mười bốn, người phổng phao, leo trèo rất giỏi. Cậu ta cùng với thằng Đậu, con phó lý Kiền, ngồi vắt vẻo trên cây xoan đào ngay đầu hồi dãy nhà ngang. ở chỗ ấy, chúng bao quát được toàn bộ quang cảnh cuộc mít tinh mà chẳng cần phải chen lấn, chỉ có điều là không thoải mái lắm, do phải bám vào cành cây, chân tay bị tê. Mục đích của Khúc Luận đến đây không phải chỉ nghe ông chủ tịch diễn thuyết mà để xác minh xem, nhân vật quan trọng này có phải là Lê Văn Vận, kẻ đã giết bố mình không. Khúc Luận căm thù anh ta đến tận xương tuỷ, chính vì vậy, đã nhiều lần nói với bà cả Huê, hễ có dịp là phải thanh toán sòng phẳng để vong linh ông Chánh được thanh thản. Năm Quý Mùi Khúc Kiệt đánh nhau với quân Nhật, Khúc Luận lấy được khẩu súng "dóp" cùng bao đạn của một đội viên áo Đen bị tử thương bên cạnh gò Me. Trong cơn hoả hoạn, làng Cùa nháo nhào, ai cũng lo thoát thân, mấy người để ý đến chuyện súng ống. Khẩu súng được cậu ta bôi một lớp mỡ bò, quấn giẻ tẩm dầu luyn, giấu trong căn hầm dưới tầng trệt ngôi nhà gác. "Nếu quả thật hắn là Lê Văn Vận thì mình phải nhanh chóng ra tay" - Khúc Luận thầm nghĩ - "Trước hết cần lau súng cho sạch sẽ, sau đó vào rừng Hóp bắn thử đã. Chỉ sợ lúc hành sự, đạn thối hoặc khoá nòng bị kẹt thì khốn. Hắn sẽ chẳng nể nang gì mà không treo mình lên cành đa xử tử như Khúc Kiệt đã bắn chánh tổng Cao Lộng".
Cậu công tử bột đang hình dung kẻ thù bị luồng đạn xé toang lồng ngực, thì từ chiếc bục cao trên sân đình, ông chủ tịch cất giọng sang sảng:
- Cách mạng giải phóng dân tộc là sự nghiệp của toàn dân. Chúng ta đã giành được độc lập từ tay phát xít Nhật nhưng trước mắt còn gặp nhiều khó khăn . - Vận ngừng lại, đưa mắt lướt qua đám quần chúng đông đảo rồi chém tay vào khoảng không nhấn mạnh - Đó là nạn đói, nạn dịch và nhất là kẻ thù dân tộc đang rình rập, hễ có thời cơ là chúng ngóc đầu dậy, chống phá nhà nước dân chủ cộng hòa. Cụ Hồ dạy, phải nâng cao cảnh giác cách mạng đoàn kết dân tộc, xoá bỏ áp bức bóc lột.
- Hồ chủ tịch vạn tuế ! Cách mạng vạn tuế ! Chính quyền dân chủ cộng hoà vạn tuế!
 
Một đội viên An ninh bỗng hét to vào chiếc loa sắt tây. Anh ta ngoáy loa một vòng, đẩy những âm thanh nhát gừng ra tứ phía, thế là khối quần chúng lập tức hưởng ứng bằng hàng ngàn tiếng hô dõng dạc với đủ mọi cung bậc đồng loạt dậy lên như sấm tháng ba rùng rùng chuyển động một góc trời :
- Hồ chủ tịch vạn tuế .. uế ! Cách mạng vạn  tuế  .. uế ! Chính quyền dân chủ cộng hoà vạn tuế … uế … uế!
- Vậy mà ở ngay làng Cùa của bà con ta vẫn còn những kẻ cố tình chống phá Cách mạng. - Vận bỗng khoát tay ra hiệu cho đám dân chúng trật tự rồi lên giọng răn đe - Thời thế đã chuyển đổi. Tây thua. Nhật bại. Giai cấp cần lao Việt Nam đã giành được chính quyền. Đó là thực tế hiển nhiên không ai có thể phủ nhận. Từ giờ phút này, chỉ có những kẻ vô lương tâm, những kẻ luôn nuôi trong lòng mối hận thù giai cấp mới thờ ơ với thành quả vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám . Nhân danh chính quyền Cách mạng, tôi kêu gọi bà con hết sức cảnh giác, hãy đoàn kết thành một khối thống nhất, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu đen tối của bọn phản động.
Người đội viên An ninh lại chõ loa ra tứ phía gào lên:
- Đả đảo bọn phản động tay  sai thực dân đế quốc chống phá cách mạng! 
Lại hàng ngàn tiếng hô đồng thanh "đả đảo". Ai cũng muốn hét thật to để tỏ rõ uy lực của quần chúng cần lao nên buổi mít tinh lúc này biến thành một cuộc thi gào thét có một không hai ở vùng Ba Tổng, đến nỗi, mãi ba hôm sau bọn Thường Rỗ, Bảy Ngạnh và lũ thanh niên choai choai vẫn còn khản cổ. Luận chợt thấy lạnh sống lưng. Cậu ta không còn đủ sức bám mãi trên chạc cây bởi làn sóng "đả đảo" rùng rùng đập vào cân não, nếu không tụt xuống mau có khi ngã vỡ đầu.
Sau cuộc mít tinh, Lê Văn Vận bảo Khúc Kiệt:
- Chú đừng gây căng thẳng với bà con dân làng. Tình hình chung bây giờ không tốt lắm đâu. Phải cân nhắc thật kỹ trước khi hành động để còn có lực lượng quần chúng làm chỗ dựa sau này.
Khúc Kiệt có vẻ bất bình:
- Thế là tư tưởng hữu khuynh đấy ông chủ tịch ạ ! Theo tôi, bọn Lê Bang, Ngô Quỳnh đồ Sách và cả con mẹ cả Huê nữa là cứ phải xử bắn tuốt để làm gương cho những kẻ đang nuôi ý đồ phản loạn.
- Tôi lạ gì bản chất bọn này. -Vận cười gằn bảo  - Nhưng xử lý chúng ngay bây giờ là đám chức dịch vùng Ba Tổng ra mặt chống đối ngay. Chú nên nhớ, bọn Tàu Tưởng lấy danh nghĩa Đồng Minh giải giáp quân Nhật đang làm hậu thuẫn cho các đảng phái phản động hoành hành khắp nơi. Chúng mà nổi lên kích động dân nghèo chống phá chính quyền thì chú toi mạng.
- Anh không nhớ ông Lý Ninh [1] nói cách mạng là phải dùng bạo lực à?
- Cái đó phải vận dụng vào từng hoàn cảnh cụ thể, không phải lúc nào cũng bắn giết bừa bãi được. Vừa rồi chú nhắc đến bà cả Huê, chiều nay bảo bà ấy ra đây tôi muốn gặp trước khi về huyện. 
Khúc Kiệt ngập ngừng:
- Không nên. Con mẹ này là loại đàn bà thù dai. Cái vụ anh ngộ sát lão Chánh bà  ta chưa quên đâu.
- Chú yên tâm, tôi đã có cách.
- Lại còn thằng Khúc Luận nữa. Cái thói khệnh khạng, hách dịch thì giống hệt bố. Ranh con chưa ráo máu đầu mà đã dám sang chòng ghẹo con Nhân. Lúc ấy tôi mà ở nhà thì sẽ cho nó viên đạn vào đầu.
- Trẻ con, chấp nó làm gì ?
- Đừng coi thường thằng mất dạy ấy. Bà cả Huê toàn nhồi nhét vào đầu nó tư tưởng phản động. Chưa biết chừng nó xuyên dao găm vào lưng anh lúc nào không hay.
Nghe Khúc Kiệt, Vận thoáng rùng mình, thầm nghĩ, thì ra bà cả Huê ghê gớm hơn anh ta vẫn tưởng. Thôi được, ta sẽ tuỳ cơ ứng biến, nếu cần thì cho giam lại.
Mấy đội viên An ninh thấy bà cả Huê liền dẫn vào trong đình. Bà ta có vẻ không ngạc nhiên khi nhận ra anh con rể trong bộ quần áo gụ cắt theo kiểu thành thị ngồi sau chiến án thư sơn son:
- Xin có lời chào ông chủ tịch huyện. - Vợ Chánh Đàm hơi nghiêng người cất giọng the thé như đang diễn tuồng. - Chúng tôi đến trình diện theo lệnh đòi...
Lê Văn Vận chỉ tay vào chiếc ghế ngựa mới được chuyển từ nhà Bảy Ngạnh trê ra, bảo:
- Bà ngồi xuống đây tôi có việc cần hỏi.
Bà cả Huê nhìn trước nhìn sau thấy không có ai liền hỏi nhỏ:
- Cậu là cậu Vận thật đấy à?
- Chả nhẽ bà Chánh không nhận ra tôi?
- Trước đây mặt cậu làm gì có vết sẹo dài thế kia?
- À , bị thằng Tây lai đánh trong tù.
- Cậu bỏ làng đi những đâu mà giờ mới về?
- Chuyện dài lắm kể một lúc không hết được .
- Dì lánh đâu?
- Cô ấy bị ngã nước chết trên rừng Phiềng Sa từ năm  Hợi.
 
Bà cả Huê chép miệng :
- Vậy là cũng xong một kiếp người.
Vận lưỡng lự một lát rồi hỏi:
- Con bé… dạo này?
- Cậu hỏi con bé nào?
- Tôi nghe ông Khoá Kiệt bảo năm ấy……Chị đẻ con gái.
- Cái lão thủ lĩnh áo Đen toàn đơm đặt chuyện.
- Tôi hỏi nghiêm chỉnh đấy. Nó là con gái thật à? 
Bà cả Huê lắc đầu:
- Mọi chuyện đã qua rồi đừng nhắc lại nữa. Lão khoá Kiệt chẳng tử tế gì đâu. Cậu phải dè chừng hắn. Vì hắn mà làng Cùa bị quân Nhật triệt hạ.
- Làm cách mạng như là trò đánh bạc ấy, nhiều lúc phải chịu tổn thất. - Lê Văn Vận chậm rãi phân tích - Bà thử nghĩ xem, gia đình ông ấy giờ còn những ai? Không có những người dám xả thân như khoá Kiệt thì làm gì có nền độc lập. Nhân đây tôi cũng nói cho bà rõ, thái độ hằn học với Cách mạng là rất không có lợi cho bản thân và gia đình. Sau này nếu xảy ra chuyện gì tôi cũng đành chịu.
Bà Cả cúi đầu ra vẻ ngẫm nghĩ, bất chợt ngẩng lên hỏi:
- Cậu có về thăm nhà một lúc không?
- Bà đuổi mẹ con người ta sang sông rồi còn hỏi tôi làm gì?
- Còn con Huệ? - Bà Chánh hạ giọng - Cậu cũng phải nhìn qua xem mặt mũi nó thế nào chứ.
- Thôi được. - Vận bảo bà cả Huê - Chị cứ về đi. Ngày mai tôi vào nhà ông Khóa Kiệt rồi nhân tiện rẽ sang, như thế bà con làng Cùa không nói vào đâu được. 
Vậy là kế hoạch thay đổi. Vào lúc chập tối, mấy anh em trong đội công tác tập hát cùng các cô thôn nữ xóm Đình. Đám trẻ con vắt mũi chưa sạch vây quanh lẩm nhẩm bài “Cùng nhau đi hồng binh” theo cái giọng kim uốn éo như giọng cung văn của người đội trưởng. Mấy ngọn đuốc cháy đùng đùng, tàn bay như sao sa, thỉnh thoảng lại nổ lép bép tỏa thứ ánh sáng chập chờn làm bóng người vặn vẹo trên nền gạch Bát Tràng. Vận lững thững thả bộ quanh bờ giếng. Anh ta lưỡng lự một lát rồi bứơc qua đầu đình. Đường đi lối lại làng Cùa Vận thuộc như lòng bàn tay. Từ đây đến nhà chánh Đàm chỉ qua vài ngõ. Kia rồi, đi hết con đường hẻm này là đến bờ rào nhà ông Khoá. Đang bước Vận chợt thấy lạnh toát ở bả vai, tiếp đến là tiếng nổ giống như  pháo đùng ngày tết ở phía cây duối nhà Ba Vếnh cách đấy hơn chục bước chân. Phải đến mấy giây ông chủ tịch mới có cảm giác đau. Nó giống như mũi khoan thép, nóng bỏng xoáy vào tận xương làm Vận không thể đứng vững. 
Nghe tiếng nổ, mọi người từ các ngõ đổ xô đến. Lê Văn Vận được đưa ngay về đình sơ cứu. Khúc Kiệt cùng đội tự vệ khẩn cấp truy tìm thủ phạm. Lúc ấy mới đầu canh hai. Đêm cuối tháng tối sẫm. Bầu trời u ám không một vì sao. Từ trên cao thỉnh thoảng vọng xuống tiếng sấm lục bục báo hiệu sắp có mưa. Khắp các ngõ ngách làng Cùa, đèn đuốc thắp sáng như hội hoa đăng. Chiêng trống cùng với tiếng loa sắt tây chốc chốc lại rộ lên chẳng khác gì đám rước thần. Lê Bang, phó lý Kiền, chánh hội Bường, đồ Sách và bà cả Huê lại bị điệu ra đình. Toàn bộ thanh niên nam nữ bần cố nông xách giáo mác, gậy tày, tay thước lập thành tổ xung kích toả đi khắp các xóm giúp đội tự vệ giữ gìn trật tự. Đến cuối canh tư thì họ tóm được Khúc Luận đang ngồi thu lu trong thùng trấu nhà ông cả Duệch tận xóm Cầu Đá. Mới bị tay đội trưởng tự vệ quất cho ba roi cậu ta đã ngoan ngoãn nhận tội, khai ra chỗ vứt khẩu súng “dóp”. Thường Rỗ lập tức lội xuống ao nhà ba Vếnh mò tang vật. Lúc ấy trời đã rạng sáng. Cánh lý dịch được thả về còn Khúc Luận bị giải lên huyện. 
Viên đạn bắn từ phía sau, xuyên qua phần mềm bả vai phá ra ngoài nên không nguy hiểm đến tính mạng. Người y tá trong khi rửa vết thương bảo Lê Văn Vận :
- Số ông may đấy. Viên đạn chệch xuống dưới một chút vào tim thì không cứu được.
- Tôi phải nằm đây bao lâu?
- Nhanh nhất cũng là một tuần.
- Không được! - Vận giẫy nảy lên - ngày kia tôi có cuộc họp quan trọng trên tỉnh không thể vắng mặt. Bệnh viện cứ cho tôi ít thuốc là được.
- Thưa ông chủ tịch, vết thương đã nhiễm trùng, cần phải tiêm thuốc để chống hoại thư, ông không chấp hành kỷ luật bệnh viện sẽ  nguy hiểm đến tính mạng.
- Anh yên tâm . - Vận thản nhiên bảo - Họp xong tôi sẽ trở lại ngay.
Thực ra Vận không có cuộc họp nào mà anh ta lo cho Khúc Luận. Chậm lại một chút bên công an đưa cậu ta lên tỉnh thì sự việc càng thêm rắc rối. Hành vi ám sát chủ tịch huyện chắc chắn là sẽ bị xử bắn. Vận thầm nghĩ, Lánh chết rồi, trên đời này nó chẳng còn ai thân thiết ngoài bà Cả Huê. Có điều mình và bà ta lúc này đều không thể cho nó biết rõ thân phận. Sau này sẽ hay, còn bây giờ phải tìm cách cứu thằng bé đã. Cũng may, trưởng ban An ninh là Khúc Kiệt. 
Tầm nửa chiều Khúc Kiệt có mặt tại nhà thương. Thấy Vận đã ngồi dậy được, ông Khoá có vẻ phấn khởi bảo:
- Ngày mai phải đưa thằng ôn con lên công an tỉnh để người ta nói chuyện với nó.
 
Vận lắc đầu:
- Thằng bé còn đang tuổi vị thành niên, nhất thời hành động thiếu suy nghĩ, nên tha cho nó. Hơn nữa trước đây tôi cũng có lỗi ...
Khúc Kiệt vỗ vỗ vào khẩu súng ngắn lúc nào cũng kè kè bên sườn, nghiêm giọng:
- Đối với bọn phản động ta phải thẳng tay trừng trị, nương nhẹ với chúng là mất chính quyền như bỡn.
 
Vụ án này tất có kẻ đứng đằng sau xúi giục chứ một mình thằng nhãi ranh ấy không dám làm. Theo tôi, cứ tóm cổ con mẹ cả Huê tẩn cho một trận là phải khai ra hết.
Vận cúi đầu ngẫm nghĩ một lúc rồi làm ra vẻ tán thành:
- Có lẽ  chú nói đúng. Tình hình bây giờ đang rối ren, phải áp dụng biện pháp mạnh  để răn đe bọn phản động.
- Việc này anh cứ để tôi. - Khúc Kiệt gật đầu - Mà cũng không nên giải đối tượng về tỉnh nữa. Ta làm trong phạm vi địa phương cho gọn.
- Đúng lắm. - Vận tán dương ông chú vợ - ở huyện có được một trưởng ban An ninh như đồng chí chúng tôi rất yên tâm. Ngay tối nay đồng chí về làng Cùa ổn định tình hình, trấn an nhân dân địa phương và điều tra xem những kẻ nào đứng đằng sau thằng bé, nhưng phải nhớ, chưa có lệnh của huyện không được tự tiện bắt bà cả Huê.
Khúc Kiệt đang hăm hở chợt ngớ người ra:
- Sao thế ? Tôi nghĩ ta cần tóm ngay con mụ ấy.
- Phải tập hợp đủ chứng cớ đã. Chú cứ bắt lấy được khác gì rút dây động rừng.
- Thôi được, tôi nghe anh. 
Đêm hôm ấy Vận lẻn về huyện cùng người thư ký thân tín vào nhà giam trước đây là Trại Lệ của tri huyện Cáp Văn Tòng. Khúc Luận ngồi thu lu một góc, mặt sưng húp, có lẽ trước đấy nó đã bị đánh đau. Nhìn thấy Lê Văn Vận thấp thoáng dưới ánh đèn dầu tù mù, thằng bé vênh mặt cười gằn:
- Chắc ông chủ tịch đến đem tôi đi xử bắn? 
Vận nhìn thằng bé rất lâu. Anh ta không thể ngờ nó lớn nhanh đến thế. Tâm trạng Vận lúc này khó có thể diễn đạt bằng lời. Đó là sự pha trộn giữa tình cảm cha con với nỗi căm hận lão chánh tổng, những trận đòn thừa sống thiếu chết của gã Tây lai trong nhà tù Sơn La cùng với đôi mắt thảng thốt của Mạc Thị Lánh trước lúc về thế giới bên kia. Thằng bé đã bị bà Cả Huê biến thành kẻ thù với chính người từng sinh ra nó mặc dù từ dáng dấp đến cách ăn nói giống mẹ như đúc. Đó là phẩm chất ngang tàng, phóng túng như con ngựa bất kham với thứ ngôn ngữ buông tuồng không chịu tiết chế theo quy tắc ứng xử của xã hội. Lúc này không thể nói cho nó hiểu được. Hơn nữa, nói ra những điều hệ trọng ấy là mất chức ngay, thậm chí có thể còn bị tống giam. Chính quyền mới thành lập, phải đối mặt với đủ loại kẻ thù, thậm chí kẻ thù ẩn náu ngay trong hàng ngũ Cách mạng, sẵn sàng hạ gục anh một khi mất cảnh giác. Loại cũng không kém phần nguy hiểm nữa là bọn cực đoan, quá khích, nhân danh Cách mạng để thanh toán lẫn nhau vì ân oán trong quá khứ. Khúc Kiệt chỉ là một trong những trường hợp điển hình. Phải giải thoát cho thằng bé trước khi khoá Kiệt trở về. Ông ta vốn rất gàn, ít khi chịu nghe lời người khác góp ý. Vụ này để cho trưởng ban An ninh giải quyết, Khúc luận khó thoát khỏi án tử hình. Nghĩ vậy, Lê Văn Vận bảo:
- Cậu có biết tội cố ý giết người bị xử thế nào không ?
- Chết là cùng chứ gì?- Khúc luận tỏ ra chẳng có gì sợ hãi, giọng khiêu khích.
- Cậu đoán đúng đấy. - Vận gật đầu - Nhưng tôi biết, việc rình bắn tôi không phải tại cậu mà là cậu nghe người ta xui dại. Là đấng nam nhi đừng bao giờ làm chuyện khuất tất mà phải hành động danh chính ngôn thuận người ta mới phục. Cậu nấp một chỗ rồi bắn lén như thế là không quân tử.
- Vậy ông cầm cán cuốc đập vào đầu bố tôi có phải quân tử không?
Vận cười khẽ :
- Ông Chánh dùng mác đâm, tôi tự vệ là chính đáng. Việc này mẹ con bà Hai biết rất rõ.
- Hừ ! Bây giờ ông là chủ tịch huyện nói gì mà chả đúng. - Thằng bé nhấm nhẳng nói - Vậy mẹ tôi đâu ?
- Việc ấy sẽ nói với cậu sau. Giờ hãy nghe đây. Tôi sẽ thả cậu ra nhưng không được về làng Cùa. - Vận ngập ngừng một lúc rồi nói -Về đấy là bị khoá Kiệt bắt ngay. Mà cậu biết đấy, một kẻ có âm mưu sát hại cán bộ Cách mạng rơi vào tay trưởng ban An ninh thì số phận như thế nào rồi.
Nói xong Vận ra ngoài ghé tai người thư ký và một đội viên An ninh vẫn đứng canh chừng :
- Các anh đưa cậu ta sang bên kia sông Lăng, hỏi nhà ông lái Lự ở kẻ Bòng rồi về báo cho tôi biết.
Khoá Kiệt biết tin Khúc Luận trốn chạy thì cậu ta đã vượt sông Lăng ở bến Cự Tân. Đội quân An ninh toả ra  khắp nơi truy tìm nhưng ba ngày sau vẫn chẳng có tin tức gì. Ông ta bực mình cáu với cả chủ tịch huyện:
- Giá anh đừng bảo tôi về Ba Tổng thì thằng ranh con ấy không biến mất. Tôi đã bảo, thằng này giống địa chủ cường hào, lắm  mánh khoé chứ không như anh nghĩ đâu.
Vận giả bộ lúng túng như người mắc lỗi:
- Tôi thật không ngờ thằng này lại ma ranh đến thế. Chú cứ cho anh em tiếp tục truy lùng. Phen này mà tóm được phải đưa ra toà xử công khai trước toàn thể nhân dân.
- Tôi đề nghị phải tống giam và kỷ luật thật nặng mấy tay đội viên canh gác.
Vận xua tay bảo :
- Lỗi ấy là tại tôi, không phải do anh em canh gác. Chả là tầm nửa đêm, vết thương sưng tấy lên đau quá, tôi bị choáng, thế là các cậu ấy xúm vào đưa đi bệnh viện, không ngờ...
Khúc Kiệt vẫn còn hậm hực, giọng bực bội:
- Anh chủ quan quá. 
Sang đến làng Bòng, Khúc Luận vẫn không hiểu vì sao Lê Văn Vận tha mình. Hơn nữa, anh ta còn cử người thân tín đang đêm dẫn cậu bí mật sang sông. Còn nhớ, lúc đến bãi chuối xóm chài Cự Tân, nhìn cảnh đồng ruộng xác xơ, ba người vật vờ như những bóng ma dưới bầu trời mông lung, cậu ta bỗng khóc nấc lên bởi nỗi sợ hãi bị thủ tiêu:
- Các ông định mang tôi ra sông dìm chết phải không ?
Người đội viên An ninh có đôi mắt lác trông như mắt thuỷ tinh bực mình gắt:
- Cậu mà hét lên nữa là tôi cho mấy cái bạt tai. 
Người thư ký trẻ hơn, có cái mũi vẹo, giọng khê nồng như người nghiện thuốc lào, mỗi khi bực mình anh ta hay văng tục:
- Mẹ kiếp, có câm mồm không thì bảo.
Người lái đò bị dựng dậy bất chợt, ngái ngủ càu nhàu:
- Có việc gì để đến sáng, giờ này đếch sang sông đâu. 
Đó là một lão già tầm thước, không nhìn rõ mặt nhưng ước đoán cũng phải ngũ tuần. Lão nằm co ro trên chiếc ổ rơm trong căn lều tùm hum như lều chăn vịt thỉnh thoảng lại khậm khoạc ho. Gió đông nam bất chợt rồ lên. Lá chuối  đập phành phạch làm lũ chim đêm bay nháo nhác. Một đàn đom đóm chập chờn lúc gần lúc xa, phát ra thứ ánh sáng lạnh lẽo, xanh lét làm căn lều cứ nhập nhoà như âm cung.
- Dậy ! Ông lão . - người có cái mũi vẹo quát khẽ - Có công văn khẩn.
-Thượng khẩn cũng để đến sáng mai. - Lão lái đò xem ra không phải loại dễ dàng cho người khác sai bảo, ngáp liền mấy cái rồi lại tiếp tục ngáy.
- Có dậy không ? - Vẫn người thư ký mũi vẹo vừa quát vừa lên đạn khẩu tuyn[2] làm
lão lái đò hoảng hồn :
- Ấy! đừng bắn! Tôi sang ngay đây.

Đêm đen thẫm. Trời ong ong. Những ngọn gió hiếm hoi lúc này không còn lang thang trên sông. Mặt nước lặng như tờ, thỉnh thoảng mới có gợn nhẹ không đủ cho sóng lao xao. Con thuyền lần mò trong đêm như một kẻ mù lòa phải dùng gậy dò đường nhưng vẫn vào đúng bến chứng tỏ tài nghệ không thể phủ nhận của lão lái Quých. Bên này cũng là một bãi chuối. Dịch vào phía trong một chút là dẫy chuồng trâu bỏ hoang của lái Lự. Người thư ký và anh đội viên An ninh có vẻ khá thông thạo đường đi lối lại. Ba người về phía đầm Vực, khoảng canh tư thì đến làng Bòng. Anh mũi vẹo gõ vào cánh cổng một ngôi nhà giữa xóm . Các loại chó hình như đợi đến đúng lúc ấy mới nhất loạt sủa lên bằng đủ thứ giọng tạo thành dàn hợp xướng khủng khiếp, dai dẳng, đinh tai nhức óc. Lái Lự mắt nhắm mắt mở ra cổng. Lão đã bị nhiều vố mất của, thậm chí xuýt bị toi mạng nên không vội rút then ngay mà khẽ hỏi:
- Ai đấy? 
Người thư ký nói chõ vào:
- Ông chủ tịch Nam Thành gửi bác cái thư.
- Chủ tịch nào? – Lái Lự cảnh giác hỏi lại.
- Ông Vận.
- Thư gì  mà phải đưa ban đêm? - Lái Lự quát khẽ - Các người đừng có giở trò. Ta mà hô lên một tiếng, anh em tự vệ thôn đến thì có chạy đằng trời.
- Đất nước độc lập rồi làm gì còn trộm cướp mà ông Lái Lự cứ sợ bóng sợ vía. Người đội viên An ninh bảo - Ông Chủ tịch muốn gửi thằng bé con cô Lánh. Mọi việc ông Vận đã nói rõ trong thư. Cậu ta đang chờ ngoài này. Chúng tôi đi đây.
Phải một lúc lâu sau lái Lự mới dám mở cổng. Khúc Luận ngồi ngủ gật, tay vẫn cầm phong thư. Ông lái trâu vội đưa thằng bé vào nhà nhưng trong thâm tâm vẫn không dám chắc nó là cháu ngoại mình, bởi vì mười năm nay, từ khi con gái trốn khỏi làng, lão ngại không muốn đặt chân đến vùng Ba Tổng. Mọi sự liên hệ lái Lự đều thông qua Khúc Kiệt hoặc vài người bà con ở kẻ Bòng. Cũng chính vì thời gian đứt đoạn quá lâu như thế, Khúc Luận gần như chẳng còn nhớ chút nào về ông ngoại. Thường ngày ông ta còn bị bà cả Huê đơm đặt cho đủ điều xấu xa, nhằm nuôi dưỡng lòng căm ghét và thái độ khinh bỉ cho thằng cháu, đến nỗi khi nhìn thấy người đẻ ra mẹ mình, nó vẫn lạnh lùng, dửng dưng như từ trước đến nay chưa hề quen biết.
Đọc thư xong, Lái Lự mới hiểu sự tình. Ông bảo Khúc Luận:
- Cháu đã hiểu lầm anh Vận. Sự việc không đến nỗi ghê gớm như bà Cả vẫn nói. Bây giờ cứ ở đây với ông, mấy hôm nữa sẽ vào Lang Khê.
- Lại phải đi nữa? -  Thằng bé hỏi cộc lốc.
- Chỗ này không được an toàn. Ông sợ dân làng có người thóc mách.
- Còn mẹ cả tôi? Họ có xử bắn bà ấy không?
- Cậu cả đừng nói dại.
- Tôi nghe ông Khoá Kiệt bảo thế.
- Ông ấy doạ cháu đấy.
- Vì sao ông Vận lại thả tôi khỏi nhà giam?
- Việt Minh họ không giết trẻ con. - Lái Lự buột miệng bảo.
- Khóa Kiệt cũng là Việt Minh, lại cùng họ nữa vậy mà ông ấy vẫn muốn xử bắn tôi.
Lái Lự gật đầu:
- Kể ra thì ông Khoá cũng hơi cố chấp, nhưng hoàn cảnh gia đình ông ấy như thế nên cũng phải thông cảm.
- Ai bảo ông ta đem quân áo Đen về làng Cùa.
- Thôi, chuyện qua rồi, đừng nhắc lại nữa, sau này cháu sẽ hiểu. 
2. Khúc Văn đột nhiên về làng sau mấy năm biệt xứ. Anh ta không ở ngôi nhà tranh của gia đình họ Khúc mới được dựng lại mà đến tá túc trong chùa Từ Vân do sư Tuệ Văn trụ trì.

Chùa Từ Vân giống như một trang trại nằm giữa cánh đồng Vạn, từ xa chỉ thấy thấp thoáng những ngọn tháp rêu phong ẩn hiện giữa những lùm tre. Vì cách biệt hẳn với khu dân cư, lại được luỹ tre dày bao quanh nên quang cảnh ở đây lúc nào cũng thâm u, tĩnh mịch. Lúc hoàng hôn, khi sư thầy vào khoá lễ, chú tiểu leo lên gác tam quan gióng chuông. Tiếng chuông chậm rãi thả vào đồng quê yên tĩnh những âm thanh trầm trầm, buồn tẻ. Những ngày này, Khúc Kiệt đã lên hẳn trên huyện đảm nhiệm chức trưởng Công an kiêm trưởng ban An ninh. Chức chủ tịch uỷ ban xã Đoàn Kết được giao cho Đỗ Kim là người tổng Cao Đôi. Anh này trước vốn là tay chân của trùm cướp Ba Ngạc, bị tri huyện Cáp Văn Tòng tóm được tống vào trại La Tỉnh. Hồi tháng tám, Nhật đầu hàng Đồng minh, Đỗ Kim cùng với một số chính trị phạm phá ngục thoát ra ngoài. Tay này có máu cờ bạc, ban ngày làm việc hàng tổng tối lại rủ cánh đàn em sát phạt nhau đến quá nửa đêm. Sáng ra, mắt anh nào cũng díp lại ngáp lấy ngáp để như con nghiện lúc lên cơn thèm thuốc. Làm chủ tịch mới có nửa tháng, Đỗ Kim đã được kết nạp đảng. Sự kiện này rất có ý nghĩa đối với con đường thăng tiến của các cán bộ Việt Minh  mới tham gia phong trào. Việt Minh lãnh đạo nhân dân cướp chính quyền nhưng đảng Cộng sản lại lãnh đạo Việt Minh. Thời Kỳ này, ở vùng Ba Tổng,  ai không là người của Tổ chức nếu tham gia hoạt động xã hội thì được gọi là nhân sỹ yêu nước nằm trong Mặt trận Việt Minh nhưng thường chỉ là cơ cấu mang tính hình thức. Các đảng viên Cộng sản mới là những người nắm thực quyền. Từ lâu, Khúc Kiệt có mối quan hệ khá thân thiết với Đỗ Kim. Mỗi lần từ huyện về ông ta lại ra đình Cả hoặc cưỡi ngựa sang Cao Đôi bàn công việc với chủ tịch xã. Thực ra, Khúc Kiệt đề cử Đỗ Kim vào chức chủ tịch không phải anh ta có tài cán gì mà cái chính là để trả ơn một lần cứu mạng. Dịp ấy, ông Khoá bị mật thám theo dõi trong một lần giả làm người đóng cối đến nhà cai Kíu ở Cao Thượng lấy tin tức. Cai Kíu từ lâu đã là cơ sở của Huyện bộ Việt Minh. Cách đấy ít lâu cai Kíu bị Nhật bắt đã khai ra tất cả những gì mà hắn biết. Bọn Nhật đón lõng tóm được hầu hết cán bộ chủ chốt của huyện tống vào xà lim. Thấy ông thợ cối lảng vảng quanh mấy ngõ xóm, bọn cảnh binh và đám trương tuần sinh nghi đuổi theo. Khoá Kiệt quẳng đồ nghề chạy bán sống bán chết. Vòng vèo qua vài ngõ, ông Khoá nhìn thấy một ngôi nhà gạch liền đánh liều lách cổng vào. Hoá ra đấy là một đám xóc đĩa. Các con bạc đều là dân Ba Tổng, quen mặt nhau cả. Nhìn thấy Khúc Kiệt hớt hơ hớt hải, Đỗ Kim hỏi khẽ:
- Ông bị mật thám đuổi phải không?
Khoá Kiệt lấm lét nhìn trước nhìn sau chưa biết trả lời ra sao thì Đỗ Kim bảo tay chủ nhà đồng thời là chủ gá bạc:
- Phiền bác vào nhà lấy cho mượn bộ quần áo với chiếc khăn xếp 
Chủ nhà hiểu ý, kéo Khúc Kiệt vào buồng. Mấy phút sau, ông ta bước ra trong bộ trang phục mới, dáng dấp giống hệt một tay cờ bạc chuyên nghiệp. Bọn mật thám, cảnh binh ập vào khám xét không thấy kẻ lạ mặt mặc quần nái đen áo cánh nâu chít khăn đầu rìu nên bỏ sang nhà khác. Mãi đến trưa hôm sau Khóa Kiệt mới dám ra khỏi làng. Trước khi đi Khóa Kiệt hết lời cảm ơn Đỗ Kim. Anh ta bảo:
- Ông làm việc vì dân vì nước, chúng tôi thật sự kính phục, chỉ mong rằng sau này đất nước độc lập, chính quyền mới để cho dân cờ bạc có chỗ làm ăn.
 
Nắm được chức chủ tịch rồi, Đỗ Kim dần dần bộc lộ bản chất lưu manh của mình. Việc đầu tiên là anh ta nhờ bà đồng Chắt sang hỏi cô Mùi con gái ông trương Thép. Ông này bị bất ngờ liền tìm cách hoãn binh. Sở dĩ Đỗ Kim phải đi hỏi vợ thiên hạ là vì dân Cao Đôi không muốn gả con gái mình cho một gã chuyên cờ bạc, ăn chơi bạt mạng và nợ nần chồng chất. Sau một tuần, thấy vợ chồng ông trương Thép không tỏ thái độ gì, tay chủ tịch liền sắm hai gánh lễ vật sang làng Cùa. Lần này, trương Thép ra mặt từ chối, Đỗ Kim tức lắm, ra đến cổng, quẳng đồ sính lễ xuống ao, nhổ bọt thề độc:
- Chuyến này mà không lột truồng được con Mùi ra ta quyết không làm giống người 
Ba hôm sau, một tối cô Mùi vừa ra đóng cổng thì bị mấy tên trùm mặt nạ đen, chỉ hở hai con mắt túm lấy, nhét giẻ vào mồm rồi cho vào bao tải vác đi. Chừng canh ba bọn chúng đến Cao Thượng. Khi lũ tay chân đi khỏi, Đỗ Kim lôi cô gái vào buồng lúc này vẫn còn đang ngất xỉu vì sợ.
Ông bà trương Thép ra đình Cả trình báo với thường trực Ủy ban Trần Quang Đắc và nhờ mấy anh cháu đi tìm kiếm khắp vùng Ba Tổng. Trần Quang Đắc vốn là học sinh trung học, Việt Minh cướp chính quyền, đang học lớp đệ ngũ, trường đóng cửa, bỏ về nhà nằm khàn đọc tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, được nửa tháng, buồn quá, nhận làm chân thư ký xã. Đắc chẳng ưa gì tay chủ tịch  cũng như chính quyền mới, vì bọn họ gặp thời chứ thật ra đều là một lũ chân đất mắt toét và vô học . Nghe ông Trương vừa kể vừa sụt sịt vì cái sự con gái bỗng nhiên mất tích, Đắc bảo:
- Chưa biết chừng cô nàng đi theo trai rồi làm như thế để đánh lừa ông bà.
Bà vợ mếu máo:
- Từ trước đến nay nó là đứa nết na, biết nghe lời bố mẹ chả lẽ tự nhiên lại bỏ nhà đi.
- Chưa biết đâu mà nói chắc. - Vị uỷ viên thư ký khoát tay- Bây giờ nam nữ bình quyền, các bậc cha mẹ không bắt ne bắt nét con cái như thời đế quốc, phong kiến được đâu. Có thể ngày một ngày hai cô ấy về thôi.
Bà mẹ vẫn tức tưởi khóc:
- Đúng là con tôi bị bọn xấu bắt cóc chứ không phải nó theo trai. Thôi thì trăm sự nhờ chính quyền, mong các ông cứu cháu.
- Cách mạng mới thành công, chính quyền còn phải lo bao nhiêu chuyện quốc kế dân sinh, việc của gia đình ông bà chỉ là việc nhỏ, nhưng thôi được, ông bà cứ về đi, chốc nữa tôi sẽ xuống Cao Đôi báo cáo ông chủ tịch. 
Nghe tin con gái ông trương Thép bị bắt cóc, Khúc Văn liền cử một số anh em thân tín bí mật điều tra. Chùa Từ Vân là nơi khá yên tĩnh, ngay cả thời Nhật chiếm đóng chúng cũng không dám vào quấy nhiễu. Chính quyền mới bước đầu tỏ ra tôn trọng tự do tín ngưỡng nên tổ chức “Hội dân cày” của anh ta hoạt động khá thuận lợi. Sau mấy năm lang thang khắp các xứ đông đoài, học được khá nhiều điều, anh ta đã có thời kỳ nghiên cứu chủ nghĩa Mác và xuýt gia nhập đảng Cộng sản. Tuy nhiên, qua mắt thấy tai nghe và nhất là những dịp tiếp xúc với các nhà hoạt động xã hội nổi tiếng, chàng trai trẻ đã ngộ ra một điều chủ nghĩa Cộng sản chỉ là một thứ ảo tưởng. ở một nước thuần tuý nông nghiệp, đói nghèo và lạc hậu vào bậc nhất thế giới này, không thể có cái gọi là giai cấp vô sản đúng như ông Mã Khắc Tư và ông Lý Ninh định danh trong học thuyết của họ. Muốn đất nước thoát khỏi tình cảnh trì trệ hiên nay, trước hết phải làm cuộc Cách mạng nông dân, phải có một tổ chức thực sự của nông dân. ý tưởng ấy cứ nung nấu trong lòng làm Khúc Văn quyết chí thuyết phục bạn bè thành lập “Trung ương Hội dân cày” để phát động hơn hai chục triệu bần cố nông đứng lên đấu tranh giành độc lập, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời cải thiện bộ mặt xã hội đang ốm yếu cả về thể xác lẫn tinh thần từ hàng trăm năm nay. Trong nhận thức của mình, Khúc Văn luôn xem toàn bộ sự nghiệp Cách mạng mà Việt Minh đã làm chỉ là sự ăn may cho dù trước mắt họ đã giành được chính quyền. Thực chất, lực lượng của đảng Cộng sản lúc ấy rất mỏng, nhưng họ khôn ngoan chớp lấy thời cơ quân đội Nhật Hoàng thua trận trước khi các đảng phái chính trị khác kịp ra tay.
 
Những thành viên trong “Hội dân cày” cứ một tháng vài lần tập trung về chùa Từ Vân học “nghị quyết” và võ thuật. Không biết Khúc Văn tuyên truyền thế nào mà cả sư thầy trụ trì và mấy chú tiểu đều gia nhập tổ chức này. Trong cuộc họp Ban cán sự, một uỷ viên người tổng Cao Đôi nêu ra hiện tượng đáng chú ý. Nhà chủ tịch xã thời gian gần đây, cứ tầm chiều tối lại xuất hiện những kẻ lại mặt hành tung có vẻ mờ ám.
 
Khúc Văn nhận định:
- Tay này vốn dĩ là dân xóc đĩa thành thần, có thể hắn lợi dụng cái ghế chủ tịch để mở sòng bạc.
- Liệu bọn này có liên quan đến việc con gái ông trương Thép mất tích?
-Tôn chỉ, mục đích của chúng ta tuy không giống với Việt Minh nhưng đây rõ ràng là hành vi phạm pháp. Tôi nghĩ, cần phải báo ngay cho chủ tịch Lê Văn Vận hoặc trưởng ban An ninh huyện để họ xử lý.
Khúc Văn xua tay:
-Thế là các chiến hữu chưa hiểu gì về ông bố tôi. Ông ấy với Đỗ Kim trước đây đã từng đi lại với nhau...
Hoàng Thị Tịnh, cháu gái lý trưởng Đậu Khê đã mấy lần bị Đỗ Kim cợt nhả, đưa ra ý kiến:
- Tôi cho rằng, có thể chính Đỗ Kim đã cho người bắt cô Mùi. Các anh cứ thử kết nối các sự kiện lại mà xem. Từ lúc tay Kim sang dạm hỏi đến khi cô ta mất tích là mấy ngày? Tại sao lại có sự trùng hợp ngẫu nhiên như thế?
- Không có lẽ ... -  Khúc Văn lẩm bẩm rồi hỏi - Gia cảnh Đỗ Kim hiện nay thế nào?
Phạm Cửu, người tổng An Điền báo cáo:

- Bố mẹ Đỗ Kim đã chết. Mấy năm trước, hắn là một tay cờ bạc khét tiếng, đã từng kết bè đảng với bọn anh chị trên phố Phủ, sau dính vào đảng cướp, bị án bảy năm . Hắn trốn ra được là nhờ cánh chính trị phạm tổ chức vượt ngục . Từ khi làm chủ tịch đến giờ nhà Đỗ Kim  luôn kín cổng cao tường, bên ngoài lúc nào cũng có đàn em canh gác.
- Theo tôi, việc này cứ để các ngài Việt Minh giải quyết. - Hoàng Thị Tịnh bảo - Tội gì ta thò tay nhúng vào, chẳng may thất lợi họ lại quy kết là phản Cách mạng.
Khúc Văn lắc đầu bảo:
- Cô Tịnh nói sai rồi. Hội của ta làm việc là vì dân chứ đâu phải vì chính quyền Việt Minh. Nên nhớ rằng, hiện nay họ đang lúng túng trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc. Ta phải tranh thủ cơ hội khẳng định uy tín của mình bằng hành động cụ thể.
-  Anh Khúc Văn nói có lý. - Phạm Cửu gật đầu tán thành - Ngay đêm nay tôi cùng một số anh em  về Cao Đôi tiếp tục thăm dò, sự việc thế nào sẽ báo cáo Ban cán sự.
Khúc Văn dặn:
- Tôi nhắc lại, việc này phải rất thận trọng, không được hở ra với ai kể cả người thân trong gia đình.
 
Trưa hôm sau, Phạm Cửu trong vai người quăng chài đến chùa Từ Vân Thông báo một tin quan trọng. Không phải chỉ một cô Mùi mà trong thời gian qua, vùng Ba Tổng có đến ba cô gái bị mất tích. Mấy hôm trước, dân vạn chài nhìn thấy một xác chết nổi lập lờ ở đoạn bến Trại sông Lăng. Sau khi tử thi được vớt lên, phải khó lắm người ta mới nhận ra đấy là Lê Thị Vượng con bà Bẩy Cừ ở Ngân Đôi. Cô gái bị trói hai tay, nhét giẻ vào miệng, trên người không một mảnh vải.
- Hừ ! Bọn này không còn là giống người nữa. - Khúc Văn nghiến răng bảo - Bên công an huyện đã cử người về điều tra chưa?
- Báo cáo ! Ông Khoá có dẫn hai đội viên đến khám nghiệm xác chết qua loa rồi cho chôn cất sau đó kéo nhau sang nhà Đỗ Kim uống rượu đến chiều mới về.
Khúc Văn cười gằn:
- Ông bố “ chuyên chính vô sản”  của tôi bị tay trùm xóc đĩa lừa rồi. Thôi được, tối mai anh cùng anh Chương, anh Khả và anh Tuyến đi với tôi.
 
Đầu canh hai hôm sau, Khúc Văn gặp bốn hội viên ở miếu Cây Si. Người nào cũng giắt súng ngắn hoặc dao găm trong bụng, dáng dấp như những tay cờ bạc chuyên nghiệp, đi tắt lối  Mạc  Xá sang Cao  Đôi. Nhà Đỗ  Kim  ở cuối xóm, vị trí khá hẻo lánh rất thuận lợi cho cánh đệ tử của thần đổ bác[3] hành nghề. Phía trước là dãy tường cao ngang đầu trên cắm mảnh chai, phía sau tiếp giáp với ao sâu, bờ ao trồng tre gai dày, rậm rạp như một bức luỹ tự nhiên. Lại Văn Chương và Lê Khả lảng vảng quan sát vòng ngoài. Khúc Văn, Phạm Cửu cùng Lương Văn Tuyến thản nhiên đẩy cổng vào, phong cách giống hệt dân đỏ đen. Một bàn tay cứng như sắt bất chợt chộp lấy vai Phạm Cửu quát khẽ:
- Đi đâu?
- Đi “khai hội". - Phạm Cửu nói đúng mật khẩu của đám xóc đĩa - Người anh em quên tớ rồi à?
- Đừng có cợt nhả! _ Tay gác cổng vốn là thuộc hạ thân tín của Đỗ Kim hỏi dồn _ Còn những người này?
- Anh em nhà Vệ Khoà bên Cao Xá, đều là dân chịu chơi đấy.
-Vậy à? - tên vệ sĩ đảo cặp mắt nhìn Khúc Văn và Lương Văn Tuyến - có đủ “ngân” không ?
Khúc Văn vỗ vỗ vào bụng, nơi giấu khẩu súng ngắn bị phồng cộm lên, nheo mắt cười nhạt:
- Bọn này từ trước nay chưa ăn quỵt của ai bao giờ.
- Vào đi, nhớ cửa bên trái.
 
Dưới ánh đèn toạ đăng có chiếc thông phong rất dài, sáu bẩy tay cờ bạc đang sát phạt nhau. Đỗ Kim cầm cái, Thấy bọn Phạm Cửu chỉ khẽ gật đầu rồi hất hàm ra ý ngồi sang chiếu bên cạnh chờ. Trong buồng có tiếng động lạch cạch. Khúc Văn áp tai nghe nhưng không thấy gì khả nghi, có lẽ là chuột chạy. Dù sao cũng đã đến lúc phải hành động. Cả ba người nhất loạt rút súng ngắn ra quát:
- Nhân danh chính quyền Cách mạng, chúng tôi bắt các anh vì tội đánh bạc.
- Cái gì? - Đỗ Kim giật nảy người quay ngoắt lại - Các anh là ai mà dám ...?
- Đội An ninh của huyện. - Khúc Văn chĩa nòng khẩu  Colt đã lên đạn vào gáy tay chủ tịch - tất cả nằm úp mặt xuống chiếu. Kẻ nào chống lại là ăn đạn.
 
Phạm Cửu, Lê Tuyến rút cuộn dây gai trói quặt cánh tay từng tên một rồi lột chiếc áo của một tên trong bọn xé ra nhét vào mồm chúng. Phía bên ngoài, Lại Văn Chương, Lê Khả nghe ám hiệu, biết là công việc đã xong liền xuống tay hạ gục tên gác cổng. Phải mất một lúc họ mới phá được chiếc khoá đồng to quá khổ vốn là thứ chỉ dùng để khoá cổng làng. Trong buồng không có gì ngoài chiếc giường gỗ lim cũ và mấy thứ đồ dùng lặt vặt không đáng giá.
- Chẳng lẽ mình đoán nhầm đối tượng? - Khúc Văn thầm nghĩ - Tội cờ bạc cùng lắm chỉ bị cách chức, phạt giam mấy ngày là cùng, vậy phải báo anh em rút ngay trước khi bọn chúng phát hiện ra.
Nghĩ vậy nhưng Khúc Văn vẫn cảm thấy trong gian buồng này có điều gì khác thường. Đó là loại mùi rất đặc trưng của đàn bà. Nó kia. Một chiếc áo cánh gụ được vắt trên con sào nứa. Như chợt nhớ ra, anh ta ghé tai Phạm Cửu thì thầm:
- Cậu tìm dưới gầm giường xem có gì không?
Phạm Cửu chui vào một lúc lại thò đầu ra bảo:
- Hình như bên dưới có hầm.
Chiếc giường lập tức được chuyển sang một bên để lộ ra một nắp hầm kích cỡ khoảng năm mươi phân. Khúc Văn nhìn thấy cây đèn chai treo góc buồng liền châm lửa đưa cho Lương Văn Tuyến :
- Khi nào tôi xuống đến nơi cậu phải thả đèn để soi.
Vừa chạm đáy hầm anh ta đã đụng phải một vật mềm mềm như da thịt người. Đúng là một phụ nữ. Cô ta chỉ mặc mỗi chiếc váy thâm, nửa trên bị lột trần, mái tóc sõng sượt che gần hết khuôn mặt hốc hác.
- Cô là con gái ông trương Thép phải không?
Nạn nhân ú ớ chắc là sợ quá không nói được nên lời. Khúc Văn hỏi lại:
- Cô là Mùi ở làng Cùa phải không?
- Mùi ... đây, các bác cứu em ...
 
Đến quá nửa đêm, khi dân trong xóm đã hoàn toàn yên giấc Khúc Văn mới cho anh em ra khỏi Cao Thượng. Phạm Cửu là chàng trai có dáng dấp như võ sĩ đấm bốc, cõng cô Mùi. Khúc Văn đi giữa giong Đỗ Kim. Lương Văn Tuyến và Lại Văn Chương cảnh giới phía sau. Chừng nửa giờ cả bọn đến bãi chuối xóm chài Cự Tân. Khúc Văn kéo Đỗ Kim đến gò đất cao trước vốn là chỗ cắm lều của lão lái Quých, nhưng sau cái đêm bị mấy ông An ninh lôi dậy, gí súng vào tai, bắt phải chở đò sang sông thì hốt quá liền đốt lều, bỏ nghề, chuyển sang đánh giậm kiếm ăn. Đỗ Kim sợ hết hồn nhưng miệng bị tống giẻ nên chỉ ú ớ  không nói được. Phạm Cửu lấy ra con dao găm và mảnh giấy đã viết sẵn mấy chữ đưa cho Lê Khả. Khúc Văn kéo ông chủ tịch lại gần ghé tai nói dằn từng tiếng :
- Nhân danh công lý, chúng ta xử tử ngươi vì tội bắt cóc, cưỡng hiếp con gái nhà lành.
 
Khúc Văn vừa tuyên án xong thì Lê Khả thọc ngay mũi dao nhọn vào yết hầu Đỗ Kim. Trong bóng đêm chỉ nghe thấy tay chủ tịch ặc ặc ở cổ họng như nồi cơm sôi sắp cạn nước, co giật liền mấy cái rồi đờ ra.
 
Trên trời cao những ngôi sao xanh đang nhấp nháy. Dòng sông vẫn chảy và gió từ trên triền đê vẫn rì rào thổi qua hàng tre chắn sóng.
 
Nghe tin chủ tịch xã Đoàn Kết bị ám sát, trưởng ban An ninh huyện vội đem người về Cao Thượng truy tìm thủ phạm. Người đầu tiên bị lôi ra đình thẩm vấn là con gái ông trương Thép.
- Cô có nhận mặt được những kẻ đã đột nhập vào nhà chủ tịch Kim không?
- Trời tối, lại tắt hết đèn đóm nên cháu không nhìn thấy mặt họ.
- Có đúng Đỗ Kim đã cho người bắt cô hay là có kẻ nào xui vu khống nhà chức trách? - Khúc Kiệt gằn giọng răn đe.
- Chính hắn đã bắt cháu hôm mười bẩy tháng một. Hắn và bọn cờ bạc thay nhau hãm hiếp rồi quẳng cháu xuống hầm. Tội của hắn chết là đáng đời. - Mùi chợt khóc nức lên  - Cái hầm có nắp đậy vẫn còn ở trong buồng nhà hắn, các ông đến đấy mà khám.
- Khi bọn người lạ mặt giết Đỗ Kim chúng nói những gì?
- Họ bảo nhân danh công lý.
- Quái nhỉ, vậy thì chúng thuộc cánh nào? Việt Quốc hay Việt Cách? - Khúc Kiệt lẩm bẩm .- Chúng làm vố này là muốn bỉ mặt mình đây.
 
Chiều hôm sau Khúc Kiệt về huyện, Lê Văn Vận đưa cho ông ta mấy lá đơn của dân Cao Xá, Mạc Điền và Đậu Khê yêu cầu tìm ra thủ phạm bắt cóc con gái họ. Khúc Kiệt lo lắm. Chính ông ta đề cử Đỗ Kim vào chức chủ tịch, giờ xảy ra vụ bê bối lớn thế này biết tính làm sao.

- Đây là vụ án nghiêm trọng mà thủ phạm chính lại là một tên lưu manh được chú đứng ra bảo lĩnh. Qua việc này có thể thấy, lực lượng công an của chú không thể đảm bảo được trật tự an ninh xã hội. Nguy hiểm hơn nữa là trên địa bàn huyện ta, ngoài Mặt trận Việt Minh ra còn có những tổ chức phản động khác đang hoạt động dưới nhiều hình thức khác nhau mà mục đích chính của chúng là quấy rối chính quyền Cách mạng, tranh giành ảnh hưởng với ta. Phải công nhận bọn này là những tay có bản lĩnh làm được những việc mà nhân viên công an của chú bó tay. Tôi yêu cầu phải tiếp tục thẩm vấn bọn cờ bạc ở nhà Đỗ Kim để làm rõ hành vi phạm pháp của hắn trong mấy tháng qua, nếu cần, cứ nện thật mạnh vào.
- Có nên đưa ra xử bắn một thằng để răn đe bọn cờ bạc, trộm cướp và lũ lưu manh trong huyện không?
- Nên quá đi chứ, nhưng không phải một mà là tất cả những tên đã tham gia cưỡng hiếp cô Mùi. Còn nữa, trong vòng một tháng chú phải bắt cho bằng được những kẻ giết Đỗ Kim. Nếu thất bại chú nên tự làm đơn rút khỏi ngành Công an trước khi có quyết định cách chức.
 
Sau buổi làm việc khá căng thẳng với chủ tịch huyện, Khúc Kiệt quyết định về làng Cùa, phân phát người của mình đi khắp nơi trong huyện nắm tình hình.Và cũng đến lúc ông ta mới biết Khúc Văn đang ở chùa Từ Vân. Các mũi trinh sát đều không có kết quả, riêng nhóm  ở làng Cùa cho biết, mấy tháng nay, chùa Từ Vân có một nhóm thanh niên thường xuyên đến tập võ. Thấy sự việc có vẻ khác thường Khúc Kiệt liền cho người đến bắt sư trụ trì về đình Cả. Nhà sư là người hiền lành, mộ đạo, hơi bị nặng tai, nghe câu được câu chăng, trả lời ấm ớ bị đánh một trận thừa sống thiếu chết. Khúc Văn tức lắm, nửa đêm cùng Lại Văn Chương, Lê Khả đột nhập vào đình, nện gẫy xương sườn tay gác cửa, cứu sư  Tuệ Văn đưa sang bên kia sông Lăng.
 
Ngày hôm sau Khúc Kiệt cho các đội viên An ninh bao vây chùa. Khúc Văn bàn với các bạn:
- Chúng ta có đủ đạn để cầm cự đến tối, nếu thấy đứa nào vượt tường vào thì cứ nổ súng, nhớ phải nhắm cho chính xác.
Phạm Cửu băn khoăn:
- Tôi sợ ông Khoá kéo thêm người đến thì nguy mất, hay là chúng ta ra hàng?
- Cậu là thằng nhát gan. - Khúc Văn cười nhạt - Nghe nói quân đội Pháp đã đánh đến Ba Hàng và  An Lĩnh. Chính quyền Việt Minh sắp đi đời rồi. Nhân đà này ta phải chiếm lấy vùng Ba Tổng làm căn cứ.
Lương Văn Tuyến ngập ngừng:
- Nếu ông Khoá đích thân xông vào thì có bắn không?
Khúc văn phẩy tay:
- Tôi đã nói rồi, không có bất cứ ngoại lệ nào.
 
Khúc Văn vừa nói xong thì thoáng thấy hai bóng đen thập thò ngoài bờ rào cạnh cây mít mật liền nổ một phát trường mút. Phía cổng chính, Khúc kiệt chõ miệng loa sắt tây vào chùa cất giọng khàn khàn:
- Anh em đừng nghe luận điệu lừa phỉnh của thằng Khúc Văn, hãy ra đầu hàng, chính quyền Cách mạng sẽ mở lượng khoan hồng.
Tiếng loa ậm oẹ nhắc đi nhắc lại mấy lần nghe rất chối tai. Lê Khả bảo Khúc Văn:
- Bắn cảnh cáo nhé.
- Bắn đi.
Lê Khả vốn là tay thiện xạ. Anh ta kê nòng súng lên chạc cây dâu da nhằm khoá Kiệt nổ một phát. Viên đạn xuyên thủng chiếc loa làm ông trưởng Công an hết hồn. Trong vòng mấy giờ đồng hồ, quân của Khúc Kiệt không đột nhập được vì hoả lực khá mạnh từ trong bắn ra. Vũ khí của đội An ninh toàn súng dóp với mútxcơtông. Có mỗi khẩu tiểu liên Nhật thì lại hóc, sau một hồi tháo ra lắp vào bị gãy kim hoả, Khúc Kiệt cáu tiết chửi:
- Mẹ kiếp, súng với ống chết tiệt. Bây giờ anh nào bắt sống được thằng Khúc Văn ta thưởng hẳn ba mươi đồng.
 
Quá năm giờ chiều, thế trận vẫn bất phân thắng bại. Tháng mười,  gió bấc chạy ào ào. Trời u ám. Thoáng một cái đêm đã ập xuống. Lúc này Khúc Kiệt đã có thêm mấy  tự vệ tăng viện cùng với khẩu tiểu liên K50 . Lợi dụng màn đêm, từng nhóm vài ba người một, luồn hàng rào tre, nhảy qua tường tiếp cận mục tiêu. Thấy hoả lực của đối phương thưa thớt dần, ông Trưởng Công an cho rằng cánh phản loạn đã hết đạn liền phá cổng chính xả đạn vào những chỗ nghi có quân bắn tỉa. Đạn lửa bay loằng ngoằng. Lửa bén từ dẫy nhà Tổ sang mái Tam quan bốc lên cao kèm theo những tiếng nổ lốp bốp như pháo đùng. Tàn lửa đỏ rực được những trận gió mùa ràn rạt đẩy ra cánh đồng lúa đang kỳ thu hoạch. Vô vàn là lưỡi lửa với đủ hình thù kỳ dị liếm lem lém vào bất cứ thứ gì nơi nó đi qua. Cả một cánh đồng vàng óng mênh mông những lúa là lúa bỗng chốc biến thành biển lửa. Trong làng, dân chúng nháo nhào xách thùng, chậu, gầu tát nước rầm rập chạy ra đồng nhưng đành bất lực trước đám cháy lan nhanh với tốc độ khủng khiếp. Đồng điền vào ngày đông giá tất cả đều khô nỏ. Không còn một đám ruộng nào còn sót lại khi hoả thần chạy qua. Bà cả Huê xót của, nghiến răng nghiến lợi gọi bố con Khúc Kiệt là quân “trời đánh thánh vật”. Thường Rỗ khóc hu hu còn lý Quỳnh mặt nặng chình chịch bảo phó lý Kiền:
- Còn chữa chạy gì nữa, chuyến này thì cả làng xách bị đi ăn mày.
 


[1]  Lê nin (Phiên âm qua tiếng Trung Quốc)
[2]  Một loại súng trường nhỏ của Pháp.
[3]  cờ bạc
Chương 8
 
Chương tám
 
1
 
 

Tháng tám năm  Đinh Hợi, quân đội Liên hiệp Pháp từ xếch tơ[1] Đông Triều kéo về phố huyện Nam Thành. Trước khi chiếm trụ sở chính quyền Việt Minh, chúng cho bắn hai mươi mốt phát moóc chi ê tám mươi mốt ly lên đỉnh núi Ông Tượng. Từ phía Hải Phòng, một chiếc tàu “Bà già” bay chậm như rùa, vừa kêu phành phạch vừa rải truyền đơn xuống các điểm dân cư hai bên đường quốc lộ. Việt Minh hình như đã biết có những cuộc hành quân như thế này nên từ mấy hôm trước họ rút lực lượng sang bên kia sông. Dân phố huyện mấy năm nay đã chứng kiến vài lần chính quyền thay thầy đổi chủ. Họ nhìn các "đồng chí" Việt Minh khoác ba lô lặng lẽ rút đi cũng như đội quân viễn chinh Pháp lỉnh kỉnh súng ống trở lại bằng con mắt của người nhà quê hoàn toàn dửng dưng. Những kẻ thức giả thì chép miệng dự đoán: “Phen này rồi sẽ loạn to”. Cán bộ Việt Minh dán truyền đơn hiệu triệu “Toàn quốc kháng chiến” khắp nơi. Chùa Vĩnh Hưng trở thành điểm liên lạc của huyện bộ Việt Minh. Lê Văn Vận rút vào hoạt động bí mật, thỉnh thoảng lại vượt sông về làng Cùa nắm tình hình.
 
Cuối năm ấy, quân đội Pháp chở xi măng, sắt thép từ Hải Phòng lên xây đồn ở Bến Tuần,  cách làng Cùa gần hai cây số. Đồn là một hệ thống phòng thủ gồm ba lô cốt nửa nổi nửa chìm, phía ngoài có hàng rào kẽm gai bùng nhùng, chôn mìn cóc, bên trong là ngôi nhà chỉ huy kiên cố được thiết kế như một pháo đài gồm các phòng làm việc, phòng ngủ và tầng hầm. Chiếc ca nô nửa trắng nửa đỏ treo cờ tam tài,  trên boong đặt khẩu liên thanh, ngày nào cũng chạy một vòng xuống tận  ngã ba Môi rồi lại ngược lên. Thỉnh thoảng hứng chí, bọn lính đứng dạng chân nhằm bắn vào bãi chuối hai bên bờ làm làm lũ liếu điếu, chào mào bay tán loạn.
Việt Minh rút đi, làng Cùa lập tức bị ép vào tề. Ngô Quỳnh lại ra làm lý trưởng. Ông ta thừa biết, làm lý trưởng vùng Tề giáp ranh với Việt Minh chẳng những không xơ múi gì mà có khi còn bị tai bay vạ gió, không bị Việt Hùng [2] cắt cổ thì cũng bị Tây đồn đá đít. Dân làng Cùa thuộc loại mạnh ai theo người ấy, khó bảo, dính vào tí chức sắc có khi lợi bất cập hại.
 
Lê Bang lúc này cũng đã ra giữ ghế chánh tổng doạ Ngô Quỳnh:
- Ông đã từng làm chủ tịch Liên Việt, ít nhiều cũng dính dáng đến Việt Minh, tôi bảo cử cho vào chân lý trưởng là muốn để lập công chuộc tội.
Ngô Quỳnh cãi lý:
- Làng Cùa thiếu gì thằng có máu mặt làm được lý trưởng mà các ông cứ nhè vào tôi.
Chánh Bang đành phải nói thật:
- Việt Minh bây giờ đang yếu thế phải tạm rút đi nhưng không bao lâu nữa họ lại về làng Cùa cho mà xem. Bọn ấy có chuyên chính vô sản trong tay, lơ mơ là mất đầu. Để thầy làm việc , sau này còn có chỗ ăn nói.
-  Thế ra ông Chánh cũng biết sợ Việt Minh? - Lý Quỳnh châm chọc.
- Sợ quá đi chứ. - Chánh Bang cười lớn làm ra vẻ thức thời vì đã biết sợ - Vụ họ khử tay Đỗ Kim còn sờ sờ ra đấy, có là thằng điên mới chọc vào tổ kiến.
- Sao bảo Đỗ Kim là do cánh "Hội dân cày” thanh toán.
- Việt Minh có trăm phương ngàn kế , họ nói một đằng làm một nẻo, biết thế nào mà tin.
 
Làm lý trưởng, hàng ngày Ngô Quỳnh phải cắt các trai đinh trong làng lên phục dịch công trường xây dựng bốt Tuần. Dân Ba Tổng bị bắt phu rất đông. Nhà nào đến phiên không đi được có thể thuê người làm thay. Cũng thời gian này, Khúc Kiệt từ bên kia sông bí mật về làng Cùa thành lập đội du kích. Ông ta cử người thân tín, ban đêm vào các gia đình cơ sở tuyên truyền chủ trương kháng chiến trường kỳ của Việt Minh và vận động thanh niên gia nhập lực lượng chiến đấu. Khúc Kiệt nói khéo lắm, nhưng người làng Cùa qua mấy phen kinh hoàng, nằm mơ cũng thấy ác mộng nên xem ra có vẻ không mấy mặn mà. Thủ lĩnh áo Đen quyết không nản chí. Ông ta về các tổng Chi Điền , Cao Đôi, Ngân Đôi tuyển mộ được hơn hai chục thanh niên nam nữ, chủ yếu là tá điền, lấy rừng Hóp làm Đại bản doanh với ý đồ có ngày sẽ đánh  bốt Tuần.
 
Lúc này đã là giữa tháng hai. Rừng Hóp líu ríu tiếng chim mỏ nhát trên những cây sau sau non. Lũ sáo đá và yểng mỏ vàng đua nhau đồng ca bằng thứ giọng kim cao vút, thỉnh thoảng lại ngắt nhịp lấy hơi  như là bị tắc mũi. Một con sóc bông màu khói, cặp mắt tròn, nhỏ xíu như hạt  cườm, giỏng đôi tai mỏng dính, nghe ngóng động tĩnh rồi bất chợt hếch mõm kêu chin chít, giống hệt tiếng chuột đồng bị rắn sọc dưa vồ. Cò xám và giẽ giun thấy động bay vút lên lượn lờ vài vòng rồi lại đậu xuống đám cành kiền kiền ngủ gà ngủ gật. Dưới gốc cây keo đá, một con chó hoang lông vằn vèo như lông báo gấm có cặp tai rất lớn nhìn đám người khoác súng ống bằng cặp mắt đầy vẻ thù nghịch. Nó có vẻ như đã kịp hình dung ra những ngày sống êm đềm trong lãnh địa của mình đã qua. Lũ người ăn mặc bát nháo cùng những thứ đồ lỉnh kỉnh kia sẽ đem tai hoạ đến bất cứ lúc nào.
 
Khoảng một tuần sau có thêm hai người làng Cùa lần vào rừng. Đó là cô Mùi con ông trương Thép và Bùi Quốc Tầm. Phải nói Khúc Kiệt chọn rừng Hóp làm căn cứ địa là đắc sách. Nó là khu rừng rậm tách hẳn với các điểm dân cư, lại gần với đầm Ma nên rất thuận lợi về mặt chiến lược. Mặt khác, rừng Hóp không quá xa bốt Tuần, đội du kích có thể sử dụng cách đánh chớp nhoáng, sau đó nhanh chóng rút về căn cứ làm cho địch bị bất ngờ, trở tay không kịp. Đây chính là một trong những lợi thế của phép dùng binh. Khúc Kiệt đã có kinh nghiệm qua cuộc đụng độ với quân Triều đình và quân Nhật. Lần này dứt khoát phải chiến thắng. Trong vòng hai tháng, ông ta cho các đội viên vừa luyện tập chiến thuật đánh du kích vừa tập kết lương thực, thực phẩm, vũ khí vào rừng với quyết tâm dạy cho gã Đồn Cáo một bài học.
Làm việc dưới quyền Lê Văn Vận nhưng thực ra Khúc Kiệt không coi Vận ra gì, bởi anh ta chỉ là tay võ biền, vô học, do nước ngập mà "chó nhảy bàn độc" chứ chẳng có chút tài cán gì. Chức chủ tịch huyện đáng lý phải của ông ta mới có điều kiện bộc lộ hết sở trường. Đã làm cái chân trưởng ban An ninh quèn lại luôn bị Vận uốn nắn những lệch lạc về quan điểm lập trường khiến ông ta vô cùng bất mãn. Sau vụ bao vây chùa Từ Vân, thiêu trụi mấy cánh đồng lúa của làng Cùa, Vận buộc phải cách chức Khúc Kiệt chuyển sang phụ trách Nông hội, ông ta bị bẽ mặt, bỏ về Ba Tổng, bí mật thành lập đội du kích để chứng tỏ bản lĩnh.
 

Trong đội có một cậu bé tên là Dược Còi. Bố mẹ Dược mới chết do trúng đạn moóc chi ê trong trận càn mười ba tháng tám. Cậu ta theo chị là một đội viên người Mạc Điền xin gia nhập du kích để trả thù cho cha mẹ. Khúc Kiệt mừng lắm liền bố trí cậu ta vào tổ trinh sát. Ông ta thầm nghĩ, chỉ có Dược Còi trà trộn vào dân phu ở bốt Tuần chúng mới không nghi ngờ. Dược Còi đã quá tuổi mười ba nhưng người bé loắt choắt chỉ bằng đứa lên mười, đi chăn trâu thuê cho ông hương Kình từ năm lên bảy. Dược có biệt tài làm diều, mỗi khi lùa trâu ra đồng đều mang theo diều sáo. Khi đàn trâu thong dong gặm cỏ trên bãi tha ma hoặc bên gò đống, cậu ta lại rủ bọn choai choai thả diều. Thích nhất là vào những ngày đầu thu. Dịp ấy trời trong veo không một gợn mây. Cỏ gà, cỏ chỉ, cỏ mần trầu vẫn còn xanh mướt như tấm thảm nhung trải dài sườn đê. Sau vụ cày, lũ trâu được xả hơi dài ngày, da con nào cũng đen bóng, cặp sừng cánh ná nghênh nghênh, đôi tai ve vẩy, mồm gặm cỏ soàn soạt. Cứ tầm nửa chiều là có đủ loại diều chao lượn trên không. Bọn lớn tuổi thả diều sáo, bé hơn một chút chơi diều đuôi  hoặc diều cốc. Lũ tí nhau vắt mũi chưa sạch thì tạm bằng lòng với loại diều ống, tức là lấy tờ giấy học trò gấp làm ba mảnh theo chiều dọc, dán một cái đuôi ngắn, buộc dây chỉ vào hai mép làm lèo, cầm tay co cẳng chạy. Những con diều chao lượn như mắc cửi, cái thấp, cái cao, cái kêu tu tu, cái vo ve như nhặng xanh vỗ cánh cùng với tiếng nghé hoa gọi mẹ tạo thành một bản hoà tấu với nhiều âm vực khác nhau, làm cánh đồng chiều sôi động hẳn lên.
 
Buổi sáng hôm ấy, Dược Còi vác con diều sáo cỡ nhỏ đi lẫn vào đám dân phu làng Mạc Điền lên bốt Tuần. Một người quen nhìn thấy nó hỏi:
- Mày lên đây làm gì?
- Thằng bé không chút bối rối nói ngay ra một cái tên mà Khúc Kiệt đã dặn:
- Cháu đi phu thay cho ông Cả Phiên.
 
Người ấy bĩu môi:
- Trông mày như con nhái, làm được trò trống gì, không khéo còn bị lính đồn nện cho vài hèo vào mông.
Dược không nói gì. Đến gần đồn, nó xuống vệ đê giả vờ đi đái, đợi cho cánh dân phu ra đào đất phía ngoài bãi chuối mới từ từ thả diều. Con diều nhỏ nhưng gắn đến ba cái sáo, thành ra khi đã lên đủ độ cao, dây căng, nó bắt đầu phát ra chuỗi âm thanh giống như tiếng tiêu lồng trong tiếng kèn sừng dê lúc bổng lúc trầm nghe khá lạ tai. Tiếng sáo làm viên đồn trưởng đồn Tuần chú ý. Thoạt đầu, hắn gấp đống giấy má lộn xộn trên bàn lại, ngồi trầm ngâm lắng nghe. Những âm thanh vui nhộn của đồng quê vùng nhiệt đới kích thích trí tò mò làm tay đại uý đứng ngồi không yên. Cuối cùng, hình như bị thứ nhạc cụ thần kỳ gắn trên con diều quyến rũ, hắn rời bàn giấy, leo lên đỉnh lô cốt cao nhất, ngước cặp mắt xanh màu nước biển lên trời. Kia rồi. Một cánh diều. Cánh diều nhỏ nhoi như chiếc lá phong lữ thảo mỏng manh, gần như không chao lượn mà gắn vào một tảng mây xốp sáng lấp lánh giữa vòm trời thu màu ngọc lục. Cặp đồng tử vàng hoe của gã Đồn trưởng giãn ra. Hắn ngẫm nghĩ một lúc khá lâu, vừa nghĩ vừa đốt thuốc cotab. ít lâu sau, hắn gọi tay thông ngôn đóng lon cai:
- Hạ sỹ ra bảo thằng bé chơi diều vào đây.
 
Viên cai không hiểu ý cấp trên, ngập ngừng chưa định đi, thấy vậy, tên đồn trưởng giục:
- Nhanh lên! Bảo nó mang cả cái diều theo.
Thoạt nghe Dược Còi hoảng. Cậu ta phấp phỏng đoán già đoán non: “ Hay là nó biết mình là du kích? Được, chết thì chết, không bao giờ tao thèm khai”. Nghĩ vậy, Dược vừa đi theo cai Toại vừa giong diều. Đến bên hàng rào thép gai ở bốt tiền tiêu, cậu buộc dây vào cọc rồi đàng hoàng vào đồn Tuần. Đồn Cáo tiếp khách với thái độ niềm nở ngoài sức tưởng tượng của Dược Còi. Cậu cũng không ngờ gã đại uý nói tiếng Việt giỏi đến mức không cần cai Toại thông ngôn. Trước tiên, viên đồn trưởng đưa cho Dược hai hộp sắt tây bánh bích quy, năm hộp sữa "Con chim" và một ổ bánh mỳ. Hắn bảo:
- Bé con, cầm lấy đi. Tao còn nhiều. Từ ngày mai, mày lên đây dạy tao thả diều.
Trong lòng vừa trút được mối nghi ngờ, Dược mừng lắm nhưng vẫn làm bộ nhăn nhó:
-  Tôi phải đi phu cho ông hương Kình, thả diều với quan đồn về nhà mẹ con tôi không có tiền đong gạo.
- Ô là là! Lo gì.- Viên đại uý thọc tay vào túi áo ka ki móc ra một nắm tiền Đông Dương ấn vào tay Dược - Thế này đủ chưa?  Cầm về mà mua thức ăn.
Dược lặng người trước một số tiền lớn mà cậu ta không bao giờ dám nghĩ tới nên cứ lúng túng mãi chẳng biết phải làm gì. Tên đồn trưởng nghĩ Dược chê ít liền móc thêm một nắm nữa rồi ấn tất cả vào túi áo nâu mốc thếch của thằng bé:
- Cầm lấy đi, rồi về nhà làm cái khác. Cái diều đang bay ngoài kia bán cho tao.
Tối hôm ấy Dược kể hết mọi chuyện với Khúc Kiệt. Ông ta mừng ra mặt, bảo:
- Được, ta phải tương kế tựu kế.
 
Mấy hôm sau, Dược cùng anh Quất người Đậu Khê làm chiếc diều to gấp đôi. ống sáo đã có sẵn. Phết giấy xong, đợi nửa ngày cho khô mới mang thả thử. Diều bay rất cân, tiếng sáo trầm, vang xa, nghe hấp dẫn không chê vào đâu được. Dược lại trà trộn vào đám dân phu mang diều lên đồn Tuần. Đồn Cáo thích lắm lại thưởng cho cậu mấy hộp bích quy và một bịch to kẹo "xích tông"  bạc hà. lúc thả, Đồn Cáo cầm diều đâm, Dược giòng dây. Hắn nóng vội không biết cách đón chiều gió, mấy lần tung lên, diều chỉ nhao được nửa vòng lại cắm đầu xuống đất. Dược nhặt lên, chỉnh lại lèo rồi đâm  làm  mẫu. Cuối cùng thì viên đại uý cũng học được cách thả diều. Khi con diều đã lên đủ độ cao, bay ổn định, Dược buộc dây vào cọc. Đồn Cáo ngồi bệt xuống cỏ, châm thuốc hút và khoan khoái lắng nghe tiếng nhạc mê ly từ chín tầng mây vọng xuống.
 

Đồn Cáo về bốt Tuần từ cuối năm ngoái. Hắn vốn là sỹ quan tham mưu thuộc binh đoàn Lê dương thứ ba của quân viễn chinh. “Đồn Cáo” chỉ là biệt danh dân Ba Tổng đặt cho còn tên thật của hắn là Mácxen Đuycroa quê vùng Bơ dăng xông. Cách đây hai năm, Mác xen được điều sang Đông Dương làm việc dưới quyền đại tá pháo binh Béc na đồn trú ở Kiến An. Nhật đảo chính, hắn bị bắt giam ba tháng sau đó được phóng thích liền trốn sang Căm pu chia, đang định tìm cách về nước cùng với đám chiến hữu bại trận thì gặp lúc quân đội Pháp tái chiếm Bắc Kỳ. Mắc xen trở lại con đường binh nghiệp sau chuyến gặp gỡ viên chỉ huy cũ ở Hà Nội lúc này đã là trưởng phòng tác chiến trong Bộ tham mưu của tướng Moóc li e. Về bốt Tuần, Mác xen bắt đầu có thói quen là rất thích chén thịt gà nhưng phải là loại gà mái đã đẻ từ một đến hai lứa, da vàng, thịt chắc, béo mỡ được nuôi bằng ngô hạt trồng trên bãi sa bồi ven sông Lăng. Mỗi bữa hắn chỉ ăn hai cái đùi và bộ lườn, phần còn lại nhà bếp cho vào nấu sốt để lính bản xứ ăn với bánh mỳ. Nguồn cung cấp gà chủ yếu là do lý trưởng các làng vùng Ba Tổng bắt dân nộp theo định kỳ rồi cử người mang lên đồn. Trong vòng ba năm Mác xen đã xơi đến hơn hai nghìn con gà, một kỷ lục có thể đưa vào sách Ghi nét. Dân Đậu Khê tức nhưng không làm gì được liền bảo nhau “tiến” một lồng toàn gà mái đã đẻ hàng chục lứa, thịt dai ngoách, ngài đồn trưởng không nhai được liền sai lính nọc lý Vạn ra quất cho hai chục hèo mây.
 
Mác xen có khổ người trung bình và khuôn mặt khá đẹp trai với chiếc mũi thẳng, cặp mắt xanh và bộ ria nhọn, đen nhánh vểnh lên giống hệt các nhà quý tộc tỉnh lẻ nước Pháp thời vua Lu y mười bốn. Mỗi khi ra đê thả diều hoặc đi ca nô dạo trên sông Lăng, Đồn Cáo đều mặc quần soóc kaki Mỹ, áo cộc tay kẻ ô vuông và đội chiếc mũ trắng rộng vành như mũ du lịch của người vùng Địa Trung Hải. Ca nô chạy rẽ nước trên sông, Đồn Cáo chĩa ống nhòm quan sát hai bên bờ, thỉnh thoảng lại gật gù với Cai Toại.
- Hôm nào chúng ta phải ra thăm cồn Vành.
- Không được đâu, thưa ngài.- Cai Toại lắc đầu - Theo tôi được biết, các đơn vị du kích Việt Minh đã bắt đầu hoạt động. Họ có những xạ thủ bắn tỉa rất giỏi.
- Ông doạ tôi đấy à ? - Đồn Cáo cười nhạt bảo - Lũ nhà quê chân đất ấy chúng làm quái gì có vũ khí hiện đại ngoài mấy khẩu Mútxcơtông từ thế chiến thứ nhất mà quân đội Pháp đã thải ra.
- Đại uý không nên chủ quan.- cai Toại chỉ tay về phía làng Cùa bảo - Dưới luỹ tre làng hiền lành tưởng như rất nên thơ kia luôn ẩn giấu những hiểm hoạ bất chợt chẳng bao giờ dự đoán trước được.
- Hình như từ sau hôm bị bắn trượt ông đã mất hết đảm khí.- Mác xen mỉa mai tay thông ngôn bản xứ- Mục đích quân đội Liên hiệp Pháp trở lại Việt Nam là tiêu diệt chính phủ kháng chiến của ông Hồ Chí Minh chứ không phải để họ tập kích ta bằng vài thứ vũ khí thô sơ. Mấy hôm nữa sẽ có cuộc hành quân vào vùng Ba Tổng, ông chuẩn bị đi cùng tôi để nâng tinh thần lên.
Cai Toại biết đồn Cáo có máu yêng hùng thích lập chiến công để gắn mề đay Anh dũng bội tinh. Mấy trận càn vừa qua tuy có bị tổn thất chút ít nhưng nói chung đã bình định xong vùng Kim Đôi, Ngân Đôi, Chi Điền, thành lập được các đội dân binh, nghĩa dũng, củng cố hệ thống làng tề nên Mác xen được coi như người hùng.
 
Dần dần, Dược Còi quen hầu hết quan tính đồn Tuần. Cậu có thể ra vào bất cứ lúc nào mà không bị bọn gác xét hỏi. Gã Đồn trưởng bị tiếng sáo diều mê hoặc. Những ngày khô ráo, mỗi buổi chiều, sau khi thả diều, hắn lại trèo lên nóc lô cốt lấy ống nhòm ra ngắm. Trong bộ sưu tập của mình, Đồn Cáo đã có đến năm con diều. Đẹp nhất là chiếc diều cánh cốc dán bằng giấy màu sặc sỡ. Hắn lấy tên con gái là Ê li an đặt cho nó. Diều này bay thấp, không có sáo mà chỉ gắn màng, gặp gió đuôi “cốc” bay phần phật, màng kêu như tiếng ve kim. Mác xen có vẻ như chẳng nghi ngờ gì thằng dân phu bé con. Lợi dụng thời cơ, cậu đã tìm hiểu được nơi đặt súng moóc chi ê, súng máy, hệ thống hầm ngầm và các bãi mìn ở ngoài hàng rào kẽm gai. Thỉnh thoảng bọn lính đi càn về, vứt súng bừa bãi, Dược còn thủ được mấy quả lựu đạn đưa cho Khúc Kiệt. Tuy nhiên có một trở ngại lớn là cậu không biết chữ , nói thì được, nhưng vẽ sơ đồ, đánh dấu các vị trí trọng yếu trong đồn là việc hoàn toàn quá sức. Trường hợp của Dược chỉ là một biệt lệ do thói ham chơi của tên đồn trưởng. Dịp này, bọn lính tuần tra, canh phòng ngày đêm rất cẩn mật, chỉ cần phát hiện một chút khả nghi là chúng bắn không tiếc đạn. Khúc Kiệt suy nghĩ mãi vẫn chưa tìm ra cách giải quyết mặc dù căn cứ vào lời kể của Dược ông ta đã hình dung ra phần nào cách bố trí hoả lực trong đồn. Đồn Tuần là vị trí chiến lược quan trọng. Nếu đánh không thắng chúng sẽ đem tàu chiến ngược sông Lăng từ ngã ba Môi lên hoặc câu đại bác từ xếch tơ Đông Triều về.  Thậm chí để giữ vị trí đồn trú, quân đội Pháp sẵn sàng mang máy bay B26 đến ném bom huỷ diệt các làng xung quanh.
 
Khúc Kiệt còn biết, mấy tháng qua, từ bên kia sông, Lê Văn Vận đã cho mấy tổ trinh sát lần mò đến bốt Tuần nhưng đều thất bại. Gần đây, có ba người dùng bè chuối thả trôi sát đồn, do không nắm rõ địa hình, một vướng mìn gài dưới mặt nước, còn hai anh kia bị ca nô rọi đèn lao ra tóm sống. Họ đều còn trẻ và gan lỳ không chịu khai. Đồn Cáo ra lệnh xử bắn, vứt xác xuống sông. Hôm ấy Dược Còi cũng ở trong đồn thả diều với viên chỉ huy. Hắn vẫn dõi mắt theo con diều sáo một cách thích thú vừa nhai bánh quy rau ráu. Nhóm thứ hai đóng giả là dân phu từ phía kẻ Bòng, nửa đêm vượt sông ở đoạn bến Trại không ngờ bị toán nghĩa dũng làng Cùa bắt được giải về đồn. Mác xen sai tên ách di đằng Trần Cao đem xuống hầm ngầm ngâm nước đến cổ thỉnh thoảng lại ấn đầu xuống chừng nửa phút cho sặc phù sa. Hai anh địa phương quân sợ phải khai. Mác xen lập tức cho giải họ về Cát chi ê Nam Thành cùng với biên bản hỏi cùng trình thiếu tá La mác tin.
 
Nghĩ mãi, không còn cách nào hơn, cuối cùng Khúc Kiệt giao cho Dược tìm cách lấy tấm bản đồ phòng thủ. Dược biết, bản đồ ấy để trong cặp da, chiếc cặp lại để trong tủ sắt ở phòng đồn Cáo. Vào phòng hắn đối với Dược không khó. Cái khó nhất là làm sao có được chiếc chìa khoá viên đại uý luôn mang trong người. Khúc Kiệt đưa cho Dược cục sáp, bảo cậu ta làm sao in được chìa khoá tủ vào đó ông ta sẽ có cách. Hôm ấy trời nắng gắt. Thả diều xong, đồn Cáo thấy người bứt rứt khó chịu liền vào buồng tắm. Bộ quần áo ka ki dầy cồm cộp cởi ra quăng cuối giường. Dạo này Dược gần như thằng bồi nhỏ, đã mấy lần cùng dán diều với Đồn Cáo nên được hắn tin cậy. Đây quả là dịp may ngàn năm có một. Dược nhanh chóng tìm được chìa khoá và lần lượt ấn từng mặt vào miếng sáp.
Mấy hôm sau, Khoá Kiệt giao cho Dược chiếc chìa khoá đồng mới tinh. Ông ta dặn:
- Thời gian gấp rồi, phải tìm cách lấy ngay tấm bản đồ.
 
Dược lo lắm. Lấy mẫu chìa khoá đã khó nhưng không nguy hiểm bằng mở tủ lấy bản đồ. Trót lọt thì không sao, còn nếu đang loay hoay mà đồn Cáo bắt được thì cầm chắc cái chết trong tay. Nhưng rồi Dược nghĩ đến bố mẹ, đến đám dân phu ngày đêm nai lưng ra khiêng đất, đắp ụ súng, đào công sự bị roi da bò của tên đội Tảo quất thành từng vệt trên lưng, đến những người dân vô tội vùng Ba Tổng bị chính tên quan ba ra lệnh trói chân tay , nhét vào rọ tre thả xuống sông Lăng chỉ vì họ giấu Việt Minh dưới hầm bí mật . "Phải liều thôi.-  Dược nghĩ-  Ông Khoá đã quá ngũ tuần mà vẫn lặn lội trong rừng Hóp chỉ huy du kích đánh giặc, mình mới tí tuổi đầu lại sợ chết, thật xấu hổ. Cứ hoàn thành nhiệm vụ đã còn những việc khác tính sau".
 

Thời gian chờ đợi vô cùng căng thẳng mà dịp may vẫn chưa đến. Cứ mỗi lần từ đồn Tuần về, gặp anh em trong đội du kích mặt Dược Còi lại ỉu xìu. Ba ngày rồi năm ngày, bẩy ngày, thời khắc qua vùn vụt đã tưởng hết hy vọng, vậy mà dịp may lại đến. Đó là vào hôm  Dược vác lên đồn con diều to như chiếc thuyền đánh lưới bén. Loại này khi thả phải dùng dây tre bánh tẻ luộc kỹ với nước muối mới chịu được. Tên đồn trưởng thấy khoanh tre quá cồng kềnh, vác đi vác lại khá bất tiện liền bảo cậu về đồn lấy cuộn dây dù vừa nhẹ vừa bền, còn hắn dùng nhựa sung dán lại một vài chỗ bị bong giấy. Dược chạy, tim đập loạn xạ. Mấy thằng lính hỏi, Dược bảo:
- Lấy dây dù trong phòng quan lớn.
 
Vào đến nơi, Dược nhìn trước nhìn sau rồi rút chìa khoá mở tủ. Chìa khoá giũa khéo, xoay một vòng là được. Chiếc cặp da đây rồi. Quả nhiên ở một ngăn có tấm bản đồ gấp tư còn mới kẹp giữa những giấy tờ khác. Đây là thời điểm quyết định, không thể chần chừ. Dược đã bình tĩnh trở lại. Cậu lấy tấm bản đồ luồn vào chiếc túi trong vạt áo mà chị Mùi đã khâu sẵn cho từ mấy hôm trước rồi nhanh chóng để cặp vào tủ khoá lại như cũ. Xong việc chính cậu mới vơ cuộn dây dù bước ra khỏi phòng tên quan ba. Đồn Cáo đợi lâu, sốt ruột đã văng “mẹc xà lù” nhưng thấy Dược chạy đến hắn lại nhoẻn miệng cười. Phải kiên nhẫn lắm, Dược mới đóng trọn được vai kịch. Suốt buổi thả diều, tấm bản đồ cứ cồm cộm trong bụng, cậu chỉ lo, chẳng may nó tuột ra thì chắc chắn sẽ ăn ngay mấy viên đạn của khẩu môde lúc nào viên đại uý cũng kè kè bên hông. Gần tối, đồn Cáo mới cho Dược về. Trước mặt hắn, cậu thọc hai tay vào túi quần short rộng thùng thình, nghênh ngang bước, khuỷu tay khuỳnh ra, giống hệt một tay anh chị phớt đời. Khi đã cách đồn khá xa, hút bóng gã đại uý cậu mới lao xuống chân đê co cẳng chạy. Gần đến điếm Bài Vân, chợt thấy một gã câu ếch đội nón mê từ bụi tre nhô ra, Dược thoáng giật mình, nhưng khi nhận ra Khúc Kiệt  thì mừng vô kể. Hai người lẩn vào vườn chuối thì chạm ngay đội Tảo vừa cùng tốp lính đi tuần từ làng Cùa ra. Thấy bóng người , đội Tảo ra lệnh cho lính quay lại đuổi theo. Khoá Kiệt vội xé rào chạy chạy về phía ao Quan. Tấm bản đồ phòng thủ đồn Tuần vẫn nằm trong túi áo Dược.
- Việt Minh, đứng lại ! - Một gã mặt non choẹt, giọng the thé quát.
Dược cắm đầu cắm cổ chạy ngược lên điếm làng, định lẩn vào đám dứa dại thì tên này nổ súng. Cậu khựng lại, đầu nhao về phía trước. Lúc ấy mặt trời vừa tắt. Trên cao, phía cồn cát sông Lăng lơ lửng một vành trăng khuyết.
Chừng nửa giờ sau, bọn lính  tuần khiêng Dược về đến bốt Tuần. Thật ra cuộc rượt đuổi hoàn toàn tình cờ, chỉ cần viên đại uý đứng ra bảo lãnh là cậu vô can nếu như đội Tảo không  tìm thấy tấm bản đồ giấu trong túi áo. Đến lúc ấy đồn Cáo mới hiểu mức độ tai hại của trò chơi thả diều. Hắn tự tay đánh Dược bằng loại roi song ngâm nước muối, mỗi nhát vụt người cậu giật nẩy lên, máu toé ra nhưng nhất định không khai ra đội du kích rừng Hóp.
Sang ngày thứ ba, vẫn không khai thác được gì ở Dược, Mác xen lồng lộn như con thú bị thương sai tên quan hai người đảo Coóc cùng một toán lính Âu Phi mang cậu bé xuống bãi sông xử bắn. 
2. Những trận mưa tháng bẩy kéo dài khác thường làm cánh đồng vàn liền với đầm Ma bị úng. Trà lúa sớm đang xanh mơn mởn giờ ngập lút dưới làn nước nhờn nhợt màu cỏ úa. Chỉ những bụi lác hoặc cỏ vòi voi là bất chấp. Nước dâng đến đâu chúng vươn cao đến đấy. Nhiều cây, trong một đêm đã kịp trổ hoa trắng phất phơ trên mặt nước giống hệt những chiếc chong chóng bé tí xíu xoay tròn trong gió. Bên đầm Ma, những bụi dành dành chen nhau cạnh đám mộc hương khẳng khiu hoa vàng sẫm toả thứ mùi hăng hắc rất khó ngửi nhưng lại vô cùng hấp dẫn lũ ong khoái đến hút mật. Bọn này không có tổ cố định mà thường di chuyển một cách tuỳ hứng đến những nơi có nhiều hoa đang nở trong rừng Hóp. Ong khoái bám vào cành cây phèn gai hoặc một đoạn dây chạc chìu lòng thòng hàng ngàn vạn con trông xa gần giống như chiếc chổi tre mầu nâu sẫm. Mỗi khi thấy nguy hiểm, những con đậu phía ngoài lập tức “rùng mình’ kéo theo sự chuyển động bởi một vũ điệu kỳ quái của cả bầy, nhìn vào sởn cả gai ốc. Măng hóp gặp mưa ngâu đâm lên tua tủa. Những con bồ các đang ấp trứng kêu quang quác mỗi khi nhìn thấy các đội viên du kích đào măng ngay dưới tổ của chúng. Một đôi chim  sâu ngó nghiêng chuyền cành bằng cặp chân bé xíu như cây tăm  màu hồng phấn. Chúng vừa nhảy nhót vừa kêu lích tích có vẻ tự thoả mãn với thời tiết ướt át, chẳng mấy quan tâm đến những kẻ lạ mặt đang chặt cây làm nhà dưới kia. Lũ cò con hoàn toàn không biết sợ, nhìn thấy người cứ ngoác cái mỏ ngà viền lông tơ trắng đòi ăn bằng thứ tiếng khàn khàn ngắt nhịp rất đều, nghe khá tức cười.
Lán của Khúc Kiệt ở ngay dưới một tổ cò. Chiều chiều, cò bố, cò mẹ đi kiếm mồi về, lượn trên vòm cây kêu nháo nhác làm ông ta phát cáu vớ mấy cục đất ném lên. ấy là những lúc ông chỉ huy du kích đang nghiền ngẫm kế hoạch đánh bốt Tuần. Căn cứ vào lời kể của cu Dược thì bốt Tuần là một cứ điểm quân sự với hệ thống phòng thủ chắc chắn. Các lô cốt đều được bố trí hoả lực mạnh với một khẩu đại liên và hai trung liên đầu bạc. Nếu chỉ dựa vào số vũ khí chắp vá thô sơ là mấy khẩu mútxcơtông cà khổ và dăm quả lựu đạn tự tạo cùng với hơn chục mã tấu mà đánh đồn thì chẳng khác gì gãi ghẻ, có khi lại bị phản kích, thất bại là chuyện không phải bàn. Vậy chỉ còn một cách đánh nhỏ, đánh chắc, nghĩa là chờ những hôm đồn Cáo đưa lính đi càn, ta phục sẵn ở những vị trí hiểm yếu rồi tấn công bất ngờ may ra mới thành công. Đây chính là phương thức chiến tranh du kích, thực hiện kháng chiến trường kỳ, làm  tiêu hao sinh lực địch mà cấp trên đã phổ biến trong đợt chỉnh huấn vừa qua .

Sau vụ xuýt mất tấm bản đồ, Mác xen lập tức bố trí lại hệ thống phòng thủ. Hắn cho xây thêm hai lô cốt phía trong đê cách bốt chính hơn trăm thước, mỗi lô cốt  bố trí một tiểu đội Âu Phi và lính bản xứ làm thế liên hoàn, sẵn sàng chi viện lẫn nhau khi một trong những nơi đó bị tấn công. Phía bờ sông cũng được tăng cường thêm một hàng rào kẽm gai giăng ngầm dưới nước đề phòng du kích đột nhập ban đêm. Công việc xong xuôi, Mác xen bảo viên thiếu úy Chi e ry người vùng Gatxcôn:
- Trong tuần tới, thiếu úy phải thực hiện cuộc hành quân xuống tổng Chi Điền. Tôi vừa nhận được tin Việt
Minh đã cắt cổ lý Lọng treo đầu lên cành đa ngay trên bến Lác. Mục đích của chuyến này là phải bắt cho được những tên Việt Minh nằm hầm bí mật chỉ huy du kích, xử bắn  ngay tại chỗ để răn đe.
Chi e ry là người đảo Máctiních. Hắn mới về đồn Tuần, chưa nắm được tình hình vùng Ba Tổng nhưng có Khúc Văn và đội Tảo giúp sức nên trong vòng một tháng qua đã mở ba trận càn thành công. Khúc Văn đóng lon thiếu uý mới được điều về bốt Tuần thay cho Ba danh bị tử thương do vướng mìn du kích. Sau khi thoát khỏi trận hoả hoạn chùa Từ Vân, các hội viên Dân cày tan tác mỗi người một nơi. Phạm Cửu và Lê Khả chạy về Đậu Khê bị Việt Minh phục kích bắn chết. Lại Văn Chương sang Cao Xá được nửa tháng thì theo một người buôn bè ngược sông Thao lên Yên Bái. Khúc Văn và Lương Văn Tuyến vượt đường 283, giả làm thợ đấu sang  vùng Vạn Thái lánh nạn. Quân đội Pháp tái chiếm huyện Nam Thành đóng bản doanh ở ngôi nhà hai tầng của Hàn Phúc thì dân buôn bán tản cư khắp nơi lại đổ về chợ Cháy. Hồi còn học lớp đệ lục, Khúc Văn chơi thân với Vũ Lộc, con trai ông Hàn Phúc là nhân viên phòng Nhì. Vũ Lộc liền vận động anh ta vào quân trường Đà Lạt. Khúc Văn nói tiếng Pháp lưu loát lại là người có quan điểm chống Việt Minh triệt để nên được bố trí học ngành tham mưu. Ra trường anh ta được đưa về xếch tơ Đông Triều làm phụ tá cho quan tư Gơ ra xây.
 
Hai tiểu đội lính dõng trang bị súng trường mát, lựu đạn, dưới sự chỉ huy của đội Tảo hành quân theo đội hình hàng dọc trên đê sông Lăng. Chi e ry và Khúc Văn đi với toán Âu Phi. Bọn này cũng được trang bị trường mát nhưng thêm một khẩu trung liên đầu bạc. Lộ trình hành quân không gặp trở ngại gì. Trên đê không một bóng người. Bọn lính gốc Phi cao to, da đen sì như trát bồ hóng, thằng nào mặt cũng lầm lầm, vai khoác súng, chân đi ghệt cao cổ, nện gót rầm rập hệt như đang duyệt binh trên quảng trường.
Khúc Văn chỉ tay vào đám cây cối rậm rạp cách đê chừng dăm bảy cây số bảo Chi e ry:
- Ngài có biết khoảng rừng kia không?
Chi e ry lắc đầu:
- Xa quá, chắc là một làng nào đó.
Khúc Văn cười khẩy:
- Ngài nhầm rồi. Đó là rừng Hóp. Hồi người Nhật đem quân về làng Cùa, sau khi    thất bại, tàn quân Việt Minh rút ra ẩn náu ở đấy.
Viên quan một người vùng Gát x côn chợt nghĩ ra, gật đầu:
- Cách đây ít lâu, đại uý Mác xen đã nói, có thể quân du kích địa phương sẽ dùng khu rừng ấy làm căn cứ kháng chiến.
- Đại uý dự đoán không sai. - Khúc Văn chĩa ống nhòm vào rừng Hóp ngắm một lúc rồi nói - Vùng Ba Tổng vẫn còn một số cán bộ nòng cốt Việt Minh nằm vùng. Chúng sẵn sàng móc nối với bọn từ bên kia sông Lăng về kích động đám bần cố nông chống lại ta. Mấy làng quanh đây tuy đã vào tề nhưng như thế không có nghĩa là dân chúng chịu khuất phục, cho nên cần phải thẳng tay trừng trị thì mới có thể sớm bình định được.
- Vậy trước mắt phải làm gì để hạn chế hoạt động của Việt Minh?
- Tăng cường hành quân, truy lùng Việt Minh nằm vùng, chặn đứng nguồn cung cấp vũ khí.
- Phải, đó là những biện pháp rất hữu hiệu trong kế hoạch bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ của ngài trung tướng Tổng chỉ huy, nhưng có thực hiện được hay không lại là chuyện khác. - Chi e ry xem ra không mấy tin tưởng vào tài cầm quân của tướng Aletxăngđơri - Theo tôi được biết, sau thất bại Đông Khê, nhân dân Pháp bắt đầu mất lòng tin  vào giới quân sự.
- Thiếu uý không tin tưởng ở sức mạnh của quân đội Liên hiệp sao?
Chàng trai Gát x côn khẽ cau mày:
- Tin thế nào được khi mà mấy tháng gần đây các cuộc hành quân của chúng ta chỉ bắn moóc chi ê và xả đạn tiểu liên vào đám dân cày, giết phụ nữ và trẻ em, còn kẻ thù đích thực thì cứ thoắt ẩn thoắt hiện như ma. Tôi sợ rằng trận càn hôm nay cũng chỉ tóm được vài tên Việt Minh tưởng tượng.

- Tôi sẵn sàng đánh cuộc năm ăn một với thiếu uý đấy. - Khúc Văn xốc lại khẩu súng ngắn trễ xuống hông nheo mắt nhìn viên sỹ quan Pháp - Tin tình báo cho biết, một trung đội  địa phương quân từ Cổ Bi đã đột nhập vào làng Chi Điền. Bọn này sẽ phối thuộc với đội du kích do tên Tùng chỉ huy đang có kế hoạch phá tề, xây dựng làng chiến đấu.
- Tôi không tin.
- Rồi thiếu uý sẽ phải tin.
 
Trung đội Âu Phi tản ra thành ba hướng theo đội hình chiến đấu. Khúc Văn dẫn đầu toán lính Marốc và tiểu đội dõng kéo thẳng vào đình Thượng. Chi e ry bao vây vòng ngoài, chặn cổng phía tây nam. Đường làng không một bóng người. Từ hôm lý Lọng bị xử tử, cánh chức sắc như gà phải cáo, không ông nào dám đứng ra cầm triện đồng. Phó lý Bài bó mình trong chiếc áo the ngắn cũn cỡn, chiếc quần lá toạ ống thấp ống cao, hấp tấp ra đình. Khúc Văn hỏi:
- Ông có danh sách những nhà có người theo Việt Minh không?
-  Dạ  .. .
- Dẫn chúng tôi đến !
 
Phó lý Bài bất chợt lúng túng:
- Bẩm quan lớn, chúng chỉ về ban đêm, giờ này không đứa nào dại mà ở lại trong làng.
- Ông chủ quan lắm. - Khúc Văn mắng - Chúng nằm  dưới hầm bí mật, ông hiểu chưa?
Căn nhà đầu tiên bị khám là bà Đôi, một phụ nữ goá chồng, mắt loà, đang lúi húi nấu cám lợn. Khúc Văn thốc mũi giầy vào ngực bà ta, dằn giọng:
- Đêm hôm qua thằng Bằng mới vượt sông Lăng về đây, giờ nó ở đâu?
Bà già ôm ngực ho:
- Bẩm quan, thằng con tôi đi  Hải Phòng từ cuối năm Tuất, từ bấy đến nay chẳng có tin tức gì.
- Nói láo ! - Khúc Văn quát - Nếu không chỉ hầm bí mật, ta bắn vỡ sọ.
- Quan lớn thương tình. - Bà già chắp tay vái viên thiếu uý - Nó là thằng con bất hiếu, bất mục, nghe người ta xui dại, tôi không dậy được. Các quan cứ cho người khám nhà, nếu tìm thấy, xử bắn tôi không ân hận gì.
- Lục soát ! - Khúc Văn ra lệnh .
 
Mấy tay lính Marốc cùng tốp dõng xách thuốn xăm hầm. Khúc Văn ngồi trên chiếc chõng tre, vắt chân chữ ngũ, đốt thuốc, thở phì phèo, chốc chốc lại gõ đế giầy xuống đất đánh nhịp. Khoảng mười phút sau, viên cai người Bắc Phi chạy đến trước mặt Khúc Văn nói bằng tiếng Pháp:
- Bẩm thiếu uý, đã thuốn hết lượt, không thấy hầm bí mật.
- Còn trong bếp, dưới gầm giường ?
- Tất cả đều đã được kiểm tra.
- Thôi được. - Khúc Văn đứng dậy  hất hàm về phía bà Đôi - Nện cho con mụ kia một trận.
- Thưa… hình như bà ta hơi điên.
- Gọi ông Đội Tảo chuyển sang nhà cả Nhưỡng.
 
Nhà Bảy Nhưỡng nằm cạnh ao làng. Đây là khoảnh ao khá rộng thả toàn bèo tây quanh năm xanh tốt. Những tầng bèo lưu cữu hết năm này đến năm khác, chồng chất lên nhau đến mức có chỗ dẫm vào không bị lún. Bố cả Nhưỡng là ông phó Đang có chân trong hội Tư văn. Bà Cả sinh được hai chị em Nhưỡng rồi mắc chứng hậu sản sài mòn qua đời lúc mới hai mươi bảy. Ông Phó tục huyền với một bà người làng Báng. Bà Hai tính nết hiền lành, nhu thuận, cả họ đều quý nhưng chỉ được mỗi mình cu Thạch. Tính Thạch khác người. Được chiều cậu ăn hiếp cả anh chị, lên bảy còn bắt Nhưỡng cõng đi chơi, chân dài ngoằng chấm đất. Ông phó Đang làm nghề chạm khắc gỗ, cũng kiếm ra tiền, chỉ phải dữ đòn. Chị Tí Nhường và cả Nhưỡng sợ một phép. Có chiếc diều đuôi của ai đó đứt dây vướng vào ngọn đa làng, Thạch bắt anh phải lấy cho mình chơi. Cây đa cao to, tán sum sê xoè rộng cả một gò đất hơn hai sào. Con diều đậu đúng vào cành cao nhất. Từ trên chót vót ấy nhìn xuống, Nhưỡng chóng mặt, không dám leo xa hơn nữa. Thấy vậy, Thạch lăn ra đất, đập đầu vào gốc đa khóc. Thương thằng em trai, Nhưỡng nhắm mắt liều. Nào, cố lên, chỉ ra bốn chục phân nữa thôi là được. Nhưỡng run quá. Bất chợt cái đầu hình tam giác của một con rắn xanh ngọ ngoạy ngay phía dưới cùi tay làm mắt cậu hoa lên… Cũng may trong khi rơi, Nhưỡng chạm được vào một cành nhỏ phía trên chạc ba. Cậu nhanh trí tóm lấy rồi đánh đu quặp được vào cành ngang. Xuống đến đất, mặt Nhưỡng tái xám như gà toi vừa bị cắt tiết. Thật hú vía. Đang tức, thấy thằng em cứ nằm giãy đành đạch ăn vạ cậu ta liền phát cho mấy cái vào mông, lôi tuột về nhà. Cu Thạch tuy bé nhưng cũng không vừa, thấy diều chẳng được mà lại bị đánh liền ôm cột nhà, lấy chân đạp anh, sau đó nằm xoài ra đập đầu vào tảng đá kê chân cột. Nghe tiếng khóc, ông Phó từ trong nhà chạy ra quát:
- Thằng Nhưỡng lại đánh em phải không?
 
Nhìn thấy Cu Thạch đầu nhoe nhoét máu, vừa gào vừa chửi, ông cáu tiết, cầm thước lim  quất túi bụi vào đầu vào vai Nhưỡng. Lớn chút nữa, hễ ông Phó đi làm xa là bà Trẻ không bảo được con. Thạch lang thang khắp làng trên xóm dưới trêu ghẹo đám trẻ con khiến cho hôm nào cũng có người gọi cổng. Có lần bà Trẻ cầm dao đuổi. Cậu ta liếc mắt nhìn trước nhìn sau, thoắt cái leo tót lên cây vối bờ ao. Đến ngọn cây Thạch cúi xuống bảo mẹ:
- Bà có giỏi thì lên đây.
 
Bà mẹ sợ, van lạy mãi ông con vẫn cứ lờ đi, ngồi trên cây ăn quả vối chín đến thâm môi rồi mới chịu xuống. Lần khác, Cu Thạch ném phân trâu vào nhà bà Hú, một bà già dở hơi sống độc thân trong túp lều rách cạnh ngôi miếu cổ. Buổi chiều, bà ta đến trước cổng gọi đích danh ông phó Đang ra chửi. Bà ta chửi có bài bản và cái chính là chửi rất dai, ngữ điệu lên bổng xuống trầm nghe như hát tuồng khiến bà Trẻ tức điên.Tuy nhiên vốn có kinh nghiệm đối phó với những trường hợp này nên bà tỏ ra rất nhũn nhặn:
- Cháu nó đầu bò đầu bướu. Tôi xin bà. Bà cứ về để tôi dạy cháu.
Tất nhiên là lúc đấy Cu Thạch trốn biệt, trưa hôm sau mới về, định vào buồng tìm cơm  nguội nhưng nhác thấy mẹ lại lảng ra. Bà Trẻ nói rất ngọt:
- Thạch đã về đấy hả? Vào khênh giúp u thúng thóc để chốc nữa xay rồi đi mà ăn cơm .
Ông con tưởng thật bước vào buồng. Bà Trẻ nhanh tay chốt cửa lại, nghiến răng nghiến lợi bảo:
- Bây giờ thì mày chết với bà !
 

Miệng nói, tay với cái dùi đục của ông Phó quật vào lưng con trai. Cu Thạch giơ tay đỡ, đảo mắt nhìn quanh. Bỗng thoắt cái, cậu nhảy lên mặt hòm gian, đánh đu lên xà nhà, đạp tung vách đố đan bằng tre rồi phi thân xuống bàn thờ gian giữa làm đổ lỏng chỏng cả bát hương, mâm bồng, bồ đài. Bà mẹ thở dốc, vội rút chốt cửa, xách dùi đục xô ra, nhưng lúc bấy giờ thì cậu quý tử đã cao chạy xa bay rồi.
 
Làng nghèo, đất chật, người đông, lại thuộc vùng chiêm  trũng nên cuộc sống vất vả, lam lũ. Những năm vỡ đê, nước ngập trắng đồng, lúa mất sạch, khi nước rút chỉ còn cánh bãi ven sông là trồng được khoai lang. Cái thứ khoai lang Vân trồng trên đất phù sa tốt vô kể, củ nào củ ấy to mập, da nhẵn bóng, nổi sắc nâu đỏ hoặc tím sẫm, luộc lên bở như bánh phong bột nếp hoa vàng. Nhưng Cu Thạch chỉ thích khoai khô, nhất là loại thái con chì, phơi kỹ để trong chum Thanh chèn lá chuối mật. Lần nào giặt áo cho cậu, bà Trẻ cũng tìm thấy khoai khô trong túi. Vùng Ba Tổng có nghề đơm tôm tép bằng loại đó tre dùng. Sau mỗi vụ heo may, anh em Nhưỡng phơi được mấy nong làm thức ăn quanh năm. Chị tí Nhường lấy chồng, nhà nghèo lại đông con, bà Trẻ thường giấu cho mỗi lần một ít. Biết chuyện, Cu Thạch tuyên bố:
- Phần của u với anh Nhưỡng một chum  muốn cho chị Cả bao nhiêu thì tuỳ, nhưng cấm đụng vào chum của tôi.
Ông phó Đang lườm thằng con ngỗ nghịch mắng:
-  Mày là thằng ích kỷ.
Cu Thạch mặt lạnh như tiền, phớt lờ cả ông bố, giọng bốp chát:
- Con gái đã lấy chồng hưởng phúc  nhà chồng, hễ về đây bòn vét là tôi đập vào
mặt.
Anh em Nhưỡng không học Quốc ngữ mà chỉ học chữ Nho với bố. Ông Phó trước học cụ khoá Thìn. Số ông vất vả chẳng có vai vế gì trong làng nhưng do biết chữ nên bọn lý dịch không dám chèn. Khi đã có thể cầm được đục chạm, ông bố cho hai cậu con trai theo phụ việc. Nhưỡng chịu khó học hỏi, chóng thành nghề. Cu Thạch vừa vụng về vừa mải chơi toàn làm hỏng. Ông Đang ghét lắm, vớ dùi đục choảng. Làm được chẵn năm, một lần ông bố giao cho hai anh em tỉa những chùm hoa cúc trên cánh tủ chè gỗ gụ, Thạch sơ ý đục quá tay làm vỡ một miếng. Nhưỡng tức mình mách bố. Ông Phó sượng mặt với gia chủ, liền lấy cán rìu quật tới tấp vào tay con trai. Trời rét. Bàn tay tím bầm. Đau quá, Thạch cắn răng không nói nửa lời, nhặt chiếc áo cánh nâu vắt vai, lẳng lặng bước ra cổng. Cả Nhưỡng chạy theo gọi, cậu ta nói cộc lốc:
- Tôi không về nhà nữa đâu.
 
Tưởng Cu Thạch phẫn chí nói thế ai ngờ hắn đi thật. Cuối năm Dần, Ông Phó qua đời. Bà Trẻ cũng mất sau đó mấy tháng vì nhớ thương con. Ngôi nhà gỗ năm gian bị Tây bốt Tuần đốt trong trận càn mười hai tháng chín. Năm Mão cả Nhưỡng đi lính Bảo an. Chị Ngần và ba đứa con phải chen chúc trong túp lều chẳng khác gì lều vó bè.
 
Một đêm Cu Thạch về. Cùng với cậu ta còn có hai bạn đồng ngũ. Tất cả đều bị ngã nước. Người nào người ấy môi thâm, da tái nhợt, đầu rụng sạch tóc. Thạch gọi chị dâu ra một chỗ bảo :
- Chị nấu cho chúng tôi nồi cháo, kiếm được mấy quả trứng thì tốt. Anh em mới ở rừng về, nhờ chị vài hôm.
Chị Ngần gật đầu:
- Cháo thì có. Trứng cũng có. Nhưng các chú không thể ở đây lâu được. Hôm nào lính tuần cũng vào làng lục soát.
Ăn cháo xong, bà chị dâu lại giục:
- Các chú phải đi ngay trong đêm, đừng chờ trời sáng.
Cu Thạch cười nhạt:
- Chị đuổi, chúng tôi đi nhưng nhờ chị giữ hộ cái này, cuối tháng sẽ có người đến lấy.
Nói rồi Thạch xách chiếc bị cói đã cũ nhưng nặng chịch để vào góc lều. Chị Ngần sinh nghi bèn mở ra xem thử. Xuýt nữa chị ta chết ngất vì cái thứ đựng trong bị toàn là lựu đạn chày, vội chạy đuổi theo vừa nói vừa thở :
- Chị lạy các chú. Các chú ở lại cũng được nhưng phải quăng cái của nợ ấy đi. Nó mà biết thì chết cả nhà.
Đêm ấy chị Ngần cùng đứa con gái lớn bất đắc dĩ phải đào hầm bí mật cho ba người. Họ ăn nghỉ ở nhà chị hơn một tuần. Chị mua được thuốc ký ninh của ông xếp Thụ cho uống, hết sốt rồi mới đi. Khi đi, Thạch thay mặt anh em nói lời cảm ơn:
- Sau này kháng chiến thành công, Chính phủ sẽ có sự đền đáp.
Chị lắc đầu:
- Chả cần ơn với huệ, chỉ mong các chú chân cứng đá mềm .
Năm sau, Cả Nhưỡng bị đạn du kích vào gót, thành khập khiễng, được giải ngũ. Chị Ngần chuyển sang nấu rượu nuôi lợn nái. Năm thì mười hoạ Thạch ghé về. Có rượu uống anh ta thích lắm. Một đêm, Thạch bơi qua sông Lăng, quần áo ướt sũng, run cầm cập. Chị Ngần rót chén rượu đưa cho em chồng:
- Uống cho đỡ rét.
Uống xong, Thạch dặn trước khi chui xuống hầm:
- Mai đi chợ chị "đỏ" đừng nhìn lên cành đa.
Chị Ngần không nói gì . Sớm hôm sau quẩy gánh ra đầu làng nghĩ bụng: “Chắc thằng này lại treo tạc đạn lên cây đa”. Đến nơi, dưới ánh trăng hạ tuần mờ mờ, thấy cái đầu người tóc tai rũ rưỡi, lủng lẳng trên cành đa, các bà hàng rượu chẳng còn hồn vía nào, mạnh ai nấy chạy như bị ma đuổi. Chị ngần vấp ngã vỡ cả hai vò rượu. Về nhà, chị mắng:
- Chú lừa chúng tôi.
Cu Thạch nhe răng cười:
- Đó là đầu lâu Việt gian làm chỉ điểm cho Tây.
Chị bỗng chột dạ hỏi:
- Các chú bắt người ta ở đâu về? Hay là. . .
Giọng Thạch vẫn tỉnh khô:
- Chính là lý Lọng làng ta chứ còn ai nữa.
Chị Ngần tái mặt:
- ối giời ơi ! Chú gây ra tội ác tầy trời rồi .
Từ lâu Thạch đã nổi tiếng là tay gan lỳ, mấy lần xuýt bị Tây bắt. Gần đây, anh ta được cử về Chi Điền tăng cường cho đội du kích. Chủ trương của Thạch là trừ khử Việt gian. Chỉ trong tháng chín đã có hai tên bị cắt cổ làm đồn Cáo tức điên lên.
Khúc Văn vung vẩy khẩu súng ngắn, hất hàm hỏi:
- Anh kia, thằng Thạch đâu?
Nhưỡng thoáng thấy lính tráng đầy sân, hoảng lắm nhưng cố trấn tĩnh để giọng bớt run  :
- Thưa quan lớn, thằng mất dậy ấy bỏ nhà đi từ bốn năm nay không thấy về.
- Nhà anh nói láo ! - Khúc Văn nạt nộ - Mấy hôm trước, nó cùng đồng bọn cắt cổ ông lý Lọng treo lên cây đa chợ Đình, chả nhẽ anh lại không biết?
- Dạ tôi cũng có nghe dân làng nói.
- Trói lại ! - Khúc Văn ra lệnh cho mấy tên lính dõng - Nếu không thành thật khai ra thì hãy liệu cái mạng mày.
- ấy quan lớn , - Nhưỡng mếu máo - tôi cũng đã đi lính Bảo an, bị ăn đạn Việt Minh nên chẳng việc gì phải bao che cho chúng.
- Nhưng Cu Thạch là em ruột mày. - Khúc Văn quắc mắt gằn giọng.
- Em ruột mà làm Việt Minh tôi cũng báo quan bắt nếu nhìn thấy nó về làng.
- Được . . .! - Khúc Văn cười nhạt - Mày nhớ đấy.
Khắp vườn chuối, bờ ao, chỗ nào cũng bị những chiếc thuốn dài, nhọn hoắt xuyên xuống thăm  dò. Gần bụi mây, giáp với nhà Trương Quả, một tên dõng phát hiện ra hầm vì cây thuốn sắt sụt xuống già nửa. Khúc Văn nắm cổ áo cả Nhưỡng lôi sềnh sệch đến bụi mây, bảo:
- Mày gọi nó ra đi nếu không đừng trách.
- Đã bảo nhà tôi không có hầm bí mật.
Bọn lính lên đạn rôm rốp. Tiếng cuốc, thuổng, xà beng phầm phập. Chừng năm bẩy phút, một khoảng trống bằng bắp chân lộ ra, sâu hun hút. Một gã kêu lên:
- Hầm đây rồi . . .
Hắn chưa nói dứt lời một vật đen loằng nhoằng cất cổ phun phè phè. Thì ra một con hổ mang đang ấp trứng, bất chợt bị phá hang, nó lao vút ra với tốc độ tên bắn mổ trúng tinh mũi cai Lìu. Tên này lập tức ngã bổ chửng, giãy đành đạch. Khúc Văn bị một phen hoảng hồn. Hắn vẩy liền ba phát súng lục. Viên cuối cùng trúng vào cái đầu nhẵn bóng. Con rắn quằn quại một lúc rồi mới chết. Cai Lìu bị nọc độc ngấm vào người, mặt tái nhợt. Khúc Văn quát:
- Hai đứa khiêng ông ta ra đình còn những người khác tiếp tục tìm hầm.
 
Cả Nhưỡng lấm lét theo dõi bọn chúng. Trận càn bất chợt làm anh ta lo lắm. Cái hầm của Cu Thạch nằm ngay phía ngoài bờ ao, gần gốc cây sung. Nó mà khui ra thì gay. Rất may, hôm nay chị Ngần đã đưa lũ trẻ về kẻ Bầu từ sáng. Mẹ con họ mà ở lại thì chẳng biết chuyện gì sẽ xẩy ra. Các tay thuốn chọc ngoáy hết lượt không thấy chỗ nào đáng ngờ kéo nhau vào sân giở thuốc lá ra hút. Khúc Văn sắp sửa cho rút quân thì một người mặc quần áo nâu, đội nón lá như phu xe mang kính thầy bói từ ngoài cổng vào ghé tai viên thiếu uý nói thầm mấy tiếng rồi chỉ tay ra gốc cây sung. Khúc Văn lập tức ra lệnh đào. Chỉ vài ba nhát cuốc cửa hầm đã hiện ra. Đó là một khung gỗ hình chữ nhật lèn đất nện, được đậy rất khéo ở một vị trí ít ngờ tới nhất mặc dù nó chỉ cách mép đường chưa đầy nửa thước.
Khúc Văn ra lệnh:
- Lùi lại ! Chuẩn bị lựu đạn.
Nói xong, hắn bắc tay làm loa gọi to:
- Cu Thạch lên đi ! Anh không còn đường thoát đâu.
 
Phía dưới vẫn im lặng. Đó là những phút giây căng thẳng chết người không chỉ cả Nhưỡng mà chính tim viên thiếu uý cũng đập thình thịch. Hắn muốn bắt sống tên Việt Minh nằm vùng để chứng tỏ năng lực cầm quân của mình đối với gã đồn trưởng mà ngay từ đầu đã tỏ thái độ coi thường thuộc cấp. Không thấy trong hầm có động tĩnh gì, Khúc Văn lại quát to:
- Anh Thạch ra đi! Lấy danh dự của một sỹ quan quân đội Liên hiệp Pháp, tôi sẽ đảm bảo tính mạng cho anh.
 
Hắn đang lải nhải thì đột nhiên một quả lựu đạn từ dưới hầm quăng lên. Lựu đạn nổ tức thì làm hai lính da đen và một tên dõng chết tại chỗ. Khúc Văn đã nghĩ tới tình huống này nhưng không ngờ tên Việt Minh lại nhanh tay đến thế. Nhìn đám thuộc hạ quằn quại trong vũng máu, hắn nổi máu điên, vảy súng nhằm cả Nhưỡng nổ hai phát. Nghe tiếng lựu đạn, bọn lính của Chi e ry lúc ấy đang ở sân đình cũng xách súng chạy đến. Khúc Văn tự tay ném  quả lựu đạn mở vịt xuống hầm. Tiếng nổ bị nén lại nghe lục bục như sấm  mùa đông. Khói đặc sệt, cay sè xộc vào mắt mũi làm bọn lính hắt hơi như tất cả đều mắc bệnh cúm. Khúc Văn bảo tên lính da đen người Xê nê gan :
- Chờ hết khói rồi xuống hầm  mang tên Việt Minh lên .
 
Tên da đen loay hoay một lúc lại chui lên với một nửa cái chai vốn là thứ đồ đựng gạo rang của những người nằm  hầm  bí mật .
- Thưa thiếu uý không thấy xác người.
- Quái lạ. - Khúc Văn lẩm bẩm - Chả lẽ nó lại nát bét ra đến nỗi mắt các anh không nhìn thấy. Hãy đào rộng thêm, rồi xúc đất lên để xem thằng Việt Minh này mồm ngang mũi dọc thế nào.

Miệng hầm lập tức được phá rộng . Gốc sung bật rễ. Đến lúc ấy bọn lính  mới phát hiện ra một ngách ăn thông xuống nước.
- Chúng ta bị lừa rồi . -  Khúc Văn đưa mắt nhìn ao bèo tây bảo - Đây là loại hầm hai tầng. Tên thạch đã lặn dưới đám bèo kia.
- Nếu vậy chắc là nó chưa dám ngoi lên.
 
Hàng chục quả lựu đạn được ném xuống những chỗ nghi ngờ. Đạn súng trường bay chiu chíu trên  mặt lớp bèo dày đặc. Chừng nửa tiếng đồng hồ, Khúc văn lùa tất cả đám lính dõng xuống ao, dùng câu liêm và đinh ba, dàn hàng ngang càn hết lượt đến gần trưa mà vẫn không thấy bóng dáng tên Việt Minh. Hắn cáu lắm quăng chiếc bật lửa cho tên lính Xê nê gan.
- Đốt nhà !
 
Ngôi nhà một gian hai chái của vợ chồng cả Nhưỡng bùng cháy. Lửa gặp gió đông nam bốc cao bén sang nhà quản Hạo . ông Hạo hốt hoảng lập cập xách thùng ra ao thì bị trúng đạn của cánh quân Chi e ry đang bắn loạn xạ phía xóm Nội. Đường làng khói bốc mù mịt. Sức nóng của hoả thần làm không khí hầm hập như lò bát quái. Cả xóm Mật trở thành biển lửa. Mấy tên lính Phi Châu chạy ngược chạy xuôi, đen sì như những hung thần. Một thằng có mái tóc xoăn tít, cao lênh khênh nhảy ra hàng rào cúc tần túm được cô con dâu ông trương Phận liền đè xuống đầu bếp, tốc váy lên. Cô Dự sợ chết khiếp nhưng vẫn cố sức chống cự bằng cách cắn vào yết hầu tên lính Lê dương. Hắn khoẻ như voi, chỉ khẽ gạt một cái, đầu người thiếu phụ đã oặt ra. Cô ta chết rồi nhưng gã da đen vẫn hùng hục giày vò tấm thân loã lồ giữa những tiếng nổ đùng đoàng và hơi lửa hầm hập từ mái bếp cháy đang sắp rơi xuống. Phía bên kia ao, hai tên dõng vồ được đứa con gái chừng mười sáu mười bẩy vừa chạy ra từ một ngõ cụt. Một thằng kéo tuột chiếc váy thâm quăng vào đống lửa rồi xốc ngược con bé lên chạy ra phía bờ ao. Chi e ry trông thấy vội quát :
- Đứng lại!
 
Hai tên lính bản xứ làm ra vẻ không quen nghe tiếng Pháp vẫn cắm cổ chạy. Viên thiếu uý liền rút khẩu colt nhằm thằng đang vác người nổ một phát. Viên đạn trúng bắp chân làm hắn ngã chúi về phía trước. Chi e ry nhảy đến đá vào mạng sườn thằng chạy sau bằng một cú đòn hiểm làm tên này nhăn nhó.
- Cởi quần dài ra!
- Dạ, bẩm thiếu uý…
Chi e ry chĩa khẩu súng lục vào đầu hắn:
- Tao bảo cởi ra.
Tên dõng lập cập làm theo mắt len lén nhìn vào nòng súng.
- Mặc quần của mày cho cô ta !
Tên lính lóng ngóng mãi mới xỏ được ống quần đi trận bằng thứ vải ka ki dày cộp vào chân cô gái lúc này vẫn còn đang ngất xỉu chẳng biết vì sợ hay vừa bị ngã.
- Mang cô bé vào ngôi nhà kia ! - Chi e ry chỉ tay ra lệnh - Xong rồi về sân đình đợi tao. Tối nay xuống hầm giam. Phạt cơm cả hai thằng.
Bốn giờ chiều. Khúc Văn bàn với Chi e ry rút quân sau khi hắn đã ra lệnh đốt gần hết nhà cửa xóm Mật. Nhìn cảnh làng xóm điêu tàn, Chi e ry thở dài:
- Chả nhẽ những cuộc hành quân như thế này lại được gọi là “tiễu trừ Việt Minh”.
 
Khúc Văn mặt lạnh tanh, cười khinh khỉnh:
- Thiếu uý không nên đa cảm. Chúng ta là những người lính có nghĩa vụ phải phục tùng mệnh lệnh cấp trên.
- Tôi e rằng cuộc chiến này còn lâu mới kết thúc và quân đội Liên hiệp Pháp chẳng thể nào thắng được Việt Minh.
 
 
3
 
 
Chiếc hầm  ở gốc sung có cửa nằm sâu dưới nước. Sau khi tung quả lựu đạn, Thạch tụt xuống lặn một hơi dưới ao bèo tây, chui vào cửa hầm thứ hai phía bờ bên kia, leo lên ngách trên, nằm chờ đến nửa đêm thoát ra ngoài. Anh ta vượt sông Lăng lúc canh tư, vào đến bãi chuối cồn Vành thì gà báo sáng. Người vẫn còn ướt lướt thướt, Thạch cởi quần áo vắt cho ráo nước rồi mở bình toong làm tợp rượu  ngang cho ấm bụng. Thạch uống rượu từ hồi còn ở nhà cùng với ông phó Đang đi chụp ếch đêm, lâu dần thành nghiện, đi đâu cũng phải mang theo. Ngày mới đi khỏi làng Cu Thạch lang thang mấy hôm bên cồn Vành . Anh ta kiếm ăn bằng cách bẻ ngô thuê cho dân kẻ Bòng. Xảy nhà ra thất nghiệp, đã có lúc chàng thợ chạm nửa mùa nghĩ đến việc đăng lính Bảo an. Vùng Ba Tổng, mấy năm nay khối anh theo binh nghiệp có tiền gửi về cho vợ con. Vào lúc Thạch sắp sang phủ Đông Giàng thì gặp Lê Văn Vận. Ông chủ tịch trong vai người buôn hàng tấm, áo gụ bốn túi, quần chéo go mầu lông chuột, quảy đôi bồ thũng thẵng bước trên đê. Trước đây Thạch đã gặp Vận vài lần nên nhận ra ngay ông chủ tịch. Anh ta nhìn gánh hàng có vẻ ngạc nhiên, hỏi :
- Dạo này bác bỏ Việt Minh đi buôn chuyến à?
Vận không  trả lời mà hỏi:
- Cậu là con trai ông phó Đang bên Chi Điền ?
- Phải.
- Có việc gì mà lang thang sang đây?
- Tôi bỏ nhà đi.
 
Vận gật đầu:
- Trai thời loạn chẳng nên ru rú trong nhà mà cần phải có chí lớn. Cậu hãy theo tôi.
- Chuyển hàng ra vùng tự do phải không?
- Không, lên rừng.
Hai người xuôi theo bãi dâu ven sông, chiều tối vào kẻ Bòng nghỉ nhờ một nhà dân bên đường. Chủ nhà là  người đàn ông trung niên có cặp mắt trố, cái mũi tẹt và hàm răng vổ trông rất bẩn tướng. Thấy khách nói là dân buôn chuyến ông ta nhận cho nghỉ trọ ngay, còn bảo bà vợ nấu cơm mời ăn. Tầm cuối giờ Hợi, phía đầu làng có tiếng mõ cá khua rất gấp. Tiếp theo là trống ngũ liên nện thình thình từ sân đình vọng về. Vận giật mình bấm tay Thạch nói nhỏ:
- Gay rồi, lão chủ nhà phản chúng ta.
Thạch văng tục chửi :
- Đốt mẹ nó nhà đi rồi chuồn.
- ấy chớ ! - Vận thì thào - Hồi chiều tôi đã quan sát kỹ chung quanh. Phía sau vườn có một lối nhỏ thông ra miếu hoang. Ta luồn về đằng ấy may ra còn kịp.
 

người lén mở cửa mạch, nhẹ nhàng chui vào vườn chuối. Lão mắt trố ngồi rình ở chân đống rơm trước cổng vẫn yên trí hai ông khách đang ngủ mệt. Hồi chiều, nhìn thấy LêVăn Vận lão sinh nghi, hình như có lần gặp gã lái buôn này ở đâu đó. Không. Hắn không phải dân buôn chuyến. Bọn này chắc là Việt Minh trá hình. Phải báo lý Quảng để ông ta làm rõ thực hư. Nghĩ vậy, gã vào bếp thì thầm mấy câu với vợ rồi lẳng lặng ra cổng.
 
Khi cánh hương dũng xách gậy gộc, giáo mác ập vào nhà thì hai “lái buôn” đã chạy đến giữa đồng. Bọn này đốt đuốc hô hoán tuần đinh đuổi theo. Tàn lửa bay nhấp nhoáng. Tiếng bước chân rầm rập làm Cu Thạch nổi da gà. Cũng may, trời tối đen mà cánh đồng lại rộng, nhiều gò đống , dễ ẩn nấp nên bọn làng  Bòng tìm quanh quẩn chừng một canh giờ không thấy gì đành kéo nhau về. Cu Thạch bảo Lê Văn Vận:
- Hôm nay tôi mới biết thế nào là Việt Minh.
- Có sợ không? - Vận hỏi.
- Sợ chứ, nhưng mà có lẽ hoạt động kiểu này cũng thích.
Sau vụ thanh toán lý Lọng, Khúc Văn kéo quân càn vùng Chi Điền, Thạch bị lộ không thể ở lại chỉ huy phong trào, Lê Văn Vận phải rút anh ta về căn cứ Mai Động. Nhìn bốt Tuần án ngữ bên bờ sông như cái gai nhọn chọc vào mắt, Vận không chịu được bảo với Thạch:
- Ta phải vượt sông điều tra bốt Tuần rồi đánh một trận xem sao.
Thạch vốn là tay có máu phiêu lưu, thích mạo hiểm, tán thành ngay :
- Đề nghị các anh cho tôi sang sông trước nắm tình hình.
Vận bảo:
- Trước hết là chú phải về làng Cùa tìm cách gặp ông Khoá Kiệt . ở rừng Hóp đang có một đội du kích nhưng hình như họ chưa muốn hợp  tác với ta. Nhiệm vụ của chú là phải thuyết phục để ông Khoá hiểu được chủ trương toàn dân đoàn kết chiến đấu của cụ Hồ Chí Minh rồi mới đến việc điều tra bốt tuần. Chú định đem theo mấy người?
- Chỉ mình tôi là đủ. - Thạch nói ngay - Bên ấy hiện giờ lính đồn Tuần kiểm soát ngặt lắm, đi nhiều không lợi.
 
Chập tối hôm ấy, Thạch đến cồn Vành. Trời tối như đêm ba mươi tết. Mưa phùn lất phất. Sóng vỗ  lóc bóc ngoài bãi sông. Lũ đom đóm trên vạt ngô non bay chập chờn lúc cao lúc thấp, toả thứ ánh sáng lân tinh xanh lét, lạnh lẽo nhưng cũng đủ để nhận ra lối vào vườn chuối. Từ trong bụi sậy, một con gà nước, nghe tiếng động, vỗ cánh phành phạch bay vút lên. Thạch lấy dao găm thận trọng cắt một cây chuối mang ra bờ sông. Anh ta nhằm phía trên điếm Bài Vân bơi sang. Phù sa mát lạnh. Một con chim lạ có sải cánh rất rộng bay là là trên mặt nước. Thạch có cảm giác chỉ cần đưa tay lên là túm được chân nó. Sang đến bên này, anh ta xuôi xuống phía hạ lưu chừng nửa cây số rồi vượt đê. Từ đây đến rừng Hóp còn khá xa. Tầm này, bọn hương dũng và lính Bảo an chắc đã ngủ. Từ ngôi điếm nào đó mãi dưới Chi Điền vọng lại tiếng mõ cầm canh. Những tiếng mõ khô khốc, vô cảm, thậm chí nghe rất chối tai phá tan sự yên tĩnh vốn có của đêm hè vùng đồng chiêm.
 
Khoảng hơn một giờ sau, Thạch tìm thấy ngôi miếu hoang theo sự chỉ dẫn của Lê Văn Vận. Anh ta leo hẳn lên bệ thờ, vắt chéo khoeo đánh một giấc. Tang tảng sáng, trước khi người dân ra đồng, chàng trinh sát đã kịp trở dậy rẽ xuống đường ra đầm Ma. Vùng này, từ hồi Pháp xây bốt Tuần ít người qua lại.
Đường vào rừng Hóp quanh co, hai bên toàn lau sậy rậm rạp. Xa xa là đầm Ma, rộng mênh mông, mặt nước xanh màu nõn chuối nổi bồng bềnh từng đám bèo ong, chốc chốc lại có một đàn vịt trời lông xám hoặc le le đầu trắng từ bên kia sông đáp xuống. Chúng tha hồ lặn ngụp nô giỡn nhau rồi bay vào rừng Hóp đậu trên ngọn cây ngoã rỉa lông cánh. Mải ngắm lũ chim trời, Thạch không để ý có hai người khoác súng đang theo dõi dưới lùm cây dẻ.
- Đứng lại ! Anh đã bị bắt.
Thạch giật mình liền đưa hai tay lên quá đầu.
- Đừng bắn. Tôi ở bên Mai Động sang.
- Câm mồm ! - Một người có mái tóc húi cua quát.
Người thứ hai lại gần Thạch khám được bức thư anh ta giấu trong ống nhôm đựng thuốc Atxpirin cài ở cạp quần.
Lập tức chàng trinh sát bị bịt mắt bằng một băng vải nâu rồi được dẫn vào rừng. Đường càng lúc càng khó, nhiều chỗ phải lội vì trời mới mưa. Thời gian đi không lâu lắm, áng chừng già một khắc cả bọn đến Đại bản doanh của Khúc Kiệt. Vừa được tháo băng mắt, Cu Thạch đã phát khiếp khi nhìn thấy ông chỉ huy du kích râu tia tua tủa như thằng tướng cướp. Khúc Kiệt hỏi:
- Ai đưa cho anh bức thư này?
- Anh Vận bảo tôi chuyển đến ông và bàn về việc phối hợp với du kích làng Cùa đánh bốt Tuần.
- Tình hình bên ấy  thế nào?
- Đã thành lập được mấy trung đội địa phương quân nhưng ngặt nỗi thiếu vũ khí nghiêm trọng.
 
Khúc Kiệt bảo:
- Các làng quanh đây bị ép vào tề hết rồi. Phần lớn lực lượng nòng cốt phải tạm thời bỏ địa bàn để tránh càn quét. Trong ba tháng qua có tám cán bộ nằm hầm bí mật bị khui. Các anh không nghe tôi mà cứ đánh liều là toi mạng.
- Còn kế hoạch của các ông?
- Gay lắm. Chúng tôi đã điều tra về cách bố trí hoả lực và hệ thống phòng thủ đồn Tuần nhưng ngặt vì vũ khí toàn loại cà khổ, đánh công kiên không lợi. Anh về nói với anh Vận, đầu tháng tới, tôi cần gặp bàn một số việc quan trọng.
- Vậy thì ông viết cho mấy chữ.
- Được, nhưng bây giờ anh chưa nên đi, chiều tối người của tôi sẽ dẫn tới bờ sông.
Chuyến trở về của Thạch không theo hành trình cũ. Anh ta được một du kích đưa xuống tận bến đò Vạn Điền. Sau khi qua sông, Thạch đóng giả lái trâu, vượt qua mấy làng tề rồi mới ngược lên Mai Động. Đọc thư xong, Vận bảo:
- Thực ra tôi cũng có kế hoạch về Ba Tổng từ lâu nhưng điều kiện giao thông lúc ấy chưa thuận lợi nhất là phải vượt qua kẻ Bòng, Trúc Sơn và Mao Xá. Tháng trước, địa phương quân của ta kết hợp với du kích đã hạ được đồn An Sơn, nhưng đó chỉ là  những lô cốt lẻ binh lực của chúng tiêu hao không đáng kể. Tuy nhiên nó cũng khai thông được tuyến liên lạc giữa chiến khu và vùng địch hậu. Nhân dịp này, ta phải tranh thủ bàn với ông Khoá phối hợp lực lượng đánh bốt Tuần. Đồn này mà thất thủ thì việc đánh đồn Si, đồn Vàng không khó.
- Kế hoạch của anh đã được ban lãnh đạo thông qua chưa?
Vận cười nhạt:
- Sau trận càn tháng tư ông nào cũng hốt, ban ngày nằm lỳ dưới hầm, đêm mới dám  mò ra. Mấy lần tôi bàn đánh đồn Mao Xá các vị đều gàn, bảo rằng thời cơ chưa chín muồi.
- ý anh thế nào?
- Còn thế nào nữa. Tôi là người lãnh đạo cao nhất của huyện, tôi phải có quyền quyết định chứ.
- Vậy thì được nhưng còn một chuyện làm tôi băn khoăn, đó là mối quan hệ giữa ông khoá Kiệt và tay
 
Khúc Văn mới được điều về đồn Tuần, nghe nói thằng này hung hăng lắm.
Vận gật đầu:
- Hai bố con nhà ấy từ lâu nay đã coi nhau như kẻ thù, thế nào rồi cũng phải có một người bị giết. Tôi vốn là cháu rể ông Khoá. Ông ấy tuy là người cực đoan, vô chính phủ nhưng tinh thần cánh mạng thì tuyệt đối trung thành, không nên nghi ngờ.
- Nhưng tôi vẫn thấy điều gì đó khác thường ở con người này.

- Đừng nên đa cảm chú em ạ. Trong cuộc đọ sức giữa ta và địch sẽ còn nhiều những bất ngờ không lường trước được đâu.
 
Vào một đêm tháng chín, Lê Văn Vận và Cu Thạch vượt sông Lăng ở phía hạ lưu gần điếm Tổng. Dạo này đồn Cáo cho lính phong toả khắp các bến từ điếm Bài Vân xuống tận ngã ba Môi nên hai người không dám đi ban ngày. Cồn Vành sau mùa lũ mà nước vẫn ngập phần lớn các chân ruộng trũng. Cá từ sông Lăng vào nhiều vô kể nhưng dân trong vùng không dám đánh bắt. Họ sợ Tây càn bất chợt. Cả một vùng bãi rộng mênh mông ngập phù sa ngời lên dưới ánh sao đêm. Đâu đó có tiếng đớp mồi. Chỉ lũ cò vạc là tự do kiếm ăn. Chúng tập hợp thành bày hàng chục con vừa lùa cá tép vào miệng vừa cãi nhau bằng đủ thứ giọng. Thỉnh thoảng, một con giang chân lênh khênh như cà kheo bất chợt hạ cánh, lội bùm bũm làm động nước, lũ cá thiểu ăn đêm hốt hoảng lao như tên bắn vọt lên những rãnh cỏ nông choèn, phơi bụng trắng lấp lánh như ánh bạc.
 
Lần này, cơ sở An Sơn đã chuẩn bị cho hai người một chiếc thuyền nan. Chèo thuyền là một cô gái, nghe giọng nói áng chừng chỉ khoảng mười tám đôi mươi. Con đò lặng lẽ sang ngang. Đêm thật yên tĩnh. Sóng nhè nhẹ vỗ dưới mạn thuyền. Từ bãi chuối dưới cồn Vành có tiếng cú rúc. Sang được quá nửa sông bỗng nhiên hai ngọn đèn pha cực sáng từ dưới hạ lưu rọi vào thuyền. Nguy rồi, Vận giật mình. Bọn chúng tắt máy thả ca nô trên sông đón lõng từ chập tối mà cơ sở không phát hiện ra .
- Việt Minh đầu hàng đi ! Các anh đã bị bao vây.
Cô gái đảo mái chèo xoay mũi về bên tả ngạn bảo hai người :
- Các anh cứ ngồi yên nếu chúng áp mạn hãy nhảy xuống sông.
- Không được! - Vận khẽ bảo - Thế thì nguy hiểm cho cô.
- Việt Minh đầu hàng đi ! - Vẫn tên lính ban nãy chĩa chiếc loa sắt tây cất giọng lè nhè như còn ngái ngủ - Các anh không còn đường thoát đâu.
Chiếc ca nô rồ máy chạy vòng lên đón đầu con thuyền nổ mấy phát súng thị uy.
- Nhảy xuống ! - Cô gái quát khẽ.
 
Thạch định nhớm chân rời thuyền thì Khúc Văn đã kịp kéo một băng tiểu liên. Anh ta giật mình chới với trên mặt sông một lúc thì mũi ca nô chồm tới. Trong khi ấy, Lê Văn Vận thấy cô lái đò vẫn loạng choạng chèo liền bơi về phía lái, với tay đẩy mạnh mạn thuyền. Lúc này sóng rất mạnh bởi  chiếc ca nô đang chạy vòng quanh. Sợ cô ta chết đuối Vận không dám lặn xuống. Mấy phút sau, cả hai người bị kéo lên boong. Tên lính Bắc Phi thúc cùi tay vào ngực Vận đẩy anh ta vào khoang cho một tên dõng có cặp chân vòng kiềng trói lại bằng sợi dây dù. Cô gái chở đò bị dẫn vào ca bin. Tên chỉ huy cầm đèn pin quét một vòng trên mặt sông rồi ra lệnh:
- Quay về đồn !
 
Vận tuy bị đánh khá đau nhưng vẫn không dời mắt khỏi tên sỹ quan người Việt. Hắn có những nét rất quen, và anh ta chợt nhớ ra, đó là Khúc Văn. ánh đèn lướt qua Lê Văn Vận. Khúc Văn nhìn thoáng tên Việt Minh nhưng không nói gì. Ca nô chạy một lúc đã về đến bốt Tuần. Lê Văn Vận bị lôi vào căn hầm khá rộng ngay bên dưới phòng làm việc của Đồn Cáo. Khoảng nửa giờ sau, Khúc Văn xuất hiện trong bộ thường phục. Hắn mang cặp kính đen gọng đồi mồi mặc dù lúc ấy đang là nửa đêm. Ngọn đèn măng xông sáng trắng soi rõ khuôn mặt thư sinh vốn khá điển trai bởi chiếc mũi thẳng, cặp môi đỏ và mái tóc bồng bềnh như sóng lượn. Khúc Văn bật lửa châm thuốc hút, không có gì là vội vã hỏi cung. Hắn phì phèo chán rồi đứng lên đi đi lại lại trong căn hầm chật hẹp làm Lê Văn Vận ngứa mắt chỉ muốn đấm vào bộ mặt đẹp mã của hắn một quả cho nó vỡ quai hàm ra nếu hai  tay anh ta được tự do. Thái độ nóng nẩy của Vận không qua được mắt Khúc Văn. Đến lúc ấy hắn mới nhẹ nhàng hỏi:
- Có lẽ phải đến hơn chục năm ta mới gặp lại nhau chú Vận nhỉ?
Vận khịt mũi:
- Vẫn còn nhớ tôi kia à?
- Nhớ chứ . - Khúc Văn cười nhạt - Người anh hùng đã từng giết bố vợ, cướp dì ghẻ trốn khỏi làng Cùa rồi theo Cộng sản, xúi giục dân cày nổi loạn làm sao mà quên được. Dạo này “đồng chí” có vẻ già đi đấy.
- Còn anh, thường xuyên được liếm bơ thừa sữa cặn của các ông chủ Tây nên ngày càng béo ra.
 
Khúc Văn vẫn nhẹ nhàng :
- Chú không nên khiêu khích. Giờ ta nói chuyện với nhau một cách nghiêm chỉnh để xem có cách gì gỡ được vụ này không.
- Cảm ơn. Anh cháu tử tế quá.
- Cái ấy thì còn phải xem thái độ cộng tác của chú với quân đội Liên hiệp như thế nào đã. Trước hết, tôi muốn biết, chú nghĩ thế nào về chủ nghĩa Cộng sản, về chính thể Việt Minh mà đi theo họ?
Vận cười khẩy:
- Anh từng lầm lẫn Cộng sản và Việt Minh. Việt Minh là Mặt trận thống nhất bao gồm tất cả những người yêu nước đứng lên chống quân xâm lược, giành độc lập dân tộc mà thành phần của nó có cả các chính đảng.
- Điều ấy thì ai cũng hiểu. - Khúc Văn xua tay cắt ngang - Nhưng còn điều rất ít người biết là, Việt Minh chỉ là tấm bình phong. Kẻ đứng sau tấm bình phong giật dây, chỉ đạo mọi hoạt động của Việt Minh mới là nhân vật chính trong cuộc chiến này. Đó là các đảng viên Cộng sản.
- Vậy ra anh cũng hiểu thời cuộc đấy nhỉ.
- Cho nên, có thể nói, vận mệnh của mấy chục triệu dân đất Việt sau này phụ thuộc hoàn toàn vào mọi hành vi của những người Cộng sản nếu quân đội Việt Minh thắng trận đúng không?
- Đúng thì sao?
- Một người tự nguyện đi theo Cộng sản như chú nhưng chắc gì đã hiểu bản chất của chủ nghĩa Cộng sản?
- Anh định sát hạch tôi về chủ nghĩa Mác đấy à? Những điều lý luận cao siêu không có thời gian giảng giải ở đây, có thể nói gọn lại, đó là xã hội không còn người bóc lột người, một xã hội dân chủ, công bằng, phồn vinh, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.
- Chú tin như thế thật à? - Khúc Văn cười khẩy - Đó chỉ là thứ chủ nghĩa ảo tưởng của mấy nhà triết học duy ý chí nhằm mê hoạc những kẻ dốt nát, ngu muội, những kẻ cuồng tín, nhẹ dạ cả tin và sử dụng họ như những vật thí nghiệm trong các cuộc tàn sát đẫm  máu.
Vận lắc đầu:

- Chính anh mới bị cái bả vinh hoa của bọn thực dân, đế quốc mê hoặc nên mới cam tâm làm tay sai cho giặc, bắn giết đồng bào. Anh Văn, hãy về với nhân dân, bây giờ vẫn còn kịp. Tôi sẽ là người đúng ra bảo lãnh .
 
Khúc Văn búng tàn thuốc, tháo cặp kính đen gài vào khuy áo, lại gần Lê Văn Vận bảo :
- Tín điều Cộng sản của chú không thuyết phục được tôi đâu. Bởi vì, xét đến cùng, chú chỉ là anh thuyền chài vô học, là kẻ tội phạm, bần cùng phải đi theo Cộng sản để sau này được Cách mạng chia phần. Xã hội tương lai  của các người chỉ là thứ bánh vẽ, phiêu lưu và hoang tưởng một khi nó dựa trên luận điểm sặc mùi máu là đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản. Nhưng thôi, chuyện tầm phào ấy hãy dừng ở đây. Bây giờ mới đến tiết mục chính. Chú hiện đang ở đâu và qua sông Lăng với mục đích gì?
- Tôi về thăm làng Cùa chẳng nhẽ không được sao?
- Người ngồi cùng thuyền với chú đã trốn thoát là ai?
- Là bạn buôn của tôi.
- Sao không qua sông ban ngày mà phải đi đêm?
- Quân của các anh hôm nào chẳng đi càn. Dân buôn chuyến sợ tai bay vạ gió nên mới phải đi đêm.
- Chú đừng bịp tôi. - Khúc Văn nhếch mép cười - Chú không nói cũng được nhưng sáng mai đồn trưởng sẽ đích thân thẩm vấn, lúc ấy đừng trách tôi không dặn trước.
Nói xong, viên thiếu uý bước ra khỏi hầm. Hai tên lính gác lập tức đóng cánh cửa  lim nặng chình chịch. Tiếng bản lề rít lên nghe rợn người.
 
Trong phòng làm việc đồn Cáo đang hỏi cung cô du kích, đồn Cáo vốn háu gái. Hắn cũng say mê đàn bà như là say mê gà mái Ba Tổng. Nhìn người thôn nữ có khuôn mặt trái soan, cặp má bầu, đôi mắt đầy vẻ bí ẩn, viên đại uý rót cho cô một cốc nước lọc rồi hỏi bằng tiếng Việt:
- Cô tên là gì?
Xoan gườm gườm nhìn tên đồn trưởng, buột  miệng nói ra một cái tên chẳng liên quan gì đến mình:
- Nguyễn Thị Gái.
- ở làng nào, tổng nào?
- Xa lắm .
- Đang đêm vượt sông làm gì?
- Đi buôn.
- Hãy trả lời cho nghiêm túc ! - Đồn Cáo bắt đầu cáu – Tên Việt Minh bị bắt giữ chức vụ gì trong chính quyền Việt Minh?
- Ông ấy không phải Việt Minh mà là bạn buôn của tôi.
- Này cô em ! Đừng có đùa với một sỹ quan quân đội Liên hiệp Pháp. - Đồn Cáo hếch cái mũi khoằm, phóng cặp mắt diều hâu vào khuôn ngực đang phập phồng dưới lần áo mỏng của cô du kích – Chúng mày bí mật sang sông là để móc nối với du kích nằm vùng bên Ba Tổng âm mưu đánh đồn Tuần. Chả lẽ bảy tên Việt Minh bị xử bắn ở cầu Vàng trong vòng mấy tháng qua không làm các người sáng mắt ra?
Xoan thoáng rùng mình:
- Dưới mắt các ông, có lẽ tất cả người dân vùng này đều là Việt Minh?
- Phải. - Đồn Cáo gừ gừ trong vổ họng - Đừng nói con cà con kê nữa. Cô nghĩ chúng tôi là trẻ con đấy hả? Hắn là Lê văn Vận. Tháng tám năm bốn nhăm, khi Việt Minh giành được chính quyền hắn làm chủ tịch huyện. Đầu năm bốn bảy, quân đội Liên hiệp trở lại, Vận cùng đám tay chân vượt sông Lăng lên vùng Mai Động. Từ lâu Việt Minh mất đất vì dân chúng đã biết rõ bộ mặt thật của chúng nên gần đây mới bí mật cử người về gây dựng cơ sở.
- Các ông đã biết nhiều thế thì còn hỏi chúng tôi làm gì?
- Thế có nghĩa là cô thừa nhận?
- Không bao giờ. - Xoan lắc đầu bảo - Chúng tôi là dân buôn, vì mang hàng lậu, ban  ngày sợ bị bắt nên phải đi đêm.
- Hàng đâu? - Đồn Cáo túm cổ áo cô gái xé toạc một bên vai gầm lên – Nếu không khai thật ra, tao sẽ lột truồng mày vứt xuống lô cốt dưới kia cho bọn lính Bắc Phi nó giải sầu.
- Lúc sang sông, ca nô các ông làm đắm thuyền mất hết cả rồi.
- Nói láo !
Cùng lúc ấy, Khúc Văn bước vào nói bằng tiếng Pháp :
- Đại uý bớt nóng. Việc này không thể vội vàng được. Giờ ngài hãy đi nghỉ. Ngày mai tỉnh táo biết đâu ta phát hiện được cái gì đó.
 
Đồn Cáo gật đầu:
- Thiếu uý nói phải. Dù sao thì chuyến này chúng ta đã thành công sau bao ngày đêm giăng lưới. Tôi phải đề nghị với Bộ Tổng tham mưu vinh thăng thiếu uý.
Đồn Cáo và Khúc Văn thay phiên nhau thẩm vấn hai tù nhân. Đến lượt viên đại uý hỏi cung Lê Văn Vận. Khác với cấp phó của mình, gã Đồn trưởng thiếu khả năng kiên trì đối phó với loại Việt Minh cứng đầu cứng cổ. Hắn là quân nhân, có nghĩa vụ chấp hành mệnh lệnh cấp trên, không thuyết lý dài dòng vô bổ về các thứ chủ nghĩa bát nháo do những nhà triết học lẩm cẩm nghĩ ra. Hắn cầm chiếc dùi cui sơn hai mầu đen đỏ dứ dứ trước mặt Lê Văn Vận:
- Ông phải biết điều một chút. Cô gái đã khai hết rồi. Bây giờ hỏi ông chẳng qua chỉ là để xác minh lần cuối cho đúng thủ tục. Hãy nói thật đi, ông sang sông bên này bắt liên lạc với những ai?
 
Vận nghĩ thầm. Nó hỏi thế chứng tỏ cô Xoan vẫn chưa khai. Thằng Khúc Văn tuy biết mình rất rõ nhưng không có bằng chứng gì kết tội được. Tốt nhất là vãn giữ nguyên lời khai ban đầu, còn sự việc sau này thế nào sẽ tuỳ cơ ứng biến.
- Tôi đã nói rồi. Từ cuối năm bốn bảy tôi đã từ bỏ hàng ngũ Việt  Minh chuyển sang nghề buôn chuyến.
Đồn Cáo nhe răng gầm gừ:
- Chúng mày nói dối giống hệt nhau. Đồ con lợn!
Hắn vung vẩy chiếc dùi cui bất ngờ quật vào mặt Vận. Cú đánh rất hiểm, máu chảy ngoằn ngoèo dọc theo gò má làm anh ta choáng váng.
- Thế nào? - Đồn Cáo hỏi - Đã nhớ ra chưa?
- Đã bảo chúng tôi không liên quan gì đến Việt Minh. Ông đánh mãi cũng vậy thôi.
Lần này là cú đá trời giáng vào bụng dưới làm Vận thót người lại, gập xuống như cây chuối bị đốn ngang. Trời đất tự nhiên quay tít. Mọi vật trong hầm giam tự nhiên phát ra thứ ánh sáng ngũ sắc. Đồn Cáo xoè tay hộ pháp như cái chổi sể nâng cằm Vận lên, nhìn soi mói vào mắt anh ta giễu cợt:
- Tôi phục bản lĩnh Cộng sản của “đồng chí” nhưng đừng bao giờ ảo tưởng về một nền độc lập của xứ An Nam này tách rời Đại Pháp. Hãy thành thật khai ra sẽ thoát được án tử hình.
Vận nhắm nghiền mắt, tóc bết mồ hôi rủ xuống vầng trán nóng hầm hập nhưng vẫn không chịu mở miệng. Đồn trưởng tiếp tục ra đòn. Hắn nhảy bổ vào ông chủ tịch như một con thú đói mồi. Người Vận nhàu như tàu dưa héo, thỉnh thoảng lại bật ra những tiếng “hự hự”.
Cũng vào thời điểm ấy, Khúc Văn vốn trầm tĩnh đã phải nổi điên bởi sự gan lỳ của cô lái đò. Toàn thân Xoan hầu như chỗ nào cũng có những vệt thâm tím rỉ máu. Hắn bĩu môi khiêu khích:
- Cô trung thành với Việt Minh để rồi có kết cục như ngày hôm nay thật xứng đáng là bậc “liệt nữ” hy sinh cho chủ nghĩa Cộng sản cuồng tín.
- Những kẻ bán nước như các ông làm sao hiểu được niềm tin của nhân dân vào Chủ nghĩa Cộng sản.
- Như vậy, cho đến giờ cô đã tự nhận mình là Việt Minh?
- Thì đã sao? - Người phụ nữ du kích khẽ nhếch cặp môi sưng vếu thều thào.
- Được lắm . - Khúc Văn dằn giọng - Ngày mai cô sẽ bị xử bắn.
 
Xoan biết mình không tránh khỏi cái chết. Chết lúc này thì trẻ quá. Cô chưa đầy hai  mươi, thậm chí chưa có được một mối tình. Nghe nói, những cô gái chết trẻ chưa chồng, linh hồn không được siêu thoát, quanh suốt tháng lang thang đầu bờ, xó bụi, chỉ đến rằm tháng bảy mới được hưởng chút cháo thí cúng chúng sinh. Lòng cô thoáng xót xa. Giá mà đừng vào đội du kích, cứ làm một thôn nữ bình thường như cái Hoa cái Mận rồi lấy chồng, đẻ con thì làm gì đến nỗi như bây giờ. Công bằng mà nói, cả tên đồn trưởng mũi lõ đến gã Khúc Văn đẹp trai không phải lúc nào cũng mất hết nhân tính. Chúng có phần đúng khi nói về hạnh phúc của người đàn bà là những thứ rất cụ thể chứ không phải thứ ảo tưởng xa vời. Mong cho ngày mai chúng xử bắn ngay đi, để thêm vài hôm nữa có khi không chịu được đòn, mình khai ra mất. Cái chết của một nữ du kích như mình có ý nghĩa thế nào với cuộc kháng chiến nhỉ ?
- Cô đã nghĩ kỹ chưa? - Khúc Văn lại đốt điếu thuốc, phả khói mù mịt, hỏi nữ tù nhân bằng giọng chán nản.
- Có gì mà phải nghĩ .- Xuýt nữa thì Xoan phát khóc may mà kìm được bằng cách quát lên - Tôi chấp nhận cái chết.
- Thật phí một đời con gái .
Nói xong viên đồn phó lẳng lặng bước ra khỏi phòng giam. Hắn bảo tên lính gác:
- Mang thức ăn vào cho cô ta.
 
Sáng mười chín tháng chín, đồn Cáo cử một đội áp tải mạnh đem LêVăn Vận và cô Xoan xuống cầu Vàng xử bắn. Đó là một cây cầu sắt ba nhịp, do người Nhật xây dựng từ năm bốn ba, cách đồn Tuần hai chục cây số về phía thượng lưu sông Lăng. Từ mấy năm nay, theo lệnh của viên quan năm chỉ huy xếch tơ Đông Triều, hễ bắt được Việt Minh đột nhập từ các vùng tề là mang xuống đấy hành hình.
 
Sở dĩ có cái lệnh kỳ quái này là bởi đầu năm bốn tám, Hăng ri Cátxtơrô còn là tham mưu trưởng trung đoàn bộ binh Lê dương số 7, một lần cùng viên chỉ huy Luy panh đi xe Jeep thị sát mặt trận đường 22, qua cầu bị du kích đánh mìn. Quan tư chỉ huy trung đoàn chết ngay tại chỗ còn ông ta bị trọng thương phải đưa về cấp cứu tại bệnh viện Đồn Thuỷ. Từ đấy Cátxtơrô căm thù Việt Minh đến tận xương tuỷ, ra lệnh cho chỉ huy các đồn binh xử bắn du kích ngay tại chỗ trước đây họ định sát hại mình cho hả giận.

Chiếc ca nô Noóc măng đi cắm cờ tam tài chạy ngược sông Lăng chừng một giờ sắp đến bến Tràng thì gặp chiếc xuồng máy nhãn hiệu Hoa Kỳ từ phía cầu Vàng xuống. Trên xuồng là bác sĩ Pi ra, phụ trách quân y xếch tơ Đông Triều, bạn thân của quan năm Cátxtơrô. Anh ta ra hiệu cho ca nô dừng lại rồi nhảy lên boong. Đồn Cáo ấn lệch chóp mũ chào mào sang một bên, đứng nghiêm theo đúng tác phong nhà binh.
- Xin chào thiếu tá. Ngài có việc gì ạ?
- Nghe nói đại uý sắp đem xử bắn một nữ du kích?
- Không phải một mà là hai tên, thưa ngài !
- Cho tôi xem mặt cô ta.
- Thiếu tá cứ tự nhiên, họ đang ở trong khoang.
 
Pi ra bước vào khoang giữa nhìn Xoan và Lê Văn Vận một lúc khá lâu. Anh ta cầm tay cô gái như là bắt mạch xem bệnh rồi quay về phía đồn Cáo bảo :
-  Hình như cô ta có mang ...
- Thưa thiếu tá, nó là một con Việt Minh nguy hiểm.
Pi ra nhún vai nói bằng tiếng Anh:
-  Nói ở đây không tiện, mời đại uý xuống xuồng máy của tôi một lúc.
Hai người vừa nhảy xuống xuồng, viên bác sỹ quân y nói dằn từng tiếng :
- Trong tháng này đại uý đã hành quyết bốn người trong đó có một phụ nữ. Hôm nay thêm hai nữa là sáu. Chẳng lẽ sức mạnh của quân đội Liên hiệp Pháp lại là ở chỗ dùng tiểu liên bắn vào một thiếu phụ đang mang thai bị trói hai tay.
Đồn Cáo cau có :
- Nhưng tôi phải chịu trách nhiệm trước thiếu tá chỉ huy cát chi ê Nam Thành và tình trạng an ninh của vùng hữu ngạn sông Lăng. Chúng ghê gớm lắm. Thiếu tá không hình dung được đâu.
Viên bác sỹ nheo mắt nhìn gã đại uý tham mưu qua cặp kính trắng:
- Ông có thừa nhận đó là một cô gái đẹp không?
- Đẹp. - Đồn Cáo gật đầu - Như một bông dã quỳ vùng nam sông Loa.
- Vậy sao nỡ nâng súng bắn vào một bông hoa, đại uý?
Đồn Cáo có vẻ đã bị thuyết phục, giọng hắn lấp lửng:
-Thưa thiếu tá, hình như ngài bắt đầu phải lòng con bé Việt Minh?
- Không hẳn là như thế. - viên bác sỹ nheo mắt đầy ý nghĩa - Về tên Việt Minh kia, mặc ông xử trí, nhưng còn cô bé, hãy giao cho tôi, cứ nói là đưa về phòng Nhì để tiếp tục lấy cung. Việc sau đó thế nào tôi sẽ chịu trách nhiệm trước ngài chỉ huy xếch tơ. Ông sẽ nhận được một ngân phiếu năm ngàn quan nếu biết cách im lặng.
 
Khoản tiền quá lớn làm chiếc mũi khoằm của đồn Cáo nở ra, cặp mắt xanh ánh lên vẻ tinh quái.
- Được, nhưng với điều kiện ngài phải mang cô ta đi khỏi nơi đây càng xa càng tốt.
Tay bác sỹ gật đầu ngay:
- Đại uý nói đúng. Đầu tháng tới tôi sẽ nghỉ phép.
Mác xen lên ca nô. Hắn bảo tên đội Lăng gơ lê và bọn lính áp tải:
- Thiếu tá Pi ra yêu cầu mang con Việt Minh về phòng Nhì. Cấm mọi người bép xép. Ai làm lộ chuyện sẽ bị xử bắn vì đây là lệnh của chỉ huy xếch tơ.
Xoan được hai tên lính dìu sang xuồng máy. Pi ra tiêm cho cô một mũi trợ sức rồi nói một tràng tiếng Pháp. Người thông ngôn dịch:
- Quan đốc tờ bảo, phải nói dối cô có chửa để cứu tính mạng.
Ca nô tiếp tục hành trình. Đến cầu Vàng, đồn Cáo ra lệnh ghé vào bờ rồi đưa LêVăn Vận lên trụ số ba. Trên mặt trụ, không hiểu sao, người Nhật để một khoảng trống hình mũi tên rộng chừng hai thước vuông nhô ra phía trước. Đây chính là nơi những người bị coi là Việt Minh không chịu hợp tác với nhà nước Đại Pháp chịu án tử hình. Xác họ rơi xuống chân cầu vài ngày sau mới nổi lên ở một bến nào đó dưới hạ lưu.
 
Đội Tảo lấy dải băng định bịt mắt Lê Văn Vận. Anh ta lắc đầu bảo:
- Không cần !
Viên đội nhìn đồn Cáo nói một câu tiếng Pháp. Tên đại uý gật đầu:
- Thôi được, cứ để cho anh ta nhìn dòng sông, bầu trời và cảnh vật quê hương lần cuối trước khi xuống địa ngục làm khách của thần Hađét.
Lúc sắp ra lệnh nổ súng, đồn Cáo bảo Vận :
- Nếu ông thay đổi ý định vẫn còn kịp đấy.
Vận nhổ nước bọt trúng mặt hắn rồi chửi tục :
- Đồ chó!
- Bắn ! - Viên đại uý gầm lên.
 
4
 
Khúc Kiệt lúc này đã thu thập thêm một số đội viên áo Đen trước đây từng theo ông ta đánh nhau với Nhật. Sau cái chết của Lê Văn Vận, ông đội trưởng du kích bàn với mấy người trong ban tham mưu là Nguyễn Đình Tuy, Quách Thịnh và Nguyễn Thị Mùi lập kế hoạch đánh bốt Tuần dạy cho đồn Cáo một bài học. Mục tiêu trước mắt của họ là phục kích những toán quân trên đường đi càn về. Quách Thịnh có người anh em bên tổng Ngân Đôi hiện đang là lính dõng trong đồn. Anh ta bí mật thông báo, cuối tháng mười đồn Cáo và Khúc Văn sẽ đem hai trung đội hành quân qua làng Cùa, Yên Xá đánh vào Đồng Khê. Khúc Kiệt cho các đội viên mai phục từ đầu canh ba, trên khu ruộng bỏ hoá phía bên phải đường 228 thực hiện phương án đánh độn thổ. Độn thổ tức là ẩn mình trong những chiếc hầm nhỏ vừa đủ một người ngồi, đậy vầng cỏ lên, nguỵ trang làm sao để người ta đi ngay bên cạnh cũng không phát hiện ra, đợi kẻ địch hành quân đến nơi, nhất loạt đội nắp xông lên tiêu diệt gọn. Đây là trà ruộng xa các điểm dân cư, không cày cấy nhiều năm, cỏ xước, cỏ chân chim và cỏ đuôi chồn mọc chen chúc lẫn với những bụi cây xấu hổ đầy gai tạo thành cảnh hoang vắng tự nhiên, khiến cho không một nhà chiến lược nào của quân đội Pháp mảy may nghi ngờ hiểm hoạ Việt Minh đang tiềm  ẩn. Đồn Cáo trong bộ binh phục ka ki xám, mũ chào mào dạ tím viền đỏ, súng lục trễ bên sườn, khoác tiểu liên, thỉnh thoảng lại đưa ống nhòm lên nhìn về phía trước. Khúc Văn đi sau tiểu đội lính dõng, đội mũ sắt, tay lăm lăm khẩu tuyn, chân đi đôi bốt da mới toanh nhưng có lẽ hơi rộng thành ra mỗi bước đi lại kêu ken két. Bọn Âu Phi thằng nào cũng đội loại mũ sắt của pháo binh nặng chịch, khoác trường mát hoặc xten, nòng chúc xuống đất, xếp hàng hai, bước đều rất đúng điều lệnh hành quân. Đường 228 gập ghềnh bụi cuốn mù mịt bởi những trận gió bắc khan chốc chốc lại thổi tạt ngang.
 
Đợi cho tên lính cuối cùng lọt vào trận địa phục kích, từ nơi quan sát, Khúc Kiệt nổ một phát súng vào tốp đi đầu. Quách Thịnh hô to: “ Xung phong!" Rồi ném quả lựu đạn chày về phía đồn Cáo. Nghe súng nổ, tất cả đội viên mai phục đều bật nắp hầm nhảy lên. họ vừa nhằm bắn vào đội hình hành quân của địch vừa thi nhau gào thật to :
- A! a…! a…! X…u…n….g …p….h…o…n….g…!
Lựu đạn chày vốn là thứ vũ khí tự tạo của xưởng Bạch Đằng xịt khói rất nhiều nhưng không mấy khi nổ, tuy thế cũng làm Đồn Cáo phát khiếp. Hắn lập tức lăn tròn một vòng rồi nằm dán xuống đất theo đúng kỹ thuật tác chiến, sau đó nhanh chóng nổ súng vào toán du kích đang lao tới. Khúc Văn tỏ ra bình tĩnh hơn. Hắn chẳng lạ gì thứ vũ khí tạp nham của Việt Minh nên nhanh chóng củng cố đội hình sau khi bọn chúng có vài tên trúng đạn súng trường mút hoặc bị lưỡi mác xuyên vào bụng trong lúc cận chiến. Viên thiếu uý tỳ súng vào gờ đống Mả Hủi nhằm Quách Thịnh nổ một phát. Rất may viên đạn chệch về bên trái, chỉ sướt qua cánh tay. Thịnh cúi thấp đầu rê nòng súng nhằm tên đồn phó xiết cò. Phát súng của nhà thiện xạ xuyên qua bả vai của tên thiếu uý. Hắn giật nảy người rồi hất chiếc mũ sắt ra, tay cào cào trên cỏ. Quách Thịnh đẩy khoá nòng nạp đạn định bồi cho Khúc Văn viên nữa kết thúc cuộc đời chó săn của hắn thì Khúc Kiệt kịp giữ tay lại:
- Anh  em mình hết đạn cả rồi, phải rút thôi.
 
Khúc Kiệt rút đi nhưng đồn Cáo cũng không truy đuổi vì lính của hắn bị thương khá nhiều, đấy là chưa kể ba tên chết ngay trong loạt đánh giáp lá cà đầu tiên của quân độn thổ.
 
Trận tập kích coi như thắng lợi vì chỉ có mỗi Trần Thâm bị thương vào bắp chân phải cáng về nhưng Khúc Kiệt vẫn không có được niềm phấn khởi như hồi đánh nhau với Nhật là vì ông ta bắt buộc phải chạm súng với thằng con bất hiếu. Cho đến lúc này mối quan hệ giữa hai cha con hầu như không còn gì trừ lòng hận thù. Khúc Văn không thể tha thứ cho ông bố, bởi chính vị thủ lĩnh áo Đen là thủ phạm gây ra cái chết thê thảm của mẹ hắn, các em hắn và hơn bảy chục người dân vô tội làng Cùa. Để thanh toán"Hội dân cày"của Khúc Văn, ông ta dùng thứ chuyên chính tàn bạo núp dưới chiêu bài Cách mạng vô sản, đem lực lượng công an bắn vào chùa Từ Vân và hoả thiêu cả một cánh đồng lúa đang kỳ thu hoạch. Trong hai năm qua, đã mấy lần Khúc Kiệt cho người dán khắp nơi cáo trạng của Việt Minh tuyên án xử tử vắng mặt Khúc Văn. Hành vi quá quắt của ông bố làm viên đồn phó tức điên lên, thề sẽ có dịp bắn nát đầu ông ta dể răn đe những kẻ khố rách áo ôm, mù quáng theo đuôi Cộng sản. Nhưng thực tế lại khác. Cuộc chạm súng hôm nay chắc chắn Khúc Văn sẽ toi mạng nếu lúc ấy Khúc Kiệt không ngăn Quách Thịnh lại. Viên thiếu uý biết rõ việc này , vì lúc bị dính đạn hắn vẫn đủ tỉnh táo nhìn về phía trước. Nguyên nhân gì khiến ông ấy có hành động khác thường như vậy ? Tình cha con hay sự tỉnh ngộ ? Khúc Văn hỏi rồi lại tự trả lời. Trong con người này có thể là cả một khối mâu thuẫn có khi chính ông ta cũng không giải thích được hành vi của mình.
 
Khúc Văn khuỳnh cánh tay quấn băng trắng, ngồi trầm ngâm trong phòng thì đồn Cáo đẩy cửa bước vào. Nhìn vẻ mặt viên đồn phó, Mác xen hỏi:
- Thiếu uý nghĩ gì về trận đánh hôm nay?
- Tôi thật không ngờ bọn Việt Minh lại táo tợn đến thế.
- Đó chỉ mới là màn dạo đầu của cuộc chiến tranh du kích. - Đồn Cáo cười gằn - Nói thật lòng, tôi bắt đầu thấy sợ những trận địa mai phục đại loại như kiểu “độn thổ”.
- Dù sao cũng phải thừa nhận, bước đầu ta đã thành công khi trừ khử được Lê Văn Vận. - Khúc Văn đưa cho Mác xen tách cà phê tên bồi da đen mới pha còn đang bốc khói - Mấy năm nay hắn nổi tiếng là “hùm xám” Ba Tổng đã cùng đồng bọn hạ sát của ta khá nhiều chức sắc mẫn cán.
- Thiếu uý nói phải. - Đồn Cáo gật đầu - Ví dụ như vụ lý Lọng bị cắt tiết.
- Chính vì thế, muốn thắng được Việt Minh ta nên sử dụng những phương pháp mà họ đã dùng, đó là nắm được dân, mua chuộc bọn lý dịch làm tai mắt, như thế Việt Minh sẽ như cây đứt rễ, mất chỗ dựa phải bỏ đất mà lên rừng.
- Đó là kế hoạch hay nhưng theo tôi, không dễ thực hiện. - Đồn Cáo trầm ngâm gõ nhịp trên bàn - Thiếu uý nên nhớ, bọn Việt Minh đều là người địa phương. Chúng có thể chỉ là anh đánh giậm hoặc mụ bắt ốc đội nón mê, lựu đạn để trong giỏ, thoắt ẩn thoắt hiện như ma, sẵn sàng nằm hầm bí mật cả tháng ăn gạo rang hoặc lặn dưới ao bèo thở bằng ống đu đủ. Sức mạnh của chúng chính là lòng dân, thứ mà nước Pháp có nhiều tiền cũng không mua được.
Khúc Văn lại đốt thêm điếu thuốc, lơ đãng phả khói thành từng vòng từ thấp lên cao như hình chiếc tù và. Hắn thích thú nhìn đám khói cuộn tròn rất có trật tự đang tan dần rồi chép miệng bảo:
- Phải nói dân vùng Ba Tổng này cứng cổ.
Đồn Cáo bảo:
- Theo tôi được biết thì cho đến nay quan hệ giữa thiếu uý với ông thân sinh vẫn chưa được cải thiện chút nào.
Khúc Văn gật đầu:
- Tôi với ông ấy mỗi người ở một chiến tuyến chỉ có thể nói chuyện bằng súng đạn.
- Mở một cuộc hành quân tổng lực đánh vào rừng Hóp lúc này là rất không có lợi. - Đồn Cáo tuy là võ quan nhưng mà lại có đầu óc phân tích như một nhà chính khách - Tôi định cử thiếu uý làm trung gian vận động ông Khoá ra hàng để đỡ tốn xương máu cho cả hai bên.
- Ngài nói đùa. - Khúc Văn giãy nảy lên - Chỉ cần tôi đặt chân đến cửa rừng Hóp là lập tức được lãnh ngay hàng chục viên đạn mútxcơtông vào ngực.
Mác xen bật cười:
- Tôi không yêu cầu thiếu uý vào rừng Hóp mà tìm cách nào đó gửi cho ông Khoá  một bức thư.
Khúc văn lắc đầu:
- Cách làm của đại uý chỉ tốn công vô ích thậm chí nguy hiểm đến tính mạng người của ta nữa. Tôi không lạ gì tính khí ông Khoá. Đó là một phần tử Cộng sản cuồng tín luôn lấy bạo lực cách mạng làm phương châm hành động.
- Vậy theo thiếu uý, muốn diệt toán du kích ấy ta phải làm thế nào?
- Dùng kế điệu hổ ly sơn.
- Nghĩa là ta kéo chúng ra khỏi sào huyệt rồi bao vây tiêu diệt?
- Còn hơn thế nữa, ta phải tạo cơ hội cho ông bố tôi đánh đồn Tuần.
- Ông nói đùa.

- Tôi không đùa tí nào. - Khúc Văn nhấn giọng bảo - Trước hết, ta giả vờ điều già nửa số quân ban ngày đến cát chi ê Nam Thành để bọn gián điệp Việt Minh nhìn thấy, ban đêm lại cho số quân này bí mật trở về. Thực hiện vài lần như thế dám chắc Việt Minh sẽ dốc toàn bộ lực lượng đánh đồn. Lúc ấy ta sử dụng ưu thế về hỏa lực và một trung đội mai phục dưới chân đê bằng phương thức độn thổ như chúng đã làm chắc chắn sẽ thắng lớn.

Đồn Cáo nghe xong, vỗ vai Khúc Văn bảo:

- Thiếu uý đúng là một sỹ quan có tư duy ở tầm chiến lược. Tôi dám chắc, trong tương lai không xa, anh sẽ đeo lon cấp tướng.

- Đại uý quá khen.
- Không đâu. Phương án tác chiến của thiếu uý hay lắm. Tuần tới ta bắt đầu thực thi kế hoạch.
- Trước khi tiến hành trận đánh tôi xin đại uý một việc.
- Anh cứ nói.
- Dù sao ông Khoá cũng là bố đẻ tôi, nếu có thể ta nên bắt sống. . .
Đồn Cáo gật đầu:
- Tôi sẽ ra lệnh cho các sỹ quan và binh lính lúc tác chiến không được hạ sát ông ta.
- Cảm ơn đại uý.
Đồn Cáo vừa rời khỏi phòng thì lý Quỳnh, phó lý Kiền và bà cả Huê mang một lồng gà mái ghẹ, hai cặp vịt bầu, một gánh gạo nếp hoa vàng và bốn chai mật ong đến thăm Khúc Văn. Từ ngày anh cháu về làm đồn phó đồn Tuần bà cả Huê vô cùng phấn khởi vì làng Cùa đã trở lại vị trí đứng đầu vùng Ba Tổng sau bao nhiêu năm bị lép vế với thiên hạ bởi cái chết bất đắc kỳ tử của chánh Đàm. Nhân việc Khúc Văn bị thương, bà ta khoét sâu mâu thuẫn trong mối quan hệ cha con khoá Kiệt, đồng thời dựa vào thế lực đồn Cáo, xây đựng làng Cùa thành một làng tề điển hình vùng đồng bằng sông Hồng. Thực ra, đến lúc này, điền sản của gia đình họ Khúc không đáng gì so với các địa chủ khác trong hạt, nhưng vốn ác cảm với ông em chồng nên bà Cả không từ bất cứ thủ đoạn nào để phá các tổ chức Việt Minh. Cánh chức dịch trong làng vừa sợ vừa ghét  vợ goá chánh Đàm . Bà ta lên đồn như cơm bữa, sẵn sàng sắp xếp lại “nhân sự” trong tổng nếu thấy các thầy lý trưởng, phó lý làm việc kém hiệu quả thông qua đồn Cáo và Khúc Văn. Lý Quỳnh biết rất rõ tâm địa người đàn bà này, nên trong mấy năm qua, ông ta sống như con thò lò hai mặt, một đằng vẫn phải tỏ ra mẫn cán trong công việc phục vụ chính quyền, thường xuyên bẩm báo tình hình trị an trong làng với đồn Cáo nhưng thỉnh thoảng lại bí mật vào rừng Hóp gặp Khúc Kiệt và vận động một số gia đình khá giả tiếp tế lương thực cho đội du kích. Cuộc thăm hỏi Khúc Văn hôm nay tất nhiên là do bà cả Huê khởi xướng, lý Quỳnh không thể từ chối. Nhìn thấy lý Quỳnh và bà cả Huê, Khúc Văn mừng lắm, thầm nghĩ chuyến này thế nào mưu kế cũng thành công, liền mời các vị khách hút thuốc lá Cotab, ăn bánh bích quy và uống bia “Con hổ”. Bà cả Huê thích lắm, bảo:
- Bẩm quan lớn, nghe tin quan lớn đánh nhau với Việt Minh bị trọng thương, dân làng Cùa có một chút quà để bồi bổ sức khỏe.
Khúc Văn chắp tay từ tạ:
- Ấy chết, bác với các ông đây đừng nói thế. Tôi chỉ là bậc con cháu, đâu dám.
- Tuy là con cháu trong nhà nhưng anh làm việc nước. - Bà cả Huê thẽ thọt bảo - Chúng tôi lên đây là để tỏ lòng tri ân vì quân ta đã dũng cảm đánh lui Việt Minh trong trận chúng phục kích vừa qua.
Khúc Văn thoáng liếc lý Quỳnh. Ông này lúc nào trên môi cũng thường trực nụ cười lấy lòng quan trên nhưng không biết tâm địa ra sao. Hắn quyết định thăm dò thái độ ông em rể hờ  :
- Tình hình chiến sự bây giờ đối với ta không được thuận lợi lắm. Việt Minh khắp nơi nổi lên như ong vỡ tổ. Thế lực của chúng ngày càng mạnh vì chúng được Nga xô và Trung cộng viện trợ vũ khí. Các bác phải tăng cường đội Nghĩa dũng cùng với tuần đinh canh gác cho tốt, thấy Việt Minh về là phải vây bắt ngay đồng thời nhanh chóng cử người lên đồn báo tin.
Bà cả Huê đưa mắt nhìn lý Quỳnh:
- Các quan đồn bắt được Lê Văn Vận rồi đem xử tử ở cầu Vàng dân Ba Tổng phấn khởi lắm. Chính hắn đã giết chết ông nhà tôi mà anh Văn đã biết. Thật không biết cám ơn ông đồn trưởng thế nào cho hết. Tuy nhiên vẫn còn đám du kích rừng Hóp. Chả lẽ các ngài có vũ khí tối tân trong tay mà chịu nương nhẹ cho ông khoá Kiệt.
Khúc Văn biết thừa bà bác nói khích nên xuống giọng nhún nhường:
- Thực tình chúng tôi cũng đã kêu gọi ông ấy đem vũ khí ra cộng tác với quân đội Liên hiệp cùng chiến đấu chống Việt Minh, nhưng ông ấy chẳng những không chịu hợp tác mà còn dùng chiến thuật đánh độn thổ tập kích quân đội, kết quả là tôi bị trúng đạn vào cánh tay và ba người lính tử thương. Dù sao tôi với ông Khoá cũng là tình cha con, tôi nhờ bác Quỳnh vào rừng Hóp đưa giúp bức thư của ngài đồn trưởng, mong ông ấy nghĩ lại, lấy đại cục làm trọng.
Lý Quỳnh giật nẩy người chối phắt:
- Không được. Khoá Kiệt nóng tính lắm, lơ mơ là ông ta bắn ngay.
Khúc Văn nhếch mép :
- Bác vẫn sợ cái lần xuýt bị ông Khoá bắn ở ao đình chứ gì? Nhưng còn cái Nhân, em gái tôi, nghe nói hai người đã. . .
- Về chuyện cô Nhân không phải như dân làng vẫn nghĩ đâu. Khi nào rảnh rỗi tôi sẽ kể cậu Văn nghe. - Lý Quỳnh lưỡng lự một lát rồi bảo - Thôi được, việc vận động ông Khoá tôi sẽ thử xem sao.
Cũng vào thời điểm ấy, khoảng một trung đội Âu Phi bạc đà nặng trĩu trên lưng, xếp hàng ngoài đê sân dưới sự chỉ huy của thiếu uý Chi e ry có vẻ như sắp hành quân. Bà cả Huê hỏi ngay:
- Chắc đêm qua vùng Cao Xá Việt Minh lại về?
Khúc văn làm ra vẻ bí mật:
- Các bác nhớ giữ kín chuyện này. Bọn gián điệp biết thì không có lợi. Sở dĩ bốt Tuần phải rút bớt quân là do lệnh của quan tư chỉ huy cát chi ê Nam Thành để tăng cường cho các đồn binh phía bắc sông Hàn đang bị Việt Minh uy hiếp.
- Thế thì gay quá. - Bà cả Huê tái mặt - Vậy là các ông bỏ rơi dân Ba Tổng?
Khúc Văn xua tay nói nhỏ:
- Thực ra quân đồn trú vẫn còn giữ lại hơn một tiểu đội để phòng thủ. Hơn nữa các làng hiện giờ đang duy trì lực lượng Nghĩa dũng khá mạnh, vì vậy mong bà con cứ yên tâm.
Việc rút quân khỏi đồn Tuần chỉ sáng hôm sau đã loang ra khắp tổng. Bọn lính hành quân theo đội hình chiến đấu nện gót giày cồm  cộp  trên đường 228 . Tin này lập tức đến rừng Hóp qua những tay trinh sát nghiệp dư trong lốt dân đánh giậm, chọc lươn hoặc bắt ếch hàng ngày vẫn lảng vảng quanh đồn.
Mấy hôm sau, Khúc văn sai lính đưa cho lý Quỳnh bức thư. Ông ta phân vân mãi rồi mới quyết định vào rừng Hóp. Anh em du kích chẳng lạ gì lý trưởng làng Cùa nên không bịt mắt mà đưa thẳng vào sở chỉ huy trình khoá Kiệt. Ông ta vừa lướt qua mấy dòng đã ném thư xuống đất chửi:
- Mẹ cha thằng đồn Cáo!
- Nó viết gì trong thư thế hả ông? - Quách Thịnh hỏi.
- Chúng dụ hàng, khuyên ta cộng tác với quân đội Pháp.
- ý ông thế nào?
- Đập vỡ mặt tên cướp nước ra chứ cộng tác cái gì. - Khúc Kiệt chợt quay lại phía Ngô Quỳnh - Nghe nói quân của đồn Cáo đang rút đi phải không?
- Tôi có nghe cậu nhà nói thế nhưng chẳng biết thực hay hư.
- Này, ông đừng có giấu tôi. Chính cái hôm ông với con mẹ cả Huê lên thăm thằng Văn ấy là đợt rút quân đầu tiên.
Lý Quỳnh lắc đầu :
- Cũng không loại trừ đây là một thứ mưu kế nhằm kéo các ông ra khỏi rừng Hóp để họ dễ dàng tiêu diệt. Nói thật tôi cũng chẳng thích gì Việt Minh nhưng vì cô Nhân nên xin có lời can.
Khoá Kiệt lẳng lặng gật đầu:
- Cảm ơn. Phiền ông nói với đồn Cáo rằng, khoá Kiệt này thề sẽ bắt sống hai tên giặc ấy mang ra cầu Vàng xử bắn như chúng đã xử bắn Lê Văn Vận.
Lý Quỳnh về rồi, khoá Kiệt liền tập hợp ban tham mưu bàn kế hoạch tấn công đồn Tuần. Theo trinh sát báo cáo, cho đến lúc ấy Đồn Cáo đã hai lần chuyển quân về phía trục đường 22 và 228. Vậy là thời cơ đánh đồn Tuần đã đến. Sau khi nhận định tương quan lực lượng giữa hai bên, Khoá kiệt đưa ra ý kiến là không cần có sự phối hợp của bộ đội địa phương vẫn có thể hạ được bốt Tuần.
Quách Thịnh  có vẻ không hào hứng với kế hoạch phiêu lưu của đội trưởng.
- Hệ thống hoả lực đồn Tuần rất mạnh trong khi đó ta chỉ có mười ba khẩu súng, cơ số đạn không đáng là bao, tôi cho rằng, đánh công kiên kiểu này là rất mạo hiểm.
Trần Thâm vốn cùng quan điểm với Khúc Kiệt, từ lâu đã có ý muốn đánh đồn để trả thù cho vợ bị chết do trúng đạn moóc chi ê, đứng dậy tuyên bố:
-  Tôi ủng hộ ý kiến của đội trưởng. Ai không tán thành xin cứ ở nhà.
Quách Thịnh vẫn tỏ ra lo ngại:
- Tôi thấy Ngô Quỳnh nói có phần đúng. Rất có thể đồn Cáo dùng kế “điệu hổ ly sơn” nhử chúng ta ra khỏi rừng để bao vây tiêu diệt, vì địa thế ở đây hiểm trở chúng không dám đột nhập. Mong ông Khoá và anh em cân nhắc cho kỹ.
Khúc Kiệt đứng dậy tuyên bố :
- Đa số đã quyết nghị. Cuộc họp đến đây kết thúc. Mọi người về chuẩn bị. Đêm nay đánh đồn.
Qua giờ Ngọ, đội quân của khoá Kiệt ra khỏi rừng Hóp . Mọi người men theo đầm Ma ngược lên khu đồng Chằm sau đó lên đê sông Lăng. Đêm cuối tháng không trăng. Trời lất phất mưa. Cánh trinh sát tiền trạm đến điếm Bài Vân thì dừng lại nghe ngóng động tĩnh. Dưới sông sóng vỗ lóc bóc vào kè đá. Sau gần hai giờ, toàn bộ đội du kích đã đến điểm tập kết. Đó là một gò đống thuộc khu đồng Sộp cách đồn chừng ba trăm thước về phía tây nam. Sau khi chỉnh đốn hàng ngũ, các tiểu đội lặng lẽ vượt đê tiếp cận hàng rào kẽm gai. Trần Thâm ném một quả lựu đạn vào vọng gác lô cốt ngoại vi. Một quầng lửa nhoáng lên cùng với tiếng nổ đanh chính là hiệu lệnh tấn công. Nhưng cũng vào lúc ấy, hoả lực trong đồn bắn ra như vãi đạn. Một quả Moóc chi ê sáu mốt ly từ lô cốt dưới bờ sông câu đúng đội hình du kích làm ba người gục ngay tại trận. Khúc Kiệt men theo sườn lô cốt kề khẩu súng trường vào lỗ châu mai bắn một phát rồi ném tiếp quả lựu đạn chày. Lựu đạn xì khói nhưng không nổ. Quách Thịnh dẫn năm đội viên tung bộc phá, định ào qua hàng rào kẽm gai, nhưng bị ngay quả mìn cóc nhảy vọt lên ngang ngực hất anh ta ngược lại bờ đê, một mảng ngực bị toác ra, nhầy nhụa máu. Hai bên cầm cự chừng nửa giờ thì quân Khúc Kiệt hết đạn .Thấy đánh không lại mà trời sắp sáng ông ta ra lệnh rút lui. Đúng vào lúc ấy, từ phía bên kia bãi dứa, một trung đội Âu Phi chẳng biết phục kích từ bao giờ nhất loạt xả đạn vào đội hình du kích. Phía lô cốt chính, toán lính dõng trang bị trường  mát và tiểu liên K50 bấy giờ mới xuất trận. Đội quân của khoá Kiệt ở vào cái thế bị kẹt giữa hai gọng kìm , mạnh ai nấy chạy chẳng còn lòng dạ nào đánh nhau nữa. Khúc Kiệt vừa bắn kiềm chế vừa lui dần về phía đồng Sộp. Bọn Âu Phi sát khí đằng đằng, thằng nào mặt mũi cũng đen sì, tay đặt sẵn vòng cò, chỉ cần nhấn nhẹ là ông đội trưởng du kích đi đời. Một viên cai người Việt lấy tay làm loa gọi to:
- Ông Khoá hàng đi! Quân du kích chạy hết rồi.
- Hàng này! - Khúc Kiệt tức tiết nổ một phát về phía viên cai. Phát đạn trúng quai hàm, giọng hắn bị tắc lại, máu chảy như xối xuống cái cổ ngẳng vì khói thuốc phiện.
Đồn Cáo bất chợt xuất hiện, vẫn bộ kaki xám nhưng lần này hắn đội mũ sắt, tay vung vẩy chiếc ba toong gọi to bằng tiếng việt:
- Lần này ông Khoá mắc mưu bản chức rồi. Lính Bắc Phi của tôi không hề rút đi mà chỉ làm cuộc dã ngoại dạo  chơi đến đồn Gang rồi ban đêm lại xuống ca nô về bốt Tuần.
Khúc Kiệt ngiến răng quát:
-  Đồ đểu. Tao thà chết chứ không bao giờ đầu hàng lũ chó Tây.
Nói rồi ông ta rút chốt quả lựu đạn giơ lên ngang mặt bảo :
- Thằng nào muốn chết thì đến đây!
Một lính dõng người Cao Xá có gã em họ bị du kích rừng Hóp bắn chết trong trận đánh độn thổ  đường 228 lại gần đồn Cáo nói:
- Bẩm ngài để tôi cho lão một phát.
Đồn Cáo ngẫm nghĩ một lúc rồi ngoảnh lại bảo bọn lính:
- Thôi, để cho ông ta đi .
 
 
5
 
Từ khi được cấp xe Jeep tuần nào đồn Cáo cũng về làng Cùa vài lần. Mấy năm nay, tuyến đê được dân phu Ba Tổng bồi trúc, mặt trải đá răm đến tận Cổ Pháp  nối với đường 22 ở ngã tư Gia Hoà. Chiếc xe sơn màu cỏ úa, không mui chạy băng băng, đến điếm Bài Vân bao giờ tay sốp phơ cũng bấm cỏi inh ỏi làm mấy cô váy thâm, quảy quang gánh sang cồn Vành cắt cỏ hốt hoảng chạy vào bụi chuối nhà vệ Đà. Mỗi khi xe đến sân đình, trẻ con, phần lớn cởi truồng, mũi thò lò, bâu lại chỉ trỏ làm Mác xen phải trợn mắt quát nạt. Hắn vào nhà bà cả Huê, có hôm còn ăn cơm ở đấy, tối mới về. Dạo này đội du kích rừng Hóp đã bị vô hiệu hoá sau chuyến tấn công đồn Tuần. Khoá Kiệt cũng bỏ làng ra đi. Vùng tề có vẻ đã yên tĩnh.
Gần đây Mác xen đâm ra say mê Khúc Thị Huệ , cô Hụê năm nay  mười chín , xinh xẻo như bà mẹ thời trẻ. Đồn Cáo, một lần mời Khúc Văn uống cô nhắc trên ca nô Noóc măng đi, ướm hỏi:
- Cô em họ xinh đẹp của thiếu uý ở làng Cùa chưa chồng phải không?
Khúc Văn biết tỏng bụng dạ gã đồn trưởng liền bảo:
-Không phải em  mà là bà chị họ tuy rằng chị ấy kém tôi hơn chục tuổi . Sao, đại uý bị mũi tên của thần Cu pi đông bắn trúng tim rồi chứ gì ?
-Tôi đã đồn trú nhiều nơi nhưng chưa thấy ở đâu một thiếu nữ phương Đông có vẻ đẹp quyến rũ đến thế. Ông bạn có bằng lòng làm mối cho Mác xen này không?
Khúc Văn cười :
- Thế còn cô Giannét ở gần bến cảng Tu lông của ngài. Theo chỗ tôi biết nước Pháp có điều luật xử rất nặng với những người đàn ông một lúc có hai bà vợ.
Đồn Cáo thở dài , rút rong túi ra bức thư đưa cho Khúc Văn .
- Tôi sang Đông Dương được gần hai năm thì Gian nét gửi thư yêu cầu phải về nếu không cô ấy sẽ đi lấy chồng. Thiếu uý có biết vì sao không?
- Xin đại uý cứ kể tiếp .
Đồn Cáo cười gằn:
- Hoá ra trong khi tôi phải đương đầu với Việt Minh ở cái xứ nhiệt đới đầy ruồi muỗi  này thì Gian nét phải lòng một tay đảng viên cộng sản Pháp làm ở nhà máy in và bị hắn tuyên truyền chủ nghĩa Mác, chống chiến tranh Đông Dương.
- Sau đó sự việc thế nào ?
- Tất nhiên là tôi không thể rời bỏ binh nghiệp. - Mác xen bảo - Mặt khác cũng không thể bắt người đàn bà chờ mình một khi cô ta đã công khai đi với nhân tình, vì thế tôi đã gửi đơn ly hôn về.
- Khúc Văn nâng ly rượu giọng thông cảm:
- Ngài thật xứng đáng là bậc quân tử, tuy nhiên tôi cũng thành thật chia buồn.
- Bây giờ tôi thích một cô gái Việt Nam và muốn cưới nàng làm vợ.
- Sau này ngài mang cô ta về Pháp chứ ?
- Thiếu uý vẫn chưa hiểu Mác xen. Cuộc chiến tranh chó chết này sắp đến hồi kết.- Viên đồn trưởng tợp một ngụm hết cả ly rượu nặng, mặt hắn nóng bừng nhìn Khúc Văn nói chậm rãi - Đừng tưởng đội quân của khoá Kiệt thất bại và vùng này lập tề là quân đội Pháp sẽ bình định được đồng bằng Bắc Bộ. Không nên đánh giá thấp  thực lực của Việt Minh.  Họ đang tập trung quân đội vào việc đối phó với cứ điểm Điện Biên Phủ. Cái vùng Ba Tổng khỉ ho cò gáy này chỉ là một điểm rất nhỏ nhoi trên bản đồ chiến lược của tướng Giáp. Cho nên tôi định đem cô Huệ về nước sau khi xin giải ngũ trong thời gian tới.
- Đại uý không nói đùa đấy chứ ? - Khúc Văn có vẻ hoang mang hết nhìn Đồn cáo lại nhìn dòng sông đang cuộn chảy. - Chẳng lẽ tình hình lại bi quan đến thế ? Tôi thường xuyên nghe đài. Các bản tin chiến sự đều rất sáng sủa.
- Chúng đều là đồ bịp bợm . - Đồn Cáo đã hơi say văng tục - Mẹ khỉ ! Toàn một bọn bồi bút đưa thông tin giả đánh lừa những kẻ nhẹ dạ cả tin.
Hôm  sau Khúc Văn về làng cùa gặp bà cả Huê . Bà Huê thích lắm, lập tức làm một bữa tiệc nhỏ, các món ăn chế biến chủ yếu từ thịt gà mời Mác xen và Khúc Văn. Đồn Cáo cho mang lên xe Jeep hai két bia Con hổ, ba thùng bích quy, hơn chục hộp kẹo  Ca ra men và mấy xấp vải thượng hạng làm lễ ra mắt. Lễ ăn hỏi có cả rượu sâm banh khai vị lẫn vang trắng Boóc đô nhắm với đùi gà quay tẩm ngũ vị hương đến quá nửa đêm mới kết thúc. Chiếc xe của Đồn Cáo và Khúc Văn khật khưỡng về gần đồn Tuần thì nghe có tiếng súng nổ rồi một quầng lửa bùng lên ở sườn lô cốt chính.
- Chết cha ! Bọn Việt Minh đánh đồn . - Mác xen giật mình bảo lái xe- Chạy nhanh lên!
Khúc văn ngăn lại :
- Cho xe chạy tiếp là trúng đạn Việt Minh. Quay lại !
Đồn Cáo lập cập hỏi:
- Bỏ đồn à thiếu uý ?
- Tạm thời bỏ rồi tính sau.
- Người chỉ huy không được bỏ quân đội khi lâm trận. - Đồn Cáo bất ngờ ra lệnh cho sốp phơ tăng tốc về đồn .
Chiếc xe băng qua làn đạn đủ loại. Có những viên đỏ lừ rạch bóng đêm trúng lốp sau nhưng xe vẫn lao ầm ầm như ngựa vía. Quang cảnh đồn Tuần hiện ra trong ánh lửa sáng rực như ban ngày. Lửa cháy bốc lên cao soi rõ cả một hàng kẽm gai bùng nhùng bị bộc phá đẩy ra giữa bãi mìn nằm quằn quại như con trăn khổng lồ  trúng thương. Khẩu đại liên trên nóc lô cốt số ba nòng gục xuống, nằm bất động. Trong sân mấy chục lính Bắc Phi và lính dõng quần áo lôi thôi lếch thếch, mặt mũi lem nhem cúi đầu bước ra trước mũi súng của những Việt Minh trẻ măng.
Đồn Cáo còn chưa hết bàng hoàng vì cú đòn bất ngờ của Việt Minh thì một người đội mũ nan bọc vải dù, tay cầm khẩu mô de bước đến chắn trước xe.
- Xin chào đại uý Mác xen. Mời ngài xuống xe.
Người ấy vừa nói xong, lập tức mấy anh lính lôi đồn Cáo và Khúc Văn ra khỏi  ghế ngồi, tước súng ngắn rồi lấy dây dù trói quặt hai tay về phía sau. Trong ánh lửa nhập nhoạng, Đồn Cáo nhìn người chỉ huy có khuôn mặt rất quen, liền hỏi:
- Thưa ông chỉ huy, ông là ...
Người đàn ông đứng tuổi nhấc mũ khỏi đầu, vuốt cho mái tóc trở lại ngay ngắn, cười nhạt bảo:
- Ngài đồn trưởng không nhận ra cố nhân à?
Mác xen ngập ngừng một lúc bất chợt kêu lên:
- Ông Lê Văn Vận ... Chẳng nhẽ lại là ...?
- Phải, tôi đây. - Vận nheo mắt bảo - Ông ngạc nhiên lắm phải không?
- Vậy ra ông không chết ?
Vận gật đầu:
- Thật may, trước khi lính của ông nổ súng một giây tôi đã kịp lao xuống chân cầu.
- Làm thế nào ông cởi được dây trói ở tay?
- Chắc ông đồn trưởng không biết tôi vốn là dân chài? - Vận nhìn Đồn Cáo đầy vẻ châm biếm - Rơi xuống nước, tôi dùng răng cắn đứt dây trói rồi lặn một mạch sang bờ bên kia. Chính vì vậy mới có cuộc gặp gỡ thú vị hôm nay.
 
 
[1] Xếch tơ ( secteur) : Tiểu quân khu (Tiếng Pháp).
[2] Một tổ chức bí mật của Việt Minh chuyên ám sát những người làm tay sai hoặc chỉ điểm cho  Pháp.
Chí Linh, 20/5/2005
Đặng Văn Sinh
Theo https://www.vanchuongviet.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Phê bình như là tự truyện Tín niệm phê bình văn học cũng là một dạng tự truyện rất gần với tinh thần của các phương pháp phê bình hiện đ...