Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Gửi thương về Huế 1

Gửi thương về Huế 1

Lời giới thiệu: ANH YẾN
Một trong những bài viết của anh Võ Quang Yến được nhiều độc giả cảm mến là bài "Làm dâu xứ Huế". Anh viết về chị Liliane, vợ anh. Quyển sách này, anh đề tặng chị trước hết. Mấy chục năm trước đây, báo Bách Khoa ở miền Nam cũ có mở một đề tài kéo dài trong nhiều số liên tiếp về hôn nhân Việt Pháp làm nhiều người trẻ thích thú theo dõi trong đó có tôi. Tất nhiên tôi hâm mộ những trường hợp thành công, tương đối hiếm, và ngậm ngùi lòng tự nhủ lòng nên rút kết luận từ những trường hợp kia, nhiều hơn, để cảnh giác. Qua Pháp, quen với vợ chồng anh Yến trong bao nhiêu năm, không lúc nào nhìn anh chị mà tôi không có cảm tưởng như đang đọc tờ Bách Khoa ở hồi hấp dẫn nhất: anh chị là những người hiếm hoi có khả năng làm tôi mất lập trường.
Hạnh phúc giữa anh chị là chiếc nhẫn cưới mà làng Mỹ Cang heo hút của xứ Huế xa xăm đeo vào ngón tay của chị mấy chục năm sau khi anh chị bước vào tình sử của báo Bách Khoa. Làng Mỹ Cang có thêm dâu, điều đó có nghĩa là cô dâu mới làm đậm đà thêm tình nghĩa thủy chung của anh Yến với nơi chôn rau cắt rốn. Anh Yến có hai mối tình: nước tôi và vợ tôi. Hai mối tình nhập với nhau làm một như nước một dòng của sông Ô Lâu chảy qua làng Mỹ Cang.
Không phải bỗng nhiên mà tôi mở đầu với tờ Bách Khoa. Anh Yến, trước mắt thế hệ trên năm mươi tuổi, là Bách Khoa. Độc giả ở lứa tuổi ấy biết anh như tác giả được ưa chuộng của những bài viết khoa học phổ thông xuất hiện khá thường xuyên trên tờ báo có uy tín ấy. Nhờ đọc anh mà nhiều người trẻ đã thích khoa học. Trong một giai đoạn lịch sử còn quá hiếm thông tin khoa học, những bài viết dễ hiểu, trong sáng của anh đã mang lại những lượng kiến thức đứng đắn, đáp ứng đúng nhu cầu của những đầu óc vừa mới trưởng thành. Giá anh cứ có cơ hội tiếp tục như thế, vai trò giáo dục của anh đã lớn biết chừng nào!
Nhưng văn hóa Việt Nam nói chung, văn hóa Huế nói riêng, có một điều kỳ lạ, không mấy ai thoát nổi. Chúng ta ai cũng thích văn thơ. Trong bụng mỗi người Việt Nam dường như đều có thầm thì một ông thi sĩ. Phi lục bát bất thành phu phụ. Bất thành trí thức! Người khoa học đến như bác Hoàng Xuân Hãn - mà anh Yến nhắc nhở nhiều lần - cũng đã từng hãnh diện với hai câu thơ bình dân học vụ không kém gì với công trình học giả của bác:
i tờ có móc cả hai
i ngắn có dấu tờ dài thêm ngang
Sĩ tử ngày xưa ai mà chẳng làm thơ? Không làm thơ thì không làm được cả chính trị. Làm sao máu thơ đó không chảy trong huyết quản của sĩ tử ngày nay? Huống hồ sĩ tử đó si tình như anh Yến với cái xứ được mệnh danh là "đẹp và thơ"! Cho nên anh Yến chắp cánh văn thơ vào cây bút khoa học của anh là chuyện tất nhiên. Nhờ đó, nhà khoa học ngày xưa có dịp trải tâm tình với làng xóm, với đất nước, với dân tộc mà anh nồng nàn yêu như con trai mê gái.
Độc giả rất dễ nhận ra nồng độ của trái tim say mê ấy trong những trang nhật ký lý thú này. Riêng tôi, tôi chỉ xin trích ra đây hai chi tiết tầm thường nhất, vụn vặt nhất, nhưng tiêu biểu biết bao cho con người của anh Yến và tình cảm của anh. Tôi thấy đây như hai giọt máu chảy ra từ ngòi bút của anh Yến - nghĩa là từ trái tim trẻ dại của anh.
Giọt máu thứ nhất là bốn chữ "Hắc Ký Ni Sơn". Anh Yến si tình tiếng Việt đến độ Việt hóa cả cái xóm Hacquinière của thiên hạ. Hacquinière nằm trong thung lũng Chevreuse đẹp có tiếng của ngoại ô nam Paris. Vây quanh thung lũng là đồi. Nhà anh Yến nằm chênh vênh trên đồi, xinh xắn nép mình dưới những cây sồi lực lưỡng. Anh Yến nhiều lần âu yếm kể chuyện nhà của anh và khách Huế đến chơi trong sách. Đến chơi, khách lấy xe lửa xuống trạm Hacquinière. Địa danh này biến mất dưới ngòi bút của anh Yến, hóa kiếp Việt Nam thành tên Hắc Ký Ni Sơn. "Hắc Ký Ni" thì trung thực, bộc trực, nghe sao nói vậy. "Sơn" thì hơi ngông đối với dãy đồi con. Nhưng anh Yến cãi: cái tên Hắc Ký Ni Sơn đâu có dài gì hơn Hy Mã Lạp Sơn ? Mà Hy Mã Lạp Sơn thì quá quen tai Việt Nam! Anh có lý quá. Anh có thể nói thêm: chẳng thế mà Hy Mã còn đi cả vào thơ của danh nhân:
Cao vút từng không, băng vượt núi
Trường sơn, Hy Mã Lạp, U Ran
Thì Hắc Ký Ni cũng đi vào văn!
Giọt máu thứ hai, "Xô Thành", có một lịch sử khác, kém hùng vĩ hơn. Chị Yến lớn tuổi, không lên nổi đồi, dù là đồi con. Khách Huế đến chơi cũng vậy thôi, không lên nổi đồi của anh chị trong mùa tuyết, xe trượt mà chân cũng trượt. Cho nên anh chị dời tổ ấm về một căn nhà trong thành phố không xa đó bao nhiêu, thành phố sang, thành phố giàu, thành phố trưởng giả mang tên là Sceaux. Khi anh chị dọn nhà, tôi hồi hộp không biết anh sẽ cho thành phố này hóa kiếp thành tên gì của Việt Nam để ký dưới các bài viết của anh từ đó. Hay thế! Cái thành phố trưởng giả cao sang này được anh Yến ban cho một tên Việt rất bình dân mà cũng rất trung thực: "Xô". Tiếng Việt không thích đơn côi, lẻ loi, nên anh Yến láy đôi tình tứ gọi tên "Xô Thành". Anh quên mất rồi, Huế của anh cũng đơn côi một chữ! Trong các địa danh thành phố ở Việt Nam, dường như chỉ có Vinh đơn côi như thế với Huế. Bởi vậy, tôi thích gọi là "Xô", nghe vui tai, như khi mình gọi tên ở nhà của con. Nhưng anh Yến chắc đã nghĩ đến văn thơ nhiều hơn; chắc anh nghĩ đến khóe mắt của Dương Quý Phi, biết đâu nghĩ đến cả Kiều, khi làm khai sinh cho đứa con thứ hai của anh trước Ủy Ban Nhân Dân xã Mỹ Cang:
Lạ cho cái sóng khuynh thành
Làm cho đổ quán xiêu đình như chơi
Anh Yến là kẻ si tình với tiếng Việt từ khi anh viết cho Bách Khoa. Anh Việt hóa tất cả. Việt hóa cả thiên thần, thổ địa. Việt hóa cả hiện tại, tương lai. Anh Việt hóa vợ. Anh Việt hóa con. Bởi vì anh suốt đời là thằng học trò Mỹ Cang mải mê đi bắn cu xanh.
Cao Huy Thuần
ĐÔI DÒNG TÂM SỰ
Thuở mới qua học ở Pháp vào tuổi đôi mươi, từ những năm thập niên 50, tôi đã bắt đầu thử viết tiếng Việt, viết để khỏi quên tiếng mẹ đẻ, để quen với thành ngữ, để biết sử dụng danh từ, khi mình sống trong một môi trường hoàn toàn Pháp ngữ. Đề tài độc nhất tôi biết hồi đó là khoa học đang học ở trường. Những bài đầu tiên gởi về tờ Đại học ở Huế là những bài giáo khoa. Sau đó mới có yêu cầu những bài phổ thông. Tôi may mắn được anh Lê Ngộ Châu trước tiên nhận đăng trong tờ Bách Khoa ở Sài Gòn. Nhằm lúc vệ tinh nhân tạo liên tục được phóng lên không trung, tôi khai thác lúc ban đầu chủ đề không gian, vũ trụ trước khi mở rộng ra mọi khía cạnh khoa học, không ngoài mục đích thông tin, nhất là cho các độc giả thiếu báo chí, ít sành ngoại ngữ trong nước. Nhắm bạn đọc mức trung học phổ thông, tôi cố gắng viết đừng quá khó đọc. Cố gắng vì ai cũng biết viết phổ thông không phải dễ, nhất là muốn tránh những chi tiết rườm rà hay ngoài đề không có gì là khoa học. Đây là một thách thức mà tôi tự tạo vì ý thức mình không phải là một nhà văn, lại thiếu danh từ khoa học. Cuốn sách đầu giường hồi ấy của tôi là quyển Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn, thật có ích nhưng không đầy đủ. Dù muốn dù không tôi buộc phải đặt ra nhiều từ mới, tra qua xem lại với cuốn Dictionnaire vietnamien chinois français của cha Eugène Gouin được anh Lê Ngộ Châu chủ biên tờ Bách Khoa gởi biếu. Ngày nay tôi rất hãnh diện thấy nhiều từ đã được thông dụng. Dần dần tờ Phổ Thông của nhà thơ Nguyễn Vỹ cũng đòi hỏi và tôi dành cho báo nầy những bài bên lề khoa học, mức có phần thấp hơn một chút, liên quan nhiều hơn đến đời sống hằng ngày. Đến lượt chị Vân Trang ở tờ Hồn Trẻ yêu cầu tôi viết cho các em bé, từ đấy có mục Tại sao? trong ấy ông chú giải thích những hiện tượng thường gặp hằng ngày cho đứa cháu. Cơ quan xuất bản Phạm Quang Khai đã gom góp một số các bài nầy để cho đăng trong hai tập sách Nói chuyện khoa học và Vũ trụ và không gian (1968). Sau đó nhà xuất bản Lửa thiêng tiếp tục cho ra tập Giáo dục tính phái (1973) mà một vài chương đã được chọn đăng trong Bách Khoa. Ngày nay tôi mừng thầm thấy những bài viết không nhiều tham vọng đó đã được đọc và nhiều người lớn tuổi không ngần ngại cho tôi hay lúc tôi hồi hương sau mấy chục năm xa cách. Tôi rất cảm động khi có một nhà báo cho biết anh đã sao giữ những bài của tôi. Và phấn khởi biết bao khi một bạn đọc cũ bảo tôi: Nhờ đọc bài của anh hồi còn ở trung học mà nay tôi dấn thân vào ngành khảo cứu! Một lời nhỏ thôi mà gây cho tôi một mối thích thú lớn lao, mỗi nỗi hân hoan vô tận.
Sau 1975, tôi tạm ngừng viết vì hết còn yêu cầu. Một hôm, gặp bác Hoàng Xuân Hãn ở chùa Trúc Lâm (Villebon, miền nam Paris), tôi vui mừng được bác nhắc lại những bài tôi viết trong Bách Khoa và bác đề nghị cùng tôi in sách khoa học loại Que sais-je của Pháp nhưng chuyện ấn loát và nhất là tài chính phức tạp nên dự án không được thực hiện. Năm 1986, sau chuyến về thăm quê hương lần thứ nhất của tôi, nhiều bạn nghe tôi kể chuyện thấy thích thú và thúc giục tôi viết bài tường thuật. Những bài bút ký đầu tiên tôi chỉ viết về Huế là nơi tôi đã sống suốt thời niên thiếu trước khi đi du học và gởi đăng tờ Sông Hương ở Huế. Dần dần tôi mở rộng phạm vi đề tài, kể chuyện đời sống ở Pháp, ấn tượng những chuyến du hành khắp đất Á Đông, miêu tả những ngôi chùa cổ kính mà tôi may mắn được chiêm ngưỡng đặc biệt gởi về tờ Giác Ngộ. Sau Sông Hương, Người Sông Hương, Tập san Quốc Học, tờ Huế Xưa và Nay chịu nhận đăng rồi đến lượt tờ Nhớ Huế ở Thành phố Hồ Chí Minh, trong chương trình mở rộng ra ngoại quốc, cũng muốn có bài của tôi. Song song với các bài loại bút ký nầy, luôn theo yêu cầu, tôi viết một loạt bài có tính cách thời sự, kinh tế, khoa học đăng ở các tờ Kinh tế Sài gòn, Tuổi trẻ Chủ nhật, Đại Đoàn Kết, Văn hóa Du lịch, Khoa học Phổ thông, Quê Hương, Khoa học và Tổ quốc, Biển, Đất Mới, Hợp Lưu, Đoàn Kết, Hương Sen ở Việt Nam cũng như ở Pháp, Canada, Hoa kỳ. Đặc biệt, cũng theo yêu cầu, tôi mở một mục ở tờ Lao Động xem như là một cánh cửa sổ hé ra nước ngoài. Tôi luôn nghĩ sáng kiến nầy rất xác đáng, cần thiết để mở rộng trí óc cho một số độc giả, nhưng tiếc là điều kiện đăng bài không cho phép tiếp tục. Về mặt khoa học, từ nhiều năm nay, tôi cộng tác thường xuyên với báo Thông tin Khoa học và Công nghệ ở Huế, bắt đầu với anh Lê Phước Thúy, nay đổi tên thành Nghiên cứu và Phát triển. Gần đây, trong tinh thần mở rộng giới bạn đọc, tôi lấy những bài khoa học đã đăng, sửa lại nếu cần, thêm tài liệu cho kịp thời sự rồi lần lượt gởi đăng trong các báo điện tử Khoa học @ Đời sống, Vietsciences, Chim Việt Cành Nam. Tôi cố gắng thực hiện những bài tổng thể hướng về cây thuốc đầy đủ tài liệu hầu mong giúp sức những bạn làm khảo cứu muốn đi sâu vào đề tài.
Những bạn đọc thường xuyên theo dõi những bài viết của tôi khen tôi viết siêng và viết đa dạng. Một cô bạn thời lết ghế nhà trường hiện định cư ở bên trời Úc cho nhiều đoạn tôi viết rất dễ thương. Hiếm nhận được phản ứng của độc giả như những nhà văn có tiếng, những lời bình phẩm tích cực nầy khuyến khích tôi trên đường viết lách. Có bạn phàn nàn không đọc được tất cả các bài của tôi. Thật vậy, bài đăng khắp nơi, sợ rồi một mai đây những bài viết của tôi tản mác bốn phương, chẳng biết đâu mà tìm. Từ đấy có ý kiến gom góp lại thành sách. Tôi ngần ngại vì đọc một bài ngắn dễ lướt qua, đọc cả một cuốn sách liệu sẽ được phản ứng ra sao? Tục ngữ có câu: Gậy ông đập lại lưng ông! So sánh hơn thiệt, với lại cũng nên để lại một chút gì cho con cháu, bạn bè, tôi quyết định cho in một phần các bài viết. Trong tập Gửi thương về Huế (nguyên văn là Gởi, nhà xuất bản sửa lại Gửi như lối nói người Bắc)nầy, tôi chỉ giới hạn một số bài bút ký có liên quan đến Huế mến yêu của tôi là những bài thổ lộ tâm can mang đậm tình quê hương. Mong độc giả thông cảm và tha thứ những tình cảm có khi bộc trực quá chừng.
Tôi xin cám ơn anh Nguyễn Phú Phong đã chịu khó bỏ thì giờ quý báu đọc lại bản thảo và đề nghị vài sửa đổi, anh Gs Cao Huy Thuần cuối hè nóng bức đã chịu hạ tay viết cho vài dòng giới thiệu nồng hậu, anh Gs Mai Quốc Liên mặc dầu công tác bề bộn đã chịu lãnh phần ấn loát cho cuốn sách nhỏ này ra đời.
Hắc Ký Ni Sơn mùa thu 1986
Xô thành mùa xuân 2006
Võ Quang Yến
Tái bút 2012
Trong cuốn tái bản này, các bài được chia thành bốn tập, thêm vào tập năm gồm có những bài phần lớn đăng sau khi cuốn sách xuất bản.
Tập I: Đường về xứ Huế
1- VỀ THĂM QUÊ CŨ

1986: 37 năm từ Sài Gòn ra đi tưởng không hẹn ngày về. Thế mà rồi tôi cũng lên đường về thăm quê cũ. Thật ra, tôi bị thúc dục mọi bề: Huế mong đợi ông Hội trưởng Hội Người Yêu Huế; anh chị cháu chắt ao ước thấy lại hay làm quen đứa em, ông chú, ông cậu, người "ôn" lâu năm đi học xa, đỗ đạt chi đó rồi thành gia thất, lập cơ nghiệp bên phương trời Tây muôn trùng; hai đứa con trai thì đòi cha đưa về thăm nơi chôn nhau cắt rún, nơi hai ông bà nội từ hai bàn tay trắng ra sức làm ăn, xây dựng cơ ngơi để nuôi một bầy con cho thành người. Làm sao chống cự lại được mãnh lực cả một số người đồng hương đang trông chờ, một gia đình đông đúc đang mong ngóng, nhiệt huyết của mấy đứa con "thế hệ thứ hai" sinh trưởng nơi đất khách, chỉ biết quê cha đất tổ qua sách vở, báo chí, dĩa nhạc, băng hình, chứ chính tiếng mẹ đẻ của cha mình cũng chỉ ngập ngừng được vài câu vài lời. Vì vậy tôi nhất quyết lên đường, mặc dầu trong trí óc đầy thắc mắc về những phiền phức, khó khăn mà bạn bè về trước đã kể lại. Nhưng tôi cũng mạnh dạn vì biết không phải về nước hoàn toàn vô danh, những bài viết phổ thông khoa học mấy mươi năm trước thế nào cũng đã có để lại một tiếng vang tích cực. Hơn nữa, với vài ba đề án khoa học, xã hội giúp ích xứ sở trong túi, lẽ nào không được tiếp đón niềm nở.
Thật vậy, xuống sân bay Tân Sơn Nhất là đã thấy ngay cái nồng hậu của người đồng bào, của con cháu trong gia đình. Cuộc tiếp đón nầy chắc chắn là còn vui vẻ hơn nếu trong bước đầu tiên trên đất quê hương không gặp những phiền toái tuy nhỏ và không quan trọng. Mình từ vùng lạnh đến, chưa quen nhiệt độ xứ nóng thì đã phải mồ hôi đầm đìa xếp hàng rất lâu để ra cửa. Vì sao có bốn, năm cái cửa thì chỉ có hai cái mở thôi? Vì sao bà con sống ở Pháp đã học xếp hàng, làm đuôi, về đây lại quên hết, mạnh ai nấy lấn? Sau đó phải qua Hải quan khám xét hành lý, đợi cũng lâu lắm mới đến phiên mình vì người ta kiểm điểm từng vật liệu, tiền nong. Vì sao có lắm người được ưu tiên nhờ một phép lạ nào đó? Vì sao hành khách không được kiểm soát theo thứ tự trình diện trước cửa? Kiểm soát kỹ càng liệu có tìm ra được mọi vụ gian lậu không? Chắc con buôn thì có cách đi của họ hay có ngả khác. Cái lưới tung ra chặn lọc loài kiến tí hon, liệu có bắt giữ được những con voi khổng lồ không? Tôi chưa có thì giờ suy nghĩ về các câu hỏi tràn gập đầu óc thì các anh trong ban liên lạc Huế - Bình Trị Thiên và một cô lộng lẫy trong chiếc áo dài tha thướt, với giọng nói ngọt ngào quen thuộc từ thuở ấu thơ, đã lại chào mừng nghênh tiếp, ân cần trao tặng tôi một đóa hoa tươi. Tôi rất tiếc ở nước ta, vào hồi đó, chưa có tục lệ ôm hôm chào mừng. Ngạc nhiên và biết bao vui sướng. Tôi chưa lại hồn thì họ cho hay: "Anh có gia đình đứng đợi ngoài kia!" Chao ôi, qua cửa kính, hơn ba mươi anh chị, cháu chắt chen lấn trong đám người đang đợi, vươn tay vẫy đón, nỗi vui mừng lộ hẳn trên mặt. Lần lượt bọn cháu chắt làm dấu (vì không nghe được qua cửa kính) giới thiệu từng đứa một vì lúc tôi ra đi, tất cả chúng nó đều chưa sinh ra hoặc còn quá nhỏ. Và phải hơn ba giờ sau tôi mới gặp gỡ được chúng. Tay bắt mặt mừng, hỏi han líu tíu, tôi được tiếp đón quá sức nồng nhiệt như một thần tượng. Trong số người đi đón tôi bùi ngùi không thấy bóng dáng chị ruột tôi, người đã săn sóc nuôi tôi hồi tôi còn nhỏ: chị hằng mong ngóng tôi từ ngày hòa bình trở lại nhưng chị đã mất ít lâu trước khi tôi về! Tôi cũng nhớ tiếc cụ mạ tôi sớm về cỏi Tiên trước lúc tôi lên đường, vượt trùng dương đi tìm miền đất lạ!
Từ Thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã thuê một chiếc xe du lịch cùng hai đứa con và bầy cháu hai mươi sáu mạng chạy ba ngày ra đến Huế. Cuộc hành trình dọc theo xứ sở nầy là một dịp để học lại địa dư miền Nam Trung Việt: Phan Rí nằm đâu so với Phan Rang, Tuy Hòa nằm phía nam hay phía bắc Quy Nhơn? Mặc dầu có những đoạn đường đang sửa chữa, cầu gãy xe phải chạy xuống lòng sông, đường tương đối cũng tốt. Thỉnh thoảng lại được dừng xe tắm biển, ăn vặt. Nước ta sao có lắm trái ngon, vật lạ: chôm chôm Long Khánh, mít tố nữ, nho Phan Rang, thanh long Nha Trang, dừa Quy Nhơn, mía Quảng Ngãi, chưa kể măng cụt, nhãn, xoài, mạch nha, đường phổi,...
Qua Phan Rang phải ghé ngang Tháp Chàm. Quần thể Pô Klong Garai dựng đứng trên Đồi Trầu là nơi thờ vua Pô Romê, có bà vợ thứ ba là công chúa Ngọc Khoa. Đi suốt miền Trung, ngay trên quốc lộ, từ Nha Trang ra Đà Nẵng còn nhiều Tháp Chàm khác: Pô Nagar-Tháp Bà, Bánh Ít - Tháp Bạc, Hưng Thạnh - Tháp Đôi,... biết bao di tích nhắc nhở nàng công chúa Huyền Trân đời Trần đã chịu xa nhà, xa nước để Đại Việt nhận được sính lễ là hai châu Ô Lý từ thuở vua Chế Mân. Những điệu nam ai, nam bằng não nùng ai oán sau nầy nghe ở Huế gợi biết lại bao nhớ nhung, thương tiếc. Xe vượt Tuy Hòa, Quy Nhơn rồi Quảng Ngãi, Quảng Nam, tiến về Hội An, xông qua Vĩnh Điện. Tôi nhắc lại thành phố nhỏ xíu này vì hồi trước tôi đã học ba năm tiểu học ở đây. Xe chạy chậm lại nhưng ngoài cái cầu chứng kiến bao nhiêu nước mắt tuổi nhỏ, tôi chẳng còn nhận ra được một ngôi nhà nào: hơn 40 năm qua và hai cuộc chiền tranh! Chùa Non Nước vẫn đẹp như xưa. Nhưng xe đến quá chậm, chiều mau tàn và khách chỉ còn có trèo lên đỉnh cao nhìn trời, ngắm biển. Ngủ một đêm ở Đà Nẵng rồi sớm hôm sau chúng tôi trèo đèo Hải Vân. Chiếc xe du lịch trục trặc từ lâu, vừa đến chân đèo là máy hỏng hoàn toàn. Thế là một đứa cháu phải trở về Đà Nẵng thuê một xe khác. Mặc dầu lúc nhỏ tôi đã đi nhiều lần khúc đường Huế - Đà Nẵng, đây là lần đầu tiên tôi vượt đèo bằng xe hơi. Đường quanh co và phong cảnh thật hữu tình. Ở mỗi khuỷu đường là một bức tranh mới. Trên trời mây chập chờn cho xứng tên. Dưới chân núi, bãi cát chạy dài, trắng xóa dọc theo nước biển xanh đậm, không một bóng người. Làm sao không nghĩ tới được những bãi biển Hy Lạp, Nam Tư, Ai Cập, Tây Ban Nha,... khách nghỉ hè tấp nập, đông đúc. Xe chạy ngoằn ngoèo xuống đến Lăng Cô. Không còn sò huyết như tôi mong đợi, chỉ có tôm cua ăn cũng đã đời. Và giọng nói đã rời hẳn miệt Đà Nẵng để hướng về phía Huế. Thật ra, từ Nam chạy ra, và nhất là từ Pháp bay về, đến Lăng Cô có thể coi như là đã đến Huế.
Bụi tre, thửa ruộng, con trâu có thể không khác chi mấy ở trong Nam, nhưng đối với tôi đây là quê hương. Còn nhớ hồi nhỏ học trong cuốn sách Tập đọc có bài kể chuyện người đi du lịch khắp nơi, khi về được hỏi nơi nào đẹp hơn cả thì trả lời... Mình chủ quan đến thế ư? Hay là mình quá "yêu Huế một cách lãng mạn", quá trìu mến cái xứ Huế lâu năm xa cách này mà tâm tình bộc lộ quá chừng. Năm ngoái, trong một lá thư gởi về Huế, tôi tâm sự có lẽ hơi nhiều, một vài câu trong thơ đó được chuyển lại Paris, ngay sau đó một bà bạn đã gọi giây nói đến: "Chi mà viết Kim Sanh dữ rứa hè!" Xe chạy còn xa, chưa nhận ra chỗ mà đã thấy bảng vào thành phố Huế. Không mấy chốc xe đến Ngoẹo Dàng Xay, rồi cầu An Cựu. Sông An Cựu, nắng đục mưa trong, còn nhỏ như hồi nào. Chợ An Cựu thấy vẫn chật hẹp và đông đúc. Tôi biết chợ nầy nhiều vì trước khi rời Huế đã ở nhà anh tôi đường Bờ sông An Cựu nay đổi ra đường Phan Châu Trinh. Mấy hôm sau có dịp đi bách bộ lại trước ngôi nhà xưa, thấy có vẻ tiêu điều, mấy cây dừa đã bị đốn gần hết, cái vườn trước nhà không còn nữa, người ta đã dựng vào đó hai cái nhà khác. Đi qua nhà cũ mà lòng hơi tủi vì chẳng có ai đó để đón chào mình; láng giềng đã lẩn tránh nơi xa hay cũng có thể đã thành người thiên cổ! Đã 38 năm rồi, ai ở đây mà còn biết mình nữa? Hai chàng Lưu Nguyễn ngày xưa rời làng có ba ngày mà đã bị lãng quên huống là... Cánh đồng An Cựu vẫn còn đó, cái "bót cò" nay thành trụ sở công an. Nhà Thiên Hựu nổi bật hơn trước vì vườn tược cây cối ít còn. Tôi nhớ hồi làm đội sinh rồi đội trưởng đội "Hùng sư dũng mãnh" đoàn Hướng đạo Lê Lai, đây là nơi dụng võ, tìm đường kín, học truyền tin, sử dụng nút,... Nhưng chưa kịp ôn lại quá khứ tìm về dĩ vãng thì cầu Trường Tiền đã hiện ra trước mắt, tuy gãy một vài, vẫn giữ phong cách ngày xưa. Sông Hương luôn còn gợn sóng, nước chảy đều đều. Thú quá! Trong mấy năm qua đã bao lần nhìn nước sông Seine mà hồi tưởng đến quê nhà. Giờ đây, Hương Giang lẫn lờ như cô gái Huế. Âu yếm nhìn tôi, hai đứa con kéo tôi ra khỏi chốn trầm tư: "Sao, cảm tưởng đầu tiên của ba là thế nào?" Mắt ướm lệ, tôi chỉ biết mỉm cười.
Đường Lê Lợi rồi khách sạn Hương Giang. Tôi được mời ở nhà khách thành phố nhưng còn vài ngày nữa chung sống với gia đình, tôi không nỡ bỏ rời bọn cháu. Ba ngày thăm viếng bà con, mồ mả rồi cung thành, lăng tẩm. Tôi cũng có đem hai con và các cháu về trên bờ sông Ô Lâu, ở cái thôn Mỹ Cang nhỏ xíu, nay thuộc xã Phong Hòa, thăm nơi tôi đã sống thời niên thiếu. Đây là làng mẹ (tôi nguyên quán làng Nam Phổ, nơi mà con gái ở lỗ trèo cau đó) nhưng tôi đã sinh trưởng ở đây, sống những ngày thơ ngây ấu trĩ và sau đó là những ngày cách mạng chớm nở, những buổi cướp chính quyền sôi nổi tưng bừng. Rồi suốt trong hai năm liền, những buổi tập tự vệ náo nhiệt, những hôm tuyên truyền hào hứng, những đêm họp thiếu niên vui tươi... đã để lại trong ký ức tôi biết bao kỷ niệm sống động, êm đềm. Tôi còn nhớ mãi những tối truyền bá quốc ngữ, những mái tóc bạc cặm cụi trên cái bảng gỗ, dưới ánh đèn dầu leo lét; những buổi học hát, tiếng cười giòn của các cô thôn nữ hồn nhiên; những đêm trăng sáng cùng bầy trẻ nô đùa, học tập "chúng ta hôm nay hiệp vầy, cùng nhau nắm tay...", các em còn nhớ không? Rồi cũng đến hôm khai giảng, tôi phải từ biệt làng xóm vô Huế học, cả đoàn thiếu niên tự động lên ga Mỹ Chánh tiễn đưa, sụt sùi nước mắt như biệt từ anh Giải Phóng Quân lên đường ra trận. Sau đó là những ngày khói lửa của một cuộc trường kỳ kháng chiến. Sơ tán rồi mỗi người một ngả. Cả bầy thiếu niên tôi chỉ gặp lại được một ít vì nhiều em đã hy sinh trong hai cuộc chiến tương tàn. Tôi giật mình nghe giới thiệu: "Anh còn nhớ o Sớm không?": tôi còn tìm đôi má ửng hồng của tuổi mười hai! Thế mới thấy sức tàn phá của thời gian nhất là trên phụ nữ miền quê thật là mãnh liệt. Bến Đình còn đó nhưng tôi tìm mãi không ra cây đa đầu làng, bên cạnh chợ cũ, nơi mấy anh em núp bắn cu xanh với cái ná cao su giản dị, và cũng là nơi đã diễn ra những trận đá banh hào hứng trong suốt mấy tháng nghỉ hè. Những trận lụt vừa qua nghe nói cũng đã tàn hại rất nhiều.
Huế bị đổ vỡ khá lớn. Đi một vòng thành nội hay các lăng tẩm thì thấy rõ. Mà ngay ở thành phố cũng còn nhiều vết tích điêu tàn. Công viên trước hai trường Quốc Học (Khải Định cũ) và Hai Bà Trưng (Đồng Khánh cũ) tiêu điều vì thời gian và sau cơn bão số tám năm ngoái. Chỉ còn đài Trận vong chiến sĩ là còn đứng vững. Những cột dàn hoa bây giờ trơ trụi như ở một di tích cổ Hy Lạp không hồn. Bông hoa đây đó chỉ còn vài cây, vết tích của một thời xưa lộng lẫy. Tôi tìm mãi mới thấy được một cây phượng vĩ có ít hoa đỏ thắm. Có lẽ mùa thi đã qua hay vì hết còn hoa phượng, ve sầu cũng im hơi lặng tiếng. Tôi nghe nói đã lâu, bây giờ mới thấy cầu Phú Xuân bắc qua sông Hương, trước trụ sở Ủy ban nhân dân tức là Thừa Phủ lúc trước. Cầu rộng, xe chạy được nhiều, nhưng không có phong cách của cầu Trường Tiền. Đằng khác, nhìn từ cầu Trường Tiền (rét rỉ, cần phải sơn lại) ngó lên Bạch Hổ, sông Hương bị cách đoạn, làm mất một hình ảnh mỹ miều của chốn cố đô.
Tôi may mắn được các bạn chở xe máy cho đi viếng các chùa chiền lân cận: Từ Hiếu, Tây Thiên, Trúc Lâm, Bảo Quốc... Cổ kính như xưa, các chùa tương đối ít bị chiến tranh và bão lụt tàn phá. Từ một chốn náo nhiệt như thành phố Paris về đây, thật là những nơi thâm u tĩnh mịch, tiếng vọng lên chỉ là lời kinh, mõ gõ hay là tiếng chim kêu ríu rít trong rừng. Tôi nhớ lại hồi trước cắm trại gần đây, chắc đã ồn ào phiền nhiễu các nhà sư khá nhiều. Cái chùa đập vào trí óc tôi nhất là chùa Huyền Không. Chùa nầy không nằm bên phía Nam Giao như các chùa khác mà phải ngược dòng sông Hương, lên quá Thiên Mụ rồi còn phải đi nữa mới đến nơi. Chúng tôi viếng được một cái vườn đơn sơ, mộc mạc mà kiến trúc mỹ miều biết bao. Ao sen nhỏ, chiếc cầu tre, túp lều tranh,...mới tạo, mỗi chi tiết tỏ ra một suy nghĩ lâu dài. Khắp nơi, những bài thơ nhỏ gài lên cây, lên lá, lên phên nhà,... nói lên tư duy của các nhà sư, nhất là của người sáng lập, hôm ấy vắng mặt, sau nầy tôi mới được biết là thầy Giới Đức. Huế cũng còn đẹp ở các cảnh thiên nhiên. Ai đã được đi chơi đồi thông Thiên An lấp lánh dưới ánh nắng chiều, sau trận mưa rào, chắc cũng phải ngây ngất như tôi trước núi rừng bát ngát. Xa xa túp lều tranh yên tĩnh thả khói nhẹ vương lên nền trời gợn mây dìu dịu. Gần hơn, một thiếu nữ nhẹ nhàng tiến bước, tà áo dài tung lên trước gió lộng: một hình ảnh giữ lại tất cả tình cảm của khách dạo rừng. Tôi bỗng thông cảm anh chàng băng rừng vượt núi về tìm cưới cho được một người vợ Huế.
Tôi chẳng có được nhiều thì giờ để mơ mộng. Thành phố Huế đợi tôi, trách móc về mấy ngày rồi mà chưa chính thức bắt tay vào việc. Người Huế mình sao câu nệ quá: gặp ông này ông kia phải theo một thứ tự trên dưới! Thời buổi khoa học, thì giờ lại hiếm hoi, vì sao phải mất công với những điều không cần thiết? Dù sao, tôi đã được viếng xí nghiệp Hương Giang làm bút bi, đi thăm tòa soạn Sông Hương. Ông bạn Lê Trọng Sâm, người bạn hồi nhỏ ở làng Phước Tích kế cạnh, cũng lại thăm với ông giám đốc nhà xuất bản Thuận Hóa với một gói sách dày mà các anh đã in. Tôi cũng được gặp nhiều anh họa sĩ như Bửu Chỉ, Phạm Đăng Trí... trong một khu vườn tuyệt đẹp của xứ Huế: vườn An Hiên của bà Lan Hữu. Sau nầy anh Phạm Đăng Trí còn có cho coi tranh ở nhà riêng. Tranh đẹp đã đành rồi mà suy tư của anh còn vương nặng tình cảm Huế. Ban ca nhạc cổ truyền Huế do ông hội trưởng Tôn Thất Toàn dẫn đầu thì tổ chức cho chúng tôi một đêm trình diễn. Tôi thích nhạc Huế, bấy lâu chỉ nghe được qua băng máy, bây giờ được thưởng thức nhạc sống thật là linh động, mê hồn. Giọng ca của các cô Vân Sinh, Thanh Tâm, Minh Mẫn... về ca Huế nay chắc không có giọng nào sánh bằng. Tuy nhiên, nếu nhạc Huế trình diễn trong phòng có cái ấm cúng thân mật, nghe nhạc nầy trên sông Hương, một đêm trăng tỏ, bên nước vỗ nhẹ vào mạng thuyền, thì lại là một hứng thú khác. Thật chăng phải có một tâm hồn rất Huế mới biết thưởng thức những thú vị tế nhị nấy. Sau nầy, tôi rất cảm động khi nghe bảo tuy xa Huế đã lâu tôi vẫn còn giữ nguyên cái giọng Huế thuần túy, không hề lai Nam, lai Bắc, lai Tây. Một lần khác, tôi được khen còn biết ngồi xếp bàn ăn cơm trên chiếu trải dưới đất... Những lời khen chân thành và vô tư này đã chứng minh cho tôi là văn hóa phương Tây dù lâu năm vẫn không lột bỏ được bản chất đã ấp ủ vững bền từ thuở nhỏ và khắc sâu trong lòng mình.
Phải chăng vì cái tâm hồn Huế còn tồn tại mãnh liệt trong lòng mà tôi cũng rất thích đồ ăn Huế. Tôi thật may mắn vì từ Paris các bà trong Hội Người Yêu Huế nấu ăn đã giỏi, về thành phố Hồ Chí Minh gặp mấy đứa cháu gái nấu ăn cũng tuyệt vời, sau đó đến Huế, nơi nguồn cội, thì hết còn đòi hỏi gì thêm. Chỉ có một món rau muống chấm mắm nêm mà cũng phải đợi mấy chục năm mới lại được hưởng cái hương vị thanh tao, đậm đà hơn cả mấy cái pho-mat Camembert hay Roquefort của Pháp. Cá trê kho nghệ, mới ngửi qua mùi đã thấy ngon lành, cary Ấn Độ hay tagin Ma Rôc làm sao sánh bằng. Về Huế ăn ngon thì cũng phải làm việc nhiều. Là dân khoa học, tôi được dẫn đi thăm trường Đại học Tổng hợp, Trung tâm Kỹ thuật Tổng hợp Hướng nghiệp, Bệnh viện Trung ương, Bệnh viện Thành phố. Nhận xét rõ ràng nhất là mình thiếu quá nhiều vật liệu, máy móc, phụ tùng, thuốc men... Một việc giản dị như chiết xuất agar từ rau câu chỉ vàng trồng vớt từ các đầm phá Bình Trị Thiên cũng cần phải dụng cụ tối thiểu mới mong đạt được một mức sản xuất đáng kể. Đằng khác kỹ thuật mình còn kém quá. Tôi hy vọng những cơ quan khảo cứu ở Huế sớm bắt tay nhau làm việc chung thì kết quả mới khả quan hơn. Và trong điều kiện ấy, từ Pháp chúng tôi mới tiếp sức được dễ dàng. Rồi đây, nếu dự án thực hiện được, sẽ có thực tập sinh ta qua Pháp học thêm, những chuyên viên Pháp về Huế hướng dẫn. Vì ngoài đề tài trồng rau câu, chiết xuất agar, còn có vấn đề phát triển đầm phá, nuôi tôm nuôi cá. Các nhà lãnh đạo, ở Huế cũng như ở Hà Nội, đã nhận định sử dụng một cách khoa học tài nguyên đất nước là một việc vô cùng quan trọng cho tương lai đất nước thì ta phải ra công thực hiện những dự án đã phác họa mới mong góp phần đắc lực vào công tác phát triển kinh tế nước nhà.
Các dự án này cũng như hoạt động của Hội Người Yêu Huế, tôi đã có dịp trình bày trong cuộc hội thảo kỷ niệm Hội trường Quốc Học 90 năm. Rất nhiều bạn bè từ khắp các miền đất Việt Nam đã về Huế gặp mặt. Đây là một dịp để thầy trò, bạn cũ tụ họp nhau sau bốn mươi năm xa cách, từ hồi kháng chiến bắt đầu. Anh chị em mỗi người một ngả, con đường đi mỗi người chọn một nơi, bây giờ đứng trước nhau, bắt tay nhau, tình thân ái xưa kia không những còn giữ mà lại có phần quý nhau hơn. Một anh bạn đại tá bảo tôi phận sự dành độc lập cho Tổ quốc của quân nhân đã xong, bây giờ đến lượt các nhà khoa học kỹ thuật, những chuyên viên kinh tế phải ra tay xây dựng kiến thiết đất nước, như vậy nhiều người chọn những con đường khác nhau sẽ bổ túc cho nhau. Cảm động nhất là hôm một số anh em tổ chức đi thăm một anh bạn học cũ ở ngoài Triều Sơn Tây không về dự Hội trường Quốc Học. Trời hôm ấy mưa dầm dề, may nhờ mượn được một chiếc xe quân đội. Từ xa, tôi đã nhận ra được anh ta, tóc bạc răng sún vì đã trải qua biết bao cực khổ trong những năm tranh đấu. Mặc dầu nhiều năm xa cách, anh ta cũng nhận ra tôi ngay, vừa cười lớn, vừa tiến lại ôm choàng tôi, hai tay vỗ mạnh vào vai tôi tưởng như bầm tím sau kỳ hội ngộ đó. Đôi mắt ngấn lệ, bọn tôi nhìn nhau bật cười thỏa mãn. Sau đó cả bọn bạn cũ, văn sĩ, thi sĩ, họa sĩ, sĩ quan, kỹ sư, giáo sư... quây quần với nhau dưới mái hiên nhà và được chị bạn cho ăn nào bánh bèo, nào chè đậu quyên. Thì ra anh chị đã sửa soạn đón chúng tôi từ trước, hú vía, nếu không đến được thì họ sẽ thất vọng đến mức nào! Sau nầy anh bạn cho biết từ trong khu đã theo dõi sinh hoạt của tôi qua các tờ Đại Học, Bách Khoa, Phổ Thông nhưng không biết khuynh hướng của tôi ngả về phía nào. Vừa rồi đọc Sông Hương thấy tên tôi ghép liền với Hội Người Yêu Huế mới hí hửng mừng thầm. Mấy ai được sống những phút chờ đợi bạn cũ hào hứng như vậy.
Năm tuần sống động ở quê hương, nhiều ngày đầm ấm với gia đình, một buổi chiều rạo rực trong ánh nắng vàng, một tối dạo chơi nghe đàn hát trên sông Hương,... biết bao kỷ niệm đã cắt đứt một mảnh tim tôi giữ lại nơi quê nhà. Vào những hôm đi thuyền gông-đôn trên các kênh Venitia trong đêm tối, những chiều chạy ghe phơ-lut ngược dòng sông Nil vào lúc mặt trời sắp lặn, tôi không sao không khỏi so sánh với cuộc đi dạo trên sông Hương. Giờ đây, những đêm trăng sáng, chắc lại phải mò về xóm La Tinh, nhìn nước sông Seine chảy để mơ về Hương Giang bên kia chân trời.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 9.1986
Sông Hương 24 1987.
2- VỀ LÀM DÂU HUẾ
Hơn 30 năm chung sống, nhà tôi đã được tôi kể cho nghe nhiều về cảnh đẹp, người hiền của nước Việt Nam ta, về những buổi nghe hát trên sông Hương một tối trăng tỏ, những buổi tắm đêm giữa sông Ô Lâu ngoài thôn Mỹ Cang, những mùa thi cử phượng đỏ rực trời, ve kêu rầu rĩ... Quê hương tôi nghe kể sao vui tươi đẹp đẽ lại đầy dẫy cảm tình nên nàng cứ náo nức mãi. Năm nay, không dằn lòng được, tôi chịu đem nàng và mụn gái út thăm làng xưa xóm cũ của tôi cũng như nàng đã từng đưa tôi về viếng vùng Morvan hẻo lánh của nàng, quanh năm mưa lạnh nhưng kỷ niềm tràn trề. Vả lại hai năm trước đây, hai đứa con trai đã theo tôi về thăm quê cha đất tổ.
Tôi về trước nên khi nhà tôi và con gái đến sân bay Tân Sơn Nhất thì đã có tôi và bầy cháu chắt lại đón. Tôi đã giải thích về Hải quan phức tạp nên cả hai mẹ con đều chờ đợi những thủ tục phiền toái. Không ai dè không đầy một giờ sau khi máy bay hạ cánh, bập bẹ mấy câu tiếng Việt vừa học "Tôi hiểu được chút ít chứ chưa nói thạo" nàng đưa con ra khỏi cửa dễ dàng như ở một phi trường châu Âu, trước những con mắt tháng phục của bà con đi đón. Có lẽ mái tóc vàng của nàng thêm vào một bộ mặt bỡ ngỡ đã gây cảm tình và thuyết phục anh hải quan dễ dãi cho nàng.
Tôi đã từng kể cho nhà tôi nghe về đại gia đình ở nước ta, bây giờ nàng mới thực sự chứng kiến cái đông đúc của các anh chị em và bầy cháu chắt. Nào thím, nào mợ, nào cô, nào bà, các câu chào tới tấp, các bó hoa trao tay, làm sao phân biệt được ai là bạn bè Hội đồng hương Huế, ai là thân nhân ruột thịt hớn hở mặt mày. May là tôi đã chuẩn bị soạn trước một danh sách gia đình loại cây gia phả để nhà tôi và con gái lanh chóng kiểm nhận được vị trí của mỗi người. Lần đầu tiên gia đình tôi tiếp đón một cô dâu Pháp, một đứa cháu gái lai, nên ai cũng tò mò muốn nhìn tận mắt, rờ tận tay, vì từ lâu ai cũng náo nức muốn gặp mà chỉ nghe mô tả qua thư từ hay ngắm nhìn trong hình ảnh. Mặc dầu đã nghe nói trước, ai cũng ngạc nhiên nhìn hai người sinh sống bên trời Âu cầm đũa thành thạo và gọi đích danh các món ăn bằng tiếng Việt, phản ứng gần như một người ở quê nhà.
Về đến nhà cô cháu, đến lượt nhà tôi và con gái tiếp xúc với thực tại tiện nghi. Nhà không có phòng riêng, cửa sổ thì mở ra ngoài hành lang có người qua lại. Bếp núc, bể rửa đặt ngay dưới đất, khi nấu ăn hay rửa chén đọi phải lum khum hay ngồi chỏ hỏ. Nước khi có khi không, nhiều khi có thì áp lực lại quá yếu để nước phun ra khỏi vòi, phải lấy gáo múc từ lu ra,... May mà cô cháu mượn được tấm nệm không thì khổ cho cái lưng, ít cho nhà tôi mà nhiều cho tôi, lâu ngay quên nằm giường tre, phản gỗ. Lần đầu tiên nằm trong mùng một đêm trời nóng thấy ngột ngạt nhưng bị muỗi cắn còn khó chịu hơn. Cũng may nhà mát mẻ, thoáng khí nên dù không có máy điều hòa, quạt điện cũng chịu đựng được. Thấy ra tuy tiện nghi sơ sài, rút cuộc cũng đầy đủ : tôi nghĩ đến đề nghị của ai đó cho phép tư nhân đón tiếp du khách tại nhà như ở các nước Âu Mỹ, rất cần thiết hiện nay vào lúc hệ thống khách sạn chưa hoàn hảo mà mong ước mở mang du lịch lại lớn.
Sau một hôm nghỉ sức, làm thủ tục nhập cảnh và được chở xe Honda đi dạo quanh thành phố (một phương tiện di chuyển rất tiện lợi, vừa lanh chóng, vừa mát mẻ, thoáng khí lại mặc sức xem xét xung quanh), nhà tôi và con gái theo tôi cùng bầy cháu chắt thuê xe ô tô ra Huế. Như đã thấy hai năm trước, đường sá trong Nam tương đối tốt, càng ra ngoài Bắc càng xấu hơn. Đoạn đường quanh Phan Rang là tệ nhất. Có khi cầu sửa, xe phải chạy xuống lòng sông, may mà về hè nên sông khô cạn. Nhiều khúc đường biến thành công trường nhưng như tuồng tốc độ hư hỏng lớn hơn tốc độ sửa chữa nên cứ sợ với đà nầy vài năm nữa đường vẫn còn xấu. So với hai năm trước, năm nay đường xấu hơn nhiều. Cần ra Huế gấp cho kịp công tác nên chạy hai ngày xe đã đến nơi.
Từ hai năm nay, Huế chẳng có chi thay đổi: cầu Trường Tiền vẫn còn gãy một vài, nhà khách Hương Giang 2 không cao lên mấy chút, xe xích lô vẫn thiếu nệm, xe thồ chạy kêu khách như xưa. Chỉ có giá cả đồng tiền là thay đổi, cũng như mọi nơi trong nước. Và cũng vì chuyện đồng mới đồng cũ mà tôi bị hớ một lần. Hôm ấy muốn đi xe thồ từ khách sạn Hương Giang lên bệnh viện, anh đạp xe đòi tôi 10 đồng. Thấy rẻ quá, khi xuống xe, tôi trả anh ta 50 đồng. Anh ta mỉm cười cám ơn. Sau nầy người ta giải thích cho tôi nhưng đã chậm mất rồi, 10 đồng anh ta đòi là 100 đồng đó. Thì ra anh đạp xe, có lẽ là một nhà trí thức thiếu thốn, vẫn còn giữ phong cách người dân Huế xưa. Giờ đây tôi chỉ biết xin lỗi anh trên trang giấy nầy. Sau này, ở trong Nam thì không như vậy. Nhà tôi thường được xem là bà Liên Xô mà ở Huế thì không khi nào bị lôi thôi với chuyện trả tiền xe xích lô. Ở thành phố Hồ Chí Minh, khi thấy tôi là Việt kiều và nhà tôi là người ngoại quốc thì anh phu xe nhân đôi giá tiền lúc xuống xe nếu không là nhân ba, nhân năm so với giá đã mặc cả!
Để tránh, hay nói đúng hơn để thu nhỏ thất vọng, tôi thường giảng cho nhà tôi rất tiêu cực về điều kiện sinh sống làm ăn ở Việt Nam nói chung, ở Huế nói riêng. Nhưng chúng tôi là khách, có khi là khách quý, nên nhà tôi khó lòng nhận định được thiếu thốn của dân ta. Chỉ khi đi ăn tối nhà bạn, thấy bị cắt điện, có nhiều xóm gần như thường xuyên mỗi tối, mới biết là có vấn đề. Không biết vì ăn dưới ánh đèn dầu hay đèn sáp nên rất ngon hơn hay chính các bà bạn nấu ăn giỏi quá. Chúng tôi được nếm cá đủ loại, nấu đủ mọi cách, đủ các món chè, đặc biệt món chè bột lọc bọc thịt quay, lâu ngày quá quên mất mùi vị, và một món chè ít thấy nhưng khẩu vị thật đặc biệt: chè thưng! Nhà tôi còn nhớ mãi chuyện đi xe xích lô. Nàng vừa lo sợ vừa thán phục anh phu xe. Một hôm chúng tôi được chở đi An Cựu ban đêm, đường sá không đèn, xích lô cũng không có mà xe cộ đi lại thật lại đông đúc. Anh phu xe vừa đạp thật lanh vừa rung lục lạc, dùng tai thế mắt, chỉ nghe thôi mà không vấp váp đụng chạm gì hết. Ở Việt Nam, đi qua đường thường cứ thong thả tiến bước, xe cộ tự động tránh người đi bộ, lưỡng lự là dễ bị tông. Mỗi lần đi xe thồ, xích lô cũng như khi đi bộ dọc đường, nhất là ở trong Nam, bạn bè khuyên nên để ý hành lý, xắc tay để khỏi bị mất cắp. Chúng tôi chưa từng thấy giữa đường có ai bị giật bóp, rút kẹp. Chỉ có một lần ở Đà Lạt, chắc có người quá thương muốn giữ tôi lại nên rọc bị mượn mất cái thẻ hộ chiếu của tôi, mãi khi gần rời nước mới trả lại, làm tôi mất không biết thời giờ khai báo và gần suốt thời gian ở Việt Nam tôi đi lại chỉ với một tờ khai mất giấy.
Về Huế, tôi tranh thủ đưa nhà tôi, con gái và cháu chắt đi xem Đại Nội, lăng tẩm, chùa chiền, đi đò ngược dòng sông Hương hay nghe hát trên sông. Lần này, dùng dằng ở Tử cấm thành, lủi qua đám cỏ bao phủ nền gạch rêu xanh, tôi không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến quá khứ lộng lẫy của chốn vương triều. Ngoài các lăng gần thành phố dễ đi như các lăng Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Khải Định, năm nay chúng tôi được dẫn đi viếng lăng Gia Long. Trời nắng nóng mà chỉ có thể đi bộ đến thì cũng có phần mệt, nhưng đây là một cố gắng đáng làm. Chỉ có hơn 160 năm mà mồ mả điêu tàn, nhà thờ đổ vỡ. Tuy vậy, lên đây nhìn phong cảnh quanh lăng, rừng núi hoang vu mới cảm thấy cái hùng vĩ của đất nước. Tôi cũng có dịp trở lại thăm chùa Từ Hiếu cổ kính, được mấy thầy cho ăn mấy trái khế ngọt lịm vừa mới hái ngay trong sân chùa trên cây đã sống qua một thế kỷ. Tại chùa Đông Thuyền thì chúng tôi được sư bà Diệu Không mời dùng cơm chay: nghệ thuật nấu nướng ở Huế, nhất là cách nấu đồ lạt, thật là tinh vi. Đặc biệt tôi được dự kiến sư ông Trúc Lâm biểu diễn đánh trống ở chùa Vạn Phước: người lớn tưổi như ông mà sao thấy còn dẻo dang quá sức. Tôi không thể không đưa gia đình lên viếng lại chùa Huyền Không đã có dịp chiêm ngưỡng hai năm trước. Lần nầy, chúng tôi may mắn được thấy Giới Đức mời dùng trà và dẫn đi xem phong lan, cây kiểng. Trên vách tường vẫn còn treo la liệt những bài thơ viết họa như các bức tranh, chứng tỏ cảm tưởng đầu tiên của tôi là đúng: các thầy đã có tâm hồn rất thi sĩ mới trang trí được một vườn chùa tao nhã như vậy. Rời chùa ra về mà lòng tôi còn vấn vương, không biết trong đời mình biết bao giờ mới được rảnh rang để đi vãn cảnh chùa, ngắm hoa phong lan và ngồi đàm đạo với các vị chân tu. Lần này tôi vẫn còn xúc động khi nghe ca Huế trên sông, có khi dưới trăng tỏ, có khi giữa trời tối đen. Nhà tôi thì chưa chắc đã biết thưởng thức đúng mức các bản nam ai, nam bình dù mấy điệu hò phần nào dường như đã chinh phục được nàng vì có lúc nàng tỏ ra cảm động, nắm chặt tay tôi như để thầm bảo nàng thông cảm tôi và muốn cùng tôi rung động trong giây phút tao nhã ấy.
Tất cả cháu chắt đều theo vợ chồng tôi về thăm làng Mỹ Cang trên bờ sông Ô Lâu gần Quảng Trị. Tôi dẫn cả gia đình đi xem chỗ nhà cũ của cụ mạ tôi, bây giờ chỉ còn dấu vết một cái nền nhà giữa vườn sắn sum sê. Cạnh nhà, bàn thờ Nghĩa trũng còn nguyên vẹn trong lúc đình chùa xung quanh đều bị khói lửa phá hủy tan hoang. Tôi còn nhớ năm 1947, vào lúc quân Pháp hăm he đổ bộ vào miền Trung, trong đêm Lửa thiêng mồng 1 tháng 5, bao nhiêu miếu đình địch quân có thể dùng làm doanh trại đều bị đốt cháy, cả vùng rực lửa và tiếng nổ lách tách không ngớt suốt đêm. Bến Đình quen thuộc cả một thời thơ ấu vẫn còn đấy nhưng cây đa che bóng chợ cũ thì bị gãy từ lâu. Bà con bên ngoại và người quen thuộc nghe tin chúng tôi về đã tụ lại gặp gỡ đông đúc, và quanh nồi sắn, rổ khoai, chúng tôi đã ôn lại những kỷ niệm xa xưa của một thời không còn nữa. Dĩ vãng vui tươi, đầm ấm, chắc nhà tôi cũng cảm thấy tuy không còn phim bóng, băng thanh thời trước, bao nhiêu hình ảnh đẹp đẽ hầu như lạt phai dần như dòng nước sông Ô Lâu thong thả chảy ra tan hòa vào Biển Đông.
Nhà tôi theo tôi về Huế không phải chỉ để thăm gia đình, viếng mồ mả, làm quen với bạn bè của tôi. Nàng hy vọng về làm dâu Huế với tất cả nhiệt tình của một nhà giáo yêu nghề. Trường Đại học Tổng hợp cần tăng cường dự án nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar? Nàng cùng tôi tiếp sức anh Daniel Christiaen, giám đốc hảng Pronatec, làm việc với các cơ quan đại học và xí nghiệp hầu mong đi đến một thỏa hiệp hợp tác giữa Huế và Lille trong ngành khảo cứu cũng như bên phía sản xuất. Khoa Hóa có yêu cầu muốn biết về các phương pháp mới trong môn hóa học hữu cơ: một buổi nói chuyện đã được tổ chức ngay với các giáo viên, giáo sư đại học và cao đẳng sư phạm. Hội Pháp Ngữ mong muốn phát triển trong tương lai? Sau nhiều buổi tiếp xúc, bàn cãi, nàng nhận lời thay mặt Hội tiếp xúc với các cơ quan Pháp có thẩm quyền. Ngày nay mấy ai biết chúng tôi đã khởi đầu công tác thành lập Alliance Française ở Việt Nam ngay từ Paris? Những hoạt động khác biệt nầy thật ra nằm trong một phạm vi: là giảng sư đại học và khảo cứu viên khoa học, nàng chỉ muốn đem kiến thức của mình phục vụ quê chồng. Sau nầy ở thành phố Hồ Chí Minh, nàng còn nói chuyện, thuyết minh ở trường Đại học Tổng hợp, Viện Khoa học, không những về hóa học mà còn về các phương pháp giáo huấn, cách tổ chức ở các trường kỹ sư hóa học ở Pháp. Ở đâu, nàng cũng nhận thấy một thế hệ thanh niên tò mò, hiếu học và đấy là điểm hết sức tích cực trong một bầu không khí không được phấn khởi lắm hiện nay ở nước ta: nhiều bạn giáo viên, nhất là ở cấp trung học, đã than phiền học sinh không chịu học hành nữa vì không thấy ngõ ra của nhà trường, không thấy một tương lai nếu không sáng lạng thì ít nhất cũng đúng mức dành cho kẻ cặm cụi dùi mài. Đây là một vấn đề quan trọng, to lớn, dính dấp đến nhiều lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế,... mà các nhà lãnh đạo phải kiếm cách giải quyết gấp rút.
Trên máy bay về Pháp, lẽ tất nhiên chúng tôi chỉ nói chuyện về Việt Nam, về Huế, chuyện gia đình, công tác, chuyện các dự án đã bắt đầu, các tiến triển trong tương lai, và chúng tôi mừng thầm nhận thấy trước tình thế khó khăn về kinh tế của đất nước đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu lạc quan. Riêng phần tôi không tiếc đã đưa vợ về thăm xóm xưa làng cũ, còn nhà tôi thì rất hân hoan phấn khởi, đinh ninh có thể làm được chút gì, không nhiều thì ít cho đất nước quê chồng.
Hắc ký Ni Sơn tháng 9.1988
Sông Hương 34 1988.
3- LẠI MỘT LẦN VỀ THĂM HUẾ
Từ mười hai năm nay, nghĩa là từ ngày về Huế lần đầu tiên nhân lễ 90 năm Quốc Học và 5 năm Sông Hương, tôi đã nhiều lần trở qua Huế nhưng thường đi công tác với bạn nước ngoài, không ở được lâu, có khi chỉ lướt qua một, hai hôm. Có bạn đã trách tôi về thăm Huế như gió thoảng, mây bay làm như mình là con người vô tình với nơi chôn nhau cắt rốn. Lần nầy, tôi muốn đánh dấu 50 năm xa Huế. Thêm nữa, nhà tôi lại có yêu cầu ở lại lâu lâu để có dịp đi sâu hơn vào đời sống, văn hóa của xứ sở ông chồng. Thật vậy, hơn mấy chục năm chung sống với một người gốc Huế, ngày ngày nghe nói chuyện Huế, xem hình ảnh Huế, thưởng thức nhạc Huế, nàng ước mong tận mắt thấy, tận tai nghe, tận mũi ngửi hương vị của chốn cố đô cổ kính mà tập san Đô Thành Hiếu Cổ trong hơn 30 năm đã không ngớt miêu tả, ca ngợi.
Như mọi lần, chúng tôi được ân cần tiếp đón, từ các anh chị trong các ủy ban, Trường Đại học Mỹ thuật, sở Khoa học Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, qua những bạn bè xa xưa, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi chắc phải chạy theo đời sống mới, các bạn hết còn thì giờ cùng chúng tôi chén thù chén tạc như những lần trước, ngồi ôn lại những kỷ niệm vui buồn của thời non trẻ. Trái lại có bạn mới quen lại rất sốt sắng, chịu khó chạy tìm sách báo, tài liệu, một lần biếu ngay cả tập sách quý của mình khi thấy chúng tôi gặp khó khăn làm thủ tục gởi về Pháp mấy pho sách sao chụp. Xin thành thật đa tạ. Thấy ra mấy bài báo tôi viết trước đây đã để lại một chút dư vang. Có người hỏi han về những thông tin mới, cũng có bạn nhắc tới những bài viết thuở xưa trong các báo Phổ Thông, Bách Khoa, Đại Học làm tôi tưởng nhớ lại cả một thời sinh viên đầy nhiệt tình, nhiệt huyết.

Nói đến đời sống mới thì dễ thấy nó đang lên ở chốn kinh kỳ. Chỉ bước tới đường Lê Lợi, từ đầu cầu Trường Tiền xuống đến Đập Đá là thấy ngay tốc độ của cuộc chạy đua rầm rộ vào không gian du lịch, khách sạn cao lớn (mới nhất là Saigon-Morin, ngay ở chỗ nhà hàng Morin Frères cũ), cửa hàng la liệt, quầy quán đầy đường. Nhiều phòng du lịch mở cửa cả buổi tối, trình bày đủ những chuyến tham quan quanh vùng. Nhiều cửa hàng hình ảnh mở cửa suốt đêm, phục vụ lanh chóng hơn cả Sài Gòn, Hà Nội, mà chất lượng chẳng kém gì những nơi khác. Xe taxi, tuy mới có, chạy đủ theo yêu cầu, gọi thì có ngay, giá cả phải chăng, nghĩa là chẳng đắt hơn ở Sài Gòn và thấy còn rẻ hơn ở Đà Nẵng. Hơn nữa, các anh tài xế mà chúng tôi gặp đều trẻ tuổi, lại lễ phép, có phần dễ thương là điều cần yếu trong ngành dịch vụ. Đáng buồn là cho mấy cậu xích lô, xe thồ, cạnh tranh khó khăn với xe taxi. Vì hiếm khách, các cậu phải năn nỉ, kỳ kèo, làm phiền lòng những du khách chỉ muốn thong dong bách bộ. Với vài chục ngàn đồng mỗi ngày, chắc nghề nầy chẳng còn sống sót được lâu.
Lẽ tất nhiên, như nhiều nước khác đang tìm một lối ra sau nhiều năm chiến tranh hay một thời kỳ ngoại bang đô hộ, du lịch là ngành tương đối dễ xây dựng trong bước đầu để làm nền tảng cho kinh tế. Tuy nhiên, nó không dễ như mới thấy đâu! Tiếp khách du lịch không phải chỉ có khách sạn, quán ăn, phương tiện di chuyển từ máy bay, xe hơi, qua tàu bè, đường sá, mà còn phải lo mặt sách báo, người hướng dẫn, thú tiêu khiển, quà lưu niệm,... Ở Huế, chúng tôi thấy các đội ngũ ca nhạc truyền thống cùng thuyền bè chuyên chở phát triển rất lớn. Đây là một điều đáng mừng vì bên lề khía cạnh thu nhập, ta cống hiến những màn văn nghệ xứ sở, món ăn tinh thần cần yếu nhất là cho những du khách trí thức muốn tích trữ trong đầu óc thêm vài kiến thức văn hóa ngoài lĩnh vực vật chất quà cáp lưu niệm. Nhưng phải coi chừng, người ngoại quốc càng ngày càng đòi hỏi, cần phải luôn trau dồi chất lượng, không thể đàn hát bất cứ bài gì. Chẳng hạn, đi một buổi hát đò mà không nghe được một điệu hò hay một bàn Nam ai, Nam bằng là một thiếu sót. Khi một du khách đặt câu hỏi: "hò mái nhì và hò mái đẩy khác nhau thế nào?", hướng dẫn viên không thể ứng khẩu đặt bày một câu trả lời. Một hôm đi ngang một khách sạn lớn, chúng tôi nghe kèn trống inh ỏi. Nếu tổ chức một đám cưới vương tôn giả thì không sao. Nếu là một cuộc lễ cung đình thì khác: đây là truyền thống của đất nước ta, có nên đem ra làm trò mua vui không? Hôm ở trong Đại Nội cũng vậy. Nhiều bộ y phục vua chúa đang được sửa soạn để cho khách mặc trước khi lên ngai vàng chụp ảnh. Nếu làm ở một căn nhà nào đó thì không có vấn đề, nhưng thực hiện ở điện Thái Hòa thì là một chuyện vô lễ không tha thứ được. Vua chúa dù sao là những bậc đáng được thờ kính, ta không thể đưa ra làm trò. Cũng trong vòng lễ nghĩa, tưởng nên cấm tiệt du khách ở trần hay mặc quần đùi đi vào các nhà thờ, nhà chùa, điện đài nghiêm chỉnh. Cần nên biết chăng mình phải biết tự trọng mới mong người ta trọng mình và càng nghiêm khắc người ta lại càng quý mình hơn.
Vẫn trong lĩnh vực du lịch, nghề làm hướng dẫn viên đang thu hút nhiều thanh niên thiếu nữ, kể cả những sinh viên tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm. Đồng lương giáo viên không bao lăm, lẽ tất nhiên các cô cậu có học sinh ngữ tìm được một lối ra dễ thở trong ngành nầy. Cái khó mà chắc là họ sẽ thấy ngay khi vào nghề là vốn liếng lịch sử, văn hóa. Ngày nay, khách du lịch sành sõi lắm: nếu có người như trước kia đi cho biết mà thôi, nhiều vị bây giờ sửa soạn kỹ càng, tài liệu đầy túi trước khi viếng thăm một địa điểm. Như vậy nghĩa là hướng dẫn viên không thể giải thích bất cứ thế nào: đỉnh đồng trong Đại Nội không phải để thắp hương, Quan Âm không phải là Madame Bouddha. Một hôm ở chùa Thiên Mụ, chúng tôi lặng người sửng sốt nghe một thanh niên giải thích bằng tiếng Pháp đức Di Lặc chỉ là một ông Thần Tài và ngạc nhiên không thấy bầy trẻ quấn quít ông. Giỏi ngoại ngữ chưa đủ, hướng dẫn viên trong trường hợp nầy, nếu không thông thạo Phật giáo, ít nhất cũng cần phải am hiểu chút ít Tam thế, phân biệt các vị Phật quá khứ, hiện tại, vị lai... Nếu du khách chỉ biết đạo giáo nước ta qua lời giảng ngắn ngủi thiếu thốn nầy thì e rằng họ sẽ không những có một ý niệm sai lầm mà còn phán xét không tốt về tín ngưỡng của ta. Tôi còn nhớ có đọc đâu đây, cũng ở chùa Thiên Mụ, một hướng dẫn viên dịch "canh gà" là "chicken soup " trong câu thơ bất hủ "Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương". Thế mới biết trình độ văn hóa quan trọng đến bực nào! Trong ý thức này, tôi mừng thấy một nhà văn đã được bổ nhiệm làm Giám đốc sở Ngoại vụ tỉnh Thừa Thiên - Huế.
Qua CODEV Việt Pháp, chúng tôi biết tiểu công nghệ đang trên đà phát triển. Tuy nhiên, hôm đi dạo dọc theo bờ sông An Cựu, ghé thăm xóm Phủ Cam, chúng tôi ngạc nhiên không tìm ra các nhà chằm nón đầy dẫy những năm trước. Xuống Vỹ Dạ, qua Cồn Hến, thấy ngành làm mũ có vẻ phát đạt, tuy vậy cũng nghe có người phàn nàn không có việc làm mặc dầu ở trong nghề đã nhiều năm. Lên Kim Long, tiệm hàng gỗ sơn mài tôi có ghé lại trước đây không còn nữa. Trái lại ở Nam Phổ quê tôi, chúng tôi được đưa vào xem một xưởng chạm trổ với một nghệ nhân tỏ vẻ yêu nghề. Tôi sực nhớ những đầu rồng trên các thuyền du lịch sao thiếu mỹ thuật quá, tương tự như ở các xưởng phim nghèo làm lâu đài bằng giấy các tông để làm phông các màn phim chiếu hay vật liệu trang hoàng trong nhà nhiều người mới giàu lên. Tại sao không cậy những thợ chạm trổ dư sức thực hiện những đầu rồng có chất lượng của một vùng chuyên môn? Huế có truyền thống về chạm trổ, cũng như sơn mài, thêu dệt, thấy như những khả năng nầy chưa được khai thác hoàn toàn. Tôi muốn đề cập đến mức xuất khẩu chứ không chỉ giới hạn ở những món hàng bày bán trong các cửa hàng du lịch.
Ăn uống như thuở nào vẫn phát đạt, không khác gì những thành phố khác. Tuy vậy, như tuồng quán cơm, tiệm nước mọc ra có phần nhiều hơn. Có lẽ lần nầy ở lại lâu, có thì giờ lặn lội đi tìm nên chúng tôi có cảm tưởng như vậy. Dù sao, mấy tuần ở Huế đã hiến chúng tôi cơ hội để thưởng thức các quán bèo-nậm-lọc cạnh cung An Định, bánh khoái ở Bến Ngự, Đông Ba, chè đủ loại khắp nơi, là những món thành phố nào cũng có nhưng không ngon bằng, đặc biệt rất hiếm ở Paris mà hương vị cũng lại khác. Cái thích thú nữa là ở các quán này ăn uống vào giờ giấc nào cũng được, đặc biệt món chè, không nhất thiết phải dọn như món tráng miệng sau bữa cơm mà để ăn vặt suốt ngày ! Kỳ về lần nầy, đặc biệt chúng tôi được bà con ở Nam Phổ cho ăn cháo bánh canh. Cháo bánh canh mà ăn ở Nam Phổ thì không đâu sánh bằng. Hôm đi tản mạn trong thành nội, chúng tôi lại may mắn gặp được một quán bán bánh su sê, một cái bánh độc đáo của quê tôi mà ngày nay hầu như mai một. Trong các thứ trái cây, ngoài chuối, thơm, cam, quýt, những trái khá hiếm ở phương trời Tây là nhãn, vẫn ngon tuy hột có hơi lớn, và xoài, loại xoài cát ngọt lịm mặc dầu dẹp và không to bằng xoài tượng ở trong Nam.
Tuy chưa hoàn toàn phổ biến, ta có lệ kêu nước uống trong bữa cơm thay cho tô canh, mặc dầu canh chua nấu ngon có thể là thành phần chính trong thực đơn. Nếu nước khoáng thường dành cho người ngoại quốc, bia là một thức uống được nhiều người ưa chuộng. Chưa được gởi ra nước ngoài như Halida của Hà Nội hay Tsing Tsao của Trung Hoa, Huda của Huế chất lượng cũng không kém gì (chú thích: tôi không có cổ phần trong hiệu bia này!) và đi đâu cũng tìm thấy chứ không phải như bia Sông Hàn ở Đà Nẵng hỏi mãi không ra. Nhưng uống nước thì thường người ta thường uống trong các tiệm nước, rất may ít có karaôkê như nhiều nơi khác. Tôi đã có đọc những bài tường thuật về cách thức quảng cáo Pepsi, Cola ngay từ hôm Hoa Kỳ hủy bỏ cấm vận, nay mới được mục kích rõ ràng. Tuy rất rẻ, quá rẻ so với giá bán ở Âu Mỹ, tôi vẫn tự hỏi làm sao người quen với những đọi nước chè xanh nóng đậm đà, mát cổ lại bỏ quên đi để chấp nhận một thức uống ngoại lai có khi lại độc hại cho cơ thể. Khó khăn của hãng Cola hiện nay có thể giải đáp một phần nào câu hỏi của tôi.
Bên lề nước uống, những quán nước tình cờ lại hiến cho tôi một thích thú bất ngờ. Lúc đầu chỉ là một chuyện ngẫu nhiên, nhưng khi đã nếm mùi thì lại bỏ công đi tìm. Đó là tên các quán nước. Môt hôm tôi được thấy tên quán Giọt đắng, kể đã là lạ, rồi Chiều nhớ cũng thật hay hay. Một chiều trời tốt, cần đợi xem và luôn tiện chụp hình mặt trời lặn trên sông Hương, chúng tôi tìm một chỗ trên bờ sông, rơi vào quán Lộng gió, thể hiện nơi mình đang ngồi. Nhưng thơ mộng hơn là quán Thì thầm trên đường lên lăng, về Pháp lâu rồi mà còn mãi văng vẳng bên tai tiếng gió rì rào trong mấy vườn thông rậm. Sau cùng, như tiếng thở dài của một thiếu phụ có phần trách móc, đấy là tên quán Đã đành trong một ngõ hẻm ở Phú Hiệp nhân hôm đi dạo dọc sông Đông Ba một buổi chiều vàng, nắng ấm, xuống đến Bao Vinh rồi quay về Gia Hội. Ai dám bảo Huế hết còn thơ mộng? Hôm ấy, một anh bạn tò mò chạy xe theo hỏi bọn tôi đi đâu. Anh không dè chúng tôi đi tìm tâm hồn đất nước sau bức hàng rào bông kiểng, trên mấy đọt tre xanh cao, trong tiếng hò ru con văng vẳng từ túp lều tranh tĩnh mịch đồng quê,...
Nếu ở làng xóm chất thơ còn sống động, điện đài lăng tẩm còn vẫn giữ phong cách cổ kính ngày xưa. Nhân lại làm việc với Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô, chúng tôi được hướng dẫn đi xem những miếu điện đang được trùng tu, một dịp để quan sát nhũng sườn kèo mở tung ra ánh sáng, những gian phòng trống rỗng không có bàn kệ trang hoàng. Tuy vậy, chúng tôi cũng lợi dụng cơ hội đi viếng lại cửa Ngọ Môn mà mấy chục năm trước, lúc còn là học sinh tiểu học, tôi đã diễn hành phía trước, phất cờ tung hô khẩu hiệu "Hoàng đế vạn tuế" nhân ngày lễ sinh nhật của vua Bảo Đại, điện Thái Hòa mà năm trường Trung học Khải Định tạm dọn qua đây, học sinh chúng tôi vô phép chen nhau ngồi lên ngai vàng làm vua trong vài ba phút,... Hôm gặp Cựu hoàng đi vác thánh giá nhân tuần lễ thánh ở Paris, tôi có dịp kể lại với Ngài chuyện nầy, cũng như tôi đã có dịp chiêm ngưỡng dung nhan Ngài trên đường lên Nam Giao, Cựu hoàng không có phản ứng như người đã quên bỏ hoàn toàn quá khứ, một dĩ vãng quả đúng là vàng son.
Các anh bên trường Đại học Mỹ thuật có nhã ý thuê đò đi viếng các lăng Gia Long, Minh Mạng và ghé điện Hòn Chén trên đường về. Chúng tôi lần này được các giáo sư trong trường hướng dẫn nên cuộc du hành thật là bổ ích. Chúng tôi vui mừng thấy lăng Gia Long xa xôi từ lâu bỏ quên, nay trên đường được sửa sang lại, điện thờ được dựng đứng, mái lại lợp ngói như xưa. Hôm du ngoạn nầy, trời lại đổ mưa, thành thử suốt thời gian đò chạy, ví chi ngồi ngoài ướt át xem phong cảnh, chúng tôi ngồi quây quần trong sàn đò, quanh mấy ly rượu Minh Mạng Thang của công ty Dược phẩm Thừa Thiên. Đây là lần đầu tiên tôi được thưởng thức loại rượu mới được ra đời gần đây. Rượu uống được nhất trong bình của anh bạn đã có thêm vào mật ong, nhân sâm,... Nghe nói nhiều tỉnh muốn sản xuất loại rượu này. Tôi không tin là rượu bán ra trong thương trường giống hệt rượu các vị vua chúa đã dùng ngày xưa, nhưng vấn đề là thang thuốc thực sự gồm có những cây gì. Nhiều báo chí đã đề cập đến đề tài nầy và ngay ở Huế đã có một hội đồng xét xử. Đứng về mặt khoa học, tưởng cũng nên kê bản các cây đã dùng trong thang thuốc và tìm biết hoạt chất của chúng từ đấy mới mong chỉ định được phân minh thành phần một đơn thuốc bổ ích.
Nói chung, cốt yếu chuyến về Huế lần nầy của chúng tôi là để viếng các chùa. Vì vậy một phần lớn thì giờ đã để dành cho chùa chiền. Nhưng chùa Huế quá nhiều, chúng tôi lại muốn quan sát tường tận nên phải giới hạn lại một số ít, những chùa xưa cổ, có sự tích rõ ràng, có tầm mức quan trọng, có ảnh hưởng lớn lao lên cộng đồng Phật giáo nói chung, lên quần chúng Huế nói riêng. Ngôi chùa được nói đến nhiều nhất ở ngoại quốc là chùa Thiên Mụ. Riêng tập san Đô Thành Hiếu Cổ đã dành nhiều trang miêu tả tường tận. Gần đây chùa lại được UNESCO kê liệt vào Di tích Lịch sử Thế giới đồng thời với thành phố Huế. Có ai đi ngang qua đất Thần Kinh mà không viếng thăm chùa Thiên Mụ? Vì vậy, chúng tôi chú trọng trước tiên đến ngôi chùa nầy, nhưng nhờ các cháu chở xe máy đưa đi, chúng tôi cũng đã viếng thêm các chùa Diệu Đế, Quốc Ân, Bảo Quang, Từ Hiếu, Hồng Ân, Đông Thuyền,... Đâu đâu chúng tôi cũng được tiếp đón niềm nở như những đứa con đi xa về. Các tu sĩ cũng như các cư sĩ không ngần ngại dẫn chúng tôi đi xem các điện và giải thích tường tận mỗi khi có câu hỏi. Ở chùa Báo Quốc, chúng tôi được viếng thăm trường Phật giáo mới thành lập: chưa bao giờ chúng tôi gặp gỡ một số sư thầy, sư cô trẻ và đông như vậy. Ở chùa Trúc Lâm, chúng tôi được xem cả bộ kinh Kim Cang do Tỳ kheo ni Diệu Tâm (Nguyễn Thị Nhu) thêu trên lụa thời Tây Sơn. Ở chùa Kim Tiên, chúng tôi được dự kiến một buổi tán tụng khi các vị sư hiệu chính trước khi lên đường qua Pháp biểu diễn. Ở chùa Từ Đàm, chúng tôi quỳ dự suốt sáng chủ nhật một buổi tụng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, sau khi nghe một vị sư thuyết pháp cần phải đoàn kết hòa giải trong cộng đồng Phật giáo. Đấy là chưa nói đến những cuộc gặp gỡ thân mật với các gia đình Phật tử... thành thử chuyến về quê nầy giúp chúng tôi hiểu biết thêm nhiều về đời sống ở quê hương.
Kể chuyện về thăm cố đô còn thiếu sót nếu tôi không nhắc đến hôm đi viếng cơ sở Nuôi dạy Trẻ mồ côi ở chùa Đức Sơn và nhà trẻ mầm non Hoa Mai ở khu Đống Đa. Ở chùa Đức Sơn, các sư cô đã bỏ công tốn sức biết bao để tự túc xây dựng một nhà trẻ sạch sẽ, đàng hoàng mặc dầu đã gặp đủ thứ khó khăn. Ở nhà trẻ Hoa Mai, ngay ở cửa vào, hai bảng dạy vệ sinh và lễ phép thường thức. Nếu chúng tôi hiểu đúng chị Hiệu trưởng thì các bài dạy nầy không phải chỉ để cho con trẻ mà thôi. Đi quanh một vòng thì thấy mọi phòng đều được tổ chức chu đáo, trẻ em tươm tất, dụng cụ đầy đủ . Vẫn biết đây là công trình mũi nhọn của tỉnh, được UNICEF tài trợ nên mới đầy đủ tiện nghi như vậy và chắc không phải ai cũng có thể gởi con vào đây, nhưng trước mắt những người ngoại quốc lại tham quan, cứu giúp, luôn gặp những cảnh nghèo khổ, lầm than, có nên chăng cần cho họ biết người Việt Nam khi có điều kiện cũng đủ khả năng thực hiện những tác phẩm hoàn hảo, không kém gì bên Âu Mỹ.
Sau cùng, nhân ngắm những đứa bé bụ bẫm, dễ thương ở các nhà trẻ, tôi tưởng cũng cần nêu lên một vấn đề cần được giải quyết nay mai. Từ Pháp tôi nghe nói phong phanh Huế không cho con nuôi nữa. Về đây tôi không có cảm tưởng như vậy. Có người đã biện luận nên cho một đứa bé mồ côi hay bị cha mẹ ruồng bỏ một dịp may tìm được hạnh phúc trong một gia đình xa lạ nhưng tràn đầy tình thương. Suy nghĩ nầy đúng quá. Nhưng những năm sau nầy, chuyện tìm kiếm con nuôi đang vượt quá khuôn khổ nhân đạo để bước qua lĩnh vực kinh tế. Tình cờ làm thông ngôn, tôi biết một bà nọ được cậy giữ một đứa trẻ trong vòng một tháng trong khi chờ đợi cha mẹ nuôi từ Pháp về đón: bà ta đòi tiền công hai triệu đồng ! Khi biết một giáo viên mới ra trường ăn lương mỗi tháng hai trăm ngàn, một vị phục vụ nhà khách ba trăm ngàn thì số tiền kia phải chăng là quá đáng? Tôi sợ đây chỉ là cái chỏm của phiến núi băng trôi. Những tay trung gian khác còn đòi bao nhiêu?
Đây chỉ là chuyện nhỏ trong thời kỳ chạy theo đời sống mới, thời buổi kinh tế thị trường, mọi người đều tìm cách kiếm ăn, làm tiền, cũng dễ hiểu thôi. Tôi hy vọng đấy chỉ là chuyện nhất thời, ít lâu nữa rồi cũng biến mất. Ở Huế hiện có những dự kiến lớn lao trên đường thực hiện mà được bàn tán nhất là đồ án hải cảng Chân Mây đã được dự thảo từ thời chiến. Với một chiều dài 10km, một cái đập 700m, một độ sâu từ 6 đến 14m, cảng vùng biển nước sâu nầy có khả năng cho ra vào những tàu bè 50-70 ngàn tấn. Vùng kinh tế mới sẽ khuếch trương một khu vực dân cư 100-150 ngàn người. Theo dự án, cảng sẽ chuyên chở 2 triệu tấn hàng năm 2005 và qua 2010, số lượng nầy sẽ tăng lên 4 triệu. Nếu thực hiện được như vậy, cảng sẽ phát triển không những Huế - Thừa Thiên mà cả các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, sẽ có ảnh hưởng lớn lên hoạt động của Quảng Nam - Đà Nẵng. Ngày nào đường dây xuất nhập khẩu cảng nối liền miền Trung nước ta với miền Bắc Thái Lan xuyên qua Lào thì ngay cả nền kinh tế Việt Nam cũng sẽ xáo động không ít trong một tương lai tốt đẹp. Những người có trách nhiệm đã tỏ ra thấy xa, nhìn rộng. Phải đợi vài năm nữa mới bắt đầu thấy kết quả và nhân đó nghiêm chỉnh đánh giá nền tảng dự án hiện đang làm nhiều người phân vân. Chúng tôi mong muốn có dịp về lại thăm Huế để theo dõi tiến triển những loại đồ án loại nầy vô cùng hấp dẫn. Một chuyến đi vui vẻ, thành công như vừa qua thúc dục, khuyến khích chúng tôi mau tổ chức một chuyến về khác.
Hắc Ký Ni Sơn xuân 1998
Huế Xưa và Nay 28 1998
4- ĐƯỢC GẶP NHAU
Không phải tôi viết lầm tựa đề cuốn sách của chị Hỷ Khương đâu. Trước khi còn gặp nhau, tất nhiên cần phải được gặp nhau. "Duyên số" "Bắt đầu từ mấy chục năm trước, vào khoảng những thập niên 50-60, lúc tôi còn là một thư sinh nghèo sống tha phương cầu thực ở phương trời Pháp xa thẳm, dùi mài kinh sử để tìm một lối thoát cho tương lai. Thấy mấy bác công nhân qua đây hồi đầu thế chiến, chỉ một chục năm sau đã bắt đầu quên tiếng mẹ đẻ, ăn nói lai căng, tôi hoảng sợ tình cảnh mất gốc quên nước. Sinh sống trong một môi trường Pháp ngữ, tôi cảm thấy cần tiếp tục trau dồi tiếng Việt, hoàn thiện lối viết, sử dụng từ ngữ,... vì thật khi ra đi mang trong mình không bao vốn liếng tiếng mẹ, nhất là nuôi mộng muốn về nước phục vụ một khi học hành xong xuôi. Vì vậy, hồi ấy tôi tranh thủ viết nhiều bài khoa học và phổ thông đủ loại đăng trên báo chí bên nhà, đặc biệt ở các tờ Đại Học, Bách Khoa, Phổ Thông, Hồn Trẻ,... Hai ông chủ bút Lê Ngộ Châu, Nguyễn Vỹ, thay vì trả tiền nhuận bút, gởi qua quà tặng, nào là sách báo, nào là tranh cảnh sơn dầu,... và vài ba cát xét tự thâu vì chưa có bán trên thị trường. Xen lẫn với những khúc nhạc Khánh Ly, Trịnh Công Sơn, Phạm Duy, những bài vè, điệu sáo,... có một câu hò mái nhì
Chiều chiều trước bến Văn Lâu,
Ai ngồi, ai câu, ai sầu, ai thảm...
tưởng là câu hát dân gian như bao nhiều khác, mãi sau này nghe anh Trần Văn Khê nói chuyện mới biết tác giả là cố thi sĩ Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Người trình diễn không ai khác là ái nữ của cụ, quận chúa Tôn Nữ Hỷ Khương.
Một điệu Huế thân thuộc, quen tai, lại thêm một giọng hò tuy thâm trầm nhưng bộc lộ biết bao tình cảm, nhớ nhung đã gây nhiều xúc cảm nơi chàng trai sống xa nước, nhớ nhà nơi đất khách quê người. Thế rồi, như Mỵ Nương đòi thấy Trương Chi, chàng trai si tình ôm ấp nỗi lòng man mác, ước nguyện một ngày mai kia được gặp mặt người có giọng hò quyến rũ ấy mà trí tuởng tượng hình dung một cô gái đế đô dịu hiền, một cô tôn nữ đất Thần kinh yêu kiều như thường được miêu tả trong văn thơ. Và cái gì phải đến rồi cũng đến, kiên nhẫn chờ đợi thì rồi mộng mơ lãng mạn ấy một ngày cũng được thỏa mãn.
Đầu năm 1998, nhân về Huế để nhà tôi sưu tầm tài liệu dự thảo một luận văn về chùa Thiên Mụ, chúng tôi lưu lại Sài Gòn ít lâu. Hôm đi dự lễ Tết học sinh cũ hai trường Đồng Khánh và Quốc Học, chúng tôi được báo chủ nhật tuần sau có cuộc họp đồng hương Thừa Thiên - Huế. Mừng quá, sáng hôm ấy, chúng tôi lại sớm, hi vọng gặp gỡ, trò chuyện được nhiều. Nào ngờ, có mặt chưa được bao lâu thì một anh, có lẽ trong ban tổ chức, lại thỏ thẻ cho biết hôm nay là một cuộc họp nội bộ. Thấy tôi không hiểu ngay, anh nhấn mạnh chỉ là một cuộc họp nội bộ. Chao ôi, một cuộc họp đồng hương mà người đồng hương ở xa về lại bị đuổi đi, chi mà lạ lùng và ốt dột dữ rứa, họa chăng hai chữ đồng hương đã thay đổi định nghĩa qua những biến cố lịch sử. Nhà tôi, một người Pháp học thức trình độ đại học, sống chung với ông chồng Huế mấy chục năm nay, luôn tìm biết cái tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam, cái tinh túy của tâm hồn xứ Huế, cũng không hiểu nổi cái tinh vi độc đáo ấy của cơ chế áp dụng chính sách mở cửa , đổi mới đề xuất từ nhiều năm nay. Nhưng kỷ luật là kỷ luật. Vừa buồn tủi, lại vừa tiếc nuối khi biết có thêm sau đó lễ mừng thọ nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương mà những bài hát đã êm ru suốt đời niên thiếu của tôi.
Chiều tàn trên bến Hương giang lờ trôi,
Bóng chim bay về chân núi xa vời...
chúng tôi lủi thủi ra về, quên ngay cả hai cái máy ảnh trên bàn. Sau nầy, lúc trở lại lấy, nội bộ đang ngoan ngoản chăm chỉ nghe một ca sĩ, ngạc nhiên thấy tôi lặng thinh vô ra, không một liếc mắt, không một nụ cười.
Nhưng duyên số là do trời định. Ngày chủ nhật đáng buồn tủi hôm đó lại cống hiến chúng tôi dịp may trình diện chị Hỷ Khương bấy lâu mong chờ. Tay bắt mặt mừng, biết bao điều nói dù là cuộc gặp gỡ đầu tiên, nhưng vì chúng tôi buộc phải ra về trước nên hẹn tái ngộ sau chuyến thăm Huế của chúng tôi. Hôm ấy, tại tư gia chị, chúng tôi lại hân hạnh được tiếp xúc nữ sĩ Mộng Tuyết, tác giả cuốn Nàng Âu Cơ trong chậu úp mà tôi vừa mới dẫn trong một bài khoa học về trầm hương đăng ở Huế. Chị Hỷ Khương đã biếu tặng chúng tôi hai tập phim về cụ Ưng Bình và cuốn Hồi ký viết về thân phụ kính yêu. Thật là những phẩm vật quý báu nhất là đối với những người con như chúng tôi sống xa quê hương mà lòng luôn hướng về nơi quê cha đất tổ. Những tài liệu về Huế đã giúp chúng tôi sống gần hơn với nơi chôn nhau cắt rún, dễ ôn tưởng lại những kỷ niệm của thời xa xưa. Đặc biệt, chúng tôi lại được nghe giọng hò của chị Hỷ Khương sau nhiều năm thấy như già đặn và thấm thía hơn. Và như để chan hòa tình cảm đã un đúc với những kỷ vật đã nhận được, gần đây, từ Nam Đô chị gởi tặng thêm chúng tôi cuốn sách thơ Còn gặp nhau tiếp nối những thi tập Đợi mùa trăng, Mộng thanh bình ra đời khoảng 30 năm về trước, với những lời đề tặng thân tình.
Tôi không phải là một nhà thơ, không biết thổ lộ tâm tình như Mộng Tuyết thất tiểu muội đã làm trong bài cảm nghĩ về thi phẩm ấy. Tuy nhiên, đọc đi ngẫm lại nhiều lần, tôi thấy xuất phát một cái tình nồng nàn trong thơ của Hỷ Khương
Trước sau chỉ một chút tình
Thiết tha trân trọng để dành cho nhau
tích trữ, chồng chất với nhau thì
Túi tình trĩu nặng bờ vai
Nửa thương nửa nhớ thêm dài giấc mơ
tràn đầy khắp nơi, trong mỗi giờ phút của cuộc sống
Tình cùng thơ nhạc say ngâm hứng
Tình với non sông đẹp bóng hình
dù không đồng điệu với tất cả mọi người
Tri kỷ đời nay dễ mấy người
Trăm năm mua lấy "chút tình" mà thôi!
Như thơ đã phản ảnh, chị là một người đa tình, đa cảm
Tưởng đã mất trong cuộc tình dang dở
Nào ngờ đâu còn tìm lại mùi hương
trung thành, chung thủy
Tình tôi các bạn đã hay
Tình ai từ đó đến nay vẫn nồng
hào phóng, độ lượng
Nợ tình nào có ai vay
Khi đem trang trải biết ngày nào xong.
Tuy ở một phương trời khác, chị luôn gởi lòng về sưởi ấm nơi quê hương yêu dấu
Ai đi qua ngã Kim Long
Bên ni, bên nớ, sang sông ngóng đò
hay:
Ai về Vỹ Dạ khói sương
Mờ mờ nhân ảnh người thương thuở nào...
Và đó là một trong những yếu tố quan trọng để chị hòa mình với anh chị em đồng hương ở Nam Đô. Cũng có thể coi đó, nói theo ngôn ngữ hóa học, là chất xúc tác để tôi được gặp chị sau mấy chục năm hằng mong, hay nói rộng ra, để chúng ta được gặp nhau, điều kiện tất yếu để rồi còn gặp nhau.
Được gặp nhau mới còn gặp nhau
Say, chơi, vui, thương nhớ nao nao
Khúc tình xưa, huyền vi, chân lý,
Trĩu nặng vai bài thơ thuở nào...
Hắc Ký Ni Sơn một đêm trăng thu 2000
Nhớ Huế 9 Trường Huế 2000
5- ĐEM CON CHÁU VỀ THĂM QUÊ NỘI
Mấy năm nay nhà tôi sức khỏe kém, tôi không thể đưa nàng về thăm quê như trước. Nhưng năm nay đứa con trưởng lại có yêu cầu tôi đưa gia đình nó về gặp gia đình, bà con, viếng nhà thờ họ ở Nam Phổ, nơi tôi sống lên ở Mỹ Cang, mồ mả cụ mạ tôi cùng chú bác trên sườn núi Ngự Bình,... Mặc dầu bệnh cúm gà đang bắt đầu hoành hành, trời hè nắng nóng mà tôi hằng sợ, tôi không thể từ chối một thiện chí, làm thất vọng một gia đình đứa con. Hơn nữa, tôi còn xem đó là một bổn phận, một điều may mắn vì biết bao những đứa con sinh trưởng trên đất lạ không muốn dính líu gì nữa với quê hương cha mình. Rút cuộc, nếu chuyến về nói chung không hoàn toàn đạt kết quả mong muốn, riêng phần tôi đã hết sức hài lòng đã lại có dịp cùng con cháu đi dọc lòng đất nước.
Ở miền Nam, thời gian chỉ cho phép tôi đưa chúng đi một vòng vài ngày về đồng bằng sông Cửu Long, lên Tây Ninh, Củ Chi và viếng quanh Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng phần tôi đã có dịp lại thăm Giáo sư Mai Quốc Liên để bàn về cuốn sách Gởi thương về Huế mà Trung tâm Nghiên cứu Quốc học sẽ xuất bản cho tôi. Tôi còn may mắn được mời lại dự lễ mừng thọ 85 tuổi đúng ngày sinh nhật của anh Giáo sư Trần Văn Khê tại nhà chị thi sĩ Hỷ Khương. Sau đó, chúng tôi thuê một chiếc xe hơi thong thả ra miền Trung. Lần đầu tiên tôi được ghé Mũi Né xem những đồi cát đỏ màu có tiếng nhưng vì quá đông người nên không có nét quyến rũ như ở trong hình ảnh. Đường xe chạy từ Mũi Né ra Nha Trang mới tinh bày ra trước mắt một phong cảnh hùng vĩ, chỉ sợ nay mai khách sạn, nhà nghỉ lại choáng chỗ, che mất tầm mắt. Nha Trang với bờ biển dài tăm tắp, Tháp Bà sừng sững trên đồi cao, chuyến đi tàu thủy quanh các đảo đã để lại một ấn tượng khó quên. Rồi Hội An cổ kính, chùa Non Nước đồ sộ, Đà Nẵng năng động cho thấy một viễn tượng về tương lai đất nước, mang trong lòng một viện Bảo tàng Điêu khắc Chăm nhắc lại một quá khứ đã vĩnh viễn đi qua. Và sau cùng, xe vượt đèo Hải Vân, theo con đường quanh co dọc sườn núi dẫn đến Huế bấy lâu mong đợi.
Kinh thành, cung điện, lăng tẩm, chùa chiền là những điểm tham quan cổ điển không tránh được. Chuyến ra quê mẹ Mỹ Cang đối với tôi là một cuộc hành hương về lại dĩ vãng, nhưng tôi tự hỏi bọn con cháu đặt vào đấy chút tâm tình ở mức nào. Tôi biết chúng nó cảm động hôm về Nam Phổ vái trước bàn thờ tổ tiên dòng họ Võ Quang, nhất là sau đó thấy tên tuổi của chúng trong cuốn gia phả mà người cháu bà con đã có công ghi chép. Cũng như hôm tôi đưa chúng lên núi Ngự Bình thắp hương trên mồ mả cụ, mạ, anh tôi cùng các chú bác khác. Khó cầm lòng tưởng nhớ tới những người thân đã mất, xa cách nhau hơn một nửa thế kỷ, mắt ướm lệ, tôi đứng lâu lặng nhìn khói hương nhẹ tỏa trong gió. Tôi không chắc con cháu tôi chia sẻ hoàn toàn niềm trắc ẩn của tôi nhưng trước vẻ ngậm ngùi của tôi, thế nào chúng cũng đã bị lây một nỗi luyến tiếc tiềm tàng, thể hiện qua một thời gian im lặng, không những ngay trên sườn núi mà còn cả trên đường về.
Nói về Mỹ Cang, tôi phải nhắc tới một anh bạn mới. Từ Matxcơva, anh Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã có nhắn khi về quê Phong Điền, tôi phải kiếm cách gặp cho được anh đồng hương Nguyễn Thế, làm ở ủy ban huyện, mà anh đã làm quen ở cuộc hội thảo Hán Nôm vừa qua ở Hà Nội. Anh Thế còn trẻ, chỉ là một nhân viên ban văn hóa, nhưng vô cùng hiếu kỳ, năng động. Tuy làm ở Phong Điền, anh luôn đi lại với Huế và chắc còn cả suốt tỉnh Thừa Thiên. Về mặt văn hóa anh là một túi đầy kiến thức. Anh vui vẻ dẫn tôi xem và giải thích tường tận chân bệ Văn Trạc Hòa hiện đang được trưng bày trong viện Bảo tàng Lịch sử Thừa Thiên ở Huế mà anh đã đóng góp nhiều trong việc đưa chở về đây. Anh còn đưa tôi về Phong Điền xem một tráng tường Chăm trong sân chùa Ưu Đàm. Hiện ở Paris, phong trào khảo cứu về Champa cổ đang lên cao với những cuộc hội thảo về Champa cổ của hội SACHA, triễn lãm điêu khắc Champa tại viện Bảo tàng Á Đông Guimet, lớp dạy nghệ thuật Champa ở điện Louvre,... nên tôi rất nhạy cảm trước các di tích dính líu đến những đồng bào miền Nam nầy. Tôi tự hỏi một tráng tường quí đẹp như vậy mà để ngoài trời liệu lâu ngày có bị rêu phong lấp phủ, mưa gió làm hư hỏng không, chưa nói đến chuyện dễ bị mất cắp như đã thấy ở nhiều nơi.

Sau đó, anh Thế dành cho tôi một món quà bầt ngờ. Anh đưa tôi một lần nữa về lại làng Mỹ Cang, vào thăm nhà một người láng diềng, chỉ một cái lu Tàu rồi hỏi : "Anh có nhớ cái lu ấy không ?". Tôi lưỡng lự vì hồi trước có thấy nhiều lu ở trong nhà nhưng còn nhỏ nên không để ý đến. "Cái lu nầy lúc trước là của o Mỳ, của mạ anh đó !" Rồi anh tường tận giải thích con đường đi của nó hơn năm chục năm nay từ nhà cụ mạ tôi qua nhà nầy. Chao ôi, cả một thời thơ ấu xa xăm, những cảnh tượng gia đình vui tươi, đầm ấm hay đau thương, khổ cực trong khoảnh khắc hiện ra lại trước mắt. Tôi mân mê thành lu, nặn óc để cố tìm một chi tiết gì còn nhớ. Muốn đem về Pháp một hình ảnh của quá khứ, tôi chụp lia lịa vài tấm hình, rồi nằm sấp xuống đất để chụp gần hai hình vẽ trên thành lu. Nhà văn Nguyễn Xuân Hòa tháp tùng chúng tôi trong chuyến hành hương nầy, cảm xúc phát lên tràng cười, đánh dấu cho một tình bạn mới chớm nở. Tôi thông cảm : một ông tiến sĩ già, vì ngoài bảy mươi là cổ lai hy rồi, về thăm quê nhà sau nhiều năm xa cách, nằm sấp dưới đất chụp hình cái lu lúc trước của gia đình là một cảnh tượng hy hữu tuy dễ phát cười cũng gây động lòng !
Nói đến bạn bè, tôi thật đã đạt được nhiều kết quả tốt trong chuyến về Huế nầy. Tôi đã gặp lại được một số bạn quen lâu hay mới quen những năm sau nầy. Có những bạn đãi ăn ở những quán sang, ngon, có những bạn cho nghe hát dưới đò một đêm trên sông Hương. Biết tôi khó tánh khi nghe những điệu ca hò Huế, tội nghiệp anh bạn đã chịu khó chạy tìm những ca sĩ điêu luyện sành nghề. Một bạn còn chở xe cho tôi lên xem mặt trời lặn trên đồi Vọng Cảnh hiện đang là mục tiêu một cuộc tranh thủ của những người yêu Huế để chống lại một dự án khách sạn đã có giấy phép xây dựng. Một anh bạn học cùng lớp một nửa thế kỷ trước những năm sau nầy có hơi xa lánh vì công ăn việc làm, nay vui vẻ bắt lại liên lạc và quanh một dĩa bánh khoái dân dã ở Gia Hội, chúng tôi đã cùng nhau ôn lại biết bao kỷ niệm ngày xưa. Năm nay đặc biệt tôi được mời dự một đám cưới cổ truyền của hai bạn trẻ sống ở Paris nhưng về đây xây dựng gia đình truớc đông đủ bà con hai họ. Tôi xin thành thực cám ơn các bạn đã xem tôi như là người trong nhà. Và trong bửa tiệc cưới, có những bạn chưa quen lại chào hỏi vì đã đọc những bài của tôi viết những chục năm trước trong các báo Bách khoaPhổ thông. Lại một dịp để nhớ lại quá khứ xa xăm.
Thấy tôi còn vương vấn nhiều với Huế, các con cháu tôi đề nghị tôi ở lại thêm vài ngày và chúng lấy tàu lửa ra Hà Nội trước. Thấy chúng tháo vát giỏi để có thể tự tổ chức cuộc viếng thăm miền Bắc nên tôi nhận lời ngay. Nhờ vậy tôi có nhiều thì giờ hơn dành cho bạn bè. Hơn nữa, tôi còn được đi viếng động Phong Nha đã từng được cho là kỳ quan thế giới thứ 8 và năm 2003 đã được UNESCO ghép vào vùng Kẻ Bàng để công nhận thành Di tích thế giới. Một điểm lạc quan cần phải nêu ra là con đường thật tốt từ Huế đi Phong Nha, nhất là đoạn đường trên núi ở Đồng Hới, một khúc của con đường mới xuyên Việt. Ngạc nhiên của tôi đã bắt đầu từ hôm đi xe hơi từ thủ đô Nam bộ ra miền Trung. Không chỉ con đường mới từ Mũi Né đi Nha Trang là tốt mà mọi đoạn đường trên quốc lộ 1 đều được tráng nhựa xe chạy bon bon. Tôi nhớ cách đây 5 năm, muốn đi viếng tháp Pô Rômê, xe phải chạy băng qua đồi cát xóc đảo, nay có đường tráng nhựa dẫn thẳng ngay lại chân tháp. Trên mặt du lịch đây là một thắng lợi lớn, một điểm tích cực cần phải nhấn mạnh. Về phát triển đất nước, tôi đã có dịp trình bày với các nhà báo đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh hôm họ theo tôi về Cai Bè quay phim tôi và con cháu.
Rút cuộc, dù bịn rịn, tôi phải đáp tàu lửa rời Huế đi Hà Nội. Anh bạn mới Nguyễn Xuân Hoàng tiễn tôi ra ga, dạt dào tình cảm quyến luyến. Khi chia tay, anh trao tôi bản thảo hai bài văn anh viết về tôi làm tôi rất cảm kích tính nhạy cảm của anh. Bà con, bạn bè ở Hà thành cũng tiếp đón tôi ân cần. Ăn uống, dạo chơi, các bạn đã muốn tôi biết sâu về miền Bắc như tôi đã biết Huế. Năm nay, tôi không đi Hạ Long, Hoa Lư cổ điển, mà chỉ đi viếng các chùa Bút Tháp, chùa Dâu, chùa Đậu. Đặc biệt, tôi đã thực hiện được một phần mong ước từ lâu : viếng miền Việt Bắc với những phong cảnh núi non, sắc tộc phong phú. Các bạn tôi đã cho tôi đi Lạng Sơn xem núi Tô Thị, động Tam Thanh. Viện Bảo tàng Dân tộc không hướng dẫn được các lối đi khác, tôi đành ghi tên với SinhCafé đi Sapa ba ngày, cọng thêm một ngày đi xe máy lên Lai Châu. Tuy ngắn ngủi và rất có giới hạn, tôi đã mục kích được một số phong cảnh đồng ruộng bậc thang bát ngát, ngắm được đỉnh Fansipan hùng vĩ trong một dãy núi sương mù bao phủ, đi dạo trong các bản đồng quê Lao Chải, Tả Vận, Giang Ta Chải tưởng như quen thuộc của thời thơ ấu. Nhân ngủ ở Bản Hồ, tôi tiếp xúc được một số người miền núi chất phát, hiền lành, học hỏi được cách sống của họ. Bước đầu ngắn ngủi nầy khuyến khích tôi mau kiếm cách trở lại viếng thăm những vùng khác miền Việt Bắc mênh mông, gấp xem những y phục phụ nữ đang chuyển mình từ các vạc áo thêu dệt đặc sắc qua những mảnh vải vô vị nhập cảng Trung Quốc. Tuy tiếc nuối quá khứ, tôi tưởng ta cần phải chấp nhận cuộc hiện đại hóa vì các y phục kia chỉ tồn tại được trong cách tân, như ca nhạc, hội họa, hay mọi nghệ thuật khác, theo những điều kiện của trào lưu đổi mới đang lan tràn trên đất nước.
Nói chung, về phần tôi, như mọi lần về thăm quê khác, tôi luôn phấn khởi gặp lại bạn bè, bà con, làm giàu thêm đuợc ít nhiều kiến thức của mình về xứ sở mà tôi đã xa vắng hơn một nửa thế kỷ. Lần nầy tôi còn hân hoan đem được gia đình đứa con trưởng về thăm quê cũ. Tôi chắc chúng đã vui vẻ sống những ngày ở quê hương ông, cha. Tuy nhiên, sinh ra và sống lên ở đất Pháp, mặc dầu những cố gắng của vợ chồng chúng tôi để chúng không thấy Việt Nam là một nước xa lạ (sách báo, hình ảnh, dĩa nhạc, ăn ưống, phim ảnh, chùa chiền, lễ hội,...), như tuồng chúng không hoàn toàn thoải mái khi tiếp xúc với gia đình trong nước. Ở mỗi thành phố lớn, tôi luôn có tổ chức một cuộc họp mặt, ăn uống giữa các bà con. Bất đồng ngôn ngữ là một trở ngại lớn. Các con cháu tôi phàn nàn không có mấy ai trò chuyện bằng tiếng Pháp với bọn nó. Con tôi lại bực tức khi có ai hỏi tại sao nó không học tiếng Việt để có thể trao đổi với bà con. Bọn nó còn trách móc không mấy gia đình mời mọc về nhà : chúng nó không hình dung được tất cả những phiền phức của một cuộc tiếp đón một nhóm đông người ngoại quốc, dù thuộc cùng gia đình. Nhân đi nghe hát trên sông Hương với những ca sĩ già dặn thuần thục những điệu ca hò Huế, con tôi còn trách tôi đã trình bày một nền văn hóa đã qua ; có lẽ nó chờ đợi những ca sĩ trẻ tuổi nhún nhẩy trong nhạc điệu rầm rập, dưới ánh đèn chớp nhoáng đủ màu. Như vậy thì chẳng thà từ Pháp ghi nó vào một tour dành cho người ngoại quốc !
Có người bạn Pháp bảo tôi về Việt Nam đến bốn, năm lần mới biết thương yêu cái xứ nầy. Và anh tiên đoán thế nào chuyến đi nầy cũng để lại một ấn tượng sâu sắc cho bọn con cháu, ít nhất trong tim các cháu nhỏ, sau nầy lớn lên mới có dịp bộc lộ. Lời nói của anh an ủi tôi một phần nào. Trên máy bay về lại Pháp, tôi cứ nghĩ mặc dầu thái độ thường bị môi trường, xã hội chi phối, khi các con tôi nhìn đất nước Việt Nam với con mắt người ngoại quốc thì nhiệm vụ giáo dục gia đình của mình chưa được trọn vẹn, một nhiệm vụ tề gia mà bên ta trước đây các cụ thường xếp tuần tự sau tu thân và trước trị quốc, bình thiên hạ. Anh bạn Giáo sư Cao Huy Thuần có viết tôi là người đã Việt hóa các nơi tôi ở, ngay cả cô vợ đầm của tôi, nhưng chắc chắn là tôi chưa thành công Việt hóa được tất cả mấy đứa con Tây của tôi. Mea culpa. Hy vọng trong tương lai tôi sẽ Việt hóa được vài đứa cháu Tây!
Xô thành tiết sương giáng 2005
Nhớ Huế 28 Huế Xuân 2006
Quê hương 5 2006
6- TÌM VỀ HÌNH ẢNH CỐ HƯƠNG
Mỗi lần về thăm đất nước, tôi thích đi tản mạn khắp nơi, tìm kiếm những hình ảnh quen thuộc hoặc đã sống qua hoặc đã tưởng tượng khi đọc những áng văn hứng thú, những câu thơ gợi tả. Những hình ảnh nầy, như mọi kẻ sống tha hương, tôi rất thèm muốn sau một thời gian không được mục kích. Dĩ nhiên có những băng, dĩa phim ảnh, nhưng xem ở máy truyền hình, gò bó trong một khung màn nhỏ bé, dù hình quay điêu luyện, màu sắc hữu tình, phim ảnh thiếu một chiều sâu, thiếu hương vị mà chỉ có đứng trước cảnh sắc mới trực tiếp nhận thức được. Vì vậy, mỗi lần tại chỗ tôi cố ghi nhớ sâu đậm từng chi tiết trong ký ức để mong giữ được lâu dài. Và để giúp trí óc với tuổi tác ngày càng suy sụp, mặc dầu không phải phương cách tối ưu, nhưng thà có chút ít còn hơn không, tôi chụp ảnh những phong cảnh đã thấy, những cảnh tượng đã sống, cố gắng ghi nhận trung thực được chừng nào hay chừng nấy để sau nầy mỗi lần xem lại dễ ôn tưởng những cảm giác đã làm rung động lòng mình. Cái khó là máy ảnh lắm lúc không thực hiện đúng như mong muốn của người chụp. Có điều lạ lùng là mỗi lần tôi lại sợ không có dịp về lại hay về mà không có dịp sống những cảnh tượng đầy cảm xúc nên chụp thật nhiều ảnh, đôi khi quá nhiều. May bây giờ có máy số numérique nên mặc sức chụp mà không sợ thiếu phim như hồi trước với máy bạc argentique. Mấy đứa cháu tháp tùng thường ngạc nhiên hỏi sao tôi chụp nhiều ảnh thế nhất là những cảnh tượng đối với chúng không có một ý nghĩa gì: con trâu về chuồng, bông lúa mới trổ hay gánh hàng bán bún trên đường Lê Lợi. Thật ra, tất cả các ảnh chụp không đạt kết quả giống nhau, có khi gấp chụp mau thì ảnh xấu lại nhiều hơn ảnh tốt. Nhưng về nhà, soát trên máy, mặc sức loại bỏ những hình ảnh không thích, giữ lại một phần ba, một phần tư tổng số. Có bạn nhận xét tất cả những hình ảnh của nữ sĩ nhiếp ảnh Đào Hoa Nữ đều rất xinh đẹp. Thật thế, đấy là nhờ tài năng của nhà nghệ sĩ. Để đạt những kết quả tuyệt vời đó, chắc cô cũng đã ngược xuôi tất tả chạy tìm góc độ, chờ đợi ánh sáng, chứ chỉ trông mong ở may mắn thôi để có đủ điều kiện chụp được hình đẹp thì mấy lúc mà gặp được, mặc dầu tôi thường quan niệm may mắn hay lại với ai biết khích động nó, dọn đường cho nó, sẵn sàng đón nhận nó, và biết đâu cô cũng đã loại bỏ một số ảnh không vừa ý...
Rời nước vào tuổi đôi mươi, lại vào thời chiến tranh, tôi chẳng biết bao lăm cảnh đẹp của đất nước. Vì vậy, trong hai mươi năm gần đây, mỗi lần có dịp về thăm quê hương, tôi không tiếc công lặn lội bắc nam, chạy miền duyên hải, trèo núi cao nguyên, khi xe hơi, xe máy, khi cuốc bộ bao bị trên vai. Tôi lại còn phấn khởi tiện dịp giới thiệu cho nhà tôi, một cô dâu xa lạ, những phong cảnh hùng vĩ, những cảnh tượng hữu tình của quê hương mình. Trong nam, đồng bằng sông Cửu Long với dòng sông bạc ngầu cuồn cuộn, với những kênh lạch lao xao lau sậy để lại một ấn tượng khó quên. Đâu đây những cầu khỉ bấp bênh, mảnh dẻ cống hiến một hình ảnh sâu đậm của quê hương một thuở. Gần đây, nhiều hội đoàn đã thực hiện công tác hữu ích xây dựng những cầu bê tông thay thế, tiện lợi và an toàn thật, thế là hình ảnh các cầu khỉ dần dần sẽ biến mất trong phong cảnh miền quê. Làm sao quên được những ngày đi viếng quê hương Đồng Khởi, vượt Tiền Giang ở bến phà Rạch Miễu, để rồi mặc sức ngắm nghía các cô gái Bến Tre có nét mặt thanh tao trên một cơ thể vạm vỡ, với một giọng nói "ngọt ngào như sông nước Cửu Long". Tôi nhớ được mời ngủ một đêm ở hoa lạc viên Nhân Nghĩa, nghe tiếng gió rì rào trong hàng dừa cao vút, đầy trái ngọt lịm, cùng bác Minh nhấp chén rượu mùi ở đài Vọng Cảnh, cạnh các khóm long, kim, thủy trúc, các chậu nguyệt bạch, trang đài tỉa gọt công phu. Đi xa xuống miền nam, không khi nào tôi cảm thấy gần đất nước bằng lúc xe chạy qua những cánh đồng bát ngát, ruộng lúa xanh rờn, đàng xa những bầy cò vỗ cánh bay tít tận chân trời xanh thẳm. Tôi rất hãnh diện chụp được cảnh mặt trời lặn trên Biển Đông ở cạnh Hà Tiên. Về Pháp, khi cho bạn bè xem ảnh, tôi tự hào khoe khoang đã lặn lội hơn một vạn cây số mới chụp được những ảnh ấy
Lên miền Trung, nhà tôi và tôi đã chạy dọc đất nước Cham Pa tìm xem những di tích Chăm cổ hiện đang được thế giới chú ý và nhiều nhóm khảo cứu bỏ công khai quật, tìm hiểu. Kỷ niệm khó quên là hôm chúng tôi muốn viếng xem nhóm tháp Pô Dam. Xe hơi, xe máy không chạy lại được, chỉ còn một cách là cuốc bộ dưới nắng mặt trời gay gắt, trên hai đường rầy xen lẫn cỏ hoang gai góc, đầy dẫy rắn rết, có khi phải qua cầu nhảy từ thanh gỗ nầy đến thanh gỗ khác, chờ lúc tàu hỏa không bất thường chạy qua. Phần thưởng là trên đường về, không có quán cơm, người làng mời thưởng thức nước mấy trái dừa mát dịu vừa mới hái. Và kết quả là dương bản hình ảnh hiếm có của tôi được một ông giáo sư chiếu ở lớp dạy nghệ thuật điêu khắc Chăm ở điện Louvre. Ngoài Bắc, những thửa ruộng bậc thang xếp hàng trên sườn núi vùng Sa Pa cống hiến những bức tranh đẹp mắt mà tôi đã từng mục kích được trên các nẻo đường ở Tích Lan, Ba Li. Tô điểm vùng quê hùng vĩ nầy là y phục các cô gái sắc tộc, đủ màu muôn vẻ. Đáng tiếc là với cuộc phát triển của thời đại, hết còn thì giờ thêu thùa chuẩn bị một đám cưới cổ truyền, các cô đang mua vải Tàu loè loẹt may áo quần thay thế, bắt đầu một cuộc cách tân cần thiết nhưng chưa chắc đã đi đúng với chiều hướng mỹ quan. Miền Bắc may mắn có được nhiều chùa chiền xưa quý, kiến trúc độc đáo, chứa đựng những tượng hình chạm trổ tinh vi như tượng Quan Âm thiên thủ thiên nhãn ở Chùa Bút Tháp, những tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ ở chùa Dâu, những tượng La Hán ở chùa Tây Phương được xếp vào những kỳ quan không những chỉ ở nước ta mà còn khắp thế giới. Làm sao không hãnh diện được khi thấy chiếu ở điện Louvre hình ảnh những hình tượng nầy xem là tượng trưng cho nghệ thuật Việt Nam!
Phong cảnh đẹp đẽ, nước non hữu tình khắp Nam, Trung, Bắc, bên ta có thiếu gì. Tôi rất lấy làm lạ và cũng có phần buồn khi nghe một anh bạn bảo không muốn về nước nữa vì không còn gì để xem... Tội nghiệp cho bạn ấy không biết tận hưởng cái đẹp Trời đã ban cho. Riêng phần tôi, hơn mười lần về thăm đất nước đã cống hiến cho tôi biết bao hạnh phúc và cũng biết bao kỷ niệm đã dồn lại trong mấy cuốn sách và mấy dĩa hình. Tuy vậy, hình ảnh đẹp từ Nam ra Bắc, xem đi coi lại trong sách, trong dĩa mãi không chán, đối với tôi cũng còn thiếu một cái gì đó. Khó đòi hỏi ở một cái ảnh một giọng nói, một lời bình, một điệu bộ thân thuộc. Khi nghe một con gà gáy trên đảo Cồn Phụng hay ở thôn Lao Chải, tôi tưởng như nghe một giọng nam hay giọng bắc tuy luôn vẫn là tiếng một con gà Việt Nam. Có lẽ trong thâm tâm tôi cái giọng tùy thuộc cái thấy. Xin đừng cười, nếu nghe con gà gáy ở An Cựu, chắc tôi nhận ra một giọng Huế! Vì vậy, mỗi lần về thăm cố đô, tôi không quên đưa nhà tôi rong dạo khắp vùng, xem xét tường tận nơi quen biết cũng như chốn chưa bao giờ đặt chân đến. Những năm nhà tôi soạn thảo luận văn về chùa Thiên Mụ, con đường quen thuộc của chúng tôi là từ nhà khách (nay không còn nữa) đường Lý Thường Kiệt, qua cầu Phú Xuân rồi dọc sông Hương lên đến Kim Long. Mấy anh phu xích lô hằng ngày thấy chúng tôi thường năn nỉ mời chúng tôi lên xe, không hiểu đi bộ đối với chúng tôi là một điều cần thiết. Có anh nhìn nhà tôi rồi quay qua tôi mạnh dạn: răng bố tiết kiệm không chịu lên xe, vài đồng tiền xe đã có bà Mỹ kia trả mà! Dạo ấy, quầy quán còn đang tấp nập trên bờ sông Hương, đi dạo ở đây chịu khó nghe nhìn là một điều thích thú. Cũng ở đây, chúng tôi đã hân hạnh có dịp kính cẩn nghiêng mình trước lăng mộ cha Léopold Cadière, người đã bỏ nhiều công khảo cứu, ghi nhận phong tục tập quán vùng quanh Huế mà những bài đăng trong tờ báo của Đô thành hiếu cổ BAVH ngày nay là những tập tài liệu quí báu. Và có phong cảnh nào hữu tình bằng khi ngồi trên thềm chùa Thiên Mụ nhìn con đò dọc yên tĩnh xuôi mái vào lúc chiều tàn, mây hồng lặng lẽ che bóng mặt trời sắp khuất.
Một con đường khác không kém phần thú vị là từ Gia Hội dọc theo sông Đông Ba đến Bao Vinh. Một lần đầu chúng tôi ngạc nhiên vui thú gặp được không biết bao quán bán chè đủ loại. Chúng tôi la cà từ quán nầy qua quán nọ, thưởng thức đủ thứ chè trong lúc các chị bán hàng mặc sức bàn tán về mái tóc của nhà tôi mà họ không biết là vàng hay bạc, thật ra lẫn lộn hai màu. Năm sau trở lại, các quán chè đã biến mất, để lại cho chúng tôi một nỗi thất vọng khôn xiết. Qua khỏi cầu Bao Vinh, chúng tôi rơi vào một lăng mộ tuy hoang vắng, rêu phong, cỏ dại mọc đầy nhưng còn giữ vẻ hoành tráng. Bên hông lăng, một đống bình vôi sứt mẻ hay còn nguyên vẹn nhưng đựng đầy vôi cứng. Một người qua đường giải thích đó là mộ táng một một vị khai canh. Chắc trong sách vở của làng còn có ghi tên tuổi sự nghiệp của con người hùng xưa đó. Đượm một nỗi luyến tiếc, chúng tôi không khỏi xao xuyến suy nghĩ về khái niệm vô thường và ngậm ngùi tự hỏi đâu là giá trị vĩnh cữu trên cõi đời này. Đi ngang qua làng Phụng Hiệp, những làn điệu câu hò ru con giọng Huế đặc sệt vang vọng từ sau mấy hàng rào bông kiểng xác nhận đây chính là quê hương tôi. Một thích thú khác bất ngờ lại đến với tôi: bản tên quán nước Đã đành trong một ngỏ hẽm, như tiếng thở dài của một thiếu phụ chịu đựng số phận của mình. Tên quán nầy là bước đầu một cuộc săn kiếm thú vị: Giọt đắng, Chiều nhớ gợi lên biết bao tâm tình của kẻ phải chịu đau khổ hay đang phải xa cách người yêu. Quán Lộng gió thể hiện trời nước mênh mông trước một sông Hương sóng nước khuynh thành, một dãy Trường Sơn trùng trùng điệp điệp. Và bao nhiêu cảm xúc chỉ còn biết thổn thức trong quán Thì thầm trên đường lên các lăng, sau núi Ngự Bình trụi bóng cây xanh, trong tiếng gió rì rào mấy đồi thông xào xạc.
Một chuyến dạo chơi ghi nặng trong trí ức là băng qua Đập Đá, xuống đến Vỹ Dạ, thẳng đường Cồn Hến. Ở đây, muốn ăn cơm hến, phải lại thật sớm và thích cơm nguội. Buổi chiều chỉ còn có đi nhìn mấy hàng cau để tưởng nhớ đến nhà thi sĩ đa tình mặc dầu mấy câu thơ bất hủ ca ngợi ánh nắng ban mai. Cảnh vật tĩnh mịch ở đây rất phù hợp với những ngôi miếu có phần điêu tàn, nghe nói sẽ được trùng tu. Có cô con gái giải thích cho chúng tôi là để thờ Bà. Nhà tôi đang còn dang dở với Bà Trời Thiên Mụ nên muốn tìm biết là thờ Bà nào. Thì Bà là Bà! Có lẽ chỉ có một Bà nên dân chúng không cần chỉ định là Bà nào. Nhớ đến hồi Nguyễn Hoàng vào trấn nhậm ở đây, có thể không muốn cùng thờ bà Liễu Hạnh như ở ngoài Bắc, nên phải tạo ra một Bà Trời riêng biệt để khẳng định bản chất độc lập của mình, dù phải dựa vào một vị thần bản địa có thể là Thiên Y A Na, không phải Việt mà Chăm. Thì thôi, cứ việc Việt hóa bà ta đi. Hơn nhiều trăm năm trước, vị chúa Nguyễn đầu tiên đã có ý chí thống nhất các sắc tộc thành một dân tộc Việt Nam mà ta là người thừa kế làm sao cho xứng danh truyền thống. Bên cạnh bờ sông có thờ một phiến đá hình tam giác gọi là ông Mốc, lúc trước là cái cọc để đánh dấu ranh giới hai làng. Một phiến đá khác ngày nay nằm ngay giữa đường nhưng không ai dám chạm vào vì nghe nói rất linh thiêng. Cô gái hồi nảy căn dặn chớ đá chân vào, sẽ bị Ngài trừng phạt ngay. Từ biệt Bà, từ biệt Ngài, trên chuyến đò chở từ Cồn Hến (bây giờ hết còn đò!) về đến bến cầu Trường Tiền, nhìn mây trời bát ngát, sóng nước dao động, chúng tôi không khỏi bâng khuâng về chuyện tín ngưỡng của người Huế nói riêng, của người Việt Nam nói chung. Nhưng nói cho cùng, dân tộc nào mà không có chuyện tin tưởng thần linh, ngay cả bên Nhật Bản là một nước tân tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà vấn đề thờ cây, cúng đá luôn vẫn tồn tại, còn có người Phù Tang hãnh diện tôn vinh việc thờ phụng thiên nhiên, tạo hóa. Đừng nói đến những nước khác như Ấn Độ, Nam Dương, Miến Điện,... thì tín ngưỡng dân gian vô cùng phong phú và chắc còn lưu lại lâu dài.
Chuyến dạo chơi quanh thành nội gợi lại trong trí ức tôi cả một thời đang lớn lên. Từ nhỏ, thời tiểu học, trọ ở Kho Rèn, tôi đã từng theo các anh tôi vượt cầu Trường Tiền qua phố, vào thành nội, đi quanh các cung điện, viếng thăm mấy Viện Bảo tàng rồi vào Tịnh tâm xem sen, mỗi lần là cả một cuộc hành trình xa xôi đầy cảm hứng. Vào ngày sinh nhật vua Bảo Đại, học sinh các trường từ sáng sớm đã phải tập trung diễu hành trước lầu Ngọ Môn, hô to Hoàng đế vạn tuế, từ xa chỉ thấy đức vua khăn áo vàng hoe thấp thoáng giữa đám quan viên triều phục chỉnh tề. Bất bình là sau cuộc diễu hành, nghe nói chỉ có con cháu Tôn thất được mời dự tiệc mừng vua còn bao nhiêu học sinh khác phải lủi thủi ra về. Sau nầy, ở Paris, tôi có dịp gợi với lại Cựu Hoàng những kỷ niệm xa xôi nầy vài năm trước khi Ngài mất và Ngài tuồng như không còn nhớ gì nữa. Lớn lên, ở tuổi trung học, theo Hướng đạo, Kỳ đài là nơi thi truyền tin để thi lấy badge: tôi còn nhớ một anh thủy quân được nhờ lại đứng trên chân cột cờ, phất hai cánh cờ nhỏ đánh một bản sémaphore ; hồi ấy tôi tự hào đọc giỏi khi học tập, vậy mà trước tốc độ biểu diễn của người chuyên nghiệp ngày thi chỉ biết lắc đầu chịu thua. Sau nầy đây là nơi tôi được chứng kiến những cuộc thả diều ngoạn mục. Nhưng kỷ niệm sâu đậm nhất là những năm cách mạng, trường Khải Định dành cho Giải phóng quân, học sinh phải vào học trong nội. Đây là cung cấm thời trước, bây giờ mặc sức chạy nhảy, đùa giỡn, đá banh. Chúng tôi ngang nhiên tranh nhau trong vài phút ngồi lên ngai vàng ở Điện Thái Hòa, đóng vai vua nhìn ra bái đình tưởng như đang có chín hàng quan lại phủ phục tỏ lòng tôn kính. Ngày nay, Điện Thái Hòa được sơn son thép vàng chói lọi mới tanh nhưng ở đằng sau Tử cấm thành chỉ còn là một khuôn viên điêu tàn, vết tích một thời vàng son không bao giờ trở lại nữa.
Tôi còn muốn kể thêm một chuyến hành hương đầy kỷ niệm thời xưa: dọc con sông đào An Cựu. Trước khi rời Huế, tôi trọ tại nhà anh tôi truớc tản cư ở gần cung An Định (bây giờ thành quen biết với mấy quán bèo-nậm-lọc bên cạnh), tản cư thì về ở bên kia sông, ngay truớc Dòng Cứu Thế. Sông An Cựu không nắng đục mưa trong như trong câu hò mà vào kỳ khai giảng thường mưa lớn và nước sông dâng lên đục ngầu, ngập hai đường bên bờ sông. Ngược dòng sông một khoảng là xóm Kho Rèn, nơi tôi trọ tại nhà anh cả lúc còn học tiểu học. Tôi còn nhớ mỗi lần về khuya, đi ngang qua Nhà Máy Điện nghe máy chạy rầm rộ mà sợ vô cùng. Lên một khúc nữa là xóm Phủ Cam, nhà anh cả tôi dọn lên ngay trước trụ sở đức Hồng Y mà mỗi chủ nhật có xe hơi đưa bà Nam Phương lại rửa tội. Mấy năm đầu mới về, tôi thích vào các hẽm xóm xem gọt tre, ủi lá làm nón, một nghề ngày nay đang mai một. Tiếp theo xóm nầy là Bến Ngự của cụ Phan Bội Châu. Đâu còn nữa chiếc đò đậu gốc cây sung ? Ở cạnh cầu là một dãy quán bán guốc đủ loại, chọn xong là người bán đóng ngay quai guốc theo đúng chân mình. Lên một chút nữa là Nam Giao. Làm sao quên được ngày tế, đứng đợi trên đường từ sáng để xem đoàn rước cờ xúy rập trời, đức vua Bảo Đại trẻ đẹp, nghiêm nghị trong chiếc kiệu sơn son thép vàng mà đúng ra người dân đen phải cúi đầu, không có quyền nhìn ngó. Và trước khi đổ vào sông Hương, dòng sông lướt qua trước nhà ga với những chuyến đi, chuyến về từ Mỹ Chánh trước và sau các kỳ nghỉ học, những cuộc chen chúc mua vé, dành chỗ ngồi, những nỗi buồn ly biệt, chia tay,... Từ An Cựu tiến vế phía nam là Nghẹo Dàng Xay dẫn lên chân núi Ngự Bình, nơi có mồ mã cụ mạ và anh tôi. Năm vừa rồi, tôi có đem gia đình đứa con trưởng về đây đốt nén hương tưởng nhớ ông bà đã có công gây dựng một gia đình mà họ không hề có một ý tưởng ngày nay đã phát triển rộng lớn thế nào trên khắp năm châu.
Hình ảnh quê hương biết bao lưu luyến, nhất là những hình phong cảnh gợi lên những nơi chốn đã sống, những hình cảnh tượng ghi lại những kỷ niệm vui buồn. Đêm khuya không ngủ, dù không có tiếng gà gáy eo óc, tiếng chuông chùa ngân nga, cuốn sách, dĩa ảnh, dù không có giọng nói quen thuộc, tiếng hò da diết, là nơi khuây khỏa lòng thương thầm kín, nỗi nhớ mông lung của kẻ tha hương nơi đất trời xa lạ.
 
Xô thành một đêm không ngủ xuân 2006
Sông Hương ngoài biên giới nxb Trẻ 2006.
7- CHỒNG VÀ CHÙA
Giới thiệu một cuốn sách: Chùa Thiên Mụ ở Huế
Bao giờ cạn nước Đồng Nai
Nát chùa Thiên Mụ mới sai tấm lòng.
Hò Huế
Năm 1988, sau 30 năm sống chung với nhau, tôi mới có dịp đem nhà tôi về thăm quê hương, xứ sở. Lần đầu tiên về thăm tổ quốc ông chồng, ở một đất nước xa xăm, cách quê mình hơn một vạn cây số, lẽ tất nhiên nàng bồi hồi xao xuyến nhưng không thấy xa lạ vì không phải đi một mình và nhất là nhờ mấy chục năm chia sẻ vui buồn với một người không ngớt cống hiến đủ mọi cách để nàng tìm hiểu một nền văn hóa xưa cổ, một dân tộc hào hùng. Trong nhiều năm, chúng tôi đã đi từ Nam ra Bắc, chạy ngang dọc đồng bằng sông Cửu Long, suốt duyên hải miền Trung, lên Tây nguyên hùng vĩ, tham quan danh lam thắng cảnh quanh sông Hồng, không quên ghé nhiều ngày đất Thần kinh quê quán của tôi. Cùng với Đại nội, lăng tẩm, chúng tôi chú trọng nhiều đến các chùa chiền luôn còn sống động trong lòng dân chúng. Trong số các nơi thờ Phật, một ngôi chùa làm nàng xúc động và chúng tôi đã để nhiều giờ khi thơ thẩn xốc lá rụng sân vườn, ngắm bông hoa tươi thắm, khi đàm đạo với mấy vị sư hay ngồi trên những bậc thang trước chùa trầm ngâm nhìn mây trắng tỏa bóng sông Hương : chùa Thiên Mụ. Tọa lạc xa thành phố náo nhiệt, tĩnh mịch của một nơi tu hành, có một tầm nhìn bao quát khúc sông trầm lắng, ngôi chùa nầy khác hẵn những cửa thiền khác trong vùng và không phải tình cờ mà chùa được đựng lên ở đó.
Vì vậy, về lại Pháp, vào lúc hưu trí sau một đời giảng dạy hóa học ở đại học, lại lết ghế nhà trường để trau dồi Việt ngữ sau mấy chục năm tạm gác dở dang. Khi cần phải soạn thảo một luận văn cử nhân ngôn ngữ và văn minh Đông Á, được ông giáo sư khuyên nên chọn một đề tài trong ấy tác giả có dịp trình bày đủ mặt lịch sử, đạo giáo, văn hóa, kiến trúc, điêu khắc, là những ngành học nàng đang chú trọng và kiếm cách hoàn thiện những năm sau nầy, nàng vui mừng tìm ra ở chùa Thiên Mụ một đối tượng có thể thực hiện trong khả năng của mình. Thật vậy, được xây dựng từ thời chúa Nguyễn Hoàng năm 1601, vài năm sau từ ngoài Bắc vào đây lập nghiệp, trở thành ngôi chùa chính thức của triều Nguyễn, liên tục chứng kiến những bước thăng trầm, những thời thịnh suy của vương triều cuối cùng nước ta, góp phần vào cuộc phát triển Phật giáo ở Việt Nam, chùa Thiên Mụ hay Linh Mụ Tự đã để lại nhiều tài liệu trong sách sử, những chi tiết ngay tại chỗ mà hiện ngày nay lắm nhà học giả đang còn bỏ công tìm hiểu. Hơn nữa, từ năm 1993, là một cơ sở quan trọng của Huế, cùng với thành phố, chùa đã được Cơ quan Văn hóa Liên hiệp quốc công nhận làm Di sản Nhân loại. Sau một thời gian lục lọi ở các thư viện Paris, nàng đã về Huế hai năm liền để xem xét kiến trúc, trang trí trong chùa, cùng mấy vị sư và bà con bạn bè Phật tử tìm hiểu vai trò của thiền thất trong đời sống cộng đồng ở chốn đế đô. Như đứa con cưng từ xa trở về, tôi đã mở được cho nàng một số cửa gần đây hầu như khép kín, mặc dầu khách tham quan ngày càng đông vì không một tuyến du lịch nào ghé Huế mà có thể bỏ qua chùa Thiên Mụ. Hơn nữa, tôi được nàng cậy làm phóng viên nhiếp ảnh chụp hình minh họa luận văn, một bổn phận thích thú mà tôi không cần được mời mọc mới thực hành.
Luận văn soạn xong, nàng đã đưa trình bày trước ban giám khảo gồm có Giáo sư Philippe Langlet, Viện Đại học Paris VII, và anh Nguyễn Phú Phong, Giám đốc Nghiên cứu ở Trung tâm quốc gia Khảo cứu Khoa học Pháp tháng 6 năm 1998. Phải đợi sáu năm, luận văn mới được tờ Péninsule, Cơ quan khảo cứu liên ngành về bán đảo Đông Nam Á, chịu nhận cho in thành bài báo, nhưng vì số trang có hạn, báo yêu cầu rút gọn chương bàn luận về Phật giáo Việt Nam, cắt bỏ thư tịch, phương pháp soạn thảo cùng những phụ lục tưởng rất bổ ích cho những khảo cứu viên có thể dùng làm tài liệu. Phần hình ảnh cũng bị giới hạn rất nhiều, báo chỉ muốn giữ những hình cần thiết cho việc chứng minh, nàng phải ra sức thương lượng báo mới chịu cho thêm vài cái. Điều tích cực là báo trình bày rõ ràng, in đẹp, ngay cả hình ảnh mặc dầu không in lên giấy bóng. Theo yêu cầu của nàng, bài báo được góp lại in ra thành sách Cahier de Péninsule (*), có thêm những bài giới thiệu của Giáo sư Minh Chi, Phó Viện trưởng Viện Phật học Thành phố Hồ Chí Minh và Giáo sư Philippe Langlet, giám đốc đề tài.
Tuy rút gọn thành một cuốn sách nhỏ dưới 100 trang, luận văn nầy đáp ứng nhu cầu của một công trình nghiên cứu đại học của sinh viên mức cử nhân vì nội dung phong phú nhưng không rườm rà, hiến cho người đọc một cái nhìn tổng quát đầy đủ về một ngôi chùa được sắp trong số những thiền thất xưa nhất của xứ Huế. Thật vậy, chùa Thiên Mụ đã được xây dựng trên công trình một ngôi chùa củ mà ngôi chùa củ nầy cũng đã dựa lên nền tảng một ngôi tháp Chăm. Cũng dễ hiểu vì trước khi Đoan Vương Nguyễn Hoàng vào đến đây, vùng nầy là đất nước Champa, dù có người ở, đối với di dân người Việt là nơi hoang vu, man dã
Đến đây đất nước lạ lùng,
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng lo.
Những năm gần đây, nhiều cuộc quật khởi tìm kiếm di tích Champa cổ đã được thực hiện trên đất Thừa Thiên Huế, nếu đào bới quanh chùa Thiên Mụ chắc sẽ bắt được một vài tàn tích giúp biết thêm đôi chút về ngôi tháp Chăm kia mà những nhà khảo cứu đã có đặt câu hỏi. Sau đó sự tích trong Việt Nam khai quốc chí truyện hay trong Đại Nam thực lụctiền biên kể chuyện một bà già mặc áo đỏ quần xanh như một thiên thần lại báo tin "sau sẽ có một vị chân chúa đến sửa chùa này mà thu góp khí thiêng để giữ long mạch cho lâu bền" đem lại cho nhà Nguyễn một quyền chính thống và ngôi chùa một danh xưng thích hợp : chùa Thiên Mụ. Khi nhà Nguyễn muốn độc lập đối với Bắc hà với bà Liễu Hạnh thì cũng cần có trong Nam một Bà Trời tương ứng dù bà nầy là Pô Inu Nagar xuất thân từ tin tưởng của người Chăm. Âu cũng là một chuyện nhập gia tùy tục.
Trong gần 350 năm, cho đến những sự kiện lịch sử năm 1945, chùa đã lần lượt được các chúa Nguyễn rồi các vua Nguyễn tiếp tục mở mang, xây dựng, trang trí, trùng tu. Đặc biệt Minh Vương Nguyễn Phúc Chu cho xây những Điện Đại Hùng, Điện Địa Tạng, Điện Quan Âm, đúc Chuông Đại Hồng Chung bằng đồng nặng hơn hai tấn, vua Thiệu Trị cho xây Đình Hương Nguyện với bánh xe Pháp luân, tháp Từ Nhơn bảy tầng, sau đổi tên thành Bửu Tháp Phước Duyên. Trong chừng ấy năm, chùa đã là đỉnh cao Phật giáo của cả một vùng. Ai đi ngang qua Huế mà không nghe tiếng chuông chùa
Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ canh gà Thọ Xương
dù không biết câu hò Huế nầy phát xuất từ một câu thơ của Dương Khuê ngoài Bắc với tiếng chuông Trấn Vũ. Thú vị là câu hò ấy cũng theo đà Nam tiến
Gió đưa tàu chuối la đà
Tiếng chuông Xá Lợi canh gà Thủ Thiêm!
Tiếng chuông chùa thả hồi hằng ngày là chiếc cầu nối chốn cửa thiền với đời sống dân gian. Chỉ một chuyện tình tự cũng qua sự chứng kiến của chùa
Tiếng chuông Thiên Mụ dặn dò
Em đi: cảnh vắng, hẹn hò cùng ai?
Một thi sỉ như Nam Trân Nguyễn Ngọc Sĩ, thời tiền chiến, làm sao không cảm xúc được trước cảnh hữu tình của Huế đẹp và thơ
Mờ ớ xa xa gà gáy sáng
Trong chùa canh cảnh tiếng chuông hồi.
Éo le có lẽ là sự tích truyền miệng kể lại chuyện tình của Hoàng Cô em vua Gia Long yêu đương sư ông Liễu Đạt Thiệt Thành từ Gia Định được mời ra Huế làm tăng cang ở chùa Thiên Mụ đồng thời pháp sư trong triều đình; khi thấy nhà sư tự thiêu để tránh mọi liên lạc vật chất trên đời nầy, cô nàng cũng thất vọng tự tử... Cảm động hơn là ngay trên tường chùa, đau đớn không nguôi sau khi bà Kính Phi Nguyễn Thị Lan lìa trần để lại 11 đứa con, chúa Hiển Tông Nguyễn Phúc Chu gởi gắm lòng mình vào bốn bài thơ, tuy tường đã trúc, may mắn còn được ghi lại trong Đại Nam liệt truyện tiền biên.
Vấn thiên hà sự thiết ngô phi!
Hoa tạ, tam cung nguyệt yếm huy.
dịch:
Cớ chi trời lại cướp phi ta!
Hoa rụng, ba cung bóng nguyệt tà.
Chùa đã phản ảnh một phần nào tâm tư của dân gian, vua chúa cũng như thi sĩ hay người dân thường.
Đọc cuốn sách nầy, độc giả biết thêm được một khúc sử Việt Nam, hiểu thêm một phần văn hóa, đời sống ở chốn sông Hương núi Ngự và nhất là theo dõi sự tích một ngôi chùa Phật giáo quan trọng bậc nhất suốt miền Trung. Philippe Dumont, trong tờ Carnets du Vietnam, nhân bài giới thiệu sách, đã viết "học để hiểu" và khuyên khách du lịch nên đọc để khỏi phải "faire" (có thể hiểu lướt qua) ngôi chùa. Hội Những Người Bạn Viễn Đông AFAO thấy ngay lợi ích của cuốn sách cho những khách tham dự các chuyến tổ chức của mình nên nhận lời ủng hộ tinh thần việc xuất bản. Thật vậy, ví chi dịch ra Việt ngữ như đã có nhiều người đề nghị, khi cho in bằng tiếng Pháp, với một khổ sách vừa tầm, nhà tôi nhắm các độc giả tiếng Pháp, đặc biệt những du khách đã có ghé qua chùa và muốn đem về một kỷ niệm có ý nghĩa. Công tác khảo cứu nầy có thể tiếp tục trong khuôn khổ một luận án tiến sĩ, nhưng nhà tôi nghĩ đã quá thất thập cổ lai hy, hết còn tuổi sưu tầm bằng cấp. Trái lại, nàng để dành thì giờ tự do tiếp tục học hỏi văn minh Đông Nam Á ở Trường Cao học Thực hành EPHE, lịch sử nghệ thuật, điêu khắc Chăm ở Viện bảo tàng Louvre, đạo giáo ở Viện Đại học Phật giáo Âu châu UBE,...
Lấy chùa Thiên Mụ làm đề tài luận văn, nhà tôi đã đi sâu vào lòng dân tộc Việt Nam, quê hương của chồng. Tôi mừng thầm vì càng đi sâu vào lòng người Việt, nàng càng biết rõ hơn tâm hồn tôi. Nhà văn Trần Công Tấn đã có tặng cho nhà tôi trong một bài báo đăng ở các tờ Phụ Nữ và Sông Hương, danh hiệu "nàng dâu Tây của Huế", tôi thì thường nói nôm na"cô đầm dâu Huế" gây tò mò trong giới phụ nữ đất Thần kinh. Những người bạn Pháp cho là nàng đã bị Việt hóa, trong khi ấy những bạn tôi thì lại bảo tôi đã thành Tây. Tuy nhiên anh bạn giáo sư Cao huy Thuần trong bài giới thiệu cuốn sách Gởi thương về Huế sắp xuất bản của tôi thì lại viết tôi đã Việt hóa nơi tôi ở, vợ con tôi... Thật ra, sống tha hương, lập gia đình nơi đất khách quê người với một bạn đường ngoại quốc nên chăng nhập gia tùy tục, sống hội nhập nơi định cư, hòa hợp với môi trường, có thế mới mong tổ chức được một cuộc đời hài hòa, đằm thắm, vui thích cho chính mình, cho gia đình mình và cho cả cộng đồng.
Xô thànhTết Bính Tuất 2006
Đoàn Kết 503 - 504 2006
(*) Le temple de la Dame Céleste (Chùa Thiên Mụ) à Hué
sanctuaire bouddhique et miroir de l'ancienne capitale du Vietnam
Etude de Võ Quang Liliane - Phographies de Võ Quang Yến
Cahiers de Péninsule n° 6 (2004), 94 trang, 23cm
Editions Scripta SEGIP, Resmarec, 22170 Lanrodec (France) ediscripta@aol.com
Xô thành, Tết Bính Tuất 2006
Võ Quang Yến
Theo http://chimviet.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...