Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Gửi thương về Huế 2

Gửi thương về Huế 2

Tập II : Làm gì cho Huế 
8-HƯỚNG VỀ MIỀN TRUNG 
Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại thành hòn núi cao.
Ca dao
Nước Việt Nam ta là một dãy đất dài mà đến nay quyền lực thường được tập trung vào hai cực bắc nam: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Miền Trung, dù phong cảnh có hữu tình bao nhiêu đi nữa, vẫn luôn thiếu thốn mọi bề, từ hạ tầng cơ sở qua chất xám, năng lực,... Cách đây mấy năm, khi tôi về nước công tác trên vấn đề rau câu, chiết xuất agar, một ông thứ trưởng thân mật bảo tôi: "Anh đừng mất công với Huế, chẳng được gì đâu!". Hồi ấy, tôi không muốn tin. Giờ đây, sau mấy năm lặn lội chật vật mà mục tiêu vẫn chưa đạt được, nhớ lại lời khuyên ấy, tôi kiếm cách tìm hiểu.
Một vài nhận xét dễ thấy từ đất Pháp: giáo sư, bác sĩ, thực tập sinh Việt Nam qua Pháp tham quan hay tu nghiệp rất ít người phát xuất từ miền Trung. Cách đây tám năm, tôi gặp được một bác sĩ làm việc ở bệnh viện Huế nhưng anh là người Bắc. Nếu có thực tập sinh người Huế thì họ là người công tác ở Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Sau này, phải đợi khi có sự kết hợp giữa hai trường Đại học Huế và Paris VI mới thấy các giáo sư và bác sĩ Huế qua Pháp. Gần đây, bắt đầu có vài giáo sư Pháp ngữ. Còn thực tập sinh trường Đại học Tổng hợp Huế thì đếm trên đầu ngón tay. Người ta có thể lấy lý do là chuyên gia Huế không có đủ tài lực. Cũng có thể anh tài đã tránh về Huế làm việc, hay đã lỡ về thì lại kiếm cách bỏ đi. Hỏi Phòng Hợp tác Khoa học Kỹ thuật ở bộ Ngoại giao Pháp thì được trả lời đây là chuyện nội bộ Việt Nam, họ không muốn nhúng tay vào. Tuy nhiên, vài năm trước đây, Sứ quán Pháp ở Hà Nội rất mong muốn thực hiện một công trình gì ở miền Trung trong khuôn khổ hợp tác giữa hai nước.
Trong một cuộc gặp gỡ giữa những nhà khảo cứu Pháp có dự án hợp tác với Việt Nam, một đề nghị được đưa ra: Pháp chỉ nên làm việc với những cơ quan, những trường đại học nào đã sẵn có một đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật nếu không xuất sắc, ít ra cũng phải có mức độ khá cao. Về mặt hữu hiệu, đây là một điều kiện cần thiết. Tuy nhiên, tôi đã lên tiếng bắt bẻ vì đề nghị nầy ưu đãi các thành phố lớn như Hà Nội hay Thành phố Hồ Chí Minh. Hồi ấy, đang chuẩn bị chương trình rau câu - agar cho Huế, tôi đã mạnh dạn nhấn mạnh cần phải giúp các trường học, các thành phố nhỏ mới mong họ có cơ hội ngóc đầu lên. Ngay sau cuộc bàn cãi sôi nổi đó, vị tham tán chịu trách nhiệm về văn hóa và khoa học ở sứ quán Việt Nam tại Pháp gán cho tôi danh hiệu "le fanatique de Hué", có thể hiểu là người cuồng tín hay người nhiệt tín của xứ Huế. Tôi tưởng có thể hãnh diện với lời chê - khen nầy. Dù sao, kỳ họp năm 1987 của Ủy ban Hỗn hợp Hợp tác Khoa học Kỹ thuật Pháp - Việt đã chấp thuận dự án để rồi đặt lại vấn đề kỳ họp năm 1989. Ngày nay, dự án tạm ngưng để đặt vào một chương trình rộng lớn toàn quốc về khảo cứu tất cả tài nguyên biển cả, từ nuôi tôm, nuôi cá, qua trồng rau câu, vớt rong tảo, chế biến mọi hóa chất,... Trong một chương trình khuôn khổ quốc gia nầy, chưa biết số phận dự án rau câu - agar Huế sẽ trôi dạt vào đâu.
Tôi đang phân vân về khả năng của một thành phố nhỏ trong cuộc thực hiện một chương trình khoa học kỹ thuật cỡ vừa hay cỡ lớn thì nhận được thư Đà Nẵng. Đà Nẵng có tiếng là năng động, người dân tháo vát. Mặc dầu không có đầm phá để nuôi trồng rau câu như ở Thừa Thiên, ty Hải sản cũng muốn xây dựng một đơn vị sản xuất agar và họ sẵn sàng bắt tay làm việc chung với Huế. Vậy thì trên một đề tài rất có giới hạn nầy, tại sao không họp ba thành phố Huế, Đà Nẵng, Nha Trang lại để cùng thực hiện chung dự án? Nha Trang có kinh nghiệm về công tác nầy từ lâu, giúp vào một tay thì việc lại chóng thành. Gần đây, phòng thí nghiệm ở trường Đại học Lille ở Pháp đã từng làm việc với trường Đại học Tổng hợp Huế cũng có nhận được yêu cầu hợp tác của Nha Trang. Ví như làm việc riêng biệt, sao lại không hợp lực với nhau? Như vậy, mỗi thành phố với thế mạnh của mình có thể đóng góp đắc lực.
Từ một vấn đề tương đối nhỏ nầy, nếu làm chung được việc, có thể mơ đến một cuộc hợp tác rộng rãi hơn trên nhiều lĩnh vực văn hóa, kỹ thuật, kinh doanh, du lịch... Đây không phải là một cuộc hợp tỉnh (để rồi đi đến chia tỉnh) như đã thấy mà là một công tác chung, có thể nhất thời, trong một vài dự án chủ yếu, cần thiết. Mỗi một thành phố vẫn giữ riêng nền hành chánh độc lập của mình. Lấy đề tài du lịch cho dễ thấy: có ai đi viếng thăm Huế mà không muốn tham quan toàn miền Trung? Nha Trang, Đà Nẵng nằm cùng Huế trong một chương trình du lịch là chuyện dĩ nhiên thiết thực. Tôi nhớ đến "làng ẩm" bên nước Sri Lanka là tổ chức tụ họp những nhà nông trong một vùng với mục đích chăm lo việc chia nước, sửa sang đê, rạch để phân phối nước từ trên các ngọn núi lửa chảy về, không dính dấp gì đến "làng khô" là cơ quan hành chánh: tổ chức nầy vận dụng từ nhiều thế kỷ!
Có người bảo tôi kém trí nhớ: Đà Nẵng và Huế là anh em kình địch, trong quá khứ ít khi ăn ý với nhau. Đây là chuyện đã qua, cần chăng phải nhắc lại. Thêm nữa, đồng ý với nhau vì thấy lợi ích cho mỗi bên trên một vài đề tài là thừa đủ. Khi đã làm việc chung với nhau trong các lĩnh vực ấy, biết nhau, quý trọng nhau rồi, tất nhiên mọi kỷ niệm ít vui, ít tốt sẽ dần dần quên đi. Điểm quan trọng mà các thành phố nên luôn nhớ là giữa hai cực bắc, nam tương đối khá mạnh, một miền Trung vươn mình trổi dậy, gây lên một sức mạnh vững chắc thì dễ thực hiện một thăng bằng cần thiết cho toàn thể quốc gia. Đây là hình ảnh mà chúng tôi mong các nhà lãnh đạo lưu ý. Bên Pháp nầy, ngoài Hội Người Yêu Huế, còn có các hội thân hữu Nha Trang, Đà Nẵng: tôi chắc là các bạn sẽ sẵn sàng bắt tay hưởng ứng công cuộc kết hợp này. Nhưng mọi sự phải bắt đầu bên Việt Nam.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 11.1990
Đại Đoàn Kết 49 1990.
9- LÀM GÌ CHO HUẾ 
Lần nầy rời Huế (1989) cũng như mọi bận khác, các bạn bè tiễn đưa đều ân cần nhắn nhủ: gắng làm chút gì cho Huế nhé! Vâng, thương Huế, nhớ Huế đâu có đủ, mỗi người xa Huế cần thấy phải làm gì cho Huế, cho xứ Huế thân thương, như là một chuyện dĩ nhiên. Cái khó là làm gì hữu ích cho đồng bào xứ sở, cho chính người dân đang nghèo khổ, khó khăn.
Có nhiều bạn bè đã chịu khó chạy xin thuốc men, thu lượm dụng cụ máy móc mới, cũ gởi về, hoặc quyên tiền lập quỹ học bổng, xây dựng nhà trẻ hay dựng trại nuôi dê lấy sữa. Bên nhà nhận được quà biếu thì vui mừng thu lãnh nhưng liệu viện trợ rồi có lâu dài vĩnh viễn không? Và sống mãi với tinh thần chờ đợi bên ngoài thì biết bao giờ mới bay nhảy được một mình? Đi xa hơn, điều đình với các cơ quan quốc tế đưa về đắp đập, xây dựng trạm bơm nước, nhà máy thủy điện,... là việc làm có tầm mức lâu dài hơn. Tự lực cánh sinh là một khẩu hiệu rất hay mà tôi thường được nghe nói bên nhà từ lâu. Bạn thương dân thì quý nhất là giúp họ có phương tiện phát triển. Trong quá khứ, người Việt đã chứng minh có đủ thông minh trí tuệ để tháo vát trước các tình thế khó khăn. Giúp họ dụng cụ, kỹ thuật tức là giúp họ làm ăn để tiến tới một cuộc sống độc lập... Tây Đức, Nhật Bản kiệt quệ biết bao sau thế chiến thứ hai, vậy mà ngày nay đứng vào hạng cường quốc thế giới. Gần ta hơn, Đại Hàn, Đài Loan, Thái Lan, Singapor, cách đây không lâu còn đang là các nước chậm tiến mà nay đã trở thành những rồng con năng động, nay mai sẽ giữ một chân đứng quan trọng không những quanh Thái Bình Dương, "lỗ rún" tương lai của nhân loại, mà còn có thể trên cả toàn cầu.
Việt Nam đang ở vào một tình trạng lịch sử và chính trị đặc biệt. Có thể nói ta đang có nhiều khó khăn sau mấy chục năm chinh chiến, nhưng chưa chắc đã có nhiều hơn một vài nước khác, vậy mà người ta đã ngấc đầu lên được. Riêng Huế ở vào một địa điểm ít thuận lợi : kỹ nghệ ít ỏi, canh nông không nhiều, giao thông đi lại khó khăn. Nhiều người còn bảo, mặc dầu cách mạng, chiến tranh, Huế vẫn chưa lột bỏ được hết tinh thần quan lại đã một thời tiêm nhiễm hai bờ sông Hương. Đây lại là một điểm khó khăn khác cần phải khắc phục nếu Huế muốn vùng lên để tự giải thoát cho mình. Mấy năm nay, Huế muốn mở mang du lịch. Ý kiến nầy có căn bản, phát triển được là một lối thoát rất tốt cho Huế. Nhưng du lịch ngày nay đã đạt đến một mức độ rất cao, không thể chỉ biếu cho khách bầu thơ túi rượu như thời ông cha ta ngày xưa là đủ. Ngoài những tiện nghi tối thiểu cần phải cung cấp đầy đủ (khách sạn, quán cơm, giải trí,...) ta còn phải biết cách tổ chức, tiếp đón, lưu khách, tìm kiếm phương tiện cống hiến du khách một kiến thức không rộng lớn cũng vừa phải về văn hóa lịch sử của Huế, vì ta có thể tự hào thành phố của ta là độc nhất ở Việt Nam còn có đủ thành quách lăng tẩm của vua chúa một triều đình bên cạnh những thắng cảnh sông nước hữu tình : Bạch Mã, Túy Vân, Cảnh Dương, Trường Sơn... mấy ai bước qua một lần mà không muốn dừng lại. Có điều du lịch là một vấn đề cần phải giải quyết cho cả toàn quốc vì chuyện giao thông đi lại, đổi chác ngoại tệ, thị thực thông hành,... đâu phải là việc riêng của Huế. Vì vậy dù muốn dù không, du lịch ở Huế phụ thuộc rất nhiều vào chương trình phát triển của cả nước.
Trong chuyến về thăm quê vừa qua, tôi may mắn được đưa đi xem vài cơ sở tiểu công nghệ ở Huế. Nón lá, đồ mây, vải thêu là những sản phẩm có thể bán ra nước ngoài, tuy còn phải hoàn hảo thêm, nhiều khi phải cố gắng theo chiều hướng thẩm mỹ của khách hàng. Có lẽ đồ gốm, chạm cẩn là những món hàng có thể cạnh tranh trên thị trường thế giới. Khách du lịch ghé qua sân bay Bangkok thấy các cửa hàng trình bày sáng sủa, chói mắt nhưng nhìn kỹ thì các mục đồ gỗ đâu có tinh vi bằng các bàn ghế chạm trổ ở Huế. Trong các loại đồ gỗ Á Đông mà tôi đã gặp đây đó, tôi chỉ thấy đồ của Indonesia là có thể so sánh với đồ gỗ của ta. Đây là một món hàng có thể xuất khẩu nhưng cần được tổ chức. Ngoài các tiệm thủ công nầy, tôi được đưa đi lên Bình Điền thăm Trại chăn nuôi Vùng đồi. Ở đây, 26 chàng trai, cô gái, tuổi mới ra trường hay ở bộ đội về, đang khai khẩn đất hoang, phát triển gò đồi, trồng bạch đàn, hồ tiêu, nuôi bò, nuôi vịt. Với một tinh thần khai thác hăng hái, tràn đầy nhiệt tình, các thanh niên nầy đã bắt đầu khai hoang được hơn 20 hecta đất trong số 100 hecta dự trù, trồng được 800 gốc hồ tiêu để đạt cho được 3000 gốc. Các cô cậu sống rất vui vẻ nhưng tôi thấy họ thiếu giải trí : một cây đàn, một máy vô tuyến điện, vài ba bộ cờ. Họ cũng ít có cơ hội về Huế. Một bạn trai đã tâm sự với tôi: "Cháu muốn lấy vợ mà ở đây chỉ có bốn cô, còn ở Huế thì có cô nào muốn lên đây?". Ai muốn giúp Huế thì nên hổ trợ các trại chăn nuôi kiểu kibboutz nầy vì họ là đầu mối sản xuất mà một nước muốn mạnh thì phải sản xuất nhiều.
Vùng quanh Huế rừng hoang còn nhiều mà đầm phá cũng không ít. Người ta cho tôi biết hiện nay, diện tích đầm phá quanh Huế là bằng diện tích các đầm phá miền Bắc. Đây là những bể cạn khổng lồ để nuôi tôm cá, trồng rau câu. Vào một lúc mà ta muốn khai thác các tài nguyên đất nước thì chuyện nuôi trồng ở các đầm phá phải được đặt ra gấp rút. Thật ra ở Việt Nam nói chung, Thừa Thiên - Huế nói riêng, đã có chương trình mở mang bờ biển. Nếu nghe nói người Úc đã có ký kết với ta về đề tài nuôi tôm, phía trồng rau câu chưa thấy có bóng dáng đầu tư. Chúng tôi đã có bắt đầu một chương trình hợp tác giữa Huế và vài cơ quan Pháp về chuyện nuôi trồng rau câu và chiết xuất agar từ rau câu ra. Agar không chỉ là một thức ăn mọi nhà nội trợ biết chiết xuất, mà còn là một hóa chất được dùng rất nhiều trong kỹ nghệ, đặc biệt là về thực phẩm. Agar cũng đã được dùng làm keo, giấy, dược phẩm, thuốc men. Trong ngành sinh vật học, agar là một môi trường đặc sắc để nuôi dưỡng vi sinh, thực hiện cấy mô (một phương cách "ươm cây trong ống" đang bắt đầu thịnh hành) làm cho agar trở nên một sản phẩm có giá trị trên thị trường thế giới nếu có phẩm lượng tốt. Từ hơn mười năm nay, nhiều xí nghiệp công, tư bên nước ta, ngay cả nhiều trường đại học, ty thủy sản đua nhau sản xuất agar, nhưng vì thiếu kiến thức căn bản khoa học, chưa đạt mức kỹ thuật cần thiết nên sản phẩm chế tạo ra không có đủ tiêu chuẩn quốc tế, từ đó không xuất khẩu được. Chúng tôi đề nghị xây dựng một đơn vị sản xuất tối tân ở Thừa Thiên-Huế, đào tạo chuyên viên tại Pháp về nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar, kiểm soát sản phẩm và, nếu cần, chăm lo cả việc tìm kiếm thị trường. Lẽ tất nhiên mọi sự bắt đầu với tài chánh, và vấn đề nấy cần phải được giải quyết trước nhất bằng cách nầy hay cách nọ: chuyện thông thường cần hiểu là khi một người đầu tư thì mong thu nhập lợi tức, trừ khi mình tự bỏ vốn thì mình có toàn quyền về sản phẩm chế tạo.
Dù sao, bất cứ tiền vốn ở đâu lại, một chuyện dĩ nhiên là phải ra công làm việc. Chúng tôi đề nghị một cuộc hợp tác giữa ngành đại học và xí nghiệp: một bên lo khảo cứu, kiểm tra, bên kia chịu trách nhiệm khâu sản xuất. Tài nguyên chất xám mình hiếm, chỉ có một cuộc hợp tác thật sự, thật tình với nhau mới mong làm nên được việc. Theo chúng tôi thấy thì Trường Đại học Hà Nội và Xí nghiệp Hải Phòng đã hiểu rõ tấm mức quan trọng của một cuộc hợp tác loại nầy nên đã làm việc với nhau. Nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar là công việc của Khoa Sinh Trường Đại học Tổng hợp Huế. Chúng tôi có tham vọng giúp nâng cao trình độ vài khoa khác. Chúng tôi đã có đề nghị với Khoa Hóa một chương trình hợp tác khảo cứu: đào tạo, đưa thực tập sinh qua Pháp khảo cứu trong một phòng thí nghiệm trên đề tài phân tích nước lợ ở các đầm phá Thừa Thiên - Huế (trong đồ án rộng lớn phát triển miền biển), đồng thời theo dõi phương pháp giáo huấn hóa học các trung tâm chuyên tu. Chúng tôi không quên Khoa Toán - Tin học và cũng có đề nghị một chương trình đào tạo giáo viên, chuyên viên, khảo cứu viên cho khoa nầy ở Pháp. Những người chỉnh lý các chương trình nầy không cần phải là đặc biệt người Huế, người Việt, mà chỉ là những người có dính dấp ít nhiều với Huế và một phần nào có yêu Huế.
Thật vậy, Huế cần có được nhiều người yêu và không chỉ trong số những người đã sinh trưởng hoặc đã sống lên ở Huế. Ở Pháp, số người Việt và Pháp đã từng có liên lạc với Huế rất nhiều. Bây giờ phải tạo điều kiện cho họ luôn biết tình hình, thời sự ở Huế, theo dõi những biến chuyển ở đất Thần Kinh chẳng hạn qua những bài báo, những buổi nói chuyện, những đêm văn nghệ,... Không phải tình cờ mà Hội Người Yêu Huế đã có cho ra tờ thông tin liên lạc (xin cám ơn chị Ngọc Quế đã bỏ công đánh máy mấy số đầu), tổ chức những Đêm Thanh Hải hát Trịnh Công Sơn, Đêm Hè Huế với một đám cưới cổ truyền trên sân khấu,... Trước hè, họa sĩ Bửu Chỉ đã được mời qua Paris triển lãm hai lần ở Nhà Việt Nam và ở trụ sở UNESCO nhờ sự hỗ trợ tài chánh của Cơ quan Công giáo Chống đói và để Phát triển CCFD. Sang năm một họa sĩ khác cùng một văn sĩ sẽ được mời qua trong thời gian Hai tháng với Huế vào khoảng sau xuân. Trong lúc chờ đợi, ngày 9 tháng 12 sắp tới, trong khuôn khổ ngày khảo cứu về Việt Nam do Hội người Pháp bạn Viễn Đông AFAO tổ chức tại viện Bảo tàng Guimet, anh Lê Văn Hảo sẽ thuyết trình về tình hình hiện nay của điện đài lăng tẩm ở Huế. Để thêm phần hào hứng, tôi sẽ cho chiếu hình ảnh đã chụp ở Huế trong mấy kỳ về thăm quê vừa qua. Hơn nữa, nhân dịp nầy,các vị lãnh đạo UNESCO sẽ được mời đến dự vì chúng tôi có tham vọng đặt lại vấn đề trùng tu thành nội.
Đầu tháng 12 sắp tới cũng sẽ nhóm ở Paris Ủy ban Hỗn hợp Khoa học Kỹ thuật Pháp Việt. Trong những buổi làm việc với các nhà khoa học Pháp cũng như ở bộ ngoại giao, tôi đã có dịp trình bày tình hình hiện nay ở Huế. Đến nay, các cuộc hợp tác, quỹ viện trợ thường đến với các thủ đô Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến lúc quốc tế cần phải biết tới miền Trung đất Việt mà Huế đã là thủ phủ cả một thời. Vẫn biết đội ngũ cán bộ khoa học ở Huế còn cần phải được tu bổ, cải lương nên cuộc phát triển gặp nhiều khó khăn, nhưng phải có bắt đầu mới đếm được những bước tiếp theo, sau đó mới hòng đạt đến mức cao độ. Ở nước ngoài, người yêu Huế có khả năng, thiện chí mà lại vô tư không hiếm, tưởng Huế nên cần tiếp xúc làm việc với họ. Tôi tin tưởng ở tính kiên nhẫn, cần cù của người dân Huế, nhất là hiện nay ở Huế có một anh chủ tịch năng động, biết đặt nặng chuyện phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật thì với sự cố gắng của mọi người, Huế chắc chắn sẽ thành công vùng lên trở thành một kinh đô trù phú như trước.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 11.1989
Đại Đoàn Kết 4-5 1990.
10- CÔNG TÁC TRÊN QUÊ HƯƠNG 
Đi tha hương cầu thực lâu năm, nay đây mai đó, dãi dầu sương gió đất khách quê người, bây giờ có dịp về lại chốn chôn nhau cắt rốn, nơi đầy kỷ niệm thời niên thiếu, làm sao không hân hoan, phấn khởi được. Thêm cùng với chuyến về thăm gia đình, đất nước, gắn liến được một công tác giúp ích đồng bào, bà con thì lại càng vô cùng thú vị.
Khi đặt chân lên đất quê hương, dù chưa quen lại sức nóng nhiệt đới, cảnh tượng ồn ào tấp nập các nước phương Đông, đứa con trở về vẫn thấy rạo rực trong lòng, tâm hồn lâng lâng như khi bước vào một nơi tưởng như xa lạ mà lại quen thuộc vô chừng. Có ai đó đã viết là khi qua Paris được đưa đi dạo vườn Luxembourg ở xóm La Tinh thì tưởng như bước vào một nơi quen biết mặc dầu chưa hề bao giờ có dịp tới đây: biết bao sách truyện đã hằng miêu tả khu vườn tuyệt diệu nầy! Thì đây cũng vậy, tuy không phải cùng trường hợp. Sau nầy, mỗi lần cho bạn bè xem hình ảnh đã chụp, bất cứ đồng bào hay người ngoại quốc, có nhiều bạn đã bảo: anh đã cảm nhận đất nước Việt Nam từ bên trong sâu đậm, từ đáy lòng đầy tình yêu, vượt hẳn tầm mắt nông cạn của một du khách thiển cận, vô tình. Thật vậy, khi viếng thăm một nơi xa lạ, dù đã có chuẩn bị từ trước, dù có hướng dẫn viên giải thích tường tận, thường được chỉ thỏa mãn về mặt kiến thức, còn về tình cảm thì mấy khi được xúc động như khi đứng trước điện đài Parthenon trên đồi cao lộng gió, trước Kim Tự Tháp nguy nga giữa bãi sa mạc mênh mông nắng cháy. Trái lại, chỉ đi dạo trên bờ đê giữa các cánh đồng lúa mướt, hay chạy dọc theo các bãi cát vắng vẻ bờ biển miền Trung, hay cả khi len lỏi trên các lề đường tấp nập, mỗi lần tôi lại cảm thấy một mối thích thú đặc biệt.
Tôi còn nhớ rõ một hôm trời mát dịu, cùng đứa cháu đạp xe đi khắp Hà Nội mà tôi ít biết, xem ba mươi sáu phố phường đông đúc, phố Hàng Đào sáng choang và ngập tràn hàng hóa, xem Bờ Hồ nhộn nhịp, những gánh hàng chập chờn bên những ngọn đèn leo lét gây nên một cảnh tượng khá lãng mạn ở chốn đô thành. Cảm hứng nhất là thấp thoáng trong bóng tối, các cặp trai gái in bóng trên mặt hồ, thản nhiên tình tự, quên hẳn vũ trụ bên ngoài như hầu hết các cặp tình nhân khác trên thế giới: ngày nào còn có tình yêu là ngày ấy còn đời sống, còn hy vọng. Làm sao quên được những ngày đi viếng quê hương Đồng Khởi, vượt Tiền Giang ở bến phà Rạch Miễu, để rồi mặc sức ngắm các cô gái Bến Tre có nét mặt thanh tao trên cơ thể vạm vỡ, với giọng nói "ngọt ngào như sông nước sông Cửu Long". Làm sao quên được hôm ngủ lại ở hoa lạc viên Nhân Nghĩa, nghe tiếng gió rì rào trong hàng dừa cao vút đầy trái cây ngọt lịm, cùng bác Minh nhấp chén rượu thuốc ở Đài Vọng Cảnh, cạnh các khóm long, kim, thủy trúc đủ loại, các chậu nguyệt bạch, trang đài tỉa gọt công phu.
Viếng lạc hoa viên đất Khởi Đồng,
Dừa cây cao vút lối qua sông,
Bến Tre lừng tiếng đường xa vắng,
Băng lướt Tiền Giang ghe bập bồng.
Làm sao quên được chiều hôm đi dạo trên đồi Thiên An ở Huế, quanh rừng cây sào sạt, trong tiếng thì thầm của ngàn thông vi vút, với hình ảnh tà áo nhẹ bay dưới ánh nắng chiều tàn.
Một chiều hạ nắng trên đồi thông,
Trầm lắng chuông chiều động cửa không,
Nàng bước chân đi trong gió nhẹ,
Giữa nơi tĩnh mịch chốn hư không.
Làm sao quên được hôm ăn chay trên bờ sông An Cựu, lâu ngày chẳng còn biết cách thức hòa điệu các món được trình bày rất mỹ thuật theo kiểu Huế. Tối hôm đó, bạn bè đã hiến cho tôi một đêm văn nghệ, dành cho tôi những những bài hát hay nhất, những vần thơ độc đáo, những câu chuyện đậm đà, thú vi. Tôi chưa bao giờ có mặt ở một buổi họp mà những từ ngữ "mô, tê, răng, rứa" được dùng nhiều như vậy ; thấy như ở đây mỗi một người, kể cả tôi, đều cố ý dùng những danh từ địa phương như để khẳng định mình là người trong cuộc, mình là con người sống lên tại chỗ chứ không phải là dân ngoài nhập vào. Cảm động nhất là khi cô Diệu Hoàng tươi sáng, ví von trình diễn bài Nhớ thôn Mỹ, một bài thơ của tôi được cháu Bửu Phôi phổ nhạc, tiếng vổ tay khen ngợi làm cho tôi thơm lây được một phần nào trong giới văn nghệ quê nhà. Khích động nhất có lẽ là hôm tôi về thăm lại làng xóm cũ, nơi quê mẹ nhưng cũng là nơi tôi đã sống một thời vô tư, ấu trẻ. Bến Đình, Nghĩa trũng còn nguyên vẹn, sông Ô Lâu vẫn cuồn cuộn chảy, thờ ơ với đứa trẻ hồi xưa đã biết bao lần tung tăng bơi lội, đùa giỡn nơi đây.
Đây quê mẹ ấp ủ tình thương,
Đây xóm làng bao nổi vấn vương,
Nơi đã qua những năm trẻ dại,
Những ngày sống rực nắng trong vườn.
Từ Làng Hói rồi lên Phò Trạch, những kỷ niệm xa xăm dần dần hiện ra trước mắt: mấy chục năm trước, một nhóm trai trẻ ở huyện Phong Điền có dự tính khi hết chiến tranh, tức khắc sau khi hòa bình trở lại thì lên đây khai khẩn đất hoang, lập đồn điền, trồng cây nuôi thú. Các bạn ấy nay không còn nữa và truông Phò Trạch vẫn còn hoang dại dưới ánh mặt trời gay gắt. Chuyện xây đắp, kiến thiết kéo tôi trở lại với hiện tại: tôi về đây công tác chứ không phải để ôn tưởng quá khứ xa xăm. Nước ta đang nghèo, phải khai triển tài nguyên sẵn có. Đầm phá Thừa Thiên cũng như suốt bờ biển ba miền có nhiều tôm cá, rau câu, rong tảo đủ loại. Phải nuôi trồng sao đây để có sản phẩm xuất khẩu. Ta đang sống ở một thời đại mà văn minh đã đem lại ô nhiễm ở mọi môi trường. Bên cạnh kế hoạch lọc sạch nước uống, ta phải nghĩ đến chuyện huỷ đốt hay ủ men rác rưới ra khí, thành phân. Vỏ tôm vỏ cua chế biến ra thức ăn cho súc vật đã là tốt, đem chiết xuất chế biến chitin lại còn quý hơn. Những dự án nầy chỉ cần máy móc kỹ thuật, khỏi phải mua nguyên liệu ở nước ngoài. Nếu biết năm 1989 Việt Nam đã nhập cảng đến 2 tỷ rưởi đôla mà trong ấy hơn một nửa là nguyên liệu và nhiên liệu thì thấy rõ tất cả mặt quan trọng của một cuộc kỹ nghệ hóa nước nhà. Hơn nữa, nếu biết thêm cũng trong năm 1989 ta xuất cảng dưới xa 2 tỷ đôla thì lại càng thấy cần phải nổ lực cố gắng nhiều mới mong lập lại được cân bằng của cán cân. Chỉ có hai thế đôi ngả: hoặc xuất cảng nhiều hơn, hoặc nhập cảng ít lại, hay tốt nhất là vừa xuất cảng nhiều vừa nhập cảng ít lại. Cứ lấy Nhật Bản, Đại Hàn mà làm gương: những nước hầu như không có nguyên liệu mà kỹ nghệ họ lên cao đến mức nào?
Cũng như năm ngoái, năm nay tôi về Việt Nam với anh bạn Daniel Christiaen để tiếp tục cụ thể chương trình nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar từ rau câu chỉ vàng, một chương trình khởi đầu từ nhiều năm trước . Mục đích năm nay là đặt nền móng cho một đơn vị sản xuất agar. Theo tính toán của hảng Pronatec, ta có thể chế tạo loại agar xuất khẩu, riêng ở Huế năm đầu tiên khoảng 45 tấn, thu nhập hơn 700.000 đôla.. Trả xong tiền vay để mua nhà máy, phí tổn điện, nước, nhân công và ngay cả tiền mua rau câu của nông dân, cũng còn lại được một phần ba. Số tiền hằng năm nầy có thể tăng lên, tỷ lệ với số lượng agar sản xuất. Ngoài chuyện lợi lọc kinh tế, nên nghĩ đến một yếu tố vô cùng quan trọng cho ta hiện nay là cuộc chuyển giao kỹ thuật. Ta cần phải học hỏi, khảo sát để hiểu biết cặn kẽ cách nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar. Ta cũng cần phải thông thạo các phương pháp kiểm soát phẩm lượng một món hàng xuất khẩu đánh giá cao nhãn hiệu "agar Việt Nam" hay "agar Huế". Vào một lúc mà nước ta muốn mở mang kinh tế, đây là một dịp tiện lợi để phát triển một nguồn nguyên liệu mà ta sẵn có. Tôi chỉ đổ dầu vào lửa mà thôi. Từ hơn mười năm nay, biết bao trường đại học tổng hợp, viện khoa học, ty thủy sản,... khảo cứu, học hỏi về rau câu, biết bao xí nghiệp lớn, nhỏ đua nhau chế tạo agar ở nước ta mà đã có được mấy kilô bán ra nước ngoài? Tình trạng đáng tiếc nầy bắt nguồn từ sự thiếu thốn kỹ thuật và phương tiện.
Chương trình của chúng tôi là đề nghị đào tạo cán bộ, kiểm soát phẩm lượng và kỹ thuật chế biến tại Pháp, kiếm vốn đầu tư để xây dựng nhà máy ngay trên đất nước ta. Hảng Pronatec cam kết theo dõi qui trình từ lúc nuôi trồng rau câu cho đến khi gởi agar bán ra ngoại quốc. Công lao của họ sẽ được trả bằng agar chứ họ không đòi hỏi ngoại tệ mà ta không có. Nhưng thực hiện chương trình là ta phải đảm nhận hoàn toàn : đại học chăm lo chuyện khảo cứu, kiểm soát, xí nghiệp chịu trách nhiệm khâu chế biến, sản xuất. Đây là một cuộc hợp tác giữa các cơ quan của ta và ngoại quốc. Đã đến lúc cần phải xóa bỏ ý niệm lưu hành thông thường đến nay: hợp tác là viện trợ. Không, hợp tác chỉ có hiệu quả khi đôi bên làm tròn nhiệm vụ của mình. Và đấy là điểm khó vì ngay từ đầu, Daniel Christiaen thấy ngay ban giám hiệu Trường Đại học Tổng hợp Huế không thi hành chương trình phía mình trong khi Pronatec đã đưa qua Pháp một cán bộ giảng dạy và hai thực tập sinh. Cuộc hợp tác không thể đi xa hơn và tôi là một trong những người thất vọng nhiều nhất. Về ngồi ở nhà khách Lý Thường Kiệt, mục kích một trận mưa rào, nhìn mưa rơi tầm tã trên lá, tuôn chảy xuống cành, xuống thân cây, lan tràn ra mặt đất, tôi suýt viết: Trời mưa ở Huế sao buồn thế? nhưng câu nầy đã được Nguyễn Bính viết thành thơ. Thôi thì ta về ta tắm ao ta.
Đã khá lâu trời Huế ủ mây,
Gió lùa thổi nước trút lay cây,
Từ phòng vắng vọng qua song cửa,
Cảm thấy lòng man mác khó khuây.
Người Việt ta làm ăn thành đạt ở nước ngoài khá nhiều, số người muốn giúp ích đất nước cũng không hiếm. Nhưng lắm người, đang lưỡng lự vì không rõ tình thế bên nhà. Nếu tạo được điều kiện tốt, mặc dầu thất vọng, tôi luôn tin tưởng những người con sống xa quê ấy sẽ là những chiếc cầu nối vững chắc trong các cuộc đầu tư giữa trong và ngoài nước, ở khối nầy hay khối kia, và các kỳ công tác của những người làm trung gian nầy là những dịp để họ vừa đóng góp vào cuộc xây dựng xứ sở vừa tìm hiểu thêm văn hóa quê hương.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 4.1990
Đại Đoàn Kết 24 1990
11- HƠI THỞ SÔNG HƯƠNG 
(Nhân "Hai tháng với Huế" ở Paris)
Cái may của người Huế là có được một thành phố Huế để thương, để nhớ và cả để giận, để hờn. Ý nghĩ nầy lởn vởn trong đầu óc tôi suốt tối hôm nghe Thúy Vân hát theo nhịp điệu đàn tranh của Ngọc Diệp ở Nhà Việt Nam ngày thứ bảy 5.5.90 vừa qua. Trong suốt buổi tối hôm đó, tôi chắc là thính giả, nhất là ai đã sinh trưởng và lớn lên ở Huế, đếu có cảm tưởng như tôi: qua giọng hát, tiếng đàn, người nghe như đang được đưa về đất Huế, trên bờ sông Hương dịu mát dưới ánh trăng thanh hay trong rừng thông rào rạt qua tia nắng chiều. Một anh bạn ngồi cạnh tôi thì thầm: "May mà tôi vừa mới về thăm Huế, không thì khóc được". Tôi thú thật ngay với anh ta: "Tôi vừa mới về qua mà vẫn khóc như thường! ". Người Huế có lẽ vì quá giàu tình cảm nên mới xúc động nhiều khi nghe lại giọng Huế, thấy lại hình ảnh quê xưa. Sau buổi trình diễn, nhân trò chuyện với mấy người quen, tôi thổ lộ hơi nhiều cảm xúc của mình, một cô bạn người Nam bẻ lại: "Bộ anh tưởng chỉ có người Huế các anh là giàu tình cảm thôi à?" làm tôi hơi thẹn vì không biết giữ kín nỗi lòng.
Câu nói của cô bạn dù sao cũng nhắc lại cho tôi là trong phòng không chỉ có khán giả người Huế. Liệu các bạn chỉ biết Huế qua sách vở, phim truyện, qua một chuyến tham quan ngắn hạn, có thấy tâm hồn rạo rực khi nghe đàn ca nhạc Huế như mình không? Tôi chắc những bài Đây thôn Vỹ DạNhớ Huế ngâm theo lối Huế, những khúc hò ru con, mái nhì thế nào cũng lay chuyển lòng nhiều người, mặc dầu chưa có dịp đặt chân lên đất Huế và dừng bước lại đây. Nhất là họ không phải đi viếng thăm môt mình: người hướng dẫn qua Huế hôm đó là anh Cao Huy Thuần mà các bạn hâm mộ nhạc Trịnh Công Sơn đã thưởng thức lời nói duyên dáng trong một băng nhạc của Thanh Hải. Giới thiệu Huế phải có anh Thuần. Anh đã thấm nhuần tư tưởng, phong cách, lời ăn tiếng nói, nói chung một chữ chất Huế, sâu đậm đến nỗi mỗi câu trình bày của anh dày đặc tâm tư Huế và buộc người nghe nếu không trở lại thì cũng tưởng tượng đến một khung cảnh nào đó của Huế. Đi vào lòng Huế với anh Thuần, người nghe có cảm giác được dẫn về quê mẹ thân thương của người con đã trưởng thành nơi đây.
Quê mẹ nầy đã nổi bật trong những câu ca của Thúy Vân. Có lẽ giọng hát của cô chưa được điêu luyện bằng giọng hát của vài ca sĩ nổi tiếng đã trình diễn ở Paris, nhưng giọng hát nầy thật thà, mộc mạc, tràn đầy tình cảm, dễ thấm sâu vào tâm hồn thính giả. Cách đây mấy năm, lúc mới về tiếp xúc lại quê hương, tôi đã được nghe Thúy Vân hát trên đò giữa lòng sông Hương. Tôi còn giữ mãi hình ảnh một cô gái buồn, ít cười, ít nói. Giờ đây, gặp lại Thúy Vân, với mái tóc ngắn, tôi đã tìm ra một bộ mặt vui tươi, một thiếu phụ hoạt bát, đương thì. Có lẽ điệu hát Huế là điệu hát buồn nên giọng hát của cô thích hợp với nhạc Huế. Tuy nhiên, trong đêm hát vừa qua, những người mê nhạc Huế cảm thấy bị thiếu thốn ít nhiều vì không nghe được một điệu nam ai, nam bình, một bài cổ bản, bình bán, ngay cả một câu kim tiền, lưu thủy. Qua phần thứ nhì, Thúy Vân tỏ ra không chỉ chuyên môn về cổ nhạc mà biết cả tân nhạc. Những bản Hoa rụng ven sông hay Đưa em tìm động hoa vàng đã được nhiều ca sĩ trình diễn nhưng qua giọng hát trầm, ấm của Thúy Vân, người nghe không khỏi rung động trước các khúc tình ca ấy.
Cũng ở phần thứ nhì nầy, Ngọc Diệp đã cho thính giả thưởng thức một bài độc tấu đàn tranh Tứ đại cảnh. Nếu nhạc mới phải đệm qua đàn ghi-ta, nhạc xưa Huế không thể thiếu đàn tranh. Mà không phải bất cứ tiếng đàn tranh nào. Tiếng đàn của Ngọc Diệp thánh thót, vấn vương, càng nghe càng thấy gợi lên hình ảnh đền đài, lăng tẩm của chốn đế vương, hình ảnh cô lái đò uyển chuyển trên nước xanh, sóng dịu. Nhìn mấy ngón tay dài của cô linh động vuốt ve, gảy, nhấn dây, phiếm, khán giả như bị thôi miên và có thể một lúc nào đó quên hẳn mình đang nghe đàn để ngao du vào nơi tiên cảnh. Một nhà văn Huế đã giải thích có lẽ phong cách quý phái của đất Thần Kinh đã được truyền qua tiếng đàn của Ngọc Diệp. Đêm nhạc vừa qua chỉ là đêm đầu tiên một loạt ba đêm nhạc Hơi thở sông Hương tổ chức tại Nhà Việt Nam ở Paris. Trong chương trình Hai tháng với Huế, Nhà Việt Nam có nhã ý mời hai cô Thúy Vân và Ngọc Diệp từ Huế sang trong ba tháng. Ban tổ chức cũng có ý hay là khánh thành ngay chiều hôm đó, cùng trong một phòng, một cuộc triển lãm hình Huế của Marc-Antoine de Montclos và Võ Quang Yến. Vì vậy, suốt buổi tối, lời giới thiệu của Cao Huy Thuần, tiếng hát đàn của Thúy Vân, Ngọc Diệp đã vang dội trong một bầu không khí rặc Huế. Một phần lớn các địa điểm, gợi ý đã được hình dung qua mấy chục bức hình chụp màu. Từ Bao Vinh qua An Cựu, từ Đại Nội lên chùa chiền, lăng tẩm, nhiều hình góc đường, xóm cũ, sông núi, điện đài đã giúp người xem xác định được phong cảnh thanh lịch của xứ Hương Bình cũng như thành quách điêu tàn của chốn đế đô. Rồi đây sẽ có giáo sư Trần Văn Khê giảng giải về nhạc cung đình, hòa thượng Thích Thiện Châu thuyết trình về chùa cổ và Phật giáo ở Huế, và sau cùng họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận sẽ triển lãm tranh vẽ của anh.
Ngay từ bây giờ, chắc chắn là Hai tháng với Huế, đặc biệt những đêm Hơi thở sông Hương, sẽ để lại trong lòng khán giả, nhất là trong lòng các người Huế, một ấn tượng sâu đậm, một mối tình khó quên.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 5.1990
Đoàn Kết 423 1990
Văn hóa du lịch 6.1990
12- HOÀNG ĐĂNG NHUẬN GIỮA PARIS 
(Nhân cuộc triển lãm tranh ở UNESCO)
Xuân năm nay ở Paris không giống xuân mọi năm. Sau một đợt nóng bất thường, trời trở lại dịu hơn. Sau một thời gian khô hạn, đúng vào lúc cây cỏ nẩy mầm, trời lại đổ mưa, ngay cả vào dịp cuối xuân, lúc người ta đang chờ đợi trời tốt để tổ chức các cuộc vui ngoài vườn hay những buổi dạo chơi trong rừng núi. Anh Nhuận đổ bộ lên đất Paris vào những ngày thất thường ấy, tuy nhiên trong một khung cảnh có thể nói là dễ chịu, trời hết lạnh lại bắt đầu nóng ấm, mưa nắng chập chờn làm tăng thêm độ tương phản giữa các màu sắc lung linh trong hình ảnh kinh đô ánh sáng.
Trong những hôm dạo rong dọc theo phố phường, anh Nhuận đã chịu khó giải thích cho tôi, một kẻ phàm phu trong lĩnh vực hội họa, những mẫu xinh, nét đẹp, những contour - danh từ của anh - của mái nhà, tường vách của các đỉnh nhà thờ, cung điện lấp ló sau các ngõ hẻm, đường hẹp xóm La Tinh. Đây đường chợ Mouffetard, linh động không kém gì chợ Đông Ba, bắt đầu từ nhà thờ thánh Médard, cạnh ngã tư Les Gobelins thẳng lên công trường Contrescarpe, đầy dẫy quán ăn xứ Hy Lạp. Đây trường học trang nghiêm Henri IV và nhà thờ thánh Etienne-du-Mont tráng lệ xây mặt ra điện Panthéon hùng vĩ, oai phong. Đây con đường dốc cao Núi thánh Geneviève đổ ra xóm Mutualité mà trước 1975 là nơi gặp gỡ hàng ngày của Việt kiều vì là nơi có quán Thanh Bình bán thực phẩm Á Đông. Bên kia sông Seine, nhà thờ Đức Bà sừng sững đồ sộ hướng lưng vào đài kỷ niệm dân tộc Do Thái bị thảm hại trong kỳ thế chiến vừa qua. Đi dọc theo bờ sông khắp đảo La Cité nằm giữa hai nhánh sông Seine, chắc anh Nhuận không sao không nghĩ đến sông Hương bên kia chân trời. Anh rất thích thú cái hình tôi chụp anh ôm chùm cột điện, cô đơn ở mũi đảo, trước sông nước hữu tình, xa xa xếp dài những lâu đài cổ kính của một thời đại lịch sử nước Pháp. Sau nầy tôi mới biết anh nhớ vợ, nhớ con mặc dầu ra đi chưa đầy hai tháng. Nghệ sĩ nào mà không đa tình, đa cảm!
Cũng may mà trong thời gian ở Pháp tuy dài, anh cũng ít được rảnh rang. Ngoài những hôm đi thăm bạn bè, những buổi đi ngắm xem đường sá xe cộ ở công trường Concorde hay đại lộ Champs-Elysées, tháp gương giữa sân điện Louvre, hay sát với nghề nghiệp hơn, xem xét các bạn đồng nghiệp trổ tài ở Pont des Arts hay công trường Tertre trên đồi Montmartre, anh phải chuẩn bị cho hai buổi triển lãm ở Paris: từ 5 đến 15.6 ở trụ sở UNESCO và từ 16 đến 30.6.1990 tại Nhà Việt Nam. Tôi viết mấy dòng nầy hôm cuộc triển lãm ở UNESCO vừa được khánh thành. Trưng bày được 50 bức tranh giữa kinh đô nước Pháp, ở một nơi đông đảo nhất dân ngoại quốc tứ xứ, là một hân hạnh lớn cho nhà nghệ sĩ, tôi chắc anh Nhuận rất ý thức về may mắn nầy và sẽ ghi lâu trong lòng. Mặc dầu lễ khánh thành kéo dài hai tiếng đồng hồ, người ra kẻ vào liên tục, lúc tôi đọc bài diễn văn khai mạc và giới thiệu, cũng khoảng trên dưới 80 khán giả bao quanh anh Nhuận để khen ngợi các tác phẩm của anh.
Tôi nhận ra những người lại xem tranh anh có thể kê làm hai loại : những đồng bào Việt Nam xa nhà và những bạn ngoại quốc yêu chuộng nghệ thuật. Người đã biết đất nước Việt Nam, ngoài nghệ thuật, còn chú trọng đến phong cảnh quê hương. Một giàn hoa che bóng, một triền núi cỏ may, một bụi hoa ngũ sắc, một ngôi lăng điêu tàn, một hồ Tịnh Tâm trên nền trời tím đậm, hay vài dây hàng rao kẽm gai sét rỉ xen lẫn hoa dại sáng tươi,... là những hình ảnh gợi lên biết bao thương nhớ. Vì vậy không ai lấy làm lạ khi thấy mấy bức tranh ấy được dành trước nhất. Những bạn chưa bước chân đến Việt Nam thì chỉ đánh giá tranh qua nghệ thật. Tuy hơi ngạc nhiên, nhưng tôi phải chấp nhận khiếu thẩm mỹ riêng của mỗi người khi thấy mấy người khách nước ngoài giữ phần mấy bức tranh thành phố hay đồi núi chìm đắm trong bóng tối tuy thực hiện ở một xứ chan hòa ánh nắng. Từ đó tôi đã kiếm cách tìm hiểu anh bạn họa sĩ qua mấy bài báo viết về anh bên nhà. Thì ra đường phố đã chiếm một phần lớn trong số các họa phẩm của anh. Mà không phải phố nào cũng giống nhau. "Giai điệu trong tranh biến ảo với những tiết nhịp bất ngờ: có khi là những tiết điệu đung đưa tuổi trẻ; có khi là nhịp chậm buồn lặng lẽ; có khúc khoan thai suy tưởng" (Trần Phương Kỳ). Đằng khác, "phố Nhuận vắng mà không buồn, chói lọi mà không phơi bày, khép và mở một thế giới nội tâm dành riêng, một thế giới đầy mơ mộng và khát vọng của những ngày người ta còn trẻ" (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Thế mới biết tâm tình một bức tranh phải qua những dòng văn đậm đà, thắm thiết của những nhà văn không kém phần nhạy cảm mới thổ lộ được rõ ràng. Chưa chắc tất cả những người mua tranh đã diễn tả nổi hứng thú của mình. Dù sao đã có nhiều người đặt mua vì phòng triển lãm đầy dẫy những tấm thiếp đề "réservé" dán dưới các bức tranh và đây là bằng chứng cụ thể lòng hâm mộ của khán giả.
Chúng tôi rất mừng thấy anh Nhuận thành công trong chuyến qua Pháp nầy. Được xuất ngoại trong thời buổi nầy đã là một cái hên mà mấy nghệ sĩ được gặp. Được nhiều người ngưỡng mộ tranh mình lại là một cái may khác. Người ta thường thấy cái may hay lại với ai biết gây ra nó. Không có vẽ tranh đẹp thì ai chịu khó tổ chức chuyến đi, tổ chức cuộc triển lãm cho mình, để cho có người lại thưởng ngoạn và mua tranh? Nhưng cũng chớ nên quên vai trò của những người đứng ra tổ chức. Riêng phần nhóm bạn Huế đã ra sức nhiều trong công chuyện nầy, chúng tôi rất hân hoan vì đã tranh thủ đưa ra trình bày được ở kinh thành xán lạn nầy một sản phẩm có giá trị của xứ Huế. Cũng có thể nói là một sản phẩm mới lạ như một cô khách lại ngắm tranh người Brazil đã gợi ý: "Tôi rất thích thú ngạc nhiên thấy ở phòng triển lãm nầy một lối vẽ không những tinh vi, độc đáo, mà còn mới mẻ, cận đại, hay ho không kém gì lối vẽ cổ điển, truyền thống của những người Á Đông các anh!". Chỉ một câu bình phẩm khuyến khích nhỏ đó là đủ để chúng tôi phấn khởi, đủ để đền bù mọi công lao mà chúng tôi đã bỏ ra từ mấy tháng nay.
Cần thêm chăng thì chỉ là lời cám ơn nồng nhiệt hai cơ quan CCFD và AIPU đã góp phần thiết thực trong chuyện tổ chức chuyến đi và triển lãm tranh Hoàng Đăng Nhuận.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 6.1990
Đoàn Kết 425.1990
Tuổi trẻ Chủ nhật 7.1990
13- GỞI THƯƠNG VỀ HUẾ
(Bên lề "Hai tháng với Huế" ở Paris) 
Chưa bao giờ Paris đã nghe, nói, nhìn nhiều về Huế như hai tháng 5 và 6.1990 vừa qua. Cũng dễ hiểu thôi: sau những cuộc triển lãm các họa sĩ Hà Nội, Sài Gòn mấy năm trước, Huế rất đáng được đưa ra trình bày giữa kinh đô ánh sáng. Hơn thế nữa, Hai tháng với Huế đã rất phong phú với nhiều tiết mục đặc sắc mà những người chịu khó theo dõi không thể nào quên được.
Ngay từ ngày mở đầu, Huế đã đi sâu vào lòng người đến dự. Trong gian phòng ấm cúng của Nhà Việt Nam, một cuộc triển lãm hình ảnh đã được khánh thành hôm 5 tháng 6. Hai nhà nhiếp ảnh Marc-Antoine Montclos và Võ Quang Yến trưng bày 20 bức ảnh màu chụp từ Đại Nội lên Khiêm Lăng, từ Bao Vinh qua An Cựu, từ cửa Thượng Tứ xuống cầu ngói Thanh Toàn, từ gánh hàng rong đường Lê Lợi đến những người đãi vàng thượng lưu sông Hương,... Người xem đã để ý đến những hình chụp lăng Thiệu Trị hoang vắng với đàn bò lủi ăn trong sân điện, đền Văn Thánh điêu tàn sau vườn sắn che lấp mấy hàng bia,...
Chính trong bầu không khí gợi nhớ thương Huế đó, tối hôm ấy bắt đầu đợt hát Hơi thở sông Hương do Thúy Vân và Ngọc Diệp trình bày. Tại Nhà Việt Nam, hai cô trình diễn ba đêm 5, 26 và 23 tháng 6. Tiếng hát Thúy Vân đầm ấm, chân tình, suốt buổi tối đã đưa thính giả về lại chốn cố đô lưu luyến. Đệm vào những điệu hát địa phương của xứ Hương Bình là tiếng đàn tranh của Ngọc Diệp thánh thót, vấn vương lại càng làm cho người nghe xúc cảm, mơ màng. Một vài giọt lệ thấm mi mắt chỉ rõ nỗi nhớ thương thấm thía mà hai cô đã thành công gây ra. Những lời giới thiệu lưu loát, dí dỏm của anh Cao Huy Thuần càng nâng cao tài nghệ của hai nghệ sĩ. Rút cuộc, câu nói, tiếng đàn, điệu hát đã hòa âm trong một gian phòng thắm đậm hình ảnh quê hương, một cuộc trùng hợp toàn vẹn dễ làm rung cảm tim gan người tham dự.
Để cho bạn bè Pháp và ngoại quốc cũng thưởng thức được những điệu hò, câu hát miền sông Hương núi Ngự, hai cô Thúy Vân và Ngọc Diệp còn trình diễn một tối ở viện Bảo tàng Guimet do Hội người Pháp bạn Viễn Đông tổ chức. Lần nầy người giới thiệu là nhạc sư Trần Văn Khê, có tiếng không những ở Việt Nam mà còn rất nhiều ở ngoài nước. Những lời giải thích của giáo sư rất rõ ràng, uyên bác và giúp nhiều người nước ngoài hiểu thêm cái tinh túy nhạc điệu, dân ca miền Trung. Tuy nhiên anh Khê tâm tư với tôi đêm nhạc hôm nay là của hai cô, anh không muốn diễn đạt dài dòng. Anh chỉ họa thêm với cây đàn tỳ bà mà anh đã học cách chơi kiểu Huế cách đây năm, sáu mươi năm với bà cô!
Tiếp theo sau cuộc trưng bày hình ảnh ở Nhà Việt Nam là cuộc triển lãm cùng chỗ tranh vẽ của Hoàng Đăng Nhuận từ 16 đến 30. Đây là cuộc triển lãm thứ hai, lần thứ nhất ở trụ sở UNESCO từ 5 đến 15. Tranh đem từ Việt Nam sang, anh Nhuận đã trưng bày cho khán giả quốc tế một lối vẽ mới, sâu sắc, tinh vi mà đậm đà, dễ gây thương nhớ. Nhiều bạn ngoại quốc lại xem đã ngạc nhiên thích thú tìm ra trong các tranh nầy những nét độc đáo tuy không cổ điển như thường thấy ở các tranh của các tác giả Á Đông. Một số lớn tranh được giữ mua đã đánh giá phần nào lòng hưởng mộ tranh của anh.
Để cho Hai tháng với Huế được đầy đủ, Nhà Việt Nam tổ chức thêm hai buổi nói chuyện: Nhạc cung đình Huế hôm 9 tháng 6 giáo sư Trần Văn Khê đảm nhận và Chúa cổ và Phật giáo ở Huế hôm 16 tháng 6 qua thuyết trình của hòa thượng Thích Thiện Châu. Nhà Việt Nam cũng còn chọn lựa trưng bày và bán một số sách về Huế trong thời gian hai tháng vừa qua. Tối hôm Hơi thở sông Hương cuối cùng ngày 23 tháng 6, hãng Médiapoly cho phát hành băng nhạc Huế tên của nỗi nhớ của Thúy Vân và Ngọc Diệp. Như vậy, những ai còn muốn tiếp tục mơ màng với Huế còn có thể kéo dài thời gian nầy.
Hôm bế mạc cuộc triển lãm Hoàng Đăng Nhuận cũng là hôm kết thúc chương trình Hai tháng với Huế ở ParisKiểm điểm số người đến dự triển lãm, đi nghe ca nhạc, số người mua tranh, mua băng hát, số người ký vào sổ vàng, có thể nói Hai tháng với Huế đã là một thành công. Những người tổ chức, Nhà Việt Nam, các bạn Huế có thể tự hào đã góp phần vào cuộc gây ra được trong dư luận kiều bào cũng như trong nhiều giới ngoại quốc ở Paris một lối nhìn đầy cảm tình về xứ Huế muôn thuở... Một bà bạn tôi từ bên Đức qua thăm, luôn tiện để xem hình, xem tranh, nghe hát, rất tiếc là không đem được đứa con nuôi của bà, một cậu bé quê gốc Huế vì bà tin chắc nó cũng sẽ rung động như bà trước những gì đã nghe, đã thấy.
Cái mộng bây giờ là làm sao phát huy lại được phong trào trùng tu thành nội vì ngay sau Hai tháng với Huế này, bạn bè đã rất nhạy cảm với tình hình ở thành phố thân thương của ta. Trong tương lai gần và xa, công việc sẽ không thiếu, thiếu chăng chỉ là nhiệt tình, thiện chí của những người vô tư, thật tình yêu Huế.
Hác Ký Ni Sơn tháng 7.1990
Đại Đoàn Kết 34 1990
14- RAU CÂU HUẾ 
Hôm tôi được sống những giây phút thần tiên ở Huế không phải là hôm đi du ngoạn mà là nhân một chuyến tham quan các vùng nuôi trồng rau câu. Ở Miền Trung, xung quanh Huế - Thừa Thiên, đầm phá chiếm đến 42.000 hecta, nghĩa là bằng diện tích tất cả đầm phá miền Bắc. Về mặt nuôi tôm, các nhà kỹ nghệ Úc nghe nói đã có ký kết với các cơ quan sở tại. Bên phần rau câu, mặc dầu cố gắng của nhiều trường, nhiều sở, đến nay chưa biết sẽ phát triển ra thế nào.
Sau 1975, chính quyền đã ý thức tầm mức quan trọng của đầm phá trong cuộc kiến thiết, xây dựng xứ sở. Bên trường Đại học Tổng hợp Huế cũng như phía ty Thủy sản (lúc bấy giờ thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế) đều có quyết định khai thác nguồn tài sản rau câu thiên nhiên nầy. Rau câu chỉ vàng mọc ở các đầm phá miền Trung là một thứ rong gọi là đỏ thuộc loại Gracilaria verrucosa, có đặc tính chứa trong mình một chất gel, nôm na ta gọi là thạch hay thạch trắng mà các bà nội trợ trong vùng đều biết chiết xuất khi đem rau câu đun nóng trong nước rồi để nguội lại. Trên thế giới, người ta gọi nó agar-agar, hay rút gọn agar, một danh từ tiếng Mã Lai. Ngày nay, agar được dùng trong nhiều lĩnh vực, từ thực phẩm (bánh, mức, kem, đồ giải khát), kỹ nghệ (đồ hộp, phim, giấy, keo, hồ) qua dược phẩm (màng bọc thuốc, khuông đóng răng, chất nhũ tương), y học (thuốc nhuận trường, thuốc băng bó, chất ăn ít năng lượng)... Ngoài ra, và còn quan trọng hơn, nhờ tính chất trung hòa điện học, ổn định nhiệt học và sức đông cao, lại thêm có khả năng kháng cự vi sinh vật nên agar càng ngày càng được dùng nhiều trong ngành vi sinh vật để làm môi trường canh cấy tế bào động vật, thực vật và gần đây trong các kỹ thuật cấy mô. Nếu ta để ý thấy các kỹ thuật nầy đang phát triển mạnh mẽ khắp nơi thì ta thấy ngay agar, đặc biệt agar rose là một thể của agar và hỗn hợp với nó trong rau câu, rồi đây sẽ chiếm một thị trường tiêu thụ lớn.

Trường Đại học Tổng hợp Huế, tuy thiếu điều kiện, từ năm 1977, song song với cuộc khảo sát các loài tôm cua, các động vật nổi, các phytoplankton ở đầm phá, đã thực hiện một số khảo cứu căn bản về cách nuôi trồng rau câu hay rong câu chỉ vàng: ảnh hưởng cường độ ánh sáng, nhiệt độ, độ mặn môi trường, nồng độ phân bón lên hàm lượng, chất lượng, năng suất, cường độ quang hợp, hô hấp, sự sinh trưởng của rau câu. Cách đây năm năm, trường cũng đã bắt đầu xây dựng một cái pilôt để chiết xuất agar. Trên nguyên tắc, cuộc chiết xuất nầy không có gì khó, chỉ cần một nồi lớn để nấu rau câu trong nước, một máy lọc tinh vi và một máy đông lạnh cùng một máy ép để tách agar ra khỏi nước. Có điều ta thiếu phương tiện, thiếu kỹ thuật, thêm vào đó thiếu một cơ quan thương mãi quan sát thị trường, tính toán sản xuất và phương tiện xuất cảng. Đằng khác, nếu nhắm thị trường sinh vật học là thị trường tương lai thì agar sản xuất phải đạt mức xuất khẩu và hơn nữa phải kiếm cách sản xuất agar rose bằng phương pháp lọc hay, tối tân hơn, bằng cách ghép gen rất thịnh hành vào thời buổi nầy. Muốn vậy, bước đầu là phải thông hiểu môn hóa học agar cần thiết trong thời gian chế tạo cũng như sau nầy trong khâu kiểm tra.
Ví chi mằn mò mất công, một giải pháp công hiệu là đi học nước ngoài. Thì đây, phòng thí nghiệm Equipe Polysaccharides Pariétaux des Végétaux ở viện Đại học Lille Flandre Artois, bây giờ có Laboratoire de Cytophysiologie Végétale et de Phycologie tiếp tục, chịu nhận hợp tác với trường Đại học Tổng hợp Huế trong chương trình nuôi trồng rau câu, chiết xuất agar. Cũng nên biết là Pháp cần agar mà rong tảo chứa agar lại hiếm ở Pháp. Nhờ sự hỗ trợ của AUPELP (Hội các Viện Đại học dùng Tiếng Pháp) và bộ Ngoại giao Pháp, ba cán bộ giảng dạy ở Huế đã qua tham quan hai tuần và thực tập sáu tháng ở Lille, trong luôn hai năm 1989-1990. Hy vọng còn sẽ có các thực tập sinh khác qua Pháp nếu Ủy ban Hỗn hợp Hợp tác Khoa học Kỹ thuật Pháp - Việt tiếp tục chấp nhận và ủng hộ chương trình.
Bước qua giai đoạn áp dụng thì hãng Pronatec, một công ty khảo cứu và phát triển kỹ nghệ công nghiệp rong tảo ở Lille, có khả năng cùng ta xây dựng một đơn vị sản xuất tại chỗ. Đề nghị là kỹ sư ta qua Lille với một số rau câu cùng chuyên viên của họ chiết xuất agar trên pilôt, sau đó mới xác định các thành phần của nhà máy tương lai, từ nồi nấu qua máy lọc, máy lạnh, máy ép. Nếu ta muốn, họ có thể giúp ta quản lý cuộc nuôi trồng vì đầm phá lớn, mỗi nơi có một phẩm chất môi trường khác nhau, nhiệt độ thay đổi quanh năm nên nồng độ agar cũng từ đó mà tăng gia hay giảm bớt,... nên cần biết ở nơi nào, vào lúc nào là cần gặt lượm rau câu, chưa kể phải chỉ định tính chất, số lượng và thời gian rắc rải phân bón. Ngoài ra, họ cũng có thể cùng ta tìm kiếm vốn đầu tư và, rất quan trọng, thăm dò mặt thị trường.
Hiện nay chưa thấy có một thống kê rõ rệt về sản xuất agar trên thế giới nhưng phỏng chừng cũng khoảng 8.000 tấn mỗi năm, trong số ấy Nhật Bản chiếm gần 40%. Về mặt tiêu thụ thì người ta chỉ biết mỗi năm gia tăng 4-5%, Hoa Kỳ đứng hàng đầu với trên 500 tấn mỗi năm, trị giá khoảng 10 triệu đôla. Bên Âu Châu thì tổng số dùng chỉ nằm trong vòng 1.000 tấn mỗi năm. Trước một thị trường như vậy, vị trí của agar ta đứng vào đâu?
Những năm gần đây, vùng Huế - Thừa Thiên chỉ khai khẩn 200 hecta để trồng rau câu, phơi khô bán cho Nhật Bản rồi sau đó Việt Nam mua lại agar chất lượng tốt của họ. Tương lai gần là ta có thể tăng diện tích trồng lên 300-800 hecta. Đến nay, năng suất rau câu khá thấp : 0,5-0,7 tấn/hecta ở các hợp tác xã và 1-1,5 tấn/hecta ở các nông trường quốc doanh. Vài năm nữa, năng suất nầy có thể tăng lên 1-1,8 tấn/hecta mỗi năm (rau câu ráo nước). Về chiết xuất thì tùy theo hiệu năng của nhà máy, nhưng có thể tính 20-40% agar từ rau câu khô. Tính trên diện tích 1.700 hecta thì hằng năm có thể thu hoạch 1.700-3.100 tấn rau câu, chiết xuất ra được 340-1240 tấn agar. Nếu tính theo năng suất quốc tế, số lượng agar sản xuất hằng năm có thể đạt đến 1.380-3000 tấn. Lẽ tất nhiên con số nầy còn nằm trong mong ước, nhưng nếu chỉ lấy phân nửa, 1.500 tấn mỗi năm so với số sản xuất thế giới 8.000 tấn thì cũng không có chi đáng thẹn.
Trong một lúc mà tình hình nước ta đang cần phát triển gấp, ở một chương trình mà ta có sẵn tài nguyên, chỉ cần máy móc, dụng cụ chứ khỏi đem ngoại tệ đi mua nguyên liệu ở nước ngoài, thì dự án nuôi trồng rau câu chiết xuất agar phải nằm trong danh sách các công cuộc cần được thực hiện ưu tiên. Chính quyền đã thấy rõ lợi ích thì vì sao đã mấy năm rồi chẳng thấy đồ án tiến triển được bao nhiêu?.
Hắc Ký Ni Sơn tháng 3.1991
Tuổi trẻ Chủ nhật 17 1991
15- BỐN HỌA SĨ HUẾ Ở PARIS 
(Triển lãm tranh tại Trung tâm Văn hóa Pháp Việt)
Nhận lời mời của Hội Henri de Toulouse, với sự hỗ trợ của Hội CODEV Việt Pháp, bốn họa sĩ Vĩnh Phối, Trương Bé, Phạm Đại và Nguyễn Đức Huy, giáo sư và giảng viên tại trường Đại học Nghệ thuật Huế, đã qua Pháp làm việc ba tháng hè (1994) vừa qua.
Truyền thống của Hội Saint-Henri là hằng năm mời một số họa sĩ quốc tế lại sáng tác vài tuần hay vài tháng ở vùng Lauragais miền nam nước Pháp. Sau các buổi sáng tác trong xưởng dựng lên giữa cánh đồng hoa hướng dương, ven rừng chập chờn bóng mát, là giờ trao đổi ý kiến, những buổi tranh luận say mê về các trào lưu nghệ thuật hiện đại, có khi quanh bàn ăn nức mùi phó mát hay nước mắm phương xa.
Đây là lần đầu tiên các họa sĩ Việt Nam được mời tham dự. Tuy đã từng tiếp xúc với nghệ thuật Tây phương, thông thạo kỹ thuật tân tiến, các anh đã học thêm được nhiều kinh nghiệm qua mấy tháng với Hội Saint-Henri. Và hôm 11.9 một số tranh của các anh đã được đem triển lãm trong số hơn 100 tác phẩm được sáng tác trong vùng của các bạn đồng nghiệp quốc tế. Các anh đã bán được hơn 30 tác phẩm tranh và tượng, tiền bán đấu giá sau đó thu được sẽ giúp Hội tổ chức cho những cuộc gặp gỡ sau.
Phòng tranh Saint-Henri vừa đóng cửa thì bốn anh bạn lên ngay Paris để khánh thành cuộc triển lãm ở Trung tâm Văn hóa Pháp Việt hôm 13.9. Đây là một tòa nhà khá rộng nằm ngay giữa xóm La Tinh: ngoài phòng tranh còn có quầy bán sách, báo, băng nhạc, có quán cơm phục vụ phở, cháo hằng ngày. Suốt tuần còn có tổ chức những buổi học tiếng Việt, dạy đàn tranh, những buổi diễn thuyết trên các đề tài văn hóa Việt Nam.
Nếu hai bạn Phối và Huy có chuẩn bị đem từ bên nhà sang một số tranh và đưa ra trình bày cùng những bức vừa vẽ, hai anh Bé và Đại chỉ có triển lãm vài bức vừa mới sáng tác. Tranh của hai anh nếu là số ít thì lại là toàn kích thước khổ lớn và thuộc thể loại trừu tượng. Những bức Rừng sâu thẳm (đã được giữ mua ngay), Hồn Tạo hóa, Cánh đồng xanh của anh Đại cũng như những bức Trăng, Thu, Hạnh phúc, Phố cũ,... của anh Bé "đã dẫn dắt người thưởng ngoạn vào thế giới sâu thẳm của tâm hồn, của tư duy tư tưởng". Ngày nay, nhiều họa sĩ đã từ hiện thực bước qua trừu tượng vì họ cho "đó là nghệ thuật có sức biểu hiện nội tâm phong phú và đa dạng, có khả năng khái quát cao". Tuy vậy người xem tranh, muốn tận hưởng cái đẹp lối vẽ nầy, cũng cần được huấn luyện ít nhiều như khi nghe nhạc cận đại của Tôn Thất Tiết hay Nguyễn Thiện Đạo ngày nay rất có tiếng ở Âu châu.
Huy có lẽ là họa sĩ trẻ tuổi nhất trong số bốn anh. Anh chuyên môn về sơn mài nhưng cũng sử dụng các chất liệu khác, từ sơn dầu qua pastel, acrylic. Anh sáng tác đủ các thể loại: phong cảnh, chân dung, tĩnh vật,... nhưng đề tài luôn hướng về quê xứ Việt Nam, chủ đề ngày xưa hay có tư tưởng của đời sống xã hội ngày nay. Những bức Mùa xuân đi chùa, Phụ nữ, Ngôi miếu, Bà già, Sinh nhật hay Cánh đồng quê, Bé chăn trâu, Lăng Tự Đức,... mang đậm tính chất Việt Nam. Người xem thấy rõ anh đã phát triển và cách tân các mô típ vào hình thức truyền thống để xây dựng các tác phẩm của mình. Rất dễ thông cảm khi biết tất cả các sáng tác của anh ở Pháp của anh đều lấy đầu đề chung là Nostalgie (Tình hoài hương).
Anh Phối là người đã lăn lộn nhiều trong giới hội họa và có nhiều kinh nghiệm. Tiếp thu nghệ thuật phương Tây hơn 30 năm nay, anh đã sáng tác nhiều tranh lụa, sơn dầu, theo nhiều thể loại khác nhau, từ biểu hiện lập thể siêu thực qua phi hình thể trừu tượng. Anh đã tham dự nhiều cuộc triển lãm ở trong và ngoài nước, đã được trao tặng nhiều giải thưởng và có nhiều tác phẩm lưu trữ ở các viện bảo tàng. Anh thường sáng tác trên chủ đề hòa bình, trở về cội nguồn với truyền thống văn minh gốc. Nhiều tranh của anh đã thể hiện Thời đại đồ đồng, Văn hoá Đông Sơn, Hùng Vương dựng nước. Những bức tranh Thánh Gióng hay Âu Cơ Lạc Long Quân, Rồng ba - Văn minh cổ nói lên tất cả tâm tư của anh. Ngày nay anh sáng tác theo chiều hướng đổi mới : lập thể biểu hiện, trừu tượng có chủ đề như phản ảnh cuộc sống xã hội hay trở về cội nguồn dân tộc. Tuy sử dụng kỹ thuật mới, "tư duy sáng tạo của anh vẫn còn giữ tính Đông Phương hiện đại". Tôi là người xem tranh gốc cố đô, ở xa xóm cũ, thì những bức Ngọ Môn hay Huế vẫn luôn gây trong lòng tôi một nỗi thích thú thầm kín, một tia nắng sưởi ấm tâm can.
Sau Bửu Chỉ, Hoàng Đăng Nhuận, Dương Đình Sang, lại bốn họa sĩ Huế có dịp trình bày tác phẩm ở kinh thành ánh sáng. Chuyến Pháp du của các bạn tuy tương đối ngắn hạn và có lẽ cũng chẳng đem lại được bao nhiêu lợi nhuận tài chánh, đã giúp các bạn tiếp xúc với hội họa, văn hóa phương Tây. Hai cuộc triển lãm Saint-Henri và ở Paris dù sao đã đưa ra công chúng tên tuổi các bạn tuy ở bên nhà các bạn không phải là những họa sĩ mới nhập làng, và từ đấy dễ vươn cao lên.
Hắc Ký Ni Sơn đầu thu 1994
Sông Hương Tết Ất Hợi 1995
16- HƯƠNG VỊ HUẾ GIỮA NAM ĐÔ
Huế chưa có sân bay quốc tế nên từ nước ngoài mỗi lần muốn về thăm sông Hương núi Ngự phải chọn sân bay Tân Sơn Nhất hay Nội Bài. Năm nay vì có ý định tham quan đồng bằng sông Cửu Long, tôi và nhà tôi chọn đỗ cánh Sài Gòn. Không biết là tình cờ hay may mắn, mà tôi tin thường may mắn dễ lại với ai có lòng tin và nhiều nhiệt huyết, vì mới chân ướt chân ráo đến nhà đứa cháu là có tin được mời đi dự buổi gặp mặt đầu năm của hai hội cựu học sinh Quốc Học - Đồng Khánh.
Sáng hôm chủ nhật 8.2.98, quen thói Âu Tây, chúng tôi lại chỗ họp đúng 8 giờ rưởi. Trừ những vị trong ban tổ chức, có lẽ chúng tôi là khách đến sớm nhất. Cũng hay thôi vì như vậy chúng tôi có dịp hàn huyên với nhũng bạn chưa từng quen biết. Học sinh Quốc Học - Đồng Khánh không nhất thiết phải là người Huế nhưng hôm đó giọng ọ ẹ miền Trung rầm rập hội trường, ở trên sân khấu cũng như trong phòng. Sau những bài diễn văn cần thiết, phần văn nghệ dồi dào tỏ ra các anh chị vẫn luôn còn giữ vẻ trẻ trung của thời học sinh thuở trước. Ngồi nghe và ngắm nhìn những ca sĩ, nhạc sĩ tiêu biểu, râu tóc điểm màu tiêu muối, sắc mặt của những bậc phụ huynh mà vẫn tươi tắn, nhanh nhẹn, phong độ tưởng như còn ở tuổi đôi mươi, tôi cảm phục và mừng thầm cho nhưng người biết sống mãi không già.
Trong phòng họp hôm đó, tôi đã làm quen được một số bạn mới nhưng cũng vui mừng gặp lại vài bạn xưa tưởng như không khi nào còn có dịp hội ngộ. Một chị khá lớn tuổi hỏi tôi có phải là người năm mươi năm trước đã kèm học hai đứa trẻ bên Hàng Bè. Tôi không nhận ra chị ngay nhưng bổng nhiên nhớ lại cả một thời niên thiếu, học năm cuối ở trường Khải Định trước khi vô Sài Gòn. Hồi ấy vừa đi học lớp đệ nhị khoa học B, tôi vừa làm "gia sư", túi không đầy tiền nhưng sống một cuộc đời vô tư, hồn nhiên. Chính vào dịp đó mà tôi đã làm quen với những xóm Đông Ba, Gia Hội náo nhiệt từ thuở nào. Tôi cũng nhớ lại cầu Trường Tiền vừa mới bị sụp một vài, hàng ngày phải đi đò vượt qua sông Hương, một dịp để các học sinh vẩy nước chòng ghẹo các cô áo trắng tóc thề e lệ núp sau chiếc nón bài thơ nhưng vẫn khúc khích chuyện trò, không chút bực tức, có khi nghiêng nón biếu tặng cả một nụ cười duyên dáng hay một liếc nhìn chấn động lòng chàng trai.
Cũng trong buổi họp đó, chúng tôi gặp lại một anh bạn quen từ bên Pháp nhưng bặt tin mấy chục năm nay. Cuộc trùng phùng đã gợi lại cho chúng tôi những kỷ niệm vui tươi của thời... chưa cưới. Hồi ấy chúng tôi là sinh viên sống ở xóm La Tinh tại Paris. Hôm 14.7.1954, năm Điện Biên Phủ, sau một ngày học đừ người, vào khoảng 5 giờ chiều, tôi đi xem khiêu vũ được tổ chức khắp các nẻo đường nhân lễ quốc khánh Pháp. Tôi làm quen với hai cô chị em nữ sinh ở công trường Sorbonne sau khi nhảy một điệu valse với cô em. Trời đổ mưa và dàn nhạc cũng ngừng đánh, tôi mời hai cô về nhà uống trà và sau đó ăn tối: món ăn độc nhất mà tôi biết nấu và lúc nào cũng sẵn có vật liệu ở phòng trọ hồi ấy là bún trộn với pho mat Gruyère (bún khô không khi nào hư còn pho mat thì đặt ngoài cửa sổ cũng đủ lạnh để giữ nhiều ngày). Tối hôm đó, cả một bọn bạn tụ họp tại phòng tôi để cùng nhau đi xem đốt pháo bông ở Pont Neuf, rồi đi nghe nhạc và khiêu vũ trước Hôtel de Ville. Trời mát, nhạc hay, bạn bè vui vẻ, chúng tôi quên mất giờ chuyến métro cuối cùng. Sau đó, không ai có tiền thuê taxi, phải hộ vệ hai nàng cuốc bộ về nhà ở tận trên quận 19 miền Bắc Paris, hai người tình nguyện là tôi và anh bạn Nguyễn Tế. Ba năm sau, cô chị trở thành vợ tôi còn anh Tế thì trong thời gian ấy đã lên đường về nước phục vụ. Nhà tôi nhận ngay ra anh mặc dầu nhiều năm xa cách. Đã về hưu như chúng tôi, anh không khác trước bao lăm thời trẻ, từ nét mặt, điệu bộ, đến cách ăn nói, phê phán tình hình, nhưng anh không còn nhớ gì về cái đêm 14.7 đó nữa.
Thấy cuộc gặp mặt bạn bè xưa vui quá nên khi được tin có buổi họp đồng hương Huế -Thừa Thiên chủ nhật sau, chúng tôi tranh thủ ngay thời gian để đến dự. Nhớ lại những buổi họp đồng hương vài năm trước ở đường Phan Đăng Lưu, tưng bừng, náo nhiệt với một bầu không khí văn nghệ sôi nổi nhưng êm đềm, chúng tôi mừng thầm lại được sống những giờ phút ấm áp khó quên. Như chủ nhật tuần trước, chúng tôi thuộc số những người có mặt sớm nhất. Nhưng ngay sau đó, có người nhỏ nhẹ cho chúng tôi biết hôm nay là một buổi họp nội bộ. Hiểu ý, chúng tôi chào hỏi qua loa vài bạn quen rồi ra về với ít nhiều luyến tiếc nhất là sau nầy biết có cuộc mừng thọ nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương mà những bản nhạc trữ tình như Đêm đông, Người đẹp vườn xuân, Bướm hoa,... đã làm rung động cả một thời tuổi trẻ của tôi, hay lưu luyến như bài Trên sông Hương mà âm điệu mấy chục năm sau vẫn còn gợi lên hình ảnh giòng sông êm ả hữu tình
Chiều tàn trên bến mang theo hoàng hôn,
Dòng sông buồn mơ chiếu áng mây hồng,...
Nhưng như tôi thường nghĩ, trong cái rủi thường có lẫn vào một cái may: hôm đó, chúng tôi lại có duyên gặp mặt chị Hỷ Khương mà những câu ngâm thơ bài Đây thôn Vỹ Dạ của Hàn Mặc Tử đầy xúc cảm đã đi vào lòng tôi trong một cát xét thời Bách Khoa mấy chục năm trước. Chính chị đã đưa chúng tôi lại thưởng thức những món đặc sản ở quán Ngự Viên của họa sĩ Tôn Thất Văn và chị Dẫn. Chất lượng thực đơn ở đây vô cùng đặc sắc, có món thanh tao hơn cả ở chính đất Thần Kinh mà chúng tôi vừa có dịp về thăm. Chị Dẫn, tuy vừa mới ở nhà bếp ra, tươi tỉnh như một cô gái dậy thì với nét mặt dịu hiền của một bà mẹ. Cảm kích trước quán cơm Huế yên tĩnh nầy giữa chốn Nam Đô náo nhiệt, nữ sĩ Hỷ Khương đã có hai câu thơ tặng anh Văn, chị Dẫn đóng khung trên tường
Vườn Ngự trăng vàng soi bóng trúc
Thềm hoa kính Dẫn bước Văn nhân.
Giáo sư Vũ Khiêm khi đọc hai câu thơ nầy biết tên hai vợ chồng chủ nhân quán Ngự Viên, cũng cao hứng lấy chữ Văn và chữ Dẫn làm thành hai câu đối chữ Hán mà hoa tay hiện rõ trên nét tuyệt vời
Văn đài dĩ túy Hương giang tửu
Dẫn lộ do phùng ngự uyển hoa.
Tráng miệng hôm đó là món chè đậu ngự ngon ngọt quí báu mà sang đất Pháp phải may mắn lắm mới gặp được. Chị Hỷ Khương đề nghị một câu đối
Vườn Ngự, ta ngồi xơi đậu ngự.
Vế đối là công tác tập thể của ba người
Đầm Sen, mình đứng ngắm hoa sen.
Trên xe taxi về nhà, tôi ngẫm nghĩ Đầm Sen là ở đất Sài Gòn, phải đưa cho được câu đối về chốn Hương Bình
Núi Bằng, gió lộng thoáng chim bằng.
Vế đối nầy chắc chắn là không chỉnh bằng, nhưng tưởng Bằng cũng gần với Ngự hơn Sen!.
Chị Hỷ Khương còn quý khách hơn: ngoài cuốn Hồi ức về cha tôi Ưng Bình Thúc Giạ Thị để
Lời xưa di huấn thời son trẻ
Con vẫn mang theo suốt cuộc đời
chị còn biếu tặng chúng tôi hai cuốn băng vidéo Tình Thúc Giạ, thơ văn cụ qua tiếng hát của chị, và Lễ kỷ niệm 120 năm sinh Cụ tổ chức ở Huế hè năm ngoái. Với những món quà tặng văn hóa quý báu nầy, tôi luôn sống với Huế mặc dầu xa cách hằng nghìn dặm.
Bên phần bác sĩ Dương Cẩm Chương cũng có mặt tối hôm ở Ngự Viên thì lại nhã tặng chúng tôi cuốn Còn vang trong gió của tác giả phu nhân Thân Thị Ngọc Quế mà bác sĩ đã minh họa với những bức tranh tràn đầy nghệ thuật vẻ ở Việt Nam. Chúng tôi không xa lạ với thơ chị Quế và đã có bài cảm nghĩ (bài gởi về tạp chí Sông Hương ở Huế, không được đăng) khi hơn 10 năm về trước nữ sĩ cho ra tập thơ đầu tay Giọt nước cành sen mà tôi hân hạnh còn giữ một bản thảo.
Ngắm giọt nước cành sen
Nhớ về cung thành nội
Buổi tĩnh tâm nắng chiều
Hương còn đọng trên môi.
Thân kính đa tạ các anh chị.
Thì ra tinh thần Huế vẫn luôn tồn tại, bất chấp thời gian, không gian. Riêng phần chúng tôi, những kẻ mải mê trong thế giới khoa học khô khan, ngụp lặn trong hiện thực vật chất xô bồ, qua cuộc tiếp xúc với các anh chị nghệ nhân lỗi lạc, với những bài thơ tình thâm, những bản nhạc động lòng, những tranh tượng siêu hình, đã học hỏi được thêm nhiều trên mặt văn nghệ và từ đó có dịp trau dồi nhận thức cảm tính của mình để sống lâu mãi trong tổng thể tình cảm, nội tâm của con người Huế.
Hắc Ký Ni Sơn mùa Phật Đản 2542
Người Sông Hương 1999
17- TỪ DEBUSSY ĐẾN TÔN THấT TIẾT 
Nước Pháp mùa xuân năm nay hân hoan tổ chức "Những ngày nhạc Việt Nam". Hai đoàn Phú Xuân (Nhạc Cung đình và Ca Huế) và Thái Hà (ca trù) được mời qua trình diễn từ 10 đến 17 tháng 5 năm 2002. Nói cho đúng, trừ hai buổi diễn tối hôm 10 ở nhà thờ Saint-Loup de Naud (Seine-et-Marne) và tối hôm 17 ở rạp Théâtre des Nouveautés tại Le Parvis - Tarbes (Pyrénées), tất cả những buổi khác đều được tổ chức ngay tại Paris. Khởi đầu hai chiều thứ bảy 11 và chủ nhật 12, khán giả được xem không trả tiền ba xuất Nhạc Cung đình lúc 15, 16 và 17 giờ tại Cité de la Musique. 14 nhạc sĩ quanh hai cụ Trần Kích và Nguyễn Kế, nguyên là nhạc công trong dàn nhạc Cung đình lúc trước, biểu diễn ngay trong đại sảnh Rue Musicale, đứng trên một bục gỗ, không có trang trí đặc biệt nên cảnh tượng không được trang nghiêm như hai danh từ cung đình đòi hỏi. Ban nhạc tương đối không đông nên có vẻ lẻ tẻ dưới vòm nhà cao vút. Lần nầy ban Nhạc Cung đình có thêm bóng dáng một phụ nữ, cô Tôn Nữ Lệ Hoa, chuyên môn đàn tranh trong nhóm Ca Huế. Hôm tôi lại xem vào chiều thứ bảy thấy khá ít khán giả, có lẽ vì chương trình không được phổ biến rộng rãi. Ngoài một số có ghế của phòng xem máy truyền hình bên cạnh, phần lớn khán giả ngồi ngay dưới sàn nhà... Những bài Tam luân cửu chuyển, Thập thủ liên hoàn, Phụng vũ, Mã vũ, Tẩu mã, Song tấu, Bông, Mán,... quen thuộc trong một lúc đã đưa hồn tôi về quê xưa, quá khứ, nhưng chắc gây không ít thắc mắc, lạ lùng cho những người nước ngoài tò mò lại nghe, mặc dầu kèn, trống trong những cuộc diễn hành ở đây cũng vang dậy không kém và dân Parisien ngày nay đã có nhiều dịp tiếp xúc nhạc quốc tế. Có lẽ cần thêm vài lời giải thích tuy đã có người cho tôi hay nhạc chỉ cần cảm chứ không cần hiểu. Hay ít nhất cũng phải giới thiệu vị trí của nhạc cung đình trong nền văn hóa Việt Nam.
Trái với xuất nhạc cung đình, buổi trình diễn ca Huế và ca trù có bán vé lúc 16 giờ rưởi trong Amphithéâtre du Musée thì phòng nhạc chật cứng thính giả. Tuy ít có người Việt, tôi cũng mừng thấy mặc dầu quảng cáo không rầm rộ, khách thích nhạc không thiếu người hâm mộ ca Huế và ca trù là hai thể nhạc trong phòng, theo tôi, rất khó nghe, khó thưởng thức cho lỗ tai người ngoại quốc, đặc biệt người Âu. Sau nhiều năm mới lại được nghe, tôi thấy giọng hát cô Thanh Tâm già dặn thêm nhiều. Tờ giới thiệu viết cô là ca sĩ đào tạo truyền thống ca Huế hay nhất. Kim tiền, lưu thủy, cổ bản, xuân phong, long hổ, nam bình, hầu văn, lý giao duyên, tương tư khúc, tứ đại cảnh, hò mái nhì đủ cả. Riêng tôi chỉ tiếc thiếu mấy câu nam ai... mà cô Minh Mẫn đã ca tặng tôi hồi tôi về thăm quê hương lần thứ nhất, trên một chuyến dạo đò đêm. Nghe ca Huế dưới bầu trời Paris, xa Huế hằng ngàn dặm, tôi không sao tránh được nhớ lại những đêm nhạc trên sông Hương, trăng thanh, gió mát, rượu nồng, bạn vui. Sau buổi trình diễn, cô bán một dĩa CD với giá ủng hộ. Sáng kiến hay tuy không lạ, giúp thính giả về nhà có dịp nghe lại. Tiếng hát cô Thúy Hoa, học trò nữ nghệ sĩ ca trù có tiếng Quách Thị Hồ nay đã mất, thét nhạc hay hát nói, hát giai hay hát ru, bác phản hay chừ khi, xẩm huê tình ba mươi sáu giọng, vẫn luôn réo rắt, não nuột trong tiếng đệm đàn đáy của hiền huynh Nguyễn Mạnh Tiên và tiếng trống cầm chầu của thân phụ cụ Nguyễn Văn Mùi. Lần nầy, đoàn có thêm ca sĩ Thanh Hoài, nguyên là nghệ sĩ hát chèo, hiến thêm một điểm sinh động trong cuộc biểu diễn.
Tối hôm thứ ba 14, cả hai đoàn lại trình diễn ở Trung tâm IRCAM-Pompidou. Trong chương trình tối hôm đó có thêm bốn bản nhạc cận đại: Nhịp đơn, nhịp kép của Vũ Nhật Tân, Những ngón chân của Trần Kim Ngọc, Vang vọng của Nguyễn Thiên Đạo và Movement của P.Q.Phan. Cho trình diễn xen lẫn hai loại nhạc truyền thống và cận đại, đều xuất xứ Việt Nam, là một ý kiến rất hay, nhất là trước khán giả ngoại quốc, có thể hiểu như là để nói lên một bước tiến trong ngành âm nhạc của nước ta, tìm cái mới những luôn luôn giữ cái cũ. Sáng kiến nầy còn có nhiều ý nghĩa hơn nữa tối hôm thứ năm 16 tại rạp Cirque d'Hiver-Bouglione. Bốn chương trình đặc sắc nối tiếp nhau : nhạc Debussy trước và sau, kèm ở giữa nhạc cung đình Huế và bản nhạc cận đại Truyền thuyết Đất phương Nam của nhạc sĩ Tôn Thất Tiết. Tại sao Claude Debussy (1862-1918)? Vì ông là một nhạc sĩ phóng khoáng. Theo ông "nhạc là một nghệ thuật tự do, tung phọt, một nghệ thuật ngoài trời, một nghệ thuật ở mức độ những nguyên tố, gió, trời, biển" nên ông muốn cho nhạc mình thoát ra khỏi những khuôn khổ xã hội ngột ngạt, những chân trời âm thanh hạn chế. Luôn hướng về Đông phương, lòng ông được thỏa mãn ở hai hội chợ thuộc địa 1899 và 1900, có dịp thưởng thức nhạc gamelan Nam dương hay theo dõi một gánh nhạc rong Nam Kỳ. Sau đó ông còn dịp tiếp cận nhạc Trung Hoa, nhạc Ấn Độ,... và dần dần những tác phẩm của ông "xây dựng một vũ trụ âm thanh chìm đắm trong không gian âm nhạc, gây ra những mối liên quan với phương Đông và hôm nay với nhạc Tôn Thất Tiết".
Những Vua Hùng là một bản nhạc 17 phút, không lời, tuy có một giọng hát soprano như một tiếng đàn huyền diệu nổi bật trong mấy chục cây violon, violoncelle, harpe, kèn clarinette, hautbois, cor, sáo trống, chiêng, xập xỏa đủ thứ. Chỉ huy Dàn nhạc Quốc gia Ile de France là nhạc trưởng Jacques Mercier, người, đã từng điều khiển dàn nhạc giao hưởng ở London, Berlin, Amsterdam, Stokholm, Munchen, Genève,... Tôi không quen nhạc Âu Tây lại càng ít nghe nhạc cận đại. Được nhà tôi hướng dẫn và thúc đẩy, tôi chịu đi nghe mấy buổi. Thì ra lỗ tai mình cũng cần được huấn luyện. Mua thêm được dĩa CD Légendes de la Terre du Sud của cùng dàn nhạc, nghe đi nghe lại nhiều lần, tôi hòa mình với tác giả. Sau nầy, biết vậy, anh Tôn Thất Tiết gởi tặng chúng tôi nhiều dĩa khác của anh. Trong dĩa nhạc vừa mới mua, lời kể chuyện được kịch sĩ trứ danh Georges Wilson đảm nhận, cô Syvaine Davené đóng góp giọng hát. Trong bản Những Vua Hùng, khi nước Văn Lang được dựng lên sau cơn hỗn loạn cũng như khi quanh núi Tản Viên tràn ngập thủy triều sau trận giao chiến Thuỷ Tinh - Sơn Tinh, giọng hát ngân lên, tuy không lời, chỉ âm vị, nhưng du dương, kéo dài trên những nguyên âm, làm thay đổi hình ảnh của lịch sử, một lịch sử xa xăm, huyền thoại của đất nước. Lịch sử được xích lại gần hơn, thiết thực, quen thuộc với nhạc cung đình Huế. Nếu dàn nhạc giao hưởng với mấy chục nhạc công chiếm đầy sân khấu, ban Phú Xuân mười mấy người thấy thật lẻ loi giữa rạp xiếc rộng lớn như hôm trước ở Cité de la Musique. Ví như có được ban đại nhạc 43 người như xưa!
Tuy ngoài chương trình "Những ngày nhạc Việt Nam", cũng cần nói đến buổi trình diễn đúng là dành cho con trẻ nhưng thật ra người lớn cũng thấy thú vị. Đây lại là một bài học khác: nhạc cũng như người nghe nhạc không có tuổi! Đó là hôm trình diễn hai bản nhạc cận đại Truyền thuyết Đất phương Nam của nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, cũng ở rạp Cirque d'Hiever- Bouglione, chiều thứ bảy 17, hai xuất, mỗi xuất 35 phút. Cử tọa toàn là con trẻ, người lớn phần đông là phụ huynh hay giáo viên đi kèm. Chương trình gồm có bản Những Vua Hùng đã thấy, cộng thêm truyện Thị Tơ tức sự tích con tằm (19 phút). Đây là một đề tài rộng lớn để tác giả mặc sức sử dụng những nhạc cụ. Hung thần, nhạc dữ, hiền thần, nhạc dịu. Một tiếng xập xỏa, tai biến sẽ xảy ra. Hơi thở con người được thể hiện qua những nhạc khí thổi. Những nhạc khí dây miêu tả những diễn biến dịu lành. Những tiếng trống, tiếng chuông tường trình biến chuyển khắc khổ của một cô gái nghèo, vô phúc, mồ côi, được đức Quan Âm phù hộ, hiền thần che chở, biến thân thành con tằm xe tơ, khắc sâu tên mình vào lòng dân gian. Tôn Thất Tiết biết phô diễn quan hệ mất thiết giữa con người và tạo hóa, giữa thần thoại và lịch sử. Về mặt kỹ thuật âm nhạc "anh dung hòa phách nhạc liên tục phương Đông với những vành thời tương phản phương Tây, thực hiện một dung hợp những quãng điều hòa và những tiểu quãng nhạc Âu với những thang âm nhạc Việt" (tài liệu Radio France). Anh đã nối liền Đông và Tây với một nghệ thuật tinh tế đầy chất thơ, tránh khỏi mọi xu hướng mô phỏng nông cạn.
Sinh năm 1933 ở Huế, anh Tiết bắt đầu học nhạc ngay ở đất Thần kinh trước khi qua Pháp năm 25 tuổi học hòa âm và đối âm ở Ecole Normale de Musique. Sau đó, anh được nhận vào Conservatoire National de Musique ở Paris. Ở trường nầy, anh học tiếp đối âm, nhạc fuga và soạn nhạc với Jean River và André Jolivet. Anh là tác giả một số tác phẩm đủ loại: 12 bản cho dàn nhạc trong ấy có Tứ Đại Cảnh (1968), Hy Vọng (1971), Ngũ Hành (1973), Vô Vi (1974), Ấn Tượng (1974-75), Những Truyền Thuyết Đất Phương Nam (1996) ; 16 bản cho nhạc phòng trong ấy có Niệm (1974), Chu Kỳ I, II (1976), III, IV (1977), Phong Vũ (1991), Xuân Vũ (1993); 5 bản nhạc hát trong ấy có Vang Bóng Thời Xưa (1969), Kiêm Ái (1978), Chu Kỳ VI (1993). Như đã được lưu ý trong bản tiểu sử ở nội bộ Radio France, tuy học nhạc Âu, anh không quên gốc Việt của mình và đã trở về tìm nguồn nhạc trong tư tưởng Á Đông, trong truyền thống Trung Hoa như Kinh dịch cũng như trong Phật giáo hay Ấn Độ giáo. Anh thích làm sống lại tinh thần nhạc truyền thống Việt Nam, nhất là nhạc thiêng liêng, nhạc triều đình. Ngoài những bản đã thấy, người ta còn nhận ra những bản mang tên Pháp Incarnations structurales (Những sự hóa thân cấu trúc, 1967), Terre-Feu (Đất-Lửa, 1981), Jeu des cinq Éléments (Ngũ hành, 1982), Moments rituels (Những thời khắc nghi lễ, 1992) trong số nhạc phòng, Prajna Paramita (Ba la mật da, 1988) trong số nhạc hát. Le chemin de Bouddha (Con đường Đức Phật, 1990-91) là một bản kịch múa. Anh đã lãnh nhiều giải thưởng như giải Lili Boulanger (1972) của Hội SACEM, giải Diễn đàn Quốc tế những Nhà soạn nhạc ở UNESCO (1975), giải Sáng tác của Bộ Văn hóa (1981). Anh cũng còn là tác giả nhạc đệm cho hai phim Mùi đu đủ xanh và Xích lô của nhà đạo diễn Trần Anh Hùng. Anh với Nguyễn Thiên Đạo là hai nhà soạn nhạc cận đại Việt Nam có tiếng nhất ở Pháp và ngoại quốc.
Với một tinh thần luôn hướng về đất nước như thế, tất nhiên anh sáng lập ra Association France-Vietnam pour la Musique (Hội Pháp-Việt cho Âm nhạc) năm 1993, nhắm mục đích giúp Việt Nam phát triển âm nhạc. Đã nhiều lần, anh tranh thủ đưa hai đoàn Phú Xuân và Thái Hà qua trình diễn ở Pháp và châu Âu. Lần nầy, anh có được sự hợp tác của những hội CODEV Việt-Pháp, SACEM, tổ chức liên chính phủ Pháp thoại ACCT cùng những địa điểm đón nhận các đoàn biểu diễn. Rất tiếc là anh bảo tổ chức vật chất quá nặng và anh không muốn tiếp tục nữa. Hy vọng đây chỉ là những lời thốt ra trong lúc mệt mỏi. Tôi có đề nghị với anh xin đóng góp cả hai tay (và cả hai chân vì nghe nói dẫn các đoàn đi lại đòi hỏi nhiều nghị lực) và anh cứ kêu tôi khi cần. Trong lúc chờ đợi, tôi giúp sức trong sở trường của tôi: tôi biếu anh những hình ảnh chụp hai đoàn để  cung cấp cho báo chí ngày càng chú ý đến nhạc Việt Nam nói chung, nhạc Huế nói riêng. Dù sao, tôi chắc những người tổ chức đã thỏa mãn ước mong. "Những ngày nhạc Việt Nam" vang âm như hồi Thiên Mụ êm dịu, xa xăm nhưng chứa chan nét duyên quyến rũ.
Hắc Ký Ni Sơn mùa xuân 2002
Nhớ Huế 16 Huế phương xa 2002
18- TIẾN TỚI HỘI NGƯỜI YÊU HUẾ
Sau 1975, đất nước thống nhất, người Việt sống ở nước ngoài hướng mắt về quê cũ, náo nức tính ngày hồi hương trong lúc một số người trong nước đã thành công hay đang thực hiện chuyện xuất dương di tản. Sự ra đi của bà con, bạn bè dù sao đã đè nén một phần nào lên nhiệt huyết của những đứa con sống nơi xa xứ. Về hay không về? Rút cuộc, ít nhất trong một vài năm, số người chần chừ chiếm số khá đông tuy mọi người đều ý thức cần làm gì cho tổ quốc, cho quê hương. Ai mà không yêu nơi chôn rau cắt rốn, nhớ đến những ngày vui tươi thơ ấu trong một gia đình đầm ấm, nơi miền sông núi hài hòa vẻ đẹp thiên nhiên? Từ đấy làm sao không nóng lòng về lại quê cũ, nếu không để xây dựng một cái gì đó thì ít ra cũng gặp lại bà con nhiều năm không tin tức, ngắm nhìn dòng nước uống quanh cánh đồng rực vàng lúa chín hay bâng khuâng trước cánh đồi phản chiếu ánh nắng mặt trời êm dịu vào lúc chiều tàn?
Du học ở Pháp lâu năm, tôi may thường gặp được đồng bào khắp nước cũng như bạn bè đồng hương quê Huế hay những người đã từng sống và làm việc ở Huế, mỗi lần hiến tôi một dịp hồi tưởng lại quá khứ. Hồi mới qua Paris, tôi được anh bạn Tôn Thất Ngộ, sau nầy có phòng mạch nha y bên Rabat, kinh đô xứ Maroc, đem lại thăm gia đình Giáo sư Trương Công Cừu. Gần sáu mươi năm sau, tôi còn nhớ rõ mồn một tiếng nói giọng Huế quen thuộc của cô cháu bé, trong khoảnh khắc đưa tôi về lại mái nhà anh tôi cạnh cầu Kho Rèn, nơi ở trọ mấy năm tiểu học, cùng chung sống với mấy cháu con anh tôi. Sau đó tôi có dịp lại giữ con cho anh chị Nguyễn Duy Thu Lương - Trương Thị Hoa Diên ở Paris, hai thầy cũ của tôi ở trường Khải Định, nay anh học trường điện, chị học trường buôn. Anh chị học hành bận bịu, tôi cũng vậy nhưng tranh thủ được thời gian đi đón cháu vào cuối chiều, khi tan học. Trong lòng tôi là thực hiện một việc thiện loại BA (bonne action) đoàn hướng đạo thời tiền chiến nhưng anh chị rất sòng phẳng, nhất quyết trả công cho được, bất đắc dĩ tôi phải nhận tiền, đóng góp vào ngân quỷ sít sao của tôi hồi đó. Nhưng đối với tôi, nếu em bé chưa nói được gì nhiều, trò chuyện bằng tiếng Huế với hai anh chị là một hạnh phúc của kẻ hằng ngày sống trong một môi trường Pháp ngữ.
Vào đầu thập niên 50, những năm đầu tôi ở xứ Pháp, một số bạn trẻ quê Huế qua học trung học, có lẽ tình cờ, tập trung ở Grenoble và tôi trở nên người anh lớn hướng dẫn: những Nguyễn Văn Dinh, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Vinh, Thân Trọng Cương,... Tôi đã có dịp cùng với anh bạn nầy đem xe đạp về viếng vùng nam nước Pháp, chạy ngang dọc bờ Địa Trung Hải, ở lại nhà cô Crayone một thời đã dạy ở trường trung học Đồng Khánh. Cũng ở Grenoble tôi được tiếp xúc với anh Tôn Thất Thiện, bây giờ định cư ở Canada, trước đó vài năm còn là phó đoàn trưởng đoàn hướng đạo Lê Lai của tôi ở Huế. Anh khuyên tôi đừng lấy vợ đầm và đừng làm chính trị! Đấy là năm tôi nói được nhiều tiếng Huế nhất trong một thành phố tương đối nhỏ. Sau đấy, lên học Paris, tuy người Việt nhiều nhưng thành phố quá lớn để dễ gặp nhau nếu không là ở những ngày lễ hội, Tết nhất. Tôi nhớ có gặp được thầy Nguyễn Huy Bảo tuy tôi quá trẻ để theo học lớp triết lý với thầy. Thầy nói giọng Bắc nhưng thầy đã là giáo sư nhiều năm ở trường trung học Khải Định. Trong trí óc tôi luôn còn lảng vảng hình ảnh một ông giáo sư tinh nghịch, trước số đông học sinh, nhiêm nghị phán một câu: Monsieur Nồng pompe Madame Hamel khi thầy Đoàn Nồng đang lịch sự bơm xe giùm bà giáo sư Hamel. Tràng cười rũ rượi chứng minh các học sinh đã thấu hiểu lời phán hài hước của thầy Bảo nay đã qua đời.
Một vị mà mà tôi hân hạnh được hội kiến nhiều lần là bác Hoàng Xuân Hãn. Bác nói giọng Nghệ Tĩnh nhưng đã từng làm bộ trưởng bộ Giáo dục trong Nội các Trần Trọng Kim ở Huế sau cuộc đảo chính Nhật. Hôm lần đầu tôi lại tự giới thiệu với bác ở thiền viện Trúc Lâm, ngoại ô xa nam Paris, tôi hân hoan được nghe: tôi đã đọc tất cả các bài của Yến viết trong Bách Khoa! Thì ra tôi không phải là người xa lạ đối với bác. Thế là chúng tôi mặc sức đàm đạo về khoa học và nhất là về phương cách phổ thông khoa học trong nhân dân, đặc biệt trong đám thanh niên. Tôi không quên thưa với bác cuốn sách đầu giường của tôi hồi mới bắt đầu viết là cuốn Danh từ khoa học của bác vì hồi đó đang còn là sinh viên tôi chỉ biết những đế tài khoa học học ở trường hay đọc trong sách báo. Sau nhiều buổi bàn cải, chúng tôi đi đến một kết luận cần cho ra một loạt những cuốn sách nhỏ loại Que sais-je? của Pháp. Bác chịu tiếp xúc những tác giả có thể viết, tôi lo mặt ấn loát. Chuyện khó mà chúng tôi không vượt qua được là vấn đề tài chánh vì, theo tôi, không phải xuất bản một cuốn mà là một bộ sách đề cập nhiều đề tài khác nhau. Bác đã ra đi trước khi dự án đang còn trong trứng.
Mùa hè truớc khi tôi rời Huế đi du học Sài Gòn, thấy Bùi Xuân Bào có mở lớp dạy Pháp văn trong cơ sở trường Thiên hựu ở Huế. Thầy đã giỏi môn nầy trước khi học và đậu cử nhân, tiến sĩ văn chương Pháp. Ở Paris, sau khi hết còn nhiệm vụ công cán, sẵn có xe hơi, thầy thường chở vợ chồng chúng tôi đi chơi và nhất là thầy chịu đọc lại luận văn tốt nghiệp trường Viễn Đông Sinh Ngữ của nhà tôi, trên đề tại cuốn sách Đoạn Tuyệt của Nhất Linh. Tôi cũng được tiếp xúc hai anh chị nha sĩ Bửu Điềm - Phùng Thị Cúc, chị Cúc sau nầy nổi tiếng trên thế giới với những tác phẩm điêu khắc Điềm Phùng Thị và đã để lại một nhà trưng bày ở Huế, lúc ở Paris cả hai hoàn toàn dấn thân vào công cuộc tranh đấu dành độc lập cho đất nước. Anh Điềm lúc trước là giáo sư Anh văn của tôi, cho nên hồi mới gặp nhau tôi thưa là thầy. Thấy anh mỗi lần cười lớn, tôi phải phân minh: nhất tự vi sư, bán tự vi sư mà! Anh Điềm thích nói chuyện chính trị, nhiều khi hết cả thì giờ chữa răng. Một hôm anh tự hào kể suốt tối hôm qua đi dán áp phích; dù thông cảm sự đóng góp tích cực của anh, tôi nhẹ nhàng góp ý: dán bích chương thì ai làm cũng được, nhưng khảo cứu cách phòng răng, chữa răng dễ dàng, ít tốn cho dân nghèo thì chỉ nha sĩ mới là người có khả năng thực hiện hữu hiệu nhất.
Dù sao, những buổi nói chuyện với anh chị Điềm dần dần đã dẫn tới nhu cầu thành lập một hội đồng hương Huế ở Paris. Sau đó, qua nhiều buổi gặp gỡ, bàn tán, một nhóm anh chị em đồng ý khai sinh Hội Người Yêu Huế, tên gọi ban đầu hơi khó nghe nhưng không biết dịch chữ amis de Hué làm sao cho ổn. Điều lệ và nội dung của Hội rất dễ dàng được đặt ra:
- Bảo dưỡng và tăng cường tình bạn giữa những người yêu Huế,
- Góp phần vào cuộc mở mang du lịch và văn hóa ở Huế trong tinh thần lời kêu gọi của ông Giám đốc UNESCO ngày 25.11.1981 mong muốn Huế bảo tồn một môi trường đô thị biết bao tràn đầy lịch sử trong một dấu ấn hài hòa sâu đậm và bảo vệ sự phong phú sinh động một linh hồn tập thể, đem lại hạnh phúc cho người ở Huế cũng như đem lại thú vị cho khách đến viếng. Từ đấy, những mục tiêu đã được nêu ra:
- Động viên tất cả bạn bè yêu Huế, không phân biệt Nam Bắc Trung, không phân biệt chính kiến;
- Góp phần làm cho Huế trở thành một trung tâm văn hóa và du lịch của cả nước và của Á châu;
- Chứng tỏ người Việt Nam ở xa vẫn khắng khít với quê hương và do đó phá vỡ sự phân biệt giữa người Việt ở trong và ngoài nước: Huế là một bằng chứng cụ thể cho tinh thần đó.
Chọn bầu ban điều hành không gặp gì khó khăn nêu không là khi chỉ định chức vị chủ tịch. Ai cũng khiêm tốn không chịu nhận lời. Sau cùng một giải pháp được được ra, tuy không cổ điển nhưng tích cực giải quyết được khó khăn là bạn nào có thùng thơ lớn nhất (vì hy vọng thư từ sẽ rất dồi dào) thì được bầu vào cương vị đó! Vào dạo ấy, tôi vừa mới tự xây nhà, mua nhiều sách báo, dĩa hát cở to nên có xây một thùng thơ thật lớn, có thể nhận bất cứ sách dĩa loại nào, vì vậy anh chị em đồng ý bầu tôi làm chủ tịch đầu tiên, một chức vụ tôi làm tròn được sáu nhiệm kỳ một năm (1984-1990).
Để cho hợp lệ, điều lệ, nội dung Hội và tên tuổi ban trị sự được gởi lên tòa thị chính, xin được thành lập một hội bất vụ lợi trong khuôn khổ đạo luật 1901. Và tờ công báo xuất bản ngày 12.04.1984 ghi Hội được đăng ký chính thức ngày 21.03.1984. Từ đây, lần lượt nhiều cuộc gặp gỡ tại nhà anh nầy, chị nọ trong ban điếu hành để thiết lập và thi hành chương trình hành động cụ thể. Thường là sáng chủ nhật và sau đó chủ nhà mời dùng cơm. Mấy bà Huế là những nhà làm bếp rành nghề nên giải pháp nầy hoàn toàn được tán thành. Anh chị bác sĩ Lê Thái ở Le Chesnay cạnh Versailles là những người đầu tiên đón tiếp Hội. Chị Cẩm Hà tìm đâu được một trại chăn nuôi gần nhà chịu cho ấp trứng theo chỉ dẫn của chị nên chúng tôi năng được thưởng thức món trứng gà lộn. Tôi còn nhớ hôm đến lượt vợ chồng chúng tôi tiếp Hội, nhà tôi là bà đầm chính cống không biết nấu cơm Huế cũng không dám nấu cơm Việt cho người Việt, sợ bị so sánh, nên sau nhiều hôm bàn cải với tôi, nàng quyết định soạn một thực đơn Pháp lai Việt, bánh phồng tôm đệm rượu khai vị, thịt heo quay ướp ngũ vị hương...phó mát đủ loại, trái cây nhiều thứ, rượu van hay nước trà, cà phê tùy tiện. Nàng thêm nghệ tây nhuộm cơm màu vàng, như người Pháp thường dọn với nấm xào. Khi nồi cơm bưng ra, tôi để ý thấy có một vài nét nhăn trên mặt. Cha Nguyễn Đình Thi vội vớt vát: thì thử ăn đã rồi mới có ý kiến sau chứ!
Chương trình làm việc gồm có nhiều tiết mục nhưng nói chung thì có hai mục tiêu: tổ chức ở Pháp để cho người Pháp và cũng cả người Việt biết Huế và làm việc với bên nhà theo khả năng của Hội và yêu cầu của Huế. Ý kiến đưa ra ở mỗi buổi họp rất phong phú nhưng thường bị giới hạn trong việc thực hiện. Về trình diễn nghệ thuật văn hóa Huế, Hội tổ chức một đêm văn nghệ và phim ảnh (24.03.1984), hai đêm (30.11.1985 và 20.06.1987) Thanh Hải hát Trịnh Công Sơn tại Nhà Sinh viên Đông Nam Á ở Cư xá Đại học Paris. Giữa hai đêm nầy, một Đêm Hè Huế được dựng lên tối hôm 28.06.1986 tại phòng khánh tiết toà thị sảnh Paris quận 19. Tất cả các hội viên đều điều động con cháu đông đúc, hoặc dọn dẹp trong phòng, chuẩn bị thức ăn, hoặc đón chào khách khứa hay làm diễn viên trên sân khấu. Cái may là các anh chị đã có sẵn áo quần thời xưa, khỏi phải may, chỉ phải nới rộng ít nhiều. Thành thử hơn 200 người đến dự được mục kích, ngoài những bản đàn, bài hát, một đám cưới cổ truyền Huế với cô dâu mặc áo mạn lục, chú rể bận áo thụng xanh, ông gia bà gia khăn đen áo dài, đám rước có đủ cau trầu, heo quay, quạt lọng, cúng vái trước bàn thờ, tiên chỉ dẫn đầu. Trong vai nầy, anh Nguyễn Đôn Bật (nay đã mất) rất oai nghi bệ vệ với bộ râu bạc dài. Tiền vé bán thu nhập khá nhiều, thêm vào những món tiền biếu tặng khá lớn của những nhà hảo tâm. Tôi may mắn có chị thủ quỷ Nguyễn Khoa Song Xuân tinh thông lo liệu mọi tiền bạc, chịu trách nhiệm ngay cả chữ ký các giấy tờ thu tiêu, chủ tịch khỏi phải bận tâm mệt óc. Sau nầy, anh Bửu Chỉ, rồi chính ngay anh Trịnh Công Sơn (1989) có dịp qua Pháp. Nếu chúng tôi lo chuyện triển lãm cho họa sĩ, Hội chỉ góp sức với Nhà Việt Nam trong những buổi biểu diễn của nhạc sĩ.
Qua năm 1990, Hội lại kết hợp với Nhà Việt Nam tổ chức Hai tháng Huế: Nhà Việt Nam lo liệu cho ca sĩ Thúy Vân và nghệ sĩ đàn tranh Ngọc Diệp qua Pháp, Hội thương lượng với Tổ chức Công giáo Phát triển và Chống đói CCFD để có được hai vé máy bay cho họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận và nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường (rút cuộc không qua được trong chuyến nầy). Một loạt ba đêm nhạc (05.05, 26.05 và 23.06) được dựng lên ở Nhà Việt Nam với anh giáo sư Cao Huy Thuần làm người giới thiệu. Riêng phần tôi được nhờ trang hoàng phòng hát với những hình ảnh Huế, góp phần gợi tả với tiếng đàn giọng hát một tinh thần đất Thần kinh giữa đô thành ánh sáng. Cũng trong khuôn khổ Hai tháng Huế, anh giáo sư Trần Văn Khê thành công tổ chức một tối ở viện Bảo tàng Á Đông Guimet với hai cô nghệ sĩ Huế. Còn họa sĩ Hoàng Đăng Nhuận thì, cũng như họa sĩ Bửu Chỉ trước đó, được chị Kim Ba thương lượng với Hội các Nhân viên AIPU để các anh được phép triển lãm ngay trong trụ sở UNESCO ở Paris. Sau đó còn có bốn anh Trương Bé, Vĩnh Phối, Phạm Đại, Nguyễn Đức Huy, giáo sư, giảng viên trường Đại học Nghệ thuật Huế, sau ba tháng được Hội Saint-Henri-de-Toulouse mời qua ở vùng Lauragais miền nam nước Pháp, trên đường về Huế có ghé Paris triển lãm ở Trung tâm Văn hóa Pháp Việt (1994) ở Paris,... Cũng nên biết thêm còn có qua biểu diễn ở Paris một đoàn mười lăm giáo sư, giảng sư, nhạc sĩ trường Đại học Nghệ thuật Huế tại trụ sở UNESCO (1993), một đoàn nghệ sĩ mười lăm nhạc công và hai mươi nghệ nhân nhạc cung đình Huế tại Nhà Văn hóa Thế giới (1995), một đoàn năm tu sĩ Phật giáo và ba nhạc công trong chương trình liên hoan Trí tưởng tượng (1998). Những chuyến đi nầy nằm ngoài chương trình của Hội nhưng chúng tôi luôn có mặt góp phần. Tôi còn nhớ mãi hôm các anh chị trường Đại học Nghệ thuật với ông bầu giáo sư Hà Sâm kẻ mang đàn người cầm sáo lại biểu diễn ở nhà chúng tôi trên đỉnh Hắc Ký Ni Sơn, gây vui nhộn một tối trăng tròn ấp ủ biết bao tình thương trìu mến.
Về chuyện hợp tác với bên nhà, ý kiến cũng rất phong phú. Với khả năng của từng người, chúng tôi đã tiếp xúc nhiều tổ chức, cơ quan như Tổ chức Công giáo Phát triển và Chống đói CCFD, Chương trình Hợp tác Quốc tế Phát triển và Đoàn kết CIDSE,... để thử xúc tiến một vài đề tài: trạm bơm, trạm tưới nước, xây dựng nhà trẻ, công ty du lịch, chương trình thủy điện, khảo cứu nước ót, xí nghiệp thuốc lá, xí nghiệp làm đường, xí nghiệp làm nước ngọt, học bổng cho học sinh, hợp tác xã về dệt, thuốc men cho bệnh viện, sửa chữa cầu Trường tiền, máy sao chụp cho nhà in, dụng cụ cho các phòng thí nghiệm, nghiên cứu và khai thác thủy sản, chiết rút agar từ rong câu chỉ vàng, dự án hợp tác và kết nghĩa Đại học, dự án hợp tác và kết nghĩa với một thành phố lịch sử Pháp,... Các anh chị trong ban điều hành chia nhau lo liệu, ai thấy có một khả năng trong số yêu cầu thì dấn thân vào, người lo chuyện tiếp xúc với Huế nhiều là anh tổng thư ký kỷ sư Lê Huy Cận. Sau những chuyến đi về của một vài vị, có những đề tài được phát triển nhưng cũng có nhiều ý kiến phải tạm dừng. Còn ai biết cái máy sao chụp đầu tiên ở Huế là do Hội gởi biếu toà soạn báo Sông Hương? Còn ai nhớ sau 1975, chiếc đồng hồ đầu tiên trên nhà ga Huế cũng là quà biếu của Hội. Có ai thông cảm một bạn của Hội đã kệ nệ mang về một máy vi tính cho Trung tâm Tổng hợp Hướng nghiệp? Nhà điêu khắc Điềm Phùng Thị (nay đã mất), họa sĩ Lê Bá Đảng, cố họa sĩ Việt Hồ, giáo sư Lê Thành Khôi, cố nữ sĩ Thái Ngộ Khê, chị Tôn Thất Hữu,... nằm trong số những ân nhân đã đóng góp quà gởi về Huế. Để tiện việc thông tin, hai tờ báo liên lạc bằng tiếng Pháp và tiếng Việt đã được bắt đầu, nhưng chỉ ra được có vài số. Một dạo thi sĩ Thân Thị Ngọc Quế (nay cũng đã mất) tình nguyện đánh máy giúp, luôn tiện còn tặng vài bài thơ chưa in. Hội có ý muốn thực hiện một giai phẩm về Huế nhưng ngoài bài vở phải chạy xin, còn có vấn đề nan giải là tài chánh. Dự án in những sách về Huế cũng gặp cùng trở ngại. Thỉnh thoảng Hội có tổ chức những buổi nhạc như những đêm Thanh Hải hát Trịnh Công Sơn đã thấy, hay những bửa ăn, như hôm 25.10.1987 ở nhà anh chị Võ Bạt Tụy ở Longjumeau, để quyên tiền giúp bảo lụt ở Huế. Thường Hội cũng có tổ chức ăn Tết ở nhà riêng hay ở quán cơm. Tôi còn nhớ năm 1985, Hội ăn Tết Ất Sửu ở quán cơm Sông Hương của chị Phạm Thị Hoàn (27.01) trên một bờ sông thơ mộng ở Yerres. Hôm ấy bác gái Hoàng Xuân Hãn xuất thân là dược sư, vui tính kể chuyện ma quỷ gây lên những trận cười rầm vang thế pháo ngày xuân.
Hội không quên tiếp xúc với những người đồng hương ngoài nước Pháp. Chị Trương Thị Hoa Diên, cựu giáo sư trường Khải Định, hiện định cư ở Mỹ, tán thành chủ trương của Hội:... Những gì trong tiềm thức, trong thâm tâm mình ước ao làm cái gì thì nay đã có nhóm bạn bè cùng thông cảm can đảm đứng ra làm, làm tôi vừa cảm phục và mến thương... Đối với nước Đức gần gũi, một phái đoàn của Hội đã qua Munchen gặp gỡ các Việt kiều đồng hương bên đó tại nhà chị giáo sư Thái Thị Kim Lan. Có những trắc trở không cho phép chúng tôi thực hiện một Hội rộng lớn ở Âu châu, thật đáng tiếc. Tuy tôi và nhiều bạn thuở khai sinh Hội không còn hoạt động trong khuôn khổ Hội nữa, anh giáo sư Hoàng Nhân (nay đã mất), nhân chuyến qua Pháp năm 1996, cậy tôi tổ chức tại nhà tôi hôm 05.05 một cuộc gặp với cựu hội viên và cựu học sinh trường Khải Định. Thì ra danh nghĩa Hội bất chấp thời gian vẫn luôn tồn tại. Cũng như gần đây, năm 2002, nhân qua Munchen giới thiệu tuồng Lộ Địch của thân phụ, khi ghé qua Paris, nữ sĩ Tôn Nữ Hỷ Khương đã tiếp xúc với những bạn yêu Huế trong một cuộc gặp gỡ thơ văn âm nhạc với giáo sư Trần Văn Khê chiều hôm 03.11 tại Phật đường Khuông Việt ở Orsay. Riêng bản thân tôi rất hân hạnh nhân danh Hội trưởng Hội Người Yêu Huế, được mời đọc điếu văn trước mặt đông đủ bá quan Việt Pháp, hôm 28 .03.1987 tại chùa Vincennes ở Paris, kể lại cuộc đời sóng gió của Hoàng đế Duy Tân, nhân hài cốt của đức vua trên đường chở về nước. Sau nầy, Hoàng thân Nguyễn Phúc Bảo Vang, thứ nam của Hoàng thân Vĩnh San, viết trong lời đề tặng cuốn sách của ông cho tôi: "Một khúc đoạn lịch sử, một chốc lát vĩnh hằng... Thân ái". Lịch sử dù là khúc đoạn ngắn ngủi cũng sẽ tồn tại đời đời.
Hội Người Yêu Huế được khai sinh cách đây đúng 25 năm, gần một phần tư thế kỷ, nay đã trưởng thành, đúng là điểm tụ họp tình nghĩa người đồng hương nơi xa xứ. Vì ra đời trong mục tiêu một hội bất vụ lợi, Hội chắc chắn sẽ được tiếp tục hoạt động mãi mãi, ngày nào mối tình nầy còn mặn nồng và luôn hướng về thành phố thân thương của tất cả những người yêu Huế.
Hắc Ký Ni Sơn thu đông 2008
Nhớ Huế 40 Huế Xuân Kỷ Sửu 2009
Xô thành, Tết Bính Tuất 2006
Võ Quang Yến
Theo http://chimviet.free.fr/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...