Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Berlin, vĩ tuyến 17XXXX

Berlin, vĩ tuyến 17

Hồi đó Thu Cúc [1] là một bác sĩ trẻ ở Sài Gòn.
Ông giám đốc bệnh viện cũ đang ở đâu đó trong trại cải tạo, còn cô thì phải giảng giải cách thức chữa bệnh cho các vị thủ trưởng mới, những người đã chiến đấu cho miền Bắc trong chiến tranh.
Dù vậy Thu vẫn không được trọng vọng. Tối tối ông trưởng khu, cũng người Bắc, lại đến nhà gia đình cô đòi hỏi hết thứ này đến thứ khác, chẳng hạn cái radio ông ta vừa thấy. Ba cô, với sự sáng suốt hoặc yếu đuối của người có tuổi, sẵn sàng biếu ông trưởng khu cái radio. Nhưng Thu thì không, có chết cũng không. Gia đình cô giữ cái radio lại. Vì vậy hôm sau cô phải ra đồn công an viết bản khai lý lịch. Mấy người công an quát nạt rằng cô khai sai, khai láo. Họ xé toẹt mấy tờ khai, rồi lệnh cho Thu tối hôm sau lại ra đồn để khai báo, hết lần này đến lần khác. Rồi một hôm Thu không đến trình diện nữa. Cô vượt biên trên một chiếc thuyền dài 18 mét và rộng 3 mét. Sau nửa tuần con thuyền đến Malaysia an toàn, không bị sóng đánh tan thay bị cướp biển hành hạ như các thuyền khác. Thu Cúc và các thuyền nhân khác lếch thếch lên bờ. Tổng cộng 297 người.
Lê Lương Can chà lòng bàn tay lên bàn. “Vâng, những chuyện xảy ra với họ hồi đó đúng là kinh khủng thật", ông nói. Rồi ông ngửa tay, làm động tác kết luận: "Nhưng sang đến Tây Berlin thì họ tìm được ngay công ăn việc làm. Chỗ ở cũng có ngay. Nếu cần thì được nhận cả trợ cấp xã hội. Nên bây giờ họ khá giả, nhưng lười lắm".
Ông Lê rất cần cù. Ông có một cửa hàng thực phẩm trong một khu chợ Việt Nam ở bên Đông, mở cửa sáu ngày một tuần từ 9 giờ sáng đến 8 giờ tối. Nhưng như thế không có nghĩa là ông chỉ bận bịu công việc trong giờ mở cửa. Ông còn phải mua hàng, rồi tính toán sổ sách. Ông làm việc mỗi ngày 18 tiếng đồng hồ từ hơn 10 năm nay. Do ăn nên làm ra, ông Lê nhanh chóng trở nên giàu có hơn những thuyền nhân bên kia thành phố. Ông tậu được một cái biệt thự, nhưng sau đó bị vợ bỏ. Giờ đây bà vợ cũ chễm chệ trong biệt thự, còn ông lại về khu nhà lắp ghép gió máy ở Marzahn như trước kia, nhưng thay cho 5 mét vuông tồi tàn là 3 phòng đàng hoàng. Dù sao thì cho đến nay chuyện ly hôn vẫn còn khá hiếm ở Việt Nam. Theo ông Lê thì chính dân chủ đã hủy hoại gia đình, cái chủ nghĩa cá nhân không khoan nhượng, ai cũng nghĩ mình muốn làm gì thì làm, tùy thích, không kể thiệt hại, có phải không nào?
Thu Cúc chồm người trên bàn. Miệng bà hằn vẻ chua chát, càng rõ nét hơn khi bà nói đến người Bắc. Thường thì chỉ sau vài giây là bà đã lớn tiếng. “Họ nghèo nàn vì chiến tranh. Tôi nói là nghèo về tư tưởng. Họ chẳng hiểu gì về dân chủ cả, vì có dân chủ bao giờ đâu mà hiểu. Rồi họ làm ra tiền ở đây bằng cách nào? Chỉ bằng những việc phi pháp. Nếu không thì chẳng ai giàu được như vậy cả.”
Gia đình bà Thu khá hòa thuận. Bà sống trong một ngôi nhà riêng ở một khu tiểu tư sản điển hình, phải nói là tẻ nhạt. Một cái đàn dương cầm đặt trong phòng khách gọn ghẽ, bên trên là một lá cờ Mỹ và một lá cờ vàng ba sọc đỏ, quốc kì của miền Nam Việt Nam cũ. “Chúng tôi đã mất nước”, bà Thu nói, “giờ chỉ còn mỗi lá cờ này để tưởng nhớ.” Đôi khi bà cùng ông Xuân chồng bà đi biểu tình trước đại sứ quán Việt Nam, phản đối tình trạng ở quê nhà. “Ở đó là chủ nghĩa tư bản đỏ”, bà chỉ trích, “cái gì cũng thối nát, thẻ đảng viên chỉ là giấy phép in tiền mà thôi.”
Lê Lương Can dựa người ra sau, đầu chạm vào các khay gói đồ ăn chất đống trên kệ, khiến một tiếng ken két vang lên, xuyên qua sự tĩnh lặng về đêm trong cửa hàng. Ông Lê không nóng nảy như bà Thu, ông chỉ mệt mỏi. Ông làu bàu: “Biểu tình biểu tiếc gì đâu. Đa số họ chỉ đứng ra cho nhân viên sứ quán chụp ảnh để về khoe với người khác: Xem này, chúng tôi là những người chống đối chính phủ Việt Nam! Qua đó họ được công nhận tị nạn ở Đức. Chỉ thế thôi!”
Và như thế, như thế, rồi như thế mà tiếp nối câu chuyện về một sự chia cắt còn đầy kịch tính, đau đớn và kéo dài hơn cả sự chia cắt nước Đức. Nhưng không hẳn diễn ra trong lòng nước Việt Nam. Ông Wilfried Lulei, giáo sư Việt Nam học đã về hưu, nói: “Những xung đột gay gắt giữa miền Bắc và miền Nam ở Việt Nam đã dần dần biến mất. Họ đã biết cách làm dịu những xung đột này như người ta thường giải quyết các mâu thuẫn ở châu Á bằng hòa hợp thay vì căng thẳng.”
Nhưng cả bà Thu lẫn ông Lê và những người có liên quan khác đều sống rất xa châu Á; những người được miền Bắc cử đi thì sống ở Đông Berlin, còn những người phải trốn chạy khỏi miền Nam thì ở Tây Berlin. Bên này là 6500 người, bên kia là 5000. Cả hai nhóm đều bị tách biệt khỏi quê hương và tách biệt lẫn nhau. Vì thế nên mọi thứ, những chấn thương, xúc phạm, tị hiềm và giận dữ đều được họ bảo tồn. Được bảo tồn, nghe chẳng khác gì khảo cổ. Và thực thế, ta có thể đào bới và tìm cách ghép một vài mảnh vụn với nhau. Những mảnh vụn ấy - thật điên rồ - lại chôn vùi trong đất Đức. Với một chút may mắn, cuối cùng ta cũng có trong tay một tấm gương. Tấm gương này sẽ cho ta thấy những gì?
Lịch sử của quá trình không hiểu nhau bắt đầu như sau: Cách đây rất lâu, Việt Nam là một quận của Trung Hoa, mang tên Giao Chỉ. Quận này là miền Bắc ngày nay. Còn miền Nam thì có người Chăm sinh sống. Rồi người Việt chiếm đất của người Chăm. Nhưng ai sẽ đến định cư và khai khẩn vùng đất mới này đây?
Những người cùng đinh, dân mạo hiểm đói khát, dân phạm pháp lưu vong. Họ mở mang vùng đất phương Nam để trồng lúa. Nhờ thiên nhiên giúp đỡ, họ nhanh chóng có được mọi ưu thế trong tay. Đất đai đồng bằng sông Cửu Long ngày đó và ngày nay màu mỡ hơn miền Bắc, khí hậu cũng ấm áp hơn. Nếu làm lụng cật lực một thời gian, người ta có thể an nhàn mà hội hè thoải mái, điều cấm kị ở vùng đất phía trên. Đất đai cằn cỗi ở đó đòi hỏi phải được cầy xới thường xuyên.
Và như thế đối với người miền Nam thì người miền Bắc chỉ biết lao lực, cục cằn, keo kiệt và không hào hoa phong nhã, còn người Bắc lại xem người Nam là biếng nhác, phung phí, nông cạn và thiếu nề nếp.
Nhưng thoạt tiên thì đó chỉ là những tính cách khác nhau, gắn liền với những khoảng cách lớn ở đất nước này. Chiều dài của Việt Nam tương ứng với khoảng cách từ Oslo ở Nauy đến tận Genova ở Ý.
Mãi đến giữa 1954 và 1975 mới hình thành từ đó những hình ảnh thù địch chết người – đây là quân cộng sản tàn ác, còn kia là bọn bán nước vô liêm sỉ. Tất cả đều là những dữ kiện ai cũng biết: Quân Pháp thua trận Điện Biên Phủ ra sao, Việt Nam bị cắt ngang theo vĩ tuyến 17 như thế nào, tuy chỉ tạm thời - điều mà ngày nay hay bị quên -, đã có kế hoạch tổng tuyển cử trong toàn cõi Việt Nam, nhưng vì Hồ Chí Minh theo dự đoán sẽ nhận được 80 phần trăm số phiếu, nên Diệm, tên tay sai của cả thế lực thuộc địa cũ lẫn tư bản mới từ Mĩ về, đã hủy cuộc bầu cử, và chiến tranh du kích bắt đầu, rồi ném bom và rải thuốc độc như chưa từng có, và quân Mĩ trong cơn cuồng điên của lý thuyết Domino đã giết hại 1,5 triệu con trâu – đây chỉ mới nhắc đến thiệt hại về trâu.
Người Việt đã tiếp nhận những hình ảnh thù địch từ các thế lực nước ngoài. Họ có sự chọn lựa nào khác đâu. Ngày nay hầu như chẳng người Việt nào muốn nhắc đến chiến tranh nữa. Đủ lắm rồi, khủng khiếp quá, dù có bắn giết ai và bắn giết cho ai cũng thế. Cũng không thấy một lời giận dữ nào về bọn mũi lõ. Chỉ có người Việt ở thành phố Đức này, nơi cũng từng có một chiến tuyến xuyên qua, tiếp tục lên án nhau không thuyên giảm: như thể trong lịch sử của họ có gắn một cái dây cót, trước đây đã bị một bàn tay ác nghiệt lên dây, khiến họ giờ đây phải tiếp tục như thế mãi.
Ai cũng mắc vào xung đột ấy, vì đơn giản là ai cũng liên quan chăng?
Không đâu.
Nguyễn Văn Hồng đứng giữa hai phía. Ông được Đảng cử sang Cộng hòa Dân chủ Đức làm luận án tiến sĩ. Như vậy ông đã từng là một thanh niên được giáo dục một chiều. Không lâu sau ông yêu một cô gái thuộc phái ly khai ở Đông Berlin, và cũng như mọi người đang yêu khác, ông sẵn sàng phá vỡ những ranh giới trước đó ông đã từng chấp nhận và nhập tâm. Hồng gia nhập Hội Hòa bình và Nhân quyền và góp phần lật đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa xảo trá. Hiện ông làm việc ở văn phòng hội nhập của chính phủ tiểu bang.
Nhưng ông vẫn không được thông cảm.
Trong lúc uống bia với bạn bè người Bắc cũ ở Đông Berlin rồi một lúc nào đó lại đề cập đến chính trị, nếu ông Hồng phê phán việc Việt Nam đối xử với dân miền Nam sau 1975, rằng mọi thứ đều bị tịch thu, mỗi người chỉ được phát vỏn vẹn 100 đồng, thật là tệ, đúng là vô nhân đạo, thì bạn bè ông lại giận dữ phản đối, tại sao, tại sao nào, ta giải phóng họ, ta chiến thắng thì ta có quyền sai khiến họ!
Còn nếu tên ông Hồng được nhắc đến ở nhà bà Thu thì bà kêu lên, chúng tôi biết anh ta, anh ta phá hoại ngầm chúng tôi, thì cũng lạ gì, anh ta là người bên Đông mà!
Cuộc sống liên tục đổi thay, nào ai lường trước được: Thoạt đầu thì người miền Nam lên hương. Rồi đùng một cái, họ trở nên thân tàn ma dại lênh đênh trên biển cả. Rồi giờ đây, ở nước ngoài, họ lại sung sướng hơn những người miền Bắc mà trước đó còn được hứa hẹn tương lai xán lạn.
Thu, cô bác sĩ đến từ Sài Gòn, gặp một cô y tá người Đức trong trại tị nạn ở Malaysia. Cô y tá khuyên Thu nên sang Đức. Thu không biết một từ tiếng Đức nào, nhưng năm 1979, khi Tây Đức còn khá dư dả để san sẻ, thì điều đó không thành vấn đề gì. Cô được học một khóa tiếng Đức 8 tháng ở Viện Goethe. Sau đó cô tự lo liệu và tìm được khá nhanh một chỗ làm với cương vị bác sĩ. Tính đến nay bà Thu đã làm việc 20 năm ở một bệnh viện. Đối với các thuyền nhân người Việt, đó không phải là con đường bất thường. Nhiều người biết tận dụng hoàn cảnh. Thậm chí vào thời điểm khó khăn hiện nay thì 55% trong giới thuyền nhân người Việt - theo một nghiên cứu về di cư - có công ăn việc làm, 15% hành nghề tự do, 30 % thất nghiệp.
Ông Lê xua tay. Có trợ cấp xã hội như thế thì ông cũng muốn được thất nghiệp. Ông và những người miền Bắc khác chưa hề nhận trợ cấp bao giờ. Họ buộc phải tự xoay xở, vì lý do gì, ông sẽ kể sau.
Các cô con gái bà Thu đi xuống cầu thang, vào phòng khách. Hay đúng hơn là các cô lướt trên mặt đất. Đôi khi đời thực như từ một cuốn phim: Hai cô là hai tạo vật dịu dàng mắt huyền như thường thấy trong những bộ phim cũ về Đông Dương. Hai cô chìa tay, bàn tay hơi cong xuống, mà ta không dám nắm lấy vì sợ làm chúng đau. Một cô vừa qua Mỹ vài tháng, cô kia học y ở Rostock. Cô này có người bạn trai, quê ở đó. Cậu ta cũng ngồi trong phòng khách. Và hai tạo vật ấy bắt đầu cất tiếng, một thứ tiếng Đức rõ ràng, tinh khiết và đẹp như bề ngoài của họ vậy.
"Các em nói tiếng Việt cũng giỏi như vậy chứ?" – "Dạ, không. Không giỏi chút nào hết. Tụi em hầu như chỉ nói tiếng Đức không thôi."
Các cô nhìn bố mẹ có vẻ hơi biết lỗi. Bà mẹ lên tiếng: “Chúng tôi cứ nghĩ không bao giờ được quay về nữa. Mọi cái như thể sẽ mãi như thế này. Vậy thì truyền lại tiếng mẹ đẻ làm gì? Chúng tôi muốn bắt rễ ở đây và đã đạt được điều đó."
Và đó là điểm khác biệt lớn nhất so với những người Bắc. Họ sống đa phần ở các khu nhà lắp ghép cao tầng, nơi họ bị nhét vào dưới thời Đông Đức, trong sự đùm bọc của nhau và chỉ bập bẹ được vài từ tiếng Đức với một cách phát âm lạ lẫm không sao hiểu được.
Bà Thu thốt lên: “Bọn họ có quan tâm gì đến nước Đức không?". Và bà tự trả lời ngay: “Không, họ chỉ quan tâm đến bản thân họ thôi."
Thực tế thì phức tạp hơn rất nhiều. Nói gì đi nữa thì những sự thật đơn thuần chỉ có trong mơ ước và trong thịnh nộ mà thôi.
Nước Cộng hòa Dân chủ Đức vì thiếu nhân công đã tiếp nhận 60.000 công nhân hợp tác lao động người Việt. Lối sống cách ly của những người này, giờ đây đang hiển hiện, đã bắt đầu ngay từ hồi đó, theo chỉ thị của chính sứ quán Việt Nam. Chỉ cần yêu một người Đức là bị tống về nước, nếu có thai là bị hồi hương ngay. Nhân viên bảo vệ các nhà tập thể công nhân được lệnh không cho người lạ vào.
Năm 1990, công nhân Việt Nam là những người đầu tiên bị mất việc. Mà giả sử họ có quan hệ gần gũi với dân Đức hơn đi nữa thì việc này cũng chẳng thay đổi gì cả, bởi dân Đức giờ đây bỗng nhiên xem họ là những kẻ cạnh tranh. Câu truyền miệng là: “Nếu bọn mày còn được làm việc ở đây, mà phía chúng tao lại có người bị đuổi việc, thì xin tụi mày tí huyết." Rồi không lâu sau máu đã tuôn ra thật, chỉ có điều là khi ấy những người Việt Nam kia đã lay lắt đầu đường xó chợ từ lâu. Dân Đông Đức tay cầm chùy, đùi đẫm nước tiểu, như thể xuất hiện từ thời kì đồ đá mà tướng Le May muốn dội bom đưa Việt Nam quay trở lại.
Ông Lê nói: “Chúng tôi ai cũng đứng trước câu hỏi: Phải làm gì đây?"
Hợp đồng lao động dù còn thời hạn cũng chỉ để vất đi. Nhiều người trở về Việt Nam, cũng vì mỗi người tự nguyện hồi hương sẽ được nhận 3000 D-Mark và tiền vé máy bay. Nhưng hàng ngàn người muốn ở lại. Trái với các thuyền nhân bên Tây, họ phải chứng minh mình có thu nhập để được yên thân với các công sở. Trước khi có qui định pháp lý chính thức vào năm 1997, họ không có một chút hi vọng sẽ có ngày nhận được giấy phép cư trú dài hạn.
Ông Lê chấp nhận mạo hiểm. Mặc dù nguy cơ bị trục xuất luôn rình rập, ông dốc hết số tiền làm lụng dành dụm được ra để mở cửa hàng. Ông sang Đông Đức không phải với tư cách công nhân, mà trên cương vị phiên dịch cho công nhân, nên ông có điều kiện bậc nhất. Ông chưa hề vào Đảng. Đôi khi chỉ cần khôn ngoan là đủ rồi.
Còn những người khác, những người ít học hành hơn thì sao? Thì họ cũng phải kiếm tiền bằng cách này hay cách khác. Do vậy, họ bắt đầu buôn bán quần áo và những thứ linh tinh khác, nhưng trước hết là thuốc lá. Hàng ngàn người đi vào con đường phạm pháp, hàng chục người cướp mạng nhau khi giành giật tranh chấp địa phận làm ăn. Người Đức đọc báo, thấy đăng những tin này, rồi lại thấy nhiều anh chàng Việt Nam diện mạo na ná nhau vụng trộm len lét ở góc đường, hẳn phải có ấn tượng là cả cái dân tộc ấy chỉ nảy nòi bạo lực và tội phạm.

Ông Hồng, nhân viên đặc trách hội nhập, nói: “Và tất nhiên điều này khiến các thuyền nhân nhày trước rất khó chịu. Họ đã làm nên sự nghiệp ở đây, vậy mà bây giờ lại bị dân Đức nhìn một cách hằn học, chỉ vì họ là người Việt. Từ đó họ thực sự không muốn dây dưa gì với những người đồng hương đến từ miền Bắc nữa."
Những người Bắc cũng không thích gì công việc mà họ phải làm ngày này qua ngày khác. Mặc dù muốn bán được hàng, nhưng không ít người trong số họ, nhất là nam giới, không gây ấn tượng niềm nở, mà trái lại rất lạnh lùng với khách hàng. Và lại một lần nữa ta có thể thông qua lịch sử để hiểu vì sao. Thương nhân đứng ở bậc thấp nhất trong trật tự xã hội truyền thống của Việt Nam: sĩ, nông, công, thương. Ai làm ra sản phẩm mà không dùng hết trong nhà thì bảo vợ mang phần thừa ra chợ, vừa bán vừa tán chuyện với các mụ đàn bà khác.
Ở nhà bà Thu, giờ đã nửa đêm. Bà tổng kết: “Ban đầu chúng tôi nghĩ người Bắc rồi cũng sẽ thay đổi. Nhưng họ vẫn y như thế. Không, họ không khá nổi, chúng tôi và họ không hòa hợp được."
Hai cô gái lặng im. "Các em nghĩ sao?", tôi muốn hỏi các cô, nhưng linh tính bảo tôi nên hỏi gián tiếp thì tiện hơn. "Trong giới trẻ, cùng tuổi các em, có nhận ra được ai là người Bắc, ai là người Nam không? Nếu được, thì trên cơ sở nào?"
Hai cô mỉm cười. "Dạ, nhận ra qua cách ăn mặc và toàn bộ tư cách của họ."
"Tư cách của họ ra sao?"
Hai cô nhìn nhau, tìm câu trả lời rồi nhún vai. Trong khi đó tôi đưa mắt trao đổi với chàng trai người Rostock. Rồi một cô bảo: “Thật ra chẳng khác nhau mấy đâu. Thật ra với bọn cháu chẳng có lý do gì để phân biệt cả."
Cô nhìn sang bố mẹ như thể muốn hỏi cô có thể đi đến giới hạn nào; kính trọng bậc sinh thành là một trong những nguyên tắc tốt đẹp của Việt Nam. Cuối cùng cô cũng nói tiếp: “Đó chỉ là những thành kiến thừa hưởng từ bố mẹ, không hơn không kém."
Bà Thu ngắt lời con gái: “Thành kiến hả? Đó là những kinh nghiệm không tốt đẹp gì". Bà đã bớt căng thẳng hơn. Bà đặt tay lên ngực, nói: “Tôi nói năng như vậy chắc anh ngạc nhiên lắm. Nhưng đó là tiếng trái tim tôi. Đôi khi phải xổ hết cả ra. Chúng tôi không có một chỗ nào, không có địa vị gì trên thế giới này cả. Người ta muôn đời hoan hô Bác Hồ kính yêu, còn chúng tôi thì sao?"
Tôi lại đưa mắt nhìn chàng trai Rostock; một sự đồng tình ngắn ngủi. Chúng tôi, hai người Đức, có thể nhìn nhận mọi sự thật rõ ràng và sắc nét, thật bao dung và sáng suốt, từ bên ngoài cái nhà kính mà chúng tôi đang ngồi trong đó.
Chú thích:
[1] Tên do tòa soạn thay đổi.
12/10/2006
Birk Meinhardt
Hồ Phạm Huy Đôn dịch
Nguồn: Süddeutsche Zeitung 
Nr. 137, 17-18.6.2006
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Hoàng Thoại Châu – Nhà thơ của tình biển nghĩa sông Nhà thơ đi về phía đô thành giữa lúc bóng đen khổng lồ của chiến tranh không chỉ thấ...