Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Chuyện đạo vănXXX

Chuyện đạo văn

Đạo văn không phải là chuyện “xưa như trái đất” nhưng có lẽ cũng không phải là chuyện quá mới lạ trong giới viết lách.
Trước thời có Internet, việc đạo văn tương đối khó khăn, tốn nhiều công sức, lại dễ bị phát hiện. Muốn làm chuyện ăn cắp văn chương, phải vào thư viện kiếm sách, ngồi chép lại hay đánh máy lại. Mà các tác phẩm phần lớn được viết bởi những người chuyên môn, trình độ cao nên các đoạn văn sao chép có thể bị phát hiện dễ dàng.
Ngày nay, với sự phổ biến của Internet, hàng triệu triệu tài liệu được đưa lên, cập nhật và thêm vào hàng ngày, hàng giờ của đủ loại người, đủ loại trình độ khác nhau, người ta chỉ cần vào Internet, “sao chép và ghép vào” (copy and paste) bất cứ cái gì người ta cần, thậm chí sao chép cả cuốn sách, khiến cho người ta khó biết đâu là thật đâu là giả để phát hiện chuyện đạo văn. Vả lại, bản chất “công cộng” của Internet dường như hỗ trợ cho việc đạo văn, khiến cho biên giới giữa ý tưởng cá nhân và ý tưởng chung đâm ra không mấy rõ ràng. Nói đâu xa, ngay cả những bài viết như bài này chẳng hạn, tác giả có thể vào mạng, tìm trong một thời gian ngắn, rồi copy rồi paste và rồi chỉ việc ghép ý này qua ý kia, thông tin này qua thông tin nọ, dịch ra, bố trí lại cho có đầu có đuôi… thế là xong một “tác phẩm” của mình mà không mấy ai thắc mắc về chuyện tác giả có đạo văn của ai không. Thậm chí, nếu biết là tác giả đạo văn thật, người ta cũng xem đó là sự thường trong thời buổi giao lưu rộng rãi này.
Nói nôm na ra, đạo văn là lấy làm của mình những ý tưởng và bài viết của người khác. Được quy cho là đạo văn những hình thức sau:
- Dùng ý tưởng hay tài liệu của ai mà không ghi xuất xứ
- Mập mờ đánh lận con đen giữa ý của mình và ý lấy từ người khác, nghĩa là có ghi xuất xứ nhưng không rõ ràng.
Ở Hoa Kỳ trong những năm gần đây, xảy ra nhiều vụ kiện về đạo văn. Nhà văn chuyên viết truyện trẻ em Nancy Stouffer kiện Kathleen Rowling, tác giả có sách bán chạy nhất hoàn vũ, đạo văn trong bộ Harry Potter. Tổ hợp xuất bản Mitchell, kẻ thừa kế hợp pháp của Margaret Mitchell qua tác phẩm Cuốn theo chiều gió, kiện nhà xuất bản Houghton Mifflin và tác giả Alice Randall cũng về tội đã đạo văn của Margaret Mitchell khi viết cuốn Gió đã cuốn rồi (The Wind Done Gone). Còn mục sư Edward Mullins coi sóc một nhà thờ lớn tại thành phố giàu có Detroit đã bị tố cáo là sao chép tài liệu từ Internet để viết thành bài giảng và đăng trên tờ báo của nhà thờ xem như là bài của mình. Vân vân và vân vân.
Vụ đạo văn mới nhất vừa được đưa ra công luận đầu năm nay (3/2006) dính líu đến tổng thống Nga đương nhiệm, Vladimir Putin. Theo hai nhà nghiên cứu thuộc viện nghiên cứu Brookings Institution (Washington DC) Clifford Gaddy và Igor Danchenko thì phần lớn những luận cứ then chốt dùng trong luận văn tiến sĩ The Strategic Planning of Regional Resources Under the Formation of Market Relations của Putin (đệ trình vào giữa thập niên 1990) có đoạn đã sao chép gần như từng chữ từ tài liệu Strategic Planning and Policy, do hai giáo sư trường đại học University of Pittsburgh, William R. King and David I. Cleland, soạn từ năm 1978. Ông Gaddy cho rằng trong 20 trang mở ra phần thứ hai quan trọng nhất của luận văn, thì hết 16 trang là chép nguyên văn hay có sửa đổi đôi chút từ tài liệu nói trên. Trong phần ghi về nguồn tra cứu, Strategic Planning and Policy được nêu tên như là một trong số 47 tác phẩm được sử dụng, nhưng tuyệt nhiên không chỉ rõ đoạn nào trích thẳng từ tài liệu.
Strategic Planning and Policy đã được viện nghiên cứu do KGB (Cơ quan Mật vụ Liên Sô) tài trợ dịch sang Nga văn từ đầu thập niên 1990. Có người cho rằng, luận văn của Putin không phải do chính ông đích thân viết mà do những chuyên viên viết thuê (ghostwriters) viết vội viết vàng cho xong, vì Putin thời đó bận công vụ trong ngành tình báo. Thậm chí, họ còn cho rằng có lẽ Putin cũng chưa đọc hết trước khi đem ra trình. Và tất nhiên, có thể ông cũng chẳng hay biết gì về chuyện luận văn của mình dính líu đến chuyện đạo văn.
Sự vụ không gây xôn xao dư luận có lẽ vì chuyện quan trọng đối với Putin là chính trị chứ không phải là ba chuyện lặt vặt này, do đó, chẳng có mấy tiếng vang. Cũng chưa nghe chuyện kiện tụng gì. Người ta mang ra bàn tán như một trong các câu chuyện trà dư tửu hậu, chứ không gây nên một cú sốc văn chương trong giới viết lách chuyên nghiệp.
Chuyện hoàn toàn khác đi đối với hai khuôn mặt hàng đầu của giới viết sử Hoa Kỳ: tiến sĩ Stephen E. Ambrose và nữ tiến sĩ Doris Kearns Goodwin.
Câu chuyện bắt đầu vào đầu năm 2002. Tạp chí The Weekly Standard, trong số ra vào ngày 4/1/2002, đăng ngay ở trang đầu một bài có cái tựa đề khá nóng sốt: "Stephen Ambrose, Copycat". Tựa đề là một lời tố cáo: Ambrose đạo văn. Hai tuần sau đó, cũng tạp chí này tố cáo Doris Kearns Goodwin cùng một tội: đạo văn. Hai vụ tai tiếng như một quả bom cực mạnh nổ bùng giữa giới học thuật Hoa Kỳ.
Thực ra, đạo văn không phải là chuyện mới trong lịch sử văn học, sử học và các ngành khoa học nhân văn khác trong giới viết lách Hoa Kỳ. Nhưng thường thường, chuyện đạo văn xảy ra ở nơi những người hậu sinh "sao chép" văn của tiền bối, những kẻ vô danh "sao chép" văn của những người nổi danh. Tóm lại, chỉ có những người vô danh, non tay, bắt đầu tập tễnh viết lách mới cần "đạo văn". Ở đây, trái lại, hai người khổng lồ lại đi "đạo văn" của những "thường nhân", hay nói cho đúng, đạo văn của những người chưa mấy nổi tiếng. Cả hai vị tiến sĩ đều dạy đại học lâu năm (đại học Harvard), đều có những tác phẩm sử học thuộc loại rất tầm cỡ, bán rất chạy, được giải thưởng và tất nhiên... rất được trọng vọng.
Hậu quả lâu dài về sau như thế nào thì chưa ai biết, nhưng trước mắt, hai vụ tai tiếng này, ngoài việc đưa hai sử gia tiếng tăm Hoa Kỳ xuống bùn đen, còn tạo nên một cú "sốc" ghê gớm đối với toàn bộ giới sử gia Hoa Kỳ hiện đại. Sử gia Eric Foner, đại học Colombia phát biểu "Chuyện này khiến chúng tôi trông không còn ra thể thống gì nữa cả. Tôi nghĩ rằng cái mà cả hai đã làm là vi phạm nghiêm trọng những tiêu chuẩn của tiến trình nghiên cứu chuyên nghiệp". Sử gia Joyce Appleby, đại học California tại Los Angeles cũng đồng ý như thế và thêm rằng "Chuyện đó gây ra một hậu quả xấu".
Về phương diện cá nhân, vụ tai tiếng tác động vào mỗi người một khác. Ambrose, chỉ bị tổn thương danh dự và uy tín cá nhân vì ngoài việc việc sách, ông tập trung vào việc kinh doanh, ít tham gia các hoạt động công cộng khác. Goodwin, tất nhiên cũng tổn thương uy tín và danh dự, lại còn chịu đựng những hậu quả nặng nề khác: đại học Delaware rút lại lời mời bà nói chuyện tại lễ tốt nghiệp, đại học Madison bãi bỏ một cuộc nói chuyện khác của bà vào giữa tháng 3/2002, chương trình truyền hình "Newshour With Jim Lehrer" cũng bãi bỏ sự xuất hiện của bà. Bà còn bị Ủy ban giám khảo giải Pulitzer yêu cầu đừng tham dự buổi họp chung quyết giải năm 2002 và vì thế bà đã nộp đơn xin rút tên khỏi danh sách ban giám khảo.
Trường hợp Stephen Ambrose
Ambrose, 65 tuổi, được xem là một trong những sử gia hàng đầu của giới sử học hiện tại. Ông đã xuất bản hơn 20 tác phẩm sử học, trong đó nhiều cuốn được xếp vào danh sách "bestseller". Ông sinh trưởng ở Wisconsin, đỗ cao học tại đại học Louisiana và tiến sĩ tại đại học Wisconsin. Ngoài việc viết, ông là giáo sư sử học 30 năm tại nhiều trường đại học nổi tiếng khắp xứ sở Hoa Kỳ. Ông là người sáng lập và là chủ tịch của "National + D-Day Museum" ở New Orleans, chính thức mở cửa vào tháng 6/6/2000. Ông là tác giả của một tác phẩm sử học được đánh giá là có giá trị nhất về Đệ nhị Thế chiến là D-Day: June 6, 1944: The Climatic Battle of World War II.
Khi vụ tai tiếng xảy ra, ký giả Ken Ringle của tờ Washington Post tự hỏi: tại sao một sử gia tầm cỡ như Ambrose với những tác phẩm nặng ký như Lewis & Clark, Eisenhower & Nixon và The Greatest Generation... lại có thể là người đạo văn? Câu trả lời, theo ký giả này, khá giản dị: Ambrose viết nhiều quá. Khi người ta viết sách nhanh như người ta sản xuất xe hơi kiểu dây chuyền, thì cũng như xe, sách sẽ phải giống nhau. Và vì thế, tất nhiên, người ta phải "mượn đỡ" tác phẩm của người khác mang đề tài tương tự. Hãy xem qua vài số liệu thì biết: trong vòng bảy năm, Ambrose xuất bản đến... chín tác phẩm lịch sử cộng thêm với ấn bản lần thứ tám của một tác phẩm viết chung với một sử gia khác. Chỉ riêng hai năm 2001 và 2002, ông in đến bốn cuốn, trong đó có The Wild Blue và Nothing Like It in the World là hai cuốn "đối tượng" của vụ tai tiếng. Phần nhiều sách trong số đó là "bestseller".
Đó là một lẽ. Còn một lý do khác, có thể quan trọng không kém: Ambrose quá thành công, quá nổi tiếng. Ông là một trí thức thành công trong kinh doanh. Năm 2001, tờ Wall Street Journal đã cho đi một bài báo nói về sự thành công của tổ hợp kinh doanh "Stephen Ambrose Inc." do ông sáng lập trong việc nghiên cứu lịch sử, hỗ trợ các viện bảo tàng, sản xuất và tiếp thị sách và phim ảnh. Đó là một công ty gia đình. Ambrose là giám đốc. Vợ ông phụ trách biên tập. Con trai lớn là đại lý chính. Con gái lớn là thư ký. Rể là thủ quỹ. Con gái nhỏ là hướng dẫn viên. Ngoài ra, ông còn xây dựng một trung tâm nghiên cứu tại đại học New Orleans giúp ông tìm kiếm các tài liệu truyền khẩu về Đệ nhị Thế chiến. Bài báo ước lượng tổng thu nhập hàng năm của công ty lên đến ba triệu.
Năm 1994, khi Ambrose xuất bản cuốn D-Day góp phần đánh giá lại chiến tranh thế giới lần thứ II, ông đã trở thành con bò sữa của nhà xuất bản Simon & Schuster và đồng thời là phát ngôn viên danh dự cho những chú Gis (lính Mỹ) đã từng tham chiến ở Âu Châu. Từ đó, danh tiếng và lợi nhuận của ông chỉ có tăng, tăng mãi, tưởng chừng như vô tận. Sách của ông bán chạy như tôm tươi. Có lúc, như năm 1998, hai cuốn sách của ông được xếp trong danh sách "bestseller" cùng một lần. Và nhiều lần, ông đã nhận những tấm chi phiếu ghi đến bảy con số (bạc triệu). Giàu như thế, nổi tiếng như thế tất phải có người ganh tỵ. Ganh tỵ thì bới lông tìm vết thôi. Không phải đợi đến tháng giêng vừa rồi, mà ngay từ tháng 12/2000, ba chuyên gia về lịch sử đường sắt đã lập một "website" trên mạng lưới Internet có tựa đề là "Những tội lỗi của Ambrose" (The Sins of Stephen Ambrose) tố cáo tác giả đã phạm nhiều khuyết điểm trầm trọng trong việc nghiên cứu, phân tích và biên soạn tác phẩm Nothing Like It in the World. Họ nêu ra 63 chi tiết sai lầm của cuốn sách vừa về sử liệu vừa về cách lý giải.
Năm nay, trong bài báo "Stephen Ambrose, Copycat" nói trên, Weekly Standard dẫn ra nhiều câu trong cuốn The Blue Wild giống y chang những câu trong một tác phẩm trước đây của Thomas Childers có tựa đề là Wings of Morning. Tiếp đó, Website của tạp chí Forbes, "Forbes.com", phát hiện thêm cuốn Crazy Horse & Custer có nhiều câu, đoạn sao chép từ tác phẩm Custer của Jay Monaghan. Hãng thông tấn AP cũng đưa ra một số trích đoạn trong cuốn Citizen Soldiers năm 1998, tương tự như những đoạn văn trong Beyond the Beachhead (1989) của Joseph Balkoski, tác phẩm mà chính Ambrose đã viết lời tựa. Sử gia Balkoski nói ông "hết sức thất vọng khi tìm thấy có những đoạn trong Citizen Soldiers rất giống, nếu không muốn nói là chép lại hoàn toàn từ sách của tôi. Ông ấy có ghi chú tên tôi thật, nhưng bản văn thì quá giống hay chỉ thay đổi đôi chút mà lại không được để trong ngoặc kép".
Chưa hết. Một tác phẩm khác của Ambrose là Ruin & Recovery (1991), tập thứ ba trong bộ tiểu sử ba tập về Nixon, cũng bị phát hiện chứa đựng nhiều câu, đoạn tương tự hoặc rất giống với cuốn Exile: The Unquiet Oblivision of Richard Nixon của Robert Sam Anson.
Ambrose không chối tội. Nói chung, Ambrose thừa nhận ông đã sử dụng tài liệu từ những tác phẩm khác nhưng vì bất cẩn chứ không có ý muốn đạo văn. Trả lời cho một cuộc phỏng vấn của tờ New York Times, ông nói "Tôi muốn để trong ngoặc kép, nhưng rồi tôi đã quên, không làm. Khi tôi viết một đoạn hay một câu chuyện sao lại nguyên văn hay một phần từ các tác phẩm khác, tôi cứ bỏ vào và có ghi chú ở cuối trang" (...). "Có những chỗ tôi sử dụng một số từ của Jay Monaghan mà lẽ ra, tôi phải đặt trong dấu trích dẫn". Ông cũng thừa nhận là ông đã "ăn cắp" một cách đáng xấu hổ từ tác phẩm của Balkoski và của một vài tác giả khác. Được hỏi ngoài mấy tác phẩm được người ta nêu ra trên, ông có nhận biết còn tác phẩm nào khác cũng phạm những lỗi lầm tương tự không, Ambrose trả lời: "Tôi không biết. Nhiều cuốn quá, tôi không nhớ rõ".
Trường hợp Doris Kearns Goodwin
Goodwin sinh năm 1943, tốt nghiệp tiến sĩ tại đại học Harward và sau đó dạy tại trường trong mười năm. Bà đã từng là phụ tá cho tổng thống Lyndon Johnson vào năm cuối nhiệm kỳ của ông và giúp ông viết hồi ký. Bà viết không nhiều như Ambrose, nhưng nhận được rất nhiều giải thưởng, trong đó có giải Pulitzer cho tác phẩm No Ordinary Time: Franklin and Eleanor Roosevelt: The Home Front in WWII năm 1995. Tác phẩm này nằm trên danh sách "bestseller" đến sáu tháng và đã được quay thành phim. Một tác phẩm khác, The Fitzgeralds and the Kennedys, An American Saga cũng nằm trên danh sách "bestseller" trong sáu tháng liền. Ngoài ra, bà là một khuôn mặt công cộng. Bà xuất hiện thường xuyên trên truyền hình (bình luận viên cho đài NBC và MSNBC) và đi nói chuyện tại nhiều trường đại học. Do những thành tích đặc biệt đó, bà được mời vào ban giám khảo chấm giải Pulitzer hàng năm.
Dù cho đến tháng 1/2002, vụ tai tiếng của bà mới xảy ra, thực sự, câu chuyện liên hệ đến các tác phẩm của bà là một câu chuyện dài, bắt đầu từ cả mười mấy năm về trước. Việc sao chép tài liệu người khác mà không đặt trong dấu trích dẫn đã bị Lynne McTaggart, tác giả của Kathleen Kennedy: Her Life and Times, phát hiện ra từ năm 1989. Sau đó, McTaggart đe dọa sẽ đưa nội vụ ra tòa về việc vi phạm bản quyền. Nhà xuất bản của Goodwin phải thương thuyết với McTaggart và đạt được một thỏa thuận về tài chánh mà theo McTaggart thì là "một số tiền đáng kể". Mặt khác, thỏa thuận đó cũng đòi hỏi Goodwin phải thêm những ghi chú về những trích dẫn từ McTaggart trong lần tái bản tác phẩm và Goodwin phải xác nhận ngay trong lời tựa rằng bà đã sử dụng cuốn của McTaggart là nguồn thông tin quan trọng hàng đầu về Kathleen Kennedy, cả trong việc nghiên cứu lẫn cũng như văn bản. Trong cuộc phỏng vấn mới đây khi nội vụ đã trở thành công khai, McTaggart nói là hồi đó, bà đã thỏa mãn với sự thỏa thuận trên và cũng chẳng đòi hỏi Goodwin phải để dấu trích dẫn vào trong lần tái bản làm gì.
Theo sự diễn tả của chính bà và những người phụ tá, Goodwin làm việc cẩn thận và không vội vã. Khi tìm ra một đề tài, có thể bà "sống với nó đến năm năm hoặc có khi hơn". Khác với tốc độ xuất bản ào ạt của Ambrose, tác phẩm đầu tiên The Fitzgeralds & The Kennedys, An American Saga bà viết mười năm, cuốn No Ordinary Time sáu năm, cuốn viết về Abraham Lincoln năm năm. Để viết No Ordinary Time, bà và người phụ tá, Linda Vandegrift, đến thư viện Roosevelt, rà soát cẩn thận các ghi chú (trong vở, trên các tấm cạc...) và lập danh sách những nguồn tài liệu quan trọng rồi nhờ nhân viên thư viện sao chép và gửi về Boston cho bà. Công việc chính của Linda là sắp xếp mọi thứ trên căn bản hàng ngày. Goodwin cũng thuê thêm hai nhà nghiên cứu làm việc bất thường để tìm thêm tài liệu ở thư viện Quốc hội Liên bang. Sau đó, bà tập trung bản sao tất cả các tài liệu gốc (thư, báo chí, memos, nhật ký...) vào trong một tập vở lớn liên hệ đến từng ngày làm việc của Roosevelt. "Những tập ghi chú lớn này cho phép tôi gộp tất cả tài liệu vào với nhau và khi viết, tôi đặt chúng nằm ngay trước mặt tôi".
Dẫu vậy, khác với thái độ miễn cưỡng và đôi khi tỏ ra chống chế của Ambrose, bà Goodwin nhận ngay những sai lầm của mình và đã tỏ ra rất hối hận khi bị phát hiện là bà đã sao chép từ người khác mà không để dấu trích dẫn. Bà thú nhận là đã làm việc "cẩu thả và thiếu kinh nghiệm". Trong tờ Times, bà lặp đi lặp lại nhiều lần "Tôi đã không để vào trong ngoặc kép những trích đoạn nguyên văn, vì tưởng rằng những đoạn vốn rút ra từ những ghi chú, là của tôi viết ra. Tôi viết ghi chú bằng tay trên khoảng 300 cuốn sách. Những đoạn mà tôi muốn trích trực tiếp lại được ghi chú cùng với những ghi chú tổng quát về ý tưởng và những cốt truyện của mỗi một cuốn sách... bị chìm trong hàng đống giấy tờ" (...) "Nếu tôi có những cuốn sách trước mặt tôi, chứ không phải là những ghi chú, thì có lẽ là tôi đã tìm thấy sai lầm của mình ngay khi mới viết và đặt ngay những câu vay mượn vào trong dấu trích dẫn". Đề cập đến vụ việc giữa bà và tác giả McTaggart liên quan đến tác phẩm viết về Kennedy, bà cho rằng sở dĩ chuyện bất cẩn xảy ra là vì bà viết mọi thứ bằng tay. Do đó, thỉnh thoảng bà lẫn lộn giữa những câu do bà viết và những câu do bà ghi chú lại từ tác giả khác, trong đó có McTaggart. Đến khi kiểm soát lại những ghi chú trong sách so với những ghi chú từ nguồn tài liệu, bà đã quên McTaggart. "Tôi đã lấy những ghi chú từ sách của bà ấy nhiều năm trước đó. Khi tôi bắt đầu viết, từ những ghi chú này, tôi lầm rằng tôi đã viết lại hoàn toàn cũng những ý đó theo cách của tôi. Khi bà ấy chỉ cho tôi những câu, những chữ tương tự nhau giữa hai bản và muốn tôi sửa lại, tôi đã sửa" (...) "Tôi dùng lộn những ghi chú của tôi. Đôi khi chữ nghĩa của bà ấy lại hiện ra. Tôi nghĩ là tôi đã viết lại theo cách của tôi rồi".
Jack Rakove, sử gia tại đại học Stanford: "Tôi thấy những điều bà ấy giải thích khó hiểu hoặc khó tin cậy - khó hiểu là tại sao người ta lại có thể để lẫn những ghi chú vào với bài viết của mình được, vì về căn bản, đó là hai tiến trình hoàn toàn khác nhau". Alan Ryan, viện trưởng viện đại học New College, Oxford University: "Thật dễ có thói quen dùng thẻ ghi chú, viết tháu những trích dẫn, trích dẫn lộn và rồi quên kiểm tra trở lại. Vì vậy, khi người ta mang những ghi chú vào sách, người ta sẽ mang tiếng và đạo văn ngoài ý định". Theo một chuyên gia khác, Chuck Zerby, thì "Goodwin đã viết những tác phẩm tuyệt diệu và rõ ràng là một người cẩn trọng, nhưng cẩn trọng không, chưa đủ đối với các học giả. Chúng ta phải tự đặt ra một mẫu mực về trích dẫn và ghi chú ở tầm mức cao nhất. Mỗi một khi trích dẫn, dù chỉ hai từ thôi, chúng cũng được để trong ngoặc kép và phải được ghi chú cuối trang một cách chính xác. Tôi hiểu tất cả mọi khó khăn, nhưng điều đó tuyệt đối phải được tôn trọng."
Khi được hỏi đó có thể xem những lầm lẫn mà bà phạm phải là đạo văn hay không, bà trả lời ngay: "Không. Tuyệt đối không phải là đạo văn. Tôi hiểu rằng ở một lúc nào đó khi một người đang gây ra tranh cãi thì phải chịu đựng nó cho đến khi cái đích nhắm của ngành truyền thông chấm dứt". McTaggart không chịu lối giải thích như vậy. Trong một bài đăng trên tờ New York Times ngày 16/3/2002 có tựa đề là "Fame can't excuse a plariarist" (Danh tiếng không thể cứu được một kẻ đạo văn), McTaggart viết:
"Đạo văn là một hành vi vô tư cách bằng cách xem chữ nghĩa của người ta là của riêng mình dù là tài liệu đó có được công bố hay không" (...) "Người viết không sở hữu sự kiện, không sở hữu ý tưởng. Cái mà chúng ta sở hữu là cách chúng ta diễn tả ý tưởng của mình. Đạo văn là ăn cắp những cách diễn tả độc đáo, cách ngắt câu, những màu sắc bất thường mà một tác giả chọn để dùng từ một bảng pha màu văn chương cá nhân (personal literary palette). Dĩ nhiên, trong lịch sử phổ thông, những sự kiện và khung cảnh quen thuộc thường được lập lại, nhưng không phải là đạo văn nếu người viết bằng ngôn ngữ của riêng mình".
Cái quan trọng, theo McTaggart, không phải là bà Goodwin "có dùng dấu trích dẫn hoặc những ghi chú hay không mà là khối lượng những sự chiếm đoạt - hàng ngàn chữ y nguyên hay gần như y nguyên từ trong sách của tôi". Theo McTaggart, "Có ít nhất là 45 trong số 94 trang đề cập đến Kathleen Kennedy là lấy từ tài liệu của tôi". Một sự đối chiếu giữa hai cuốn sách, có đến 140 ví dụ cho thấy hai cuốn tương tự nhau, từ câu cho đến phân đoạn. Bà không quan tâm đến việc Goodwin dùng ghi chú cuối trang (footnotes) và dấu trích dẫn. "Có đến 173 trường hợp ăn cắp tài liệu. Tôi không quan tâm đến chuyện trả thù nhưng muốn công lý, muốn được thừa nhận rằng làm điều đó là sai lầm."
Để có thể nhìn rõ hơn về vụ việc, chúng tôi xin trích lại đây một vài đoạn tiêu biểu mà báo chí Hoa Kỳ tìm ra được, liên quan đến chuyện đạo văn của hai sử gia Ambrose và Goodwin.

Vài trích đoạn từ cuốn Citizen Soldiers (Simon & Schuster, 1997) của Ambrose và từ cuốn Beyond the Beachhead (Stackpole Books, 1989) của Joseph Balkoski:
Ambrose: Suddenly, he gave a whoop and raced forward, the squad following, yelling like wild men. As they tossed grenades into the windows, Cota and another man kicked in the front door, tossed a couple of grenades inside, waited for the explosions, then dashed into the house. The surviving Germans inside were treaming out the back door, running for their lives.
Balkoski: Suddenly, the general and his group raced forward, screaming like wild men, hurling grenades in the windows. Cota and another man kicked in the front door, tossed a few more grenades inside, waited for the explosions, and then disappeared into the house. As the rest of Cota's team followed him inside, the Germans streamed out the back and ran for their lives.
Ambrose: The center of the place was a lifeless pile of rubble in which roads and sidewalks could scarcely be distinguished.
Balkoski: The center of the city was a lifeless pile of rubble. Few houses had been spared; roads and sidewalks could scarcely be distinguished.

Vài trích đoạn từ cuốn Nixon: Ruin and Recovery 1973-1990 (Simon & Schuster, 1991) của Ambrose và từ cuốn Exile: The Unquiet Oblivion of Richard M. Nixon (Simon & Schuster, 1984) của Robert Sam Anson:
Ambrose: He talked slowly, paintfully. He was still connected to various life-support systems, nauseated, feverish. But he kept talking. He ranged over his life. He was reflective, even philosophical, except when he talked about Watergate - then he was bitter and combative. Gannon felt both privileged and terrified to be there.
Anson: The pace was slow, and for Nixon, still connnected to various life-support systems, nauseous, feverish and in considerable post-operative pain, agonizing. He ranged over the whole of his life, especially the events of his presidency. During most moments, his tone was reflective, philosophical; at other times, particularly in relation to Watergate, he was bitter and combative. Listening to him reflect on the past, Gannon felt both privileged and terrified...
Ambrose: Repeatedly, Nixon demanded to know whether Ford had followed up on the contacts he had provided in various cities and states. Gulley would reply that to the best of his knowledge, Ford had done so. "Well, goddamn it, I checked, and he hasn't, " Nixon would explode, "and the guy is getting pissed".
Anson: Repeatedly, Nixon demanded to know whether Ford had followed up on the contacts he had provided him in various cities and states. When Gulley would tell him that to the best of his knowledge he had, Nixon would explode "Well, goddamn it, I checked, and he hasn't, and the guy is getting pissed".

Vài trích đoạn từ cuốn Kathleen Kennedy: Her Life and Times của Lynne McTaggart (1983) và cuốn The Fitzgeralds and the Kennedys (1987) của Goodwin:
Goodwin: Hardly a day passed by without a newspaper photograph of little Teddy taking a snapshot with his camera held upside down, or the five Kennedy children lined up on a train or on a bus.
McTaggart: Hardly a day passed by without a photograph in the papers of little Teddy taking a snapshot with his Brownie held upside down, or the five Kennedy children lined up on a train or bus.
Goodwin: One summer day, a photographer on the Daily Mail in London photographed Kathleen in her blue-gray uniform on a bicycle pedaling to work. The photograph was snapped up by the Boston Globe and reproduced all over the States as a symbol of the all-American girl coming to the aid of the GIs abroad.
McTaggart: One summer day a photographer on the Daily Mail in London photographed Kathleen in uniform on a bicycle pedaling to work. The photograph was promptly snapped up by the Boston Globe and reproduced in papers across the country as an apt symbol of the all-American girl coming to the aid of the boys abroad.
Goodwin: ... it was one thing to have a fling and quite another to continue a relationship with a non-Catholic divorcee under investigation as a Nazi spy. Jack's future, Joe argued, would be permanently damaged and the scar of the scandal would affect the entire family.
McTaggart: It was one thing to have a fling and quite another to contemplate matrimony with a non-Catholic divorcee currently under investigation as a Nazi spy. Jack's future would be irrevocably damaged and the whole family would be under a cloud.
Đọc qua những trích đoạn trên, chúng ta nghĩ thế nào? Rõ ràng là có "vấn đề", dù ta có cho là hai vị tiến sĩ có đạo văn hay không. Nói cho ngay, những đoạn văn như trên chẳng có gì đặc biệt đến nỗi ta cần phải đạo văn. Ai cũng có thể viết được, sửa được và thay đổi cấu trúc câu dễ dàng. Nhưng tại sao chúng lại giống nhau như vậy và tại sao lại có nhiều trường hợp như vậy?
Trước hết, một số người quy những sự lầm lẫn cho sự phát triển máy vi tính và Internet. Người ta quá dễ dàng "sao chép và ghép vào" (copy & paste) bài mình. Một số người khác lại quy trách cho nhà xuất bản. Chẳng nhà xuất bản nào ưa rắc rối với chuyện "foonotes", "quotations". Họ không muốn mất thì giờ với những chuyện lỉnh kỉnh như thế của các học giả. Carol Oja, sử gia tại đại học William & May cho rằng "Có quá nhiều áp lực ngày nay. Những nhà xuất bản muốn càng ít những ghi chú càng tốt để cho sách chóng phát hành". Về phía độc giả, thực tình mà nói, chẳng ai quan tâm soi mói đến vài ba câu văn hay thậm chí cả vài chục câu văn giống nhau mà làm gì. Cái quan trọng là sự kiện và ý nghĩa. Đọc nhanh, hiểu nhanh và... quên nhanh, thế thôi.
Nhận xét về điều này, Thomas Mallon, tác giả của Stolen Words: The Classic Book on Plagiarism cho biết: "Rõ ràng là đã có sự bất cẩn của tác giả. Nhưng bất cẩn thì có thể tha thứ. Còn đạo văn thì không". Bất cẩn, theo ông, chỉ là "một cái tội nghề nghiệp" (professional sin) còn đạo văn là "một cái tội luân lý" (moral sin). Bàn về phương pháp, Mallon phân biệt giữa đạo văn , tức là chép nguyên văn từ một tác giả khác (lifting passages wholesale) và sao chép ý (paraphasing =diễn đạt cùng một ý nhưng khác câu văn). Nhưng khi chép ý mà cùng một chuỗi câu hay chuỗi ý sống động thì phải sử dụng dấu ngoặc kép trong các đoạn trích dẫn. Nếu không để ngoặc kép, tức là đạo văn. Và đây chính là trường hợp của Ambrose và Goodwin.
Một tác giả khác, Richard A. Posner, trong bài viết "On Plagiarism", tạp chí Atlantic Monthly số tháng 4/2002, lại bênh vực cho hai sử gia trên. Theo Posner, một khi người ta đã cố tình đạo văn thì không dễ gì phát hiện, nhất là đối với những học giả tiếng tăm như Ambrose và Goodwin. Ở đây trái lại, tuy hai người không để vào trong ngoặc đơn những trích dẫn nguyên văn hoặc gần như nguyên văn, nhưng hầu hết những ý tưởng hay tài liệu hay câu văn lấy từ các tác giả khác đều được hai người đưa vào phần ghi chú. Và nhờ thế mà người ta dễ dàng tìm ra sự tương tự hay sao chép của người khác. Thành ra, có thể nói ở đây, sự bất cẩn là chính, chứ không phải là đạo văn.
Victoria Meyer, phát ngôn viên của nhà xuất bản Simon & Schuster cho hay nhà xuất bản sẽ sửa chữa bất cứ những gì cần sửa chữa, tuy nhiên vụ tai tiếng chẳng ảnh hưởng gì đến tư thế của Ambrose như là một sử gia quan trọng và đầy tài năng". Meyer khẳng định nhà xuất bản vẫn tiếp tục hợp tác toàn diện với Ambrose. Lẫn lộn trong làn sóng phê phán, vẫn có một số người ủng hộ ông. Chẳng hạn Ed Kary. Theo Kary, những gì người ta đưa ra chỉ là "những lỗi lầm nhỏ". Ông ca ngợi Ambrose là đã "mang sự phong phú cho những đề tài sử học khiến cho những người như tôi quan tâm đến việc đọc và học hỏi về những chủ đề lịch sử quan trọng của Hoa Kỳ như Đệ nhị Thế chiến hay chuyến du hành của Lewis và Clark. Những bài viết của ông đã giúp tôi hiểu biết hơn về cái được gọi là một công dân Hoa Kỳ". Don Rez, một phụ tá lâu năm của Ambrose, phát biểu "Mọi người quá vội vàng khi dùng từ "đạo văn" trong khi chẳng có gì quan trọng cả. Đó chỉ là dùng tài liệu của một ai đó mà quên đề tên họ vào".
Trên đây là những nhận định, dù bênh hay chống, đều có tính cách kỹ thuật. Một số cây bút phê bình khác nhận thấy vụ tai tiếng sử học Hoa Kỳ này có một nguyên nhân sâu xa hơn. David Bain, đại học Middlebury, cho rằng hiện nay ở Hoa Kỳ, các tác phẩm sử học là những tác phẩm thuộc loại "nonfiction" bán chạy nhất. Điều đặc biệt là sách của các sử gia không chuyên, tài tử lại được quần chúng ưa chuộng. Điều này đưa đến sự ganh tị và giận dỗi. Vì thế mà có một sự "căng thẳng tự nhiên" giữa hai giới viết sử: những sử gia kinh viện (academic historians) và sử gia đại chúng (popular historians) như Ambrose và Goodwin.
Một số nhà phê bình vô tư hơn lại nhìn thấy một điều khác trong trường hợp Goodwin, theo đó, những người dấy lên phong trào chống Goodwin hoàn toàn xuất phát từ một ác ý đối với bà, chỉ vì bà đã viết về những nhân vật thuộc đảng Dân Chủ, có xu hướng tự do. Rõ ràng là ở đây, có sự can thiệp của quan điểm chính trị phe phái. Một bài bình luận trên Website "Timesonline" ngày 4/4/2002 nhận định: "Những sử gia không phải chỉ là những người biên chép vô tư. Do sự chọn lựa, xếp đặt, nhấn mạnh và phân tích sự kiện, họ tạo ra một phiên bản đặc biệt của quá khứ. Và đồng thời họ cũng đóng một vai trò nào đó trong trong hiện tại, bằng cách hợp lý hóa hay vô hiệu hóa những lý do căn bản, những anh hùng và những huyền thoại ảnh hưởng đến cuộc tranh cãi đang diễn ra". Là một người viết có cảm tình với những nhân vật Dân Chủ, bà đã chọn đứng về một phía và làm phật lòng phía đối nghịch là điều tất nhiên.
Riêng về McTaggart, dù hết sức bất bình với Goodwin, cuối cùng xuống giọng "Người ta ai cũng có thể lầm lỗi và từ đó rút ra những bài học. Goodwin đã bị mất tiếng tăm vì chuyện này và tôi nghĩ đã đến lúc người ta nên quên đi và tha thứ cho bà" (...) "Tôi không muốn làm giảm đi giá trị tác phẩm của bà ấy. Tác phẩm của bà là một đóng góp quan trọng cho việc tìm hiểu gia đình Kennedy".
Tài liệu sử dụng:
- When words collide, David Mehegan, Boston Globe 24/3/2002
- History Repeating Itself, Linton Weeks, Washington Post 24/3/2002
- Kennedy Author Speaks Out on Goodwin, Jill Lawless, AP 23/3/2002
- Fame Can't Excuse a Plagiarist, Lynne McTaggart, New York Times 16/3/2002
- On Plagiarism, Richard Posner, The Atlantic Monthly 4/2002
- Stephen Ambrose And the Rights Of Passage, Ken Ringle, Washington Post 11/1/2002
- More Controversy For Stephen Ambrose, Mark Lewis, Forbes.com 9/1/2002
- Historian Withdraws From Pulitzer Judging, Reuters 4/3/2002
- Copycat crime (Leading article), Timesonline 4/4/2002
- Researchers peg Putin as a plagiarist over thesis, David R. Sands, The Washington Times, 25/3/2006.
14/9/2006
Birk Meinhardt
Hồ Phạm Huy Đôn dịch
Nguồn: Thế Kỷ 21 số 157, năm 2002
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy

Con mắt tỉnh thức trong tùy bút Phan Trang Hy Bằng ngôn từ dung dị, mang đậm hơi thở miền Trung, cách hành văn của Phan Trang Hy có sự kết...