Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Chuyện trò về thông tinXXX

Chuyện trò về thông tin

Thưa giáo sư, ông là con người của chữ nghĩa, một nhà văn, một triết gia, một nhà sử học. Trên bàn ông là một chiếc máy vi tính. Theo ông, kĩ thuật vi tính hiện đại có thực sự giúp ích cho một tác gia và một nhà nghiên cứu văn học như ông không?
(Eco liếc nhìn chiếc máy vi tính, mỉm cười, gật gù suy nghĩ.)
Có, nhưng đôi khi nó có thể mang lại những hậu quả làm người ta “tê liệt”. Tôi cho bạn một thí dụ: đại học Jerusalem mời tôi tham dự một hội nghị, đề tài là hình ảnh Jerusalem và đền đài như một biểu tượng xuyên suốt các thế kỉ. Ban đầu, tôi không biết phải làm gì với đề tài đặc biệt này. Thế rồi tôi tự nhủ: tốt thôi, mình đã từng nghiên cứu những vấn đề từ đầu thời Trung Cổ; luận án của mình là về Thomas Aquinas.
(Ông chỉ những hàng sách xếp ngăn nắp trên giá phía bên trái.)
Ở đây tôi có toàn bộ tác phẩm của Thomas Aquinas với một thư mục vừa phải, và tôi tìm trong đó xem ông ấy đã nhắc đến Jerusalem bao nhiêu lần và cố gắng hiểu ông ấy dùng hình ảnh Jerusalem để nói lên điều gì. Nếu chỉ dựa vào những cuốn sách này - anh thấy đấy, đây chỉ là một thư mục vừa phải, nên cần có một thư mục khác lớn hơn, xử lí kĩ hơn về từ “Jerusalem” - thì tôi cũng đã tìm ra khoảng 10 hay 15 đề mục có “Jerusalem” mà tôi có thể khảo sát được. Không may là giờ đây tôi lại đứng trước một siêu văn bản (hypertext) về Aquinas.
(Eco lại liếc nhìn phía chiếc máy vi tính nằm trong góc...)
Và ở đó tôi tìm ra được... thú thật, tôi không còn nhớ con số chính xác - nhưng khoảng 11.000 thì phải...
Chuá ơi!
Tôi đành bỏ dở ở đây.
Vâng, rõ ràng là có quá nhiều dữ kiện trong cùng một lúc.
Không thể làm việc với 11.000 dữ liệu. Quá nhiều.
Nói một cách khác, hệ thống mà ông sử dụng có “bộ lọc” không tốt lắm thì phải?
Tôi không thể xoay xở được với 11.000 đề mục. Giá như theo cách cũ, ít ra tôi còn làm được cái gì đó với đề tài đặc biệt này.
Có nghĩa là khi con người tìm kiếm, họ làm theo linh cảm và trực giác, trong lúc máy tính lại rất máy móc và đưa ra tất cả những dữ liệu đơn lẻ?
Lí thuyết của tôi là không có sự khác biệt nào giữa tờ New York Times Chủ nhật và tờ Pravda trước đây. Tờ New York Times Chủ nhật tổng cộng có 600 hoặc 700 trang, đa số là những tin tức cũ. Nhưng thời gian một tuần lễ không đủ để đọc một số báo New York Times Chủ nhật. Cho nên, tuy có những sự kiện mới thật đấy nhưng chúng không dùng được, hoặc coi như không có, bởi vì bạn không thể “lọc” chúng ra được. Vậy thì, có gì khác nhau giữa tờ Pravda không thông tin được gì và tờ New York Times Chủ nhật có quá nhiều thông tin? Ngày xưa, nếu tôi cần một thư mục về nước Na-uy và kí hiệu học, tôi đến thư viện và chắc hẳn sẽ tìm được dăm ba đề mục. Tôi ghi chú và tra ra những thư mục tham khảo khác. Bây giờ với internet tôi có 10.000 đề mục. Ðến đây thì tôi bị tê liệt. Nói đơn giản là tôi phải chọn một đề tài khác.
Vậy thì vấn đề chính là sự quá tải thông tin và cách lựa chọn thông tin quá máy móc, vô cảm?
Ðúng thế, chúng ta đứng trước một khả năng trích thu thông tin quá thừa. Chẳng phải là mỉa mai hay nghịch lí đâu khi tôi nghĩ về những gì xảy ra với những trang giấy in từ máy vi tính.
(Eco với một xấp giấy để trên bàn và giơ cao phe phẩy.)
Trước kia tôi thường vào thư viện và ghi chú tư liệu. Tôi làm việc nhiều, khi kết thúc công việc, tôi có trong tay khoảng 30 hồ sơ về một đề tài nhất định. Bây giờ, khi tôi vào thư viện - điều này thường xảy ra trong các thư viện ở Mĩ - tôi tìm được rất nhiều tư liệu, và để có chúng, tôi làm bản sao, làm bản sao rồi làm bản sao. Nhưng khi mang chúng về nhà, tôi chẳng bao giờ đọc chúng. Tôi chẳng đọc chúng chút nào!
Không phải, có lẽ ông cảm thấy mình chẳng bao giờ có thì giờ cho chúng, có phải vậy không? Một khi biết là chúng đã nằm sẵn đó, ông cảm thấy yên tâm, và thế là chẳng đọc chúng.
Chính vậy...
Rồi việc in ra có thể làm tê liệt việc đọc? Lại một nguy cơ khác thì phải?
Chắc chắn là như vậy... lại một nguy cơ khác và đôi khi rất thực.
Vâng, thế thì, ông nghĩ gì về ý tưởng có những bộ lọc thông tin cho mỗi cá nhân. Ý tưởng cho rằng người ta có thể tạo ra một loại lí lịch cá nhân, và hệ thống máy tính sẽ dựa trên lí lịch đó để tìm kiếm trên internet?
Ðấy là điều tôi gọi là nghệ thuật tỉa thập phân...
Tỉa thập phân?
Tỉa thập phân. Bạn chỉ hạ thủ một trong số mười con mồi...
(Eco lại khoa tay về phía những ngăn tủ đầy ắp sách.)
Chỉ riêng số sách liên quan đến lĩnh vực riêng của tôi, chưa kể đến số sách nhận hàng tuần, chắc chắn đã quá nhiều và lấn áp khả năng đọc của tôi.
Khả năng của ông, khả năng...?
... khả năng của tôi, thì giờ của tôi. Nếu bạn có một số kinh nghiệm nào đó, bạn có thể làm phép tỉa thập phân một cách rất cảm tính. Ví dụ, với một đề tài nhất định, người ta khó có thể có hơn mười ý tưởng khả dĩ mới. Hiếm khi nào không phải như thế.
Và giả thuyết của ông là dựa trên đó?
Ðúng vậy... Nếu chỉ chọn đọc một trong mười cuốn sách, hẳn tôi có thể tìm thấy trong đó một ý tưởng mới, nếu không, tôi sẽ thấy nó trong nhóm mười cuốn sắp tới. Nhưng đây là một việc làm rất cảm tính.
Nhưng rõ ràng nó đã dựa trên kinh nghiệm quá khứ của ông thì phải?
Ồ, chắc chắn là như vậy, nó cảm tính nhưng được dựa trên kinh nghiệm quá khứ.
(Eco lấy một cuốn sách trên bàn và bắt đầu giở từng trang ra xem.)
Giờ thì tôi có thể mở trang đầu tiên của cuốn sách này, nhìn vào mục lục, tìm thư mục để xem ông bạn này có thể trông cậy được không; và xem có ý tưởng gì mới không. Vì tôi đã dày dạn kinh nghiệm nên phương pháp tỉa thập phân của tôi là có định hướng. Tôi cảm thấy cần đọc cuốn này, bỏ cuốn kia v.v…
Cho nên bằng cách nào đó ông nhận ra tính mới lạ hoặc sự cách tân?
Bằng một cách, bằng một cách. Dĩ nhiên tôi có thể nhầm, nhưng nếu tôi nhầm lần này, lần tới tôi sẽ không nhầm nữa. Có thể tôi đã bỏ qua quyển này quyển nọ, nhưng tuần tới tôi có thể gặp một quyển khác, và cứ tiếp tục như thế. Nhưng một sinh viên ở tuổi 20, và ngay cả 30 chưa có khả năng gạn lọc như thế. Chúng ta cần tạo ra một hệ thống lí thuyết và một chương trình thực hành về phép tỉa thập phân.
Thế thì, làm sao chúng ta có thể thực hiện điều đó?
(Eco từ ghế nhổm dậy về phía trước, thiết tha.)
Nó phải được phát minh ra. Phải cần một số qui tắc. Có một số qui tắc rất sơ cấp, chẳng hạn như kiểm soát ngày tháng của thư mục. Nếu bạn đang nghiên cứu về một đề tài nhất định, bạn có thể tìm thấy nhiều tư liệu cần tham khảo từ 1993 và 1994. Nhưng nếu trong một đề tài khác, tư liệu cần tham khảo từ 1993 và 1994 là không đủ, bạn phải tìm những mốc thời gian khác.
Ðúng là như vậy.
Cho nên nếu bạn đọc một quyển sách về Kant và bạn chỉ có một thư mục từ những năm 1990 thì quyển sách này là đáng ngờ. Tác giả làm việc dựa trên nguồn phụ. Nếu bạn đọc một quyển sách về siêu văn bản và bạn thấy một thư mục đã cũ thì quyển sách này cũng đáng ngờ, bởi vì mỗi ngày đều có đôi điều mới về lĩnh vực này. Vì vậy, phải có một vài qui tắc đầu tiên và cơ bản có thể loại bỏ ngay lập tức một số dữ liệu. Nếu bạn đang đọc một quyển sách Mĩ về một đề tài nhất định và bạn chỉ thấy một thư mục Anh hoặc Mĩ, thì quyển sách này cũng đáng ngờ. Tác giả cần phải có một cái nhìn rộng hơn...
... toàn cảnh?
... đúng vậy, toàn cảnh. Nhưng nếu đó là một quyển sách về dòng triết học phân tích và chỉ có thư mục tiếng Anh thì ở đây người ta có thể không cần một thư mục Ba Lan, dù Ba Lan có một trường phái những nhà luận lí học và những nhà triết học phân tích lớn. Vì vậy, tất cả tùy thuộc vào đề tài nghiên cứu và vào những gì mới nhất có được. Có lẽ điều tuyệt đối cần thiết và cấp bách là chúng ta phải tạo ra được những qui tắc cho phương pháp tỉa thập phân; về đại thể chúng là những qui tắc mềm dẻo linh động thay đổi tuỳ theo các lãnh vực khác nhau. Nếu không, tương lai sẽ tệ hơn nữa, và chúng ta có thể gặp phải tình trạng sự quá tải thông tin và sự chọn lọc thông tin đồng hoá lẫn nhau.
Thật vậy à?
Anh thấy đấy, người ta có thể xoá bỏ bằng sự thừa thông tin. Người ta có thể xoá bỏ bằng sự trừ giảm, và người ta có thể xoá bỏ bằng sự tăng lên hoặc thêm vào.
Bằng sự thêm vào, đúng rồi. Nhưng ông thấy đó, trong việc này điều quan trọng là... tôi muốn nói đến - và điều này cũng chính là điều tôi hết sức quan tâm - chất lượng của những thứ người ta lấy từ mạng. Chắc như ông biết, trong không gian cyberspace, hoặc có thể gọi bằng một cái tên nào đó; hệ thống đường thông tin cao tốc (Information Superhighway)... Ðây là ý kiến của tôi - tôi không biết ông nghĩ gì - nhưng chắc chắn hiện giờ chỉ có một lượng người nhất định đủ khả năng truy cập mạng và tung những gì của họ lên mạng. Ðây tự nó cũng là một vấn đề. Bởi vì những người tung thông tin họ chọn lên mạng, chính là những người đã chọn nội dung đọc cho những người còn lại, có phải vậy không?
(Eco im lặng một lúc.)
Ðúng vậy, tôi thấy anh đặt nhiều nghi vấn về tất cả những kĩ thuật mới này trong những bài viết anh đưa tôi hôm trước. Ở đây tôi cần có một câu tuyên bố chính thức: tôi rất quan tâm đến những gì đang xảy ra. Tôi đang cố gắng thiết lập những dịch vụ internet tại viện của tôi (Đại học Bologna) và thúc giục những người trẻ làm việc theo hướng này. Tôi nghĩ nó hết sức quan trọng cho tương lai, và ngay cả cho chính trị. Tôi muốn đưa một số seminar về lĩnhvực này vào chương trình những môn học truyền thông. Còn cá nhân tôi, tôi không sử dụng những kĩ thuật ấy. Bởi một lí do rất đơn giản: ở tuổi tôi, với sự “thấu suốt” của tôi, trước hết cần phải tránh thư từ.
Thật thế ư...?
Nếu không, tôi sẽ bị chôn vùi bởi số lượng thư từ. Vấn đề của tôi là không trả lời điện thoại, là tiêu diệt những bản fax; những bản fax không cần thiết khi chúng vừa tới. Ngay cả khi tôi có một hộp thư điện tử thì vấn đề của tôi là làm thế nào để không nhận gì cả. Bởi vì nếu có điều gì đó phải tới tôi bằng bất cứ giá nào, nó sẽ tới. Luôn luôn tôi sẽ nhận được tin tức bằng một cách nào đó. Có một số ít người trên thế giới có thể gửi đến tôi và bảo tôi cần phải làm điều này điều nọ. Ðây là một vấn đề của cá nhân tôi.
Vì vị thế của ông?
Ðúng thế, nó là một kiểu phản ứng, có thể nói, đến từ hệ tư tưởng của tôi. Có lần, khi còn trẻ, tôi đã nói rằng sau tuổi 50 một nhà phê bình hoặc một học giả không nên chú trọng vào những phong trào tiền phong nữa, mà chỉ nên viết về những nhà thơ thời Elizabeth (thế kỉ XVI).
... viết về thời quá khứ?
Ðúng vậy, thế thì tại sao? Vì rằng, ngày nay cái mới tới nhanh đến độ chỉ có người trẻ mới có thể nhai nuốt và tiêu hoá nó, trong lúc người già sẽ chậm hơn. Tại sao? Người già thường có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết nhiều. Trước những vấn đề đã có tính ổn định, họ làm việc tốt hơn những người trẻ chưa đủ hiểu biết.
... lẽ tự nhiên, những người trẻ không đủ chiều sâu.
Ðây là một qui tắc chung; không phải tình cờ mà quyển sách tôi mới hoàn thành là về việc đi tìm một ngôn ngữ toàn hảo chứ không phải về những khuynh hướng mới nhất trong tin học và ngữ nghĩa học. Bởi vì những người trẻ rất lanh lợi và có khả năng nhìn những gì xảy ra trong những lĩnh vực ấy. Riêng tôi, tôi có nhiều kinh nghiệm và thích hợp hơn để đúc kết những chất liệu cổ điển. Bằng cách nào đó, tôi nghĩ tôi đã theo nguyên tắc này. Ðương nhiên, tôi luôn luôn nhìn xung quanh; tôi vẫn rất tò mò trước tất cả những gì xảy ra. Thế nhưng, thực tình tôi không cố bằng bất cứ giá nào phải hiểu và viết về âm nhạc hậu rap. Tôi có khả năng hơn trong việc viết một bài phân tích về nhạc Beatles, hoặc nếu không thì về nhạc của Johann Sebastian Bach. Ðó cũng là điều tương tự đối với tôi truớc những kĩ thuật mới; và cũng y như với một nhà thể thao: bạn là một cầu thủ bóng đá cho đến tuổi 30, sau tuổi 30 bạn trở thành một huấn luyện viên.
Vâng, chính xác là như vậy. Nhưng một huấn luyện viên tự bản thân phải có trách nhiệm theo dõi những gì đang xảy ra...?
Ðồng ý, cập nhật hoá, nhưng người huấn luyện viên ấy không bắt buộc phải ra sức sút banh mỗi sáng.
Ðiều này gợi cho tôi ý tưởng về một người mang chức năng xúc tác hơn là một người dùng máy thông thường: người có thể thấy những khả năng tiềm tàng, đặt chúng ở tình huống sẵn sàng cho mọi người, và chỉ cần nói...?
Ðúng vậy, nhưng chính những người trẻ phải làm những phân tích mới. Họ linh động hơn và độc lập hơn trước những kinh nghiệm quá khứ. Họ không bị nguy cơ lặp lại những khung diễn giải cũ. Cho nên tại sao tôi phải làm những phân tích cho việc lập trình trong khi họ có khả năng làm những việc ấy tốt hơn?
Giáo sư Eco, ông là một nhà hàn lâm, một học giả. Ông còn viết những tác phẩm được đại chúng ưa thích. Ông đang viết rất thành công cho cả hai loại độc giả hoàn toàn khác nhau. Ông có những kinh nghiệm khó khăn nào trong việc cưỡng lại sự lá cải hoá những tác phẩm của ông, khi mà những phương tiện truyền thông lá cải và truyền hình thường bó mình vào một số thể loại, lề lối nhất định có thể không phù hợp với tính chất của những tác phẩm kinh viện?
Vấn đề không chỉ là một mà là ba. Thứ nhất, một lời xác định: tôi viết về những vấn đề kinh viện. Tôi viết báo - cho là loại báo chí lá cải hoặc bình dân cũng được. Tôi viết vài quyển tiểu thuyết, do những cơ may bí ẩn nào đó có sự thành công với quần chúng, nhưng cá nhân tôi, tôi xem đấy là những tiểu thuyết kinh viện; chúng không phải là những tiểu thuyết dễ. Chúng không phải những chuyện tình hoặc những gì giống như vậy. Cho nên, có ba vấn đề khác nhau.
Thế rồi, vấn đề có thể được nhìn dưới những nhãn quan khác nhau của người sản xuất và người tiếp nhận. Là một người sản xuất, tôi không cảm thấy bị phân liệt nhân cách. Suốt đời tôi, việc học hỏi những gì giúp tôi viết những bài mang tính bình dân chính là để giải thích hiện tượng truyền thông đại chúng. Việc phải hoàn thành những bài viết khiến hàng tuần tôi phải phản ánh những suy nghĩ cuả mình - có thể nói, những phản ánh vô trách nhiệm - về những sự kiện xảy ra hàng ngày đã được xào nấu, giặt giũ lại. Tuy thế, chúng giúp tôi thu thập những kinh nghiệm; chúng giúp tôi cẩn trọng trước những gì xảy ra, và sau đó sử dụng chúng một cách hữu cơ hơn, sâu sắc hơn, mạch lạc hơn, hoặc có tính phê phán hơn - như những chất liệu - cho những quyển sách kinh viện.
Vì vậy đối với tôi, đây là một kiểu giúp đỡ hỗ tương: hoạt động kinh viện giúp tôi có những công cụ hiểu chuyện thời sự; sự chú ý liên tục đến chuyện thời sự giúp tôi có chất liệu để suy nghĩ cho công việc kinh viện. Về những cuốn tiểu thuyết thì lại khác, nhưng tại đây tôi cũng không cảm thấy bị phân liệt nhân cách. Tôi cảm thấy cái tôi làm bên trái giúp cái tôi làm bên phải.
Dưới mắt người tiếp nhận thì lại khác. Ở đây nổi lên một vấn đề: việc bạn biến thành một thứ “thánh sống” khiến bạn luôn bị hỏi những gì bạn không muốn trả lời...
Biến thành một “thánh sống”, ý ông muốn nói là thành một nhà tiên tri?
Ðúng vậy, một nhà tiên tri. Người lúc nào cũng bị tra khảo: Ông nghĩ gì về...? Tại sao phải trả lời những câu hỏi như thế? Ðiều này không chỉ xảy ra với tôi. Hiện giờ trong làng báo Ý có hiện tượng các học giả hằng ngày nhận những câu hỏi qua điện thoại, đại loại như: Ông nghĩ gì về cuộc hôn nhân của công chúa...? Hoặc những câu hỏi khó tin như: Ông nghĩ gì về cái chết của Greta Garbo? Thế thì, tại sao bạn lại hỏi tôi như thế? Bạn sẽ hoặc trả lời với sự hời hợt như: Vâng, đúng vậy, nàng là một cô đào lớn, tôi rất xúc động về cái chết của nàng, hoặc nếu bạn muốn tỏ vẻ mới lạ: Ồ, tôi rất sung sướng khi nghe tin con mẹ kênh kiệu ấy từ giã cõi đời - thật đáng ghét... Rõ ràng câu trả lời của bạn không nằm ngoài một thứ hình thức lấy lệ. Vì thế điều này không phải là một kinh nghiệm của cá nhân tôi mà của mọi người. Cho nên bạn nhận áp lực liên tục trước mọi chuyện. Ðấy là điều tại sao tôi nói tôi không nhận tin nhắn, tôi không đọc fax và không trả lời điện thoại.
Vậy ông không theo dõi những cuộc hội thảo điện tử, không tham dự những cuộc bàn luận trực tuyến hay những hoạt động khác trên internet?
Cho tới giờ thì không. Nhưng đây là một vấn đề khác. Tôi sẽ làm chuyện ấy trong những tháng tới. Nhưng chỉ để thăm dò, bắt đầu xâu chuỗi lại một vài ý tưởng. Có thể tôi sẽ bắt đầu với một điều gì đó; tôi nghĩ đến cái lợi của một mạng lưới những người sưu tầm sách cổ, bởi vì người ta có thể hỏi mọi người trong mạng một câu hỏi đại loại như: Tôi đã tìm ra một ấn bản năm 1643; tôi không chắc là tồn tại một ấn bản trước đó. Thế thì tốt thôi, tôi sẽ dùng nó.
(Eco gật gù, nghiêm trang.)
Tôi nghĩ rằng một trong những điều phấn khởi nhất về internet là việc giáo sư có thể nhìn nó như một “cộng đồng”. Tôi để ý, trong bài viết giáo sư đưa cho tôi từ hội nghị ở San Marino, giáo sư nói đến việc không chắc chúng ta có thể tạo một Làng Toàn cầu hoặc một cộng đồng hay không. Bây giờ dù tôi vẫn có một số nghi ngờ - nhưng chắc chắn tôi đã thu được những kinh nghiệm tích cực. Nếu người ta tìm được một cộng đồng đúng nghĩa chẳng hạn như của nhóm thảo luận PEIRCE-L mà tên tôi có trong danh sách thành viên: tôi thấy đó là điều rất tốt, bởi vì người ta vào đó với sự quan tâm thật sự - để rõ hơn một chút: giáo sư đang nói về việc một người trở thành một “thánh sống” v.v… và Michael Crichton...
Năm vừa rồi tôi xuất bản ba quyển sách. Tôi bắt buộc phải đọc hàng tấn những luận án, bài viết của sinh viên. Cho nên lúc đó tôi không có thì giờ để dùng internet. Có lẽ trong sáu tháng tới, khi tôi hoàn thành một số việc, tôi sẽ làm việc ấy. Chỉ là vấn đề thực hành. Về vấn đề “thánh sống”: cách duy nhất là chống lại sự thần tượng hoá: bạn trả lời không, không, không. Nhưng vấn đề đã đạt đến độ không thể kiểm soát được trong vương quốc của phương tiện truyền thông đại chúng, bởi vì giờ đây, không chỉ lời tuyên bố của bạn mà cả sự im lặng của bạn cũng trở thành tin tức bị soi mói.
Thật vậy à?
Tôi thường kể một câu chuyện đặc biệt này, nhưng có hàng vạn câu chuyện giống như thế. Một hôm, như thường lệ, khi ra khỏi lớp lúc 7 giờ tối, cùng với người phụ khảo và các sinh viên, tôi vào một quán cà phê chuyện trò đến 8 giờ. Sau đó tôi đi về nhà, tiếp tục chuyện trò với vài người đi cùng. Chúng tôi băng ngang quảng trường Verdi ở Bologna, nơi có nhà hát opera. Tôi không biết buổi tối hôm ấy là một buổi tối đặc biệt: buổi ra mắt một vở hát quan trọng. Thật sự tôi không biết chuyện ấy, lẽ tự nhiên người ta không thể biết hết mọi chuyện.
(Eco mỉm cười.)
Sau khi băng ngang quảng trường, tôi về đến nhà để làm vài chuyện gì đó, xem truyền hình, hoặc làm tình - tôi không nhớ nữa. Ngày hôm sau, trên báo chí xuất hiện dòng tít: “Umberto Eco đã không tham dự buổi ra mắt!”. Thông thường tôi không tham dự những buổi ấy. Sự việc tự nó như thế, không phải là một mẩu tin. Nó không phải là một mẩu tin, nhưng do người ta chẳng có gì hay hơn để nói, cho nên sự vắng mặt của tôi trở nên một...
Tín hiệu?
Ðúng vậy, một tín hiệu. Ðến nông nỗi này thì bạn không thể làm gì hơn ngoài chuyện tránh không đếm xỉa đến những rủi ro kiểu ấy.
Trở lại chuyện Michael Crichton - tôi viết điều này trong những bài viết tôi đưa giáo sư - nói đến ý tưởng về những con khủng long của phương tiện truyền thông: những nhà xuất bản lớn. Giáo sư có nghĩ rằng việc người ta có khả năng tìm đến nguồn thông tin trực tiếp sẽ là mối đe doạ cho những nhà xuất bản lớn? Tôi muốn nói, giáo sư có nghĩ điều này sẽ giảm bớt áp lực trên những hình ảnh thần tượng, những chuyên gia, hay là toàn bộ chuyện đó chỉ là huyền thoại, hoàn toàn huyền thoại?
Phản ứng đầu tiên của tôi: Ừ nhỉ, thế là đến lúc chúng ta có một hệ thống cụt đầu: không kẻ đứng đầu.
Cụt đầu, không kẻ đứng đầu, tôi rất thích cái ý tưởng chỉ có thân và rễ này của ông.
Một kiểu mạng máy điện toán Quillian hiện đại, một loại liên mạng mang tính hệ thần kinh.
Một hệ thống hữu cơ...?
Ðúng là như vậy, không cần nguyên mẫu, và không... - khỏi phải nói, chắc anh đã biết rồi - điều ấy có lẽ sẽ thay đổi một cách mạnh mẽ sự gạn lọc thông tin. Tiếp theo đó, có hai vấn đề: hệ thống này có thể không đầu đến mức độ nào? Đến một lúc nào đó, sự chuyển tải quá độ của mạng lưới sẽ đặt ra vấn đề cần phải có một bộ lọc thông tin và một luật lệ nào đó, đến đây thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Internet là khả năng xoá bỏ lớn nhất tất cả và bất kể Anh Cả nào...
Big Brother...?
Đúng thế, Big Brother. Nhưng bước sau đó có thể lại mở ra khả năng cho những Big Brother khác chiếm ngự những đường dây và những mạng lưới chính. Ðến điểm này, tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Tuy nhiên, nếu hệ thống được duy trì tính không đầu, sự phong phú về thông tin sẽ khiến người sử dụng máy phải có một trình độ trưởng thành để tạo cho mình một bộ lọc hoặc nhất thiết phải đuợc cung cấp một bộ lọc...
Một bộ lọc chuyên nghiệp nào đó?
Một bộ lọc chuyên nghiệp. Cho nên, một lần nữa người ta phải hỏi một người nào đó... một cố vấn thông tin... làm người canh cổng cho mình!
Hãy lấy thí dụ của một tiệm sách. Trong những năm 30, một tiệm sách là một cơ sở khiêm nhượng, trong đó hàng tuần xuất hiện một hoặc hai đầu sách mới. Nếu bạn đến đấy thường xuyên, bạn sẽ có cách để phân biệt những cái mới v.v... Hiện giờ, một tiệm sách như FNAC ở Paris, hoặc Feltrinelli ở Bologna, tự chúng là một liên mạng: bạn sẽ có đủ mọi thứ. Ðương đầu với điều này không chỉ là việc của những sinh viên trẻ, mà cả tôi nữa, nếu không theo dõi những trang văn hoá trên báo chí, tôi cũng bị lạc. Có một sự dư thừa quá đáng về thông tin. Cho nên một lần nữa: chúng ta cần phải có một người gác cổng...
Một bộ lọc.
... một bộ lọc. Vì vậy chức năng lọc của một số trung tâm định hướng nào đó sẽ được duy trì. Thử lấy một thí dụ khác: ngày xưa có những người thợ may hướng dẫn các quý ông quý bà tầng lớp thượng lưu phải ăn mặc như thế nào cho hợp thời trang. Tầng lớp nghèo chỉ có thể mua quần áo may sẵn và những thứ không còn trưng bày. Cho nên, rất dễ phân biệt giữa họ với nhau. Với sự cải thiện về phân phối, mọi người bắt đầu mua sắm một cách dễ dàng: chúng ta có những bộ quần áo dệt bền chắc, rồi những bộ quần jean v.v... và mọi người đều có thể phối hợp ăn mặc chúng theo cách riêng của mình.
Phối hợp ra những kiểu riêng cho mình, đúng rồi.
Như thế, trên nguyên tắc, bà vợ của Agnelli Rockefeller và một cô giúp việc trẻ người Puerto Rica có thể vào cùng một cửa tiệm - chẳng hạn Bloomingdales - để mua cùng thứ hàng và bày ra những kiểu ăn mặc cho riêng mình. Thế thì có phải sự khác biệt về giai cấp, nói theo ngôn ngữ thời trang, được xoá bỏ? Không, bà nhà giàu có một số nguyên tắc để theo...
Một mã hiệu?
Ðúng như vậy, một mã hiệu. Và cô gái Puerto Rica thì không. Có thể họ sẽ mua cùng loại quần jean. Nhưng cuối cùng cách phối hợp ăn mặc sẽ khác nhau. Sự khác nhau là ở đâu? Ở những hệ thống bộ lọc đứng đầu về ăn mặc như Armani hoặc Krizia, người ta được chỉ cách phối hợp ăn mặc như thế nào, và những người sành sỏi và có điều kiện sẽ dùng họ như những cố vấn, trong khi những người bình thường sẽ pha chế ra những kiểu cho riêng mình. Như vậy, một lần nữa, chúng ta có một loại liên mạng cho mọi người về thời trang - cho tới một trình độ nào đó: Timberland cung cấp cho cả hai. Cả hai đều có thể mua một đôi giày hiệu Timberland, đều có thể mua quần jean, nhưng chỉ loại người sành sỏi và có điều kiện mới có khả năng sử dụng một mạng lưới nhỏ một số cố vấn tư nhân.
Cố vấn, đúng là như vậy. Vậy thì cơ bản ông đang nói rằng dù sao văn hoá rồi sẽ tỏa ra khắp...
Văn hoá hoặc vô văn hoá. Bởi vì, những bộ lọc cũng có thể là những bộ lọc tiêu cực. Nhưng dù sao cũng phải có những bộ lọc. Chúng có thể trở thành cường điệu và thừa thãi. Một trong những giám đốc của các chương trình talk-show trên truyền hình hoặc hướng dẫn tin tức tại Ý - Giancarlo Funari - đã hình thành một kiểu ăn nói cho nhiều người trẻ thuộc tầng lớp thấp yếu thất học trong xã hội. Ðấy là một bộ lọc: một bộ lọc tiêu cực, nhưng quả thật nó hiện hữu trước mắt chúng ta.
Chúng ta có giấc mơ và cái nhìn về internet như điều gì đó rất mở, và sẽ tạo ra một xã hội không có một trung tâm, hoặc sẽ góp phần làm nên những xã hội không có những trung tâm; một sự dân chủ hoá toàn cầu: ông thật sự tin vào khả năng của điều này?
(Eco chồm người lên phía trước.)
Ðúng vậy, nhưng một lần nữa chúng ta trở lại vấn đề phép tỉa thập phân. Tôi có một học trò thường dùng internet, không chỉ tò mò chung chung mà còn quan tâm đến Peirce. Anh ta khám phá ra một mạng lưới những người quan tâm đến Peirce. Anh ta gửi những thông điệp và nhận được những lá thư trả lời. Anh ta bắt đầu tranh luận với những người trong mạng. Anh nói với tôi: Tối qua sau khi gửi thông điệp cuối cùng, em nhận được câu trả lời từ một vị nào đó có tên là Smith. Theo em vị ấy có vẻ ngớ ngẩn và kì lạ. Tôi đã nói với anh ta: Không, Smith là một trong những nhà học giả lớn nhất về Peirce. Có thể anh không biết ông ta vì ông ta xuất bản rất ít. Ông ta là người rất khiêm tốn, làm việc cần mẫn trong trường đại học, nhưng là một đầu óc rất lớn. Không biết chuyện đó, anh học trò sẵn sàng gạt bỏ thông điệp của Smith, có thể vì anh ta không thích những hàng viết đầu của ông ta, hoặc ở vấn đề cụ thể ấy Smith có thể sai. Nhẽ ra anh học trò của tôi phải xem xét cẩn thận thông điệp của Smith, nhưng anh ta không biết. Smith là một trong hàng trăm người đang tranh luận trên mạng vào lúc đó. Một lần nữa, dựa vào những tiêu chuẩn nào người ta có thể chọn Smith? Những tiêu chuẩn ấy không thể đến từ internet.
Những tiêu chuẩn không thể đến từ internet?
Không. Bạn phải tìm một cái gì khác, chẳng hạn những tờ tạp chí chuyên ngành, trong đó sẽ có người bảo ý kiến của Smith là rất quan trọng. Cho nên, một lần nữa, nếu bạn không có một bộ lọc, bạn không thể dựa trên một thông điệp giản đơn để hiểu rằng ý kiến của Smith phải được chú ý cẩn thận. Ðây cũng là một nguy cơ.
Nhưng mặt khác, nếu giáo sư là người tham dự vào một trong những cộng đồng ảo (virtual communities) ấy - hãy tạm gọi chúng là những cộng đồng - giống như những nhóm thảo luận, nếu giáo sư có chiều hướng tự phê bình, và nếu giáo sư biết chút ít về lĩnh vực của mình...?
Ðương nhiên là như thế, rồi bạn có thể khám phá ra Brown, một người tuyệt đối không ai biết đến nhưng rất thông minh, đáng được giữ liên lạc. Ðúng thế, ở đây cũng có những mặt tích cực. Nhưng vẫn có nguy cơ vào một lúc nào đó có một trăm người bàn luận về Peirce thì sự khám phá của bạn về Brown, cũng như sự gạt bỏ Smith chỉ là thuần ngẫu nhiên.
Ông thật sự nghĩ như thế?
Bạn không thể đọc hàng trăm tin trong một buổi tối và xem chúng với tinh thần phê phán để quyết định Brown là người khá nhất. Brown là người bạn gặp. Cho nên nếu bạn không có một mã hiệu về lí lịch - ít nhất ở bộ lọc đầu tiên - thì việc biết Smith là người nổi tiếng không làm bạn ngưng đọc Brown. Việc bạn giở một tờ báo là chuyện mỗi ngày. Trong đó có một bài viết của ai đó bạn không biết. Bạn bắt đầu đọc và nói: Tốt! Tôi đã có những khám phá thú vị trong đời khi đọc những những bài viết của những học giả chưa biết đến, chúng rất hay. Rồi có thể sau đó tôi khám phá họ là những người nổi tiếng: chính sự mù mờ của tôi khiến tôi không biết đến tên họ. Cho nên người ta luôn có thể có những khám phá ngẫu nhiên, nhưng theo chiều hướng nào đó, một bộ lọc là quan trọng.
Một lần nữa, đây là chuyện cộng đồng...?
Có cả những bộ lọc bên trong. Bạn có thể xem một trăm thông điệp về Peirce và nhận ra trong mỗi thông điệp đều có trích dẫn Smith. Ðến lúc nào đó bạn thấy Smith giữ... tầm quan trọng nhất định, hoặc có điều gì đó để nói, khi nhận ra việc mọi người đều trích dẫn ông ta. Nhưng một lần nữa, nghệ thuật lọc và chọn lựa này trở nên rất phức tạp.
Nhưng, phải chăng chuyện này liên quan đến hai điều? Ðiều thứ nhất mang ý nghĩa cộng đồng: một thứ cộng đồng chuyên biệt hoá của những người cùng có những giá trị chung và những mục đích đặc biệt. Ðiều thứ hai gắn với ý nghĩa về lòng tin: những người trong cùng “không gian” này nói những điều có nghĩa đối với nhau, và có những bộ máy sẽ gạt những sự xa lạ ra ngoài. Tôi nghĩ rằng một trong những điều hấp dẫn nhất, nhưng cũng là một trong những điều khó khăn nhất: làm cách nào để tìm ra một cộng đồng hợp với cho mình? Chỉ trên UseNet đã có hơn 3000 nhóm mới...

Tôi không nói internet là một kinh nghiệm tiêu cực hoặc sẽ là như vậy. Nhưng tôi nói đó là một khả năng rất dễ xảy ra. Một khi đã xác định điều này, tôi tìm cách tách ra những cái bẫy có thể có; những mặt khả dĩ tiêu cực. Tôi đang tìm cách tập trung vào những khía cạnh có thể phê phán được trong một kinh nghiệm tích cực. Tôi nghĩ rằng, vai trò của tôi về việc phê phán những phương tiện truyền thông cũng gồm luôn cả chuyện này. Tôi tin rằng một khi được triển khai và thể hiện vào máy hoàn toàn, hiện thực ảo trở nên hết sức quan trọng cho rất nhiều kinh nghiệm khoa học, nhưng tôi cũng phải nhấn mạnh rằng nếu hiện thực ảo chỉ trở thành một trò giải trí cho những người cô đơn, nó có thể trở thành một sự thủ dâm mới về kỹ thuật. Chúng ta phải để ý đến cả hai.
Ðúng vậy, đúng vậy. Tôi nghĩ rằng đây là vấn đề rất thực, nhưng một lần nữa đây là vấn đề đối nghịch giữa cô đơn và cộng đồng, có phải vậy không?
Cô đơn là một vấn đề lớn...
(Eco lặng đi một chút, và trở lại dựa vào ghế.)
Ðây là một cộng đồng nhưng chỉ là một cộng đồng ảo. Ðúng là có trường hợp, những người nghệ sĩ lớn sống đời sống của họ ở những ngôi làng hẻo lánh và viết những bức thư gửi đi khắp nơi trên thế giới, và như thế họ lập nên một cộng đồng ảo.
Kant cũng làm điều ấy thì phải - ông ấy là một người ưa viết thư nổi tiếng...?
Ðúng vậy, chúng ta có Kant. Cũng như tôi nghĩ đến Leopardi. Ông mang tật gù lưng, hay bệnh tật, bị đè nén, sống ở một ngôi làng. Ông chỉ đến Rome một vài lần, tôi không nhớ rõ, dù rằng đôi khi ông có đi đây đi đó. Ông nổi tiếng và giữ liên hệ thường xuyên với giới trí thức đương thời. Ðúng vậy, vào thời nào người ta cũng có thể giữ được điều ấy. Nhưng đó chỉ là Leopardi mà thôi. Chúng ta có rất nhiều người khác sống trong sự cô lập với những trạng thái tâm thần bệnh hoạn. Một trong những vấn đề lớn của thời đại chúng ta là sự giảm thiểu, hoặc tuyệt đối thiếu những cộng đồng mặt đối mặt.
Tôi thường kể câu chuyện của Don Bosco - Thánh Giovanni Bosco. Vào khoảng giữa thế kỉ 19, vị thày dòng Salesian này đã nhạy bắt được ý tưởng về sự sự phân tán, chia lìa trong gia đình của cả một thế hệ rất trẻ những người phải lao động ở những xưởng máy. Ông nghĩ ra hình thức oratorium - một kiểu cộng đồng nơi người lao động có thể đến đó giải trí và bàn luận. Và đối với những người thất nghiệp, ông thiết lập những nhà in và những sinh hoạt để họ có thể tham gia. Cho nên ông đã tìm lối thoát cho sự cô lập và tuyệt vọng của một xã hội công nghiệp bằng một khả năng để con người có thể gặp gỡ và dĩ nhiên kèm theo cả mục đích tôn giáo. Ðó là sự sáng tạo xã hội lớn.
Ðiều tôi muốn trách hôm nay, cả người Thiên Chúa giáo cũng như người cộng sản hoặc những người tiến bộ, là việc họ không có một vị Don Bosco mới. Không có một Don Bosco mới nào ở thời đại chúng ta tạo ra một khả năng thiết lập những kiểu cộng đồng mới. Và chúng ta có những người đàn ông lãnh cảm mang súng ra giết người ở Central Park (New York). Chúng ta có đủ thứ vấn đề của người trẻ...
Một trạng thái bệnh lí, đúng như vậy...
Cả người lớn và người già cũng cảm thấy bị cô lập. Có phải truyền hình là cách để vượt qua sự cô đơn này? Không, nó còn làm tăng thêm. Dùng lon bia để thiếp vào giấc ngủ trước máy truyền hình không phải là cách giải quyết.
Lẽ dĩ nhiên, đối với một số người... Tôi có một bà dì lớn tuổi, suốt ngày phải ở nhà, không có khả năng đi lại, truyền hình đối với bà là thiên đàng. Với bà, nó thực sự là khả năng duy nhất để bà có một liên hệ với thế giới. Nhưng với một người bình thường thì không. Có thể nào những cộng đồng ảo trên internet cũng làm được chuyện đó? Chắc chắn rằng chúng giúp một người sống ở Trung Mĩ có khả năng liên hệ với những người ở nơi khác. Ðó có phải là một thay thế cho quan hệ mặt đối mặt và cộng đồng? Không, không phải! Cho nên chức năng xã hội thực sự của internet, cần phải rõ ràng, phải là một điểm khởi hành để tạo ra sự giữ gìn những quan hệ, rồi thiết lập những quan hệ địa phương...
Chỗ để mặt đối mặt...
Ðúng vậy, những cộng đồng địa phương. Khi internet đã trở nên một cách thực hiện - xuyên qua những cộng đồng ảo - những cộng đồng mặt đối mặt, đây mới thực sự là sự thay đổi xã hội quan trọng. Tôi đã nói với giáo sư Romano Prodi về khả năng thực cuả một cuộc vận động tranh cử qua sự thiết lập ở mỗi thành phố một nhóm người, một câu lạc bộ. Một trong những sức mạnh của Berlusconi không phải chỉ là sử dụng truyền hình cho sự tuyên truyền chính trị. Với một guồng máy kĩ nghệ lớn, ông ta thiết lập những câu lạc bộ khắp mọi nơi. Có nhiều người thích và hãnh diện đeo phù hiệu để đồng hoá họ với một nhóm người đặc biệt nào đó. Tôi thấy họ trong ngôi làng nơi tôi có một căn nhà ở thôn quê. Dù đó là một sự tạo dựng tuỳ tiện, nó chỉ được lập nên cho hai tháng trời, không đủ thời gian để có những liên hệ thực sự sâu sắc cho một cộng đồng. Nhưng đây là một ý niệm.
Cho nên tôi nói với giáo sư Prodi rằng cũng nên làm như thế. Một trong những cách đó là sử dụng internet. Bởi vì, chẳn hạn qua internet bạn có thể liên lạc với hai người trong tất cả mọi thành phố, gửi đến họ những tài liệu, giấy tờ. Người ta sẽ được khuyến khích để in chúng ra và thiết lập những nhóm, những mạng lưới địa phương. Nó là một loại hợp tác giữa cộng đồng giả tưởng và...
Cộng đồng thực?
... và cộng đồng thực. Nếu chúng ta thành công trong việc này trên internet, nó sẽ là một yếu tố lớn lao cho sự thay đổi xã hội. Nếu nó chỉ dừng ở tình trạng ảo, nó có thể dẫn một số người đến sự cô đơn có tính cách hư dâm. Theo nghĩa này, hầu hết những tay tin tặc (hackers) là những người bệnh hoạn, bởi vì họ thụ động. Họ đùa giỡn và tìm cách phá máy tính của các nhà băng hoặc của Lầu Năm góc, vì đó là cách duy nhất để cảm thấy mình đang hiện diện trên cõi đời.
Ông vừa xuất bản một bộ bách khoa siêu văn bản. Trong một bài viết vừa đăng trên nhật báo La Repubblica, ông nói rằng bộ bách khoa này sẽ chứa nhiều thông tin hơn bộ bách khoa Britannica. Ông cũng nói về ưu điểm chính của bộ Encyclomedia (Bách khoa truyền thông) ấy là khả năng cho phép tham khảo một cách phi tuyến tính và chồng chéo của nó. Tôi luôn tự hỏi về hiệu quả nói chung của siêu văn bản, bởi vì phải có người nào đó làm ra những kết nối (links). Cho nên, ngay cả gọi sự việc này là sự tham khảo phi tuyến tính, hoặc một cái gì đó tương tự, thì vẫn có một người nào đó quyết định mọi chuyện từ trước?
Trước hết: nếu ngày mai bạn có khả năng sáng tạo ra một siêu văn bản trong đó bất cứ một ý tưởng nào, một từ nào, một tính từ nào, một mạo từ nào có thể được nối kết với tất cả những thứ khác, thì ở đây rõ ràng cũng phải có một bộ lọc để thiết lập những nối kết ấy. Trong chiều hướng này, khó có thể tạo ra một siêu văn bản triết học, chẳng hạn như bạn không biết có nên quyết định nối kết giữa khái niệm đam mê trong tư tưởng Descartes với khái niệm đam mê trong tư tưởng Aristotle, vốn dĩ là hai khái niệm khác nhau...?
Vâng, đấy là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Ðối với Aristotle, khái niệm đam mê chỉ là một sự việc mang tính nhận thức đơn giản, đối với Descartes và cho thế kỉ XVII, khái niệm đam mê phải liên hệ đến cảm xúc, đến tình nghĩa v.v... Nhưng trong trường hợp bộ Encyclomedia của chúng tôi, vốn dựa trên những dữ liệu lịch sử, bạn sẽ có một sự bảo đảm nhất định. Tên của một thành phố được nối kết với những thành phố khác. Tên của một người cho sẵn được nối kết với những người có dính dáng nhau. Và bạn có thể thiết lập những nối kết không dự đoán trước...
Người sử dụng máy có thể ấn định những nối kết của riêng mình?
Ðúng vậy, bởi vì bạn có những cái gọi là sách và hồ sơ (book and file). Chẳng hạn nếu bạn có một cuốn sách về Descartes, hiển nhiên trong sách về Descartes đó bạn phải nhắc đến Pascal hoặc Galileo. Có một số nối kết tức thời vì Gallileo và Pascal được đưa lên chữ nổi và như thế bạn có thể định ra ngay những khả năng nối kết. Không có những nối kết ấn định trước giữa Descartes và Caravaggio. Tại sao? Vì họ không có gì chung ngoại trừ chuyện họ sống trong cùng thế kỉ. Nhưng nếu tôi muốn giải quyết hoặc trả lời câu hỏi này: Có khả năng Descartes gặp Caravaggio không? Descartes đã du hành nhiều nơi. Vậy thì, tôi tạo ra một chức năng cụ thể trên máy cho phép tôi hỏi về Descartes VÀ/HOẶC Caravaggio, rồi tôi có thể dò ra rằng sự gặp gỡ này không thể có vì Caravaggio mất lúc Descartes mới 14 tuổi. Do đó, tôi đã thực hiện sự nối kết riêng của mình.
Tôi hiểu. Giáo sư có khả năng kiểm lại loại công việc như thế. Tôi đã xem một CD-ROM siêu văn bản khá thú vị trong tạp chí Multimedia World xuất bản gần đây. Ðó là một phiên bản của tờ tạp chí, dưới dạng CD-ROM siêu văn bản. Nhưng nó cũng có - như nguời ta đã biết: Mạng toàn cầu nơi giáo sư có một trạm chứa và gửi những trang vào đó và từ trong những trang ấy tạo ra những nối kết với những nơi khác.
(Eco gật gù.)
Họ để một trang mạng toàn cầu trong một CD-ROM, như thế không những giáo sư có thể xem những gì trong CD-ROM - một loại thế giới đóng - mà còn truy cập được cả mạng toàn cầu, rồi từ đó có thể đi bất cứ nơi nào khác...
Tôi không biết tình trạng hiện giờ của liên mạng. Tôi đoán tôi có thể có trên màn ảnh bất cứ bài viết của một tờ báo nào xuất bản ở Rwanda và Burundi, hoặc ít nhất, nếu bây giờ chưa thể có trường hợp đó, thì tương lai sẽ có...
... đến thời điểm nào đó, tôi chắc là như vậy.
Rồi một ngày mai, tới điểm này, lại sẽ có những mặt tiêu cực khác. Bạn sẽ có quá nhiều điều về Rwanda - Burundi...
Ðúng vậy, và đây chính là lúc cần nhìn lại tất cả, đấy là vấn đề...
Và tôi không biết bài viết hay nhất là đăng ở báo Boston Globe hay báo Los Angeles Times. Tôi không có thì giờ để đọc hết. Ðây là vấn đề chúng ta đang phải đương đầu. Nó hiện hữu.
Nhưng một lần nữa, người ta không thể rời bỏ ý niệm lòng tin và cộng đồng. Bởi vì, rõ ràng là khi muốn tìm hiểu điều gì, thông thường trong đời sống hằng ngày người ta tìm đến những người bạn tin tưởng được, những người bạn được cho là có một cái nhìn tốt về toàn cục, và hỏi họ: Ở đây có quá nhiều sự kiện, hãy cho tôi một điểm chỉ dẫn.
Ðúng vậy, đây là một khả năng. Nhưng bạn có biết là sự kiện lớn đầu tiên lúc mới có liên mạng là câu chuyện về George Lakoff, người đã viết một bài viết rất hay về cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Lakoff hiểu rằng đã quá trễ để xuất bản bài viết trước cuộc chiến này. Ông ta không biết gì về liên mạng vào lúc ấy, nhưng đã đưa cho một người bạn có những “liên hệ”. Ngày hôm sau, người ta thấy thiên hạ in bài viết của ông ở Bologna, ở Amsterdam, ở Sydney, khắp thế giới! Bài viết được phổ biến nhờ liên mạng, nhưng hơn thế nữa. Vì đó là ý kiến của một người tên là George Lakoff, rất...
... cần được đọc, đúng là như vậy!
Nhưng sau đó bạn có vấn đề khác, đấy là sự xuất bản quá nhanh. Bạn có thể xuất bản tức thì trên liên mạng. Và đi theo sự nhanh chóng, có sự ngắn gọn. Tôi để ý thấy rằng những thế hệ dùng máy gần đây đang học để thông tin với nhau qua những mã ước rất ngắn. Tôi vừa khám phá ra một dạng thức họ dùng...
(Eco lấy từ trên bàn một quyển sổ ghi chép, và bắt đầu viết.)
... một dạng thức rất tục trong tiếng Ý: CUL8R, “see you later”. Ðúng vậy, bạn có thể viết một lá thư tình bằng cách này với cùng sự mãnh liệt của con tim...
Ðây là hiện tượng nảy sinh từ những cộng đồng ảo, vì nó là một hình thái truyền thông tức thời, và chúng ta cũng thấy rất nhiều lối diễn tả viết và nói xuất hiện trong những nhóm thảo luận ấy. Có rất nhiều xuất hiện loại đó. Ông có nghĩ điều này sẽ tác động đến bản thân việc xuất bản, đến những chuẩn mực văn học và đến giáo dục?
Về lâu về dài tôi nghĩ có lẽ là như vậy.
(Eco tiếp tục viết.)
Bạn có biết rằng dưới bức tranh Mona Lisa của Duchamp có một loại “viết tắt - giả viết tắt”, được đọc là “L.H.O.D.O.Q.” - trong tiếng Pháp nó là: Elle a chaud au cul - Nàng nóng đít. Ðương nhiên bức tranh này được thực hiện trong thời kì Duchamp theo chủ nghĩa Dada, nó trở thành một số ít khẩu hiệu thành công, tuy thế tôi nghĩ CUL8R có thể cũng trở thành một hình thức diễn tả nào đó.
Như thế ông chờ đợi một sự thay đổi về qui tắc viết?
Tại sao không? Một khi tôi khám phá ra nó, một khi vài người bạn cho tôi biết nó, tôi sẽ dùng nó trong những lá thư tôi viết. Tại sao không? Ðiều này cũng có thể thay đổi kiểu viết thư của nhiều người. Nhưng đối với tôi, đây là vấn đề thông thuờng, rất nhiều những đổi mới kĩ thuật rồi sẽ tạo ra những thay đổi. Chẳng hạn như trong những quyển sách ở thế kỉ XVI, lần đầu tiên người ta tìm cách khai triển phương cách bảo vệ tác quyền. Nó được gọi là: privilège du roi (đặc quyền của nhà vua). Ðó là một trang viết nói về việc nhà vua đã quyết định không ai có thể dùng những gì viết trong đó nếu không được cho phép. Ngày nay chúng ta làm thế này:
(Eco nguệch ngoạc lên đôi nét rồi đưa cho tôi xem.)
Đúng, copyright (©), chính thế.
Ngày nay, thế là đủ. Chúng ta đã thấy không ích gì phải có cả trang để nói về “privilège du roi” trong lúc chúng ta có một cái ngắn gọn cùng ý nghĩa. Cho nên, không phải là một cái gì đó hoàn toàn mới. Mỗi kĩ thuật mới sẽ dẫn đến những cách diễn tả mới.
Hoặc ngay cả những qui tắc mới?
... những qui tắc mà ban đầu có thể gây sợ hãi cho giới kinh viện già nua, giới có thể cho rằng: à, ngôn ngữ của các bạn đang bị suy đồi! Nhưng rồi chúng sẽ...
Ðược chấp nhận và mang chức năng trong một chiều hướng mới...?
... và độc lập. Trong những năm 60, tất cả những thư từ tôi nhận từ Mĩ cuối cùng thường có lời chào “love”, từ này lúc ấy không còn mang tính cách hoa tình - những nội dung tính dục vốn dĩ của nó. Như bạn biết đấy, tôi có thể viết “love”, tại sao không?
Hoà bình và tình yêu?
Ðúng vậy, một khi bạn chấp nhận tập quán mới, nó trở thành bình thường. Giờ đây tôi thấy từ này đã biến mất. Lần đầu nhận được lá thư của một nguời bạn không có chữ đó, tôi tự hỏi: à, hay là anh ta thành người đồng tính luyến ái rồi? Không, dĩ nhiên là không phải vậy.
Trong bài viết của ông ở hội nghị San Marino về tương lai của sách, ông nhắc đến Rube Goldberg.
Tôi nhắc đến Rube Goldberg vì có người nào đó trong hội nghị nói đến ông ta, cho nên đó không phải là một ý kiến của tôi nhưng lấy từ sự khơi gợi của người khác.
Nhưng ông cho rằng một mô hình Rube Goldberg đối với ông là một mẫu điện tử siêu hình (metaphysical template) duy nhất đối với tương lai điện tử của chúng ta, và có vẻ rất thú vị. Mẫu điện tử siêu hình là một loại...?
Nếu tôi không lầm, hội nghị viên ấy còn trích dẫn Goldberg như một kiệt tác cắt dán. Nếu tách riêng sự kiện này ra trong bài viết của tôi mà không tham khảo những lần nói về nó trước đó thì không thể hiểu được. Không, điều tôi muốn nhấn mạnh, và điều có thể quan trọng đối với loại tạp chí này, là việc người ta thấy cùng lúc có hai vấn đề: vấn đề thứ nhất không đáng bàn cãi, vấn đề thứ hai nếu bàn cãi thì có hại. Vấn đề không đáng bàn cãi là câu hỏi không biết CD-ROM sẽ xoá bỏ sách hay không? Thật sự đây là câu hỏi ngớ ngẩn, chẳng đáng bận tâm.
Vấn đề này liên quan với ý tưởng “ceci tuera cela” - cái này sẽ giết cái kia?
Ðúng vậy, bởi vì tôi đã lặp đi lặp lại nhiều lần. Trên lưng một con lạc đà đi trong sa mạc, bạn có thể mang theo một quyển sách, không phải một máy vi tính.
Nhưng, hôm nay chúng ta có thể mang một máy vi tính.
Chắc chắn vậy, nhưng vẫn luôn luôn tiện lợi hơn khi bạn nằm trong một túp lều với một quyển sách, bạn có thể làm thế này thế nọ...
(Eco lấy một tờ báo trên mặt bàn, ngồi dựa vào thành ghế, mở toang trang báo ra trước mặt.)
Bạn không cần một chỗ cắm, cũng không cần đến một loại pin phát điện bất tận. Thứ hai, bởi vì có những loại kinh nghiệm đọc chỉ có được với sách. Tôi không tin người ta có thể đọc Homer trên máy vi tính. Nhưng sách có thể được chia làm hai loại: sách để đọc và sách để tham khảo. Tất cả những sách tham khảo có thể thay thế bằng CD-ROM. Một bàn viết trong tương lai tuyệt đối cần được gắn hai loại máy vi tính. Một có cấu hình nhỏ dùng cho việc viết lách, và một cấu hình có bộ nhớ lớn để chứa các bộ bách khoa, các bộ tự điển và các loại sách bạn cần để tham khảo. Bạn không thể làm chuyện đó với một máy đơn lẻ. Nếu bạn đang viết, bạn không thể lúc nào cũng dừng lại để mở một cơ sở dữ liệu, hoặc để tra khảo một tự điển. Mỗi hoạt động như thế đòi hỏi nhiều thao tác và thì giờ. Với hai máy vi tính, tất cả những tủ sách đàng kia...
(Eco chỉ những kệ sách dọc theo tường.)
... có thể biến mất.
Tất cả những tác phẩm dùng để tham khảo?
Tất cả những tác phẩm tham khảo, đúng vậy. Sẽ rẻ tiền hơn. Tôi đã tính giá của một khoảng tường dựa trên đơn vị diện tích sàn nhà - không phải trong trung tâm Milano, cũng không phải ở ngoại ô - và giá của những tủ sách làm bằng thứ gỗ khiêm nhường chứ không phải loại gỗ tốt. Tôi khám phá ra rằng mỗi một cuốn sách vô tích sự mà tôi nhận đuợc, giá thành là 100 đô-la.
Tính bằng không gian.
Tính bằng không gian.
Ðó là chưa kể đến khía cạnh môi trường - đến rừng v.v…

Ðúng vậy, chưa kể đến rừng... trung bình mỗi ngày tôi nhận được 10 quyển sách miễn phí. Thật là một phí tổn nặng nề cho tôi. Hiện tại tôi có một căn hộ diện tích 500 mét vuông, tôi không thể tiếp tục dọn nhà 5 năm một lần để chứa đủ những quyển sách tôi có. Nếu tôi có thể loại trừ tất cả những bộ bách khoa và những bộ tự điển v.v… thì vấn đề sẽ được giải quyết. Và nếu nó là điều tiện lợi cho tôi thì chắc chắn nó cũng là điều tiện lợi cho một người nào đó sống trong một căn hộ nhỏ. Tất cả những quyển sách tham khảo sẽ được loại trừ. Chỉ còn lại các loại sách khác.
Chức năng của sách tham khảo được điện toán hoá sẽ là một trong những khuyến khích khiến tôi đi tìm những quyển sách in trên giấy, và dùng chúng như những quyển sách in trên giấy, đó là tất cả vấn đề. Tôi rất lạc quan về điểm này. Tôi không tin rằng bạn sẽ mua một đĩa thơ mới, nếu không vì lí do thông tin, hoặc vì lí do cần phải nhanh chóng có nó. Sách, dù cho in bằng thứ giấy tồi nhất thế giới, vẫn giữ lâu hơn những hệ thống cung cấp bởi từ trường, ít nhất là cho đến bây giờ.
Vấn đề thứ hai là về sự không tưởng của siêu văn bản, trong bài viết ở hội nghị San Marino tôi đã giải thích sự lầm lẫn giữa siêu hệ thống và siêu văn bản. Siêu hệ thống là một cách tân vĩ đại. CD-ROM của tôi là một siêu hệ thống. Nhưng còn về siêu văn bản: tôi không cần sự cung cấp từ trường để soạn lại Ulysses đúng như tôi muốn. Tôi làm chuyện đó với một quyển sách. Khi đọc Joyce, tôi không làm điều gì khác là: thay đổi rồi dời chuyển rồi quay ngược lại. Cho nên ý tưởng về việc tôi có thể dùng một siêu văn bản để soạn lại thành 10 tiểu thuyết khác nhau là một ý tưởng ngớ ngẩn, ngớ ngẩn như Dungeons and Dragons (Ngục tối và Rồng, vài trò chơi điện tử khá phổ biến) hoặc đại loại theo kiểu ấy. Nó có thể là một trò chơi.
Ở Pháp vào cuối những năm 50, có một người tên Saporta sáng chế ra một loại sách dời đổi được. Ý tưởng này đã từng có ở Mallarmé. Ý tưởng về một loại sách dời đổi được là một loại ẩn dụ về sự vô hạn của sự đọc. Nếu bạn muốn, đó là một thứ ẩn dụ cho giải cấu trúc (deconstruction). Ngược lại, Saporta chế ra một loại sách trong đó bạn có thể trộn lẫn...
Giáo sư muốn nói người ta có thể thêm thắt những sự việc vào đó?
... trộn lẫn các trang và câu chuyện sẽ thay đổi.
Một loại sách với những trang giấy rời?
Ðúng vậy, nếu bạn ngại rằng ngay cả trong một CD-ROM những nối kết đã được tác giả ấn định trước, thì đấy, ngay cả Saporta đã ấn định trước những khả năng của câu chuyện.
Tất cả là một vũ trụ có hạn, đúng là như vậy.
Ðọc Shakespeare, rồi ngồi mộng tưởng, mơ Hamlet kết hôn cùng Juliet chắc không làm người ta thấy thú vị hơn, cho nên siêu văn bản chỉ là một loại trò chơi về văn bản. Siêu hệ thống chính là tương lai. Siêu-văn bản có thể có mục đích giáo dục: cố gắng hoà trộn những sự việc, tìm tòi những khả năng mới. Ðó là những khả năng có thể làm, nhưng nó không phải là một cuộc cách mạng trong văn học hoặc thơ ca.
Ông không tin điều đó?
Không, tôi không tin như vậy. Một khi bạn có những gì bạn có trong sách in trên giấy, với Joyce hoặc Mallarmé, bạn không cần siêu văn bản để có một cách đọc mang kết thúc mở trong văn học.
Giáo sư nhắc đến Dungeons và Dragons. Những không gian ảo đa dụng trong đó nhiều người có thể dự phần vào những đối thoại viết cùng một lúc. Họ có thể tạo ra những phòng trống, họ có thể đảm nhiệm những nhân vật có tính cách, họ có thể tương tác với nhau trong những cách thức mà không gian vật lý không thể cho phép. Finn Bostad, một đồng nghiệp của tôi, nói rằng vài học sinh của anh ta đã tiêu nhiều thì giờ trong trường hoạt động này. Ðối với một số người, việc này như việc ứng diễn một tiểu thuyết cùng một lúc với việc người ta viết nó.
Một trò chơi hay.
Giáo sư có nghĩ là nó sẽ dẫn đến những thể loại văn học mới?
Tôi đã dùng một loại siêu văn bản tưởng tượng trong 30 năm qua. Nó được gọi là Scrabble (trò chơi đô-mi-nô đoán ráp chữ). Hình như với Scrabble bạn có thể soạn ra bất cứ nối kết chồng chéo nào, bất cứ phối hợp cú pháp nào thì phải. Ðây là một trò chơi hay, nó có thể có những mục tiêu giáo dục. Ðôi khi vợ tôi, người có sinh ngữ Ðức, học tiếng Anh một phần qua Scrabble. Ðôi khi chúng tôi chơi Scrabble bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Tuy nhiên, nếu bạn là nhà thơ, bạn có đầu óc Scrabble. Bạn không cần một cái bảng để làm điều ấy. Tôi nghĩ những trò chơi đại loại theo kiểu đó đều có ích. Chúng có thể rất thú vị khi chơi. Cho nên, tôi xin nhắc lại: chúng có thể được dùng để giáo dục trong việc khám phá và soạn thảo, nhưng theo tôi chúng chẳng dính dáng gì đến tương lai của văn học.
Có thể tôi là một con khủng long: tôi vẫn đang sống rất sung sướng trong thế giới sách cổ, và có lẽ tôi sẽ từ giã cõi đời trước lúc cảnh tượng hoàn toàn thay đổi. Tôi giữ thái độ mở rộng trước những khả năng phát triển của tất cả những viễn cảnh ấy. Với những kĩ thuật mới nhất hiện nay, nếu phải cá cược với tất cả số tiền tôi có trong túi, tôi sẽ đặt nhiều tiền trên siêu hệ thống hơn là trên siêu văn bản. Ðây là một cuộc đánh cược cá nhân.
Giáo sư đã xem những quyển sách siêu văn bản, chẳng hạn như của Jay Bolter và của Michael Joyce chưa? Về căn bản họ đã tạo ra một hệ thống siêu văn bản nơi người ta có thể nhập cuộc, và ở đó có rất nhiều văn bản mà người ta có thể khám phá qua những cách nối kết khác nhau.
Có, tôi có đọc về chúng... nhưng tôi chưa thử. Tôi biết vị trí của tôi có thể giống như của Cremonini, một giáo sư luận lí, siêu hình học và thiên văn học lớn cùng thời với Galileo. Khi người ta mang cho ông một cái ống nhòm của Galileo, ông nói: tôi không muốn nhìn vào nó, bởi vì tôi có thể làm lẫn lộn tư tưởng của tôi. Như vậy, vị giáo sư đáng thương của chúng ta trở thành một biểu tượng của sự hẹp hòi hàn lâm, từ chối thử nghiệm một phát minh mới. Rồi sau đó, khi bạn đọc một quyển sách nghiêm túc của Cremonini, bạn sẽ khám phá ra ông là một đầu óc lớn của thời ấy, dù ông không phải là một nhà cách tân như Gallileo, và cũng không phải sự thật ông không muốn nhìn vào chiếc ống nhòm. Ông chỉ nói rằng: ở tình trạng kĩ thuật hiện tại, những ống kính ấy vẫn còn rất thô sơ, cho nên tôi không nghĩ rằng nó thực sự giúp tôi có được những gì mới lạ hơn.”
Ðây là một quan sát phê phán về trình độ kĩ thuật mới nhất. Cho nên, điều tôi làm bây giờ có lẽ là một lời tuyên bố cho rằng chúng ta vẫn đang ở trong thời kì sơ khai của một trình độ kĩ thuật tiên tiến. Cho tới đây, tôi vẫn chưa đả động đến hiện thực ảo. Bởi vì chỉ tới lúc người ta có khả năng làm tình với Marilyn Monroe; chỉ tới lúc quần áo của nàng bắt đầu phấp phới bay đi - đấy, vào lúc ấy tôi sẽ thử! Nhưng cho tới lúc nàng Marilyn Monroe vẫn còn là một phác thảo và tôi chỉ có thể có những cảm giác thật sự ở nơi khác, thì trình độ mới nhất của kĩ thuật vẫn còn ở thời kì sơ khai, tôi phải chờ thêm, đó là tất cả những điều tôi muốn nói! Nếu bạn tặng tôi khả năng này sớm, và tốt hơn nữa, nếu được tặng vào tuổi 80, tôi sẽ rất hồ hởi về phát minh mới ấy, tôi sẽ trở thành một người ủng hộ cuồng tín!
Tôi nghĩ, chỗ này tôi đồng ý với giáo sư. Vẫn còn đó một vấn đề cơ bản là vấn đề chất lượng. Chất lượng của kinh nghiệm còn rất giới hạn, và chính kĩ thuật là cái gây hại cho chất lượng đó...?
Không sao; tôi cho rằng hãy cứ sóng buớc cùng nó! Nhưng đây cũng là điểm tại sao tôi có cảm tưởng nó có ích cho mục tiêu giáo dục và học tập hơn là cung cấp những kinh nghiệm thẩm mĩ thực sự mới. Dù rằng bạn tôi, Nanni Balestrini, một trong những nhà thơ và nhà viết tiểu thuyết trong phong trào tân tiền phong của những năm 60 đã sáng tác một bài thơ bằng sự kết hợp với máy vi tính.
Một loại hình nghệ thuật - nghệ thuật sản sinh từ máy vi tính (computer art)?
Ðúng như vậy, một điều gì đó như hàng tỉ bài thơ của Queneau. Cho nên những kinh nghiệm ấy đã thực sự hiện hữu. Tôi có ấn bản Chinosura Lucensis lần thứ nhất của một vị thày dòng thế kỉ thứ XVII, người đã sáng tạo ra một loại đồ hình nhiều bánh xe như cuả Ramon Llull,. Bằng cách thức này, vị thày dòng có thể soạn ra vài triệu bài thơ về Ðức Mẹ Ðồng Trinh. Ðây là một ý tưởng cũ, một sự không tưởng cũ. Ðôi khi nó đã thực sự giúp cho sự sáng tác. Nó không có gì sai lạc, nhưng có lẽ kết quả cuối cùng phải là một đối tượng có thể dời đổi được bằng đầu óc chứ không phải bằng những ngón tay, nếu không chúng ta sẽ bị mất đi một cái gì đó.
Ðúng như thế. Ðiều này đưa chúng ta trở lại vấn đề liên hệ chung giữa những máy vi tính và làm cách nào để chúng ta tương tác với chúng? Tôi nghĩ đây là vấn đề của những máy vi tính ngày hôm nay, chúng cho chúng ta những kinh nghiệm kiểu khác. Thử lấy thí dụ việc viết lách. Khi viết với một cái bút, người ta di chuyển theo một cách, người ta luôn luôn có một sự phản hồi nhất định trong lúc viết. Trên những máy điện toán người ta làm tất cả chuyện ấy trên những nút nhấn.
Như một nhà văn, tôi khám phá ra rằng có những điều tôi cần đến cái bút, có những điều tôi cần đến máy vi tính, và có những điều tôi cần một cái bút mực. Và dụng cụ tôi dùng để viết đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác phẩm của tôi.
Dụng cụ ông sử dụng?
Thật vậy, khi tôi nghĩ về điều ấy, loại lao động này...
(Eco lấy một cuốn sổ tay và nguệch ngoạc trên đó.)
... rất quan trọng. Ðây là điều rất mới khiến người ta thực sự chưa hiểu những sự khác biệt của nó. Tôi không biết...
Vậy thì bây giờ chúng ta có những hệ thống dựa trên cách viết bằng bút?

Bạn đã đọc Foucault’s Pendulum (Quả lắc của Foucault) của tôi. Ở một trong những hồ sơ đầu tiên, Bellbo nói sáng tạo là biết bao tâm linh. Cho nên, có một huyền thoại Metropolitan cho rằng những tiểu thuyết của tôi được viết bằng máy điện toán, họ không để ý là Tên của hoa hồng (Il nome della rosa) được xuất bản năm 1980, và một lập trình xử lí chữ (word-processors) đầu tiên thực sự tốt chỉ mới có vào năm 1982-83. Vì vậy nó không thể được viết trên máy vi tính.
Vậy thì nó được viết bằng máy đánh chữ, hay là...?
Bằng máy đánh chữ, viết tay. Nhưng đối với tác phẩm Pendulum, nó cũng nói về máy tính, mấy anh nhà báo ngờ nghệch cãi rằng: quyển sách của ông được pha chế từ máy vi tính. Họ tin rằng tôi cho một số từ vào máy và zzzaapp: máy sẽ tạo ra quyển sách. Một trong những nhà báo nói rằng: "Ðúng rồi, rõ ràng rằng cái này do máy điện toán viết, trừ một chương. Trong đó có cậu bé chơi kèn trompet trong nghĩa địa (chương cuối cùng). Chương này rõ ràng được viết tay". Ðó chính là chương duy nhất của tác phẩm tôi viết một mạch, không sửa chữa gì tại máy vi tính! Tất cả những chương khác đều được viết tay!
Rồi được gộp chung lại, phải không?
Gộp chung trong nhiều cách. Tại sao? Bởi vì tôi đã có chương cuối cùng này ngay từ lúc khởi đầu. Và tôi đã suy nghĩ về nó trong 8 năm trời, mãnh liệt đến nỗi khi tôi tới chỗ này - tôi còn nhớ rõ, lúc ấy là 6 giờ chiều trong căn hộ của tôi - như thể đang chơi piano và như thể một nhạc sĩ jazz: tôi đã viết một cách dễ dàng tại máy vi tính, nghe theo những gì có trong đầu và chỉ sửa chữa dọc theo dòng suy nghĩ. Nó được viết một mạch tại máy..., hoặc có thể nói, nó hoàn thành nhờ có hứng khởi.
Người ta vẫn còn có những cái nhìn huyền thoại về máy móc. Rồi có một sự sản xuất huyền thoại giả tạo có mục đích. Những nhà báo dùng máy vi tính hằng ngày là những người đặt những câu hỏi ngây ngô về chúng, và ra vẻ như thấy một loại máy sáng chế bí mật nào đó. Họ biết rằng đây không phải là sự thật. Nhưng khi họ đặt những câu hỏi, họ tìm cách làm chúng trở thành những câu hỏi của một độc giả ngây ngô nhất. Một trò chơi dở. Cho nên nhà báo, người biết một cách chính xác là chiếc máy vi tính được sáng chế ra không phải cho ông ta hoặc bà ta, là người góp phần trong việc truyền bá huyền thoại Metropolitan, lời đồn đại giả tạo về sự thông minh ngoại hạng của máy vi tính.
Tôi vừa nghĩ đến quyển sách giáo sư mới xuất bản: “Sáu cuộc dạo chơi trong khu rừng hư cấu” (Six walks in the Fictional Woods). Bài viết cuối là bài rất hay. Những giây phút cuối người ta được dắt vào một loại cung thiên văn (planetarium)...
Ờ! đúng như thế, cung thiên văn.
... nơi bạn kinh nghiệm được giây phút bạn chào đời. Ðúng vậy, đây là loại kinh nghiệm về một thứ hiện thực ảo, có phải thế không?
Ðúng như thế, và nó thực sự được máy vi tính sửa soạn, bởi vì chỉ có máy vi tính mới có thể tạo ra bầu trời đêm hôm ấy.
Nhưng quả thực giáo sư có nghĩ đó là một kinh nghiệm sâu sắc cho riêng mình?
Ðúng vậy, nó làm tôi rất xúc động, và có thể đượm đôi chút tính tự say mê mình.
Ðặc biệt, có lẽ đó cũng là một loại biểu dương tình yêu từ những con người, theo nghĩa họ đã chịu mọi vất vả phiền hà để thể hiện nó?
Ðúng vậy, đó là một biểu hiện của tình yêu từ phía họ, nhưng cũng có một không khí, vì tôi cùng vợ tôi - dù đây không phải đêm của vợ tôi - nhưng vợ tôi cũng có cùng ấn tượng, cũng như xúc động trước sự huyền diệu của kinh nghiệm. Cho nên với riêng tôi, kinh nghiệm có thể là một biểu hiện tự yêu mình, nhưng với vợ tôi, nó thực sự là cảm xúc, một ấn tượng về điều gì đó đã xảy ra 60 năm trước.
Một cách trải nghiệm quá khứ?
Ðúng vậy, một kinh nghiệm tuyệt diệu.
Vậy thì bằng phương tiện kỹ thuật, quả thực người ta có thể tạo ra một sự giả cách (simulation) thực đến nỗi có thể gây tác động sâu sắc trên con người?
Chắc chắn như vậy, bạn có thể cảm thụ Beethoven trên một đĩa com-pác nhiều hơn một đĩa 78 vòng... và có khi còn hay hơn trong một nhà hát nhỏ với một dàn nhạc gồm những “nhạc cụ quí hiếm”. Cho nên tôi tuyệt đối... À này! tôi là một người chơi sáo ba-rốc (recorder), và bây giờ những chiếc sáo nhựa của Nhật đã đạt độ tinh vi đến mức - dĩ nhiên người ta vẫn có thể có một cái sáo chất lượng cao cấp giá 5000 đô la, sản phẩm của một nghệ nhân hàng đầu - nếu người ta so sánh một chiếc sáo nhựa và một chiếc sáo bình thường làm bằng gỗ, chiếc sáo nhựa giữ chất lượng âm thanh của nó, nó không bị ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm. Có thể nó không thích hợp cho người độc tấu, nhưng chắc chắn nó rất thích hợp cho chơi nhóm hoặc chơi với dàn nhạc, không có gì phải phản bác.
10/2/1995
Umberto Eco
Vũ Ngọc Thăng dịch
Patrick Coppock thực hiện
Nguồn: http://carbon.cudenver.edu/
Theo http://www.talawas.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung

Dấu ấn Bắc Hà qua thơ Nguyễn Ngọc Tung Chuyến tham quan, trải nghiệm thực tế Bắc Hà của đoàn văn nghệ sĩ Phú Thọ (Chi hội Lý luận phê bình...