Thứ Sáu, 6 tháng 4, 2018

Cánh sóng mùa xuân

Cánh sóng mùa xuân... 
Ông lão thức dậy mở đôi mắt đục ngầu màu mây, khói sóng. Khẽ chun mũi ông ngửi thấy mùi của gió xuân dìu dịu lẫn trong vị biển mặn mòi.
Có khi ông còn ngửi thấy cả mùi của nhụy hoa từ đất liền theo gió bay ra tận đảo. Chắc là trên bờ nhà nhà, người người đang tấp nập đón xuân. Cận tết những chiếc xe ô tô thường chở hoa từ nơi khác đến bày bán ở chợ huyện. Người mua thì ít người xem thì nhiều. Những người đàn bà da đen sạm, cả cơ thể còn tanh nồng mùi cá thích xúm vào ngó nghiêng những chậu mai vàng. Họ bảo nhau: “Giá có chậu mai này trưng tết thì hết sảy. Hoa đẹp nhưng đắt quá”. Ngắm mai xong họ tần ngần rút ra nắm tiền còn dính đầy vẩy cá mua một chậu hoa cúc vạn thọ “vừa đẹp vừa rẻ mà lại lâu tàn”. Nghĩ đến đó mắt ông bỗng nhòe đi vì nhớ vì thương hay vì gió sớm có lẫn vài hạt cát. Ông lần mò bước ra khỏi căn lều lụp xụp, ngửa cổ đón ánh nắng mặt trời. Qua đôi mắt mù lòa ấy ông vẫn thấy biển soi vào đáy trời trong vắt và nắng xuân đang đổ tràn xuống vai ông vị mật. Giá có thể thêm thắt vào khung cảnh này bóng dáng tảo tần của một người đàn bà thì hạnh phúc biết bao. Để vun vén chỗ này sắp xếp chỗ kia. Để đi ra đi vào đều kiếm chuyện càu nhàu ông không chịu cắt mái tóc rậm rịt, không chịu cạo bộ râu hôi hám, không chịu rửa chân trước lúc bước vào nhà nên cát rơi vung vãi khắp nơi. Thứ hạnh phúc ấy ông đã từng có được trong đời. Nhưng từ ngày người đàn bà ấy bỏ đi thì mùa xuân trong ông chỉ còn là ký ức.
Ông lần theo tiếng vỗ vào bờ của từng cánh sóng. Mũi ông ngửi thấy mùi biển. Trên vành môi như đọng những hạt muối li ti chưng cất từ biển cả, chúng bám cả vào bộ râu xơ xác của ông. Ngồi trên ghềnh đá ông hướng đôi mắt màu mây về phía đất liền. Từ đảo Gà Trống vào đất liền mất khoảng nửa giờ đi thuyền nhưng khi còn trai trẻ ông vẫn thường bơi vào bờ như loài rái cá. Bơi trong cơn nhung nhớ đất liền. Nơi có mái nhà liêu xiêu, những hàng dừa đổ bóng. Nơi có vại nước mưa uống mát lịm tim gan. Có khói bếp thơm mùi kho quẹt. Có hương tóc người con gái ông thương. Ông đứng lấp ló bên hàng rào nghe thấy tiếng nước người thương gội đầu. Tiếng dép lê loẹt quẹt. Tiếng nhắc mẹ vào nhà kẻo nắng. Tiếng gọi con chó nựng con mèo. Ông mê mệt giọng nói ngọt như mật mía. Cần gì phải nhìn thấy mắt biếc môi cười mới biết yêu thương. Ông yêu người con gái tên Thảo ấy từ mùa xuân năm mười sáu tuổi. Khi hai đứa đứng lơ ngơ cổng chợ bán những mớ lá dong. Chợ gần cửa biển gió lùa lạnh thấu xương. Thảo kéo ông ngồi vào một góc. Hai đứa ngồi sát bên nhau, Thảo thỉnh thoảng lại lấy tay xoa mạnh vào má ông hỏi ấm không? Ấm không? Rồi ngồi kể chuyện mới làm mẻ mứt gừng, mứt quất. Thảo nhường khách mua lá dong, nhường luôn cả chiếc khăn ấm cho ông. Chiếc khăn ấy ông mang theo mỗi chuyến đi biển dài ngày. Nhấp nhô giữa biển khơi mênh mông ông thường nghĩ về Thảo như nghĩ về bờ…
Nhà ông nghèo. Đàn ông trong nhà nhiều đời vẫn sống bám vào biển cả. Ông cũng theo cha lênh đênh sóng nước từ khi vừa kịp lớn. Ông yêu biển như yêu mẹ. Thèm rúc vào lòng biển như loài cá. Bơi lội và lặn ngụp. Trong một lần đi biển ông gặp trận sốt phát ban. Giữa biển mênh mông không thuốc thang ông mê man gọi mẹ. Lúc tỉnh dậy đã thấy ánh sáng bỏ đi, chỉ màu đen tối tìm đến vây quanh còn bên tai là tiếng gió biển rít từng hồi ghê rợn. Vậy mà ông vẫn yêu biển dù đôi lần oán trách biển đã giấu ánh sáng đời mình đâu đó. Cũng như trong trận bão cuối mùa đông năm ông mười bảy tuổi biển đã giấu luôn cả những người thân của ông xuống đáy sâu. Nỗi nhớ máu mủ ruột thịt cồn cào trong từng hơi thở. Ông vẫy vùng ôm biển vào lòng. Nước biển mặn như nước mắt mẹ. Lòng biển bao la như lòng mẹ. Tiếng sóng rì rào như lời mẹ hát ru. Những đầm ấm, sum vầy, yên ổn trên đất liền cũng không thể khiến ông nguôi biển.
Đã nhiều lần Thảo muốn níu ông ở lại. Nhà rộng quá mà chỉ có hai mẹ con Thảo nên buồn. Ông thêm thắt vào cảnh đơn chiếc ấy cái dáng vạm vỡ của một người đàn ông đi biển. Cuối năm sửa lại hàng rào, đốn cây trong vườn xếp từng chồng củi cao ngất ngưởng dành để nấu bánh chưng. Mấy chiếc chăn bông nặng quá, mỗi lần mang đi giặt giũ là cần có bàn tay người đàn ông sức vóc vắt cho khô nước. Nhà dột quá may có người trèo lên lợp lại.
Thảo đứng dưới đất cất giọng ngọt lịm “dịch sang bên phải một chút anh ơi. Một chút nữa. Đúng rồi”. Bà cụ ngồi gói bánh chưng móm mém cười cảnh tượng ấy những mong cho đôi trẻ sớm tối sum vầy. Nhưng khi nồi bánh chưng mang luộc lại thì cũng là lúc chàng trai mù nhấp nhổm cho một chuyến ra khơi. Chủ tàu mới nhắn “nhổ neo chuyến đầu xuân lấy hên”. Tiếng biển sóng cứ ào ạt bên tai nên ông không nghe thấy tiếng Thảo thở dài. Hoa mai còn chưa rụng hết, vại dưa hành ăn vẫn còn cay, ngoài đường người ta vẫn còn đi chơi tết cơ mà. Có hỏi thì ông bảo “hải sản sau tết thường đắt mà lại ít tàu thuyền đánh bắt nên tranh thủ đi thôi”. Thảo nhìn trong đôi mắt bàng bạc màu mây của ông chỉ thấy nỗi nhớ biển cồn cào. Ông cười “mắt của người mù đâu có sóng em ơi…”.
Chiều ba mươi tết ông thay quần áo, châm ba nén nhang ra khấn trước sân nhà. Không có bàn thờ, không mâm ngũ quả cũng chẳng có cỗ đầy. Mọi thứ đều mênh mông, trên là trời xanh dưới là biển cả cứ thế mà vái vọng bốn phương. Trong một khoảnh khắc nào đó ông thấy mình là vị chúa đảo bé nhỏ và đơn độc. Vái ba vái cúi lạy đất trời ông tưởng như trong tiếng sóng có lời đáp lại. Biết đâu đó là lời của cố nhân nhắn nhủ. Hoặc biết đâu những cánh sóng khấp khởi vui mừng vỗ dưới thân tàu đang hướng về Gà Trống. Tàu rồi sẽ cập bờ. Người ông thương sẽ bước chân xuống đảo mang theo những hạt giống mùa xuân gieo trên mảnh đất khô cằn…
Vũ Thị Huyền Trang
Theo https://thanhnien.vn/


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu

Quang Hoài - Khắc khoải một niềm yêu Trong tập Giọt trời trên lá sen của Quang Hoài, phần thơ thể hiện những suy tư trăn trở về nhân tình,...