Cỏ xanh và Lửa đỏ - Một đối lập lôgic
Không biết là một sự vô tình hay cố ý mà từ khi cầm bút, Hồ Thành Công lại tự đặt
bút danh cho mình là Thanh Thảo - Cỏ xanh. Một cái tên rất con gái được ký dưới
những bài thơ đầy chất con trai. Cái tên thì mềm mại mà chất thơ lại táo bạo đến
bất ngờ. Ở đó có sự kết hợp lạ lùng giữa Cỏ xanh và Lửa đỏ, hay rộng hơn là một
sự kết hợp đến mức nhuần nhuyễn giữa hai đối lập: Mặt đất cỏ xanh - Bầu trời lửa
đỏ. Hai gam màu nổi bật, vừa đối lập vừa rất lôgic làm nên chất thơ Thanh Thảo.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Thanh Thảo có hẳn một tập
thơ “Dấu chân qua trảng cỏ”, có hẳn một trường ca “Cỏ vẫn mọc”. Và khi tiến
hành khảo sát 8 trường ca (chưa kể trường ca Metro) và 5 tập thơ (chưa kể tập
thơ 123) của anh, ta dễ nhận ra, sắc cỏ bừng xanh trên từng trang viết:
“Mười tám hai mươi sắc như cỏ
dày như
cỏ
yếu mềm và
mãnh liệt như cỏ”
(Những người đi tới biển)
Tất
nhiên, Cỏ trong thơ Thanh Thảo không chỉ “mềm”, “ấm” mà còn “dày”, “sắc” và
“mãnh liệt”. Thế nhưng, như để lột tả hết cung bậc dữ dội của cảm xúc trước sự
ác liệt của chiến tranh, thơ Thanh Thảo cũng ngập tràn Lửa đỏ:
“Tổ quốc
một lần nữa xin hát tên Người
lửa đã cháy trước đoàn quân nam tiến”
Thành
công lớn nhất của Thanh Thảo có lẽ là bởi anh đã tạo nên được rất nhiều biểu tượng
thơ. Mà biểu tượng thơ chỉ được tạo nên bởi sự ám ảnh khôn nguôi về một hoặc vài
chủ đề, vấn đề nào đó nhà thơ đau đáu trong lòng khi cảm nhận cuộc sống. Cứ mỗi
lúc xúc cảm tuôn trào là từ trong tiềm thức, cả vô thức bật ra một cách tự
nhiên ngỡ như nó đã thành máu thịt, đặt bút là tự đáy lòng bất chợt tuôn ra
không thể cưỡng lại. Chính vì thế, những biểu tượng này xuất hiện nhiều hơn với
một độ lặp thi pháp phổ biến trong suốt cuộc đời thơ hoặc một chặng đường thơ của
từng tác giả. Ngoài Cỏ xanh và Lửa đỏ, ta còn tìm thấy rất nhiều biểu tượng
khác trong thơ Thanh Thảo như: Đất - nơi tồn tại của Cỏ xanh; Trời - nơi phát
ra những tia chớp đỏ; Rừng núi mút mắt xanh cũng là nơi phát ra rừng rực những
đám cháy đỏ; Biển muôn trùng nơi của những bão dông số phận; Cát và Sóng trong
lòng Đất và Biển. Không chỉ thế, Thanh Thảo còn là nhà thơ của: những Nụ Mầm hi
vọng; những Đàn chim tuổi thơ và Mẹ bao dung, cao cả...
Trong đó, Cỏ xanh và Lửa đỏ là hai biểu tượng xuất hiện khá
dày đặc trong thơ anh. Đã có lần anh tự giải thích bút danh mình rằng:
“Tôi
đặt tên tôi là cỏ
mọc phất phơ mọc vơ vẩn ngoài đồng
mọc trên mộ các anh
tràn qua các bia đá lạnh lẽo”
Bằng một
thống kê sơ bộ qua 8 trường ca của anh (chưa kể thơ), ta nhận ra một tần suất lặp
khá dày đặc: Cỏ xanh: 247 lần, Lửa đỏ: 359 lần
Tất nhiên, số liệu thống kê cũng chỉ là những con số vô hồn nếu
sự xuất hiện các hình tượng lặp không tạo nên chất thơ riêng của nó. Nguyễn Trọng
Tạo đã có nhận xét khá sắc sảo về hai người bạn thơ của mình rằng: “Nếu như hồn
thơ Thanh Thảo là những tia chớp từ trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự sum
suê của cây cối từ đất mà lên.” (1)
Có lẽ Nguyễn
Trọng Tạo gọi tên phong cách ở nét chung nhất của hai nhà thơ. Còn theo tôi, tư
duy thơ Thanh Thảo là một kiểu tư duy thơ hiện đại, tôi tạm gọi là “tư duy thơ
vệ tinh”. Nghĩa là vệ tinh thơ từ bầu trời được tất cả các camera thơ quay hình
từ mặt đất truyền về, rồi từ đó, vệ tinh phát xuống những tia chớp thơ lóe
sáng, giàu chất suy nghĩ vì đã qua chọn lọc và cô đúc.
Các camera
thu lượm hình ảnh từ mặt đất ngập cỏ xanh, chuyển về vệ tinh thơ xử lý và chọn
lọc để phát những tia chớp lửa chính là phong cách độc đáo của Thanh Thảo.
Chính vì thế, ta thấy chân anh đang đi trên cỏ, bám rất chắc trên cỏ, nhưng trí
và hồn anh lại thả bổng về trời.
“Buổi
chiều qua trảng cỏ voi
Ngước nhìn mút mắt khoảng trời...”
(Dấu chân qua trảng cỏ)
Và cứ thế anh nối hai cực âm - dương: đất - trời bằng một vệ
tinh thơ phát hình nhanh như tia chớp:
“Cỏ bồng bềnh câu thơ hoang dại
Cánh đu tiên mùa xuân
Ta
đã bay qua lằn mức đời mình
Trên cả dao động và yên tĩnh”
(Đêm trên cát)
“Cỏ bồng bềnh”, “hoang dại”, “đu tiên” rất hồn nhiên của
camera thơ mặt đất bỗng vụt lóe sáng như từ vệ tinh phát xuống hai câu thơ đầy
trí tuệ, giàu suy nghĩ của “dao động”, của “yên tĩnh”, của những “lằn” ranh vô
hình.
“Cỏ
âm thầm mọc dưới trời sao
Đã phủ ngập lối mòn năm trước
Cỏ trùm lên những chiếc M 113 đang rữa nát
Thành những gò đống lang thang”
(Dấu chân qua trảng cỏ)
“Cỏ âm thầm mọc”,
cỏ “phủ ngập lối đi”, “cỏ trùm lên” mạnh mẽ để xóa nhanh vết tích chiến tranh.
Biểu tượng Cỏ trong thơ Thanh Thảo chứa nhiều cung bậc nghĩa. Khi âm thầm, khi
mạnh mẽ, khi sắc lẹm, khi hồn nhiên.
Rồi Cỏ
cũng rung động khi nghe nỗi niềm thơ của ông Đồ Chiểu: “Cảm nghe niềm tâm
sự như chưa bao giờ được nói hết đến cỏ cây cũng rung động” (Trò chuyện với
nhân vật của mình).
Cỏ chở che dù chỉ là thân “cỏ nội hoa hèn”: “Dưới những
dề cỏ những dề lục bình trôi bềnh bồng trên vàm Nhật Tảo, có những nghĩa quân của
anh chài Lịch. Họ bí mật áp sát vào tàu “Hi vọng” đang đậu nghênh ngang giữa
dòng sông” và “những dề cỏ áp tới thành tàu, im lặng áp tới những tiếng cười ngạo
nghễ” (Cỏ vẫn mọc).
Vâng, “cỏ bồng bềnh” trôi xanh màu lãng mạn, nhưng rồi “cỏ áp
tới” mạnh mẽ và đoàn quân áp tới bóp nghẹt “tiếng cười ngạo nghễ”...
Đúng là, Cỏ đã được Thanh Thảo chú tâm khai thác để nhằm qua
những hình ảnh đơn sơ, bình thường, nâng lên thành những biểu tượng thơ đầy nghệ
thuật nhằm bộc lộ những suy ngẫm tầng sâu về triết lý cuộc sống: “Một người
đàn ông... chém vè trong đám cỏ ống”, bị rắn hổ đất cắn, “ông quơ vội những
lá cỏ quanh mình nhai lấy nhai để. Quanh nơi rắn ở, bao giờ cũng mọc những loại
cỏ trừ nọc rắn” rồi “những người tù “chuồng cọp” chia nhau vài lá cỏ
ăn cho có chất rau xanh”... Đang nói chuyện Cỏ dưới đất, camera thơ lại
đưa vút hình ảnh về vệ tinh thơ rồi chắt lọc hình ảnh và phát ra “vệt sáng
mỏng manh chiếu nơi bàn tay gầy guộc, trên bàn tay một lá cỏ bắt ánh trăng” (Cỏ
vẫn mọc”).
Và rồi bao nhiêu chuyện “đại sự” trên đời, bao nhiêu ngẫm suy
đầy triết luận, được Thanh Thảo thể hiện đơn sơ và tự nhiên như chuyện cỏ mọc
trên đời này: “Mấy đứa trẻ con ngồi ngay trên xác xe tăng bứt cỏ gà chơi
trò “chọi gà” quen thuộc của chúng. Những người yêu nhau nằm trên cỏ, mãi sau
này giây phút thơm mùi cỏ ấy sẽ đi vào đời họ như một trong những kỉ niệm đẹp
nhất. Và thằng em tôi năm nay hai mươi tuổi, em nằm giữa trảng cỏ, miệng ngậm cỏ
may, đối diện với buổi chiều ở một dòng sông xa lạ. Cả buổi chiều và em đều im
lặng. Bây giờ em ở đâu? Tôi biết, chiến tranh chẳng phải trò chơi, mùa xuân ấy
đang chuẩn bị những trận tiến công quyết định. Em mới hai mươi tuổi, trong mắt
em, cọng cỏ tầm thường bỗng lấp lánh” (Cỏ vẫn mọc). Vậy đó, cỏ bình thường
trên mặt đất trẻ chơi, nơi bờ sông em tôi nằm bỗng cứ “lấp lánh”, cứ “bắt ánh
trăng”, cứ “lóe lên vệt sáng”. Rõ ràng, Cỏ trong thơ Thanh Thảo mọc lên từ đất,
trải ra mặt đất ngút ngàn xanh và cứ mãi lấp lánh sáng lên như những tia chớp từ
trời.
Phần Lửa
đỏ xin được bắt đầu bằng “ly rượu trắng”:
“Ly
rượu trong hồng lên cùng kí ức
“Ly rượu
trong” làm “ký ức hồng lên” và biến thành “ngọn lửa của chính cuộc đời”. Cái
lôgic thơ đi chầm chậm như rượu thấm kéo theo một lôgic sắc màu vừa lạ lẫm, đối
nghịch lại vừa vô cùng giản đơn và quy luật: Trắng trong - hồng lên - ngọn lửa.
"Ly rượu" hóa thành "ngọn lửa". Thủy - Hỏa tương khắc là
quy luật của Ngũ hành, còn quy luật của thơ, có khi tương khắc được lôgic hóa
theo lý lẽ riêng của xúc cảm con tim; uống ly rượu vào lòng cũng chính là
đang uống vào lòng ngọn lửa.
“Muốn
xác định vị trí của một nhà thơ, bao giờ cũng phải trả lời câu hỏi, nhà thơ ấy
đã đem đến cho nền văn học tư tưởng gì mới mẻ, đã làm giàu thêm suy nghĩ của
người đọc như thế nào. Đó là vấn đề khó khăn nhất và cũng nghiệt ngã nhất đối với
người cầm bút... Những tài năng trẻ xuất hiện trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ
đã đem đến những tiếng nói mới lạ góp phần làm đổi mới thơ ca. Đặc biệt thể loại
trường ca nở rộ trong thời gian vừa qua là một đóng góp quan trọng của các nhà
thơ trẻ, trong đó, Thanh Thảo là một cây bút tiêu biểu” (2). Đây là một đánh
giá khá xác đáng về vị trí của Thanh Thảo trong tiến trình hiện đại hóa thơ ca.
Cần phải
nhắc lại rằng, ngay những bài thơ đầu tiên của Thanh Thảo xuất hiện năm 1972:
“Một người lính nói về thế hệ mình”, "Thử nói về hạnh phúc" từ chiến
trường miền Nam gửi ra, đã làm xôn xao diễn đàn văn học miền Bắc
lúc bấy giờ. Xôn xao vì cách nói táo bạo, cách lột tả chiến tranh đúng sự thật
nó vốn có, một kiểu nói lạ chỉ thấy ở Thanh Thảo. Cách nói ấy, vào thời điểm ấy,
rõ ràng là không phải ai cũng có thể chấp nhận được. Và Thanh Thảo đã “bị đánh
tơi bời” ngay lần đầu tiên xuất hiện. Cũng nhờ “ngọn lửa” mà Thanh Thảo đã giữ
lửa cho thơ mình đi đến thành công:
“Thế
hệ chúng tôi bùng ngọn lửa chính mình
soi sáng đường đi tới
... Lúc ấy chân trời
là lưng người đi trước
vụt lóe lên qua ánh chớp màn mưa”
Nếu có
ai hỏi vì sao anh vẫn tồn tại được? Anh sẽ đọc lại hai câu thơ như một cách trả
lời đầy thuyết phục:
“Vì
ngọn lửa chịu sình là lửa thực
đã bùng lên
dám cháy tận sức mình”
Đúng
là, đặt những câu thơ này vào thời điểm đó mới thấy hết “lửa thơ” của Thanh Thảo:
“Một
thế hệ thức nhiều hơn ngủ
xoay trần đào công sự
xoay trần trong suy nghĩ
đi con đường người trước đã đi
“xoay
trần đào công sự” thì tốt, “thức nhiều hơn ngủ” cũng rất tốt, “đi con đường người
trước đã đi” thì quá tốt. Nhưng... “xoay trần trong ý nghĩ” là khó chấp nhận, lại
đi “bằng rất nhiều lối mới” thì rõ ràng không phải ai cũng chấp nhận vào thời
điểm bấy giờ.
Thế
nhưng, bằng cách “cháy bùng ngọn lửa chính mình”, Thanh Thảo ngày càng vững tin
giữ lửa cho thơ với tất cả cái gai góc, trần trụi của thế hệ mình bằng một tư
duy thơ độc đáo:
"Chúng
tôi không muốn chết vì hư danh
không thể chết vì tiền bạc
chúng ta lạ xa với những tin tưởng điên cuồng
những liều thân vô ích
đất nước
đẹp mênh mang
đất nước
thấm tự nhiên đến tận cùng máu thịt
chỉ
riêng với Người, chúng tôi dám chết !"
(Thử
nói về hạnh phúc)
Lửa đỏ
trong thơ Thanh Thảo không chỉ là lửa thực hay ngọn lửa tinh thần ta thường gặp
mà anh còn sáng tạo ra những biểu tượng lửa rất lạ như “nước rực cháy”, “trái
tim dòng sông bốc cháy”, rồi “mặt trời như trái dừa lửa kỳ lạ/ treo trên đầu
tất cả chúng ta”...
Thiếu
Mai, trong một bài viết giới thiệu về Thanh Thảo đã nhập đề: “Thơ Thanh Thảo có
dáng riêng. Đọc thơ anh, dù chỉ mới một lần, thấy ngay dáng ấy. Nó đủ sức gây
chú ý và gợi suy nghĩ. Riêng tôi, lần đầu tiên tiếp xúc với thơ Thanh Thảo, thấy
dấy lên trong lòng những xao động, mà có điều lạ là mình chưa thể phân tích rạch
ròi những sắc thái tình cảm của mình ngay như thường khi đọc thơ của nhiều tác
giả khác” (3). Cảm nghĩ của Thiếu Mai cũng được Nguyễn Trọng Tạo đồng tình
trong bài “Chợt ghi về mấy nhà thơ cùng thời”: “Thơ Thanh Thảo không sờ mó được.
Nó là những tia chớp từ trời cao làm hiện lên lung linh tất cả sự vật chung
quanh ta vốn chìm trong bóng tối bí mật, rồi vụt tắt sau những khoảnh khắc”
(4)...
Đúng
là Lửa, là "cây lửa", là "tàn lửa" cháy lên từ đất nhưng
cũng là sự "tung tóe" của "sao băng" phát xuống từ trời:
“Những
cây lửa hừng lên trong đêm mất ngủ
Tàn lửa như sao băng tung tóe khắp trời”
(Dấu chân qua trảng cỏ)
Vẫn là
một đối lập lôgic rất Thanh Thảo. Rồi từ ngọn lửa của cuộc khởi nghĩa Ba Tơ
(11/3/1945) ở Quảng Ngãi, Thanh Thảo lại chuyền lửa đi qua từng số phận:
“Ngọn
lửa
một đêm thiêu rụi đồn Ba Tơ
đã nén lại chuyền sâu vào từng số phận”
và dữ
dội hơn cả lửa:
“tiếng
nổ vỡ ra những dòng nham thạch
vọt lên từng khối lửa khổng lồ”
Ngọn lửa
cát lại càng dữ dội hơn:
“Cát
không đau
ngỡ tình cờ cát bùng lên ngọn lửa” (Bùng nổ của mùa xuân)
Thơ
thanh Thảo là thơ “phát sáng”, lửa ẩn trong thơ và thơ chứa lửa: “Ấy là khoảng
khắc vĩnh cửu khi nhà thơ thành chiếc cầu thông hai cõi những khát vọng mà cái
chết cũng không dập tắt nổi đã cháy lên ngọn lửa và ngọn lửa tìm thấy khoảng
chiếu sáng qua những dòng thơ” (Trò chuyện với nhân vật của mình).
Cơ hồ
như anh nhìn đâu cũng tìm ra lửa dù cả trong hoàn cảnh phủ trùm bóng tối, cả
trong sông nước phương Nam: “Từ những cây bần ven bờ, đom đóm chớp
sáng vệt lửa xanh” (Cỏ vẫn mọc). Rõ ràng lửa đóm lập lòe cũng biến
thành tia chớp, vệt sáng, nhưng biểu tượng của anh hoàn toàn có lý bởi vì đó là
“vệt lửa xanh”.
Có tiếng
chớp xé giữa trời, ai biết lửa phát từ trời hay lửa bùng lên từ đất:
“Cơn
sấm rền chớp xé tầng mây
lúa phất cờ đứng dậy
những hàng cây bùng cháy” (Đêm trên cát)
Gọi tư
duy thơ Thanh Thảo là tư duy “thơ vệ tinh” chính vì lẽ đó. Có đôi lúc Thanh Thảo
reo lên như một phát hiện lạ:
“tôi
đã thấy trong tia chớp
Những
“tia chớp”, “vẻ rạng rỡ”, “ánh ngày”, “rừng - lá - sáng” rồi lại những “óng
ánh”, “chớp sáng”, “những ngọn sóng”... đã khiến thơ Thanh Thảo đầy những tín
hiệu từ trời:
“những
con cá bơi cả vào giấc ngủ
những ngôi sao vàng óng ánh tiếng cười
cứ thả mãi bóng bay dù tôi biết
chúng vỡ tan khi chạm phải nền trời
năm tháng đường đời xa dần tuổi nhỏ
một phút nào tôi thầm gọi mùa thu
mùa thu ơi
chớp sáng đầu ngọn mác” (Bùng nổ của mùa xuân)
“bỗng
tiếng gà như sóng
vỗ tràn qua không gian
... ban mai rồi sẽ tới
như dòng sông lao xuống từ trời” (Đêm trên cát)...
đến cả
mùa xuân, anh cũng có kiểu nói “rất vô tuyến truyền hình”: “mùa xuân của
sóng âm và hơi” (Khối vuông ru bích)...
Gửi gắm
tâm trạng mình vào Cao Bá Quát, bằng phép đồng hiện mà có người gọi là “hiện tượng
nhập hồn” (hồn Cao Chu Thần nhập vào Thanh Thảo phát ra trường ca "Đêm
trên cát" độc đáo), nhà thơ ra lệnh: “Hãy đứng lên ngọn lửa” và:
“Ta thích hoa phượng
cháy tận cùng ngọn lửa
dù phải thiêu đốt cả mùa hạ” (Đêm
trên cát)
“Khối
vuông ru bích” là trường ca cuối cùng và là đỉnh cao của anh trong ý thức cách
tân kết cấu nghệ thuật trường ca bằng sự trộn lẫn các loại hình nghệ thuật độc
đáo (kiểu của chủ nghĩa hậu hiện đại) với một cấu trúc hoàn toàn mở (kiểu của
lý thuyết tiếp nhận hiện đại). Ở đây, người đọc được quyền tham gia sáng tạo
cùng tác giả qua trò chơi ru bích. Tùy theo sở thích từng người tham gia vào
“cuộc chơi”, khối ru bích sẽ được xếp đặt theo ý thích riêng mình. Cứ thế, mỗi
người một ý, tự do tham gia vào kết cấu tác phẩm trên khối vuông chung của tác
giả xếp đặt. Khi xoay, khối vuông sẽ chuyển động thành tròn, kiểu cấu trúc vòng
tròn mở của trò chơi ru bích này trong trường ca hiện đại Việt Nam có lẽ duy chỉ
mình Thanh Thảo táo bạo sử dụng làm nền cho kết cấu trường ca. Thơ trong “Khối
vuông ru bích” không đơn giản là thơ văn xuôi như ta thường nghĩ. Mà nó là một
loại thơ, tôi tạm gọi là “thơ tích hợp thể loại”, vừa là văn xuôi, vừa là điện ảnh,
vừa là kịch, vừa là hội họa, vừa là âm nhạc... tất cả cùng xoay tròn và tạo nên
một kiểu thơ “tích hợp” độc đáo, mới lạ. Và đây là lần xoay thứ 32 của anh -
xoay ra Lửa đỏ: “Tôi xoay những ô vuông. Tôi cần gì ư? Có thể cần tất cả,
có thể chỉ cần cành củi để nhen lên ngọn lửa khi thiếu lửa. Một màu rơm tươi gọi
nhớ mùa gặt, mùi vỏ bào dẫn ta về những cánh rừng mùa khô, khoảng trống nhỏ đủ
hình dung bầu trời, thoáng nhìn của ánh chớp, định hình sự vật mà nó soi sáng,
một bông hồng dầu dãi không tàn úa giữa những bố cục kỳ quặc nhất của thế kỷ hai mươi. Chúng ta xoay mình trên đất, trên gỗ, trên sắt thép, trên giấy, trên
con người... chúng ta xoay còn nhanh hơn ru bích trong bàn tay nhà vô địch” (Khối
vuông ru bích)...
Còn và còn rất nhiều những đoạn thơ
hay về Cỏ xanh và Lửa đỏ, nhưng có lẽ với bao nhiêu đó trong phạm vi một bài viết
nhỏ, tôi tin rằng bạn đọc sẽ nhận ra cái lạ của một hồn thơ và tin vào cái âm
thầm, bí ẩn, vĩnh cửu của Cỏ xanh và cái tia chớp vệ tinh thơ chói ngời Lửa đỏ
trong một kiểu tư duy thơ khá độc đáo, kết hợp một cách lôgic những cái đối lập
tưởng chừng như không thể kết hợp được. Điều này thể hiện rõ ý thức cách tân
thơ trong quá trình góp phần hiện đại hóa thơ ca của anh: “Nghệ thuật Thanh Thảo
tiếp nối dòng thơ kháng chiến Việt Nam, thành hình từ năm 1945: vần điệu
phóng túng, từ ngữ hiện thực, nhưng hình ảnh trí tuệ hơn, tư duy tân kỳ hơn.
Thanh Thảo thuộc một thế hệ tác giả khác, rung cảm, suy nghĩ, hạnh phúc, khổ
đau một cách khác. Trong dòng sử thi thế giới, thơ Thanh Thảo bi tráng, vừa
hùng tráng vừa bi thảm. Vinh quang cận kề chết chóc, đầu hàng, hủy diệt. Thánh
tích, thương tích và phế tích bên bồi bên lở, lớp lớp chồng lên nhau. Tiếng người
thành giọng hát, lời ăn tiếng nói ngày thường thành lời hát. Bài hát tình cờ,
biến những hạt máu, hạt mồ hôi, hạt cát, hạt sao thành những hạt giống” (5).
(1), (4)- Nguyễn Trọng Tạo, Văn chương cảm và luận, Nxb
VHTT, Hà Nội, 1998
(2)- Trần Đình Sử, Trần Đăng Xuyền, “Suy nghĩ mới về nhân dân
trong “Những ngọn sóng mặt trời” của Thanh Thảo”, Văn nghệ (số 23
ngày 4/6/1983)
(3)- Thiếu Mai, “Thanh Thảo, thơ và trường ca”, Tạp chí
Văn học (2), 1980
(5)- Đặng Tiến, Thanh Thảo, (Bài giới thiệu tại Hội
thảo thơ quốc tế Hà Lan) - Lấy từ mạng internet, 2004.
Quảng Ngãi, 2009
Mai Bá Ẩn









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét