Để trở thành nhà thơ, tất nhiên là phải có tài. Nhưng khi nói
đến nhà thơ, người ta thường nghĩ đấy là người có tình, có tâm. Điều này ở Xuân
Diệu rất rõ... Cô đơn… Xuân Diệu Trong văn, trong chữ của anh thì mài giũa, nhưng trong đời vì
sống thật lòng nên nhiều lúc vụng về khiến ai một lần bắt gặp, nghĩ lại thấy
thương. Tính anh cởi mở: được đại sứ quán nước ngoài mời cơm - khoe. Đi đọc thơ
thu vô tuyến truyền hình - khoe. Cơ quan nào mời đi nói chuyện thơ - khoe. Vào
Sài Gòn, hoặc đi nước ngoài về, mua được thứ gì - khoe. Được người ta mời nước
mía - khoe. Giữa toa tàu chật ních trong đêm, nhờ người khách nhận ra tiếng
mình mà nhường chỗ trong khi đang bị người khác chen lấn - khoe. Và tất nhiên, viết được bài thơ mới là anh sốt sắng đọc khoe.
Cái nết dễ mến, dễ gần của Xuân Diệu, dù nghe anh khoe đấy mà người nghe không
thấy chướng. Trong cư xử, Xuân Diệu rất có tình, rất đời. Ai cho gì, từ miếng
ăn, gói quà - nhớ. Ai đối xử tệ bạc - buồn, nhưng cố quên! Không có ý trả đũa.
Điều anh nhớ là thế nào cũng tặng lại người đã cho mình một món quà lớn hơn!
Không phải vì anh có dư dả hơn, mà cái tính anh nó thế. Khó có thể hình dung được
nhà thơ lớn, tên tuổi như thế, hào hoa như thế, khi ta gặp, ở nhà lại ngồi so
hai chiếc áo may ô rách, xem lấy cái nào để vá vào cái nào. Khó có thể hình
dung người vinh quang có thừa ấy có lúc cũng chờ một tiếng gõ cửa của bất cứ
ai. Từ một thi sĩ cô đơn, Xuân Diệu đã hướng thơ mình về đại
chúng. Trái tim anh mở rộng trước cuộc đời dào dạt, sống thực với con người bằng
giao cảm xương thịt như vậy, nhưng vì sao thơ anh chặng này không còn hút người
đọc như thuở Gửi hương cho gió, như thuở Thơ thơ? Câu hỏi này bỗng làm tôi đau
nhói bên lòng. Cả một chặng đời dài đi về ngôi nhà 24 Cột Cờ, nơi Xuân Diệu đã
có câu thơ “treo cổng” để ngỏ lòng mình: Nhà tôi 24 Cột cờ/ Ai thương thì đến,
hững hờ thì qua. Tôi là kẻ không hững hờ đi qua, nhưng sao lúc ấy nông cạn thế,
mỗi lần về đây tôi chỉ có ý nghĩ, chỉ có niềm vui được gặp “nhà thơ nổi tiếng
Xuân Diệu”, không thấy được nỗi cô đơn đời anh, gần như suốt một đời đơn lẻ, sống
một mình lo từng manh áo, bát cơm, thiếu hẳn đôi bàn tay ấm áp, dịu dàng, yêu
thương của cuộc sống mà người đời vẫn có. Anh thiếu hẳn những niềm vui bình thường
của hai buổi sớm chiều chồng ngồi nhặt rau, vợ đang chụm lửa… Cái góc bếp tương
mắm, vại cà, kịt đen bồ hóng, khi ánh lửa reo lên cùng mùi khói cay lan tỏa, nó
bừng dậy tình cảm cuộc sống làm nên hơi ấm gia đình, nó nuôi sống đời người, hồn
người. Không có nó, dù có cả tình yêu non sông, đất nước, có cả nhân loại chăng
nữa, cũng không hề thay thế được. May thay, ngày vĩnh biệt anh, giữa hàng trăm vòng hoa, tôi được
chứng kiến một bó hoa trắng trong, mối tình trinh nguyên của người phụ nữ đặt
trên quan tài anh. Khi hỏi ra tôi mới biết, đã từng có người đàn bà kiều diễm
yêu anh, về sống cùng anh ở ngôi nhà 24 Cột Cờ, rồi chia tay… Vậy là Xuân Diệu
đã có và mãi có một mối tình thật đẹp. Và “Một Xuân Diệu thơ” chứa chan khao
khát bỏng cháy khôn cùng. Thơ ta, thơ tây Một buổi chiều tan tầm, tôi về thăm Xuân Diệu. Anh như vừa
qua một cơn đánh vật với chữ nghĩa, những giọt mồ hôi đang rịn rịn trên mặt, giấy
bút còn bề bộn trên bàn. Quyển Từ điển Pháp Việt đã ngả màu trên tay. Tôi chào,
anh ngẩng đầu: “Em về đấy à! Anh đang mệt nhoài ra đây, em pha nước anh em mình
cùng uống”. Tôi nhanh nhẹn cho chè vào ấm. Anh đứng dậy ra khỏi bàn làm việc,
lên tiếng: “Anh đang giúp anh Tố Hữu dịch tập thơ ra ngoài nước. Suốt mấy ngày
nay làm việc gấp để kết thúc cùng chị chuyên gia nước ngoài. Chiều nay, dịch
bài thơ dài nhiều đoạn, ý kiến bỗng vấp nhau. Em có biết thế nào không. Bài thơ
hàng chục đoạn mà chị ấy chỉ lấy một đoạn bốn câu. Anh “đấu tranh”, chị ấy bảo
rằng: “Anh Xuân Diệu ơi, ở Pari, người Pháp người ta chỉ đọc, chỉ mua bốn câu
này là đủ!”. Em thấy không, thơ anh Tố Hữu các anh còn phải học tập mà còn thế
đấy, huống hồ các “cây bút trẻ” các em, liệu mà rèn luyện, chứ cứ viết tự
nhiên, dài dài, thiếu cấu tứ chặt chẽ thì… - anh thè lưỡi, lắc đầu nguầy nguậy…
- thì mong sao mà tiến lên được!”. Tôi ngồi ngây, trận đồ bát quái của thơ khó đến thế vậy,
chúng tôi lớp đàn em làm sao mà vượt được lên? Bây giờ, thêm tuổi cầm bút, tôi càng thấy rõ khẩu vị thơ Ta
và thơ Tây thật khác xa, do hoàn cảnh địa lý, lịch sử, trình độ, tầm sống con
người mỗi dân tộc, qua nếp sống hàng nghìn đời đã tiếp nối, thay đổi, kế thừa
mà nên. Nhưng nhìn vào lẽ chung của ngọc và thơ, bỗng thấy cái ranh giới thơ
phương Đông, phương Tây thật sự không có gì phải bận tâm, bởi suy cho cùng,
trái tim khao khát của con người dù ở phương trời nào khi đập đến tận cùng khát
khao yêu thương, hạnh phúc thì cũng giống nhau. Những trái tim được “trời cho”
để làm thi sĩ, làm người hát rong cùng nhân loại trên trái đất này, tự nó sẽ bật
lên được những lời ca say đắm, tự nó sẽ tìm được lối đi, tìm được cung bậc
riêng cho khúc hát của mình để tỏa sáng như con trai ngàn năm chịu muối biển để
sinh thành nên ngọc. Xuân Diệu - Con người thơ vỗ cánh Gần ba chục năm được đi về 24 Cột Cờ, tôi cũng đã chứng kiến
bao buồn vui trong cuộc sống, trong mỗi trang văn của Xuân Diệu. Nhưng lạ lắm,
trong cả những phút giây ấy, bao giờ tôi cũng thấy ở Xuân Diệu thường trực một
con người thơ sẵn sàng vỗ cánh. Tôi cũng đã chứng kiến chi tiết Trần Đăng Khoa vẽ cảnh Xuân
Diệu bóp cơm nguội cho vào chảo rang, nhưng là để đơn giản thời gian nấu cơm
khi vắng u già giúp việc. Lần ấy, rang cơm xong, anh vét thành hai bát và giục:
“Cơm rang phải ăn nóng, ăn nhanh kẻo nguội!”. Nhưng rồi vừa xúc được một thìa,
anh dừng bát kể lại chuyện buổi trưa ở cuộc họp người ta trình bày thứ thơ ấn
tượng, thơ trừu tượng phương Tây mà họ chẳng hiểu gì. Xanh Giôn-péc-xơ viết được: Những đám mây như những mảng thế kỷ trôi qua… Anh cũng viết
được: Trái đất ba phần tư nước mắt/ Đi như giọt lệ giữa không trung. Dứt câu
chuyện, cơm nguội hết. Có lẽ, chân dung mỗi con người bao gồm từ lúc lọt lòng mẹ, đi
học, vào đời rồi thành đạt, trẻ trung, khi thất bại, già nua… Vậy chân dung anh
là lúc nào đây? Cộng cả lại hay tách biệt từng chặng? Và chân dung nhà văn phải
chăng là ngọn lửa trái tim luôn đốt sáng lên thành câu chữ, gợi lại những cảm
hoài ấm nóng trong lòng người đọc khôn nguôi… Làm sao chụp được sự tinh tế
khuôn mặt Xuân Diệu giây phút: Đã nghe rét mướt luồn trong gió/ Đã vắng người
sang những chuyến đò. Vào năm Mỹ leo thang ra miền Bắc, tôi đang làm việc ở một đội
thanh niên xung phong trạm cơ giới Dốc Đỏ - Uông Bí - Quảng Ninh, Xuân Diệu đạp
xe từ Hà Nội xuống thăm và chơi với tôi cùng Phạm Gia Bình và Nguyễn Mạnh Tuấn
(sau này là tác giả của Đứng trước biển và Cù lao Chàm). Chiều trên đồi bạch
đàn vắng lặng, anh em đi dạo, bỗng Xuân Diệu nắm chặt tay tôi đứng lại… “Lặng
im, lặng im nghe sơn ca hót!...”. Lúc này, tôi mới nghe được dòng âm thanh
trong trẻo rót xuống tự trời cao. Chú chim đang chao lượn trên vòm trời xanh thẳm.
Chắc là chú ta say mê lắm nên cứ rót tràn cái giọng vàng của mình, chẳng cần
hay biết đến người nghe. Vụt trong tôi lại nhớ đến câu thơ tựa đề: Tôi là con
chim đến từ núi lạ, ngứa cổ hót chơi... Hót chơi mà làm say hồn người, nghe đến chết mê, chết mệt và
chú ta cứ thế lao lên, lao xuống giữa khoảng tít mù không cần biết vì say mê đến
thế, có thể kiệt sức, có thể bất ngờ lao vào núi đá dưới kia. Cả hình ảnh Xuân
Diệu trước khi vào cõi vĩnh hằng, ông chỉ định đến viện Việt Xô khám sức khỏe
thường kỳ, không ngờ, bác sĩ nói là có triệu chứng cao huyết áp nên giữ lại điều
trị. Trước đêm ông ra đi, buổi chiều, tôi còn nghe Xuân Diệu chuyện trò: “Ra viện,
anh sẽ bay sang báo cáo đề tài văn học phương Đông ở Viện Hàn lâm Cộng hòa dân
chủ Đức, nơi đã bầu anh làm viện sĩ, rồi còn dự định thơ anh dịch ở Hung, ở
Pháp… còn ối công việc đang chờ, anh chưa chịu gãy cánh đâu”. Xuân Diệu trong mắt tôi là vậy, tươi tắn, nồng ấm, cả đến những
giây phút cuối cùng vẫn mơ giấc mơ vỗ cánh trẻ trung.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét