Mưa thu nhớ tằm 1
Phượng vịn hàng rào của trại y xá nữ để ngắm ánh nắng mai
chơi giỡn trên pho tượng Phật sứ đặt giữa bồn bông ở sân nhà thương, bên kia
hàng rào, tức bên ngoài của sân trại y xá.
Tuy sự thưởng ngoạn của nàng có đối tượng, nhưug tầm mắt nàng vẫn đi xa hơn, vượt
khỏi con suối chảy qua trước những dãy trại bịnh để rình cổng nhà thương.
Phượng đã cố gắng đau ốm một chứng bịnh lặt vặt để được đưa ra nằm ở trại y xá
nầy, dành riêng cho những con bịnh mắc những chứng bịnh nhẹ khác hơn là chứng bịnh
chánh của họ là bịnh điên. Những con bịnh bị lao phổi hay cùi lại được đưa sang
những trại đặc biệt nữa.
Trại y xá nữ xây cất trước mặt các trại khác, trông thẳng ra sân lớn của bịnh
viện, và là một tiền tiêu trinh sát lý tưởng để điểm những cuộc ra vào cỗng nhà
thương.
Nàng rình cái cổng nầy đã bốn tháng nay rồi, từ sáng đến chiều mỗi hôm, suốt một
trăm hai mươi ngày dài đăng đẳng mà không thấy bóng người mà nàng mong đợi, vào
qua nơi đó.
Ở dưỡng trí viện nầy có ngót hai ngàn con bịnh, nhưng chỉ có bốn mươi người vừa
nam vừa nữ là trông ngóng như Phượng thôi. Đó là những người khỏi bịnh mà chưa
được ra nhà thương vì một lý do bí mật nào mà họ không được rõ.
Bao nhiêu người khác, đang chìm đắm trong chốn u minh của vô thức, không chờ đợi
ai cả.
Đó là sự chờ mong dai dẳng có lẽ kéo dài cho đến ngày họ hóa đá vọng phu.
Dưỡng trí viện đặc biệt dễ dãi về sự thăm viếng, bất kỳ giờ phút nào trong
ngày, xin vào thăm người bịnh cũng được cả, chớ không có thời dụng biểu cho các
cuộc viếng thăm như ở các nhà thương khác trong nước, cốt để khuyến khích người
nhà không chặt đứt cây cầu liên lạc giữa họ và các con bịnh, thế mà người thăm
viếng cũng quá thưa thớt.
Người điên bị kẻ thân yêu bỏ quên chăng ?
Thật ra, Phượng chỉ mới trông chờ từ hơn hai tháng nay thôi. Lúc vừa ra khỏi giấc
mơ dài, nàng chưa nhớ hết mọi việc, biết rằng mình mắc tâm bịnh và vừa khỏi, chỉ
có thế thôi.
Lần lần thức giác trả ra những kỷ niệm cũ và, ráp lai bao nhiêu kỷ niệm ấy,
nàng khôi phục lại được dĩ vãng của nàng.
Cuộc tái thiết quá khứ nầy không phải là không đau đớn vì nàng xây dựng nó trên
một nền móng nặng nề căm hận.
Cái nền móng ấy là cái đêm cuối cùng của khoảng đời trước của nàng mà nàng thức
suốt sáng sau khi Nam, chồng nàng, ra đi với một thiếu phụ mà nàng biết chắc là
nhơn tình của hắn.
Nam đã ngoại tình từ lâu rồi, và Phượng đã từ lâu rồi ngấm ngầm đau khổ nhưng
không hề dám hở môi vì hắn võ phu như một tên vô lại.
Nhưng cái bất lịch sự đêm đó của hắn mới là vố đánh tàn nhẫn cuối cùng nó làm
chấn động cả tâm thần nàng. Uất khí bị dồn ép nhiều ngày, đêm đó đã đầy ứ và
tàn phá cả tri giác của nàng.
Ngược dòng thời gian, Phượng nhớ ra rằng nàng là nuột thôn nữ trôi giạt lên
Saigon vì chiến tranh. Nàng học nghề làm thợ may ở một hiệu khâu đầm đường
Catinat.
Nơi đó, nàng gặp Nam, một anh thơ ký đánh máy ở một hiệu buôn gần đó. Hai người
yêu nhau, lấy nhau, ăn ở với nhau hơn ba năm trong đầm ấm rồi thì Nam đổi dạ
thay lòng.
Cái đêm cuối cùng ấy là một đêm mưa dầm của năm 1951, nàng nhớ như vậy và cứ bằng
theo lịch năm nay thì mười hai năm đã qua rồi, và nay nàng đã băm ba tuổi.
Khi nhớ hết mọi việc, và nghe bác sĩ phụ trách các trại phụ nữ cho hay nàng đã
khỏi bịnh, Phượng xin ra nhà thương.
Nhưng vị bác sĩ ấy nói: "Đồng ý nhưng phải đợi chồng chị lên rước."
Phượng không chú ý đến tiếng Phải trong câu nói ấy bao nhiêu và bằng lòng vời lời
bác sĩ, nàng chờ đợi.
Người điên bị kẻ thân yêu bỏ quên chăng ?
Người thăm viếng thưa thớt quá. Một con bịnh được đưa vào đây, tháng đầu người
nhà còn tới lui để nghe ngóng tin tức hoặc để nhìn lại gương mặt thân yêu đã
hóa ra ma dại, xem nó có tươi tỉnh lại được phần nào chăng.
Tháng sau đó, họ bắt đầu lơi vào ra rồi thì một khi kia, họ không vào nữa. Bịnh
kéo dài lâu quá mà con người ai cũng phải sống.
Phượng hỏi thăm mấy bà giám thị kỳ cựu và biết rằng nàng cũng ở trong trường hợp
đó. Tệ hơn nữa, ba tháng sau khi nàng vào đây, chồng nàng không đến để đóng
thêm tiền nhà thương, nên bịnh viện buộc lòng đưa nàng xuống hạng bố thí từ ấy
những nay.
Phượng chờ đợi, nhẫn nại như pho tượng Phật sứ trước mặt nàng, và như đấng lừ
bi đại độ ấy, nàng sẵn sàng tha thứ người chồng có lỗi mà nàng còn yêu như là
vào những ngày đầu mới gặp nhau.
Nhớ lắm, nhớ người con trai ấy lắm ! Phượng ý thức rằng bây giờ hắn đã khá cao
niên - hắn lớn hơn nàng năm tuổi, tức đã băm tám rồi - nhưng nàng không tưởng
tượng nhiều về gương mặt của hắn bây giờ mà chỉ thấy trong trí một sắc diện
tươi trẻ, hình ảnh cuối cùng mà nàng đã ghi ký và còn giữ được trong lòng nàng.
Phượng chờ đợi và ngày nào cũng thất vọng khi thấy trong những người khách qua
cầu không có Nam.
Cầu đây là chiếc cầu gỗ bắt ngang qua suối mà khách vào thăm phải qua đó để đến
các trại bịnh.
Có thể là Nam đã thay đổi nhiều, nhưng chiều nghiêng của mặt người thì hình
bóng phải bất di, bất dịch, mà từ y xá trông ra cầu, luôn luôn thấy phía
nghiêng của mặt khách quá kiều.
Nàng theo dõi họ ngay từ lúc họ vừa bước qua cổng, đứng lại đó giây lát để xin
phép thủ môn. Nhưng nàng chỉ hồi hộp thôi vì họ còn xa quá, chưa phân biệt được
ai là ai.
Qua mấy lùm cây, Phượng nhìn họ tiến đến cầu và đầu cầu phía ngoài là nơi mà hằng
ngày nàng nghe lòng tan rã ra từng mảnh.
Có một lần, cách đây một tuần lễ, nàng hỏi vặn vị bác sĩ trẻ tuổi phụ trách các
trại phụ nữ:
- Thưa bác sĩ, tại sao lại Phải đợi chồng tôi lên rước ? Nhà thương nào cũng cứ
hễ khỏi rồi thì cho về chớ ! Tôi có phải là trẻ con đâu ?
Ông bác sĩ tuy còn trẻ lắm, nhưng có vẻ khá chững chạc. Tuy nhiên ông ta đã bối
rối trông thấy rồi ủ ớ những gì không nghe được, đoạn bỏ đi, khiến Phượng đâm
nghi.
Nàng nghĩ rằng cỏ lẽ ông ta làm khó làm dễ nàng để ăn hối lộ. Nàng định bụng sẽ
tìm bác sĩ giám đốc để kêu oan, nhưng chưa biết phải hành động thế nào cho khôn
khéo để tránh sự trả thù của kẻ bị nàng "lột lặt nạ". Lột mặt nạ là
thành ngữ mà nàng nghĩ trong bụng và sung sướng trước mà thưởng thức bước xuống
của vị y sĩ không liêm chính đó.
Như hôm nào, hôm nay Phượng cũng lại phải thất vọng. Từ sớm đến giờ, có ba người
khách đàn ông vào đây. Nhưng họ toàn là nông dân, có lẽ từ các tỉnh xa đến, chớ
không có ai có vó thầy bà gì như Nam hết.
Không hiểu sao, hôm nay Phượng nhớ quá, không phải chỉ nhớ Nam mà thôi, mà nhớ
cả xã hội bên ngoài, vui đẹp không biết bao nhiêu.
Không, nàng không phải là một thiếu phụ băm ba mà là một cô gái vừa ngoài hai
mươi, vì nàng đã ngưng sống từ cái tuổi đó. Vì thế mà nàng yêu cuộc đời với tất
cả tấm lòng con gái hai mươi của nàng, tấm lòng ấy chưa nếm đầy đủ cuộc đời nên
cứ còn thèm khát.
Nhưng dãy rào dây kẽm gai bao quanh bịnh viện làm cho dưỡng đường giống một trại
tập trung. Thêm vào đó, những tiếng la hét, những tiếng rú rợn rùng của những
con bịnh điên loạn dữ làm cho người tỉnh kinh khiếp quá.
Không, người lành mạnh không thể ở chung với người cuồng trí được, trừ phi những
nhà chuyên mồn họ có phận sự thì không kể; vả họ không ở chung hẳn với người
điên như nàng, vì sau giờ làm việc, họ về với gia đình họ, tuy cũng quanh quẩn
trong vòng rào, nhưng an ủi họ được phần nào, còn nàng, nàng nghe trơ trọi một
thân đến muốn... điên trở lại.
Phượng bỏ hàng rào; thơ thẩn đi trong sân trại y xá và bỗng thấy ông hác sĩ trẻ
tuổi ra khỏi trại phía sau đó, theo sau là sáu con bịnh và một người nữ giám thị
khoẻ mạnh.
Mặc dầu không ưa người y sĩ liêm chính khả nghi mà nàng định đi thưa gởi với bề
trên, Phượng cũng muốn nịnh ông ta, vì chưa chống lại được với hắn thì nịnh hắn
là thượng sách.
Nàng bước ra sát hàng rào bên hông trại y xá, dọn miệng để ông ta đi ngang qua
đó thì xá một cái và chào: "Bẩm Quan Lớn !"
Quả ông bác sĩ đi ngang qua đó. Nhưng phượng chưa kịp mở miệng thì ông ta đã mỉm
cười và hỏi:
- Chị Phượng có siêng hay không ?
Đó là một dịp rất tốt cho nàng nịnh, nhưng bị hỏi bất chợt, Phượng bối rối, ú ớ
một hơi lồi đáp một cách lúng túng:
- Da... ơ... bẩm... con... sẵn lòng...
- Đừng xưng con với tôi. Chị có muốn làm việc thì ra khỏi trại đi theo tôi đây.
Ông bác sĩ đi mau quá, vả lại ông đi trước, nên Phượng ra khỏi vòng rào, chỉ
giáp mặt với sáu con bịnh đi làm "khổ dịch" thôi.
Phượng nhận ra đó là Phật Bà Quan Âm, một chị trạc bốn mươi, cứ tưởng mình là kẻ
đã thọ cái hàm oan to nhứt lịch sử nhân loại, đã đi tu và thành chánh quả; kế
đó hai cô gái, một cô cứ thấy ai dặt ống dòm để ngắm cô ta, còn cô thứ nhì thì
luôn luôn thấy trước mặt một cục lửa. Hai cô đó bị ảo ảnh ấy suốt một năm trời
thì loạn tâm, được gia đình đưa vào Dưỡng trí viện nầy, con bịnh thứ tư tự xưng
mình là nữ bác sĩ, rồi không hiểu sao, sau một thời gian được điều trị, chị ta
tự hạ bệ và tự xưng là nữ y tá và là má của bác sĩ trưởng trại phụ nữ; con bịnh
thứ năm chỉ làm thinh và ngồi yên trong phòng bịnh, bị giám thị đuổi ra sân để
chị ta thở không khí trong lành, chị ta tiếp tục ngồi yên ngoài sân; con bịnh
thứ sáu là một nữ tài tử ca nhạc, tối ngày ca vọng cổ không ngớt miệng, ca đến
khan tiếng mà không chịu thôi.
Đó là những con bịnh gần lành, hoặc mới vào nhưng không nặng. Họ không nguy hiểm,
nên họ ra khỏi vòng rào mà chỉ có một người giám thị đi theo họ, mà bà nầy đi
thong thả như đi dạo mát một mình.
Bác sĩ đã đi đến bờ suối và dừng chân lại đợi họ.
Đoạn suối chảy ngang qua vùng đất Dưỡng trí viện ngày xưa nước trong và đẹp lắm,
vì thuở ấy khu nầy là khu rừng rú.
Giờ thì trên giòng nước, trên xóm Hố Nai, mọc lên nhiều xóm mới đông đúc nên nước
suối không trong trẻo được nữa.
Tuy nhiên nhờ ở đây hai bờ suối được cẩn đá nên trông đỡ bẩn hơn nơi các đoạn
suối khác.
Xa xa, những bực đá được xây trong thành đá để xuống suối múc nước, và ông bàc
sĩ ấy đứng nơi đầu một thang đá gần bồn bông có đặt tượng Phật sứ ở giữa.
Ông ta nhìn dòng nước giây lát rồi day lại thì các con bịnh vừa tới nơi.
Hai con bịnh nhảy ùm xuống suối từ bờ cao, như lông rông ở các hồ tắm.
- Nước nóng quá bà con ơi !
- Huơ làng xóm, tôi chìm xuồng ! Cứu tôi !
Phật Bà Quan Âm thì dừng chơn trước pho tượng Phật bằng sứ và nói:
- Ê, rua nghen bồ !
Hai cô gái thấy ống đòm và thấy lửa ngồi phệt lên bờ đá mà nhìn nước trôi. Có lẽ
cảnh mát mẻ ở đây giúp họ mất được ảo ảnh hay sao mà xem ra họ vui tươi lắm.
Trong khi đó thì người nữ tài tử ca nhạc, dựa mình vào một gốc dừa trồng dựa bờ
suối rồi cất tiếng khàn khàn để than vản: "Úy trời đất ơi ! Bến Tầm Dương
đêm nào Tỳ Bà nỉ non đưa khách..."
Người nữ giám thị tới sau hết, tay xách một chiếc gàu bằng tre trét phân trâu.
Gàu nhỏ, cỡ chứa chừng năm lít nước thôi, còn mới nguyên, có lẽ đặt làm riêng để
thích ứng với một công việc đặc biệt nào không rõ, chớ gàu thường thì bé lắm
cũng lớn bằng hai gàu nầy.
Ông bác sĩ hỏi người nữ giám thị:
- Tôi dặn đưa ra mười người, sao có sáu người hè ?
- Thưa bác sĩ, mấy người kia điên nhiều quá, không biết làm việc, chỉ có sáu
người nầy là chịu nghe lời.
Bác sĩ châu mày:
- Chị lại hiểu lầm nữa ! Tôi không biết tại sao chị không ráng mà hiểu một điều
rất giản dị là dưỡng đường không có ý muốn và không có quyền khai thác lao lực
của các con bịnh. Bắt họ làm việc thuộc vào một trị liệu mới phát minh, gọi là
công tác trị liệu, như vậy chính những người không tỉnh mới cần được tập luyện
làm việc để thích ứng con người của họ trở lại với những trật tự, kỷ luật của đời
sống bình thường.
Còn tôi đã cấm hẳn chị dùng tiếng "điên" trong nhà thương nầy, tiếng ấy
dễ làm chấn động tâm thần của những con bịnh còn khá tỉnh, hoặc vừa khỏi, sao
chị không nghe ?
Bây giờ chị đã hiểu chưa ?
Người nữ giám thị ngơ ngác trước những ý niệm lộn xộn đó, và chỉ nhe răng ra mà
cười.
Ông bắc sĩ lắc đầu. Nhẫn nại, ông ta day xuống suối và dõng dạc hô to, tay chỉ
con bịnh đang la làng cầu cứu:
- Đi lại bực thang !
Con bịnh đang lặn hụp dưới suối, đứng dậy và ríu ríu thi hành cái lịnh mà y thị,
vì yếu đuối tinh thần, vâng lời một cách máy móc.
Đoạn ông ấy sắp các con bịnh khác thành một sợi dây chuyền người, dài từ giữa
lòng suối lên tới bồn bông, tượng phật, Phật Bà Quan Âm đứng cạnh bồn bông, còn
bà nữ bác sĩ tự hạ bệ thì ngâm mình dưới nước suối cao lên tới háng bà ta.
Bấy giờ người y sĩ trẻ tuổi mới nhìn Phượng mà rằng:
- Công vệc là như thế nầy: họ múc nước bằng gàu, trao cho nhau để chuyền gàu nước
lên tới bồn bông. Nhưng tôi đã thất bại năm lần rồi, vì họ đã quên phản ứng
đúng của con người thường. Để tôi cho họ diễn lại cách họ làm sai cho chị xem.
Nào, thảy gàu cho họ đi.
Người nữ giám thị, thay vì thảy gàu cho nữ y tá giả hiệu đón bắt, lại ném gàu
vào người của bà ta.
Nhưng ông bác sĩ không chỉnh nhân viên vì ông biết con bịnh ấy không thể hứng
được chiếc gàu.
Bà ta chỉ chụp thôi vì bị nó bay đến chạm vào bụng bà ta.
- Múc nước ! Bác sĩ lại hô lớn.
Bà ấy vâng lời người chỉ huy.
- Trao cho người trên !
Cái chị la làng khi nãy, đứng trên bực đá cuối cùng, rước lấy gàu nước, nhưng lại
trao trả cho người dưới suối.
- Ấy đó, bác sĩ nói với Phượng, hoặc họ làm như vậy, hoặc họ tự xối lên đầu họ
để tắm, hoặc ném xuống giòng suối, nếu ta không ra lịnh từng giây từng phút.
Giờ cốt tập thế nào cho họ hành động đúng mà ta khỏi sai khiến gì cả. Ban đầu họ
chỉ đúng một cách máy móc cũng đủ rồi, nhưng lần lần họ sẽ đúng vì kỷ luật, rồi
sau đó thì đúng vì ý thức phần nào.
Mai nầy, chị sẽ được ra khỏi bịnh viện, vậy đâu chị giúp chỉ hụy họ thử xem để
chứng tỏ rằng chị đã khỏi hẳn.
Phượng cả giận nói giọng sân si:
- Tôi không cần phải chứng tỏ gì nữa hết. Ông không cho ra, tôi sẽ đi kiện ông.
Sở dĩ Phượng dám phản đối mạnh như vậy, vì nàng chắc bụng rằng người y sĩ nầy
không còn làm khó dễ gì nàng được nữa, bởi cho về là do thượng lịnh của bác sĩ
giám đốc, mà ngày về là ngày mai thì tức thượng lịnh đã ra rồi, không sửa đổi
được nữa.
Bác sĩ bình thản nói:
- Đây là một sự hợp tác cầu vui, chị là người cứ đòi về mãi nên tôi chú ý đến
chị, sẵn thấy chị đứng đó, gọi chị ra đây chơi vậy thôi, chớ còn việc nầy tôi
làm cũng được, và chị giám thị đây làm cũng được. Vậy chị từ chối hẳn chớ ?
Phượng hối hận khi biết ra là nàng chỉ được yêu cầu hợp tác cho vui thôi nên
đáp:
- Xin lỗi bác sĩ, tôi vui lòng hợp tác.
- Vậy cứ thử xem.
Phượng suy nghĩ mấy mươi giây và chợt thấy rằng nàng cần bị thử thách lắm,vì
nàng không biết phải hành động cách nào ngay.
Nhưng rồi nàng cũng nghĩ ra và bước tới, đi xuống các bực thang cho đến nấc
chót.
Bác sĩ lại hô:
- Múc nước lên !
Bà nữ y tá tưởng tượng lại múc nước. Phượng chỉ làm thinh, đưa tay ra tỏ vẻ muốn
rước lấy gàu nước, bà kia hiểu ý, trao gàu cho nàng mà không đợi lịnh nữa.
Họ hành động đúng y theo lịnh, nếu lịnh không cũ quá. Mục đích là làm thế nào
cho họ không cần cái lịnh mới ràng ràng ấy nữa, chớ cỡ hô lại "Trao cho
người khác" là họ làm được ngay, nhưng họ làm như một cái máy.
Phượng trao gàu cho người bên cạnh rồi lẹ như chớp, nàng chạy lên đứng án ngữ nữa
người đó và người thứ ba, và cũng đưa tay như khi nãy và con bịnh thứ nhì cũng
hiểu ý nàng.
Phượng cứ tiếp tục áp dụng chiến thuật đó cho đến lúc gàu nước tới tay Phật Bà
Quan Âm nàng mới phải sai khiến một lời:
- Tưới bông !
Bây giờ, hớn hở vô cùng, Phượng hỏi bác sĩ:
- Có cần tôi nữa không ông ?
- Chưa, để họ thử lại một mình xem.
Chỉ có hôm nay, Phượng mới biết hồ nghi về sự khỏi hẳn của nàng lúc phải suy
tính cách thức làm việc và nàng sung sướng lắm vì tự tin được nơi mình rồi.
Công việc bắt đầu trở lại, nhưng gàu nước qua tay được ba người thì người thứ
tư lại dùng nước ấy mà tưới cỏ mọc ở ven bờ suối.
- Có tiến bộ. Đủ cho bữa nay lắm rồi, bác sĩ nói, đoạn nhìn Phương mà thêm:
"Chị theo tôi vào văn phòng."
Trong khi vị y sĩ trẻ tuổi trở gót vào trại thì người nữ giám thị tập hợp các
con bịnh lại để đưa họ thay y phục vì phần đông ướt hết áo quần bởi cầm gàu vụng
về.
Mấy bộ bà ba bằng vải tám màu ngà ngà xám xám vì lủn củn nên tay chơn của con bịnh
nào cũng ló ra ngoài rất dài.
Khi Phượng bước vào văn phòng thì thấy ngồi sẵn nơi đó một nữ nhơn viên của nhà
thương mà nàng nghe mấy nhơn viên khác gọi là cô nữ cán bộ xã hội.
Cô ấy đứng dậy chào bác sĩ rồi nhìn Phượng, hơi bối rối y như ông bác sĩ đã bối
rối ngày bị nàng hỏi vặn mấy câu.
Phượng đứng trước bàn giấy của nhà chuyên môn mà chờ. Ông ấy chỉ làm thinh mà lật
hết xấp hồ sơ nầy đến xấp hồ sơ khác, có vẻ không xem gì, chỉ lật để giết thì
giờ thôi.
Tay ông ta run run, mặc dầu ngày thường, đó là hai bàn tay khá rắn chắc. Ông ta
đã dám vào buồng của một con bịnh dữ một mình, nói là theo phương pháp mới, con
bịnh nầy làm thinh suốt tám tháng từ ngày vào bịnh viện đến cái hôm mạo hiểm ấy
của bác sĩ.
Phượng đã bắt đầu mất bình tĩnh. Nàng xoa hai tay vào nhau, đổi thế đứng, cựa
quậy như bị kiến cắn. Ông bác sĩ xếp tập hồ sơ cuối cùng lại, thở dài rồi ngước
lên, nhìn thẳng vào mắt Phượng mà nói:
- Mai nầy chị sẽ ra khỏi nhà thương...
- Cám ơn ông bác sĩ.
- ....Nhưng không phải là để về nhà đâu.
Thất vọng và hoảng sợ, Phượng tái mặt, nuốt nước bọt một hơi mới hỏi được:
- Nhà thương đưa tôi đi đâu bác sĩ ?
- Chị là người thường thắc mắc, hay đòi hỏi, nên chúng tôi thấy cần giải thích
rõ, chớ mấy con bịnh khác mà đã khỏi như chị, họ nhẫn nại chịu số phận, tôi
không phải cắt nghĩa gì hết.
Cứ theo pháp luật thì chồng chị đã đưa chị vào đây thì chỉ có chồng chị mới có
quyền lãnh chị ra. Nhà thương không được để chị tự do về nhà một mình.
- Vì vậy mà tôi đợi chồng tôi nhưng đã lâu quá rồi.
- Cô Huệ à, đã tới phiên cô nói.
Người nữ cán bộ xã hội quýnh quíu lên, nhưng trấn tỉnh được phần nào và cũng nuốt
nước miếng mấy lần mới bắt đầu được.
- Chị nè, phận sự của tôi là viết thơ về cho chồng chị để mà anh ấy lên rước chị.
Nhưng dưỡng đường đã gởi ba bức thơ ra mà không nghe tin tức gì của anh ấy hết.
Tôi đoán rằng anh nầy đã dời chỗ ở, hoặc đã... đã... đã qua đời rồi cũng nên...
Nghe tới đây, Phượng lại tái mặt, trống ngực đánh thình thình, cuối xuống nhìn
gạch chớ không dám ngó cô Huệ nữa.
Người nữ cán sự xã hội tiếp:
- Dưỡng đường mới thử gởi một bức thơ bảo đảm và đợi nửa tháng. Thơ không bị trả
lại...
Phượng ngước mặt lên, tươi tỉnh trở lại.
- Thế nghĩa là anh ấy còn sống và còn ở tại nhà cũ.
- Nhưng từ ấy những nay, chúng tôi cũng không được tin tức gì của anh ấy hết.
- Lạ quá, Phượng nhận xét.
Thấy cô Huệ nghỉ nói rất lâu, người y sĩ trẻ tuổi giục:
- Dầu sao cũng phải nói cho hết. Cô nên gắng lên.
Cô Huệ tằng hắng một cái cho thông giọng:
- Nhà thương cũng ngạc nhiên và sốt ruột ít lắm cũng bằng chị và dưỡng đường
không dư dả để nuôi mãi bao nhiêu người đã lành hẳn rồi. Tôi không đủ phương tiện
đi tìm chồng chị; nhưng tôi có nhờ một người bạn thân thay thế tôi để làm công
việc ấy.
Bạn tôi có gặp chồng chị, có yêu cầu anh ấy rước chị nhưng anh ấy chỉ lắc đầu
chớ không chịu nói gì cả.
Phượng vụt rống lên mà khóc và kể trong tiếng khóc:
- Trời ơi, chồng tôi bỏ tôi rồi ! Chắc anh ấy đã có vợ khác rồi !
Đoạn gạt nước mắt bằng tay áo, nàng hỏi cô nữ cán sự xã hội:
- Cô có thấy...
- Không, bạn tôi, người Saigon, gặp anh ấy thay cho tôi.
- Ờ, vậy bạn cô có thấy anh ấy có vợ khác hay không ?
- Tôi không biết điều đó.
Bỗng khủng khiếp đến tột độ, người thiếu phụ không may hỏi gặng vị y sĩ trẻ tuổi:
- Thưa bác sĩ, bác sĩ nói sao, theo luật pháp thì chỉ có chồng tôi được quyền
rước tôi ra à ?
- Ừ.
- Trời ơi như vậy là tôi bị chồng tôi bỏ tù đến chung thân rồi !
Nói xong nàng té quỵ xuống gạch rồi ngã lăn trên nền nhà mà kêu khóc:
- Trời ơi ! Ai cứu tôi ! Bác sĩ ơi, ông xuống phước cứu giùm tôi, tôi có tội
tình gì ?
Cả hai nhơn viên nhà thương, một nam một nữ, đều quay nhìn nơi khác, không đủ
can đảm nhìn cảnh tượng thương tâm đó nữa.
- Trời đất quỉ thần ơi ! Tôi tội tình gì mà bị chung thân khổ sai ? Ông ơi, thầy
thuốc ơi, ông biết vậy, sao ông không để tôi điên luôn, có phải đỡ khổ cho tôi
hay không. Trời ơi, sao chồng tôi lại tàn nhẫn như vậy !
- Anh ấy có thể không ác lắm, và anh ấy làm thế, có lẽ chỉ vì không biết điểm
pháp luật đó mà thôi.
Thình lình kẻ tuyệt vọng vùng ngồi dậy thật lẹ rồi đứng lên; y thị đập lên mặt
bàn của bác sĩ rầm rầm mà rằng:
- Tôi phản đối cái luật nầy, cái luật bỏ tù khổ sai chung thân kẻ vô tội. Ông
thầy thuốc nè, tôi sẽ kiện tới bên Tây.
- Nước nhà độc lập đã lâu rồi, độc lập từ năm chị mới nhuốm bịnh, ông thầy thuốc
nói.
- Tôi sẽ kiện tới nước nhà, tôi sẽ kiện nhà thương, tôi sẽ kiện ông.
- Tôi chỉ là một người thừa hành thôi, chớ tôi không hề làm luật.
- Ai làm ra luật, Tây hay ta ?
- Không biết, tôi còn trẻ tuổi lắm. Có lẽ luật nầy có đã lâu đời, do người Pháp
để lại. Nhưng chắc các nhà lập pháp của ta sẽ sửa đổi. Chỉ có họ là có quyền sửa
đổi thôi.
- Trời ơi, ngoài đời không có một người nữ công dân là Bùi Thị Phượng, trong
nhà thương, không còn con bịnh nào tên Bùi Thị Phượng nữa hết, thành ra tôi
không có trên đời nầy, tôi đã chết rồi, tôi là một cai xác không được chôn.
- Chị nên bình tĩnh. Tôi giải thích mọi việc cho chị rõ để chị nhận giải pháp tạm
thời sau đây nó giúp chị đỡ khổ phần nào, chị nên nghe tôi nói tiếp, chớ kêu
gào vô ích.
Mệt lã người, Phượng ngồi phệt xuống chiếc ghế mà cô Huệ đã rời khi nãy, nàng
tiếp tục khóc khi ông y sĩ tranh bày.
- Ông bác sĩ giám đốc dưỡng đường nầy thỏa thuận với chánh quyền địa phương gởi
các người qua Viện bác ái đằng Hố Nai...
Phượng tấm tức tấm tưởi hỏi:
- Viện Bác ái đó ra làm sao ?
- Đó là một nông trại mà các vị linh mục lập ra để giúp những người già cả, bịnh
tật có nơi dung thân.
Bác sĩ giám đốc đã xin với bên ấy nuôi các người mặc dầu các người không già cả,
cũng không tàn tật.
Qua bên ấy, các người được hưởng cái lợi nầy: các người sẽ được nuôi nấng tử tế
như ở đây, mà hơn thế, các người còn được tiền, vì các người sẽ trồng rau trồng
cải và bán mà thâu lợi lấy, chớ viện không lấy bớt đồng nào.
Nếu dưỡng đường có quyền cho chị ra đi nữa, chị cũng không thể sống được. Chị
vô gia cư, vô thân quyến, lại mất hẳn thói quen, tài giỏi ngày xưa, bước đầu chị
sẽ ra sao ?
Ở Viện một ít lâu, chị sẽ có vốn, và khi nào dịp may đến là chị ra đời mà khỏi
bỡ ngỡ, khỏi túng thiếu.
Thế nào, chị nhận chớ ?
Thổn thức, Phượng đáp:
- Thưa, tôi còn biết làm sao nữa !
- Tốt lắm. Vậy mai nầy dưỡng đường sẽ đưa chị qua Viện Bác ái với băm tám người
khác, Người thứ bốn mươi là người may mắn, vào phút chót, được vợ hứa với bịnh
viện sẽ rước y về. Y nằm ở đây đã mười lăm năm rồi, ở nhà chắc có những thay đổi
trong gia đình mà người hôn phối của y phải thanh toán khó khăn lắm và may cho
y quá là rốt cuộc vợ y cũng sắp xếp được.
Ra khối văn phòng bác sĩ, Phượng đi thất thểu như một cái xác không hồn.
Bỗng nàng thấy một con bịnh đàn ông chạy bay đi như bị chó điên rượt, và sau
lưng y, bảy tám con bịnh khác đuổi theo, miệng la:
- Nó trốn, bắt lấy nó !
Cảnh nầy diễn ra rất thường trong nhà thương. Có một số con bịnh, tuy loạn trí,
vẫn còn một tối thiểu ý thức là phải ở trong vòng bịnh viện, trốn đi là phạm lệ
dưỡng đường, và họ tự động rượt bắt người đồng thuyền mà nổi loạn của họ, đỡ
tay cho các giám thị không biết bao nhiêu.
Phượng thở dài mà than thầm: "Họ còn điên, nhưng họ hành động đúng. Cái thằng
chạy trốn ấy, hắn về ngoài đời, hắn sẽ ra sao ? Biết còn ai chịu nhìn nhận hắn
để cho hắn ăn cơm và mặc áo ?"
Trưa hôm sau, vào khoản mười giờ sáng, những người giám thị của dưỡng trí viện
Nguyễn Văn Hoài có phận sự hộ tống băm chín con bịnh đã lành hẳn qua Viện Bác
ái Hố Nai, trở về với tám người bịnh cũ đi đứng như thường và một khiêng trên một
chiếc băng ca tạm thời, làm bằng áo quần và hai cây nọc, theo lối cứu cấp giữa
đường của các hướng đạo sinh.
Giây lát sau, dưỡng trí viện được biết rằng Viện Bác ái kiểm định lại của cải
vào phút chót và thấy rằng chỉ nuôi nổi ba mươi miệng ăn thôi, nên trả lại bịnh
viện chín người.
Trong số chín người bị trả lại có Phượng. Trên đường về, nàng đã lao mình vào một
chiếc xe du Iịch đi Đà-lạt. May quá, xe hãm kịp và chỉ dụng nàng té gãy cẳng
thôi.
Phượng không khóc lấy một tiếng. Hy vọng cuối cùng của đời nàng đã tiêu tan rồi
thì nàng không còn thiết đến sự sống và đến những cơn đau đớn nữa !
Ho lao muôn năm
Vừa ra khỏi hiệu thuốc tây, Thảo đã bắt đầu băn khoăn:
"Có nhiều thằng bạn nó sợ vi-trùng lao như sợ cọp, chàng nghĩ, và sẽ không
dám đi ăn uống với mình nữa ! Được, rồi chúng nó sẽ biết tay mình, mình sẽ bắt
chúng nó khiếp đảm một bữa chơi cho bỏ ghét."
Chàng rất sung-sướng mà sắp đặt một trò chơi ác hiểm: chàng mời chúng nó đến ăn
nhậu, và gần cuối bữa ăn, sẽ giả đò than thân trách phận, mang thuốc ra để làm
bằng chứng rồi nói tạch hoạnh cho chúng nó biết rằng chàng ho lao nặng lắm. Thật
ra, chàng chỉ mới bị nám phổi thôi, nhưng nói là đã ho ra huyết cả lít, chúng mới
hoảng.
Trả xong mối thù tưởng-tượng đó, chàng lại băn khoăn về phản ứng của vợ chàng:
Nó sẽ dửng dưng chăng ? Như thế chắc mình tủi thân lắm ! Nó sẽ la hoảng lên vì
sợ tốn tiền ? Thì mình sẽ tức lắm ! Nó sẽ lo mình chết chăng ? Thì mình càng tức
hơn vì như vậy là nó làm cho mình mất bình tỉnh, sự bình tỉnh rất cần cho lành
bịnh."
Bỗng chàng bật cười. Thì ra vợ chàng nghĩ làm sao, chàng cũng chẳng vừa lòng cả.
Có bất công hay không chớ ?
Thảo nghe thích thú trong lòng lắm. Chàng có đọc nhiều sách nói về tâm trạng kẻ
ho lao: thay tâm đổi tánh kỳ dị, hay hờn mát, hay nghi kỵ, hay ghen ghét và khó
tánh là bực nhứt trên đời. Chàng cảm thấy chàng có đủ những tật xấu ấy và nghe
thích thú vì ý thức được về chính chàng.
°
Về tới nhà, Thảo rón rén như đứa trẻ vừa phạm lỗi, sợ mẹ la rầy.
Vợ chàng đang lui cui làm cơm dưới nhà bếp, nghe chàng về hỏi với lên.
- Bữa nay anh không đi lại sở à ?
- Thi hồi sớm, anh nói anh đi bác-sĩ, em quên rồi hay sao ?
- Em nhớ, nhưng em cứ tưởng là đi bác-sĩ xong anh vẫn lại sở chớ.
Thảo nổi giận, nhưng dịu lại ngay. Phải, chàng chỉ nói là mệt xoàng, thi nàng
biết đâu mà lo với lắng.
Chàng đặt gói thuốc lên bàn, toan đi cởi giày thì Liên đã rửa tay và lên đến
nơi.
- Dữ ác hôn ! Bịnh gì mà nhiều thuốc dữ vậy ?
Liên vừa cười vừa mở gói thuốc để xem. Thảo sung sướng nhìn vợ, thấy người bạn
đời của chàng đẹp quá và nhất là dễ thương quá. Ăn ở với nhau đã bốn năm rồi mà
Liên không có con, lên còn trẻ được như cô gái ngây thơ mấy năm trước.
Chàng khổ sở quá mà đoán thấy sự sầu muộn nơi Liên, khi nàng biết căn bịnh của
chồng, sự sầu muộn có thể làm cho nàng già đi, hoặc mất đi những nét vui tươi
đã giúp đời chàng say sưa từ nấy năm nay.
Chàng hồi hộp rình vợ mở gói, và khi những lọ Streptomycine lăn ra bàn, chàng
nín thở để đo phản ứng trên gương mặt của Liên.
Liên ngạc nhiên giây lát, rồi tần ngần trước những chiếc lọ to quá đối vơi dúm
bột trắng trong ấy. Biết rằng vợ đã hiểu, nhưng cũng chưa rõ lắm về ý nghĩ của
nàng ra sao, chàng hỏi:
- Em buồn lắm không ?
Lên ngước lên nhìn chồng, đoạn bước lại ngả đầu vào ngực bạn mà thỏ thẻ:
- Em buồn hay vui về bịnh của anh, nào có ích gì. Nhưng em buồn, em buồn vì anh
đã không nghe em, làm đủ cách để mang bịnh nầy.
Sôi gan lên, Thảo sừng sộ hỏi gằn:
- Anh làm gì mà em gọi là đủ cách ?
- Thì anh đã thức đêm, đi lạnh ngoài trời, chúa nhựt lại không nghỉ.
Thảo nhớ lại mọi việc trước đó thì là Liên nói đúng. Chàng hố hận lắm, không vì
đã làm bậy mà vì đã gay gắt với vợ một cách bất công. Chàng nói, giọng hàm ý
van xin tha thứ:
- Thì đã lỡ rồi...
- Chớ em có nói sao đâu. Đã lỡ rồi thì...
- Em chỉ buồn có bấy nhiêu đó thôi à ? Thật như vậy à ?
Liên lại thở dài:
- Kể ra thì ho lao còn đỡ khổ hơn bịnh khác nhiều lắm. Nếu anh bại xụi trẻ con
chẳng hạn thì em thật không biết nghĩ sao.
- Vầy à ? Bịnh nầy hay lây thì ghê gớm hơn chớ.
- Không phải em buồn hay sợ vì tánh cách truyền nhiễm của bịnh. Chuyện khác
kia.
- Bịnh khác có gì làm cho em buồn ?
- Anh có nhớ phim "Không phải lỗi chàng" mà mình đã xem cách đây năm
năm hay không? Lúc ta mới gặp nhau và anh đang ráo riết chinh phục em ấy. Ấy,
chính phim đó đã khiến em do dự đến sáu tháng trời mới chịu trao thân cho anh.
Thảo cười ngất:
- Bà ơi, phim chiếu bóng, người ta xem bữa trước rồi bữa sau quên đi chớ. Tội
gì phải nhớ mãi đến năm mười năm như bà. Nhưng đâu, câu chuyện làm sao, bà nhắc
lại thử xem.
- Khoan, cá cháy hết !
Liên nói rồi vội vã chạy xuống nhà bếp. Thảo lắng tai và nghe một thứ tiếng xèo
xèo đặc biệt, gắt chớ không dòn, của mỡ chiên đang cạn trên một ngọn lửa quá
già. Đồng thời mùi cá cháy hăn hăn bay lên.
Chàng mỉm cười lẩm bẩm: "Chuyện phim năm năm thì nhớ, còn việc chiên cá
còn nóng hổi lại quên.
Khi Thảo cởi giày xong thì Liên cũng vừa trở lên. Nàng trách:
- Anh hời hợt lắm. Chuyện như thế mà quên được.
- Nếu cần phải nhớ tất cả tích tuồng chuyện phim đã xem thì anh phải sắm một
cái đầu to bằng cái lu mới đủ chứa.
- Em chắc lớn đầu lắm hả ?
Hai vợ chong cùng cười xòa, rồi Liên kể: "Chuyện bà ấy bị bại xụi suốt mười
năm. Ông chồng, ban đầu còn sốt sắng săn sóc vợ nhưng mãi rồi cực thân quá và
tuyệt vọng, ông ta muốn bỏ rơi một người bạn đời không lành kia.
Nhưng khổ ơi, bỏ rơi vợ lại sợ miệng đời cho là bất nghĩa, là không chung tình.
Mà để cái cục nợ ấy mãi trong nhà, chỉ cực với nó. Ông ta băn khoăn trong ít
lâu rồi quyết định ám sát người đàn bà không may đó. Ông lập mưu giết vợ, khéo
léo đến đỗi vị lương y của gia đình cũng phải ngỡ rằng bà ta chết thường vì hao
mòn sức khỏe và cho giấy chứng chỉ theo hướng đó."
- Ghê quá ! Nhưng anh thì chắc bụng không bao giờ giết vợ cả, nên anh không thèm
nhớ câu chuyện dị kỳ ấy là phải.
- Anh thì cứ tin chắc liền những gì mà chính anh cũng không rõ rồi sau nó sẽ ra
sao. Thử em tê bại ba năm thì biết. Em tủi cho số phận đờn bà chúng em, nên em
nhớ mãi phim rùng rợn đó.
- Nhớ thì mặc sức mà nhớ, nhưng chuyện đó dính líu ở chỗ nào với bịnh ho lao của
anh ? Bịnh anh đỡ khổ hơn ? Nghĩa là nếu anh bại xụi thì em lại giết anh ?
- Quỉ ! Em yêu anh mãi mãi. Vả lại cắt cổ gà mà em còn không dám, ngày chúa nhựt
nhờ anh cắt giùm, ngày thường chay mượn người khắp xóm thì em có phải là tay có
gan giết chồng đâu.
Câu chuyện ấy muốn chứng tỏ rằng thành kiến rất tai hại, và ông ấy vì sợ miệng
đời xét đoán ông ta theo thành kiến, nên đến phải phạm tội sát nhơn. Nếu bỏ rơi
vợ mà không bị ai nói ra nói vào, thì đâu có đến đỗi xảy ra những chuyện tàn ác
như vậy.
Nhưng riêng em, xem phim xong, một sự thật đau đớn bỗng bừng sáng lên nơi trí
em, là trong một xã hội quá tiến bộ về vật chất, con người bận sống quay cuồng,
không ai đủ thì giờ mà đợi ai lâu được cả. Xã hội tổ chức chặc chẽ quá rồi, như
một đàn kiến vậy. Có nhiều con kiến què phải nằm dọc đường, những con khác cứ
tiếp tục đi tới, dầu có thương bạn cũng phải nhắm mắt làm ngơ. Không, kiến
không có thì giờ để chần chờ ở lại với bạn. Vả lại làn sóng kiến ngoài sau cứ đẩy
tới hoài, muốn cưỡng lại cũng không được. Vậy thì tốt hơn là người vợ hay người
chồng đừng có mắc những chứng bịnh dây dưa lâu ngày quá, khó lòng cho bạn mình
hy sinh cả đời y cho mình, là vì sự kiên nhẫn và lòng thương của con người, dầu
lớn lao đến đâu cũng có hạn.
Xã hội nhơn đạo biết bao nhiêu, mà cũng chẳng chờ y. Người ta cất dưỡng trí đường,
cẩt nhà thương hủi, rồi người ta để y ở riêng đó, đoạn thờ ơ đi qua, bỏ quên y
ngoài lề cuộc sống.
Thảo trố mắt nhìn vợ, kinh ngạc hết sức. Đó là những sự thật không mới lạ gì,
thỉnh thoảng chàng cũng có nghĩ qua, nhưng giờ đây, Liên nhắc lại trong một trường
hợp mà chàng là kẻ có thể bị đoàn thể bỏ rơi, thi bỗng chàng nghe chua xót quá
và chát tai như một khám phá bất ngờ vừa đánh mạnh vào thần trí chàng.
Chàng tủi thân đau ốm quá, suýt rưng rưng nước mắt. Phải mạnh khỏe, hay chết
đi, hoặc bịnh gì cho dữ dội rồi lành, chớ đừng có rề rề từ năm nầy đến năm
khác, xã hội không thương lâu đã đành, mà cho đến người thân yêu cũng chẳng đủ
kiên tâm chờ đợi.
Có lẽ trong cái đoàn thể hữu lý ấy, chỉ có một kẻ vô lý thôi là bà mẹ, bà mẹ tiếp
tục đút cơm cho một đứa con sanh ra thiếu mất xương sống, nằm suốt đời và suốt
đời được cái bà vô lý ấy mớm cơm mãi cho đến lúc bà bạc đầu, mãi cho đến lúc bà
hấp hối, liếc nhìn đứa con tội nghiệp không biết rồi đây ai sẽ cho nó ăn uống
thay bà; bà chết không nhắm mắt vì cứ nuối con kiến què bị đoàn thể bỏ quên.
Thảo nhìn lại vợ. Người thiếu phụ ngây thơ nầy cứ còn đẹp và ngây thơ nơi gương
mặt như ngày nào. Nhưng không hiểu sao chàng có cảm giác như thoảng thấy lờ mờ
những sợi mây đen vắt ngang qua vầng trán trắng trong của vợ. Chàng quặn đau mà
nghe lòng tin của chàng nơi tấm tình không bợn của Liên bỗng bị lung lay. Té ra
Liên đã ý thức rõ rệt về cuộc đời, đã cảm nghĩ những ý nghĩ kỳ dị mà nàng vừa
nói ra. Ý nghĩ ấy, cảm nghĩ ấy làm cho tình yêu chồng của nàng bớt hồn nhiên
đi.
Thình lình, Thảo nhớ đến người lãnh tụ Cộng sản và nuột đảng viên trí thức
trong vơ kịch "Những bàn tay bẩn" của J. P. Sartre. Người lãnh tụ ấy
cho rằng một đảng viên Cộng sản mà suy tưởng nhiều quá là nguy hiểm.
Người vợ cũng thế. Nàng không nên suy tưởng nhiều. Nàng phải nhắm mắt mà yêu
không đắn đo, không suy nghĩ đến những chuyện không may và không hay có thể xảy
đến cho chồng. Nàng phải nhìn chàng và tự bảo thầm: "Em sẽ đi với anh trọn
đường trần."
Tay mân mê những lọ Streptomycine to lờn quá đối với đám hạt bụi trắng bên
trong, Liên lại tiếp:
- Em thì không khi nào bỏ rơi anh. Nhưng nếu anh mắc phải một chứng bịnh kinh
niên, rề rề từ năm nầy qua năm khác, thì xin thú thật rằng khó lòng mà em tránh
khỏi nghĩ quấy ! Đành rằng nghĩ mà không làm, thì không hại gì, nhưng dù sao
tình của em nhu thế cũng bớt đẹp đi. Thì có buồn không hở anh ? Vậy anh đau phổi,
em thấy tương đối may mắn lắm đó.
Thảo không còn biết nên cười hay nên khóc. Chàng nói đùa một cách vô duyên để
quên cái khó chịu nếu khí hậu suy tưởng cứ kéo dài:
- Vậy ta nên hoan nghinh bịnh ho lao phổi không em ?
Rồi chàng hô to lên.: "Ho lao muôn năm !" Không hiểu sao, sau lời
hoan hô ấy, chàng cười lên được, cười ngất đến chảy nước mắt.
Phải chăng đó là những giọt lệ thương cho sự mỏng manh của tình cảm loài ngươi
? Yêu nhau suốt đời ư ? Hy sinh vì nghĩa cả ư ? Lòng tin kiên cố nơi một lý tưởng
ư ? A ha, cái gì cũng có giới hạn cả. Núi mà còn mòn, sông mà còn cạn kia mà !
Và hòn đá vọng phu chỉ là ảo mộng của những anh chồng ích kỷ thôi.
Liên hơi sợ mà nghe chuỗi cười ghê rợn của chồng. Nàng càng sợ hãi thêm khi ngẩng
lên, nhìn thấy đôi con mắt Thảo cứ càng phút càng đỏ au và vẻ mặt hiền hậu của
chàng bỗng mang những nét hung ác lạ kỳ. Bấy giờ trông chàng như nuột con thú dữ
sắp sửa vồ một con mồi.
Thảo thoáng thấy hình ảnh láo khoét của hòn đá vọng phu rồi tưởng tượng đến sự
không trung kiên của người đàn bà, của Liên, và bỗng nổi cơn ghen, làm như là
chàng đã chết và nấm mồ chưa xanh cỏ thì Liên đã bắt đầu yêu người khác rồi.
Chàng giận dữ, nhìn bạn bằng đôi mắt căm hờn, rồi không giữ được, chàng bước đến
chụp lấy nàng, xòe tay ra toan bóp cổ vợ để trả thù sự phản bội vong hồn chàng.
- Anh, anh làm gì chớ ?
Tiếng kêu khủng khiếp của Liên đưa Thảo về thực tại. Trong một tình cảm hỗn độn,
chàng bỗng như hóa điên, hôn vợ một cách cuồng bạo như một kẻ toan hiếp dâm.
Liên nức nở lên khóc và nói trong.nước mắt:
- Anh thay tâm đổi tánh kỳ lạ lắm. Thấy rõ là vi trùng đã tác hại nhiều trong
cơ thể anh đến đỗi ảnh hưởng đến tâm trí anh. Anh nên sớm mà lo thang thuốc,
không thì nguy mất.
Nhơn sinh quan bao tử
Có lẽ chàng đói bụng, mong xe quá, ngỡ nó tới trễ, chớ xe lửa
Mỹ luôn luôn đúng giờ, không như xe Biên Hòa.
Chiều hôm qua, khi cậu Sáu giao cho chàng sứ mạng này, chàng hiểu ngay đó là một
việc tối qưan trọng, mặc dầu cậu Sáu không nói gì rõ rệt cả.
Sợ hỏng công việc tối qnan trọng nầy, chàng đành lùi bữa cà-phê thật sớm theo
thói quen của chàng lại, xong công việc sẽ hay.
Chàng đã hỏi cậu Sáu:
- Thưa cậu, cháu giao chìa khóa cho cậu được chưa ?
- Đáng lý gì cháu phải giao cho cậu khi cháu dậm vá sơn phết và trang trí xong.
Nhưng cậu cậy cháu giữ luôn cho đến sáng mai, để giao cho người tới ở đó.
- Cháu biết tìm họ tại đâu mà giao.
- Ậy, cháu cứ làm y theo lời cậu dặn đây. Chuyến xe lửa Mỹ Tho thứ nhứt trong
ngày, lên tới Saigon đúng bảy giờ sáng. Cháu đón họ tại ga...
- Té ra họ là người ở tỉnh lên ?
- Ừ. Đó là hai mẹ con. Bà mẹ trạc bốn mươi, đứa con gái mười tám. Họ xách hai
chiếc va ly và một trái sầu riêng. Cháu đến trước mặt họ, hỏi: "Bán sầu
riêng hay không ?" và họ sẽ đáp: "Cho không ông đây". Thế là
cháu mời họ lên tắc xi đưa họ vào đó, mở cửa cho họ vào rồi giao luôn chìa khóa
cho họ.
Thấy đứa cháu hơi ngạc nhiên, người cậu thêm:
- Ổng giao phó việc đó cho cậu, nhưng mai nầy cậu lại cần có mặt ở nơi khác,
nên mới nhờ cháu. Cậu đặt hết tín nhiệm vào cháu, cũng như ổng đã đặt cả lòng
tin cậy vào cậu, vậy cháu ráng giúp cậu cho suông sẻ, kẻo cậu mang tiếng.
- Ông nào, thưa câu ?
- Cháu đừng hỏi lôi thôi, cứ thi hành đúng chỉ thị của cậu.
Cậu Sáu chuyên chạy áp phe, nhứt là áp phe chính trị, sống bám vào nhiều chánh
khách, bắt buộc phải kín đáo, dè dặt, Tường rất biết điều đó nên thôi, không tò
mò nữa.
Tuần rồi, cậu Sáu của chàng sang căn phố đó ở ngõ hẻm Phạm ngũ Lão và đưa
chànng tới để sửa chữa, mua sắm đồ đạc và trang trí. Cậu nói:
- Cậu đã tốn hơn nừa tháng mới tìm được căn nhà lý tưởng nầy, nghĩa là trước
nhà là tường, không có nhà đối diện dòm ngó vào đây. Xong công việc, cậu lời được
hai mươi ngàn, còn cháu, cháu cũng kiếm được mười bảy ngàn.
Chàng mới ra nghề thầu khoán nhỏ, nhưng xui xẻo là Tây ùn ùn kéo nhau về Pháp,
công việc bỗng nhiên ít đi. Ngỡ phải giải nghệ thì vớ được món thầu nầy.
Cậu Sáu bận llám, giao cho chàng năm mươi ngàn để sắm bàn ghế, tủ giường. Biết
không phải của cậu, chàng ăn xén số tiền ấy và kiếm cũng được năm sáu ngàn. Cộng
với mười bẩy ngàn công thầu sửa chữa, trên hai vạn bạc ấy giúp chàng qua được
cơn hấp hối của một giai đoạn hết sức khó khăn.
Đứng một hơi, buồn quá, Tường thò tay vào túi rút tấm ngân phiếu ra xem. Đó là
ngân phiếu mười bảy ngàn trả công thầu mà cậu Sáu đã trao cho chàng chiều hôm
qua và chàng định lát nữa sẽ cầm xuống ngân hàng lãnh tiền.
Ngân phiếu đề "Au porteur", và trái chủ là ông X, một nhân vật tăm tiếng.
"Té ra cậu Sáu lo việc này cho ông X., Tường lẩm bẩm. À, mà ông X. nghe
đâu là người Bà Rịa, sao lại sang nhà cho người Mỹ Tho ? Bà con mà kẻ chơn trời,
người lại góc bể."
Cái sứ mạng đón người này, Tường đã thấy là hay hay ngay từ chiều hôm qua. Nó
giống như là chuyện trinh thám, chuyện gián điệp hay chuyện phiến loạn, cách mạng
gì ấy: trước nhà ga, kẻ đến và người đón không hề biết nhau lần nào, mà chỉ nhận
nhau bằng một ám hiệu, và kiểm soát lại ám hiệu ấy bằng một khẩu hiệu mà mỗi
bên phải nói ra phân nửa câu, hoặc một đối thoại. Thế rồi họ dẫn nhau đi, đến một
nơi vô cùng bí mật mà nhiều hiểm nguy đang chờ đợi họ. Rồi thì bắt đầu một cuộc
phiêu lưu vô cùng rùn rợn, ly kỳ. Nhứt là rất éo le gay cẩn vì trong cuộc phiêu
lưu nầy, có một em gái đẹp.
Cái tuổi hăm lăm hăm sáu của Tường bỗng dựng đứng lên một cốt chuyện rất là hấp
đẫn mà trong đỏ chàng thủ vai chánh, một vai chánh anh hùng, nghĩa hiệp, đầy tiết
khí, đánh tan cả mọi âm mưu của một bọn lưu manh giỏi tổ chức.
Chàng sụp hầm sau một trận thư hừng, hạ tất cả bao nhiêu tay dao búa, và chính
người đẹp mà chàng can thiệp để cứu nguy, chính cô ấy đã cứu lại chàng thoát khỏi
cái hầm bí mật đó.
Quyển tiểu thuyết ly kỳ, rùn rợn, gay cấn, éo le, xã hội, ái tình, trinh thám,
bí mật, chấm dứt bằng một cái hôn xi-nê-ma và Tường bật cười sau hình ảnh cuối
cùng trên màn bạc tưởng tượng cửa chàng, vì chàng vừa trở về thực tại.
Thực tại có lẽ giản dị không biết bao nhiêu. Ông X. có lẽ dọn nhà cho ông và vợ
con của ông ở, và hai phụ nữ mà chàng đón có lẽ là bà bếp mới và con của bà ta,
đi theo lên đây để tập sự làm con sen, chỉ có thế thôi.
Cậu Sáu dầu sao cũng là một tay ấp phe có tiếng thì lẽ nào cậu lại nhận cái phận
sự đi đón tôi tớ người khác cho dẫu là tôi tớ của ông bự. Vì thế mà cậu mới đẩy
cái công việc không mấy vinh diệu nầy lại cho chàng, để tránh tủi nhục nếu rủi
ro gặp bạn hữu lúc cậu đang làm phận sự.
Cất tấm ngân phiếu trở vào túi, Tường xem lại đồng hồ tay: 7 giờ kém năm. Độ nửa
tiếng đồng hồ nữa, chàng sẽ xong phận sự, đi ăn một bụng, và thích nhứt la đi
lãnh tiền. Trả công thợ, trả tiền vật liệu rồi, còn cũng được hơn bảy ngàn...
mà kìa, gì nghe văng vẳng như còi đằng xa ?
Phải, chính là còi xe lửa Mỹ. Hôm nay họ dùng đầu máy chụm lửa chớ không phải đầu
máy chạy dầu nên tiếng còi to lắm và đã nghe được lúc nó còn ở mãi đằng xa, đâu
đằng nhà hộ sanh Từ Dũ.
Xe đã tới. Một bà mẹ, một cô con gái ! Nhưng sao mà những cặp mà con nhiều quá
như thế nầy, Tường đã đếm được bốn cặp rồi, trong đó hai cặp có xách va ly, chỉ
thiếu trái sầu riêng thôi.
Cặp mẹ con thứ năm. Cũng không phải. Một cô gái xách hai tay hai trái sầu
riêng, nhưng lại không có mẹ, không va ly.
"Dữ hôn !" Tường kêu thầm lên khi thoáng thấy từ đằng xa dáng hai phụ
nữ gồm đủ mọi dấu hiệu cần thiết mà cậu Sáu đã tả.
Nhưng họ không cỏ vẻ gì là người đi ở cả. Cô gái xinh đẹp lạ kỳ, tướng đi không
quê một chút nào và ăn mặc thạo lắm. Khi họ ra gần tới hàng rào đầu ga, Tường đứng
ngoài nhận kỹ lại thì những gì chàng thấy đàng xa, lúc nhìn gần vẫn đúng.
Đây là một thiếu nữ mà ai thấy cũng không thể thờ ơ được, vì chẳng những nàng đẹp,
nàng lại có biệt sắc gì riêng, không thể nói rõ ra, nó phân biệt hẳn nàng với
bao nhiêu gái đẹp khác, một thứ hoa khôi trội hẳn tất cả mỹ nữ dự thi, cô nào
cũng đẹp mới dám có tham vọng được giải, nhưng chỉ có một cô là nổi bật lên
thôi.
Bà mẹ có vẻ một tay khá giả suy sụp. Cứ bằng vào bề ngoài, có thể đoán được bà
ta đã nhiều lăn lóc hồi thuở bà ta còn xuân xanh.
Tường không tiến lại cửa vì hành khách tuôn ra nơi đó rất đông, nói chuyện tại
chỗ ấy bất tiện lắm.
Hai mẹ con bước xnống công trường lót đá và đưa mắt tìm kẻ có phận sự đón họ. Bọn
bắt mối xe bu quanh họ và Tưởng phải vẹt bọn ấy ra. Chàng hỏi cái câu khiến
chúng ngỡ chàng toan tán tỉnh cô gái, nên chúng cười rộ lên:
- Bán sầu riêng hay không ?
- Cho không ông đây.
Bà mẹ trả lời như vậy và chàng xây lưng đi ngay và hai mẹ con lặng lẽ bước theo
chàng. Ra khỏi vòng vây của bọn bắt mối xe, bà mẹ hách dịch nói :
- Nè chú, chú xách hai chiếc va ly nầy coi !
Đích xác là không phải người đi ở. Người đi ở có thể vẫn có cái giọng hách dịch
đó, vì trước kia họ có thể là chủ nhân, thứ chủ nhân suy sụp vì thời cuộc,
nhưng họ không hề dám sai khiến một thanh niên mà họ ngỡ là người nhà của ông
X. Đồng nghiệp mà !
Tường rất bị mích lòng. Nhưng không hiểu sao, chàng lại vâng lởi và không đính
chánh ngộ nhận của bà mẹ song tàn nầy. Có lẽ giọng truyền lịnh của bà ta oai quả
mà chàng thì yếu đuối tinh thần nên không thể chống lại.
Bỗng một ý nghĩ trồng chàng giữa công trường trước nhà ga: cô gái nầy là một nạn
nhân của thói sa đọa của những tay trọc phú và đây là một bà mẹ rất cần tiền,
đem con mà dưng cho tay trọc phú ấy sau một cuộc thương lượng ngả giá và có lẽ
bà ta đã lấy phân nửa tiền rồi cũng nên.
Phải, ông X. là tay hảo ngọt có tiếng, chàng đã quên mất chi tiết có, và lão ta
có biệt thự chớ nào thèm dọn một căn nhà nhỏ trong ngõ hẻm cho vợ con như thế nầy
đâu.
Tất cả mọi chi tiết đều qui tựu để chứng tỏ lời ước đoán của chàng là hữu lý:
con sen nầy đẹp quá sức tưởng tượng và rất có tướng nữ sinh, giọng kẻ cả của
cái bà rất có thể là mẹ vợ nhảy dù, trẻ hơn chú rể lối bảy tám tuổi, cuộc đón
rước bí mật do trung gian đảm nhiệm để đánh lạc hướng bà vợ lớn, nếu bà ta có
sanh nghi là theo dõi, nhà được trang trí cho một người độc thân, hoặc một cặp
vợ chồng trẻ, tức là chỉ vỏn vẹn có một cái giường, ông X. gần năm mươi và nghe
đâu đã có cháu ngoại thì không lẽ sống như con trai, hoặc như thanh niên mới cưới
vợ.
Ý nghĩ trên đây vừa loé ra thì Tường không còn bình tĩnh nữa. Chàng phát run
lên vì công phẫn, giận cái thói phong kiến của tay nhà giàu kia mà con gái bị hắn
xem như là một đôi giày hay một chiếc xe, thích thì bỏ ra mua, hưởng xong lại vứt
đi để mua thứ khác.
Ngày nay, phân tách kỹ lại lòng mlnh. Tường thú nhận với chàng rằng thật ra
chàng không phẫn nộ cho lắm vì cái thói phong kiến ấy. Khi người ta khá lớn tuổi,
người ta mới có can đảm thú nhận những hành động, những ý nghĩ xấu xa, của
mình.
Chàng đã ghen với ông X. ngay từ lúc thấy mặt cô gái. Thiếu nữ đã gây tiếng sét
nơi chàng và thình lình chàng yêu một cách đột ngột một cô gái mà chàng chưa hè
được trao lời.
Chàng yêu ghê lắm và khi nhớ lại rằng đêm nay bà mẹ tàn nhẫn kia sẽ giao cái trứng
mỏng manh ấy lại cho con ác, chàng muốn nhảy đến bóp cổ con mẹ oai rạch nầy lắm.
Đặt hai chiếc va ly trên xe tắc xi, chàng thừ người ra rất lâu mà nhìn hai mẹ
con lên ngồi trên băng sau, cô gái ngây thơ ấy đang bị một niềm u uẩn làm héo sầu
nét liễu, khiến cho càng nhìn gượng mặt ấy, chàng càng nghe quặn đau trong
lòng.
Trời ơi ! Đêm nay ! Đêm nay ván sẽ đóng thuyền và sẽ xong một đời nữ sinh trong
trắng.
Những câu chuyện hảo ngọt của lão X. từ thuở giờ chàng nghe thì cười ầm lên, chẳng
hạn như câu chuyện hồng tiểu táo mà người ta chuyền miệng nhau chỉ cốt để cười
chơi thôi chớ không nghe họ lên án lão ta bao giờ. Giờ, cái thói hưởng con nít
của lão trọc phú ấy làm cho chàng buồn nôn chớ không chọc chời chàng được như
trước. Chàng nghe lợm giọng khi tưởng tượng đến cái cảnh lão già đầu bạc hoa
râm ấy ôm thiếu nữ trong tay mà nỉ non những lời ân tình không ngượng miệng.
Đồng hồ tắc-xi chỉ nhảy lên tới bốn đồng là họ đã đến nơi vì đường Pphạm-Ngũ-Lão
chạy dài theo hông nhà ga.
Tường trả tiền xe, vội bước ra sau xách hai chiếc va ly để dưới chơn của hai mẹ
con, và mời họ xuống ! Chàng đẩy một cổng nhỏ, đưa họ vào một sân con bày mấy
chậu cây cảnh, đoạn đặt va ly lên thềm, chàng thò tay vào túi lấy chìa khóa để
mở cửa.
Bà mẹ dõng dạc vào truớc, oai như chủ nhà, cô con gái do dự giây lát rồi khép
nép xách trái sầu riêng bước theo sau. Tường đi hậu tập với hai chiếc va ly ở
hai tay, và lại đặt va ly xuống gạch nơi buồng khách.
Bà cụ tay chống nạnh, tay xỉa thuốc sống, đứng nhìn qua căn buồng nầy một lượt
rồi chê:
- Bàn ghế sơ sài quá.
Bà ta là một phụ nữ cao niên ở tỉnh nên quan niệm vẻ đẹp của khoa trang trí một
cách nhà quê. Theo bà thì ắt hẳn phải có tủ cẩn, lư đồng, bàn ghế bằng gõ, cẩm
lai, mới là đẹp, là xứng đáng. Bà có biết đâu rằng lối trang trí tân thời còn tốn
tiền gấp ba bốn lần những tủ cẩn, những bàn gõ lăng nhăng.
Chê xong buồng ngoài, bà ta bước vào trong. Cô con gái như kẻ không hồn, đứng
bơ vơ ở một xó phòng xem như một địa ngục cái nhà xinh đẹp mà kể từ giây phút nầy,
cô ta là bà chủ thật sự vì nghe đâu ông X. để cho cô ta đứng tên.
Bà mẹ vợ nhảy dù của ông chánh khách thân Pháp gọi:
- Ấy ơi !
Ý chừng bà ta đoán chàng là đầy tớ của ông X. nên mới kêu như vậy. Tường làm
thinh, bước vào trong. Bà tạ hỏi:
- Trong nầy đồ đạc chỉ có bấy nhiêu đây thôi sao ?
- Thưa bà, theo tân thời, đồ đạc càng ít, càng đẹp.
- Đồ xoàng xỉnh quá. Ông ấy có tiếng giàu có mà không dám sắm giường Hồng Kông,
sắm tủ cẩm lai.
- Thưa bà, giường Hồng Kông xưa rồi, giờ có ai dùng nữa đâu. Giường tủ bằng gỗ
bằng lăng trắng nầy mắc tiền lắm đó, thưa bà.
- Xí, mét chằng, mét ưởng, như giường tủ bằng cây mít.
Bà ta lại ra sau. Nhà bếp đã đủ đồ dùng, gạc-măng-dê, nồi son nhôm, nhưng vắng
hoe và lạnh tanh. Bà ta chưng hửng hỏi:
- Không có mướn đầy tớ sao ? Rồi con nhỏ nó lấy ai mà sai khiến ?
- Cái đó thì tôi không biết.
- Chừng nào ổng lại đây ?
- Cái đó tôi còn không biết hơn.
- Không biết, không biết. Rồi con nhỏ nó mới làm sao đây. Tôi có ở đây được
đâu. Có giấy hay không ?
Tường biết bà ta muốn đi ngoài. Mừng rỡ hết sức, chàng vội rút xấp giấy đánh
máy còn trinh ở túi quần ra đưa cho bà rồi hối hả trở ra buồng khách.
Thiếu nữ vẫn còn đứng nơi xó buồng, tay mân mê tà áo, trái sầu riêng nằm trên gạch,
dưới chơn cô ta, và ắt hẳn cô ta cũng đang sầu riêng. Trái sầu riêng dùng làm
ám hiệu, có lẽ do chính cô ta nghĩ ra để gián tiếp nói lên nỗi niềm thầm kín của
cô ta.
Tường nghẹn ngào vì xúc động và sợ hãi. Chàng nuốt nước miếng đến mấy mươi lần
mới đánh bạo nói:
- Thưa cô, tôi cần nói mau kẻo má cô trở lên thì không xong. Tôi không phải người
nhà của ông X.. Tôi chỉ là thầu khoán, sửa căn nhà nầy xong ông ấy nhờ giao lại
cô.
Tôi biết hết rồi. Nhưng cô không nên nhận cái tình cảnh đau đớn nầy. Cô phải
quyết định mau lẹ, phải can đảm chống lại số kiếp mà người ta, vì tham lợi, định
đoạt cho cô. Cần mau lẹ, vì vài tiếng đồng hồ nữa, con quỉ dâm dục ấy đến đây
là đã trễ quá rồi.
Cô à tôi... th...ư..ơng cộ... và sẵn sàng giúp đỡ cô.
Thiếu nữ khóc mù và tấm tức tấm tưởi hỏi:
- Bây giờ làm sao anh ?
- Cô phải quyết định mau lẹ. Má cô lên kia ! Tôi phải đi ngay.
Chàng nghe cánh cửa cầu tiêu mở ra cùng một lượt với nước tẩy uế đang tuông mạnh
xuống ào ào.
Cô gái hoảng hốt van lơn:
- Trời ơi, anh, cứu giùm em anh ơi, không thôi em chết mất.
- Tôi phải đi, kẻo má cô...
Chàng thoát lẹ ra cửa và nghe cô gái kêu vói theo một tiếng tuyệt vọng:
- Anh !
Nghe kêu, Tường càng hoảng hơn vì bà mẹ có thể hỏi duyên cớ kêu gọi, cô còn có
thể khai sự thật, và bầ ta rượt theo thì nguy. Chàng đâm đầu chạy một mạch ra
khỏi ngõ hẻm rồi nhảy lẹ lên một chiếc xe tắc-xi mà chàng bắt lại.
Xe chạy khỏi đó rất xa, Tường mới hoàn hồn. "Thi ra, chàng nghĩ, mình chỉ
là anh hùng rơm thôi. Câu chuyện trinh thám mà mình đã vẽ vời ra, rất có thể
trinh thám được mà trong đó mình sẽ là tay nghĩa hiệp thật thụ, cứu nguy cho
thiếu nữ mà mình bị sét ái tình. Nhưng mình lại hèn nhát không đám hành động.
Truyện võ hiệp luôn luôn có được trên đời nầy, chỉ con người thời nay là không
dám làm một tay hiệp liệt thôi."
Tưởng hối hận hết sức, nhưng nghĩ kỹ lại, thật không biết phải trổ tài anh hùng
bằng cách nào. Không thể phi ngựa đến cướp cô gái, rồi dông vào rừng. Cũng khó
lòng nhảy lên nóc nhà, giở ngói dòm xuống, hễ thấy con hạm dở trò khả ố là
phóng kiếm hạ sát ngay.
Tìm nhà chức trách để tố cáo vụ buôn người nầy, họ sẽ cười cho mà ê mặt, vì
không có bằng cớ nào cả. Một đứa con gái có mẹ bảo vệ là vững vàng an ninh lắm
rồi, họa là tầm khùng mới lo cho số phận của cô ta.
Tường đau xót khôn cùng mà thấy mình bất lực trước nỗi nguy của một mỹ nhân cần
được cứu nguy tức khắc và tiếng kêu thất thanh của cô gái cứ như còn nghe văng
vẳng đâu đây.
Đêm ấy Tường đã khóc thật tình. Đó là những giọt lệ chơn thành của một người
con trai mà tấm lòng chưa bị đời làm hoen ố, ê chề, còn tin, còn yêu, còn trọng
công lý, trọng lẽ phải và điều thiện.
Nửa đêm chàng giựt mình tỉnh giấc, hình dung cái cảnh mưa Sở mây Tần trong căn
nhà ở ngõ hẻm Phạm Ngũ Lão, hình dung thiếu nữ đang mùi mẫn khóc than cho tấm
thân trinh bạch của nàng chỉ một phút thôi mà đã không còn gì nữa, rồi chính
chàng cũng mùi mẫn khóc như người nữ sinh ở tỉnh kia vừa trôi giạt lên Saigon
là đã bị sóng dập gió dồi rồi.
Hai hôm sau, nguôi ngoai được phần nào. Tường đi chạy công việc trở lại và ghé
qua thăm người cậu đã vô tình bắt chàng làm nhơn chứng một cảnh não lòng.
Cậu Sáu hôm nay sao lạ ! Cậul nhìn chàng mãi làm như chàng là một con quái vật
đâu từ trên hỏa tinh rơi xuống. Cậu xét nét, cậu thăm dò rất lâu và rốt cuộc
nói:
- Tường nè, độ nầy cháu cũng còn ở trong Bàn Cờ chớ ?
- Dạ còn.
- Vẫn ở một mình chớ ?
- Dạ.
Cậu nhìn thẳng vào mắt chàng một hồi rồi phá lên cười:
- Cháu còn ngây thơ lắm, chưa biết giả dối. Cậu tin cháu bằng lời nên không cần
kiểm soát. Nhưng cũng cần hỏi cho cặn kẽ. Hiện nay, có cô gái ngào không trong
đời cháu ?
- Không cậu à. Nếu có, đã sao đâu mà cháu phải giấu.
- Cái đó cũng tùy. Có thứ gái không sao, có thứ gái rất "có sao".
Nhưng thật không có trong nhà và cũng không đang gởi đâu đó chớ ?
- Dạ cháu xin thề.
- Thôi thề thốt làm gì. Vả chuyện cũng đã rồi.
- Chuyện gì a, thưa cậu ?
- Cái con bé hôm nọ mà cháu đưa về căn nhà đằng Phạm ngũ Lão...
Tường giựt mình nhảy nhổm lên.
- Dạ, cô ấy thế nào a, thưa cậu ?
- Nó đã đi rồi !
- Trời !
Đó không phải là một tiếng kêu than. Chàng đã buột miệng hét to lên nỗi mừng rỡ
của chàng, quên giữ gìn cho ngươi khác khỏi biết niềm riêng của chàng.
Cậu Sáu cười ha hả mà rằng:
- Cháu đã mừng, tức là cháu thích thấy con bé ấy ra đi. Người ta nghi cho cháu,
không phải nghi oan lắm đâu.
- Ai nghi cho cháu, mà nghi cái gì thưa cậu ?
- Người ta nghi cháu dụ dỗ nó.
- Đâu có.
- Ừ, cậu tin cháu không có dắt nó đi. Nhưng chắc chắn là cháu có ý muốn đó phải
không ? Cháu vừa mừng như trúng số đó mà. Nó đẹp lắm à ?
- Dạ, cô ấy đẹp ghê hồn.
Cậu Sáu lại cưới như Đổng Trác:
- Không đẹp mà ông ấy đã dám xuất đến hai trăm ngàn để mua nó...
- Trời ơi, ở thời nguyên tử mà còn cái chuyện của thời Gia Tỉnh triều Minh ?
- Người ta mua bán dưới danh hiệu tốt đẹp là gả cưới kia chớ. Má nó lấy năm
mươi ngàn rồi đem nó mà nạp cho ông X., thế là trôi cái vụ mua bán trắng trợn ấy.
À ổng mua nó năm mươi ngàn, sang nhà một trăm, sắm đồ đạc hết năm chục ngàn nữa.
Cháu không nói, cậu cũng biết là nó đẹp ghê hồn. Rồi sao nữa ?
- Rồi không có sao hết. Cháu không có làm gì hết.
- Chắc cháu đã dại dột để lộ thâm tâm của cháu ra nên người ta mới nghi cho
cháu chớ !
- Nhưng cô ấy đi lúc nào và đi đâu vậy cậu ?
- Nó đi một tiếng đồng hồ trước khi ổng đền, tức là ba tiếng đồng hồ sau khi
chán đưa hai mẹ con lại đó để giao nhà. Số là hồi mười giờ rưỡi, bà mẹ băn
khoăn về bữa cơm trưa. Cô con gái đề nghi với mẹ để nó đi chợ Thái Bình mua thịt
quay bánh hỏi về ăn, thế rồi nó đi luận. Một tiếng đồng hồ sau, chú rể lại nhận
vợ và mẹ vợ, chàng rể ngồi đợi một tiếng đồng hồ nữa cũng chẳng thấy tăm dạng
cô dâu đâu cả.
- Hay là cô ấy đi lạc ?
- Không, theo lời bà mẹ thì con của bà ta thạo Saigon, vì đã lên xuống nhiều lần.
Tuy nhiên, ông X. cũng vẫn báo động các bót. Ông ta quen biết nhiều, họ tận tâm
tìm kiếm giùm ông ta, nhưng vẫn không ra manh mối.
- Rồi làm sao nữa cậu ?
- Rồi ông X. nổi tam bành lên, chửi bà mẹ vợ tan nát ông bà ông vải hết chớ sao
! Bà ấy đã lấy trước hăm lăm ngàn rồi, và căn nhà ấy chôn đến một trăm năm mươi
ngàn trong đó, bỏ cho ai đây. Không dễ gì mà mua được một đứa con gái đẹp khác
ngay lập tức để sử dụng tổ uyên ương ấy.
Ông ta bắt đền con mẻ, hăm dọa đi thưa con mẻ về tội lường gạt ông ta. Nhưng
con mẻ cũng chẳng vừa, đã dám bán con, tức là cũng đã có nanh có vút. Con mẻ
nói, nếu ổng đi thưa, con mẻ thì con mẻ sẽ khai tạch hoạch ra cho nhựt trình
đăng tùm lùm lên.
Hụt ăn số tiền hăm lăm ngàn còn lại, con mẻ cũng tức lắm và khai cháu là thủ phạm,
yêu cầu ổng tìm bắt cháu. Con mẻ quả quyết rằng cháu đã dụ dỗ con bé, con mẻ bắt
gặp nó khóc, lúc cháu ra cửa, và nghe nó kêu cháu để cầu cứu. Có hay không nè ?
Tường tái mặt, mồ hôi toát dầm dề, chàng ngộp thở một hơi mới hô hấp đều đặn trở
lại và mới đáp được.
- Dạ quả có thế, nhưng cháu thề là cháu đi luôn, không hề hay biết gì nữa cả.
Xin cậu tha lỗi, cháu công phẫn quá.
Cậu Sáu cười lăn chiên một hồi rồi nói:
- Cháu thật ngây thơ. Có nhiều vụ mua bán còn động trời hơn nữa.
- Thưa cậu, như vậy thì nguy cho cháu lắm.
- Khôn sao. Ông ấy sợ bị đăng nhựt trình, không dám thưa gởi ai cả, kể cả người
bị tình nghi thứ nhì là cháu. Vả lại, Tây vừa rút hết, ổng hết chỗ dựa, không
dám làm trời làm đất nữa bằng cách cho thủ hạ hù cháu, ổng cũng ngán cậu lắm.
- Rồi sao nữa, thưa cậu ?
- Rồ thì con mẹ ấy chịu phép trở về Mỹ Tho tay không, và ông lại nhờ cậu bán
giùm đồ đạc. tìm người lấy cắn phố ấy. Căn nhà vá sửa đó lại giúp cậu kiếm thêm
được hai chục ngàn nữa.
- Cậu không nghe lin tức gì về cô ấy chớ ?
- Không. Thì chỉ cỏ hai giả thuyết. Một là mẹ con nó toa rập với nhau để gạt
ông X. lấy tiền ứng trước, tức phân nửa giá bán, mà không giao hàng. Hai là con
mẻ thật tình, nhưng con bé lại không chịu; nếu như thế, hiện nó đang lưu lạc ở
đâu đó và chắc đã rơi vào tay một thang điếm nào rồi, còn khổ hơn là làm bé ông
X. nhiều lắm. Ở với ông X. tuy đáng cha nó, nhưng dầu sao cũng có nhiều tiền.
Các tay điếm, chúng hưởng xong cái trinh bạch rồi, lại đem mà bán rẻ cho các mụ
tú bà. Cháu đã sáng mắt chưa. Cháu khờ khạo lắm và vô tình cháu đã xui dại một
đứa con gái ngây thơ. Cậu chắc câu chuyện đang xảy ra như vậy vì bà ấy - cứ
theo lời ông X. - xem ra thành thật, chớ không gian trá trong vụ nầy.
Tình cảnh hiện tại của cô gái mà cậu Sáu vừa phác họa sơ ra, theo tưởng tượng của
cậu, làm cho Tường nghe đau nhói nơi tim. Chàng kêu "Trời" một tiếng
và lần nầy, đó là tiếng kêu than cho:
....thân gái dậm trường.
Phần e đường sá, phần thương dải dầu.
Chàng đã dại dột mà ngỡ dễ thoát lắm, và cứ hễ ra khỏi căn nhà Phạm ngũ Lão là
được an toàn tấm thân.
Thiếu nữ chắc chắn là không thế nào dám trở về nhà mẹ, còn linh đinh giữa chốn
phấn ba đầy dẫy cạm bẫy nầy thì hăm bốn tiếng đồng hồ sau đó là nàng đã rơi vào
vực thàm rồi. Trời ơi !
Người con trai nầy lại khóc đêm ấy, thương không biết hao nhiêu cho kiếp đa
truân của hạng người không có cách tự vệ.
Nhưng rồi chàng phải tranh sống và chính chàng, một người con trai khỏe mạnh,
lanh lợi cũng bị sóng đời vùi, gió đời dập.
Càng thêm tuổi, càng giàu kinh nghiệm ra và bộ mặt thật ghê rợn của nhân thế
càng năm càng chường ra trước con mắt kinh ngạc của một kẻ vừa sống vừa khám
phá cuộc đời.
Bao nhiêu hoài bão thuở thanh xuân, bao nhiêu thiện chí, bao nhiêu phẫn uất trước
những bất công, tóm lại, tất cả những phấn khởi trong trắng và tốt lành của con
người, rơi rụng lần lần dọc theo con đường sinh kế.
Thỉnh thoảng, những lúc vui buồn nào đó, nhớ lại người thiếu nữ mắc nạn mà
chàng đã yêu chớp nhoáng và đã đau khổ vì cảnh khổ mà nàng có thể gặp, chàng chỉ
còn hơi ngậm ngùi sơ sơ vậy thôi, thấy rằng xã hội vẫn tiến tới như thường, nặc
dầu có một kẻ bị chà đạp dọc đường.
Hôm ấy, từ một trường công tác ở sân bay Tân Sơn Nhứt do chàng thầu, chàng theo
đường Trương-minh-Giảng mà về Saigon.
Tới cổng số sáu, chàng phải giảm tốc độ xe rồi thắng xe hẳn lại vì đường bị nghẽn.
Một chị đàn bà đội một cái thúng từ trong con đường mòn chạy dọc theo thiết lộ,
vừa đi ra vừa rao: "Ai vịt lọn hôn ?"
Ngồi buồn, chàng nhìn đủ thứ người và vật chung quanh chàng, trong có có cả chị
bán trứng vịt lộn. Lạ, chàng ngờ ngợ như là đã quen ở đâu rồi với cái gương mặt
của chị bán bưng nầy. Chị ta cũng nhìn sửng chàng khi chợt thấy người đờn ông
sang trọng trên chiếc xe hơi đẹp đang ngó chi ta gần rớt con mắt.
Chị bán trứng vịt lộn cũng bị trận nghẽn đường ấy chận lại và phải đứng nơi gốc
cổng xe lửa mà chờ. Tường kêu gọi trí nhớ rất lâu, nhưng chịu là không chất vấn
nó được.
- Trứng vịt lộn ! Chàng gọi to, để mua bậy một trứng và mong giọng nói của chị
ta nhắc nhở cái gì chăng.
Chị ấy bước lại bên hông xe và thình lình cả hai đều nhận ra nhau một lượt.
- À chị.,. à cô...
- À anh... à thưa ông...
- Có phải cô là...
- Dạ, thưa ông, chính em là...
"Trời, sao nàng lại già và xấu quá thế nầy ! Tường nghĩ thầm. Chỉ mới có
tám năm qua thôi, mà cả một nhan sắc kiều diễm bị tàn lụn đến thế nầy à !"
- Sau đó, chị... cô đi đâu ? Tường đột ngột hỏi như vậy làm như là họ đã kể lể
lại đoạn đầu rồi.
Nhưng cô gái cũng hiểu được ngay và nói:
- Em đi lang bang cho tới chiều, để kiếm anh, à quên, kiếm ông.
- Trời, tôi nào có dè.
- Nếu tìm được ông, đời em đã khác rồi. Em dại dột quá, ngỡ Saigon cũng dễ tìm
người quen như dưới xứ Trung Lương của em.
- Rồi sao nữa ? Tường hồi hộp hỏi và nóng nghe câu trả lời. Chuyện đã qua rồi
non mười năm, mà chàng cứ lo sợ cho cô gái rơi vào tay các anh điếm như cận
chàng đã đoán.
- Rồi tối lại em gặp một bà già, mà về sau nầy, biết đời, em mới thấy bà ấy là
người tốt. Bà cho em tá túc nơi nhà bà gần một tháng trời.
- Rồi sao nữa ?
- Rồi em lấy chồng, lấy một anh thợ hớt tóc trong xóm.
Tường thở ra, nhẹ nhõm. Té ra cô gái không rơi vào tay kẻ dữ và chàng khỏi mang
hận nghìn đời.
- Giờ cô đã mấy con rồi ?
- Dạ bốn.
Khá hay không ? Anh ấy làm công hay làm chủ tiệm.
- Em chỉ ở, với anh ấy được có tám tháng là ảnh bỏ em. Chồng em bây giờ là thợ
hàn dạo.
- Bốn con với anh nầy ?
- Dạ.
- Coi bộ không khá à ?
- Nghèo lắm ông ơi, chạy ăn muốn bứt hơi. Những khi trẻ nó đau ốm, chúng em
không có việc, em khổ quá nên nghĩ rằng nếu ngày xưa, không nghe lời ông, có lẽ
hơn. Cái ông già ấy, chắc cũng bỏ em một năm sau đó, nhưng em đã có vốn rồi, một
căn phố đáng giá hằng trăm ngàn tiền nước, với lại tiền em dành dụm lúc ở với
ông. Đi ra, cũng còn sạch sẽ, son trẻ, lấy chồng khá khá được, chớ có đâu mà lụn
bại như thế nầy.
Lần nầy, Tường đau xót một cách vĩnh viễn chớ không nguôi được như ngày xưa.
- Té ra chị... cô ăn năn ?
- Có lẽ. Gìn vàng giữ ngọc cho ai chớ ? Em tự hỏi như vậy nhiều lần. Đánh đổi
chữ trinh để lấy ngàn vàng, và đánh đổi cái thơm tho để lấy sự đói rách nầy, thật
em không còn biết cuộc đổi chác nào hơn cuộc đổi chác nào.
- Nhưng cuộc đời ít ra, phải còn vươn một ít thơm tho nào chớ !
- Ông nói như vậy vì ông ngồi xe hơi và đưọc ăn no. Em, em sẽ về một căn nhà lá
giữa vũng bùn mà lũ con theo nhóc sẽ kêu đói.
Lần nầy, chàng đau xót một cách vĩnh viễn, không bao giờ nguôi nữa cả. Thì ra
cái ăn quan trọng đền thế à, nó làm cho người lương thiện đến phải hối hận đã sạch
sẽ và thơm tho.
Chị bán trứng vịt lộn buồn rầu nói:
- Nếu ngày ấy em tìm được ông, đời em đã khác, em đã vừa sạch thơm, lại vừa biết
trọng, biết quí cái sạch thơm. Giờ thì em đã ghê tởm những thứ ấy rồi. Hận quá,
cũng không hãnh diện được vì cái sạch của mình thì còn thiết gì nữa ông ơi !
Tường cả giận sang số thật mạnh, đạp ga cho vọt xe tới, chàng hét to cho chị trứng
vịt lộn nghe:
- Tôi cũng hối hận lắm, hối hận đã đau khổ xằng. Chỉ có người biết quí cái thơm
mới xứng đáng đưọc thơm và được người ta cứu cho.
Nuôi ghẻ
Tới trước cửa trường tiểu học Trương Minh Kỷ 1, Trung nói:
- Thôi em đi một mình nhé.
Nói rồi chàng toan bước vào trong trường. Nhưng Hạnh nhỏng nhẻo:
- Hông, anh đưa em thêm một đỗi nữa hè. Đã tới giờ dạy ở đâu !
Trung xem lại đồng hồ đeo tay thì chỉ còn có 3 phút nữa là trống đánh. Nhưng vì
mới yêu nhau nên chàng không dám để Hạnh mích lòng.
Hai người đi làm cùng một đường với nhau, nên quen nhau ít lâu nay. Hạnh là nữ
y tá tập sự ở Bệnh viện Đô Thành. Cả hai đều là học trò mới ra trường nên đều
còn hăm hở với hoài bão mà họ định thực hiện: Trung có tham vọng đào tạo một lớp
thanh niên xứng đáng với thời buổi, còn Hạnh thì mộng giúp đỡ bình dân để họ hiểu
biết vệ sinh hơn. Vì chí hướng gần nhau nên họ mến nhau rồi yêu nhau.
Họ vượt qua khỏi rạp chiếu bóng Đại Nam thì một đứa bé trạc độ lên mười ở đâu
trong hàng rào cây sống của tiệm nhảy Văn Cảnh 2 cà nhắc bước ra nói, giọng như hát:
- Lạy cô cho con đồng bạc mua cơm ăn.
Hạnh không để ý tới đứa bé, tiếp tục nói cười với bạn, tuy nhiên tay nàng vẫn
thờ ơ mở xắc lấy tiền ra để bố thí.
Nghe một mùi bắt buồn nôn, Trung nhìn kỹ lại thì thấy đứa bé mặc quần xà lỏn: Từ
miệng ống quần ngắn ấy thòng xuống một cặp giò ốm như hai sợi rễ thòng non của
cây da trước miễu nào.
Ruồi và lằng xanh bay vù vù quanh cẳng trái của con bé. Bắp chuối của nó như bị
một lưỡi dao bén xắn xuống làm sứt mất mô thịt ở đó. Lớp thịt còn sót lại, vòng
ngoài đỏ như thịt heo trên các thớt chợ. Vòng kế đỏ trắng đục như sữa đặc. Phần
nhưn ở giữa thì mang màu xám tro và lấm tấm những đốm nhỏ li ti màu thạch lục.
Ba bốn con lằng xanh châu đầu vào lớp nhưn đó và mê say hút số tế bào chết ấy.
Trung nhăn mặt nhưng con bé vẫn thản nhiên đứng đợi rồi tươi nét mặt ra lúc nhận
tiền. Nó không buồn đuổi ruồi, đứng yên mà chờ người khác đi qua.
Hạnh kéo bạn mà nói:
- Đi chớ, anh sợ trễ giờ mà sao lại chần chờ mãi ở đây.
- Con bé ! Trung nói, nhưng chàng chưa làm được một câu đầy đủ vì nhiều ý nghĩ
lộn xộn trong đầu chàng, chàng chưa kịp sắp lại cho có mạch lạc.
- Ừ, con bé. Bữa nào em cũng phải cho nó một đồng bạc hết, không thôi nó đi
theo nói lải nhải, khó chịu và ghê tởm quá !
Trung làm thinh, bước chân theo bạn, giây lâu mới tỏ ỷ nghĩ ra được:
- Chương trình xã hội của em lớn lao quá đối với địa vị nữ y tá của em. Sao em
không làm công việc nho nhỏ như vầy.
- Công vuệc gì đó anh ?
- Em săn sóc cho con bé.
Hạnh ngạc nhiên một lát, dường như sực tỉnh ra, rồi đáp:
- Ờ phải, em không nghĩ tới điều nầy bao giờ, thật bậy quá.
Ngày hôm sau, nghi lễ hành khất vẫn diễn ra y hệt như mỗi ngày. Hạnh trao tiền
cho con bé rồi hỏi nó:
- Sao em không đi tới nhà thương ?
Con bé cười một cách đần độn và lâu lắm mới đáp:
- Con không biết.
- Không biết cái gì ? Không biết nhà thương ở đâu à ?
- Con không biết tại làm sao con không tới nhà thương.
- Em mắc mụt ghẻ hòm nầy từ bao lâu rồi ?
- Không biết...
- Em đi nhà thương với cô nghe !
Con bé chành bành cái miệng ra cười rồi lắc đầu.
Những ngày sau đó Hạnh tiếp tục cho tiền nhưng lần nào cũng có phụ cấp: khi thì
kẹo, khi thì quýt.
Con bé xem chừng cảm mến nàng lắm và nhứt là tín nhiệm nơi nàng. Hạnh gây cảm
tình trong 5 hôm liền là con bé chịu đi theo nàng.
Muốn cho cuộc lành bịnh của con bé là tác phẩm riêng của mình, Hạnh không cho
nó lấy thẻ đi tới bác sĩ khám, mà săn sóc nó riêng biệt như người nhà.
Ngày đầu tiên nàng nạo sơ lớp mủ ngoài rồi rửa ghẻ bằng nước tím lợt; đoạn băng
bó lại.
Ngày kế, Hạnh chưng hửng mà thấy con bé đón nàng, cái giò trần như khi trước.
Ruồi lằng cũng bu quanh mụt ghẻ hòm để ăn tiệc tế bào.
- Băng đâu rồi ?
- Con đã tháo quăng đi rồi.
- Sao lại quăng đi ?
Con bé cười mà không đáp. Hôm ấy nó vẫn đi theo ân nhân của nó.
Hạnh hỏi:
- Đêm rồi, em nghe có dễ chịu hay không ?
- Dễ chịu lắm. Chừng nào hết hả cô ?
- Độ hai tuần thì khỏi, miễn là em phải để y băng. Em mà tháo băng quăng nữa,
ba tháng sau chưa chắc lành ghẻ.
Hôm đó Hạnh nạo mủ, rửa bằng nước tím, nhưng lần nầy nàng rắc bột thuốc thủy
lên.
Con bé can đảm lắm. Lúc nạo mủ nó chỉ hít hà thôi và lúc rắc thuốc, thứ thuốc
làm rát rần lên ấy, nó chỉ nhăn mặt một lát.
Ngày thứ ba Hạnh vừa thấy con bé thì cơn giận của nàng đã nổi lên đùng đùng:
- Trời ơi, sao em lại tháo băng nữa ?
Con bé cũng chỉ cười trừ, Hạnh nguôi cơn giận được giây lát sau vì nàng xem xét
lại thì thấy mụt ghẻ tuy vậy, có đỡ bớt phần nào. Mùi hôi thúi đã giảm, không
phải vì bị mùi thuốc thủy lấn át đâu. Nước vàng hiện ra như nước ở những lạch
con rịn chảy về suối, chỉ rõ sự lui bước của cuộc đọng mủ trắng.
Ngày thứ tư, Hạnh nhẫn nại mà kêu trời thầm chớ không còn nổ giận được nữa vì
con bé lì lợm quá lắm. Nàng nghĩ có lẽ cuộn băng làm cho nó bực bội. Những đứa
trẻ đầu đường xó chợ như vậy, ít khi phải vướng bận quần áo, khăn mền, nên đã
quen quá với sự trần truồng thong thả da thịt đi rồi.
Không sao, nó làm như vậy thì chậm khỏi, chớ rốt cuộc rồi cũng khỏi, ruồi lằng
cũng vắng bóng, mặt con bé cũng đã tươi tỉnh hẳn ra vì đã chắc chắn nó dễ chịu
trong người nó.
Hôm ấy con bé do dự không đi.
- Ê, đừng có làm biếng. Em không đi nhà thương cho thật khỏi, vài ngày đây ghẻ
cũng sẽ cương lên như cũ mà coi.
Nói rồi Hạnh nắm tay nó mà kéo đi. Con bé để ân nhân lôi nó, nhưng mặt nó rầu lắm.
Hôm ấy tới nhà thương, nó không nhìn đến muốn rớt con mắt những cô nữ y tá mà
nó khen là đẹp như bà tiên, và không hỏi lăng xăng cô Hạnh về đủ thứ việc như mọi
khi.
Không phải là nó đã thạo nhà thương rồi đâu. Còn rất lắm thứ mà nó không biết
dùng để làm gì, chẳng hạn như hai ống cao su mà bác sĩ đeo nơi cổ để thòng xuống
trước ngực như đàn bà đeo dây chuyền. Và chẳng hạn như tại làm sao mà bác sĩ lại
lấy ống bơm, bơm hơi vào cánh tay con bịnh như người ta bơm bánh xe máy ?
Những thứ ấy nó chưa kịp hỏi, mà hôm nay mắt nó lại chỉ nhìn vào một chỗ mà cỏ
vẻ nghĩ tới đâu bên ngoài.
Qua hôm thứ năm; con bé quyết không đi. Hạnh nói thế nào nó cũng cứ lắc đầu. Sợ
trễ giờ làm việc, nàng đành bỏ nó đó, định bụng sẽ tìm phương khác để dụ nó
theo.
Tối hôm ấy, Hạnh tới nhà bạn. Đó là cuộc viếng thăm thường mỗi tuần giữa hai
người. Khi chàng đến nàng, khi nàng đến chàng.
Nhưng câu chuyện không bắt đầu bằng những lời vui ngộ như mỗi lần. Vừa vào tới
nhà Trung, là Hạnh đã băn khoăn than phiền:
- Có tức chết hay không anh Trung...
- Bị xếp quở phải không ?
- Không, con bé ăn mày.
- À, con bé ra làm sao ? Hổm nay không đưa em đi, không gặp nó nên anh quên mất.
- Hôm sau ngày anh gợi ý, em dẫn nó vô nhà thương, săn sóc cho nó tới ngày hôm
qua đây. Nó đã đỡ nhiều lắm, nhưng lại không chịu theo em nữa.
- Thì cái thứ ngu dốt nó vẫn vậy. Thấy bớt đau, nó ngỡ cứ để vậy tự nhiên sẽ hết
bịnh lần lần.
- Nhưng tức lắm là nó không chịu nói vì sao nó không chịu theo em.
- Bền chí, em nên bền chí mà dỗ nó. Thứ đó thì không bao giờ nói ra cái gì cả.
Đừng thèm hỏi thì tốt hơn.
- Anh có giỏi thì dỗ nó. Em đã mất bình tĩnh khi sáng. Không chắc em sẽ bình
tĩnh ngày mai nầy.
- Ai cũng nói đàn bà kiên nhẫn hơn đàn ông. Bây giờ mới rõ không phải luôn luôn
họ nói đúng.
- Tại anh ở ngoài cuộc. Anh có phải đứng năn nỉ nó hàng mười lăm phút, anh có bị
nó lấy sự im lặng mà đáp lại anh, anh mới biết bực mình.
Trung ra dáng không tin. Chàng cũng là tay luyện trẻ chuyên môn, đã gặp không
biết bao nhiêu trẻ lì lợm rồi, thế mà chàng đều uốn nắn được cả.
- Thôi, chàng nói, bây giờ em đàn cho anh nghe vài bản cho quên bực trí. Ngày
mai anh đưa nó tới nhà thương em xem.
Ngày hôm sau, họ đi thật sớm, phòng hờ phải tốn nhiều thì giờ với con bé ăn
mày. Khi đôi bạn tới trước cửa quán Văn Cảnh, con hé đứng nép trong hàng rào mà
lấm lét nhìn họ.
Hạnh trỏ nó mà nói:
- Bữa nay nó đến không thèm ra đây nữa, anh thấy hay không ?
Trung cười hì hì, bỏ Hạnh, bước tới trước mặt con bé, tay móc tiền, miệng nói:
- Bữa nay em sạch sẽ quá, thấy dễ thương quá. Thầy cho tiền đây, cho thiệt nhiều,
tới ba đồng lận, em càng sạch, càng được người ta cho nhiều hơn, phải không Hạnh
?
Đoạn Sau, Trung day lại nói với bạn, đã nối gót theo chàng vừa tới nơi.
Con bé nhận tiền, nhìn Hạnh mà cười rồi cãi:
- Ở dơ họ cho nhiều hơn chớ !
- Sao lạ vậy ? Ai nói với em như vậy ?
- Má con nói !
Đoạn nó phân bua với Hạnh:
- Con cũng muốn đi theo cô, ngặt má không cho.
- Em cũng có má nữa hay sao ? Nhưng má em sao lại biết em đi với cô, Hạnh hỏi.
- Từ hôm con đi nhà thương tới nay, tiền xin được cứ sụt lần lần. Mọi lần một
buổi sớm mai, họ cho ít lắm cũng ba chục bạc. Bây giờ có bữa kiếm không được
năm đồng, má con hỏi tại làm sao mà được ít tiền vậy, con không biết đâu mà
nói. Má con nghi con lấy tiền để ăn bánh nên má con đánh con dữ lắm. Con thề thốt
thế nào má con cũng không tin.
- Má em ở đâu, Hạnh hỏi.
- Má con cũng ăn xin dưới chợ Ông Lãnh.
Trung sực nhớ ra điều gì, nói:
- À, phải rồi, giờ nầy là giờ người ta qua lại tấp nập, mà mình dẫn nó đi nhà
thương. Lát nữa trở về còn có ma nào để nó xin tiền.
- Không, con bé cãi. Lát nữa cũng có người qua lại nhưng người ta không cho.
- Hay là tại em bắt nó đợi lâu quá, mất hết thì giờ có mặt nó ở đây. Trung hỏi
Hạnh như vậy.
- Không, em có bắt nó đợi lâu đâu. Nó theo em như người nhà và được săn sóc trước
khi bác sĩ đến. Nó đã nói là má nó cấm đi với em, để em hỏi nó xem.
Rồi xoa đầu con bé, Hạnh nói:
- Thôi em không muốn đi thì tùy ý em. Nhưng em chưa nói cho cô biết tại sao má
em lại biết rõ rằng em đã đi với cô.
- À, tại cô chận hỏi em cái nầy, cái kia mà em nói chưa hết. Vài hôm sau khi đi
nhà thương, em nằm ngủ với má em, trước chùa Kim Chung: Má em khịt mũi giây lâu
rồi nói một mình: "Cái mùi nghe khó chịu quá !" Lát sau má em ngồi dậy
mà hỏi: "Mùi hôi thúi của mụt ghẻ mầy tao nghe quen rồi nên không thấy khó
chịu. Bữa này sao mùi ghẻ không còn nữa mà mùi gì lạ xông lên đó ?" Đoạn
má con hửi mền, hửi gối và đánh hơi lần lần, bắt được cái ổ mùi hôi đó tại chơn
con. Con cũng biết mùi ấy ở đó mà ra, nhưng không dám khai thật. Đó là mùi thuốc
thủy.
- Tại sao lại không khai ?
- Con cũng không biết tại sao nữa. Mấy lần con tháo băng ra cũng vì sợ má con.
Mà tại sao lại sợ, con cũng không biết.
- Rồi má em nói sao ?
- Má em đánh quẹt lên rọi cái chơn của em rồ kêu trời: "Trời ơi, mụt ghẻ của
mầy sao lại gần lành như vầy nè ? Mà hình như có ai xức thuốc gì cho mầy đó phải
không ?"
Con sợ quá, nín bặt. Má con véo con một cái đau điếng người rồi hét: "Ai xức
thuốc cho mầy, phải khai thật ra, không thì chết với tao !" Không thể nín
được nữa, con kể hết đầu đuôi vụ gặp cô cho má con nghe. Nghe xong má con nói:
"Thôi tao biết rồi. Cái cô đó là 1 quỷ vương, dụ dỗ con nít đi xức thuốc
cho nó chết đặng cướp hồn chúng nó. Tao cấm mầy đi theo cô đó nữa nghe không. Mầy
mà cãi lời tao thì mầy sẽ biết tay tao !"
Cho nên hôm qua con mới không chịu đi với cô.
Hạnh và Trung cười ngất, rồi Hạnh hỏi:
- Em có tin cô là quỷ vương không ?
- Không, nhưng con sợ má con lắm.
- Nhưng nếu bữa nay em đi, má em làm sao mà biết được, Trung hỏi.
- Biết chớ ! Hôm qua không đi, em xin được tiền kha khá hơn mấy bữa trước. Bữa
nay đi, về tay không sợ phải đòn.
- Em thương cô đây hay không ?
- Em thương lắm.
- Thì liều bị đòn một bữa, đi lần chót với cô, cho cô khỏi buồn. Bữa nay thì đi
xích lô cho nó lẹ.
Con bé ngần ngừ giây lát. Trung thấy nó có chiều thuận, sợ nó đổi ý, nên nắm
tay nó mà kéo ra ngoài, miệng thì kêu xích lô.
Khi xe chạy xa rồi, chàng mới trở về trường Trương-Minh-Ký.
Sáng hôm kế đó, đôi bạn lại hăm hở đi thật sớm từ xóm nhà thờ Tin Lành để ra
Saigon.
Trung khoe khoang:
- Em thấy hay không ? Trẻ con thì phải quyết định cho chúng nó. Không thời
chúng nó do dự mãi.
Hạnh không đáp, nhưng nàng có cảm giác rằng hôm nay, nói dai dẳng bao nhiêu,
cương quyết đến đâu cũng không khiêng cược con bé đi nữa. Họ đã tới trước hàng
rào tiệm nhảy Văn Cảnh. Đôi bạn dừng lại, nhìn con bé mà cười: Hạnh vừa đưa tay
ngoắt nó thì một bộ xương người phủ áo quần từ trong hàng rào nhảy ra hỏi; giọng
dữ tợn: "Bộ cô muốn dụ dỗ con tôi đi nữa hả ?"
Chị đàn bà ấy dơ bẩn chỉ kém con chị một tí thôi. Nhưng mặt thi hung tợn hơn
nhiều lắm. Hạnh lùi lại một bước vì ghê tởm, hỏi lại:
- Chị là mẹ của nó đó à ?
- Ừ, tôi là mẹ ruột của nó. Tôi không muốn ai dụ dỗ con tôi hết. Tôi cấm cô...
- Chị cấm tôi ? Tôi cấm chị để cho nó bịnh hoạn mới phải chớ.
Chị ta sừng sộ bước tới hỏi gằn:
- Cô nói sao ? Tôi ăn thua đủ với cô đây !
Vừa hét lên đoạn sau của câu trên, chị ta vừa xăn tay áo, nghiến răng trèo trẹo.
Hạnh sợ hãi, núp sau Trung và noi:
- Anh Trung, kêu cảnh sát mau lên. Cho con ác mẫu nầy ở tù về tội ngược đãi con
cho nó biết chừng.
Nhưng Trung cũng thối lui, chân bước mau, tay ôm bạn mà kéo đi.
Hạnh tức giận vùng thoát ra mà nói:
- Anh hèn lắm, anh cũng sợ nó nữa à ?
Trung nghiêm sắc mặt lại mà đáp:
- Không, nhưng ta lầm. Ta đã lầm nhiều lắm em à !
- Lầm cái gi ? Giọng tức giận của Hạnh chưa dịu trong câu hỏi gằn đó.
- Ta lầm. Hai mẹ con nó đã sống nhờ mụt ghẻ ấy nên chúng nó nuôi ghẻ cẩn thận để
kiếm ăn.
Ai mà làm cho mụt ghẻ con bé lành là mẹ nó "ăn thua đủ" thực sự đó.
Chúng nó có sợ cảnh sát cảnh siết gì đâu !
--------------------------------
|
Câu chuyện viết ra hồi trường chưa đổi tên. |
|
|
V.C. cũ. |
Thú tánh sơ khai
Lúc còi báo động nổi lên thì Thành đang ngồi trên một chiếc
xe hơi nhà, không biết của ai. Xe chạy trên đường Hiền-Vương. Muốn ra khỏi châu
thành, lẽ cố nhiên là xe chỉ còn một nước là thẳng lên Cầu Bông theo con đường
đưa về những tỉnh miền Đông 1.
Trên băng sau có ba người ngồi. Một cô gái đẹp ngồi giữa. Bên kia là một thanh
niên đẹp mã, dễ thương và lắm lời, bên nây là Thành.
Thành chưa bao giờ gặp hai người đó. Nhưng sao chàng vẫn thấy sự có mặt của họ
trên xe là tự nhiên, và cả sự có mặt của chàng trên một chiếc xe lạ cũng tự
nhiên nốt.
Trong khi Thành hồi hộp nghe cảnh sát thổi tu hít bắt xe lại, và hồi hộp thấy
xe chàng ngồi cứ giả điếc phăng phăng chạy mãi, thì cái anh chàng đẹp trai kia
cứ bình tỉnh tán tụng sắc đẹp và trí khôn của cô gái. Cô gái ăn kẹo quánh cả
răng mà chàng kia cứ đưa thêm kẹo mời mọc luôn mồm.
Tuy vậy, Thành không nghe khó chịu vì anh chàng ăn nói với một giọng thành thật
lạ; bao nhiêu lời cam kết, bao nhiêu lời hứa hẹn của chàng ta dường như vọt thẳng
ngay từ trong tim mà ra.
Chàng ta có một lối nói chiếm lòng. Cũng thời câu văn rất sáo: "Tôi dám chết
vì cô" nghe giả dối ở miệng của bất kỳ người con trai nào, nhưng sao ở đây
nó hàm súc tất cả cương quyết hy sinh của chàng ta cho phái nữ.
Đền đáp lại tấm tình tha thiết và chân thật ấy, cô gái có những nụ cười, những
lời nói bỏ dở nửa chừng khiến thanh niên rất hy vọng.
Bây giờ xe đã ra khỏi Bà-Chiểu và chạy như gió về miệt Biên-Hòa.
Ra khỏi thành phố rồi mà Thành không hết lo. Mấy tuần nay, tin tức thế giới xem
chừng nghiêm trọng lắm.
Cách đó ba hôm, một tin điện tả phút cuối cùng của thành Ết-tốc-khom một cách
khủng khiếp: một trái bom khinh khí nổ giữa thành, tức thì cả một vùng rộng lớn
cháy lên. Cả khinh khí của nước sông, nước biển trong vùng cháy lên. Ở đấy,
thành ngữ biển lửa mới thật là đúng. Cách xa năm trăm cây số, nguời ta thấy một
cục lửa tròn như viên đạn bừng cháy trong mấy tiếng đồng hồ.
Hơn một tuần nay, địa chấn xảy ra khắp nơi, rung chuyển cả địa cầu và Sàigòn ta
cũng nghe thầy đất động nhè nhẹ.
Thành nhớ mang máng có đọc quyển Sấm-truyền hồi còn bé, và nhẩm lại những câu
sau đây: "Mầy sẽ khủng khiếp vì những tiếng động lạ vào ngày tận thế; đất
sẽ cháy, biển sẽ tràn vô đất liền và tiếng nổ hãi hùng vang lên khắp nơi".
Không nhớ rõ câu ấy thế nào nhưng ý thì như vậy.
Phải chăng đã đến ngày tận thế ? Thành tự hỏi và bỗng nghe yêu đời hơn lên, cuộc
đời mà chàng cho là xấu xa, và lúc nghe nó gần mất lại muốn bám níu vào nó.
Bỗng một tiếng nổ xa vẳng đưa lại, một tiếng nổ thường như tiếng nổ của bom cỡ
một trăm kí-lô. Nhưng sức của nó mạnh đến đỗi đẩy chiếc xe chạy tới như gió cuốn
lá khô...
Người tài xế chuyển hết thần lực kềm lấy tay bánh. Hai bên đường cây cối trốc gốc
bay như người ta vứt cỏ.
Người con gái đẹp kinh hãi kêu rú lên, và chàng trai ôm lấy cô ta, vỗ về an ủi:
- Không sao đâu em (bấy giở đả em rồi), có anh đây còn sợ gì. Vả nếu có chết
thì chết chung, thú vị lắm.
Xe hơi bay qua khỏi Thủ-Đức, rồi sức thổi của trái bom đã dịu lại nó chạy đều đều.
Nhưng cơn khủng khiếp ấy vừa qua thì những người trên le lại nghe những tiếng
ào ào như tiếng sóng vỗ vào bờ biển. Trời bỗng tối sầm lại và gió, lần nầy gió
thật, bắt đầu nổi lên dữ dội. Trời âm u như vào lúc hoàng hôn.
Họ nhìn lại phía sau thì, ồ nầy lạ: Nước ! Phải, qua tấm kiếng sau họ thấy nước
đang rượt theo xe.
Người lái xe mở hết tốc lực đặng chạy thoát nhưng nước cứ đuổi theo bén gót.
Khi lên đến ngay chân núi Chảu-Thới thì nước đã theo khỏi bánh sau.
Vâng theo bản năng tự tồn, nguời tài xế quẹo xe vào con đường lên núi. Con đường
mòn ấy thẳng góc với con đường thiên lý, nên bấy giờ xe bị nước qua khỏi, day
ngang mình mà hứng sóng.
Nước lên mau trông thấy; chưa chi mà xe ngập tới nửa chừng bánh. Tới chơn núi,
họ vội vàng mở cửa nhảy ùm xuống nước.
Người con trai muốn ôm lấy cô gái mà mang đi, nhưng dưới đáy nước đá gập ghềnh
và gió thổi mạnh muốn ngã người nên anh ta lại thôi, chỉ dìu cô gái và cả hai
cùng chạy đi.
Họ đạp sóng, chạy rất chậm và khua nước lọc ọc. Tới trước một mô đất cao kia,
người con trai đỡ cô gái lên trước rồi ba người đàn ông hè hụi leo theo sau. Rồi
đó cả bốn bươn bả trèo, bất kể gai góc và mũi đá nhọn đâm vào chân họ. Mực nước
ác hiểm cứ càng lúc càng dâng cao thêm, khiến cho họ leo mãi mà vẫn cảm giác
như là đứng yên ở mé nước.
Họ chỉ sợ nước chụp kịp họ thôi, chớ chưa đủ trí tỉnh để tự hỏi hiểm họa nào kỳ
lạ xảy ra hôm nay. Khi họ đã đuối sức và chỉ muốn nhắm mắt đưa chân cho nước cuốn
đi đâu thì đi, thì kẻ thù không đuổi theo họ nữa. Mực nước dừng hẳn lại, mặc đầu
sóng to cứ vỗ vào sườn núi nghe ầm ầm.
Họ dòm lại thì thấy mình đã leo lên đến lưng chừng cái núi đất nhỏ ẩy.
Bấy giờ hoàng hôn thật đã xuống. Bóng tối, đứng trên núi mà nhìn thì thấy nó chạy
bay trên mặt nước từ hướng Đông qua hướng Tây.
Một cái chòi tranh, chừng như của dân phu đập đá bỏ trống không trước mặt họ. Họ
uể oải đi lần vào đó mà nghỉ một đêm rồi sáng sẽ hay.
Bây giờ trời đổ một trận mưa như ai cầm chĩnh mà trút. Sét đánh liên tiếp, khủng
khiếp như một cuộc giội bom mạnh, và chớp soi sáng không phút nào tắt cái chòi
tranh cột bằng đá ấy.
Tâm lý của con người đang yêu lạ quá. Người con trai vẫn vui được như thường.
Anh ta nói với giai nhân:
- Trước kia anh chỉ ước mong thấy ngày tận thế. Thiên hạ sẽ chết hết, trừ anh
ra với người yêu của anh. Chừng đó, tha hồ mà yêu, vì ta chỉ còn sống để yêu
thôi chớ không biết làm gì cả. Nay anh gần toại nguyện rồi đây. Tuy còn người sống
sót là hai anh bạn nầy, nhưng hẳn hai bạn không ngăn trở ta yêu đương.
Đến đó thì Thành ngủ thiếp đi vì quá mệt mỏi không rõ cô cậu còn chuyện trò gì
nữa hay không cho phỉ chí đã khỏi chết theo với loài người.
Sáng ra một cảnh tang thương bày ra trước mặt họ. Cánh đồng ngập nước mênh mông
như biển cả. Mái tranh, sườn nhà tre, trâu, bò, heo, chó, gà, vịt, trôi lềnh bềnh.
Xác người, lu hũ, giường ghế lẫn lộn trong các thứ ấy và xa xa một ngọn cây chọc
thủng mặt nước, trông như rêu mới mọc lên khỏi mặt ao.
Không có lấy một tiếng động, không nghe lấy một tiếng chim kêu, mà sóng cũng lặng
nên cảnh vật hoàn toàn chết.
Đất sụp chăng hay bom lại đổi thay vị trí của đại dương ?
Dầu sao, họ không sợ nữa. Cái chết lần chết mòn vì bị bỏ tù ở trên núi chỉ làm
họ buồn thoang thoáng thôi chớ không khiến họ khủng khiếp như lúc bị nước đuổi
theo sau.
Ai nấy đều kêu đói. Người con trai bấy giờ mới nhớ sực lại cái bị mà anh ta
mang theo lúc nhảy xuống xe.
Đó là một cái túi may bằng bố xanh đựng gì không biết mà đầy no nóc.
Anh ta vừa mở bị vừa nói:
- May quá, tôi còn đồ ăn lu bù đây !
Nhưng nói xong câu ấy, mặt anh lộ vẻ ăn năn ngay, như vừa hớ một chuyện bởi lỡ
lời.
Tay anh ta mò rất lâu trong đáy túi rồi lôi ra một ổ bánh mì nhỏ xíu và một
khúc dồi ngắn. Hắn mời:
- Đây, tôi còn được bấy nhiêu đây, mời các bạn đỡ lòng.
Lời mời này vô ích. Nếu không có mặt cô gái thì họ đã áp giựt như người ta giựt
phần trong các đám làm chay.
Trưa hôm đó và mãi cho đến chiều không nghe chàng con trai nhắc đến vụ ăn uống
nữa.
Thành và anh tài xế cũng lạ. Khi sáng người ta đã nói: "Còn được bấy nhiêu
đây" tức là bây giờ đã hết cả rồi, thật là rõ ràng, minh bạch, còn mong gì
nữa.
Thế mà hai người cứ dòm lom lom cái túi mà người con trai luôn luôn mang bên
mình. Nếu hắn còn bánh giấu trong bị, thì đó là của sở hữu của hắn. Hắn nói dối
là lịch sự lắm rồi, không trách hắn được. Thì làm sao mà Thành và anh tài xế cứ
nghe tức ấm ách như của đó phải là của chung.
Phải, trong cơn túng ngặt, người có nên đãi người không, nhưng người không có lấy
quyền gì mà xem thứ của đó là của chung ? Cộng đồng nào cũng nghĩ như vậy và quyết
định như vậy cả.
Họ càng tức thêm là thấy hai kẻ si tình đi vắng chòi hai lượt trong ngày hôm
đó, đúng vào hai giờ ăn trưa và chiều.
Thì ra cô cậu đi trốn để ăn, quyết sống để tiếp tục nòi giống loài người.
Thành nghiến răng, nắm chặt tay lại mà nói:
- Phải cướp lấy mới được, không thế chịu sự bất công nầy lâu hơn nữa.
Anh tài xế cũng đập tay xuống đất là hét:
- Tức chết đi thôi. Ta xúm lại bẻ cổ nó mà giựt cái bị ấy cho rồi.
Nhưng không ai dám hành động cả vì thanh niên rất khỏe mạnh, sức đánh ngã hai
người như chơi. Hắn sẽ tự vệ mà giết chết họ cũng nên.
Qua ngày thứ hai, hai cô cậu cũng bỏ chòi đi ra ngoài bụi rậm. Nhưng đến chiều,
cậu đi một mình, không thèm ngó tới cô. Cô đứng lên để đi theo cậu thì cậu day
lại nói:
- Em đi làm gì, anh đi ngoài, kia mà !
Giọng hắn xẳng và cọc cằn lạ, khiến cô gái sợ hãi đành ở lại.
Ngày thứ ba Thành và anh tài xế, nghe bao tử bị cào dữ tợn. Một thứ nước gì như
đang tiết ra trong ấy làm chua xót quá chừng cái dạ dày của họ.
Cô gái đẹp thì coi mòi hết yêu đời. Đờn bà ít xấu chứng đói hơn đờn ông, nhưng
dầu sao họ cũng là sinh vật, nên tuy không khó chịu ra mặt, họ vẫn có triệu chứng
thiếu chất ăn.
Nói có trời làm chứng, mặc dầu sự săn sóc của người con trai si tình có phần giảm,
hắn vẫn chiều lụy cô gái, và hắn ái ngại rõ rệt những khi nhìn thấy bạn héo mặt
vì đói bụng.
Mỉa mai quá, cứ thỉnh thoảng hắn hỏi người yêu một lần:
- Em đói lắm hay không ?
Thì hẳn là em đói lắm. Nhưng anh hỏi mà chi nếu không vui lòng thỏa nhu cầu của
em ! Chắc cô bé nói trong bụng như thế.
Sáng ngày thứ tư; mặc dầu cựa mình đã không muốn nổi, Thành cũng ráng len lén
nom theo người con trai khi thấy anh ta ra đi.
Khi Thành vừa len lỏi tới trước một khoảng đất trống thí thấy người thanh niên ấy
đang ngồi trên một tảng đá giữa đám đất. Thành núp sau một bụi cây để rình hành
động chàng kia.
Một cảnh tượng diễn ra, khiến Thành chán nản gấp mười lần lúc trước và ngã lòng
thấy không còn muốn sống trên đời nầy: người con trai đẹp mã đang gậm một mẩu
bánh mì khô. Anh ta vừa trợn trạo nuốt vừa ngó chừng lại phía chòi.
Thành thở dài lẩm bẩm: "thì ra trong những lúc cùng cực, thú tánh sơ khai
của con người, chìm đi từ mấy muôn thế hệ, lại trồi trở lên, họ để cái ăn lên
trên tất cả.
"Anh yêu em ? Anh dám chết vì em ? Có thể lắm. Nhưng đến cơn cùng, anh trốn
em mà gậm mẩu bánh mì mốc nầy.
"Nụ cười nghiêng thành của em, đôi mắt ước lệ của em, đôi má mịn của em, tất
cả các thứ ấy đều không bằng một vắt cơm thiu.
"Hy sinh cho em vào giờ phút nầy à ? Để làm gì kia chớ ? Để được em phục
thêm một chút yêu thêm vài phân ? Không, cóc cần những cái ấy.
"Giờ đây việc cần là làm dịu cơn giận của bao tử. Việc cần là sống thêm được
bao nhiêu ngày hay bấy nhiêu, theo bản năng ham sống."
Rầu lòng, Thành lết về chòi. Thấy mặt mỹ nhơn, chàng buồn cười lắm, nín không
được nữa. Con người ngọc nầy bây giờ thật quí không bằng một miếng cơm cháy !
Cô gái sợ hãi khi nghe tiếng cười kỳ dị của anh. Cô tự hỏi: "Anh này đói
quá rồi phát điên chăng ?"
Người con trai cũng đã về tới nơi: Đó là một người tỉnh giữa đám người mê, mê
vì đói. Tuy láo ăn, hắn còn biết xấu hổ và thương xót. Hắn sượng sùng nhìn ba
gương mặt hốc hác và bơ phờ, và đau đớn nhìn người yêu.
Bỗng Thành chỗi dậy rồi hét:
- Vô nghĩa, cái gì cũng vô nghĩa cả ! Thì ta không cần phải xem gì là phải, gì
là quấy. Anh kia, hãy đưa cái bị đây, không thì chết bây giờ. Không đợi người
có mặt làm gì, nói gì cả, Thành giựt đại cái bị bánh của hắn. Hắn đạp cho Thành
một đạp trúng hông, khiến Thành té lăn cù.
°
Thành giựt mình tỉnh giấc mới hay đó là một cơn ác mộng dài.
Chàng đang nằm cạnh một người bạn. Đôi bạn bàn cãi nhau về một vấn đề đến nỗi
ngủ quên hồi nào không hay.
Nhìn lại người bạn ngây thơ cứ cương quyết cho ái tình là cao cả hơn hết, Thành
buồn cười quá. Chàng lẩm bẩm:
- Rất tiếc là chính mình đã mơ giấc mộng nầy. Phải chi nó thấy cảnh trong chiêm
bao của mình, nó sẽ đổi ý ngay.
--------------------------------
|
Truyện viết năm 1953, chưa có xa lộ. |
Thước đo nghệ thuật
Đọc xong quyển tiểu thuyết "Sóng Tình", Bân sung sướng
đến hơn một tuần lễ, trong tuần ấy chàng đã đọc đi đọc lại tác phẩm đó đến ba lần.
Chàng phấn khởi vô cùng mà nghĩ đến tác phẩm sau này của chàng, nó cũng sẽ gây
bao nhiêu cảm xúc nơi lòng người đọc khắp bốn phương của đất nước.
Chàng đang tập viết văn, và quyết làm cho bằng ông tác giả mà chàng ưa thích ấy,
chàng mới nghe. Tuy hiện giờ chàng chưa hề được báo nào đăng bài, nhưng chàng vẫn
tin nơi tương lai của mình, nên cứ cần cù nỗ lực trong ngành hoạt động mà chàng
mê.
Bân tưởng tượng nhiều vè tác giả quyển "Sóng Tình" mà chàng xem như
là một thần tượng và thấy đó là "nhà văn của lòng tôi".
Nhưng một bài báo thình lình xô ngã thần tượng của chàng xuống khỏi bệ cẩm thạch.
Cứ theo bài phê bình ấy thì quyển "Sóng Tình" không chứa được lấy một
gơ-ram giá trị nào. Nó là quyển sách dở chớ cũng chẳng được là một tác phẩm
không công, không phạt, có cũng được, nếu không cũng chẳng chết ai; một tác phẩm
buồn ngủ, không đủ cái khả năng hạ cấp là giúp người đọc "mua vui cũng được
một vài trống canh".
Thoạt tiên, chàng công phẫn đến xé nát tờ báo hằng tuần ấy ! Chàng đạp bàn và
chưởi om lên và cỡ nhà phê bình mà có mặt nơi đây, chàng đã nện hắn một trận
nên thân.
"Đó là một thằng đố kỵ, chàng nghĩ thầm, hoặc một kẻ cố oán, vì hận riêng
nào, quyết hạ một bực tài hoa để hả tư thù"
Chưởi to và rủa thầm nhà phê bình một hơi, Bân cầy cục ráp nối những mảnh giấy
báo rách lại để đọc lần thứ nhì bài phê bình xuyên tạc đó.
Và chàng đau xót vô cùng mà bỗng thấy rằng những nhận xét của bài báo đúng
không thể chối cãi được.
Đó là niềm đau của một anh con trai đang si một cô gái mà anh ta ngỡ là đẹp
nhưng rồi bị một thằng bạn vô tình chứng tỏ rằng cô gái có cái miệng quá rộng,
cái mũi hơi to, và ác lắm là quả đúng như thế.
Bân bần thần đến hơn một tuần lễ, cái miệng và cái mũi bị tố cáo, cứ theo ám ảnh
chàng hoài.
Kỳ báo sau, phát hành đã hai hôm rồi mà chàng không buồn đọc, vì mất tin tưởng
rất nhiều, không phải mất tin tưởng nơi người khác, mà nơi chính mình, hoài
nghi khiếu thẩm mỹ của mình và tương lai văn nghệ của mình.
Khổ lắm là chàng cứ còn yêu cô gái ấy bởi vì cô ta lại có những cái khác không
bị chỉ trích nên chàng thấy là đẹp.
Nhưng rồi chàng cũng nguôi được đôi phần và bắt đầu đọc mấy tờ tạp chí mua rồi
vứt đó.
"A, lại phê bình quyển "Sóng Tình" chàng kêu thầm lên khi lật tới
trang băm hai của tập báo nhỏ khổ ấy".
Bài nầy dài lắm, đến hăm bốn trang chữ nhỏ li ti và tác giả của thiên phê bình
nầy có vẻ thông thái và phân tách sâu sắc hơn tác giả bài báo trước nhiều lắm.
Bân đọc ngay bài báo ấy để được thấy người ta giết chết luôn người thiếu nữ còn
kiều mị dưới mắt chàng.
Thà rằng nàng chết hẳn cho rồi. Thà rằng người ta tố cáo thêm cái trán của nàng
thấp quá, cái lưng của nàng là lưng tôm, cho chàng thấy không còn vớt vát gì được
để mà quên nàng, chớ thần tượng mà bị hạ bệ có nửa chừng, thì khổ tâm cho người
si vô cùng.
Nhà phê bình trước ác hiểm hơn ông nầy nhiều. Vâng, trước khi nhập đề là hắn bắt
đầu khen ngay tác giả không tiếc lời, để rốt cuộc đập thẳng cánh, không thương
xót một tí nào.
Ông nầy chưa chi đã tát tai sơ sịa người đẹp, cũng kẻ cả và hách dịch với giọng
thầy đời của ông trước, nhưng rồi nức nở khen "cô đẹp chín nghìn".
Cứ theo ông nầy thì nàng có đôi con mắt sáng như mắt thần và thân thể của nàng
cân đối tuyệt vời, tác phong của nàng thanh lịch không chỗ chê.
Miệng nàng có "hơi" rộng thật đó, nhưng chính miệng rộng mới là đẹp,
những phụ nữ miệng như mõm chuột, ít được ai mê lắm !
Vân vân và vân vân...
Bân không vui mừng mà gặp bạn đồng tâm tô điểm lại cho cô gái bị bôi lọ, vì
chàng hoàn toàn mất hướng khi thấy rằng nhà phê bình thứ nhì nầy cũng nói đúng
tuốt.
Ai cũng đúng cả, kể cả hai người nói trái ngược nhau, thì còn biết đâu là sự thật
bây giờ.
Buông tờ tạp chí, Bân đứng lên để đi ra ngoài, mong không khí của nơi rộng rãi
giúp chàng thở dễ dàng hơn sau một cơn ngột ngạt trong những thứ tình cảm hỗn độn
nó xáo-trộn cảm nghĩ của chàng một cách tàn nhẫn.
Nhưng không hiểu sao, chàng lại vào chợ thay vì ra khỏi thành phố nhỏ Lái Thiêu
nầy.
Mùa nầy là mùa trái cây và cảnh buôn bán rộn rịp hơn ngày thường với mớ khách
hàng xa gồm hai loại, một loại hiếu kỳ, đi ăn trái cây tại chỗ, và một loại
buôn đi bán lại, họ lên Lái Thiêu để mua sỉ sầu riêng, măng cụt, chôm chôm v.
v...
Có những cô ăn mặc đẹp và hợp thời trang, người cũng xinh và sang trọng mà cứ
ngồi ngay giữa chỗ muôn người để thưởng thức món quà mà thi sĩ Bàng Bá Lân bảo
là "Tây Thi mất vía, Hằng Nga giựt mình" vì cái mùi rất khó chịu của
nó đối với người không quen ăn sầu riêng, và nhứt là vì cái vỏ đầy gai góc
trông rất xấu xí của nó.
Một thiếu phụ đang mút mấy ngón tay dính đầy cơm sầu riêng, có cái miệng rộng
và hai cái môi dày. Bân nhìn trừng trừng cô ta để thử xem loại miệng ấy có đẹp
hay là không.
Vừa mút tay, thiếu phụ vừa lắc đầu nói :
- Không ngon !
- Sầu riêng như vậy mà không ngon. Chỉ có cô không biết ăn thì có.
Đó là lối trả lời vô lễ của một số buôn bán người mình, họ trịch thượng mắng
khách hàng là nhà quê một cách gián tiếp như thế, những hiệu may mắng ta không
biết ăn mặc, nếu ta chê áo họ may không khéo, những hiệu bán bàn ghế mắng ta
không biết khoa trang trí là gì nếu ta chê bàn ghế mà ta đặt họ đóng, không vừa
ý ta.
Thiếu phụ nầy không phải là kẻ nhút nhát, bị mắng là mắc cỡ chịu lép vế ngay và
bỏ đi. Cô ta sần sộ hỏi :
- Nè chị kia, chị nói với ai như vậy ? Chị phải biết cái bản mặt nầy chớ ? Con
nầy là con đáo xứ, chị đừng mong gạt nó, và đừng vô lễ với nó mà gãy răng bây
giờ.
Là người địa phương, Bân không ngạc nhiên trước một đám cãi vã như thế nầy, nó
xảy ra hằng bữa tại chợ Lái Thiêu, vào mùa sầu riêng.
Món hàng đã trót dại mua rồi, không ưng ý thì ráng chịu, chớ sạo lại cãi nhau.
Nhưng ở xứ Lái Thiêu nầy có cái tục "bán bao" sầu riêng ; người bán bảo
đảm hàng ngon, người ăn được hài lòng xong mới trả tiền.
Đó là thủ đoạn liều mạng của con buôn, chớ họ có phải là chủ vườn đâu là biết
trái họ bán ngon hay dở.
Thì cứ cãi bướng vậy đi, khách hàng yếu bóng vía - mà phần đông khách hàng đều
như vậy cả- thì họ bán trôi hết, rủi ra gặp người kỳ khôi hiếm hoi như cái cô
miệng rộng nầy thì sẽ tính.
Chị hàng sầu riêng biết gặp phải tay đối thủ, xuống giọng:
- Sầu riêng của tôi, ai ăn cũng khen hết, chỉ có một mình cô là chê thôi.
- Tôi không cần biết ý kiến người khác ! Tôi ăn không vừa miệng thì tôi chê. Chị
bán bao thì chị phải chịu trách nhiệm. Tôi khỏng bằng lòng trả tiền đó.
- Cô nói chơi hay nói thật ? Dộng của người ta gần hai kí-lô rồi muốn nói ngược
hả ?
Cô miệng rộng vụt đứng dậy như có lò xo bật, xỉ tay vào sát trán chị hàng sầu
riêng mà rằng :
- Nè tôi nói cho chị biết, ăn cướp là chị chớ không phải tôi, chị hỗn tôi đánh
gãy răng.
Chị hàng sầu riêng cũng đứng lên và xăn tay áo mà rằng:
- Đây có sợ con nào đâu.
Nói thế, nhưng chị ta không được mạnh lắm. Chị ta hạ giọng ngay :
- Cô không bằng lòng thì cô đi thưa kiện đi:
Đó là giải pháp tài tình giúp chị ta tránh phải đánh lộn, mà lại bán trôi được
hai kí-lô sầu riêng dở, vì chị ta biết nhà chức trách cũng sẽ xử phân hai nếu
không xử ăn trợt, bởi không có cây thước nào trên đời nầy dùng đo được sự ngon
dở của sầu riêng cả thì thánh cũng chẳng biết xử thế nào cho ổn ! Người bán cố
cãi bướng hàng họ ngon, người mua mà bất lương, thì cố tình quả quyết hàng dở để
quịt tiền, không ai nhìn nhận sự thật cả.
Lắm khi cả đôi bên đều thành thật và vững tin nơi quan điểm của họ, chỉ phiền
là quan điểm của họ không phù hợp với nhau.
Kẻ hiếu kỳ bu đen nghẹt quanh hai người nầy: Đây là bọn tào lao hay xen vào nội
bộ của người ta, và cũng có ý kiến, y như họ, nghĩa là kẻ bảo sầu riêng ấy là sầu
riêng ngon, người chê cơm sầu riêng nhão quá.
Đây là bọn ăn có, đánh hôi, quan điểm khác nhau của người trong cuộc đã làm
điên đầu người ta rồi, họ nhảy vào gây rối thêm.
Cả hai người bán và người mua đều đâm cáu vì hai nhóm ủng hộ đả đảo nầy; họ
quên giận nhau, day lại đổ trút căm tức của họ lên đầu bọn tào lao, khiến khu
trái cây biến thành chiến trường một trận giặc nhỏ.
Sau một trận đấu khẩu hỗn loạn, họ kéo nhau lên bót cảnh sát, hai phe ủng hộ đả
đảo nối đuôi theo họ, thành một dọc dài.
Bân chán nản, lắc đầu rồi bỏ đi.
Vụ cãi nhau nầy thật ra, chàng quên nó ngay sau khi bọn kia khuất dạng.
Chàng nghĩ liền đến bài toán nghệ thuật bể đầu của chàng.
Như vị ngon của sầu riêng, nghệ thuật không có cây thước nào đo được cả. Bọn
thành thật thì tự nhiên có lý vì quan điểm chơn thật cửa họ, mà bọn bất lương
cũng có lý tuốt vì giỏi ngụy biện.
Ông tòa phân xử vấn đề nghệ thuật sẽ xử ăn trợt như là cò bót xử các vụ tranh tụng
về sầu riêng chăng ?
Bân lên cầu đúc rồi tỳ tay vào lan can thành, nhìn giòng nước đục và bẩn bùn dơ
dưới rạch. Con rạch bẩn thỉu nầy mà được chàng thi vị hóa, người đương thời sẽ
chưởi rân lên là chàng nói láo. Nhưng ngàn năm sau, vật đổi sao dời, còn ai biết
đâu là đâu và rạch Lái Thiêu lại chẳng nên thơ y hệt như bến Tầm Dương canh
khuya đưa khách - của nhà thơ họ Bạch ?
Trong giây phút, chàng muốn bỏ ngang công việc mà chàng khổ công đeo đuổi từ mấy
năm nay, tuy chưa làm nên trò trống gì, nhưng mà chàng cảm giác rằng sẽ nên việc.
Chàng sẽ làm thầu khoán, đưa xe đò, làm thợ sơn hay bất kỳ nghề gì, thứ nào
cũng dễ ăn hơn nhiều vì tất cả những công việc ấy có tiêu chuẩn rõ rệt, không
minh mông và trừu tượng như văn nghệ mà ai muốn nói thế nào nghe cũng xuôi tai
cả.
Rồi chàng đi, đánh một vòng lớn theo cái vòng chiều duy nhứt to lớn nhứt thế giới
nầy. Vòng nầy là một vòng hình thuẫn, châu vi dài đến non ba cây số.
Bân qua tới cầu đúc thứ nhì, cũng bắc ngang trên con rạch bẩn thỉu nói trên thì
mỏi chơn quá rồi.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét