Nhốt gió
Cái Bách-xê 1.
Anh Công về Sàigòn vào có lúc mà số nhơn khẩu ở thủ-đô miền
Nam nước Việt được công bố là một triệu rưỡi.
Sau những năm mướn ghế bố ngủ ở các đường hẻm, anh được một người bạn điềm chỉ
sang một căn phố lá ở xóm X.
Đừng tưởng xóm X ở ngoại ô nào đó đâu. Nó ở ngay trung tâm thành-phố, núp sau
lưng những dãy phố gạch sang trọng dựa đại lộ. Nơi đó là một đám đất trống,
nguyên trước kia là một chỗ trũng, mùa mưa như mùa nắng quanh năm ứ nước, một
thứ nước xanh như nước lá bồ ngót. Nơi đó tha hồ cho thủy thảo, cho bèo mọc,
cho cá bã trầu sanh sản. Nơi đó là chỗ nương náu cuối cùng của nhái bầu, của
ễnh-ương trong thành phố.
Mấy năm trước cuộc khởi nghĩa, chủ đất xin phép địa-phương cho đổ rác lên cho đầy,
rồi phủ lên đó lột lớp đất. Thế là ông chủ có một đám đất cất nhà giữa
châu-thành. Ông chỉ phiền địa-phương không xẻ đường qua đó, thành ra miếng đất
của ông vô dụng.
May thay cho ông chủ, lại xảy ra cuộc loạn ly. Bao nhiêu người dồn về mà không
có chỗ ăn nằm. Thôi thì cho chúng nó cất nhà lá. Cho dẽ đất, ông nói.
Nhà có ba căn, thấp cỡ cóc nhảy lên mái nhà được và không cần học võ theo lối
kiếm-hiệp, cỡ có biến thì nhảy lên nóc nhà trốn dễ như chơi.
Cái nhà cất xa nhà khác chừng năm tấc thôi. Nhưng Công cũng mừng được ở căn
bìa, bề gì cũng có cái khoảng không đó, đỡ bớt sự khó chịu bị kẹp giữa hai căn.
Nhà lại ở ngoài bìa hàng trăm nhà lá lúp-xúp, lụp-xụp khác, cái nào cũng lùn xủn
như đám dân bị bố ngồi bên đường.
Ngày đầu, Công giậm chơn lên mặt đất, nghe nó xèm-xẹp như là đất mặt võng. Mỗi
lần xe điện chạy ngang qua lối đó, ngoài xa kia, thì ly, tách trên bàn anh rung
len-ken, y như là nhà có ma nó dời chén, dời tách để phá chủ nhà.
Có khi đang đêm trời mưa ầm-ĩ, anh nghe chõng tre anh đang nằm lắc lay, giao động,
toàn thể đám đất rung chuyển như cơn địa-chấn sắp đến. Đó là rác mục đang biến
thành đất, gặp mưa nó dẽ xuống, lớp đất trên cũng xụp theo.
Những đêm khuya trăng lặng,
Công nghe rõ-ràng có tiếng động ở dướí đất, hình như không sâu cho lắm. Chuột
hang chăng?
Dầu sao, anh cũng thấy sướng hơn là ở ngoại ô. Ở ngoải còn khổ vì nhiều việc
khác nữa. Ở đây thì hoàn toàn an thân, nếu không có vợ chồng cái anh láng giềng
ở căn giữa.
Trời sao lại xui anh Công có một anh láng giềng khó chịu như vậy.
Anh ta không biết làm gì ở đâu, mà cũng đi đúng giờ về đúng khắc như người làm ở
sở. Nhưng đó là người không bao giờ nghỉ ngơi, trưa như tối. Hết dỡn với bạn ỏ
đâu kéo về, lại cãi lộn với vợ. Rồi hết hai cái đó, lại quay hát máy. Có khi
cùng giỡn, cùng cãi lộn, cùng hát máy một lượt.
A, cái sự hát máy nầy mới thật là một hành hạ lớn nhứt trong đời Công. Hễ cứ
đúng giờ nghỉ ngơi, từ đúng ngọ đến ba giờ trưa, từ bảy giờ chiều đến nửa đêm
là nó ong-óng lên như con mẹ điên, thế là thần trí Công bấn loạn, không mong
nghĩ gì được.
Có nhiều đêm, Công mới chợp mắt được đâu vài giờ thì bỗng giựt mình thức dậy để
phải hứng đầy tai những câu hát chướng chết được người.
Anh nghe con vợ nói:
- Thôi mà, để cho xóm giềng người ta ngủ.
Anh chồng nạt giọng :
- Thôi gì, hát giờ nầy êm tai, ngủ mới sướng chớ ! Vọng cổ thì phải rỉ rả về
khuya mới mùi chớ.
Thế là vọng-cổ éo éo tới sáng.
Cái thứ vách lá thì như là không có vách gì hết.
Nếu ra ngoài đưòng mà nằm được, thì Công cũng sẵn lòng đi trốn cái nạn hát máy ấy.
Mỗí lần anh nghe nó khởi sự lên dây thiều rồn-rột thì
ruột gan anh cũng lên theo. Mà lạ, sao nó hát mãi như thế mà không đứt dây thiều
lần nào. Công chỉ mong có bao nhiêu đó, để nghỉ lỗ tai vài bữa.
Trưa và tối, anh nằm dài, thở ra : "Thế nầy thì đến loạn óc mất !" Quả
thật, bộ thần-kinh anh bị khích động thái quá. Mỗi lần nghe nó mở máy hát là mỗi
lần anh tức, rồi cứ nằm mà đợi
giờ nầy qua giờ kia, toàn thể thần-kinh anh bị căng thẳng trong chờ mong và
trong khó chịu. Máy đóng lại cái sập, anh mới nghe nhẹ người, thần-trí mới giãn
ra, nhưng anh đã mệt nhoài khó thể dỗ giấc ngủ được.
Một hôm, Công yêu cầu anh láng giềng ấy bớt hát, nhứt là bớt lúc gần sáng, thì
anh ta sừng sộ nói : Nội đây, không ai nói gì, có mình anh là kiếm chuyện thôi.
Đời thuở nào mà hát máy gì lại nghe khó chịu. Anh muốn êm tịnh sao không ở xóm
nhà giàu, xóm Tây è !
Công sò ngay, nhưng người kia còn nói nữa, nói nhỏ riêng với vợ bên nhà, nhỏ mà
đủ lớn cho Công nghe : "Thứ đồ thực-dân! đồ trưởng-giả, người ta hát cho
mà nghe, sướng hòng chết mà còn làm bộ hoài. Để tao lát sáng đêm tối ngày coi
ai làm gì tao".
Chết chưa ! Bây giờ anh đã hóa thành thực-dân mũi xẹp rồi đó. Và trưởng-giả nữa.
Đây là thứ trưởng giả học làm nhà nghèo, đi ở nhà lá đây, và được hân hạnh người
ta hát cho nghe !
Nhưng những lời nói xấu ấy không làm anh khổ bằng câu hâm dọa, hát tối ngày
sáng đêm. May thay, đó chỉ là câu hâm dọa, vì va cũng phải ngủ chớ thức sáng
đêm sao được. Và tối ngày va mắc đi làm. Chỉ có bữa trưa là va hát trọn từ đầu
chí cuối.
Con vợ cũng tùng đảng. Nó lên dây hoài sao không biết mỏi tay. Mỗi lần hát hết
dĩa, nó quên, để kim chạy không, còn bị rầy nữa là khác.
Cái bọn nầy có lẽ là dân quê mới lên. Máy hát lại kêu là giàn hát máy. Và nó mê
"giàn hát máy" như trọn đời nó mới thấy lần đầu.
Quả thật Công rất ghét vợ chồng anh láng giềng. Nhiều khi anh mong cho anh chồng
thua cờ bạc, bán hay cầm máy hát đi. Anh lại mong cho vợ chồng nó đánh lộn, đập
bể hết dĩa hát. Đánh lộn thì chúng nó có đánh. Cũng có đập bể dĩa nữa, nhưng mà
dĩa ăn cơm. Còn dĩa hát thì hai vợ chòng đồng lòng bảo vệ, y như là hai nước
giao chiến với nhau, bằng lòng theo ước-lệ quốc tế, kính trọng những nơi có dấu
hiệu Hồng-thập-tự. Có nước tham chiến thua quá còn xâm phạm ước-lệ đó chớ hai vợ
chồng nầy thật là đứng đắn, thành tâm, thật ý.
Có khách trò chuyện với nó, nó cũng hát, không biết để ai nghe. Mạnh người, người
nói, mạnh máy, máy la ào ào. Người ta rán nói lớn hơn máy để cho nhau nghe.
Công khiếp sợ, bịt tai ôm đầu lại.
Đó là một hạng người chịu sự im lặng không được. Họ thấy rỗng không trong sự
yên tĩnh, không biết nghĩ gì hết, nên phải cho máy nó làm ồn đế lấp chỗ trống rỗng
ấy đi. Không phải họ nqhe hát hoài đâu, Công chắc chắn như vậy. Bằng cớ là có
nhiều khi vừa khởi sự cãi lộn, họ vừa lên dây máy hát. Như vậy có phải để nghe
đâu.
Thét rồi không biềt làm sao để thoát nạn, Công định lợi dụng tình thế ấy cho đỡ
khổ. Anh nghe hát, có thưởng thức điệu đàn, câu ca. Nhưng ác một nỗi là nó chỉ
hát vọng-cổ. Mà vọng-cổ là điệu đàn anh ghét nhứt. Không phải vì vọng-cổ ủy-mị.
Không, nó không đủ ủy-mị để anh sợ mà tránh. Nó ngô-nghê, lố-bịch, không nghệ-thuật
gì hết
Trời ! bộ họ sống để mà nghe ca vọng-cổ sao chớ ! Hết rên tới khóc. Vọng-cổ từ
trưa tới khuya, từ khuya tới sáng.
Kể từ những ngày ấy, Công kết luận hai điều. : Bình dân không biết lịch sự,
bình-dân chưa hiểu nghệ-thuật. Anh còn hoài nghi về lời kết luận thứ nhứt. Anh
tin như đinh đóng lời kết luận sau.
Công sợ nhứt bài "Đêm đông". Không phải điệu Đêm đông tuyệt tác của
Nguyễn văn Thương đâu nhé ! Đó cũng là điệu vọng-cổ mà lời là Đêm đông. Nó khởi
sự như thế nầy : "Đêm đông cô tịch dưới ánh trăng mờ, cảnh vật đìu-hiu của
tiết trời thu u ám..."
Trời ơi, văn-chương kỳ lạ, đêm đông mà lại có tiết trời thu !
Nhưng hình như mỗi lần dĩa ấy bắt đầu rên khóc thì Công nghe ở bển chắt lưỡi
khen : Hay ! Hay lắm !
° ° °
Một đêm, sau mấy giờ lỗ tai và bộ gân bị hành hạ, Công vừa
thiếp ngủ thì bị tiếng la bài hãi làm anh giựt mình choàng dậy. Anh lắng tai
nghe rõ thì hiểu hết mọi việc : bà hỏa viếng xóm nầy. Biết rằng có ngày thế nào
nạn nầy cũng xảy đến, Công không hốt hoảng. Anh vội xách va-ly quần áo, tất cả
giang-sơn của anh, chạy ra ngoài.
Lửa cháy cách căn anh lối mười căn phố. Đờn bà con nít la khóc inh-ỏi, trong
khi đờn ông hè-hụi lo dọn đồ ra. Nhưng không một ai lo chữa lửa hết, không hiểu
vì họ không biết tháo-vát, phó mặc cho sở chữa lửa công việc ấy, hay là vì họ
thấy chữa cũng vô ích. Nhà khít nhau như là chiến thuyền Tào-Tháo trên sông
Xích-Bích, lại làm toàn bằng đồ dẫn hỏa, ai tài nào mà chữa cho được.
Lửa cháy lấn qua hai bên, lấn vô trong sâu. Người ta, từ trong đó chạy ra như
kiến. Con nít khóc, đờn bà la, tre, nứa nổ rắc rắc. Mái nhà cứ nối tiếp nhau mà
chảy như sáp. Nhiều căn nhà hình như là có chứa dầu xăng trong chai. Khi lửa bò
qua đó thì nghe tiếng nổ, rồi ngọn lửa bùng lên một vài giây.
Gió nghe lửa rủ, kéo tới. Lửa gặp gió mừng rỡ, càng hung hăng thêm.
Công vừa muốn bỏ va-ly đi khiêng đồ phụ với họ, thì thấy lửa cháy đã gần tới
căn anh. Anh đứng nhìn. Thì lửa cháy căn anh cũng như cháy căn khác, có gì đâu
lạ. Nhưng anh vẫn muốn xem. Xem coi khi chính căn nhà mình cháy, cảm tưởng mình
ra làm sao.
Anh. nghe sau lưng có tiếng đờn bà hỏi :
- Anh đem ra được cái gì ? Tôi ôm quần áo ra hết.
Đó là tiếng chị hát máy. Công sực nhớ lại vụ hát máy, cười thầm :
"À, thế thì từ đây mình thoát. Trọn đời nhứt định không dám ở gần người có
máy hát nũa."
Công nghe vui vui vì anh thấy như là đã trả thù được thằng cha đáng ghét. Và
không hiểu sao anh cứ tưởng là cái máy thế nào cũng phải cháy, còn cái nhà thì
còn, và từ đây anh khỏi bị nghe hát nữa. Rồi anh nghe anh chồng trả lời :
- Tao đem được hết mớ dĩa vọng-cổ ra.
- Khôn dữ hôn, cái máy mắc tiền không lo, để ôm dĩa !
- À phải, thôi để tao chạy vô lấy, kìa lửa cháy tới kia !
Công rầu lắm, cứ trách sao chị vợ lại khôn quá như vậy. Để cái máy quỉ ấy cháy
cho rồi, có phải đỡ khổ xóm giềng không.
Bỗng có người la :
- Úy trời ôi, cái "bách-xê" của tôi, để trong hộc tủ. Thôi, chết tôi
rồi !
Đó là tiếng của anh ở căn thứ ba, khít vách anh máy hát như tôi. Anh làm cu-li ở
đâu đó, hổm rày bị thương nơi chơn, đi không được. Không hiểu làm thế nào mà
anh lết ra được nơi đây.
Thằng cha hát máy vừa chạy vừa day lại hỏi :
- Hộc tủ nào ?
- Hộc tủ ở cái bàn nước đó !
Công thấy thằng cha hát máy không chạy vô căn phố anh ta, mà lại vô căn anh bỏ
quên "bách-xê",
Anh ta ra liền. Nhưng lửa đã cháy tới nửa căn nhà anh. Đôm đốm đỏ bầm bay túa
ra, tre, nứa
nổ lốp-bốp. Anh ta do-dự, rồi bỏ đi chầm chậm trở lại chỗ Công đứng.
- Nè cái "bách-xê" của anh. Bậy quá, tôi lo giùm anh nên lấy
"giàn hát máy" không kịp !
Công nghe vợ nó thở dài :
- Buồn quá anh há ! Từ đây làm sao nghe hát được nữa. Sắm sao cho nổi cái máy
khác !
Công cũng buồn chết đi. Và anh hết thấy ghét vợ chồng thằng cha đó nữa.
--------------------------------
|
Laisser-passer (giấy thông-hành thời Pháp trị) |
Trự thứ mười
Ông Xếp vừa móc máy nói lại xong liền ra lịnh cho xe bịt bùng
chở một người khán hộ và hai người "cu-li" lại kho bạc.
Anh Sáu phập phồng bước lên xe. Được thâu nạp vào sở Vệ sinh địa phương hai
ngày rồi, anh chưa làm gì hết, và không được biết phận sự anh có những gì.
Anh ngây ngô hỏi anh Tư Phèn:
- Mình đi đâu hớ?
- Thì thầy Ba nói ông Xếp biểu xuống Kho bạc.
Anh Sáu nhìn thầy Ba khán hộ, nhìn anh Tư Phèn, bụng băn khoăn không hiểu rõ
Kho bạc là sở nào và xuống đó làm gì.
Xe quẹo xuống đường Kinh lấp, chạy một phút thì tới cửa một tòa nhà đồ sộ.
Anh Sáu đoán đó là Kho bạc. Thầy khán hộ chạy vào nhà đó một lát rồi chạy ra biểu
xe lui lại đường Vannier:
- Trong Kho bạc nói nó nằm phía trong hàng bông bụp ờ Vannier.
Xe từ từ quẹo thụt đít qua bên mặt rồi ngừng lại sát lề vắng.
Đó là một con đường kỳ dị, một bên thì buôn bán ồn ào, một bên thì vắng teo như
ở ngoại ô.
Một hàng bông bụp cao và xanh um, điểm những hoa đỏ tươi ôm sát một hàng rào sắt
thấp, phân biệt miếng đất Kho bạc với cái vỉa hè vắng lót gạch xi măng ấy.
Thầy khán hộ nhảy xuống xe. Anh Sáu bắt chước Tư Phèn nhảy theo xuống.
Nền Kho bạc cao lắm. Anh Sáu thấy vài thầy ký đứng dựa cửa sổ nhìn ra, tưởng họ
đứng trên lầu.
Họ chỉ xuống đất, ngay dưới cửa sổ:
- Đây, va nằm đây.
Cả ba đều nhìn theo ngón tay của mấy thầy đứng trên kia.
Qua những gốc cây bông bụp cằn cỗi, họ thấy một người đờn ông nằm yên như ngủ,
trên hè hẹp, giữa hàng rào và vách. Kho bạc.
Bước sấn tới nhìn kỹ, thì đó là một ông già, héo lép như con khô hố. Người nầy
không có vẻ gì chết cả. Có lẽ ông ta cứ khô lần đến phút cuối cùng. Ông có vẻ
bình tĩmh đến anh Sáu tưởng thoáng thấy ngực ông còn phồng lên, xẹp xuống.
- Đi vô khiêng !
Lời thầy khán hộ như tát nước lạnh vào lưng anh Sáu. À, ra công việc của anh là
khiêng thây ma.
Hồi ớ nhà quê anh cũng thường giúp đỡ chòm xóm trong việc tẩn liệm. Nhưng thây
ma chết đường, chết chợ sao thấy ghê hơn, và nghĩ mình từ đây cứ khiêng thây ma
như vầy hoài, anh Sáu nghe ớn nơi xương sống. Sau vài giây do dự, anh vạch rào
chun vô với anh Tư Phèn.
Thây ma nhẹ hếu mà lòng anh Sáu nặng những ý nghĩ lạ. Anh thấy rằng ở đời, mình
làm cái gì là do sự tình cờ. Như mấy bữa trước đây anh còn lấy làm lạ sao có
người đồng nghiệp của anh lại lựa chi cái sở thùng mà làm. Bây giờ anh chợt thấy
rằng không chắc gì mấy người ấy họ lựa như vậy. Như anh đây, nào có biết mô tê
gì đâu lúc xin vào làm !
Nhưng còn một điều nầy lạ lắm mà anh hiểu không ra, là tại sao những người như
anh cứ bị tình cờ đưa vào những chỗ như vậy. Không xe rác, thì cũng sở Thùng,
không sở Thùng thì khiêng thây ma như anh đây.
*
Từ đó về sau, anh Sáu không phải chỉ khiêng thây ma như anh tưởng. Thây ma thỉnh
thoảng mới có, thường thì anh đi tưới dầu hôi dưới lỗ cống, đi bắt chuột v.v.
cùng với một đội phu địa phương.
Có một năm trời nóng lắm, thây ma gần như ngày nào cũng có, bắt anh Sáu suy
nghĩ nhiều hơn. Anh tưởng tượng đến một ngày kia, anh hết làm việc được nữa,
con cháu lại không, thì anh cũng chết đường như vầy.
Nhưng khiêng thây ma thét rồi anh ngấy lên, không còn nghĩ gì nữa, y như là
khiêng khúc cây, cái thùng. Anh lại còn đùa được khi làm công việc ấy.
Thây ma thì bất cứ ớ góc đường, xó hẻm nào cũng có thể có, nhưng hình như năm
nào ở cái hàng rào bông bụp Kho bạc cũng có một người, mà chắc chắn là người
già.
Mỗi năm, khiêng một lão ở đó, anh Sáu đếm: "Đây là trự thứ năm". Rồi
năm sau: "Đây là trự thứ sáu".
Anh tìm mãi mới hiểu rằng người già, giành chỗ tốt ở các mái hiên, góc ngõ hẻm
không được, phải đành chọn cái hè gió đó Vả lại chỗ đó kín đáo, già cả bịnh hoạn,
ban ngày có thể nằm được. Lính đâu có để ý mà đuổi đi.
*
Năm đó anh Sáu khiêng cái thây ma thứ chín, chỗ hàng rào bông bụp, thì đùng một
cái, cuộc khởi nghĩa nổi lên.
Tản cư, bị thương què chơn và hồi cư, đó là ba đoạn phim chớp mau quá, anh chán
mà cứ phải xem. Là cái cảnh anh Sáu một giò đi xin ở Sài Gòn.
Như một con vật theo bản năng, về sào huyệt cũ, anh mò lại hàng rào bông bụp và
sung sướng thấy nơi đó chưa ai giành.
Anh Sáu định cư nơi đó, mỉm cười nói trong bụng rằng mình sẽ là "trự thứ
mười" đây. Anh tự hỏi không biết Tư Phèn có trở vô làm hay không và nếu
có, anh ta sẽ nghĩ thế nào khi thấy mình nằm chết nơi đó. Va sẽ thương chăng ?
Va sẽ lo cho số phận va chăng ? Va sẽ đếm mình là trự thứ mười chăng ?
Nhưng anh Sáu chưa già, và ngoài cái chơn cụt, sức khỏe anh vẫn như thường.
Như thế thì anh khó lòng làm trự thứ mười lắm. Và sự thoát ly êm ái trên
"băn-ca" của chiếc xe bịt bùng, khó lòng mong được.
"Con người ta sao khó chết thế, anh nghĩ. Như cái thằng cha ở bên hè đường
Phú Kiết, thật là cựa không nổi. Vậy mà nó vẫn sống nhăn, để mà khổ vì nó không
có được một cái chơn cụt như anh đặng gợi lòng thương của người qua đường.
Chết không được thì phải tổ chức mà sống vậy.
*
Anh Sáu bắt đầu lượm lá khô, quét đất nhét trong kẹt gạch xi-măng và giấu của cải
dưới cái sàn nhà vòm bằng gỗ để lính canh gác ban đêm. Giang san anh tất cả có
một cái mà xưa kia người ta gọi là mền, một bộ đồ bà ba chưa nát lắm và chén,
đũa để ăn cơm.
Làm công việc dọn nhà ngoài trời, anh Sáu nhớ lại cái thú có của riêng hồi còn
nhỏ, thuở anh còn chơi cất nhà ngoài ranh, ở quê.
Anh xem cái bờ hè hẹp ấy là nhà riêng anh, mặc dầu những chiều mưa dầm, co ro
dưới bệ cửa sổ Kho bạc, qua hàng cây bông bụp, anh thường nhìn cảnh đèn sáng
múa men trên các thứ lụa màu, các thứ nữ trang trong tủ kiếng phía bên kia đường.
Phía bên kia đường là sáng, là ấm, là no, tất cả thứ ấy cứ mỗi ngày quay cuồng
đi qua, không biết có một bên này đang rình mình, một bên này đói rách, cho dẫu
bên này là một Kho bạc.
*
Trưa hôm đó, một người đờn bà, con tay ẵm, tay dắt, bước qua hàng rào sắt một
cách tự nhiên, như người ta đi chợ về, xâm lăng nhà anh Sáu mà không có lấy một
lời.
Chị ta xách thằng nhỏ biết đi lên khỏi hàng rào rồi liệng nó xuống cùng với gói
đồ. Thằng bé chắc đã quen bị liệng rồi nên không khóc một tiếng và nó đi hái
bông liền, y như là ở một nơi quen thuộc lắm.
Mặc dầu bất bình, anh Sáu cũng nghe vui vui, vì lâu lắm rồi, anh chưa được nói
chuyện với ai.
- Thím đi đâu đó vậy ?
Không ngó anh Sáu, chị đờn bà ngồi xề xuống, vén áo cho con bú:
- Không đi đâu hết. Chị ta vừa đáp vừa đẩy gói đồ bọc bằng chăn tắm vào sát
vách tường.
- Chớ chị lợi đây có chuyện gì ?
- Anh nầy hỏi lạ. Thì tôi lại đây ở, như anh vậy chớ gì.
- Ở đây ?
- Chớ ở đâu ?
Anh Sáu muốn nói điều gì nhưng không dám nói. Anh nhìn lại người đàn bà. Chị nầy
vuốt mớ tóc con trên trán với một bàn tay không xấu như tay của những người đờn
bà anh quen biết hồi trước. Có phần không kém những bàn tay đã bỏ tiền vào nón
anh.
- Thím ở chung một nhà với tôi cho vui. Anh Sáu rất bằng lòng đã tìm ra được
cách nói khéo cho chị kia biết đây là nhà của anh.
Chị đờn bà bấy giờ day lại nhìn anh Sáu rồi cười ngất:
- Anh nói nhà đây là nhà riêng của anh. Anh ở đâu lại đây? Tôi nói cho anh biết,
trước kia tôi ở đây ba năm.
Anh Sáu không dám cãi lại. Nhưng anh nghe là người đàn bà này nói bậy và bướng
lắm.
- Thím làm gì ?
- Trước kia cha sắp nhỏ vá xe máy ở đầu đường nầy. Giờ va chết rồi.
- Ai nuôi thím ?
- Tôi nuôi tôi.
- Mấy tháng nay thím ở đâu ?
- Ở đằng kia.
Anh Sáu thở ra một giọng nhẫn nại. Anh không hỏi gì thêm cái người kỳ cục nầy.
Sự ở chung chạ làm anh Sáu khó chịu vô cùng. Không phải vì nhà chật. Cũng không
phải người đờn bà làm quyền. Mà vì hai đứa nhỏ nó khóc, la và xả rác. Cái đó là
tối ky. Anh Cu-ly trong Kho bạc đã căn dặn là phải im và sạch, không khéo bị đuổi
ngay.
Chị đờn bà lại hay có khách. Không biết đờn bà ở đâu mà tới ngày một, nói chuyện
bô bô lên.
Có một lần họ bắt chí nối cho nhau, bắt rồi đưa lên miệng cắn. Một người Tây
trong Kho bạc nhìn thấy cảnh tượng ấy, rủ Tây khác đến cửa sổ dòm xuống rất
đông làm anh Sáu phải một phen hết hồn.
Nhưng anh không hề dám phản kháng vì người đờn bà nầy ghê gớm lắm. Chị ta đọc
nhựt trình chạy danh dách, và chị ta đã có lần khinh anh làm nghề đi xin.
- Anh coi tôi đây, phận đờn bà, có hai con, mà còn làm được để nuôi thân, còn
anh là đờn ông- cho dẫu là một chơn- lại ngửa tay hứng của bố thí.
Mà chị ta giỏi thật. Chị bán bài ca sao mà chạy dữ vậy. Ai muốn nghe bài ca gì,
chị cũng ca được. Chị biết cả những bài ca chị không có bán. Thiên hạ bu nghe,
rồi thế nào cũng có người mua.
Không, bản lĩnh anh Sáu kém chị ta nhiều. Anh không làm gì được chị ta hết.
Một hôm anh thỏ thẻ nói, y như một anh sợ vợ, xin tiền:
- Thím à, tôi lo quá. Mấy đứa nhỏ nó khóc la, tôi sợ bị đuổi quá. Hay là thím
đi chỗ khác.
Chị Hai Len, đó là tên chị nầy, lại ngó anh mà cười ngất:
- Đến nước nầy mà anh còn giành chỗ nữa à. Đây có riêng gì của ai đâu. Anh sợ bị
đuổi ? Đuổi thì đi chỗ khác. Mà ai đuổi mình được chớ. Đuổi thì mình không đi.
- Không đi được sao ?
- Sao lại không.
- Rồi có sao không ?
- Thì họ khiêng mình đi chớ có gì đâu. Ở đây, hồi trước, lâu lâu họ có khiêng
đi một người.
- Khiêng đi đâu ?
- Khiêng vô nhà xác để khám nghiệm.
- À, khiêng người chết. Anh Sáu cười xòa. "Cái nầy mình còn sống mà".
- Thì chết là bỏ đi rồi mà họ còn khiêng, thì mình sống nhăn, còn xài được sao
họ lại không khiêng chớ. Với lại, anh đừng sợ cái mình chưa biết lắm. Thấy một
cái hang tối- tôi nói theo tích một tuồng hát- thì mình hay sợ, không biết vô
đó rồi có sao không. Nhưng biết đâu mình sẽ gặp kho vàng nếu mình cứ vô bừa.
Còn không thì bất quá là mình gặp dơi là cùng chớ có gì đâu. Ma à ? Ma có dọa nạt
thôi chớ có làm gì mình nổi đâu mà sợ.
Bướng, chị nầy thì bướng lắm. Nhưng sao anh Sáu nghe thích cái bướng ấy. Anh dạn
ra, và thấy sự liều mạng ngồ ngộ.
"À, chết mình còn không sợ lại sợ bị khiêng. Làm "trự thứ mười"
thây ma, hay "trự thứ nhứt" thằng người cũng đến thế thôi. Vậy nhứt định
làm một "trự" ở đây, không sợ gì nữa".
Từ bữa đó, anh Sáu thấy chị Hai Len dễ thương. Anh nghe vững dạ về mọi việc và
như là chị Hai Len giải quyết dễ dàng cả trăm, cả vạn thứ bằng cách nói đùa và
nói bướng.
Anh thỏ thẻ lai lịch mình cho chị Hai nghe. Chị Hai không phục nhưng cảm động,
nhứt là về ba đoạn phim chớp mau trên kia, thì chị Hai chú ý lắm.
Vuốt tóc con Cầm đang bú, anh Sáu ngập ngừng nói nựng:
"Nữa con tôi bảnh lắm, y như là má nó bây giờ".
- É, cái anh quỉ nầy ! Anh muốn làm cha nó thì phải thề đi.
- Thề làm sao ?
- Tôi nói sao anh nói lại vậy.
- Được, tôi chịu...
- Thề như vầy...
- Thề như vầy...
- Không đó là lời tôi dặn. Nói theo khúc sau thôi. Thề như vầy: "Tôi. thề
không đi xin nữa. Không mong làm "trự thứ mười" chết nữa. Phải rán
sao cho khỏi bị người ta đếm như đếm đầu cá".
- Tôi thề không đi...
Bên kia đường, giàu sang thờ ơ đi qua.
Bàn tay năm ngón
Thầy giáo dò tên trong sổ rồi lại liếc học trò như để bắt mạch
chúng, coi đứa nào xanh mặt vì không thuộc bài. Không thấy đứa nào tỏ vẻ lo sợ,
thầy nhắm mắt chấm đùa thì trúng tên trò Kinh.
- Kinh, lên bảng trả bài ám độc.
Trò Kinh vừa đứng dậy, vừa nói lên cử động của mình, bằng tiếng Pháp:
- Tôi đứng dậy, tôi ra khỏi bàn, tôi lên bảng và tôi đọc. Rồi tôi trả bài cũng
bằng tiếng Pháp: „Đây là bàn tay của tôi, nó có năm ngón."
- Sáu...
- Sáu...
- Sáu chớ...
Cả lớp cười rộ lên một cái rần. Kinh giựt mình, ngưng đọc. Thoạt tiên anh không
hiểu gì hết. Nhưng chợt nhớ thì bàn tay mặt anh có sáu ngón, mặt, tai anh ửng đỏ.
Anh vội giấu bàn tay mặt dưới cùi chỏ tay trái đương khoanh trước ngực.
Thầy giáo đập thước rầm rầm lên bàn và la:
- Cười cái gì. Trò nào còn cười bị phạt chép năm chục trương bài nầy. Trò
Quang, ta không nên... làm sao ?
Trò Ouang đứng dậy. Sợ sệt đọc: "Ta không nên nhạo báng người tàn tật".
- Tốt, giỏi, ngồi xuống !
Kinh lăn qua, trở lại mãi, không sao nhấm mắt được. Anh nhớ rõ từng chi tiết buổi
học trên đây, mười sáu năm về trước và thương hại cậu bé tội nghiệp, thuở ấy đã
chịu biết bao khổ nhục giữa đám trẻ tàn ác, cũng vì cái ngón thứ sáu nầy.
Anh giơ bàn tay lên xem. Cái ngón dư đó, mọc từ bên hông ngón cái, cong quát vô
như càng tôm, càng cua. Da nó non, mịn, hơi ửng hồng. Đầu ngón, một móng tay nhỏ
xíu, nhọn hoắc, cong như ngói ống lợp chùa.
Thật là dị kỳ, không giống anh em nó chút nào, y như là ai mới nghịch gắn nó
vào đó, và nó làm bằng những chất gì khác hơn là thịt và da.
Hèn chi trẻ nhỏ hồi đó và người lớn bây giờ không đùa sao được. Phải chi ai
cũng có sáu ngón, thì anh sẽ được coi như người thường, đàng nầy...
- Ờ, Kinh nghĩ, tại sao người đời cứ muốn cái gì cũng giống nhau hết, khác một
chút là họ không tha. Mình mặc một bộ đồ mốt xưa họ cũng cười, mình dạy con
theo phương pháp riêng của mình, họ cũng công kích. Mình có một tư tưởng nào
hơi bạo, hơi đi trước họ, họ không khỏi nhìn mình như nhìn một người điên.
Kinh bật cười, nghĩ đến một người kia bỗng dưng mọc đuôi dài. Chàng thấy trong
trí đám người đi theo thằng cha có đuôi, mặc sức mà bàn tán mà chế giễu. Rồi
chàng nhớ đến bọn đầu cơ, luôn luôn rình một dịp tốt để hốt tiền. Bọn nầy không
khỏi thương thuyết với người có đuôi, nhốt va lại trong một cái lều bằng bố, giữa
chợ đông, rồi thì lùng tùng xòa, lùng tùng xoèn mại vô, mại vô, người có đuôi,
năm cắc vô cửa nè !
Kinh lại nhớ đến những bức tranh khôi hài ở một tờ báo ngoại quốc kia. Tranh vẽ
một nhà thông thái chế ra một hỏa tiễn rồi bắn mình lên sao Mars. Tới nơi thấy
người sao Mars có ba chơn, mũi dài như vòi voi, không trái tai. Những người nầy
bu quanh nhà thông thái và nói với nhau: "Các anh coi, thằng người dưới quả
địa cầu mới dị tướng, xấu xí làm sao !"
Thì ra óc loài người rất hủ lậu. Cái người thượng cổ đã dựng lên một cái chòi để
ở, không thích ở lỗ nữa, không biết đã bị đồng loại rầy rà, làm tình, làm tội đến
bao nhiêu.
Kinh thở ra dài: Loài người cứ muốn giống nhau, lại muốn cái gì cũng giống loài
người. Họ bày ra đấng Tạo Hóa, đấng Cứu Thế với hình ảnh giống hình ảnh họ, với
tư tưởng và tình cảm gần gần họ, hơi khoáng đạt, trong sạch hơn một chút, một
chút thôi. Còn cái anh chàng nào đã tạo ra Tiên đó, thì lại càng giản dị hơn nữa.
Va cho Tiên là người phàm tu thành và vẫn còn giữ rất nhiều phàm tánh.
Phải chăng vì tánh đó, thâu hẹp lại, mà thuở nhỏ anh đọc truyện Tàu cứ tưởng tượng
Trương Phi, Tiết Nhơn Quí là người Việt Nam, rồi đến mười lăm mười sáu tuổi,
khi biết rõ lại họ là người Tàu, anh tức mình sao những nhơn vật anh yêu lại
không phải người đồng chủng.
Kinh rờ ngón tay dư. Nó mềm mụp như bằng bột. Tuy ngón tay đó cũng nghe được
xúc giác, nhưng anh cảm thấy sự đụng chạm đó không giống khi anh rờ những ngón
khác. Như là ngón thứ sáu đó không thuộc vào thân thể anh.
Kinh có tiếng người lập dị. Đó là lời xét đoán của người chung quanh anh. Thật
ra những cái dị ấy, anh tự nhiên mà có, chớ không cố ý lập ra, và không cần dư
luận, anh không thèm sửa đổi cho giống người ta.
Nhưng cái dị của ngón tay nầy thật là để không được nữa.
Anh làm ở Bưu điện. Mấy năm nay anh ngồi phòng bút toán ở trong. Năm nay anh đổi
ra "ghi-sê".
Thật là phiền. Mỗi khi anh bán ra một con cò, là có cả chục con mắt ở ngoài dòm
cái ngón tay chướng ấy. Chắc ngoài họ bảo nhau: "Ở sở Bưu điện có thầy sáu
ngón". Khi họ sai thằng nhỏ đi mua cò, chắc họ dặn: "Mầy cứ lại chỗ
thầy sáu ngón tay là đúng chỗ bán cò."
Kinh khổ sở tưởng như nội Sài Gòn người ta cứ ăn no rồi bàn nhau về cái ngón dư
của anh.
Ra đường, anh đoán ai cũng nhận ra anh, và luôn luôn anh nhét tay vào túi quần.
Phiền nhứt là phải thối tiền cho phụ nữ. Hễ thối tiền thì phải chưng bày cái
bàn tay (khổ, lại là bàn tay mặt là bàn tay làm việc) có tật ấy ra lâu hơn khi
bán cò. Những cái mỉm cười kín đáo của những cô gái đẹp trước cục thịt dư sao
mà nó mỉa mai, hỗn láo đến thế ?
Một hôm một bà đầm già thân mật hỏi: "Sao thầy không cắt nó đi ?" Mà
lại hỏi trước một công chúng phụ nữ đông đảo. Anh muốn hụp xuống phía sau
ghi-sê mà trốn những nụ cười tàn ác kia.
À, cái mụ đầm mới vô lễ chưa. Mắc mớ gì đến mụ chớ ?
Kinh thầm oán mụ đầm đó, nhưng từ ngày ấy anh mới sực nhớ ra là có thể loại cái
khó chịu nầy ra khỏi thân thể anh.
„Ờ, ờ, tại sao thuở giờ mình không nghĩ đến. Có gì đâu, phụp một cái là mình được
như người thường. Mình không đến đỗi xấu trai. Nếu không có cục nợ ấy thì cũng
là người dễ coi như ai. Ờ, mà có đau đớn lắm không nè ?" Anh đi hỏi thăm một
bác sĩ hẹn ngày giờ cẩn thận.
- Không, không đau đớn gì đâu, bác sĩ nói, như con kiến cắn é mà !
Kinh yên lòng. Nhưng đêm nay, cái đêm trước ngày „long trọng" ấy, anh nghe
ngài ngại. Không biết nó sẽ đau đến bực nào. Không, mà mình sẽ bậm môi rán chịu,
không rên la chi cho bác sĩ cười. Làm trai mà ! Anh nghĩ cái ý làm trai một
cách trịnh trọng như là một chiến sĩ sắp ra trận ngày mai.
Kinh cầm ngón tay lúc lắc, bụng bùi ngùi:
- Mấy mươi năm rồi, mầy ở với tao. Thôi mai nầy vĩnh biệt nhé !
Kinh ngạc nhiên vì chợt nghe mình thành thật buồn vì sự chia ly nầy.
- Mình đa cảm đến thế à ?
*
- Lại chích lần nữa à, thưa ông ?
Bác sĩ cười hì hì đáp:
- Nhiều lần nữa chớ. Thứ thuốc tê nầy, chích đâu thì có hiệu quả đó, chỉ ở đó
thôi. Thành ra tôi phải chích ít lắm là bốn phát chung quanh gốc ngón tay.
Bác sĩ rút kim ra, lụi phía bên kia, Kinh đau điếng.
- Phải dè đau như vầy, tôi không đòi thuốc tê. Để vậy cắt có lẽ ít đau hơn.
- Phải có thuốc tê vì còn đốt.
- Đốt ?
Bác sĩ không trả lời, cắt sực một cái, ngón tay đã rớt xuống mâm.
Ông tiếp lấy cái sắt trắng nướng đỏ mà thầy khán hộ vừa trao tới.
Kinh nghe lạnh cả mình. Nhưng không sao. Chỉ nóng vừa thôi khi cây sắt lửa ấy
rà lên vết thương.
Trên đường về, Kinh nghe nhẹ người, tuy cái ngón dư ấy chỉ cân nặng độ hai chục
gơ-ram.
Chỉ nửa phút thôi là anh biến ra một người thường, sung sướng y như người khác.
Bắt tay ai họ không còn nhìn xuống nữa. Thôi, từ đây tha hồ mà thối tiền nhé.
Kinh lấy làm lạ sao người đời thương hại sự thiếu, như là nhường nhịn người cụt
tay chẳng hạn, mà không ưa sự dư. Có ông Phán trong sở chỉ vì dư tiền nhiều mà
bị anh em ghét. Còn cái thằng cha Quân, thua xiểng liểng, nợ tứ giáng lại được
họ thành thật thương xót.
Được sống như người thường ? Ý nghĩ đó cứ trở lại làm anh hớn hở như mới được của
quí. Tâm trạng anh là tâm trạng của một người tù mới mãn hạn. Anh nhìn mọi người
qua đường tự hào rằng ta đây cũng như ai.
*
Nhưng từ đó, Kinh thấy đời mình thật là nhỏ nhoi, tầm thường như những cái tầm
thường khác.
Ở ghi-sê không có lấy một cô gái đẹp nào tỏ vẻ thán phục bàn tay năm ngón của
anh hết. Anh cố ý xỉa tiền chầm chậm, và chỉ làm cho người ta bực mình. Cho đến
cái cô má lún đồng tiền thường lui tới Bưu điện, cái cô mà nụ cười tinh quái
hơn ai hết trước kia, bây giờ hình như cũng quên rằng có một thời anh đã mang một
bàn tay khác phàm.
Mà nghĩ cũng phải. Bàn tay của anh chỉ là một bàn tay thường thôi, có gì đâu mà
người ta phải chú ý đến ? Và chủ nó chỉ là một anh thơ ký thường như muôn ngàn
anh thơ ký thường khác.
Kinh thở dài:
- Được yên thân lại không thú bằng bị quấy rầy !
Anh cảm thấy đã hiểu tầm hạnh phúc. Hạnh phúc của anh là ở những khi ao ước được
như người thường, ở những lúc tưởng tượng mình chỉ có năm ngón như ai. Anh triết
lý: "Hạnh phúc ở chỗ muốn, chớ không phải ở chỗ được".
Bỗng anh nhớ ra một điều, thành thật và thấm thía hơn ý tưởng trên: "Bây
giờ mình mới biết sợ sự tầm thường !".
Nhốt gió
Cả bàn ăn đều kinh ngạc. Tạo thả rơi đôi đũa xuống bàn như
ngày xưa Lưu Huyền Ðức nghe ‘Tào Tháo khen mình anh hùng. Vợ chàng nghẹn ngào
vì miếng đồ ăn đang nuốt giữa một xúc động quá mạnh. Mẹ chàng bình tĩnh hơn, ngậm
miếng cơm đang nhai, mỉm cười một cách nhẫn nại. Những nét nhăn trên mặt bà chỉ
thấy hơi nhăn thêm một chút. Ðó là tất cả phản động của một bà cụ đã bao năm
đau khổ vì bao đảo lộn của cái xã hội rất xa lạ đối với bà. Thằng Hòa, con Loan,
con Mỹ, tuy không hiểu gì cùng hoảng sợ, thôi không cãi nhau nữa. Chúng bỏ trở
vào dĩa những món ăn vừa gắp lên, bộ lấm lét như có tội. Cả thảy đều nhìn trừng
trừng thằng Kiệt nó đang khó chiu, và, như giận lẫy, nó tỏ một vẻ khiêu khích
còn đáng giận thêm.
Ruồi mặc sức mà bay vù vù, mà đậu lên các món ăn, trong sự im lặng nặng nề ấy.
Hơi nước mặc sức mà đọng chung quanh mấy ly nước đá không ngón tay nào rớ tới
ly để xóa những mụt nước trắng mờ đang đơm lổm chổm trên vách pha-lê. Cùng với
tim của người quanh bàn, thời ri như ngừng hẳn lại.
Ðoạn chót của bữa cơm chiều hôm ấy không kéo dằng dai như mọi ngày, và ngoài tiếng
chén đũa khua, không còn nghe lời nào khác.
Thằng Kiệt nghe mình có lỗi, buông đũa trước hết. Vợ Tạo nhìn theo đứa con trai
đầu lòng bước ra khỏi bàn ăn mà quên món tráng miệng nó thích, vẻ mặt nàng
thương hại và như sợ sệt đứa con kỳ dị.
Bà cụ thỉnh thoảng thở dài.
Tạo thì gương mặt vắng lặng một cách tuyệt vọng, trong khi mấy đứa nhỏ hết len
lén nhìn bà nội, đến nhìn ba, nhìn má.
Cây tăm ngậm nơi môi chàng điên cuồng chuyển động. Nó hươi đủ chiều, xoay đủ hướng,
có khi nó nằm yên để người ta đoán thấy chàng đương cắn răng dữ tợn.
Khi con nhỏ ở lấy tấm vải phủ bàn đi, chàng đứng dậy buông một câu khiến mẹ, vợ
và con chàng đang uống nước ở bàn bên cạnh dừng tách nước nơi môi dưới:
- Thằng này hư, phải trị nó mới được. Bắt đầu mai này nó không có xe máy như
tôi đã hứa mua!
Thằng Kiệt đã đi qua buồng bên kia. Thằng Hòa thất vọng trông thấy, vì hôm nay
nó mong đợi cái xe máy đó mà tập cơĩ, khỏi mướn xe tiệm. Thôi nó hết mong ké nữa
rồi.
Vợ Tạo mặt lộ vẻ mừng và bớt lo lắng. Nàng chờ đợi một sự nổ bùng của nỗi tức
giận của chồng, chờ đợi hình phạt gì nàng chưa biết, và chính sự chưa biết ấy
khiến nàng tiên đoán nó sẽ ghê gớm lầm. À ra chỉ có thế. Thằng Kiệt không được
thưởng xe máy theo lời hứa. Nàng nghe nhẹ hẳn người.
Hớp từng hớp nước, nàng vừa lắng nghe mùi vị của trà, vừa suy nghĩ. Ai đời một
đứa bé mười bốn tuổi đầu, còn là học trò trường trung học mà đã có những ý muốn
làm nàng khiếp đảm. Nàng đã có dịp nhận thấy chồng nàng có nhiều tư tưởng táo bạo
hơn nàng, nhưng chỉ hơn một tí thôi, nàng ráng theo kịp. Nói đúng ra nàng không
ráng hiểu chồng nàng cho mấy, những tư tưởng chồng dầu cao hơn lạ hơn, nàng
cũng không bi ngạc nhiên lắm. Nàng có cảm giác như chồng là kẻ đi đường, trước
nàng chỉ vài chục thước. Còn cái thằng con trai kỳ dị này thì y như một đứa bé
leo thang, đứng trên nấc chót, cao vòi vọi, nàng thấy mà phát ngộp.
Nàng nhớ thằng Kiệt thuở còn nhỏ, chưa đi học, thích nghịch và cứng đầu cứng cổ
lắm. Bà nội thường tát yêu nó và nói nựng: "Cái thẳng giặc con này, nữa nó
lớn, nó phá nhà!" Nàng chỉ mỉm cười, lòng tự ái được vuốt ve. Nhưng bây giờ
đây, sự nguy hiểm rõ rệt hơn, gần hơn, nàng thấy lo sợ và sợ hãi đứa con mà
nàng không hiểu.
Sau bữa cơm chiều hôm đó, gia đình không quây quần quanh bàn ăn dọn sạch để nói
chuyện như mọi khi. Tạo cũng không ra trước căn phố hóng mát như thỉnh thoảng
chàng hay làm. Phía trước náo nhiệt lắm, mà chàng thì cần tĩnh trí để suy nghĩ.
Chàng mở cửa sau ra ngoài. Nơi đó là một đám đất trống. Năm ngoái có mấy gia
đình ở đâu tản cư về ngoại ô này, cất núp sau dãy phố chàng ở mấy cái nhà lá mà
chàng không bao giờ đếm thử cho biết số. Chàng ngạc nhiên thấy chuối đã mọc cao
quanh mấy nhà lá đó. Mấy tháng trước đây, xóm nhà đó trơ trọi, khô khan lắm,
bây giờ nó có vẻ ấm cúng thân mật như ở nhà quê. Có bóng người đi trên đường
mòn giữa mấy nhà, có khói lam ôm ấp mái đưng chưa kịp thâm đen, có tiếng chó sủa,
có tiếng trẻ nô đùa sau bụi đinh lăng. Gió chiều lay động những tàu chuối tơ,
khiến Tạo nghe vui vui trong lòng, tưởng như mình về quê, đang đứng trước một cảnh
trong làng.
Tuy vậy, chàng cũng không quên sự khó chịu nhen nhúm trong lòng chàng từ lúc
nãy khi nhìn thấy sự thay đổi bất ngờ của cảnh vật. Mấy tháng nay chàng yên trí
là xóm nhà lá đó xơ rơ lắm. Nay sự sầm uất đã bắt chợt sự yên trí của chàng một
cách đột ngột quá. Thật tình chàng cũng sung sướng thấy họ được mát mẻ, vui vầy
hơn. Nhưng chàng vẫn khó chịu vì sự yên trí bị quấy rầy. Chàng thở dài:
"Thì ra cái gì cũng thay đồi hết!" Chính lòng chàng đã và đương thay
đổi và chàng đau khổ về sự thay đổi bên trong ấy nó đã hành hạ chàng mười mấy
năm nay.
Tạo là một kiến trúc sư nghèo. Mặc dầu vậy, trong những giờ rảnh chàng cũng vẽ
cho chàng một kiểu nhà. Biết đâu ngày kia chàng sẽ có nhiều tiền.
Chàng làm công việc ấy với tất cả linh hồn và tấm lòng chàng. Chàng say sưa vuốt
ve những hình ảnh của khung cảnh tưởng tượng, của một mặt tiền sáng rỡ, nhẹ
nhàng. Ðó sẽ là giai tác của chàng. Chàng sẽ bắt vật liệu ca hát những điệu thơ
thới vui tươi.
Chàng vui sống bao năm với những màu sắc những đường nét hiện lên trong trí
chàng. Rồi chàng ghi những cái ấy lên giấy, kết hợp chúng nó lại thành một cái
gì có thiệt, tuy chỉ mới là hình vẽ.
Nhưng một kiểu nhà vừa vẽ xong thì chàng thấy hết thích ngay, tìm tòi một hình
dáng khác, những màu sắc khác, thích hợp với lòng chàng lúc bấy giờ. Óc thẩm mỹ
chàng biến chuyển vùn vụt, chàng nghe muốn chóng mặt. Tạo nghe nơi trí và lòng
chàng bao thời đại nghệ thuật đi qua trên đó. Lòng chàng đau khổ vì không định
cư một nơi nào hết mặc dầu chàng rất muốn yên thân với một hình thức, một màu sắc
lào đó.
- Mẹ, sập hoài!
Tạo giựt mình, dòm xuống cỏ. Trên khoảng đất hẹp giữa xóm nhà lá và dãy phố
chàng ở, một đứa bé chừng năm tuổi đương ngồi chơi gì trên cỏ. Ðứa bé ở trần,
đưa lưng đen thui lại phía chàng. Nó mặc một cái quần dài đen. Chàng bước sấn lại
thì thấy nó đương lay hoay với những cành cây nhỏ và ngắn. Nó cặm trên cát bốn
cành cây đầu trên có nạng, rồi gác ngang lên nạng những cành khác. Thì ra nó
chơi cất nhà. Khi nó vừa phủ lên cái giàn đó một tấm lá chuối để làm nóc nhà
thì gió ở đâu thổi đến. Nóc nhà của nó bay lên, bốn cây cột đều ngã. Thằng nhỏ
gương mặt dễ thương này tức giận chưởi thề nữa, nhưng không nản chí, bắt đầu
xây dựng lại. Gió lại thổi lên phá hoại công trình của nó. Lần này nó nắm chặt
hai tay, bậm môi như muốn đánh ai. Ðoạn nghĩ ra điều gì, nó cởi tuột quần ra,
mò dưới cỏ tìm gặp hai sợi dây chuối, nó cột túm hai ống quần lại. Nó phành
lưng quần đưa trước gió như người lớn phành bao bố hứng gạo và nói: "Nhốt
mày lại coi mày còn phá nữa hết". Gió chun vào thổi phồng quần lên. Hai ống
quần bọc no nứt gió, bay nằm ngang trên không trung như hai khúc dồi. Nó vừa muốn
túm lưng quần lại đề gói gió trong ấy, thì chợt nhận ra rằng ở đâu cũng có gió
hết, gió chạy trên người nó đề trôi ra phía sau, gió thổi cát bay, gió lay tàu
chuối.
Tạo thích quá, nhìn mê cử chỉ dại dột, ngây thơ mà hay hay của đứa bé. Ðứa bé
đang lính quính vì gió nhiều quá không biết đâu mà hốt cho hết. Một tay nó thả
lưng quần, cào gió lại, chơn nó đá như muốn đuổi gió đi.
Chỗ đó là một đám đất bị nhà vây chung quanh. Gió cao rơi vào, không lối ra, chạy
quanh quẩn, không có hướng nhứt định.
Một cơn gió đổi chiều làm cho cái quần nó ốm xếp ve và bành bạch bay day qua hướng
khác.
Thằng bé thấy mình thất bại vội bỏ quần xuống đất, giăng tay ra rước gió. Nó
hít gió, nó nuốt gió, mặt nó sung sướng trông thấy. Ðoạn nó cầm quần lên phành
lưng đưa trước chiều gió mới. Lần này nó không có ý nhốt gió nữa mà lại hớn hở
nhìn hai ống quần no như hai khúc dồi. Nó giỡn với gió chớ không ghét gió nữa.
Tạo mỉm cười nói lầm thầm: "Thằng nhỏ biết điều quá.
- Leo ơi! - Ðó là tiếng đàn bà kêu sau bụi chuối. Thằng bé dạ một tiếng rồi
xách quần dùng dằng chạy vào xóm nhà.
Cảnh thằng bé nhốt gió in vào trí Tạo một ấn tượng mạnh. Chàng nhìn theo cái
lưng đen, lăn căn chạy vào nhà, ngơ ngẩn như nguồn cảm hứng đang mất đi.
- Thằng nhỏ biết điều quá!
Chàng tự nhắc lại câu đó, và băn khoăn về những lời thằng Kiệt hồi nãy, giữa bữa
ăn.
- Mình có biết điều như thằng bé này không? Những ý nghĩ của con, mình có theo
dõi lòng nó được mà ngăn cấm mãi chăng?
Tạo thở dài. Có một khi kia trong đời chàng, Tạo là một đứa con hư, một thằng
giặc nhỏ. Cha mẹ chàng đã sợ, đã giận những ý tưởng táo bạo của chàng. Và chàng
đã có dịp tức mình sao cha mẹ cứ không hiểu mình. Lần lần chàng có ý thức về sự
xung đột giữa cha mẹ và chàng. Chàng thuộc về phái cấp tiến nhứt của đám người
theo Tây học thì xung đột với ngàn năm tư tưởng Ðông Phương là sự thường.
Nhưng chàng đã ngỡ cái bước tiến của chàng là cái bước cuối cùng. Thế hệ của
chàng và những thế hệ sau không còn đụng chạm nhau nữa. Và cuộc đời sẽ dễ chịu
lắm khi lớp người già trước chàng chết hết.
Nay thằng con chàng tái diễn lại sự xô xát ngày xưa. Ðó là hình ảnh rất trung
thành của cảnh gay cấn hồi trước.
Chàng đâm ra hoài nghi. Phải chăng lòng và trí người luôn luôn thay đổi và cái
văn hóa Tây phương mà chàng hấp thụ được và tưởng là bất di, bất dịch cũng
đương biến chuyển mà chàng không dè.
Có thể như vậy lắm. Là vì chàng đã luyện con theo óc của chàng, chàng không cổ
hủ, mà sự xung đột lại bắt đầu.
Chàng có thề cấm thằng Kiệt bỏ rơi chàng lại sau chăng? Không! Chàng biết lịch
sử nhân loại. Không có một thí dụ nào chứng tỏ rừng người ta có thể ngăn cản tư
tưởng được hết. Nó như làn sóng vỡ bờ, lôi cuốn tất cả mọi chướng ngại vật. Và
như làn sóng, nó sẽ chết đi nơi bờ bến nào đó, trong khi những làn sóng khác tiếp
nhau mà rượt nó. Nó sẽ chết như vậy, và chỉ như vậy thôi.
Tạo bùi ngùi thương cha mẹ đã hoài công thắc mắc vì tư tưởng chàng. Cha mẹ
chàng, mặc dầu với gia huấn nghiêm khắc, không bao giờ ngăn được chàng có một
nhân sinh quan khác hẳn người được.
Tạo thở dài: "Già rồi, ta đã già quá rồi! Cái lớp thằng Kiệt sẽ có những ý
nghĩ khác!"
Bỗng chàng hốt hoảng như kẻ bộ hành đi trễ, nhìn người mau chơn đã mất hút đàng
xa, xa đến mút tầm con mắt.
Nhưng thật tình, từ giờ phút đó, chàng không ghen tỵ nữa với kẻ đi mau, và chỉ
bâng khuâng thấy mình bị bỏ rơi lại, bơ vơ trên đoạn đường dài.
Tạo trở vào nhà khi đèn điện bừng sáng.
- Mình soạn tiền lại, mai tôi mua xe máy cho thằng Kiệt.
Vợ Tạo trố mắt nhìn, soi mói. Ðề trả lời điệu bộ thăm dò của vợ, chàng nói:
"Nhốt gió vô ích!"
Vợ Tạo càng nhìn chồng trừng trừng, không hiểu gì mà lại có nhốt gió.
Thằng Hòa thì hoan nghênh bằng đôi mắt sáng rực. Nó vội chạy qua buồng bên để
cho anh nó hay tin lành.
Không trốn nữa
Hai tay chắp sau mông, bác sĩ Hai đếm bước trên gạch, giữa
hai hàng sập trong một "phòng chung" của dưỡng đường Chợ Rẫy.
Bác sĩ lớn người, mập và trắng. Hai cánh tay to, nặng những thịt bệu, thò ra khỏi
chiếc "bờ lu" ngắn tay, chừng như mỏi vì đặt mãi sau lưng, được đem
ra phía trước, khoanh lại trên ngực.
Người bịnh ở phòng thì cứ ăn cơm, coi như là không có bác sĩ nơi đó, vì họ đã
quen với sự đi dạo của bác sĩ giờ nầy trong phòng, y như là ngày hôm qua, hôm
kia, những hôm trước nữa. Có một người bịnh mới vô, ái ngại, lén nhìn bác sĩ, rồi
không thấy ông ta rầy la gì ai, lại an lòng cúi xuống ăn tiếp.
Bác sĩ không có phận sự xem xét bữa ăn của bịnh nhơn, cũng không có tánh tò mò
muốn quan sát cảnh thân mật của người nghèo. Trong dưỡng đường Chợ Rẫy có tục lệ
thăm bịnh sớm lắm- sớm đến nỗi muốn cho "đâu đó xong xuôi đàng hoàng"
những người quét dọn, mới năm giờ sáng đã lôi tốc người bịnh dậy để vén mùng,
lau gạch, đổ ống phóng và những "thầy khán hộ học trò" mới năm giờ rưỡi
sáng đã lo đi lấy nhiệt độ, gây nên sự chộn rộn, phá giấc ngủ đang ngon của người
bịnh mới lành hay của người bịnh nặng trằn trọc suốt đêm, mới chợp mắt được một
đôi giờ- Vì vậy bác sĩ được rảnh rất lâu trước giờ tan buổi làm, và không biết
làm gì trong lòng giấy, nên vào phòng bịnh giữa những bữa ăn- cũng lại rất sớm,
dầu người bịnh chưa nghe đói- để cho người giúp việc "xong mọi việc"
trước khi hết giờ làm.
Bác sĩ không thích đọc sách, cũng không có một đời sống bên trong phong phú.
Ông tìm đến chỗ đông người đặng trốn sự trống rỗng và, không cần nói chuyện với
họ, hay nhìn họ, nghe tiếng chén đũa khua, nghe họ râm ri là đủ cho bác sĩ thấy
đỡ chán hơn là ở nơi văn phòng tịch mịch của ông.
Người bịnh thì ăn cơm ngay trên sập của mình. Phần đông ăn riêng. Có vài người
chung đậu đồ ăn lại. Đó là những người thảo ăn cứ mời mọc nhau mãi như là đãi
khách. Có người đem phần ăn lại ngồi chung một sập với người khác, mà vẫn ăn
riêng. Đó là những người "thống nhất mà phân trị" vậy.
Không hiểu sao hôm đó bác sĩ lại dừng bước trước sạp của hai người "phân
trị". Có phải chăng vì hai chiếc áo màu dà của hai anh "cu li cao
su" nầy đã buông một tiếng đàn lạc điệu vào bản nhạc y phục đen tối của
phòng thi nầy?
Không biết. Nhưng một cảnh tượng khiến bác sĩ không tiến bước được nữa.
Một anh "cu li" thừa lúc bạn đồng sàn ngó lơ, gắp bớt giá xào tóp mỡ
của bạn bỏ vào dĩa mình. Nửa phút sau đó, nạn nhơn thấy bạn nhìn bác sĩ, cũng lại
gắp giá xào tóp mỡ của bạn, rồi chôn dưới cơm. Người sau nầy có lẽ cũng tham
ăn, chớ không phải trả miếng- nói cho đúng là lấy lại miếng- vì anh ta thật
không hay hành vi của bạn hồi nãy.
Bác sĩ bật cười. Bịnh nhơn ngơ ngác buông đũa nhìn. Bác sĩ nhớ lại một chuyện đời
xưa nói anh em nhà kia đêm đến lén lén ra đồng vác lúa cho nhau.
Bác sĩ ngạc nhiên không hiểu sao người mình tham ăn đến thế và tham ăn cả những
món không ngon đến thế. Ông nhớ lại ở làng, hễ nhà ai có động dao, động thớt là
tức thì có người bu đến, cà rà, tìm công việc để làm, nói là giúp, nhưng thâm
tâm họ quyết chờ những miếng thịt của con heo người ta đang thọc huyết bên hè.
Bác sĩ trề môi, khinh bỉ hai người bịnh, hay bọn nhà quê mà bác sĩ nhớ đến? Rồi
không suy nghĩ thêm nữa cho niệt trí, bác sĩ lại đếm bước trên gạch.
Câu chuyện trên đây đã xảy ra mười lăm năm nay rồi. Nhưng cũng cần nhắc lại.
*
*
*
Bác sĩ đương ở nơi đâu, tại nhà ai, nhà ra sao, ông không rõ. Ông chỉ biết mình
đang đứng trước chảo cơn chiên. Ông vừa với tay lấy chén để xúc cơm thì một thằng
nào đâu không biết, xờn xợt chạy đến đá đổ chảo cơm. Sự tức giậu toan bùng ra bằng
ít lắm là một cái bạt tai thì bác sĩ giựt mình thức dậy.
Bác sĩ còn đang tiếc bữa ăn hụt, mặc dầu biết rằng đó chỉ là bữa ăn trong mơ,
thì bỗng nghe vang dậy tiếng chào cờ đằng trụ sở bên cạnh nhà ông ở đậu:
... Non sông ơi, cờ theo gió bay càng cao...
Cùng với nắng sớm, tiếng hát reo tươi trên lá xanh, khiến bác sĩ nghe thèn thẹn,
nhận thấy tật ngủ trễ của mình có cái gì chọi với đám người trẻ không yên kia,
đã dậy cùng với mặt trời.
Nhưng đó chỉ là một ý nghĩ lẩn lút thôi. Vụ hụt ăn lại trở về ám ảnh bác sĩ.
Ông nhớ thuở nhỏ thường chiêm bao thấy ăn kẹo, bánh trái. Nhưng không lần nào
được ăn thiệt. Luôn luôn có một thằng, một con gì, hay lột tiếng động đến rất
đúng cái giây phút sắp đưa đồ ăn vào miệng như là có ai quyết tâm cản trở ông
ăn trong mơ.
Mấy bà cụ quả quyết rằng "ai" đó là ông thần hộ mạng của mỗi người.
Quỷ sứ nó dụ mình ăn. Ăn là chịu theo nó. Bác sĩ bực tức cằn nhằn thầm:
- Mà ai cần hộ mạng chớ. Chết bỏ, miễn là được ăn thôi. Ăn giả, phải. Nhưng cần
gì giả hay thiệt. Mình có đói đâu mà cần no. Mình chỉ thèm và cần thỏa cái
thèm.
Phải bác sĩ thèm, thèm thịt, hay ít ra cũng món gì chiên xào bằng mỡ, hay tệ lắm
là mỡ nước chan cơm ăn, chắc cũng ngon trong lúc thèm nầy.
Một tháng nay, bác sĩ nghe lời "mấy đứa nhỏ" con ông, tản cư vào vùng
quê. Trong buổi hỗn độn ban đầu, việc tiếp tế lương thực cho dân chúng thật là
bết lết. Ai có cái gì cũng muốn giấu để ăn, vì không biết thời cuộc kéo dài đến
bao giờ. Và không ai dám đi đâu để mua cái gì về bán hết.
Sau một bữa ăn kia, trong tuần lễ đầu đi tản cư, bác sĩ nghe thiêu thiếu cái
gì. À, một món tráng miệng. Ban đầu ông tính dẹp cái thói quen phiền phức ở
thành ấy lại (vì ông cũng biết tự thích nghi với tình thế chớ không quá câu nệ
lắm). Nhưng nỗi nhớ mọi người "la sét" lần lần biến thành sự thèm cái
gì ngọt, cục đường thẻ cũng được, thứ đường đỏ sẫm lộn rác và bụi mà trước kia
không bao giờ ông mó đến. Cái thèm gào hăng quá, bác sĩ thấy nó là sự đòi hỏi về
sanh lý hơn là sự nhắc nhở của thói quen. Bác sĩ lẩn thẩn tưởng tượng những biến
thể, những trao đổi, những điều hòa bí mật của sanh lý trong các bộ máy của
thân ông; ông cử động, máy phải quay; ông muốn quay, nó cần phải có chất đốt;
chất đốt đó là đường. Rồi ông đâm hoảng. Sau những suy tính của một nhà khoa học,
sự thèm ngọt đã biến thành nỗi lo âu về thiếu chất cần cho cơ thể. Và con người
rất thương thân thể của mình nầy bươn bả đi kiếm đường.
Lạ, sao cái món ăn rất thường ấy ở nhà, giờ nào cũng có, tiệm nào cũng bán. Thường
quá rồi, có khi người ta quên rằng có nó trong đời nầy. Và không ai gọi nó là
món ăn bao giờ. Còn bây giờ ở đây sao lục lạo mãi không ra. Giá nào ông cũng
dám mua kia mà. Bác sĩ Hai tính lầm thầm:
- Nếu mua được thứ bánh ít (ích) bột khoai báng, lền xơ khoai, mình cũng sướng
chán.
Rồi ông đâm tiếc những trái chuối nẫu (thúi, nát) ruột mà trước kia ông chê.
"Chuối? ờ, cái gì
cũng được. Miễn ngọt thì thôi chớ. Người ta đồn bên xóm Bà Miệng, mía nhiều,
mình qua đó thử coi".
Bác sĩ Hai đạp rạp rạ khô, đi dưới nắng tháng chạp. Gió đồng dán vào lưng ông vạt
sau của chiếc áo bà ba vải đen mà ông phải mặc như những người khác. Vải gặp mồ
hôi dính sát vào da. Trong ánh nắng rung rinh, hơi trên lớp vải bốc lên nghi
ngút. Bác sĩ bây giờ tóc đã hoa râm, bụng lớn lên và phệ ra. Ông rất phiền phải
lặn lội cực khổ vì một món không ra gì. Rồi ông oán "sấp nhỏ" đã xui
dại ông. Nào ông có tính tản cư làm chi cho khổ thân. Nhưng "sấp nhỏ"
nó cứ nhát: "Tụi con, ba đứa đều làm việc hết. Ba không đi nó sẽ bắn Ba, bỏ
tù Ba". Thế là ông hoảng, gởi bà và đứa con nhỏ về Sàigòn, còn mình thì chạy
đến làng nầy, và bây giờ phải khổ đủ thứ !
Khi bác sĩ đi ngang qua nhà kia, ông nghe tiếng một người trai trẻ hỏi lớn:
- Mầy làm gì mà hè lụi trong buồng vậy a Lịch?
- Tao làm "công tác đào đường".
- Thằng nói lạ, đào đường gì mà đào trong buồng?
Lạ thật, bác sĩ đứng lại chờ nghe tiếp. Một phút sau nghe tiếng người trai trẻ
hồi nãy rùm lên:
- Tụi bây ơi, vô mà coi. Nó đào đường thiệt chớ. Mà đều thứ đường khạp làm ở
Biên Hòa.
Bác sĩ quên lễ độ, cười lớn lên với những người trai trẻ trong nhà. Nhờ trận cười
ấy mà bác sĩ làm quen được với họ và khỏi phải đi xa. Và từ đó biết chỗ mua đường.
"Ai mà cần ai hộ mạng chớ", bác sĩ tức tối cằn nhằn với mình; bác sĩ
đã bị thịt, bị mỡ ám ảnh. Từ ngày bị cướp ở làng bên cạnh, bác sĩ hết tiền,
trôi dạt qua đây, nhờ một người bà con cho mượn chút ít, bác sĩ phải ăn hà tiện
cho đỡ tốn. Không đến đỗi chết đói, nhưng cũng không no lắm. Nhứt là mấy ngày
sau đây số tiền đã cạn mà người bà con lại bị Tây bắt mất. Không biết ai đó ở
đâu, và hồi nào vì sự tình cờ hay nhờ tìm tòi, mà đã phát minh ra rằng ăn cơn với
mắm ruốc cùng đường ngon tuyệt. Rồi như một dây thuốc pháo bị cháy lan, nghệ
thuật ăn của phái "mắm ruốc đương" được phổ cập khắp các làng. Vả
không hoan nghinh mắm ruốc cũng không có gì khác mà ăn, vì người nào cũng hết
tiền, còn thịt heo thì mắc như vàng.
Một và cơm, một quệt mắm, một miếng đường tán nhỏ, cái thành phần kỳ dị của những
miếng ăn ấy đối với bác sĩ chỉ "ngon tuyệt" bữa đầu thôi. Mấy bữa sau
ông nghe xót ruột như đã uống át-pi-rin không ngâm tan trong nước. Ông thề nguyền
khi trở về, không bao giờ dám chê ngán những đĩa ra-gu, những miếng sườn ram nữa.
Bác sĩ triết lý:
- Thèm ngọt không nằm chiêm bao. Thèm thịt thì nằm. Vậy cơ thể đòi thịt hơn là
đòi đường.
Ông nhớ lại cái chết tội nghiệp trong nhà thương của những người bịnh thương
hàn mới khỏi. Nhiều người rất biết nỗi nguy nếu ăn khi mới vừa khỏi, nhưng vẫn
ăn bừa chỉ vì thèm, đói quá. Ăn rồi lăn đùng ra khóc không phải vì đau đớn, mà
vì hối hận, hoảng sợ cái chết đến nơi trong vài giờ.
"Thịt kho tàu, khổ qua hầm, cũng ngon chớ- không hiểu vì một ý bắc cầu nào
mà bác sĩ nhảy từ người bịnh thương hàn chết oan đến vụ thịt kho- mà sao cho bằng
"cay xôi cấy", "hà khàu", "phù dùn hại". Cá hấp
tương với đồ Tàu cũng ngon. Nữa mình về, mình sẽ đi ăn hai ngày đồ Tây, hai
ngày đồ Tàu, ba bốn ngày mì chả giò, hủ tiếu xào, xíu mại, bánh bao".
Bác sĩ thở dài, rầu lòng nhớ lại ý muốn trốn về thành mà không được của ông.
Chung quanh ông toàn là thanh niên vác tầm vông canh gác. Một con chó cũng
không lọt qua. Còn cái làng gì ở biên giới thành ấy, nghe họ nói gác dày mịch
như màn sắt mà ghê. "Nghĩ mà tiếc của cải mấy mươi năm gây dựng, không biết
nữa còn chút ít gì không. Còn ba đứa lớn, thằng Minh, thằng Công, con Hà, chúng
nó sẽ học dở dang, thua sút đám con ông huyện Cần".
Bỗng bác sĩ Hai ngồi tốc dậy sần sượng với ai:
- Mà ai cầu ai hộ mạng chớ) ?
*
*
*
Bác sĩ lững thững lại tiệm cà phê. Tiệm cà phê đây là một chòi tranh mà chủ
nhà, một dân quê có óc con buôn nhìn thấy bao nhiêu người lạ mặt tựu về, người
nào cũng ghiền cà phê, bèn chụp ngay cơ hội tốt, mở tiệm. Mặc dầu vợt làm bằng
vải áo cũ, và cà phê có mùi cơm cháy, khách vẫn đông, nhứt là những ông đằng
đình, cái đình làng dùng làm trụ sở.
- Bà chiên gì mà thơm dữ vậy? Bác sĩ hỏi chủ quán.
- Tôi ram thịt để bán.
- Thịt ram ăn với gì?
- Cuốn bánh tráng.
- Trời! sớm mai, ai mà ăn bánh tráng cuốn thịt ram.
Nói vậy nhưng bác sĩ vẫn hỉnh mũi hít mùi thịt chiên. Ông cố hít nhẹ cho bà chủ
quán không nghe thấy và hít dài để tận hưởng.
Bác sĩ mò tay vào túi, rồi nét mặt ông xịu xuống, không phải vì thất vọng, mà
vì rầu. Ông men lại chảo thịt chiên. Đây là một mớ thịt phay, mỡ chiếm tám phần
mười trong mỗi lát thịt. Thịt đã ram vàng, mỡ thịt thắng ra lênh láng.
- Tôi nghe như là thịt hôi, phải không bà?
- Hôi gì mà hôi. Thịt chiều hôm qua đó.
- Tức quá! Tôi thử coi.
Nói đoạn bác sĩ lấy đũa gắp một miếng, đưa lên mũi. Ông làm bộ như chưa đánh
hơi ra mùi thật của nó, thổi sơ vào miếng thịt rồi cắn một miếng.
- Phải thịt tươi. Tôi chịu thua bà- Miệng nói răng nhăn miếng mỡ nhỏ xíu vừa
mưu mẹo cắn được.
- Cho một tách cà phê bà.
Mùi thịt ram mơn trớn mũi ông Hai, chọc những hạch nước miếng hai bên hàm dưới
ông. Và ông lắng nghe nơi bao tử, một thứ nước gì tiết ra.
- Hay là mình ăn chịu? Không được. Họ không tín đám người lạ mặt cứ lưu động
mãi nầy. Không lẽ ăn bừa rồi tới đâu sẽ hay. Chậc! Cũng không còn cái đồng hồ để
cầm đỡ. Bây giờ làm thế nào ăn được món thịt ram cuốn bánh tráng? Thật là cả một
bài toán đố khó giải lý.
Chợt có người bước vào, bác sĩ Hai rất mừng khi nhận thấy người còn trẻ ấy là
người quen cũ ở thành.
- Anh giúp ban tuyên truyền?
- Thưa phải. Hổm nay hai anh Minh, Công và chị Hà có về thăm bác không?
- Sấp nhỏ nó đi đâu mất, tôi lo quá.
Dạ thưa còn bác có giúp đâu chưa?
- Ôi tôi già rồi...
Người con trai tên là Tương nầy kêu bánh tráng cuốn thịt ram.
- Dạ thưa bác, món nầy, hồi ở nhà có mấy thuở mình ăn, nhứt là sớm mai. Mà sao
giờ ăn ngon lạ.
Bác sĩ Hai mỉm cười một cách cố thản nhiên. Ông theo dõi từng cử chỉ của Tương.
Hai hàm răng bén của người trẻ cắn đứt ngon cuốn thịt, đôi môi khép lại, che giấu
cái bã đồ ăn đang nhai.
- Cháu vô phép quá. Xin lỗi, bác đã điểm tâm rồi?
Bác sĩ còn một chỗ nước miếng trong họng, vội nuốt để trả lời. Nhưng bác sĩ giựt
mình e thẹn nghe tiếng nuốt nước miếng của mình lớn quá. Lại mớ nước miếng nữa
dồn đến. Nuốt đánh ực nữa thì sợ Tương nó nghe biết, nó cười thầm. Còn để vậy
thì nghẹt họng, đừng nói chi trả lời, nội cái việc thở mà còn không thông, bác
sĩ bưng tách cà phê lên, làm bộ uống nốt những giọt đã cạn tử hồi nào, nuốt
trôi được mớ nước miếng và rất bằng lòng thấy sao mình lanh trí được như vậy.
Thấy rằng nếu làm bộ chê món thịt cuốn thì thất sách, bác sĩ ấp úng:
- Tôi vừa ăn xong cũng món độc nhứt đó.
Nhưng bác sĩ hối bận ngay. Ờ, mình đã ăn rồi thì còn ma nào nó mời nữa.
Tương không mắc cỡ miệng, mặc dầu bác sĩ nhìn anh trừng trừng. Sau những cái nuốt,
anh thè lưỡi biếm môi mỡ và đánh lưỡi một cái "chách" lên đốc giọng.
Bỗng một miếng mỡ rơi xuống đất. Bác sĩ nhìn theo vừa tiếc hùi hụi thì một con
chó vện chực sẵn đâu dưới ấy hồi nào không biết, táp phập ngay lấy.
Nhìn sự chụp giựt của con chó đói nhà quê, nhìn lại mình, một niềm tủi nhục
mênh mông bỗng dâng trào lên, vặn thắt trái tim không bao giờ biết thổn thức của
bác sĩ lại.
Bác sĩ cúi gầm mặt xuống chiếc bàn cũ. Trong giây phút những hình ảnh xưa ở đâu
hiện về, chớp nhoáng; hai người bịnh nghèo ăn cắp giá xào lẫn nhau, mười lăm
năm về trước, những người nhà quê bu quanh một cái hòm, ăn nhậu; những miếng thịt
heo đút lò cả chồng mỡ, trong đình làng...
Bị kích thích mạnh, óc bác sĩ Hai làm việc chóng và nhiều hơn bao giờ hết.
- Tại sao họ tham ăn, tại sao mình thèm ăn quá như vậy?
Câu trả lời đến ngay trong trí bác sĩ.
Sự thật nảy ra như tia lửa trong một buổi sáng thèm thịt làm ông ta lảo đảo.
Ông nghe cả một sự sụp đổ trong người ông. Sự sụp đổ của nhơn sinh quan sẵn có
của ông.
Sự thật đầu tiên, đến tóc bạc hoa râm ông mới tìm thấy.
Rồi ba chơn, bốn cẳng, ông chạy ù về nhà, miệng lẩm bẩm:
- Thôi không thèm trốn về nữa. Mình phải đi xin một việc làm mới được. Phải mà,
người mình không tham ăn sao được!.
Năm 1950Bình Nguyên LộcTheo https://vietmessenger.com/


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét